Xã Hội | Cập nhật chính sách xã hội ngày nay https://evbn.org/xa-hoi/ EVBN Thu, 06 Apr 2023 09:32:49 +0000 vi-VN hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.1 https://evbn.org/wp-content/uploads/cropped-evbn-32x32.png Xã Hội | Cập nhật chính sách xã hội ngày nay https://evbn.org/xa-hoi/ 32 32 Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước https://evbn.org/day-manh-hon-nua-su-nghiep-cong-nghiep-hoahien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773568/ Thu, 06 Apr 2023 09:32:49 +0000 https://evbn.org/day-manh-hon-nua-su-nghiep-cong-nghiep-hoahien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773568/ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ đẩy mạnh CNH-HĐH là chủ trương lớn, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan...

The post Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - Ảnh 1.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ đẩy mạnh CNH-HĐH là chủ trương lớn, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội -Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Đề cập nội dung tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ đẩy mạnh CNH-HĐH là chủ trương lớn, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã đề ra nhiệm vụ: “Đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” trên cơ sở đẩy mạnh CNH-HĐH.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm vừa qua (2011 – 2020), toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu, không ngừng đẩy mạnh CNH-HĐH, đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đạt bình quân 6,17%/năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 72,7% năm 2020, đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng ta vẫn chưa thực hiện được mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Các đột phá chiến lược chưa có sự bứt phá. Tăng trưởng kinh tế không đạt được mục tiêu chiến lược đề ra, tốc độ có xu hướng giảm dần theo chu kỳ 10 năm. Nội lực của nền kinh tế còn yếu; năng lực độc lập, tự chủ thấp, còn phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh đó, năng suất lao động thấp và chậm được cải thiện. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng thúc đẩy CNH-HĐH, hiện đại hoá; doanh nghiệp Nhà nước còn nhiều hạn chế. Quá trình đô thị hoá cũng chưa đồng bộ, chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với CNH-HĐH và xây dựng nông thôn mới. Các vấn đề về phát triển văn hoá, xã hội, con người, bảo vệ môi trường cũng còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đồng bộ với phát triển kinh tế,…

Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Trong bối cảnh mới, để thực hiện được mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao”, đến năm 2045 “trở thành nước phát triển, thu nhập cao”, cần phải “tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết để quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, thời gian qua, Bộ Chính trị đã ráo riết chỉ đạo Ban Kinh tế Trung ương chủ trì cùng với các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương tổng kết lý luận và thực tiễn, nghiên cứu xây dựng Đề án trình Trung ương tại Hội nghị lần này xem xét, ban hành Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đây là một công việc rất cơ bản, phạm vi rất rộng lớn, tính chất hết sức phức tạp, ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, hiện vẫn còn những vấn đề chưa thật rõ và không ít những ý kiến khác nhau, nhất là trong bối cảnh, tình hình trong nước và thế giới đã, đang và sẽ có nhiều thay đổi dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị các đồng chí Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị xuất phát từ thực tiễn, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, khoa học về việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước trong thời gian qua, chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, đồng thời phân tích sâu sắc những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân.

Từ đó, bám sát Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và thực tế đất nước, xu thế phát triển trên thế giới, tập trung thảo luận, làm rõ, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu và những nhiệm vụ, giải pháp lớn cần được triển khai thực hiện để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nguyễn Hoàng

The post Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng https://evbn.org/thuc-hien-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-can-uu-tien-phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-nen-tang-1680773561/ Thu, 06 Apr 2023 09:32:43 +0000 https://evbn.org/thuc-hien-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-can-uu-tien-phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-nen-tang-1680773561/ Đồng chí Trần Tuấn Anh – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án...

The post Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

ong tran tuan anh
Đồng chí Trần Tuấn Anh – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án “Chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” phát biểu tại buổi làm việc

Chiều ngày 18/7, tại trụ sở Bộ Công Thương, Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương xây dựng Đề án “Chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” do đồng chí Trần Tuấn Anh – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án làm Trưởng đoàn – đã có buổi làm việc với Bộ Công Thương.

Đây là Bộ đầu tiên Ban Chỉ đạo tới làm việc trực tiếp sau khi có dự thảo lần một của Đề án. Điều này cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ Công Thương đối với việc triển khai xây dựng Đề án này.

Thực hiện chương trình công tác của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Ban Kinh tế Trung ương được Bộ Chính trị giao chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương xây dựng Đề án “Chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” trình Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII. 

Triển khai xây dựng Đề án quan trọng này, Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án đã đặt hàng các bộ, ngành và cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng trên 60 báo cáo và chuyên đề, 63/63 địa phương đã có báo cáo theo đề cương, 4 tổ chức quốc tế (WB, UNIDO, AFD, GIZ) cũng đã tham gia tích cực và có các nghiên cứu phục vụ xây dựng Đề án.

Đến nay, theo phân công của Thường trực Tổ Biên tập, Bộ Công Thương cũng đã hoàn thành 1 báo cáo và 3 chuyên đề. Đây là nguyên liệu đầu vào có chất lượng cho quá trình xây dựng Đề án. 

Trên cơ sở các báo cáo của Bộ Công Thương, cũng như các bộ, ngành, địa phương, Thường trực Tổ biên tập đã hoàn thành Dự thảo Đề án gửi xin ý kiến các thành viên Tổ Biên tập và đang tích cực hoàn thiện Đề án trước khi trình Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương.

bo truong
Đồng chí Nguyễn Hồng Diên – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án phát biểu tại buổi làm việc

Phát biểu tại buổi làm việc, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho biết, Nghị quyết Đại hội XIII đã xác định mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam sẽ là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, sẽ là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 sẽ trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

“Đây là mục tiêu khá thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong thời kỳ mới.”- Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh và cho biết, với vai trò là Phó Trưởng Ban thường trực của Ban Chỉ đạo, cũng đã chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ Công Thương nghiên cứu, tổng hợp các vấn đề về lý luận, kinh nghiệm, thực tiễn cũng như đề xuất những phương hướng, giải pháp thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa đất nước trong các lĩnh vực của ngành Công Thương thông qua các Báo cáo, Chuyên đề chuyên sâu gửi Ban Kinh tế Trung ương theo đề nghị của Ban để tiến hành tổng hợp, hoàn thiện Đề án.

Thống nhất và đánh giá cao những đóng góp của Bộ Công Thương trong quá trình xây dựng Đề án, đồng chí Trần Tuấn Anh – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án – cho rằng, từ khi Ban Chấp hành Trung Ương thông qua lịch làm việc toàn khóa, Ban Kinh tế Trung ương cùng các đơn vị liên quan đã kịp thời và quyết liệt trong việc triển khai đề án.

Đề án “Chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” là một đề án có phạm vi đặc thù rất sâu rộng và phức tạp, vì công nghiệp hóa là một vấn đề lớn của đất nước được Đảng và Nhà nước quan tâm.

Tại tất cả các kỳ đại hội và văn kiện Đại hội Đảng đều nhấn mạnh về công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể và tham vọng để Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020. Tuy nhiên, trong bối cảnh chung như vậy, nhìn lại vẫn chưa có nghị quyết hay chuyên đề nào của Ban Chấp hành Trung ương về chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

“Thời gian vừa qua, Đề án đã được Ban Chỉ đạo quyết liệt chỉ đạo, tổ chức triển khai, Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương cũng đã lãnh đạo, chỉ đạo rất toàn diện để phối hợp không chỉ với Ban Kinh tế Trung ương mà còn Hội đồng lý luận và các cơ quan khác để làm rõ các vấn đề liên quan đến nội hàm của Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại các phạm vi mà mức tiếp cận khác nhau.”- Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án – Trần Tuấn Anh đánh giá.

hoi nghi

Hiện nay, Ban chỉ đạo đã có 60 báo cáo và chuyên đề; 63 tỉnh thành trên cả nước đều có báo cáo theo đề cương của Ban chỉ đạo; các tổ chức quốc tế như WorldBank, UNDP… đều phối hợp với Ban chỉ đạo và các cơ quan chức năng để thực hiện các nghiên cứu theo các chuyên đề cũng như các tọa đàm mà nội dung có tính trọng tâm. Thường trực Tổ biên tập đã hoàn thành dự thảo đề án lần 1, đây là tư liệu bước đầu để tinh gọn và hoàn chỉnh đề án. 

Tại buổi làm việc này, Ban chỉ đạo Đề án đặt ra mục tiêu trọng tâm là tiếp tục phục vụ quá trình hoàn thiện các báo cáo do các cơ quan chức năng cùng làm, trong đó có những đóng góp đáng kể của Bộ Công Thương, cần chắt lọc thông tin và lấy ra những cốt lõi để xây dựng chiến lược Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

“Đây là buổi làm việc đầu tiên của Ban chỉ đạo với các cơ quan nhà nước, Bộ, ban ngành nên Bộ Công Thương được lựa chọn là đơn vị trọng tâm đưa ra các ý kiến để tham vấn trên cơ sở lựa chọn một số các chủ đề, nội dung, định hướng lớn để thảo luận và thống nhất được nhận thức và quan điểm, từ đó xác định được những nội hàm lớn cho Nghị quyết của Trung ương về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045.”-  đồng chí Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Tại buổi làm việc, đồng chí Trần Tuấn Anh cũng đưa ra lấy ý kiến của Bộ Công Thương về 4 vấn đề mới và lớn mà theo Ban chỉ đạo và Tổ biên tập là những yếu tố rất quan trọng để đảm bảo được chất lượng của Đề án và thể hiện dưới dạng Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII sẽ trình Trung ương 6 sắp tới. 

Thứ nhất, bối cảnh chung của trong nước, của khu vực và quốc tế đang tác động như thế nào đến sự phát triển của đất nước và có thể đặt ra những vấn đề mới cho công nghiệp hoá hiện đại hóa của Việt Nam. Bộ Công Thương sẽ đưa ra những đánh giá, nhận thực từ thực tiễn của Bộ quản lý nhà nước trọng tâm trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại; các lĩnh vực có liên quan đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như hội nhập quốc tế. Đồng thời, các ý kiến của Bộ trong các tiếp cận cũng như tư duy mới về mô hình và chính sách về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam trong giai đoạn mới này. 

Thứ hai, Bộ Công Thương cần cố gắng làm rõ nét và cụ thể hơn nữa mô hình về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, mô hình đang được thảo luận và xây dựng trong dự thảo là mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng khoa học công nghệ và đối mới sáng tạo, gắn với nhu cầu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, đây cũng là tư tưởng và tinh thần trong các văn kiện của Đại hội XIII. Bộ Công Thương cần căn cứ vào diễn biến trên thực tế để làm rõ và đưa ra những đề xuất nhằm bổ sung cho phù hợp với phạm vi, quy mô của Đề án.

Thứ ba, các thành tố chính trong mục tiêu tổng quát của chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước từ năm 2030 và tầm nhìn đến năm 24 luật là gì? Chúng ta phải cụ thể hóa những mục tiêu tổng quát này.

Thứ tư, theo chức năng quản lý của Bộ Công Thương, có một số nội dung mới rất quan trọng cần đánh giá, nhận định, phân tích và đề xuất. Đó là cơ chế, chính sách, trách nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ và sản xuất của nền kinh tế này. Đối với các ngành công nghiệp, nền tảng công nghiệp ưu tiên được xác định như thế nào và nên tiếp cận theo ngành theo các chuỗi sản phẩm? Hay việc phân bố không gian phát triển các ngành công nghiệp, phát triển các khu, cụm công nghiệp, cụm liên kết ngành theo lợi thế vùng và các địa phương. Ngoài ra, cần xác định rõ vai trò liên quan đến chủ thể thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; vấn đề hội nhập tác động như thế nào đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa…

Kết thúc buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Hồng Diên – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án – nhấn mạnh, chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng. Trong đó, có 7 vấn đề sau:

Một là, công nghiệp nền tảng là những ngành công nghiệp mà dựa trên đó các ngành công nghiệp khác tồn tại và phát triển. Do vậy, để đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì trước hết phải tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng.

Hai là, để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045: điều kiện cần đó là phát triển các ngành công nghiệp nền tảng đáp ứng được yêu cầu; điều kiện đủ là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Ba là, tập trung ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp nền tảng có tính chiến lược, các ngành công nghiệp nền tảng các bon thấp; đồng thời thực hiện xanh hóa, số hóa và thông minh hóa các ngành công nghiệp nền tảng.

Bốn là, làm chủ các ngành công nghiệp nền tảng sẽ làm chủ nhu cầu về tư liệu sản xuất cơ bản của nền kinh tế, từ đó tạo tiền đề để thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, các ngành công nghiệp mũi nhọn.

Năm là, cần phải làm chủ các ngành công nghiệp nền tảng để có những tiền đề cần thiết cho phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, chủ động, tự lực, tự cường, hiện đại, gắn kết chặt chẽ, đồng bộ.

Sáu là, để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển nền nông nghiệp bền vững, thúc đẩy chuyển đổi số để xây dựng nông nghiệp thông minh, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân thì trước hết phải phát triển các ngành công nghiệp nền tảng như công nghiệp chế biến, công nghiệp sinh học, phân bón…

Bảy là, cơ cấu lại các ngành dịch vụ cần dựa trên các ngành công nghiệp nền tảng gắn với công nghệ hiện đại, công nghệ số, phát triển các loại dịch vụ mới có tính liên ngành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 

Về kiến nghị chủ trương, định hướng lớn về chính sách của Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên cho rằng, cần có cách tiếp cận, tư duy mới về mô hình, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam trong bối cảnh và điều kiện mới của giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, như mô hình, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng; khuyến khích phát triển hài hòa/hợp lý các ngành công nghiệp mũi nhọn, các ngành công nghiệp mới; dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ của cuộc CMCN 4.0.

Đồng thời thời gắn với yêu cầu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, bao trùm; chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần định hướng mở rộng từ các cơ chế, chính sách truyền thống như ưu đãi tín dụng và miễn giảm thuế sang cơ chế, chính sách mới như hỗ trợ ngân sách; chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần định hướng xây dựng các tiêu chí, điều kiện, cơ chế để xác định và phát triển các cụm liên kết ngành công nghiệp, bảo đảm tập trung, trọng tâm, trọng điểm…

Các nội dung được trao đổi tại buổi làm việc sẽ góp phần đề xuất những quan điểm mới, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá, kiến nghị phù hợp về chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

 

Khánh Vy






The post Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
‘Cần thiết phải có nghị quyết riêng của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa’ https://evbn.org/can-thiet-phai-co-nghi-quyet-rieng-cua-dang-ve-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-1680773553/ Thu, 06 Apr 2023 09:32:34 +0000 https://evbn.org/can-thiet-phai-co-nghi-quyet-rieng-cua-dang-ve-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-1680773553/ (PLVN) – Trao đổi bên lề Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 6, Ủy viên Bộ Chính...

The post ‘Cần thiết phải có nghị quyết riêng của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa’ appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

(PLVN) – Trao đổi bên lề Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 6, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh khẳng định việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” là hết sức cần thiết.

Xin ông cho biết ý nghĩa và tầm quan trọng của việc ban hành Nghị quyết 29-NQ/TW trong bối cảnh hiện nay?

– Nghị quyết 29-NQ/TW là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Có thể nói, việc ban hành Nghị quyết này là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, thể hiện:

Thứ nhất, CNH, HĐH là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị, là phương thức, động lực để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Thực tế đã chỉ ra rằng, đại đa số các nước trên thế giới muốn tiến lên trở thành một nước công nghiệp, nước phát triển, đạt được mức thu nhập cao đều tiến hành quá trình CNH, HĐH đất nước. Với đặc điểm và điều kiện của Việt Nam, Việt Nam muốn thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng XIII đã đề ra, tất yếu vẫn phải tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH.

Thứ hai, vấn đề CNH, HĐH đất nước đã được đặt ra từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Trong thời gian, đã có khoảng 20 nghị quyết ban hành một số chủ trương, đường lối quan trọng có liên quan đến những khía cạnh riêng rẽ của CNH, HĐH; tuy nhiên cho đến trước khi ban hành Nghị quyết 29-NQ/TW, Đảng ta vẫn chưa có nghị quyết riêng về vấn đề này. Đại hội XIII nêu rõ: “Tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước ta đã có thế và lực mới. Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Bên cạnh đó, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường; nhất là tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt ra nhiều vấn đề mới, có tính chất phức tạp. Từ đó đặt ra những yêu cầu thực tiễn cần phải ban hành một Nghị quyết mới có tính tổng thể và toàn diện để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

Thứ ba, thực tiễn thực hiện CNH, HĐH đất nước trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại cần có chủ trương của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời tháo gỡ như: tăng trưởng kinh tế không đạt mục tiêu chiến lược đề ra, tốc độ có xu hướng giảm dần; có nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Nội lực của nền kinh tế còn yếu, năng suất lao động chậm được cải thiện, năng lực độc lập, tự chủ thấp. Công nghiệp phát triển thiếu bền vững. Các ngành dịch vụ quan trọng chiếm tỉ trọng còn nhỏ, mối liên kết với các ngành sản xuất còn yếu. Đô thị hoá chưa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với CNH, HĐH. Các vấn đề về phát triển văn hoá, xã hội, con người, môi trường còn nhiều hạn chế, bất cập… Nghị quyết được ban hành sẽ định hướng, là kim chỉ nam để cụ thể hóa các chủ trương của Đảng nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (KTXH) giai đoạn 2021 – 2030; là cơ sở, căn cứ chính trị quan trọng trong việc định hướng những tư duy mới, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp mới tạo động lực thúc đẩy CNH, HĐH đất nước.

Thưa ông, quan điểm của Đảng ta về tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước được thể hiện trong Nghị quyết 29 như thế nào?

– Nghị quyết đã đề ra hệ thống 5 nhóm quan điểm chỉ đạo có tính toàn diện, đồng thời cũng cụ thể hoá những nội dung trọng tâm làm cơ sở để định hướng đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, với một số nội dung cốt lõi sau:

Thứ nhất, làm rõ nội hàm/nhận thức về CNH, HĐH là “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội dựa chủ yếu vào sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Thống nhất nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của CNH, HĐH với sự phát triển KTXH, coi đây “là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển KTXH đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao”.

Thứ hai, nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt của Đảng coi việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị. Đặt CNH, HĐH trong tổng thế chiến lược phát triển đất nước để có cách tiếp cận toàn diện, chú trọng giải quyết hài hoà các mối quan hệ lớn trong quá trình CNH, HĐH đất nước, đó là “bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động”.

Thứ ba, xác định nội dung và yêu cầu then chốt “phải khai thác và phát huy tốt nhất mọi tiềm năng, lợi thế của đất nước, của từng vùng và địa phương; lợi thế của nền kinh tế đi sau và đang trong thời kỳ dân số vàng; kết hợp đồng bộ, hiệu quả giữa phát triển tuần tự với đi tắt đón đầu; chuyển dịch nhanh từ gia công, lắp ráp sang chế tạo, chế biến, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam; tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, chú trọng đẩy mạnh dịch vụ hóa các ngành công nghiệp. Coi trọng phát triển công nghiệp chế tạo, chế biến là then chốt, chuyển đổi số là phương thức mới có tính đột phá để rút ngắn quá trình CNH, HĐH; CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu”.

Thứ tư, nhấn mạnh lộ trình, bước đi trong thực hiện CNH, HĐH đất nước phải có trọng tâm, trọng điểm và xác định các lĩnh vực ngành nghề cần ưu tiên phát triển đặt trong mối quan hệ tổng thể với yêu cầu tập trung về nguồn lực thực hiện để phát triển các cực tăng trưởng, các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp hỗ trợ, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; tăng cường liên kết ngành và liên kết vùng. Bổ sung, hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng về chủ thể và nguồn lực thực hiện CNH, HĐH: “lấy nguồn lực trong nước là cơ bản, chiến lược, lâu dài và quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng, đột phá; doanh nghiệp trong nước (bao gồm cả doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân) là chủ đạo; doanh nghiệp FDI là động lực thúc đẩy CNH, HĐH”.

Thứ năm, nhấn mạnh yêu cầu trong thực hiện CNH, HĐH đất nước, “phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, hiệu quả; khơi dậy khát vọng phát triển, tinh thần khởi nghiệp quốc gia, đổi mới sáng tạo; phát huy giá trị văn hóa cả truyền thống và hiện đại, bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam và giai cấp công nhân hiện đại; vai trò xung kích, đi đầu của đội ngũ tri thức và doanh nhân Việt Nam”.

Trân trọng cảm ơn ông!

The post ‘Cần thiết phải có nghị quyết riêng của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa’ appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Bộ Tài nguyên và Môi trường – Bản tin https://evbn.org/bo-tai-nguyen-va-moi-truong-ban-tin-1680773547/ Thu, 06 Apr 2023 09:32:28 +0000 https://evbn.org/bo-tai-nguyen-va-moi-truong-ban-tin-1680773547/ Từ viết tắt Đọc bài viết Nghị quyết số 29-NQ/TW là cơ sở, căn cứ chính trị hết sức quan trọng trong việc định hướng...

The post Bộ Tài nguyên và Môi trường – Bản tin appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>




Từ viết tắt
Đọc bài viết

Nghị quyết số 29-NQ/TW là cơ sở, căn cứ chính trị hết sức quan trọng trong việc định hướng những tư duy mới, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp mới nhằm tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Page Content

Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh khẳng định công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương xuyên suốt và nhất quán của Đảng ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước – Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng

Ngày 6/12, Hội nghị toàn quốc (trực tiếp kết hợp với trực tuyến) nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII bước vào ngày làm việc thứ 2.

Hội nghị đã nghe Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh truyền đạt chuyên đề: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022). Đây là chuyên đề thứ 3 trong 4 chuyên đề được truyền đạt tại Hội nghị quan trọng này.

CNH – HĐH là chủ trương xuyên suốt và nhất quán

Ông Trần Tuấn Anh khẳng định, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH) là chủ trương xuyên suốt và nhất quán của Đảng ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nhất là từ khi đẩy mạnh thực hiện công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước đến nay.

Qua mỗi kỳ Đại hội, dù cho cách diễn đạt có thể khác nhau, nhấn mạnh các nhiệm vụ cấp bách khác nhau cần giải quyết trong mỗi thời kỳ phát triển của đất nước, song về cơ bản, Đảng ta đã đề ra và chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện nhiều chủ trương, đường lối quan trọng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tinh thần xuyên suốt, nhất quán là hướng tới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đưa đất nước trở thành nước công nghiệp phát triển có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng nâng cao.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ 4”.

Qua các nhiệm kỳ Đại hội, nhất là từ Đại hội XII trở lại đây đã có khoảng 20 nghị quyết ban hành một số chủ trương, đường lối quan trọng có liên quan đến những khía cạnh riêng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, cho đến trước khi ban hành Nghị quyết số 29, Đảng ta vẫn chưa có nghị quyết riêng về vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

“Trong bối cảnh phát triển mới hiện nay, Nghị quyết số 29 là cơ sở, căn cứ chính trị hết sức quan trọng trong việc định hướng những tư duy mới, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp mới nhằm tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”, ông Trần Tuấn Anh khẳng định.

Ngày 6/12, Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII bước vào ngày làm việc thứ 2 – Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng

Làm rõ nội hàm, nhận thức về CNH – HĐH

Nêu bật những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời gian qua, ông Trần Tuấn Anh cho biết, Nghị quyết số 29 đã đưa ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo trong thời gian tới.

Ông Trần Tuấn Anh cho biết bám sát các quan điểm chỉ đạo nêu trên, đồng thời căn cứ vào các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 đã được đưa ra tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 29 đã xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là: “Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của nhân dân được nâng cao. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn. Nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững theo hướng sinh thái, ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ tiên tiến. Các ngành dịch vụ được cơ cấu lại đồng bộ, hiệu quả trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số với chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh được nâng cao, hình thành được nhiều ngành dịch vụ mới, có giá trị gia tăng cao”.

Nghị quyết xác định tầm nhìn đến năm 2045 là: “Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á”.

10 nhóm nhiệm vụ giải pháp chủ yếu bao phủ những vấn đề lớn

Để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra,  Nghị quyết 29 đã đề ra 10 nhóm nhiệm vụ giải pháp chủ yếu bao phủ những vấn đề lớn từ đổi mới tư duy, nhận thức cho đến hoàn thiện thể chế, chính sách và giải quyết những điểm nghẽn, khắc phục những hạn chế trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời gian qua.

Cụ thể, 10 nhóm nhiệm vụ giải pháp chủ yếu là: Thứ nhất, đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thứ ba, xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường; nâng cao năng lực ngành xây dựng.

Thứ tư, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; tiếp tục cơ cấu lại ngành dịch vụ dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Thứ năm, phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Thứ sáu, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hoá nhanh và bền vững, gắn kết chặt chẽ và tạo động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thứ bảy, phát triển các thành phần kinh tế nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Thứ tám, đổi mới chính sách tài chính, tín dụng thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhanh, bền vững.

Thứ chín, quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả đi đôi với bảo vệ và phát triển thị trường trong nước.

Cuối cùng, phát huy giá trị văn hoá, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; đội ngũ trí thức và doanh nhân xung kích, đi đầu trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; bảo đảm tốt an sinh xã hội.

“Nghị quyết số 29 được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xem xét, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện trong bối cảnh cả nước ta đang nỗ lực, tập trung triển khai thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, với quyết tâm cao độ của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết đồng lòng của cả nước, nhất định Nghị quyết sẽ sớm đi vào cuộc sống để góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước nhanh và bền vững”, đồng chí Trần Tuấn Anh phát biểu.

* Theo chương trình, chiều nay (6/12), Hội nghị sẽ nghe chuyên đề về “Định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050”./.

 

The post Bộ Tài nguyên và Môi trường – Bản tin appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết đầu tiên về Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước https://evbn.org/day-manh-thuc-hien-nghi-quyet-dau-tien-ve-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773540/ Thu, 06 Apr 2023 09:32:21 +0000 https://evbn.org/day-manh-thuc-hien-nghi-quyet-dau-tien-ve-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773540/ Điểm mới trong Nghị quyết lần này là đặt ra yêu cầu nhiệm vụ cần phải thúc đẩy dịch vụ hoá các ngành công nghiệp...

The post Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết đầu tiên về Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Điểm mới trong Nghị quyết lần này là đặt ra yêu cầu nhiệm vụ cần phải thúc đẩy dịch vụ hoá các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; tiếp tục cơ cấu lại các ngành dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số, phát triển dịch vụ công nghệ cao, các loại dịch vụ mới của nền kinh tế số…

 Đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương trả lời phỏng vấn phóng viên.

Nhân dịp Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương đã trả lời phỏng vấn phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam những nội dung trọng tâm và những điểm mới đáng lưu ý từ Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Phóng viên: Ngày 17/11/2022, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xin đồng chí cho biết ý nghĩa và tầm quan trọng của Nghị quyết này?

Đ/C Trần Tuấn Anh: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị, là phương thức, động lực để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Thực tế đã chỉ ra rằng, đại đa số các nước trên thế giới muốn tiến lên trở thành một nước công nghiệp, nước phát triển, đạt được mức thu nhập cao đều tiến hành quá trình CNH, HĐH đất nước. Với đặc điểm và điều kiện của Việt Nam, Việt Nam muốn thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng XIII đã đề ra, tất yếu vẫn phải tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH.

Vấn đề CNH, HĐH đất nước đã được đặt ra từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Trong thời gian, đã có khoảng 20 nghị quyết ban hành một số chủ trương, đường lối quan trọng có liên quan đến những khía cạnh riêng rẽ của CNH, HĐH; tuy nhiên cho đến trước khi ban hành Nghị quyết 29-NQ/TW, Đảng ta vẫn chưa có nghị quyết riêng về vấn đề này. Đại hội XIII nêu rõ: “Tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước ta đã có thế và lực mới. Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Bên cạnh đó, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường; nhất là tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra nhiều vấn đề mới, có tính chất phức tạp. Từ đó đặt ra những yêu cầu thực tiễn cần phải ban hành một Nghị quyết mới có tính tổng thể và toàn diện để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

Thực tiễn thực hiện CNH, HĐH đất nước trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại cần có chủ trương của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời tháo gỡ như: tăng trưởng kinh tế không đạt mục tiêu chiến lược đề ra, tốc độ có xu hướng giảm dần; có nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Nội lực của nền kinh tế còn yếu, năng suất lao động chậm được cải thiện, năng lực độc lập, tự chủ thấp. Công nghiệp phát triển thiếu bền vững. Các ngành dịch vụ quan trọng chiếm tỉ trọng còn nhỏ, mối liên kết với các ngành sản xuất còn yếu. Đô thị hoá chưa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với CNH, HĐH. Các vấn đề về phát triển văn hoá, xã hội, con người, môi trường còn nhiều hạn chế, bất cập…

Việc ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Nghị quyết được ban hành sẽ định hướng, là kim chỉ nam để cụ thể hóa các chủ trương của Đảng nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021-2030; là cơ sở, căn cứ chính trị quan trọng trong việc định hướng những tư duy mới, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp mới tạo động lực thúc đẩy CNH, HĐH đất nước. Việc ban hành Nghị quyết vào thời điểm hiện nay có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang triển khai mạnh mẽ thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021-2030.

Để tham mưu ban hành Nghị quyết, Ban Kinh tế Trung ương đã tổ chức nhiều cuộc Hội thảo tham vấn, góp ý của các Ban, Bộ, ngành, địa phương và các chuyên gia trong và ngoài nước. 

Phóng viên: Thưa đồng chí, quan điểm của Đảng ta về tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước được thể hiện trong Nghị quyết 29 như thế nào?

Đ/C Trần Tuấn Anh: Nghị quyết đã đề ra hệ thống 5 nhóm quan điểm chỉ đạo có tính toàn diện, đồng thời cũng cụ thể hoá những nội dung trọng tâm làm cơ sở để định hướng đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, với một số nội dung cốt lõi sau:

Quan điểm thứ nhất, làm rõ nội hàm/nhận thức về CNH, HĐH là “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội dựa chủ yếu vào sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Thống nhất nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của CNH, HĐH với sự phát triển kinh tế – xã hội, coi “là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao”.

Quan điểm thứ hai, nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt của Đảng coi việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị. Đặt CNH, HĐH trong tổng thế chiến lược phát triển đất nước để có cách tiếp cận toàn diện, chú trọng giải quyết hài hoà các mối quan hệ lớn trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Đó là: “bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động”.

Quan điểm thứ ba, xác định nội dung và yêu cầu then chốt “phải khai thác và phát huy tốt nhất mọi tiềm năng, lợi thế của đất nước, của từng vùng và địa phương; lợi thế của nền kinh tế đi sau và đang trong thời kỳ dân số vàng; kết hợp đồng bộ, hiệu quả giữa phát triển tuần tự với đi tắt đón đầu; chuyển dịch nhanh từ gia công, lắp ráp sang chế tạo, chế biến, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam; tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, chú trọng đẩy mạnh dịch vụ hóa các ngành công nghiệp. Coi trọng phát triển công nghiệp chế tạo, chế biến là then chốt, chuyển đổi số là phương thức mới có tính đột phá để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu”.

Quan điểm thứ tư, nhấn mạnh lộ trình, bước đi trong thực hiện CNH, HĐH đất nước phải có trọng tâm, trọng điểm và xác định các lĩnh vực ngành nghề cần ưu tiên phát triển đặt trong mối quan hệ tổng thể với yêu cầu tập trung về nguồn lực thực hiện để phát trển các cực tăng trưởng, các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp hỗ trợ, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; tăng cường liên kết ngành và liên kết vùng. Bổ sung, hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng về chủ thể và nguồn lực thực hiện CNH, HĐH: “lấy nguồn lực trong nước là cơ bản, chiến lược, lâu dài và quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng, đột phá; doanh nghiệp trong nước (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân) là chủ đạo; doanh nghiệp FDI là động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Quan điểm thứ năm, nhấn mạnh yêu cầu trong thực hiện CNH, HĐH đất nước, “phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, hiệu quả; khơi dậy khát vọng phát triển, tinh thần khởi nghiệp quốc gia, đổi mới sáng tạo; phát huy giá trị văn hóa cả truyền thống và hiện đại, bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam và giai cấp công nhân hiện đại; vai trò xung kích, đi đầu của đội ngũ tri thức và doanh nhân Việt Nam”.

Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII đã thông qua và ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.  

Phóng viên: Thưa đồng chí, triển khai thực hiện Nghị quyết này chúng ta cần xác định đâu là nội dung trọng tâm, có tính đột phá để thúc đẩy CNH, HĐH trong giai đoạn tới?

Đ/C Trần Tuấn Anh: Để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, Nghị quyết đã đề ra 10 nhóm nhiệm vụ giải pháp chủ yếu bao phủ những vấn đề lớn từ đổi mới tư duy, nhận thức cho đến hoàn thiện thể chế, chính sách và giải quyết những điểm nghẽn, khắc phục những hạn chế trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời gian qua. Trong đó, một số nội dung trọng tâm, đột phá cần thực hiện ngay để thúc đẩy CNH, HĐH trong giai đoạn tới như:

Một là, Nghị quyết xác định nội dung cốt lõi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo 2 giai đoạn. Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải nâng cao nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, doanh nghiệp và người dân; cụ thể hoá các quan điểm, gắn kết các mục tiêu, nhiệm vụ CNH, HĐH đất nước với luật pháp, chính sách, hệ thống quy hoạch quốc gia và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan, tiến tới đẩy nhanh thể chế hoá các nghị quyết, kết luận của Đảng có liên quan đến CNH, HĐH để hoàn thiện cơ bản thể chế, chính sách nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH; Thực hiện phân công, phân cấp triệt để trong quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; Nâng cao năng lực dự báo; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả CNH, HĐH trên phạm vi cả nước, từng vùng và địa phương và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, gắn trách nhiệm người đứng đầu trong tổ chức thực hiện.

Hai là, Nghị quyết xác định các nhiệm vụ và giải pháp tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh góp phần thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh CNH, HĐH trên nền tảng tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để có sự bứt phá, vươn lên trong một số ngành, lĩnh vực thông qua việc phát triển khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế, trong đó tập trung xây dựng và triển khai Chương trình quốc gia về nâng cao năng lực độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của nền sản xuất Việt Nam đến năm 2045 (Make in Vietnam 2045); Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2030.

Nghị quyết đã chỉ rõ các ngành, lĩnh vực cần ưu tiên nguồn lực và có các cơ chế, chính sách khuyến khích và ưu đãi đủ mạnh để phát triển, tránh dàn trài như: Đối với các ngành công nghiệp nền tảng như: Luyện kim; Cơ khí chế tạo; Hoá chất; Công nghiệp năng lượng; Vật liệu; Công nghệ số (ưu tiên phát triển trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, điện toán đám mây, Internet vạn vật, thiết bị điện tử – viễn thông, thiết kế và sản xuất chíp bán dẫn).

Đối với ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn là: Công nghiệp sản xuất rô bốt, ô tô điện, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa; công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp; công nghiệp sinh học (tập trung vào gen, dược phẩm và các chế phẩm sinh học); công nghiệp dệt may, da giày ở các khâu tạo giá trị gia tăng cao dựa trên quy trình sản xuất thông minh, tự động hoá; công nghiệp văn hoá…

Khuyến khích các tập đoàn, doanh nghiệp trong nước liên kết, liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài sản xuất thiết bị năng lượng sạch, tái tạo, hệ thống pin lưu trữ, các công nghệ và sản phẩm tiết kiệm năng lượng, đào tạo, chuyển giao công nghệ. Đồng thời, phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng lưỡng dụng, hiện đại, tự lực, tự cường, liên kết chặt chẽ với công nghiệp dân sinh và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia.

Nút giao Cao tốc Hà Nội-Hải Phòng.  

Ba là, Nghị quyết xác định rõ hơn về định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ trong quá trình CNH, HĐH. Trong đó, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn bằng các biện pháp cụ thể như về cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thúc đẩy cơ giới hoá đồng bộ, hiện đại hoá trong toàn bộ chuỗi cung ứng; ưu tiên khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn hướng tới nông thôn mới thông minh…Xác định định hướng phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, nhất là các nhành có giá trị gia tăng cao như du lịch, viễn thông, logistic, ngân hàng – tài chính…

Điểm mới trong Nghị quyết lần này là đặt ra yêu cầu nhiệm vụ cần phải thúc đẩy dịch vụ hoá các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; tiếp tục cơ cấu lại các ngành dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số, phát triển dịch vụ công nghệ cao, các loại dịch vụ mới của nền kinh tế số.

Bốn là, tập trung nhấn mạnh phát triển hạ tầng kết nối liên vùng, nhất là đường bộ cao tốc với mục tiêu đến năm 2030 có 5000 km; tiếp đến là hạ tầng năng lượng và hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, phát triển hạ tầng số đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN và các công trình hạ tầng xã hội về y tế, giáo dục của vùng. Có các giải pháp quan trọng, đột phá để phát triển hệ thống đô thị bền vững theo hướng đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai và dịch bệnh, có tính kết nối theo mạng lưới cao và gắn kết chặt chẽ với quá trình CNH, HĐH.

Năm là, cụ thể hóa quan điểm gắn kết CNH, HĐH với quá trình phát triển bền vững, bao trùm và đặt trong chuỗi sản xuất – kinh doanh toàn cầu, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng với các giải pháp đột phá nhằm quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả đi đôi với bảo vệ và phát triển thị trường trong nước; phát huy giá trị văn hóa, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; đội ngũ tri thức và doanh nhân xung kích, đi đầu trong CNH, HĐH đất nước, bảo đảm tốt an sinh xã hội với quan điểm xác định con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực, nguồn lực cho sự phát triển và thúc đẩy CNH, HĐH.

Phóng viên: Xin cảm ơn đồng chí đã trả lời phỏng vấn!

 

The post Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết đầu tiên về Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030 https://evbn.org/day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-den-nam-2030-1680773532/ Thu, 06 Apr 2023 09:32:14 +0000 https://evbn.org/day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-den-nam-2030-1680773532/ Sau hơn 35 năm đổi mới, CNH, HĐH đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao, quy mô nền kinh tế tăng nhanh,...

The post Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030 appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Sau hơn 35 năm đổi mới, CNH, HĐH đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Trên cơ sở những kết quả đạt được, ngày 17/11/2022, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiếp tục ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Bài viết đánh giá sơ bộ kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế trong thực hiện CNH, HĐH đất nước, đồng thời đưa ra một số giải pháp trên cơ sở bám sát các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tại Nghị quyết số 29-NQ/TW.

Đóng góp của CNH, HĐH vào phát triển đất nước

CNH, HĐH là chủ trương xuyên suốt và nhất quán của Ðảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau hơn 35 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm (2011-2020), CNH, HĐH đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đạt bình quân 6,17%/năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỷ trọng đóng góp vào GDP của công nghiệp và dịch vụ đạt 72,7% vào năm 2020, đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình.

Công nghiệp được cơ cấu lại theo hướng giảm tỷ trọng ngành khai khoáng, tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; đã hình thành được một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh và vị trí vững chắc trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, trong giai đoạn 2011-2020, với việc đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, Việt Nam đã trở thành một trong những trung tâm công nghiệp của khu vực và của thế giới, thuộc nhóm ASEAN-4 và nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp trung bình cao.

Theo Bộ Công Thương, quy mô sản xuất công nghiệp của Việt Nam ngày càng mở rộng với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng cao (bình quân 7,7%/năm), tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm bình quân tăng khá cao (7,4%/năm). Đáng chú ý, đến nay, công nghiệp vẫn là ngành thu hút đầu tư FDI lớn nhất với tốc độ tăng trưởng cao (tăng gần 2 lần cả về quy mô và tỷ trọng trong 10 năm qua), đặc biệt là trong công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm hơn 60% vốn đầu tư vào các ngành và khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội) với một số dự án đầu tư lớn của các tập đoàn công nghệ toàn cầu, từ đó tạo động lực tăng trưởng mới cho Ngành và góp phần hình thành nên các trung tâm công nghiệp mới của Đất nước.

Ngành Nông nghiệp tăng trưởng ổn định và bền vững, từng bước được cơ cấu lại theo hướng hiện đại. Nông nghiệp đã phát huy vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến góp phần đẩy nhanh tăng trưởng ngành Công nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

Năm 2022, ngành Nông nghiệp phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP đạt từ 2,8-3%, cao hơn so với Chính phủ giao 2,5-2,8%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2022 khoảng 55 tỷ USD, cao hơn Chính phủ giao 5 tỷ USD… Bên cạnh đó, đóng góp của ngành Dịch vụ vào tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng; đã hình thành được một số ngành dịch vụ có hàm lượng khoa học và công nghệ (KH&CN) cao…

Một số tồn tại, hạn chế

Tuy nhiên, Nghị quyết số 29-NQ/TW nêu rõ, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình CNH, HĐH gặp không ít tồn tại, hạn chế. Theo đó, mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 không hoàn thành; tăng trưởng kinh tế không đạt mục tiêu chiến lược đề ra, tốc độ có xu hướng giảm dần theo chu kỳ 10 năm; có nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Nội lực của nền kinh tế còn yếu, năng suất lao động thấp, chậm được cải thiện; năng lực độc lập, tự chủ thấp, phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; khu vực kinh tế tư nhân trong nước chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng thúc đẩy CNH, HĐH…

Bên cạnh đó, công nghiệp phát triển thiếu bền vững, giá trị gia tăng thấp, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp thông minh phát triển chậm. Tỷ lệ đầu tư đổi mới công nghệ của các DN Việt Nam là dưới 0,5% doanh thu (trong khi Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc 10%); Tỷ trọng của công nghiệp chế biến, chế tạo/GDP chỉ đạt xấp xỉ 16% (mặc dù cao hơn mức trung bình thế giới nhưng thấp thua Trung Quốc (khoảng 27,1%); Hàn Quốc (khoảng 25,3%); Thái Lan (25,3%); Nhật Bản (20,7%)… Các ngành dịch vụ quan trọng chiếm tỷ trọng nhỏ, liên kết với các ngành sản xuất yếu. Ðô thị hóa chưa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với CNH, HĐH. Phát triển văn hóa, xã hội, con người, môi trường còn nhiều hạn chế, bất cập…

Giải pháp đề xuất

Để tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 29-NQ/TW đã đề ra một số chỉ tiêu cụ thể. Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm; Ðóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 50%; Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN về năng lực cạnh tranh công nghiệp; tỷ trọng công nghiệp đạt trên 40% GDP; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 30% GDP; trọng của khu vực dịch vụ đạt trên 50% GDP, trong đó du lịch đạt 14 – 15% GDP… Về tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á.
Để đạt được mục tiêu đề ra, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại Nghị quyết số 29-NQ/TW, trong đó cần tập trung một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

Xác định nội dung cốt lõi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước giai đoạn 2021-2030 là thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ KH&CN, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế; thực hiện chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả, bền vững; nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ và thị trường, bảo vệ và phát huy tốt thị trường trong nước. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, DN và người dân; cụ thể hóa các quan điểm, gắn kết các mục tiêu, nhiệm vụ CNH, HĐH đất nước với xây dựng và thực hiện luật pháp, chính sách, hệ thống quy hoạch quốc gia và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan…

Hai là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy CNH, HĐH đất nước.

Đẩy nhanh thể chế hóa các nghị quyết, kết luận của Ðảng có liên quan đến CNH, HĐH. Ưu tiên xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành về phát triển công nghiệp quốc gia và các lĩnh vực công nghiệp đặc thù như công nghiệp công nghệ số, công nghiệp quốc phòng, an ninh, năng lượng…; tạo lập khung pháp luật cho phát triển sản xuất thông minh, mô hình nhà máy thông minh, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất thông minh; đẩy nhanh hoàn thiện các tiêu chuẩn, định mức kinh tế-kỹ thuật của các ngành, lĩnh vực sát với thực tiễn, tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo phù hợp với thực tế Việt Nam và thông lệ.

Rà soát, hoàn thiện chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo hướng không ưu đãi theo diện rộng, dàn trải đến các phân ngành công nghiệp, tập trung vào các lĩnh vực được xác định theo tiêu chí phù hợp cho từng giai đoạn…

Ba là, đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; tiếp tục cơ cấu lại ngành dịch vụ dựa trên nền tảng KH&CN, đổi mới sáng tạo.

Hình thành các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh nông nghiệp tại một số vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. Khuyến khích phát triển công nghiệp cơ khí, hóa chất và công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy sản. Tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thúc đẩy cơ giới hóa đồng bộ, hiện đại hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Thúc đẩy dịch vụ hóa các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; tiếp tục cơ cấu lại các ngành dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số, phát triển dịch vụ công nghệ cao, các loại dịch vụ mới của nền kinh tế số…

Bốn là, phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH.

Ðẩy nhanh thể chế hóa và cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Ðảng về phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo. Ưu tiên đầu tư cho KH&CN, đổi mới sáng tạo đi trước một bước; có lộ trình tăng tỷ lệ chi từ ngân sách nhà nước tính trên GDP cho nghiên cứu và phát triển. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ gắn với các chuỗi giá trị nội địa, khu vực và toàn cầu các cụm liên kết ngành với vai trò dẫn dắt của các DN lớn, tập trung vào các ngành có giá trị xuất khẩu và doanh thu lớn như dệt may, da giày, điện tử, thiết bị, máy móc, chế biến gỗ, chế biến nông sản, khai thác khoáng sản, dược phẩm…

Năm là, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hóa nhanh và bền vững, gắn kết chặt chẽ và tạo động lực cho CNH, HĐH đất nước.

Theo đó, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia và vùng về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu, năng lượng, hạ tầng số, các công trình hạ tầng xã hội về y tế, giáo dục của vùng. Xây dựng đề án tổng thể thống nhất về cơ chế giao quản lý, khai thác các tài sản kết cấu hạ tầng giao thông hàng hải, hàng không, đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa theo hướng tăng cường xã hội hóa, tách biệt rõ vai trò quản lý nhà nước với vai trò quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông vận tải; nghiên cứu áp dụng thí điểm mô hình đầu tư công – quản trị tư, đầu tư tư – sử dụng công; đa dạng hóa nguồn lực, huy động tối đa nguồn lực từ quỹ đất trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Xây dựng và triển khai chiến lược phát triển hạ tầng thông tin, hạ tầng số, quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông cho giai đoạn tới, ưu tiên đầu tư phát triển nhanh, đi trước một bước…

Sáu là, đổi mới chính sách tài chính, tín dụng thúc đẩy CNH, HĐH đất nước nhanh, bền vững.

Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính theo nguyên tắc thị trường; tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực; thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước cho CNH, HĐH theo hướng lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân; ưu tiên nguồn lực tài chính nhà nước đầu tư cho phát triển hạ tầng liên kết vùng, hạ tầng năng lượng, chuyển đổi số, KH&CN, đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp về đầu tư, tài chính, ngân sách đối với một số địa phương; rà soát, xác định tỷ lệ nguồn thu giữ lại hợp lý đối với các đô thị đặc biệt và các đô thị lớn để bảo đảm phát huy vai trò của các cực tăng trưởng kinh tế trong thực hiện CNH, HĐH. Thực hiện các chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng đủ mạnh để thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; phát triển mạnh tài chính xanh, tín dụng xanh.

Tài liệu tham khảo:

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
  2. Quang Lộc (2022), Nghị quyết số 29-NQ/TW: Đến năm 2030 Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, Báo Công Thương;
  3. Trần Thị Mây, Nguyễn Thị Thơm, Vũ Thị Phượng (2022), Thực trạng và giải pháp tái cơ cấu ngành Công nghiệp đến năm 2030. Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 1 – tháng 5/2022.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 12/2022

The post Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030 appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII của Đảng https://evbn.org/day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-nong-nghiep-nong-thon-theo-tinh-than-nghi-quyet-trung-uong-5-khoa-xiii-cua-dang-1680773523/ Thu, 06 Apr 2023 09:32:04 +0000 https://evbn.org/day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-nong-nghiep-nong-thon-theo-tinh-than-nghi-quyet-trung-uong-5-khoa-xiii-cua-dang-1680773523/ Thứ hai, 13 Tháng 2 2023 15:28 1102 Lượt xem (LLCT) – Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh cơ cấu lại nông...

The post Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII của Đảng appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Thứ hai, 13 Tháng 2 2023 15:28

1102 Lượt xem

(LLCT) – Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới”(1). Cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội XIII, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(2). Bài viết làm rõ vị trí, vai trò của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; thực trạng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời gian vừa qua, từ đó, đề xuất các biện pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XIII của Đảng.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được Đảng xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước – Ảnh: tapchicongsan.org.vn

1. Vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong tác phẩm Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Từ Airơlen đến Xixin, từ Anđaludia đến Nga và Bungari, ng­ười nông dân đều là một nhân tố rất cơ bản của dân cư­, của nền sản xuất và lực lư­ợng chính trị”(3). Điều đó có nghĩa là người nông dân gắn bó rất chặt chẽ với nền sản xuất nông nghiệp; nông nghiệp, nông thôn là địa bàn quan trọng của người nông dân, là không gian sinh tồn gắn bó lâu đời của người nông dân, không thể thiếu được đối với quá trình hình thành, phát triển của nền sản xuất nông nghiệp hiện đại. Kế thừa quan điểm, tư tưởng của Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã đưa ra luận điểm nổi tiếng sâu sắc “Phải bắt đầu từ nông dân. Người nào không hiểu điều đó, người nào có ý coi đưa vấn đề nông dân lên hàng đầu như thế là một sự “từ bỏ” hoặc tương tự như sự từ bỏ chuyên chính vô sản, thì chẳng qua chỉ là vì người đó không chịu suy nghĩ kỹ càng vấn đề đó và bị lời nói trống rỗng chi phối”(4). Luận điểm của V.I.Lênin cho ta thấy một số vấn đề sau: 1) Để  phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, xã hội phải bắt đầu từ khôi phục nền nông nghiệp, cải thiện đời sống của người nông dân ở nông thôn; 2) Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn; 3) Có cơ chế, chính sách đúng đắn, phù hợp, hiệu quả, động viên, khuyến khích người nông dân vào hợp tác xã.

Trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng các nhà kinh điển Mác – Lênin vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nông dân ta giàu thì nước ta mạnh. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”(5), đó là quan điểm rất toàn diện, khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nông dân, nông nghiệp đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.

Trong suốt tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam, nông nghiệp, nông thôn đã có những đóng góp nhất định vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Là quốc gia nông nghiệp, nông nghiệp, nông thôn nước ta phát triển là nơi sản xuất ra nhiềusản phẩm thiết yếu cho đời sống, với nhiều ngành sản xuất. Việt Nam là một nước nông nghiệp có đến 70% dân số đang sinh sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Năm 2021, ngành nông nghiệp tăng 3,18%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,88%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 1,73%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm.Cụ thể, về sản xuất lúa, diện tích lúa cả năm ước đạt 7,24 triệu ha, giảm 38,3 nghìn ha so với năm trước do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất; năng suất lúa ước đạt 60,6 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 43,88 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn. Về cây lâu năm, trong năm 2021, diện tích trồng cây lâu năm ước tính đạt 3.688,6 nghìn ha, tăng 2% so với năm 2020; về lâm nghiệp, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước tính đạt 277,8 nghìn ha, tăng 2,8% so với năm trước; về thủy sản, trong năm 2021 sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 3.920,8 nghìn tấn, tăng 0,9% so với năm trước…

Trong quá trình công nghiệp hóa đất nước, nông thôn là nguồn cung cấp lao động cho các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ. Với hơn 70% lao động sinh sống ở nông thôn, hằng năm nguồn lao động ở nông thôn bổ sung cho thị trường lao động ở thành thị, các thành phố rất lớn. Đặc biệt hiện nay, với sự phân bố của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên cả nước, các cơ sở công nghiệp tại các địa phương hằng năm thu hút lực lượng lớn lao động tại địa bàn nông thôn, “ly nông bất ly hương”. Lao động nông thôn được nâng cao trình độ, được trang bị kiến thức, kỹ năng góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý trong phân công lao động xã hội. 

Nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn của nền kinh tế quốc dân. Với dân số nông thôn lớn, nhu cầu các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống nhu yếu phẩm hằng ngày rất lớn.

Nông thôn là nơi lưu giữ giá trị bản sắc văn hóa dân tộc của 54 dân tộc giàu bản sắc văn hóa, tạo nên dấu ấn, đặc trưng của từng dân tộc. Ở hầu khắp các địa phương, văn hóa lễ hội đều gắn liền với nông nghiệp, đời sống nông thôn. Vì vậy, nông nghiệp, nông thôn không chỉ là nơi lưu giữ giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc mà còn là nơi lan tỏa, kết nối tinh thần đoàn kết, nâng tầm các giá trị văn hóa lên tầm cao mới, là nguồn động lực trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có chuyển biến mạnh mẽ, tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Nông nghiệp có bước chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế; kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển; chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, hoàn thành sớm hơn gần hai năm so với kế hoạch đề ra, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân”.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16-6-2022 Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: bảo vệ các giá trị của nền văn minh lúa nước, bản sắc văn hóa dân tộc cao đẹp.

Từ vị trí, vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông thôn đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế hàng hóa lớn, hiện đại, nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn không chỉ có ý nghĩa đối với việc chuyển biến về chất các mặt đời sống xã hội của cư dân nông thôn mà còn có ý nghĩa chung đối với sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn bao gồm hai vấn đề. Một là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Đây là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn gắn với công nghiệp chế biến và thị trường lao động, ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào các khâu của sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường. Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn,chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trong giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc, vật tư phục vụ nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội gắn với quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở nông thôn.

2. Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trong những năm qua, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được Đảng xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X ngày 05-8-2008 chỉ rõ: Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có chuyển biến mạnh mẽ, tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Nông nghiệp có bước chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế; kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển; chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, hoàn thành sớm hơn gần hai năm so với kế hoạch đề ra, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân”(6).

Năm 2021: ngành nông nghiệp tăng 3,18%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,88%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 1,73%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm. Các thành tựu khoa học – công nghệ được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất nông nghiệp như: sản xuất rau, trồng hoa, quả trong nhà lưới, nhà kính, tưới tự động, chăn nuôi theo công nghệ chuồng kín với hệ thống làm mát, điều khiển chuồng nuôi, máng ăn và nước uống tự động, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung ứng dụng công nghệ cao; tăng tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản theo hướng chuyển từ coi trọng tăng số lượng sang tập trung vào nâng cao chất lượng, giá trị…

Cùng với kết quả đạt được trong phát triển nông nghiệp, nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, nông thôn thay đổi diện mạo, nâng tầm vị thế Việt Nam trong cộng đồng thế giới.

Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đánh giá “Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sâu rộng, với sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và toàn dân, về đích sớm hơn so với mục tiêu Nghị quyết đề ra; góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng kinh tế công nghiệp và dịch vụ; thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn không ngừng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, số hộ khá và giàu tăng”(7).

Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 và một số điểm mới cho việc thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 – 2025 đến tháng 7-2021, cả nước đã có 64,6% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; có 194 đơn vị cấp huyện (chiếm 29%) thuộc 51 tỉnh, thành phố đạt chuẩn nông thôn mới; có 12 tỉnh, thành phố đã có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 04 tỉnh đã được công nhận tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2020 đạt 41,7 triệu đồng/người/năm, gấp 1,7 lần so với năm 2015 và gấp 3,25 lần so với năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều khu vực nông thôn năm 2020 còn khoảng 7,1%, giảm 4,7% so với năm 2016…

Bên cạnh kết quả đạt được, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn còn một số hạn chế, bất cập: ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm, chưa thích ứng được với đòi hỏi của thị trường, sản phẩm làm ra chất lượng còn thấp, khả năng cạnh tranh ở thị trường trong và ngoài nước thấp; chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn còn thấp, lao động còn manh mún, tự do, tùy tiện, chưa có tính kỷ luật trong lao động; kết cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, thống nhất. Đặc biệt, ở vùng sâu, vùng xa có nhiều tiềm năng, lợi thế, hệ thống giao thông còn nhiều khó khăn; môi trường nông nghiệp, nông thôn ngày càng bị ô nhiễm…

Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đánh giá: nông nghiệp phát triển còn thiếu bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm, tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn dựa vào nông hộ nhỏ, thiếu liên kết… Xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều, nhiều nơi chưa chú trọng đúng mức đến phát triển sản xuất, tạo sinh kế, xây dựng đời sống văn hóa; ô nhiễm môi trường nông thôn gia tăng.

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, thời cơ, vận hội đan xen với nguy cơ, thách thức, ảnh hưởng của dịch bệnh, biến đổi khí hậu, xung đột tranh chấp chủ quyền giữa các nước tác động mạnh đến thị trường thế giới, tới sức mua, giá các mặt hàng của sản xuất nông nghiệp lên cao; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển đặt ra cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn phải đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả… Tình hình trong nước có nhiều thuận lợi, song cũng còn nhiều khó khăn bởi những ảnh hưởng đa chiều từ nhiều nhân tố. Thực hiện mục tiêu nhiệm vụ phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đến năm 2025 là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; Đại hội XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh”(8). Tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp phấn đấu đạt bình quân khoảng 3%/năm; tăng năng suất lao động nông nghiệp bình quân từ 5,5 – 6%/năm. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ nông thôn phấn đấu đạt bình quân trên 10%/năm.

3. Một số giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Một là, thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên, nhân dân về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị

Nhận thức đúng sẽ có hành động đúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”(9).

Các cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị của Đảng về vị trí, vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; trọng tâm là Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ngày 16-6-2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ngày 17-11-2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới…

Trên cơ sở đó, các cơ quan, ban ngành các địa phương đẩy mạnh thông tin tuyên truyền đến người dân quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nướcvề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức, hành động; thay đổi tư duy, nếp sống, thói quen của người dân về sản xuất nông nghiệp, nông thôn truyền thống sang làm kinh tế nông nghiệp, gắn sản xuất với thị trường, gắn với nhu cầu của thị trường.

Cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, chính sách vào từng lĩnh vực, hoạt động, khơi dậy tính sáng tạo của người dân trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tích cực hưởng ứng tham gia vào các chương trình, cuộc vận động xây dựng nông thôn mới.

Nghị quyết số 19-NQ/TW chỉ rõ: Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, góp phần nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ, học vấn cho nông dân và cư dân nông thôn để đổi mới, sáng tạo, ứng dụng khoa học – công nghệ trong sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ nông sản, làm giàu từ nông nghiệp, nông thôn.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện, bổ sung cơ chế, chính sách hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao khoa học – công nghệ nhằm nâng cao năng suất và chất lượng hàng nông sản

Nghị quyết số 19-NQ/TW nhấn mạnh: Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Cáccơ quan, đơn vị, địa phương căn cứ vào đặc điểm tình hình, điều kiện mỗi khu vực, địa bàn, xác định phương án phát triển phù hợp, hiệu quả. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân vay vốn, đầu tư mua sắm trang thiết bị kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp. Các cơ quan, ban ngành có liên quan phải thường xuyên đồng hành cùng người dân trong quá trình sản xuất, kinh doanh, đặc biệt trong khâu tiêu thụ sản phẩm ra thị trường; gắn kết chặt chẽ giữa nhà nông – nhà doanh nghiệp – nhà khoa học, ổn định, bền vững ở tất cả các khâu sản xuất, kinh doanh và chế biến các sản phẩm nông nghiệp. Phân công, giao nhiệm vụ cho bộ phận, lực lượng chuyên trách theo dõi, giúp đỡ người nông dân kinh doanh, sản xuất hàng nông sản xuất khẩu ra thị trường thế giới. Ứng dụng công nghệ cao vào từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể, thực hiện chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp.

Thực tế những năm qua, hàng nông sản của nông dân được mùa nhưng lại khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, vì vậy, trong quá trình thu hoạch sản phẩm rất cần sự vào cuộc của cơ quan, ban, ngành có liên quan, nhất là sở nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh trong liên doanh, liên kết với doanh nghiệp, với thị trường thế giới, bảo đảm sự lưu thông sản phẩm hàng hóa của người nông dân được thuận lợi.

Cùng với đó, cán bộ phòng nông nghiệp ở các huyện tăng cường hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đỡ người dân về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy hải sản, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm làm ra, tạo sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Phối hợp chặt chẽ với người dân làm kinh tế trang trại, phát triển những mô hình sản xuất, kinh doanh, khảo sát, đánh giá thị trường, xây dựng phương án giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề phát sinh. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về mặt thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp, tuyệt đối không gây khó khăn, cản trở người dân và doanh nghiệp. Doanh nghiệp và người dân phát huy đạo đức kinh doanh theo đúng quy định pháp luật, không ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân ở nông thôn.

Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn gắn với phát triển đô thị hóa

Nghị quyết số 19-NQ/TW nhấn mạnh: Xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện, bền vững gắn với đô thị hóa, bảo đảm thực chất, đi vào chiều sâu, hiệu quả, vì lợi ích của người dân. Theo đó, cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu theo hướng xây dựng nông thôn kiểu mẫu, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội gắn với khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống, giải quyết việc làm cho lao động, nhất là thanh niên ngay tại địa phương.

Từng bước nâng cao trình độ tay nghề kỹ thuật của lao động nông thôn trong sản xuất những mặt hàng thủ công, đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của thị trường hiện nay.

Gắn phát triển kinh tế – xã hội nông thôn với bảo vệ môi trường sinh thái, các khu du lịch, nghỉ dưỡng thu hút khách tham quan. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng văn minh, hiện đại, bảo đảm an toàn, thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn luôn bảo đảm sinh kế của người nông dân, giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân.

Đẩy mạnh liên doanh, liên kết giữa các vùng nông thôn về các lĩnh vực, hoạt động sản xuất, kinh doanh để tăng cường sự tin cậy, hiểu biết nhau, hỗ trợ, giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới, khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của các tầng lớp nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là một nước nông nghiệp…, muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy nông nghiệp làm gốc. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của công nghiệp làm ra”(10). Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng ta nhấn mạnh: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là ba thành tố có quan hệ mật thiết, gắn bó, không thể tách rời; có vai trò, vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở, lực lượng to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế”(11).

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là bước đi quan trọng, đúng đắn, phù hợp với tình hình hiện nay để từng bước hiện thực hóamục tiêu, nhiệm vụ đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta đạt được cả “ba cao” về năng suất, chất lượng, giá trị theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về đẩy mạnh phát triển nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại.

_________________

Ngày nhận: 02-02-2023; Ngày bình duyệt: 8-02-2023; Ngày duyệt đăng: 10-02-2023.

 

(1), (6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II,Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.107, 61- 62.

(2), (7), (11) Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16-6-2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

(3) C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.22, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.715.

(4) V.I. Lênin: Toàn tập, t.43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.263.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.246.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.124.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Sđd, tr.283.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Sđd, tr.635. 

TS BÙI XUÂN DŨNG

Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

The post Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII của Đảng appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Đề-2 – Lecture notes 1 – Câu 2: Trách nhiệm của sinh viên để thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Studocu https://evbn.org/de2-lecture-notes-1-cau-2-trach-nhiem-cua-sinh-vien-de-thuc-hien-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-studocu-1680773516/ Thu, 06 Apr 2023 09:31:57 +0000 https://evbn.org/de2-lecture-notes-1-cau-2-trach-nhiem-cua-sinh-vien-de-thuc-hien-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-studocu-1680773516/ DANH MỤC Câu 2: T rách nhiệm của sinh viên để thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở V iệt Nam trong bối...

The post Đề-2 – Lecture notes 1 – Câu 2: Trách nhiệm của sinh viên để thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Studocu appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

DANH MỤC

Câu 2: T

rách nhiệm của sinh viên để

thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở

V

iệt Nam trong

bối cảnh cách mạng Công nghiệp 4.

0

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………….

….

2

NỘI DUNG……………………………………………………………………………

.

3

I.

LÝ LUẬN CHUNG

VỀ CÔNG NGHIỆP

HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA……..

3

1.

Quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa……………………………………..

3

2.

Nội dung của quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước………..

.

6

3.

Một số thành tựu và hạn chế của quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước

ta

………………………………………………………………………………………………………….

….

.

7

3.1. T

hành tựu…………………………………………………………………………………………………

.7

3.2. Hạn chế…………………………………………………………………………………………….

8

4.

Biện pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa………………………………….

.

9

II. LIÊN HỆ

VỚI SINH VIÊN………………………………………………………..

….

10

1.

Sinh viên không thể đứng ngoài cuộc……………………………………………

.

10

2.

Sinh viên cần phải làm gì để đẩy mạng Công nghiệp hóa trong thời buổi phát

triển của công nghệ số 4.0………………………………………………………………..

….

.

12

KẾT L

UẬN………………………………………………………………………………

..

14

TÀI LIỆU

THAM KHẢO………………………………..

….

..

15

The post Đề-2 – Lecture notes 1 – Câu 2: Trách nhiệm của sinh viên để thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Studocu appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 https://evbn.org/tiep-tuc-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-den-nam-2030-tam-nhin-den-nam-2045-1680773487/ Thu, 06 Apr 2023 09:31:29 +0000 https://evbn.org/tiep-tuc-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-den-nam-2030-tam-nhin-den-nam-2045-1680773487/ I- TÌNH HÌNH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương xuyên suốt và nhất quán của Ðảng, Nhà nước ta trong quá trình...

The post Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

I- TÌNH HÌNH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương xuyên suốt và nhất quán của Ðảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau hơn 35 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm (2011-2020), công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đạt bình quân 6,17%/năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỷ trọng đóng góp vào GDP của công nghiệp và dịch vụ đạt 72,7% vào năm 2020, đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Công nghiệp được cơ cấu lại theo hướng giảm tỷ trọng ngành khai khoáng, tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; đã hình thành được một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh và vị trí vững chắc trên thị trường quốc tế. Ngành nông nghiệp tăng trưởng ổn định và bền vững, từng bước được cơ cấu lại theo hướng hiện đại. Ðóng góp của ngành dịch vụ vào tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng; đã hình thành được một số ngành dịch vụ có hàm lượng khoa học, công nghệ cao. Phát triển văn hóa, xã hội, con người được quan tâm; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện.

Tuy nhiên, mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 không hoàn thành; tăng trưởng kinh tế không đạt mục tiêu chiến lược đề ra, tốc độ có xu hướng giảm dần theo chu kỳ 10 năm; có nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Nội lực của nền kinh tế còn yếu, năng suất lao động thấp, chậm được cải thiện; năng lực độc lập, tự chủ thấp, phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; khu vực kinh tế tư nhân trong nước chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa; doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế; đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể còn nhiều khó khăn. Công nghiệp phát triển thiếu bền vững, giá trị gia tăng thấp, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp thông minh phát triển chậm. Các ngành dịch vụ quan trọng chiếm tỷ trọng nhỏ, liên kết với các ngành sản xuất yếu. Ðô thị hóa chưa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển văn hóa, xã hội, con người, môi trường còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại chủ yếu là do: Nhận thức, lý luận, mô hình, mục tiêu, tiêu chí về công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn nhiều nội dung chưa rõ, chưa sát thực tiễn, còn chủ quan, duy ý chí; chưa có nghị quyết chuyên đề của Ðảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chưa xác định rõ trọng tâm ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn. Việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực còn nhiều hạn chế, chưa hiệu quả; nguồn lực của Nhà nước bố trí cho phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo còn thấp, phân bổ, sử dụng chưa hiệu quả; thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo. Thể chế, cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; hệ thống các tiêu chuẩn, định mức còn lạc hậu, không khuyến khích, thúc đẩy phát triển và ứng dụng khoa học-công nghệ. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục; năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Ðảng còn hạn chế. Chưa quan tâm kiểm tra, giám sát trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, địa phương và người đứng đầu trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ảnh 1

II- QUAN ÐIỂM CHỈ ÐẠO, MỤC TIÊU VÀ TẦM NHÌN

1. Quan điểm chỉ đạo

– Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội, dựa chủ yếu vào sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ trên nền tảng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo; là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Ðẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động.

– Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải khai thác và phát huy tốt nhất mọi tiềm năng, lợi thế của đất nước, của từng vùng và địa phương; lợi thế của nền kinh tế đi sau và đang trong thời kỳ dân số vàng; kết hợp đồng bộ, hiệu quả giữa phát triển tuần tự với đi tắt đón đầu; chuyển dịch nhanh từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam, tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, chú trọng đẩy mạnh dịch vụ hóa các ngành công nghiệp. Coi phát triển công nghiệp chế tạo, chế biến là then chốt; chuyển đổi số là phương thức mới có tính đột phá để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu.

– Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần có lộ trình và bước đi cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên nguồn lực, có các cơ chế, chính sách đột phá, phù hợp để phát triển các cực tăng trưởng, các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp hỗ trợ, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; tăng cường liên kết ngành và liên kết vùng; xác định nguồn lực trong nước là cơ bản, chiến lược, lâu dài và quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng, đột phá; doanh nghiệp trong nước (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân) là động lực chính, chủ đạo; doanh nghiệp FDI có vai trò quan trọng, đột phá.

– Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả; khơi dậy khát vọng phát triển, tinh thần khởi nghiệp quốc gia, đổi mới sáng tạo; phát huy giá trị tinh hoa văn hóa dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam và truyền thống của giai cấp công nhân, vai trò xung kích, đi đầu của đội ngũ trí thức và doanh nhân Việt Nam.

2. Mục tiêu tổng quát đến năm 2030: Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của Nhân dân được nâng cao. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn. Nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững theo hướng sinh thái, ứng dụng mạnh mẽ khoa học-công nghệ tiên tiến. Các ngành dịch vụ được cơ cấu lại đồng bộ, hiệu quả trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số với chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh được nâng cao, hình thành được nhiều ngành dịch vụ mới, có giá trị gia tăng cao.

3. Một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030

– Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD; GNI bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt trên 7.000 USD. Ðóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới.

– Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%; tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 80%; đạt khoảng 260 sinh viên trên một vạn dân.

– Thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN về năng lực cạnh tranh công nghiệp; tỷ trọng công nghiệp đạt trên 40% GDP; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 30% GDP; tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%; giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo, chế biến bình quân đầu người đạt trên 2.000 USD. Tỷ trọng của khu vực dịch vụ đạt trên 50% GDP, trong đó du lịch đạt 14 – 15% GDP.

– Hình thành được một số tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp trong nước có quy mô lớn, đa quốc gia, có năng lực cạnh tranh quốc tế trong các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn; xây dựng và phát triển được một số cụm liên kết ngành công nghiệp trong nước có quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế; làm chủ một số chuỗi giá trị công nghiệp, nông nghiệp.

– Xây dựng được ngành công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.

– Tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Hoàn thành xây dựng chính phủ số, thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử kinh tế số.

– Tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50%. Phấn đấu đạt được các chỉ tiêu về sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất, nước, khoáng sản), tái sử dụng, tái chế chất thải tương đương với các nước dẫn đầu ASEAN; chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) đạt trên 55. Chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.

4. Tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á.

Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ảnh 2

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Ðổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

– Xác định nội dung cốt lõi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2021-2030 là thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế; thực hiện chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả, bền vững; nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ và thị trường, bảo vệ và phát huy tốt thị trường trong nước; chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp sang các ngành có tính nền tảng, ưu tiên, mũi nhọn, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao; chuyển đổi các ngành công nghiệp thâm dụng tài nguyên, năng lượng sang các ngành công nghiệp xanh, công nghiệp phát thải các-bon thấp; cơ cấu lại các ngành nông nghiệp và dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số, phát triển các loại dịch vụ mới có tính liên ngành và giá trị gia tăng cao, đẩy nhanh dịch vụ hóa các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Giai đoạn 2031-2045, tập trung nâng cao chất lượng công nghiệp hóa và đẩy mạnh hiện đại hóa toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống xã hội.

– Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, doanh nghiệp và người dân; cụ thể hóa các quan điểm, gắn kết các mục tiêu, nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với xây dựng và thực hiện luật pháp, chính sách, hệ thống quy hoạch quốc gia và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan. Thực hiện phân công, phân cấp triệt để trong quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; bảo đảm nguyên tắc một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính. Nâng cao năng lực dự báo; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên phạm vi cả nước, từng vùng và địa phương; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, gắn trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện.

2. Xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

– Ðẩy nhanh thể chế hóa các nghị quyết, kết luận của Ðảng có liên quan đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ưu tiên xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành về phát triển công nghiệp quốc gia và các lĩnh vực công nghiệp đặc thù như công nghiệp công nghệ số, công nghiệp quốc phòng, an ninh, năng lượng…; tạo lập khung pháp luật cho phát triển sản xuất thông minh, mô hình nhà máy thông minh, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất thông minh; đẩy nhanh hoàn thiện các tiêu chuẩn, định mức kinh tế-kỹ thuật của các ngành, lĩnh vực sát với thực tiễn, tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Xây dựng lộ trình, hoàn thiện các cơ chế, chính sách cho thực hiện chuyển đổi năng lượng xanh, bền vững, phù hợp với xu thế của thế giới, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

– Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho phát triển khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo phù hợp với thực tế Việt Nam và thông lệ quốc tế. Có chính sách ưu đãi phù hợp về thuế, tài chính, tín dụng, đất đai… cho nghiên cứu khoa học-công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và triển khai; tạo thuận lợi cho trích lập và sử dụng hiệu quả quỹ đầu tư cho khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Ban hành cơ chế, chính sách về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn thông qua tăng cường chính sách đặt hàng đào tạo và thực hiện hỗ trợ tài chính của Nhà nước đối với cơ sở đào tạo và người học. Rà soát, hoàn thiện chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo hướng không ưu đãi theo diện rộng, dàn trải đến các phân ngành công nghiệp, tập trung vào các lĩnh vực được xác định theo tiêu chí phù hợp cho từng giai đoạn; bổ sung các chính sách khuyến khích phát triển vùng nguyên liệu, công nghệ, vốn đầu tư, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp… Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung khắc phục chồng chéo, bất cập không phù hợp trong chính sách ưu đãi thuế theo ngành, lĩnh vực đầu tư và theo địa bàn; có các chính sách thuế nhằm khuyến khích phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo phù hợp với mục tiêu thúc đẩy phát triển và ứng dụng công nghệ mới, các công nghệ ưu tiên phát triển, xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo.

– Xây dựng khung pháp luật cho phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số; ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, các chính sách thí điểm, đặc thù cho các hoạt động phát triển, thử nghiệm và áp dụng các sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ số và nền tảng số; tăng cường chính sách đặt hàng, giao nhiệm vụ sản xuất, chính sách mua sắm công theo hướng ưu tiên sử dụng hàng hóa trong nước, nâng cao giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa. Thể chế hóa các cơ chế, chính sách đặc thù cho phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng lưỡng dụng, hiện đại.

– Tiếp tục đổi mới chính sách đất đai, tín dụng, tài chính, khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn để thúc đẩy và hỗ trợ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

– Rà soát, hoàn thiện luật chuyên ngành về du lịch, thương mại, đường sắt, bưu chính, công nghệ thông tin, viễn thông và các luật có liên quan; tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, đẩy mạnh xã hội hóa để cơ cấu lại các ngành dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, nhất là trong các lĩnh vực thương mại điện tử, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục, logistics, du lịch, các dịch vụ mới của nền kinh tế số… Có chiến lược, cơ chế, chính sách mới vượt trội, cạnh tranh quốc tế cao để thúc đẩy hình thành một số trung tâm du lịch, trung tâm logistics, trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ khu vực và quốc tế tại một số đô thị.

– Hoàn thiện cơ chế, chính sách, thí điểm thực hiện các cơ chế phù hợp để tạo đột phá cho phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là đường bộ, đường sắt. Rà soát, sửa đổi pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định liên quan theo hướng tăng cường phân cấp huy động, sử dụng nguồn lực đầu tư ở Trung ương và địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương cùng đầu tư ngân sách vào các hạ tầng dùng chung, hạ tầng liên kết vùng. Nghiên cứu hình thành quỹ phát triển hạ tầng. Ban hành cơ chế, chính sách phù hợp về đền bù, hỗ trợ tái định cư, thu hồi đất phục vụ cho các dự án kết cấu hạ tầng quan trọng cấp quốc gia, cấp vùng. Ðổi mới mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung. Xây dựng khung tiêu chí và hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển các khu công nghiệp sinh thái, thông minh, khu đô thị công nghiệp-thương mại-dịch vụ.

– Hoàn thiện các tiêu chí về đầu tư để lựa chọn, ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với chiến lược, quy hoạch, định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực, địa bàn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội, cạnh tranh quốc tế tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi thu hút các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, dự án công nghệ cao, thu hút FDI từ các đối tác thuộc các nước phát triển. Hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp, thoái vốn đầu tư tại nước ngoài, mua bán, chuyển giao công nghệ. Hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tiêu chí giám sát, đánh giá, xếp loại doanh nghiệp nhà nước và người quản lý theo mục tiêu và hiệu quả tổng thể.

3. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường; nâng cao năng lực ngành xây dựng

– Ðẩy nhanh thực hiện các chủ trương của Ðảng về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia. Tiếp tục cơ cấu lại ngành công nghiệp; thực hiện điều chỉnh phân bố không gian phát triển công nghiệp của vùng, địa phương theo hướng gắn với các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế trọng điểm, phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, lợi thế của từng vùng, bảo đảm tính chuyên môn hóa cao, tăng cường tính liên kết nội vùng và liên vùng; hình thành các vùng công nghiệp, vành đai công nghiệp, cụm liên kết ngành công nghiệp, khu công nghiệp, trọng tâm là hình thành các cụm liên kết ngành công nghiệp; xây dựng và triển khai có hiệu quả quy hoạch vùng nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là đối với các ngành dệt may, da giày, chế biến nông sản, thực phẩm.

– Xây dựng và triển khai chương trình quốc gia về nâng cao năng lực độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của nền sản xuất Việt Nam đến năm 2045 (Make in Vietnam 2045) theo hướng chú trọng nâng cao tự chủ về nguyên liệu, công nghệ, sản xuất và thị trường, tăng cường năng lực sáng tạo và thiết kế, phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều công nghệ, có giá trị gia tăng cao và các ngành công nghiệp phát thải các-bon thấp; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới, hấp thụ và làm chủ công nghệ, nhất là công nghệ lõi, công nghệ nguồn. Ưu tiên nguồn lực và có cơ chế, chính sách khuyến khích đủ mạnh để phát triển những lĩnh vực ưu tiên của các ngành công nghiệp nền tảng: Luyện kim (ưu tiên phát triển thép hợp kim, thép đặc chủng phục vụ công nghiệp chế tạo máy thế hệ mới, nhất là cho quốc phòng, an ninh); cơ khí chế tạo (ưu tiên phát triển cơ khí chế tạo cho sản xuất máy nông nghiệp, ô-tô, tàu biển, thiết bị công trình, thiết bị năng lượng, thiết bị điện, thiết bị y tế); hóa chất (ưu tiên phát triển các loại hóa chất cơ bản, hóa dầu, hóa dược, phân bón); công nghiệp năng lượng (ưu tiên phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới); vật liệu (ưu tiên phát triển vật liệu mới); công nghệ số (ưu tiên phát triển trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, điện toán đám mây, internet kết nối vạn vật, thiết bị điện tử-viễn thông, thiết kế và sản xuất chíp bán dẫn).

– Chú trọng phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn: Công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô-tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa; công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp; công nghiệp sinh học (tập trung vào gen, dược phẩm và các chế phẩm sinh học); công nghiệp dệt may, da giày ở các khâu tạo giá trị gia tăng cao dựa trên quy trình sản xuất thông minh, tự động hóa; công nghiệp văn hóa… Khuyến khích các tập đoàn, doanh nghiệp trong nước liên kết, liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài sản xuất thiết bị năng lượng sạch, tái tạo, hệ thống pin lưu trữ, công nghệ và sản phẩm tiết kiệm năng lượng, đào tạo, chuyển giao công nghệ.

– Phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng lưỡng dụng, hiện đại, tự lực, tự cường, liên kết chặt chẽ với công nghiệp dân sinh, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Tăng cường liên kết, chuyển giao, chuyển đổi công nghệ giữa công nghiệp dân sinh và công nghiệp quốc phòng, hình thành một số nền tảng đổi mới sáng tạo dùng chung. Tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết, đầu tư nguồn lực hỗ trợ các cơ sở dân sinh phục vụ công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh. Cơ cấu lại các cơ sở công nghiệp quốc phòng, hình thành các cơ sở công nghiệp an ninh bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, hiện đại theo hướng lưỡng dụng, hiện đại.

– Xây dựng và triển khai chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2030, chú trọng đáp ứng các quy tắc về nguồn gốc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do, tập trung vào các lĩnh vực: Ðiện tử thông minh, ô-tô, dệt may-da giày, cơ khí và tự động hóa, nông nghiệp và công nghệ sinh học, công nghệ cao; có cơ chế khuyến khích và thúc đẩy các doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ; quy hoạch và có cơ chế, chính sách đột phá, khuyến khích phát triển các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ tập trung. Hình thành hệ thống khu công nghiệp hiện đại quy mô lớn theo hướng sinh thái đi đôi với phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, tạo điều kiện cho phát triển công nghiệp tại khu vực nông thôn, miền núi. Tiếp tục nghiên cứu và triển khai thí điểm các mô hình khu kinh tế đặc thù, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, các mô hình kinh tế mới tại một số địa phương có tiềm năng và đáp ứng các điều kiện, tiêu chí.

– Có chiến lược và chính sách nâng cao năng lực ngành xây dựng. Khuyến khích phát triển một số tập đoàn xây dựng quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh quốc tế. Phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thành ngành kinh tế mạnh, đạt trình độ tiên tiến, hiện đại, đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước; hạn chế, tiến tới dừng các hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng sử dụng không hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, ưu tiên phát triển vật liệu xanh, vật liệu mới thân thiện với môi trường.

4. Ðẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; tiếp tục cơ cấu lại ngành dịch vụ dựa trên nền tảng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo

– Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, hạ tầng kết nối nông thôn với đô thị, nhất là hạ tầng thủy lợi, giao thông vận tải, hạ tầng thương mại, kho bãi, bảo quản, chế biến nông sản; đẩy nhanh xây dựng hạ tầng số và dữ liệu số nông nghiệp, nông thôn; nâng cấp, hiện đại hóa và phát triển sàn giao dịch cho các nông sản chủ lực, xây dựng các trung tâm hậu cần biên mậu. Hình thành các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh nông nghiệp tại một số vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. Khuyến khích phát triển công nghiệp cơ khí, hóa chất và công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy sản. Tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thúc đẩy cơ giới hóa đồng bộ, hiện đại hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, phát triển các cụm liên kết sản xuất-chế biến-tiêu thụ nông sản. Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả nông nghiệp, nông thôn; ưu tiên bố trí nguồn lực và có cơ chế, chính sách đặc thù để xã hội hóa, thực hiện có hiệu quả chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới, hướng tới nông thôn mới thông minh giai đoạn 2021-2025.

– Thúc đẩy dịch vụ hóa các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; tiếp tục cơ cấu lại các ngành dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số, phát triển dịch vụ công nghệ cao, các loại dịch vụ mới của nền kinh tế số. Tập trung phát triển mạnh một số ngành dịch vụ có lợi thế và có hàm lượng tri thức, công nghệ cao như: Du lịch, thương mại, viễn thông, công nghệ thông tin, logistics, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tư vấn pháp lý… Xây dựng hệ sinh thái đồng bộ, hiện đại hóa và mở rộng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, y tế và chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa, thể thao, dịch vụ thương mại… Hình thành một số trung tâm dịch vụ du lịch, y tế, giáo dục, tài chính, logistics tầm cỡ khu vực và quốc tế. Ðẩy nhanh tiến trình xây dựng và có cơ chế vượt trội để phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị có tiềm năng trở thành các trung tâm tài chính quốc tế.

Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ảnh 3

5. Phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

– Ðẩy nhanh thể chế hóa và cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Ðảng về phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo. Ưu tiên đầu tư cho khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo đi trước một bước; có lộ trình tăng tỷ lệ chi từ ngân sách nhà nước tính trên GDP cho nghiên cứu và phát triển, phấn đấu đến năm 2030 đạt tỷ lệ thuộc nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN, tiệm cận tỷ lệ bình quân chung của các nước thuộc khối OECD.

– Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ gắn với các chuỗi giá trị nội địa, khu vực và toàn cầu các cụm liên kết ngành với vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp lớn, tập trung vào các ngành có giá trị xuất khẩu và doanh thu lớn như dệt may, da giày, điện tử, thiết bị, máy móc, chế biến gỗ, chế biến nông sản, khai thác khoáng sản, dược phẩm… Phát triển hệ thống trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, các trung tâm đổi mới sáng tạo ngành, vùng, các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo nhằm phát triển, tích hợp hình thành các cụm liên kết đổi mới sáng tạo với các khu công nghệ cao, khu dân cư, trung tâm tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm, trường đại học, viện nghiên cứu. Triển khai mạnh mẽ các vườn ươm công nghệ, nền tảng đổi mới sáng tạo mở, mạng lưới đổi mới sáng tạo mở. Khuyến khích doanh nghiệp thành lập các trung tâm nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo.

– Thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách mới, đặc thù về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại một số địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp được giao nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ lõi, công nghệ nguồn. Rà soát, cơ cấu lại các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo hướng ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, nông nghiệp công nghệ cao, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Rà soát, nâng cấp và đổi mới cơ chế vận hành hệ thống các phòng thí nghiệm do Nhà nước đầu tư. Ðẩy mạnh nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh như toán học, vật lý, hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất và khoa học biển… làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nguồn.

– Rà soát, hoàn thiện các chiến lược về giáo dục, đào tạo, phát triển nhân lực quốc gia phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thuộc lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Triển khai các hoạt động đào tạo kiến thức, kỹ năng về khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các trường phổ thông. Hình thành các chương trình cấp quốc gia và cấp địa phương, ngành, lĩnh vực về đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, lao động có kỹ năng, chuyên môn cao. Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo chuyên gia, nhân lực chất lượng cao, lao động kỹ thuật trong các lĩnh vực công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn. Quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ lao động nông thôn; tăng số lượng lao động kỹ thuật có tay nghề; phát triển nhân lực nghiên cứu, chuyên gia trong nông nghiệp. Khuyến khích phát triển các nền tảng dạy và học trực tuyến mở, các mô hình đại học mới thích ứng với quá trình chuyển đổi số.

6. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hóa nhanh và bền vững, gắn kết chặt chẽ và tạo động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

– Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia và vùng về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu, năng lượng, hạ tầng số, các công trình hạ tầng xã hội về y tế, giáo dục của vùng. Phát triển hệ thống đường bộ cao tốc đạt mục tiêu 5.000km vào năm 2030. Quan tâm đúng mức và phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt có trọng tâm, trọng điểm; tập trung cải tạo, nâng cấp để tiếp tục khai thác có hiệu quả các tuyến đường sắt hiện có; nghiên cứu, sớm đầu tư xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố khác, một số tuyến đường sắt kết nối với các khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng hàng không, cảng biển. Ðẩy nhanh xây dựng danh mục các dự án kêu gọi đầu tư hạ tầng giao thông giai đoạn 2021-2030. Xây dựng đề án tổng thể thống nhất về cơ chế giao quản lý, khai thác các tài sản kết cấu hạ tầng giao thông hàng hải, hàng không, đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa theo hướng tăng cường xã hội hóa, tách biệt rõ vai trò quản lý nhà nước với vai trò quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông vận tải; nghiên cứu áp dụng thí điểm mô hình đầu tư công – quản trị tư, đầu tư tư – sử dụng công; đa dạng hóa nguồn lực, huy động tối đa nguồn lực từ quỹ đất trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

– Xây dựng và triển khai chiến lược phát triển hạ tầng thông tin, hạ tầng số, quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông cho giai đoạn tới theo định hướng hạ tầng số là thiết yếu, bảo đảm an toàn thông tin mạng là then chốt, ưu tiên đầu tư phát triển nhanh, đi trước một bước. Phát triển đồng bộ, hiện đại hạ tầng văn hóa, xã hội.

– Phát triển hệ thống đô thị bền vững theo hướng đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai và dịch bệnh, có tính kết nối theo mạng lưới cao và gắn kết chặt chẽ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoàn thiện mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành phát triển đô thị và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh. Khuyến khích phát triển mô hình khu công nghiệp-đô thị-dịch vụ, nhất là tại các đô thị, vùng đô thị có mật độ dân số cao. Tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh tiêu chí nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu tiệm cận với tiêu chí đô thị sinh thái.

7. Phát triển các thành phần kinh tế nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa

– Thực hiện đồng bộ, quyết liệt chủ trương của Ðảng về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, phát triển doanh nghiệp tư nhân, thu hút FDI. Xây dựng và triển khai định hướng phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt, trụ cột trong một số lĩnh vực quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa như năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo, tài chính-ngân hàng, nông nghiệp, viễn thông, kết cấu hạ tầng… Tăng cường cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cho một số tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong nước có quy mô lớn, có đủ năng lực thực hiện một số nhiệm vụ có tính chiến lược, dẫn dắt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chú trọng chính sách mua sắm công và các chính sách nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước của Việt Nam.

– Xây dựng tiêu chí để phân cấp, phân quyền thu hút FDI giữa Trung ương và địa phương; coi trọng chất lượng, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên các dự án đầu tư có công nghệ cao, bảo đảm tiêu chuẩn về môi trường, thu hút lao động có kỹ năng của các công ty đa quốc gia lớn gắn với yêu cầu phải chuyển giao tri thức, công nghệ và quản trị; nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.

– Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể, nòng cốt là các hợp tác xã; ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế tập thể gắn với phát triển nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

8. Ðổi mới chính sách tài chính, tín dụng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhanh, bền vững

– Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính theo nguyên tắc thị trường; tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực; thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân; ưu tiên nguồn lực tài chính nhà nước đầu tư cho phát triển hạ tầng liên kết vùng, hạ tầng năng lượng, chuyển đổi số, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nâng cao hiệu quả đầu tư công; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong giải ngân vốn đầu tư công, gắn trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các ngành, các cấp liên quan trong sử dụng nguồn vốn đầu tư công. Ðẩy nhanh cơ cấu lại thị trường tài chính, tiền tệ đáp ứng yêu cầu huy động và sử dụng vốn có hiệu quả; phát triển thị trường chứng khoán bền vững, trở thành kênh huy động quan trọng vốn trung và dài hạn cho thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

– Hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp về đầu tư, tài chính, ngân sách đối với một số địa phương; rà soát, xác định tỷ lệ nguồn thu giữ lại hợp lý đối với các đô thị đặc biệt và các đô thị lớn để bảo đảm phát huy vai trò của các cực tăng trưởng kinh tế trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sử dụng hiệu quả chính sách đặt hàng sản xuất và chính sách mua sắm công để thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ và sản xuất. Ðổi mới chính sách ưu đãi về thuế phù hợp với thông lệ quốc tế, hướng tới trọng tâm ưu tiên thúc đẩy phát triển hệ sinh thái và chuỗi giá trị sản xuất, dịch vụ hiện đại. Thực hiện đồng bộ cơ chế, chính sách để hướng tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; thực hiện các chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng đủ mạnh để thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; phát triển mạnh tài chính xanh, tín dụng xanh.

9. Quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả đi đôi với bảo vệ và phát triển thị trường trong nước

– Khai thác và sử dụng tài nguyên hiệu quả; có lộ trình phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển của đất nước trên cơ sở đánh giá tổng thể về lợi ích và chi phí của nền kinh tế; sớm xây dựng cơ chế phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính và thị trường tín chỉ các-bon. Xây dựng cơ chế ưu tiên để phát triển mạnh công nghiệp tái chế và công nghiệp tái tạo. Quản lý chặt chẽ và toàn diện việc sử dụng quặng và chất thải chứa kim loại màu, nguyên tố đất hiếm. Có chiến lược phát triển khai thác, chế biến quặng đất hiếm và một số loại khoáng sản có giá trị cao có lợi thế cạnh tranh. Phát triển công nghiệp sử dụng triệt để chất thải rắn, chất thải công nghiệp, tái chế chất thải xây dựng.

– Phát triển mạnh ngành công nghiệp môi trường. Mở rộng phạm vi, tăng tỷ trọng mua sắm chính phủ đối với sản phẩm thân thiện môi trường. Khuyến khích phát triển dịch vụ cải tạo, phục hồi môi trường, hệ sinh thái tự nhiên. Thực hiện chứng thực, công nhận dán nhãn sinh thái, hiệu quả năng lượng đối với sản phẩm trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải và hàng tiêu dùng, chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng. Có lộ trình phù hợp để giảm tối đa, tiến tới không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần. Thí điểm, nhân rộng và phát triển các mô hình sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tái sử dụng, tái chế chất thải phù hợp với từng ngành, vùng, miền. Nghiên cứu, thử nghiệm áp dụng hệ thống hạch toán vốn tự nhiên trong nền kinh tế theo thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Triển khai mạnh mẽ, đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước; tận dụng, khai thác hiệu quả mạng lưới các đối tác chiến lược, toàn diện để xây dựng và triển khai các chiến lược, chương trình, kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghiên cứu, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược trong một số ngành, lĩnh vực công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, phát triển xanh, bền vững. Chủ động xây dựng và hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế và yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

10. Phát huy giá trị văn hóa, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; đội ngũ trí thức và doanh nhân xung kích, đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo đảm tốt an sinh xã hội

– Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Hình thành môi trường văn hóa số. Phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả các ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa gắn với phát triển du lịch. Có cơ chế, chính sách sớm khắc phục khoảng cách chênh lệch về hạ tầng văn hóa giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; chênh lệch về mức thụ hưởng văn hóa giữa các giai tầng, các nhóm xã hội, các cộng đồng dân cư.

– Tập trung ưu tiên đầu tư thích đáng, tạo điều kiện thuận lợi phát triển mạnh mẽ giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong tình hình mới. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Ưu tiên quỹ đất, vốn và có các chính sách ưu đãi, tạo thuận lợi cho triển khai xây dựng đến năm 2030 được ít nhất 1 triệu nhà ở xã hội cho công nhân và người có thu nhập thấp; bảo đảm đáp ứng đồng bộ hạ tầng xã hội thiết yếu về giao thông, y tế, giáo dục, văn hóa của các khu nhà ở, tạo chỗ ở ổn định, nâng cao đời sống để công nhân an tâm lao động sản xuất. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Ðẩy mạnh trí thức hóa công nhân thông qua đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số cho công nhân.

– Ðổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và phát huy vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ trí thức và doanh nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong tình hình mới. Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển đội ngũ trí thức, Chiến lược phát triển đội ngũ doanh nhân đến năm 2030, chương trình quốc gia về đào tạo doanh nhân, xây dựng văn hóa kinh doanh Việt Nam tiên tiến, giàu bản sắc và hội nhập quốc tế.

– Xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến, hiện đại, hướng tới bao phủ toàn dân, nhất là về chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế; quan tâm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Tiếp tục cải cách mạnh mẽ hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng-thưởng, chia sẻ bền vững. Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản; khuyến khích và có chính sách ưu đãi phát triển đa dạng các mô hình sản xuất và dịch vụ có sự tham gia của các hộ nghèo, cận nghèo; hỗ trợ phát triển các mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với người nghèo, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết; lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, kịp thời, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức hành động của cả hệ thống chính trị về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh và điều kiện mới.

2. Các tỉnh ủy, thành ủy; các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương tổ chức nghiên cứu, quán triệt và xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết phù hợp với tình hình của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; định kỳ kiểm tra, đánh giá việc thực hiện.

3. Ðảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung thể chế hóa nội dung Nghị quyết; ưu tiên bố trí nguồn lực cho thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn phục vụ phát triển nhanh, bền vững; tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện Nghị quyết. Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật; xây dựng Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các quy hoạch, chiến lược liên quan; cụ thể hóa hệ tiêu chí đánh giá kết quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và tổ chức triển khai các chương trình, kế hoạch, đề án thực hiện Nghị quyết đồng bộ, hiệu quả.

4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền, vận động và giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

5. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương tổ chức hướng dẫn việc nghiên cứu, học tập và quán triệt tuyên truyền sâu rộng về nội dung Nghị quyết và kết quả thực hiện.

6. Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

The post Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước từ năm 1960 – Có thể nói rằng, đường lối công nghiệp hóa (CNH) – Studocu https://evbn.org/cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-tu-nam-1960-co-the-noi-rang-duong-loi-cong-nghiep-hoa-cnh-studocu-1680773479/ Thu, 06 Apr 2023 09:31:20 +0000 https://evbn.org/cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-tu-nam-1960-co-the-noi-rang-duong-loi-cong-nghiep-hoa-cnh-studocu-1680773479/ I) Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước từ năm 1960 – 2020. Có thể nói rằng, đường lối công nghiệp hóa (CNH) đất...

The post Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước từ năm 1960 – Có thể nói rằng, đường lối công nghiệp hóa (CNH) – Studocu appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

I)

Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước từ năm 1960 – 2020.

Có thể nói

rằng, đường lối

công nghiệp hóa

(CNH) đất nước đã

được hình thành

từ

Đại

hội

III

của

Đảng

(tháng

9/1960),

đ

ến

trước

khi

thực

hiện

đường

lối

đổi

mới,

chủ

trương

của

Đảng

ta

vẫn

“ưu

tiê

n

phát

triển

công

nghiệp

nặng

một

cách

hợp

trên

sở

phát

triển

nông

nghiệp

công

nghiệp

nhẹ”

(Đại

hội

IV

,

tháng

12/1976).

Để

giải

quy

ết

những

nhu

cầu

cấp

bách

của

đất

nước

cũng

như

đời

sống

của

người

dân

đặt

ra,

Đại

hội

VI

của

Đảng

(tháng

12/1986)

đã

hướng

trọng

tâm

vào

thực

hiện

mục

tiêu

3

chương

trình

kinh

tế

lớn,

bao

gồm

sả

n

xuất

lương

thực

thực

phẩm,

sản

xuất

hàng

tiêu

dùng

hàng

xuất

khẩu,

tiến

hành

CNH

theo

chế

kết

hợp

kế

ho

ạch

với

thị

trường.

Đến

Đại

hội

VII

của

Đảng

(tháng

6/1991), trước

sự

phát

triển mạnh

mẽ

của kh

oa học

công

nghệ, Đảng

ta

khẳng

định

yêu

cầu

của

tiến

trình

CNH

kết

hợp

chặt

chẽ

CNH

với

hiện

đại

hóa

(HĐH),

đồng

thời

xác

định

mục

tiê

u

“công

nghiệp

hóa

theo

hướng

hiện

đại

”.

Đến

Hội

nghị

T

rung

ương

7

khóa

VII

(năm

1994),

lần

đầu

tiên

Đảng

đưa

ra

khái

niệm

công

nghiệp

hóa,

hiện

đại

hóa

(CNH,

HĐH)

“quá

trình

chuyển

đổi

căn

bản, toàn

diện các

hoạt động

sản xuất, kinh

doanh, dịch

vụ và

quản lý

kinh tế, xã

hội,

từ sử

dụ

ng

lao động

thủ

công

chính

sang

sử

dụng

một

cách ph

ổ biế

n sức

lao

động

ng

với

công

nghệ,

phương

tiện

phương

pháp

tiên

tiến,

hiện

đại,

dựa

trên

sự

ph

át

triển

của

công

nghiệp

tiến

bộ

khoa

học

công

nghệ,

tạo

ra

năng

suất

lao

độ

ng

hội

cao”.

Nhận

thức

về

CNH,

HĐH

một

quá

trình

lâu

dài,

trong đ

ó có

những

giai

đoạn

với

những

mục

tiêu

ưu

tiên

khác n

hau, song

mục

tiêu

lâu

d

ài

được

Đảng

xác

định

đó

“cải

biến

nước

ta

thành

một

nước

công

nghiệp có

sở

vật chất

kỹ th

uật hiện

đại,

cơ cấu

kinh

tế hợp

lý,

quan

hệ

sản

xuất

tiến

b

ộ,

phù

hợp

với

trình

độ

phát

triển

của

sức

sả

n

xuất,

mức

sống

vật

chất

tinh

thần

cao,

quốc

phòng

an

ninh

vững

chắc,

dân

già

u,

nước

mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.

II)

Chủ

trương

c

ông

nghiệp

h

óa,

hiện

đại

hóa

của

Đảng

từ

năm

2012-

2020.

1.

Quan điểm

1.1

Phát

triển

ứng

dụng

khoa

học

công

nghệ

quốc

sách

ng

đầu,

một

trong

những

động

lực

quan

trọng

nhất

để

phát

triển

kinh

tế

hội

bảo

vệ

Tổ

quốc;

một

nội

dung

cần

được

ưu tiê

n tập

trung

đầu

trước

một

bước

trong

hoạt

động

của

các

ngành,

các

cấp.

Sự

lãnh

đạo

của

Đảng,

năng

lực

quản

của

Nhà

nước

tài

năng,

The post Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước từ năm 1960 – Có thể nói rằng, đường lối công nghiệp hóa (CNH) – Studocu appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới và những hạn chế của kinh tế kế hoạch hóa tập trung? https://evbn.org/cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-thoi-ky-doi-moi-va-nhung-han-che-cua-kinh-te-ke-hoach-hoa-tap-trung-1680773470/ Thu, 06 Apr 2023 09:31:12 +0000 https://evbn.org/cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-thoi-ky-doi-moi-va-nhung-han-che-cua-kinh-te-ke-hoach-hoa-tap-trung-1680773470/ Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hoá: Đại hội VI của Đảng phê phán sai lầm trong nhận thức và chủ trương...

The post Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới và những hạn chế của kinh tế kế hoạch hóa tập trung? appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hoá: Đại hội VI của Đảng phê phán sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hoá thời kỳ
1960 -1985. Sai lầm trong việc xác định mục tiêu, bước đi, nóng vội chủ quan muốn đẩy nhanh công nghiệp hóa khi chưa có điều kiện, chậm đổi mới…

 

1. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới

Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hoá: Đại hội VI của Đảng phê phán sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hoá thời kỳ 1960 -1985. Sai lầm trong việc xác định mục tiêu, bước đi, nóng vội chủ quan muốn đẩy nhanh công nghiệp hóa khi chưa có điều kiện, chậm đổi mới cơ chế quản lý. Trong bố trí cơ cấu kinh tế còn nhiều hạn chế (cơ cấu sản xuất và đầu tư, cơ cấu kinh tế còn thiên về công nghiệp nặng), đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp. Chưa thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết đại hội V chưa thực sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu.

Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hoá từ Đại hội VI đến Đại hội X. Đại Hội VI (12/1986) xác định nội dung chính của công nghiệp hóa là thực hiện thắng lợi 3 chương trình mục tiêu: lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Hội nghị TW 7 Khóa VII (1/1994) đã có những nhận thức mới, đặc biệt đã xác định khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đại Hội VIII (6/1996) nhận định đất nước đủ điều kiện để chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đưa ra sáu quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa: là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Đại hội IX (4/2001) và X (4/2006) bổ sung: Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước. Đây là yêu cầu cấp thiết.Tuy nhiên cần phải: phát triển kinh tế và công nghệ phải vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, phát huy những lợi thế của đất nước, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức…Hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phải phát triển nhanh và hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải đảm bảo xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tức là phải tiến hành công nghiệp hóa trong một nền kinh tế mở, hướng ngoại. Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, với nâng cao năng suất, chất lượng, sản phẩm nông nghiệp.

 

2. Mục tiêu, quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Đại hội X đề ra mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức: Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

Một là: Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá; công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức. Cần đi tắt đón đầu, tiến hành công nghiệp hóa rút ngắn thời gian nên phải kết hợp công nghiệp hóa với hiện đại hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức. Kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Hai là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo. Phương thức phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa được thực hiện chủ yếu bằng cơ chế thị trường. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường vừa khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực trong nền kinh tế mà còn sử dụng chúng có hiệu quả dể thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế vì thế công nghiệp hóa hiện đại hóa nước ta tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hoi kinh nghiệm quản lý tiên tiến.

Ba là: Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững  Để phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặc biệt phải chú ý đến giáo dục và đào tạo. Bốn là: Phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Muốn đẩy nhanh công nghiệp hóa,hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phải phát triển khoa học và công nghệ. Năm là: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học

 

3. Nội dung và định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức

Nội dung: Đại hội X của Đảng xác định: “ Chúng ta tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức. Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, kết hợp sử dụng nguôn vốn tri thức của con người Việt nam với vốn tri thức mới nhất của nhân loại. Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng. Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực, lãnh thổ. Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực nhất là các ngành, lĩnh vực có sức cạnh tranh cao.

Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Phát triển kinh tế vùng: có ý nghĩa quan trọng vì vậy chú trọng khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh của từng vùng, tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong cả nước. Phát triển kinh tế biển, phải xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng điểm, trọng tâm nhằm khai thác tối đa thế mạnh của quốc gia đồng thời bảo đảm an ninh, quốc phòng và hợp tác quốc tế. Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ, gắn liền với phát triển kinh tế tri thức. Bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên.

 

4. Hạn chế của kinh tế kế hoach hóa tập trung 

Thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm sự pt của tiến bộ KH-KT. Triệt tiêu động lực KT đối vs người lao động, ko kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sx kinh doanh. Làm đội ngũ cán bộ công chức của các cơ quan hành chính NN trở nên quan liêu, lộng quyền, hách dịch. Khi nền KT thế giới chuyển sang giai đoạn phạm tội theo chiều sâu dựa trên cơ sở ứng dụng các thành tựu KHCN hiện đại, cơ chế bao cấp càng bộc lộ rõ khiếm khuyết của nó, nền KT xã hội lâm vào khủng hoảng trì trệ.

 

5. Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối đối ngoại 

5.1 Hoàn cảnh lịch sử

Từ thập kỷ 80, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc. Cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động đến hầu hết các quốc gia, dân tộc. Các nước XHCN lâm vào khủng hoảng, đến đầu năm 1990 Liên Xô sụp đổ, trật tự thế giới thay đổi. Các nước đổi mới tư duy về sức mạnh. Xu thế chung của thế giới là hòa bình hợp tác và phát triển. Các nước đang phát triển rất cần mở rộng quan hệ đối ngoại để tranh thủ các nguồn lực phát triển đất nước. Xu thế toàn cầu và tác động của nó, tích cực: thúc đẩy phát triển sản xuất; vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý…mang lại lợi ích cho các bên tham gia; tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các quốc gia. Tiêu cực: các nước phát triển thao túng; tạo sự bất bình đẳng quốc tế; gia tăng sự phân cực giàu nghèo. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Tuy có bất ổn nhưng đây vẫn là khu vực được đánh giá khá ổn định. Đây là khu vực có tiềm lực và khá năng động về phát triển kinh tế. Xu thế hòa bình hợp tác trong khu vực phát triển.Yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam: Phá thế bị bao vây, cấm vận.Tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế.

 

5.2 Các giai đoạn hình thành, phát triển đường lối

Giai đoạn (1986-1996): xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Giai đoạn (1996-2008): bổ sung và hoàn chỉnh đường lối đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo. Về cơ hội: Xu thế toàn cầu hoá tạo điều kiện thuận lợi. Công cuộc đổi mới tạo thế và lực mới. Thách thức:Phải đối mặt với những vấn đề của toàn cầu hoá. Nền kinh tế phải chịu sức ép cạnh tranh và tác động của thị trường thế giới. Sự chống phá của các thế lực thù địch. Cơ hội và thách thức có thể chuyển hoá lẫn nhau.

Mục tiêu: Giữ vững ổn định và phát triển kinh tế- xã hội; tăng thêm nguồn lực xây dựng đất nước; kết hợp nội lực với ngoại lực để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Nhiệm vụ: Giữ vững môi trường hoà bình, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới. 

Tư tưởng chỉ đạo: Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng. Giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với đẩy mạnh đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế. Mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị xã hội. Kết hợp nhiều hình thức đối ngoại, Đảng, Nhà nước và nhân dân. Giữ vững ổn định chính trị, kinh tế- xã hội…Phát huy tối đa nội lực, thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng. Một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế: Đưa các quan hệ đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp. Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù hợp với các nguyên tắc, quy định của WTO. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm trong hội nhập kinh tế quốc tế. Giải quyết tốt các vấn đề văn hoá, xã hội và môi trường trong quá trình hội nhập. Giữ vững và tăng cường quốc phòng, an ninh trong quá trình hội nhập. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại. Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. 

Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân: Thành tựu: Phá thế bị bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan. Mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá (thiết lập, mở rộng quan hệ với các nước, tham gia tích cực tại Liên hợp quốc…). Tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế (tham gia AFTA, APEC, WTO). Thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý. Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh.

Ý nghĩa: Kết hợp nội lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp góp phần đưa đến những thành tựu kinh tế to lớn. Giữ vững, củng cố độc lập tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Hạn chế và nguyên nhân: Trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn chúng ta còn lúng túng, bị động… Một số chủ trương, cơ chế, chính sách chậm được đổi mới so với yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế; luật pháp, chính sách quản lý kinh tế – thương mại chưa hoàn chỉnh. Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế và một lộ trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết. Doanh nghiệp nước ta còn yếu cả về sản xuất, quản lý và khả năng cạnh tranh. Đội ngũ cán bộ công tác đối ngoại còn thiếu và yếu; công tác tổ chức chỉ đạo chưa sát và chưa kịp thời.

The post Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới và những hạn chế của kinh tế kế hoạch hóa tập trung? appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Những vấn đề lý luận mới về phương hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước https://evbn.org/nhung-van-de-ly-luan-moi-ve-phuong-huong-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773463/ Thu, 06 Apr 2023 09:31:04 +0000 https://evbn.org/nhung-van-de-ly-luan-moi-ve-phuong-huong-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773463/ Những vấn đề lý luận mới về phương hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước   Sau đổi mới, tốc độ...

The post Những vấn đề lý luận mới về phương hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Những vấn đề lý luận mới về phương hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

 

Sau đổi mới, tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế Việt Nam luôn là kết quả ấn tượng được ghi nhận rộng rãi bởi cộng đồng quốc tế, là thành tựu lớn trong việc xây dựng tiền đề vật chất để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, công nghiệp hóa được coi là “tất yếu thép” trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở bất kì quốc gia nào. Mặc dù tư tưởng này được quán triệt xuyên suốt các kỳ Đại hội Đảng và sự nghiệp công nghiệp hóa được Đảng ta triển khai hơn 60 năm (từ năm 1960) nhưng công nghiệp Việt Nam vẫn chưa chứng kiến những đột phá đáng kể; mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 đã không đạt được. Vì vậy, bên cạnh việc nắm vững những quy luật chung của công nghiệp hóa được đúc kết bởi chủ nghĩa Mác – Lênin, dựa trên thực tiễn phát triển công nghiệp của đất nước, cần nhất thiết nghiên cứu những vấn đề lý luận mới về phương hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Chỉ như vậy, lý luận mới có thể “soi đường” cho các chính sách phát triển nhằm thực hiện mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2045.

 

1.  Xây dựng chiến lược tổng thể cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

 

Xây dựng chiến lược tổng thể giúp tạo ra và định hình phương hướng thực hiện công nghiệp hóa  hiện đại hóa đất nước. Đảng ta chuẩn bị ban hành Nghị quyết Trung ương về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quan điểm, mục tiêu và định hướng lớn. Trên phương diện tổ chức thực thi, cần tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết thành Chiến lược tổng thế quốc gia về đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa trong bối cảnh mới. Bên cạnh mục tiêu, tầm nhìn và giải pháp tổng thể, cần xác định rõ lộ trình phát triển, lĩnh vực ưu tiên và cần có hệ thống chính sách tổng thể đồng bộ trên tất cả các khía cạnh như tài chính, nhân lực, khoa học công nghệ…phù hợp với lộ trình phát triển. Kiên định và nhất quán thực hiện Chiến lược.

 

2. Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho công nghiệp hóa

 

Nguồn nhân lực có chất lượng là điều kiện tiên quyết cho sự thành công. Vì thế, phương hướng hành động là cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp với chiến lược, lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực. Nhà nước có vai trò chủ động  trong thiết kế chương trình giáo dục – đào tạo, đào tạo nghề và định hướng thị  trường lao động bằng các chính sách hỗ trợ và khuyến khích.

 

3. Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với định hướng phát triển bền vững

 

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường dài. Do vậy, không chỉ cần đi “nhanh” mà còn cần đi một cách “bền vững”.

Công nghiệp hóa cần được thực hiện gắn liền với định hướng phát triển bền vững, đảm bảo sự thịnh vượng về kinh tế hay trình độ công nghiệp hóa được xây dựng dựa trên sự phát triển về xã hội và sự bền vững về môi trường. Lịch sử đã để lại những bài học đắt giá về sự đánh đổi về môi trường và xã hội khi mục tiêu công nghiệp hóa được thực hiện. Sự kiện “đám sương khói khổng lồ” năm 1952 được các nhà khoa học ước tính đã lấy đi 12 000 sinh mạng ở thủ đô Luân Đôn của Anh Quốc là một ví dụ điển hình. Sự xuống cấp về mặt xã hội như điều kiện lao động, phân biệt giới tính, lao động trẻ em,… cũng được ghi nhận trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây.  Ví dụ như ở Thái Lan, công nghiệp hóa quá nhanh dẫn tới việc đô thị hóa quá mức và ô nhiễm đô thị; không chỉ gây ra ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường mà còn gây hại trực tiếp đến sức khỏe của người dân. Đây được cho là nguyên nhân dẫn tới việc giảm cân nặng và chiều cao trung bình của trẻ sơ sinh ở Băng-cốc.

 

Đây là điều được các nhà kinh điển dự báo từ cách đây vài thế kỷ. Ăngghen đã cảnh báo về sự “trả thù” của thiên nhiên nếu loài người “thống trị giới tự nhiên” một cách thô bạo như những kẻ cướp. Thành quả mà quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đem lại không thể là những lợi ích kinh tế nhãn tiền, mà nhất thiết phải là sự phát triển toàn diện. Vì vậy, phương hướng xây dựng các tiêu chí về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh tiêu chí về kinh tế, không thể không tính đến các tiêu chí về con người, xã hội và môi trường.

 

Theo đó, khái niệm công nghiệp hóa được mở rộng, bao hàm nhiều nội dung hơn. Đó không đơn thuần là sự tăng lên về tốc độ và tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân mà còn chú trọng tới việc duy trì những điều kiện cho sự phát triển tiếp theo trong tương lai. Đây là sự thay đổi căn bản về nhận thức, tất yếu sẽ dẫn đến những điều chỉnh trong mục tiêu và kế hoạch hành động. Tư duy công nghiệp hóa bằng mọi giá đưa đến những mục tiêu về tốc độ tăng trưởng; trong khi đó định hướng phát triển bền vững sẽ đặt song song tốc độ và chất lượng của sự tăng trưởng. 

 

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không diễn ra như một đường thẳng mà bị gấp khúc qua nhiều giai đoạn phát triển. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành sản xuất gắn liền với quá trình thay đổi lợi thế so sánh ở các nước đang phát triển. Khi lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên dồi dào, các ngành công nghiệp thâm dụng lao động và tài nguyên thiên nhiên sẽ chiếm ưu thế. Khi các lợi thế trên mất dần và các lợi thế mới về vốn, công nghệ và lao động chất lượng cao dần xuất hiện và được thúc đẩy, các ngành có giá trị gia tăng cao hơn, bao gồm cả các ngành thâm dụng vốn, công nghệ và nhân lực sẽ chiếm vị trí trung phong. Quá trình phát triển này có thể được coi là một quá trình công nghiệp hoá hai giai đoạn dựa trên nguyên tắc thay đổi lợi thế so sánh trong nền kinh tế thị trường đang phát triển.

 

Việt Nam bắt đầu công nghiệp hóa từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu – thu nhập bình quân đầu người thấp và phần lớn dân số sống ở các vùng nông thôn, nơi nguồn thu nhập chính là nông nghiệp năng suất thấp; lao động thất nghiệp và thiếu việc làm chiếm khoảng 20% tổng lực lượng lao động của cả nước. Kinh nghiệm của các nước đang phát triển chỉ ra rằng trong giai đoạn đầu cần tập trung vào tốc độ công nghiệp hóa, thúc đẩy các ngành khai thác những lợi thế sẵn có về lao động và tài nguyên trong 20-30 năm đầu của quá trình công nghiệp hóa. Điều này sẽ có lợi cả về mặt kinh tế và xã hội vì sự phát triển của các ngành này có thể nhanh chóng hình thành cơ sở công nghiệp mới và tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cao, tạo thêm thu nhập và tiết kiệm, như một bước chuẩn bị cho sự phát triển của tiềm năng công nghiệp lớn hơn với nhiều ngành thâm dụng vốn và công nghệ trong giai đoạn tiếp theo. Tuy vậy, điều này mô hình công nghiệp hóa phụ thuộc vào các ngành thâm dụng lao động và tài nguyên càng giảm nhanh càng tốt để dịch chuyển dần và ngày càng nhanh sang mô hình thâm dụng vốn và sau đó là thâm dụng công nghệ. Nhận thức ấy gợi mở rằng một mặt cần duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, giải quyết các vấn đề lao động, việc làm trước mắt đồng thời cần gắn quá trình công nghiệp hóa với hiện đại hóa; phát triển kết hợp hài hòa giữa công nghiệp nặng với các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại, đem lại giá trị gia tăng cao.

 

4. Xây dựng nền công nghiệp hiện đại dựa trên nền tảng tri thức, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và năng lực sáng tạo

 

Thực tiễn cho thấy, thông qua quá trình học hỏi kinh nghiệm, thời gian hoàn thành công nghiệp hóa ngày càng được rút ngắn. Nếu “Người tiên phong” Anh quốc mất tới 120 năm mò mẫm, mở đường trở thành nước công nghiệp thì thời gian dần được rút ngắn còn 90 năm, 70 năm và hơn 30 năm đối với Mỹ, Nhật Bản và bốn “con hổ châu Á” (Hàn quốc, Hồng Kông, Xin-ga-po và Đài Loan).

 

Về cơ bản, có bốn mô hình nước công nghiệp. Ở mỗi mô hình, nền sản xuất xã hội dựa trên một nền tảng nhất định: (i) nền sản xuất xã hội dựa trên nền tảng của cơ giới hóa; (ii) nền sản xuất xã hội dựa trên nền tảng điện khí hóa; (iii) nền sản xuất xã hội dựa trên nền tảng của tự động hóa và (iv) nền sản xuất xã hội dựa trên nền tảng tri thức, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và năng lực sáng tạo[1]. Để có thể vừa đi “nhanh”, vừa đi “bền vững” và phù hợp với những yêu cầu của thời đại mới, Việt Nam cần hướng tới mô hình thứ tư trong con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.

 

Đối với Việt Nam ngày nay, phát triển kinh tế tri thức chính là dựa trên tri thức để thực hiện quá trình công nghiệp hoá rút ngắn, áp dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại vào các lĩnh vực sản xuất; tiết kiệm nguyên liệu bằng cách tăng hàm lượng tri thức trong các sản phẩm. Bên cạnh yếu tố quan trọng nhất là con người, năng lực đổi mới sáng tạo là yếu tố quyết định sự thành bại trong việc xây dựng và phát triển kinh tế tri thức. Đây cũng có thể được xem là chìa khóa giúp Việt Nam có thể vượt qua bẫy thu nhập trung bình và sớm thoát khỏi sự lệ thuộc vào công nghệ thấp và nguồn tài nguyên.

Và với phương hướng ấy, cần xác định các ngành mũi nhọn phù hợp với từng giai đoạn của kế hoạch. Trong đó, cần thiết phải ưu tiên những ngành đòi hỏi sử dụng công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao. Chỉ như vậy, chúng ta mới phát huy được lợi thế của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, kế thừa thành tựu phát triển của tri thức.

 

5. Tăng cường vai trò Nhà nước trong xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

 

Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi những điều kiện kinh tế và xã hội nhất định. Về lý thuyết, tự thân thị trường không có khả năng tạo ra sự cải thiện điều kiện trên. Sự can thiệp nhà nước xuất phát từ những thất bại của thị trường như hiệu ứng về thông tin, điều phối hay các hiệu ứng kinh tế từ quy mô nội sinh và ngoại sinh của các quá trình sản xuất công nghiệp. Thực tiễn cũng cho thấy vai trò to lớn không thể thay thế của các chính phủ trong quá trình công nghiệp hóa của các quốc gia, dù rằng các con đường ấy là không giống nhau.

 

Tuy nhiên, cần có nhận thức đúng đắn, dựa trên quan điểm “lịch sử – cụ thể” về hình thức can thiệp của nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vai trò của nhà nước không chỉ và không nên chỉ là đơn thuần chọn ra và tập trung nguồn lực cho những “người thắng cuộc” (chính sách theo chiều dọc) – một số ngành hay doanh nghiệp, tập đoàn cụ thể mà cần phát huy chức năng điều phối và kiến tạo điều kiện kinh tế – xã hội (chính sách theo chiều ngang). Các chính sách công nghiệp lối truyền thống theo chiều dọc mang bản chất chọn lọc và dựa trên các trụ cột chính là trợ cấp và bảo hộ thương mại, thì chính sách công nghiệp hiện đại lại tập trung nhiều hơn vào việc kiến thiết môi trường hoạt động. Trong phương hướng thực hiện công nghiệp hóa, cần kết hợp cả hai hướng chính sách. Tuyệt đối hóa bất kì hướng nào đều sẽ dẫn đến sự thiếu hiệu quả.

 

6. Xây dựng hệ tiêu chí nước công nghiệp làm cơ sở để giám sát quá trình thực hiện Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa

 

Hành trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa không phải là con đường bằng phẳng mà có thể xuất hiện nhiều đoạn “gấp khúc” do những biến động của thời cuộc. Do vậy, việc thường xuyên đánh giá nhằm nhận định mức độ hoàn thành mục tiêu phát triển; đồng thời phát hiện những bất cập, hạn chế để đề ra các giải pháp xử lý là vô cùng cần thiết. Công tác ấy chỉ có thể được thực hiện một cách hiệu quả và nhất quán khi chỉ khi có hệ tiêu chí nước công nghiệp làm cơ sở đối chiếu. Trên thế giới, mặc dù có một số quốc gia đã xây dựng hệ tiêu chí nước công nghiệp song chưa có hệ tiêu chí nào được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng quốc tế. Ở Việt Nam, mục tiêu trở thành nước công nghiệp được khẳng định xuyên suốt và ngày càng được cụ thể hóa qua các kỳ Đại hội.  Tuy nhiên, Việt Nam, đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa ban hành ban hành bộ tiêu chí chính thức về quốc gia có công nghiệp theo hướng hiện đại và có công nghiệp hiện đại.

 

Ý chí xây dựng nước công nghiệp ở nước ta đã được nung nấu từ những năm 1960, được tuyên bố trong Đại hội Đảng lần thứ III “Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại”. Khát vọng xây dựng đất nước công nghiệp, sau hơn sáu thập kỷ, vẫn mãnh liệt và ngày càng được củng cố bởi những thành tựu phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật của Việt Nam nói chung và thế giới nói riêng. Nhưng, để những mong muốn trở thành hiện thực, nhất thiết phải cụ thể hóa khát vọng đó qua những hệ tiêu chí cụ thể, tạo cơ sở để xác định thời điểm nước ta có thể đạt được mục tiêu công nghiệp hóa. Từ đó, các thước đo đánh giá hệ tiêu chí sẽ được xây dựng và lựa chọn một cách tương ứng. Phấn đấu với một hệ tiêu chí cụ thể sẽ góp phần tạo động lực thúc đẩy toàn dân góp sức, đồng lòng thực hiện một mục tiêu chung thống nhất. Để như vậy, việc lựa chọn hệ tiêu chí cần dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với quy luật khách quan, với đặc thù của quốc gia và những giá trị chung của thế giới, phản ánh được toàn diện các vấn đề về phát triển bền vững và được định lượng cụ thể.

 

Những biến động trong nước và quốc tế ở mỗi giai đoạn sẽ đặt ra những yêu cầu khác nhau và ngày càng cao về phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, việc xây dựng hệ tiêu chí có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh thời gian từ nay đến các mốc 2025, 2030 và 2045 không còn nhiều. Để thực hiện thành công mục tiêu lớn vào năm 2045, công tác tự đánh giá và rút kinh nghiệm ở từng giai đoạn cần phải được thực hiện một cách trung thực và xác đáng. Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoàn thành mục tiêu và phát hiện những tồn tại, hạn chế; hệ tiêu chí cụ thể sẽ giúp xây dựng các giải pháp cụ thể. Và rằng, hệ tiêu chí ấy, nhất định phải dựa trên những quy luật chung về công nghiệp hóa của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng về công nghiệp hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh và điều kiện lịch sử – cụ thể của giai đoạn ngày nay.

PGS.TS. Bùi Văn Huyền, HVCTQGHCM

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Thị Vân Hoa (2020). Hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội
  2. Nguyễn Đức Kiên (2014), Kinh nghiệm quốc tế về công nghiệp hóa và tiêu chí về nước công nghiệp, Ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp, số 10(266).
  3. Mai Thị Thanh Xuân và Ngô Đăng Thành (2012), Một số kinh nghiệm rút ra từ mô hình công nghiệp hóa của các nước Đông Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 8.
  4. Nguyễn Minh Tú và Vũ Xuân Nguyệt Hồng (2001), Chính sách công nghiệpvà các công cụ chính sách công nghiệp : Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học rút ra cho công nghiệp hóa của Việt Nam, Nxb Lao Động, Hà Nội.
  5. Nguyễn Đức Kiên, Trần Văn, Hansjoerg Herr và Michael Von Hauff (2021), Chính sách công nghiệp thông minh hướng tới phát triển bền vững – các nguyên tắc chung và kinh nghiệm của nước Đức, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội
  6. Alastair Ball (2022), The long-term economic costs of the Great London Smog, Working Paper. Birkbeck College, University of London.


[1] Trần Thị Vân Hoa (2020). Hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội

The post Những vấn đề lý luận mới về phương hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Tư duy, giải pháp mới thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước https://evbn.org/tu-duy-giai-phap-moi-thuc-day-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773457/ Thu, 06 Apr 2023 09:30:58 +0000 https://evbn.org/tu-duy-giai-phap-moi-thuc-day-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773457/ Đồng chí Trần Tuấn Anh truyền đạt chuyên đề “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2030, tầm...

The post Tư duy, giải pháp mới thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Chú thích ảnh
Đồng chí Trần Tuấn Anh truyền đạt chuyên đề “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN

Trưởng ban Kinh tế Trung ương cho biết, cho đến trước khi ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW, Đảng vẫn chưa có nghị quyết riêng về vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tại Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã dành nhiều thời gian thảo luận kỹ lưỡng, tâm huyết và thống nhất cao ban hành Nghị quyết về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết số 29-NQ/TW).  Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

“Nghị quyết là cơ sở, căn cứ chính trị hết sức quan trọng trong việc định hướng những tư duy mới, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp mới nhằm tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

9 kết quả nổi bật sau 10 năm công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Đánh giá tình hình thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong 10 năm qua, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh nêu rõ, Nghị quyết số 29 đã khái quát thành 9 kết quả đạt được rất quan trọng.

Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đạt bình quân 6,17%/năm trong 10 năm qua, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp vào GDP của công nghiệp và dịch vụ đạt 72,7% vào năm 2020. Cơ cấu kinh tế vùng chuyển đổi theo hướng tích cực, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng và theo hướng tăng cường liên kết, kết nối vùng, các tiểu vùng, bước đầu gắn kết với công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thứ ba, công nghiệp được cơ cấu lại theo hướng giảm tỉ trọng của ngành khai khoáng, tăng nhanh tỉ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ tư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp ổn định và bền vững, từng bước được cơ cấu lại theo hướng hiện đại.

Thứ năm, ngành dịch vụ phát triển mạnh, theo hướng hiện đại, đóng góp của ngành dịch vụ vào tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng; hình thành được một số ngành dịch vụ có hàm lượng khoa học, công nghệ cao.  Các phương thức, mô hình kinh doanh trên thị trường xuất hiện, được đổi mới theo hướng văn minh hiện đại, phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việt Nam trở thành một trong những thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất toàn cầu, đứng vị trí thứ 6 trong nhóm 30 quốc gia có tiềm năng và mức độ hấp dẫn đầu tư trong lĩnh vực bán lẻ toàn cầu.

Thứ sáu, đô thị hóa tăng nhanh, không gian đô thị được mở rộng, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

Thứ bảy, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế-xã hội được quan tâm đầu tư theo hướng ngày càng đồng bộ, hiệu quả hơn, chất lượng được nâng cao, tạo không gian phát triển, thúc đẩy liên kết ngành và liên kết vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ tám, phát triển văn hóa, xã hội, con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được quan tâm; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện.

Thứ chín, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu được chú trọng, bước đầu đạt kết quả tích cực. Việt Nam đã và đang trở thành thành viên có trách nhiệm, nỗ lực tham gia góp phần tích cực với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bên cạnh kết quả đạt được, Nghị quyết cũng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta thời gian qua. Đó là mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 không hoàn thành với nhiều tiêu chí không đạt; có nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình; nội lực của nền kinh tế còn yếu, năng suất lao động thấp và chậm được cải thiện, năng lực độc lập, tự chủ thấp…

Làm rõ nội hàm công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Trưởng ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh cho biết, trên cơ sở đánh giá, nhận định về bối cảnh, tình hình quốc tế và trong nước, đồng thời phân tích điều kiện, tình hình cụ thể của Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận, thống nhất các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Theo đó, về quan điểm, Nghị quyết đã đưa ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo trong thời gian tới.

Nhóm quan điểm thứ nhất, làm rõ nội hàm/nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa là “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội dựa chủ yếu vào sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”; đồng thời nhấn mạnh “công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

The post Tư duy, giải pháp mới thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Bài 4: Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước https://evbn.org/bai-4-nhiem-vu-va-giai-phap-thuc-hien-muc-tieu-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773448/ Thu, 06 Apr 2023 09:30:50 +0000 https://evbn.org/bai-4-nhiem-vu-va-giai-phap-thuc-hien-muc-tieu-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773448/ Để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất...

The post Bài 4: Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã đề ra 10 nhóm nhiệm vụ giải pháp chủ yếu bao phủ những vấn đề lớn từ đổi mới tư duy, nhận thức cho đến hoàn thiện thể chế, chính sách và giải quyết những điểm nghẽn, khắc phục những hạn chế trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) thời gian qua.

Đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương phát biểu tại Hội thảo Hội thảo khoa học “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp vật liệu đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”

 

Thứ nhất, về đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Nghị quyết xác định nội dung cốt lõi của sự CNH, HĐH đất nước theo 2 giai đoạn.

Giai đoạn 2021-2030 là thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để tạo ra sự bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế; thực hiện chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả, bền vững; nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ và thị trường, bảo vệ và phát huy tốt thị trường trong nước; chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp sang các ngành có tính nền tảng, ưu tiên, mũi nhọn, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao; chuyển đổi các ngành công nghiệp thâm dụng tài nguyên tài nguyên, năng lượng sang các ngành công nghiệp xanh, công nghiệp phát thải cácbon thấp; cơ cấu lại các ngành nông nghiệp và dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số, phát triển các loại dịch vụ mới có tính liên ngành và giá trị gia tăng cao, đẩy nhanh dịch vụ hoá các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Quang cảnh hội thảo khoa học “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp vật liệu đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước

đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”

Giai đoạn 2031-2045, tập trung nâng cao chất lượng công nghiệp hoá và đẩy mạnh hiện đại hoá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống xã hội.

Từ đó Nghị quyết đặt ra 4 yêu cầu: (1) Nâng cao nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, doanh nghiệp và người dân; cụ thể hoá các quan điểm, gắn kết các mục tiêu, nhiệm vụ CNH, HĐH đất nước với luật pháp, chính sách, hệ thống quy hoạch quốc gia và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan. (2) Thực hiện phân công, phân cấp triệt để trong quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. (3) Nâng cao năng lực dự báo; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả CNH, HĐH trên phạm vi cả nước, từng vùng và địa phương và (4) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, gắn trách nhiệm người đứng đầu cấp uỷ và chính quyền các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện. Đây là những yêu cầu quan trọng để khắc phục những hạn chế trong quá trình thực hiện CNH, HĐH thời gian vừa qua, đồng thời quán triệt, thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn hệ thống chính trị và toàn dân về đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nghị quyết đặt ra 7 nhóm nội dung cần đẩy nhanh thể chế hoá các nghị quyết, kết luận của Đảng có liên quan đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá để hoàn thiện cơ bản thể chế, chính sách nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH. Đó là:

Đẩy nhanh thể chế hóa các nghị quyết, kết luận của Đảng có liên quan đến CNH, HĐH. Ưu tiên xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành về phát triển công nghiệp quốc gia và các lĩnh vực công nghiệp đặc thù như công nghiệp công nghệ số, công nghiệp quốc phòng, an ninh, năng lượng…; tạo lập khung pháp luật cho phát triển sản xuất thông minh, mô hình nhà máy thông minh, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất thông minh; Xây dựng lộ trình, hoàn thiện các cơ chế, chính sách cho thực hiện chuyển đổi năng lượng xanh, bền vững, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Ban hành cơ chế, chính sách riêng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn thông qua tăng cường chính sách đặt hàng đào tạo và thực hiện hỗ trợ tài chính của Nhà nước với cơ sở đào tạo và người học. Rà soát, hoàn thiện chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo hướng không ưu đãi theo diện rộng, dàn trải đến các phân ngành công nghiệp, tập trung vào các lĩnh vực được xác định theo tiêu chí phù hợp cho từng giai đoạn; bổ sung các chính sách khuyến khích và ưu đãi về phát triển vùng nguyên liệu, công nghệ, vốn đầu tư, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp…

Xây dựng khung pháp lý cho phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số; ban hành các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, các chính sách thí điểm, đặc thù cho các hoạt động phát triển, thử nghiệm và áp dụng các sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ số và nền tảng số; tăng cường chính sách đặt hàng, giao nhiệm vụ sản xuất, chính sách mua sắm công theo hướng ưu tiên sử dụng hàng hóa trong nước, nâng cao giá trị gia tăng và tỉ lệ nội địa hóa; Thể chế hoá các cơ chế, chính sách đặc thù cho phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng lưỡng dụng, hiện đại.

Nghị quyết tiếp tục đặt ra nhiệm vụ đổi mới chính sách đất đai, tín dụng, tài chính, khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; Có chính sách đột phá để thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn.

Rà soát, hoàn thiện các luật chuyên ngành về du lịch, thương mại, đường sắt, bưu chính, công nghệ thông tin, viễn thông và các luật có liên quan; tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, đẩy mạnh xã hội hóa để cơ cấu lại các ngành dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại… Có chiến lược, cơ chế, chính sách mới có tính đặc thù, vượt trội, cạnh tranh quốc tế cao để thúc đẩy hình thành một số trung tâm du lịch, trung tâm logistics, trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ khu vực và quốc tế tại một số đô thị.

Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách, thí điểm thực hiện các cơ chế phù hợp để tạo đột phá cho phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là về đường bộ, đường sắt. Nghiên cứu hình thành quỹ phát triển hạ tầng. Đổi mới mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung cũng như xây dựng khung tiêu chí và hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển các khu công nghiệp sinh thái, thông minh, khu đô thị công nghiệp – thương mại – dịch vụ.

Đồng thời tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí về đầu tư; có cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội, cạnh tranh quốc tế tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi thu hút các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, dự án công nghệ cao, thu hút FDI từ các đối tác thuộc các nước phát triển; Hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp…; Hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tiêu chí giám sát, đánh giá, xếp loại doanh nghiệp nhà nước và người quản lý theo mục tiêu và hiệu quả tổng thể.

Thứ ba, xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường; nâng cao năng lực ngành xây dựng

Trước hết, về xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường, Nghị quyết yêu cầu cần tập trung: Đẩy nhanh thực hiện các chủ trương của Đảng về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia. Tiếp tục cơ cấu lại ngành công nghiệp; thực hiện điều chỉnh phân bố không gian phát triển công nghiệp của vùng, địa phương bảo đảm tính chuyên môn hoá cao, tăng cường tính liên kết nội vùng và liên vùng; hình thành các vùng công nghiệp, vành đai công nghiệp, cụm liên kết ngành công nghiệp, khu công nghiệp, trọng tâm là hình thành các cụm liên kết ngành công nghiệp; xây dựng và triển khai có hiệu quả các quy hoạch vùng nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là đối với các ngành dệt may, da giày, chế biến nông sản, thực phẩm.

Trung ương đã phân tích, đánh giá và thống nhất cao cần tập trung xây dựng và triển khai Chương trình quốc gia về nâng cao năng lực độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của nền sản xuất Việt Nam đến năm 2045 (Make in Vietnam 2045); Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2030. Nghị quyết cũng đã chỉ rõ các  ngành, lĩnh vực cần ưu tiên nguồn lực và có các cơ chế, chính sách khuyến khích và ưu đãi đủ mạnh để phát triển, tránh dàn trài như:

Đối với các ngành công nghiệp nền tảng bao gồm: 1- Luyện kim (ưu tiên phát triển thép hợp kim, thép đặc chủng phục vụ công nghiệp chế tạo máy thế hệ mới, nhất là cho quốc phòng, an ninh). 2- Cơ khí chế tạo (ưu tiên phát triển cơ khí chế tạo cho sản xuất máy nông nghiệp, ô tô, tàu biển, thiết bị công trình, thiết bị năng lượng, thiết bị điện, thiết bị y tế). 3- Hoá chất (ưu tiên phát triển các loại hoá chất cơ bản, hoá dầu, hoá dược, phân bón). 4- Công nghiệp năng lượng (ưu tiên phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới). 5- Vật liệu (ưu tiên phát triển vật liệu mới). 6- Công nghệ số (ưu tiên phát triển trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, điện toán đám mây, Internet vạn vật, thiết bị điện tử – viễn thông, thiết kế và sản xuất chíp bán dẫn).

Đối với ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn là: Công nghiệp sản xuất rô bốt, ô tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa; công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp; công nghiệp sinh học (tập trung vào gen, dược phẩm và các chế phẩm sinh học); công nghiệp dệt may, da giày ở các khâu tạo giá trị gia tăng cao dựa trên quy trình sản xuất thông minh, tự động hoá; công nghiệp văn hoá… Khuyến khích các tập đoàn, doanh nghiệp trong nước liên kết, liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài sản xuất thiết bị năng lượng sạch, tái tạo, hệ thống pin lưu trữ, công nghệ và sản phẩm tiết kiệm năng lượng, đào tạo, chuyển giao công nghệ. Đồng thời, phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng lưỡng dụng, hiện đại, tự lực, tự cường, liên kết chặt chẽ với công nghiệp dân sinh, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia.

Về nâng cao năng lực ngành xây dựng, Nghị quyết đặt ra yêu cầu khuyến khích phát triển một số tập đoàn xây dựng quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh quốc tế. Phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thành ngành kinh tế mạnh, đạt trình độ tiên tiến, hiện đại, đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước; ưu tiên phát triển vật liệu xanh, vật liệu mới thân thiện với môi trường.

Thứ tư, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; tiếp tục cơ cấu lại ngành dịch vụ dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo

Nông nghiệp, nông thôn luôn là được xác định nội dung quan trọng của quá trình CNH, HĐH. Nhiệm vụ cần làm ngay là triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, hạ tầng kết nối nông thôn với đô thị; đẩy nhanh xây dựng hạ tầng số và dữ liệu số nông nghiệp, nông thôn; nâng cấp, hiện đại hoá và phát triển các sàn giao dịch cho các nông sản chủ lực, xây dựng các trung tâm hậu cần biên mậu. Hình thành các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh nông nghiệp tại một số vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. Khuyến khích phát triển công nghiệp cơ khí, hoá chất và công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thuỷ sản.

Tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thúc đẩy cơ giới hoá đồng bộ, hiện đại hoá trong toàn bộ chuỗi cung ứng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, phát triển các cụm liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản. Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả nông nghiệp, nông thôn; ưu tiên bố trí nguồn lực và có các cơ chế, chính sách đặc thù để xã hội hoá, thực hiện có hiệu quả chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới, hướng tới nông thôn mới thông minh giai đoạn 2021 – 2025.

Đối với ngành dịch vụ, Nghị quyết đặt ra yêu cầu phát triển mạnh một số ngành dịch vụ có lợi thế và có hàm lượng tri thức, công nghệ cao như: Du lịch, thương mại, viễn thông, công nghệ thông tin, logistics, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tư vấn pháp lý…; mở rộng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, y tế và chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, công nghiệp văn hoá và dịch vụ văn hoá, thể thao, dịch vụ thương mại… Đẩy nhanh tiến trình xây dựng và có cơ chế vượt trội để phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị có tiềm năng trở thành các trung tâm tài chính quốc tế. Điểm mới trong Nghị quyết lần này là đặt ra yêu cầu nhiệm vụ cần phải thúc đẩy dịch vụ hoá các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; tiếp tục cơ cấu lại các ngành dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số, phát triển dịch vụ công nghệ cao, các loại dịch vụ mới của nền kinh tế số.

Thứ năm, phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Đây là một trong những nhiệm vụ then chốt, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh góp phần thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh CNH, HĐH trên nền tảng tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Để giải quyết các điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ: Đẩy nhanh thể chế hoá và cụ thể hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo. Ưu tiên đầu tư cho khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo đi trước một bước; có lộ trình tăng tỉ lệ chi từ ngân sách nhà nước tính trên GDP cho nghiên cứu và phát triển, phấn đấu đến năm 2030 đạt tỉ lệ thuộc nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN, tiệm cận tỉ lệ bình quân chung của các nước thuộc khối OECD; Phát triển các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ gắn với các chuỗi giá trị nội địa, khu vực và toàn cầu… Phát triển hệ thống các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, các trung tâm đổi mới sáng tạo ngành, vùng, các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; Triển khai mạnh mẽ các vườn ươm công nghệ, nền tảng đổi mới sáng tạo mở, mạng lưới đổi mới sáng tạo mở. Khuyến khích doanh nghiệp thành lập các trung tâm nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo. Thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách mới, đặc thù về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại một số địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp được giao các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển các công nghệ lõi, công nghệ nguồn.

Đối với một trong ba đột phá chiến lược được xác định tại Văn kiện Đại hội XIII là phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, Nghị quyết xác định cần phải rà soát, hoàn thiện các chiến lược về giáo dục, đào tạo, phát triển nhân lực quốc gia phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thuộc lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Hình thành các chương trình cấp quốc gia và cấp địa phương, ngành, lĩnh vực về đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, lao động có kỹ năng, chuyên môn cao. Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo chuyên gia, nhân lực chất lượng cao, lao động kỹ thuật trong các lĩnh vực công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn. Quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ lao động nông thôn; tăng số lượng lao động kỹ thuật có tay nghề; phát triển nhân lực nghiên cứu, chuyên gia trong nông nghiệp. Khuyến khích phát triển các nền tảng dạy và học trực tuyến mở, thí điểm các mô hình đại học mới thích ứng với quá trình chuyển đổi số.

Thứ sáu, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hoá nhanh và bền vững, gắn kết chặt chẽ và tạo động lực cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nghị quyết tập trung nhấn mạnh các giải pháp trọng tâm nhằm phát triển một số công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia và vùng về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu, năng lượng, hạ tầng số, các công trình hạ tầng xã hội về y tế, giáo dục của vùng. Phát triển hệ thống đường cao tốc đạt mục tiêu 5.000 km vào năm 2030. Quan tâm đúng mức và phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt có trọng tâm, trọng điểm. Đẩy nhanh xây dựng danh mục các dự án kêu gọi đầu tư hạ tầng giao thông giai đoạn 2021 – 2030; nghiên cứu áp dụng thí điểm mô hình đầu tư công – quản trị tư, đầu tư tư – sử dụng công; đa dạng hoá nguồn lực, huy động tối đa nguồn lực từ quỹ đất trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

Xây dựng và triển khai chiến lược phát triển hạ tầng thông tin, hạ tầng số, quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông cho giai đoạn tới theo định hướng hạ tầng số là hạ tầng thiết yếu, bảo đảm an toàn thông tin mạng là then chốt, ưu tiên đầu tư phát triển nhanh, đi trước một bước. Phát triển đồng bộ, hiện đại hạ tầng văn hoá, xã hội.

Có các giải pháp quan trọng, đột phá để phát triển hệ thống đô thị bền vững theo hướng đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai và dịch bệnh, có tính kết nối theo mạng lưới cao và gắn kết chặt chẽ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thứ bảy, phát triển các thành phần kinh tế nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nghị quyết xác định cần tập trung thực hiện đồng bộ, quyết liệt chủ trương của Đảng về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, phát triển doanh nghiệp tư nhân, thu hút FDI. Xây dựng và triển khai định hướng phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt, trụ cột trong một số lĩnh vực quan trọng của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá như năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo, tài chính – ngân hàng, nông nghiệp, viễn thông, kết cấu hạ tầng… Tăng cường cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cho một số tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong nước có quy mô lớn, có đủ năng lực thực hiện một số nhiệm vụ có tính chiến lược, dẫn dắt quá trình CNH, HĐH; chú trọng chính sách mua sắm công và các chính sách nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước của Việt Nam.

Để thu hút đầu tư nước ngoài, bên cạnh hệ thống chính sách và giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 20/8/2019 về định  hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 cần tiếp tục triển khai thực hiện, Nghị quyết này nhấn mạnh thêm những giải pháp, yêu cầu mới cần triển khai thực hiện, đó là: Xây dựng tiêu chí để phân cấp, phân quyền thu hút FDI giữa Trung ương và địa phương; coi trọng chất lượng, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên đối với các dự án đầu tư có công nghệ cao, bảo đảm tiêu chuẩn về môi trường, thu hút lao động có kỹ năng của các công ty đa quốc gia lớn gắn với yêu cầu phải chuyển giao tri thức, công nghệ và quản trị; nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.

Đồng thời, Nghị quyết cũng xác định cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể, nòng cốt là các hợp tác xã; ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế tập thể gắn với phát triển nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Thứ tám, đổi mới chính sách tài chính, tín dụng thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhanh, bền vững

Đây là nội dung hết sức quan trọng nhằm khắc phục tồn tại trước đây khi quá trình hình thành, xác định các mục tiêu, định hướng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chưa được đặt trong mối quan hệ tổng thể với yêu cầu về nguồn lực thực hiện các mục tiêu và định hướng đó. Do đó, Nghị quyết đề ra 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cần thực hiện là:

Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính theo nguyên tắc thị trường; tiếp tục đa dạng hoá các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực; thúc đẩy xã hội hoá, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo hướng lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân; ưu tiên nguồn lực tài chính nhà nước đầu tư cho phát triển hạ tầng liên kết vùng, hạ tầng năng lượng, chuyển đổi số, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nâng cao hiệu quả đầu tư công; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong giải ngân vốn đầu tư công. Đẩy nhanh cơ cấu lại thị trường tài chính, tiền tệ đáp ứng yêu cầu huy động và sử dụng vốn có hiệu quả; phát triển thị trường chứng khoán bền vững, trở thành kênh huy động quan trọng vốn trung và dài hạn cho thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Hoàn thiện các cơ chế, chính sách phù hợp về đầu tư, tài chính, ngân sách đối với một số địa phương; rà soát, xác định tỉ lệ nguồn thu giữ lại hợp lý đối với các đô thị đặc biệt và các đô thị lớn để bảo đảm phát huy vai trò của các cực tăng trưởng kinh tế trong thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sử dụng hiệu quả chính sách đặt hàng sản xuất và chính sách mua sắm công. Đổi mới các chính sách ưu đãi về thuế phù hợp với thông lệ quốc tế, hướng tới trọng tâm ưu tiên thúc đẩy phát triển hệ sinh thái và chuỗi giá trị sản xuất, dịch vụ hiện đại. Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách để hướng tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; thực hiện các chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng đủ mạnh để thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; phát triển mạnh tài chính xanh, tín dụng xanh.

Thứ chín, quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả đi đôi với bảo vệ và phát triển thị trường trong nước

Cụ thể hóa quan điểm gắn kết CNH, HĐH với quá trình phát triển bền vững bao trùm, Nghị quyết đặt ra yêu cầu: Khai thác và sử dụng tài nguyên hiệu quả; có lộ trình phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển của đất nước; sớm xây dựng cơ chế phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính và thị trường tín chỉ cácbon. Xây dựng cơ chế ưu tiên để phát triển mạnh công nghiệp tái chế và công nghiệp tái tạo. Có chiến lược phát triển khai thác, chế biến quặng đất hiếm và một số loại khoáng sản có giá trị cao có lợi thế cạnh tranh. Phát triển công nghiệp sử dụng triệt để chất thải rắn, chất thải công nghiệp, tái chế chất thải xây dựng. Phát triển mạnh ngành công nghiệp môi trường. Thí điểm, nhân rộng và phát triển các mô hình sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tái sử dụng, tái chế chất thải phù hợp với từng ngành, vùng, miền. Nghiên cứu, thử nghiệm áp dụng hệ thống hạch toán vốn tự nhiên trong nền kinh tế theo thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam…

Bên cạnh đó, quá trình phát triển của mỗi quốc gia hiện nay không thể tiến hành biệt lập, khép kín mà phải đặt trong chuỗi sản xuất – kinh doanh toàn cầu, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Do đó, Nghị quyết yêu cầu triển khai mạnh mẽ, đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước; tận dụng, khai thác hiệu quả mạng lưới các đối tác chiến lược, toàn diện để xây dựng và triển khai các chiến lược, chương trình, kế hoạch công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Song song với đó là chủ động xây dựng và hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế và yêu cầu CNH, HĐH.

Thứ mười, phát huy giá trị văn hóa, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; đội ngũ tri thức và doanh nhân xung kích, đi đầu trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốt an sinh xã hội.

Quan điểm xuyên suốt, nhất quán trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, nguồn lực, động lực nội sinh to lớn của đất nước và con người làm trung tâm, làm chủ thể, là mục tiêu, là động lực, nguồn lực cho sự phát triển và thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do đó, nhiệm vụ cần làm ngay là: Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Hình thành môi trường văn hoá số. Phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả các ngành công nghiệp văn hoá và dịch vụ văn hoá gắn với phát triển du lịch. Có cơ chế, chính sách sớm khắc phục khoảng cách chênh lệch về hạ tầng văn hoá giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; chênh lệch về mức thụ hưởng văn hoá giữa các giai tầng, các nhóm xã hội, các cộng đồng dân cư. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến, hiện đại, hướng tới bao phủ toàn dân; quan tâm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững…

Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu tập trung ưu tiên đầu tư thích đáng, tạo điều kiện thuận lợi phát triển mạnh mẽ giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Bên cạnh đó, cần đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và phát huy vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ trí thức và doanh nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong tình hình mới. Xây dựng và triển khai chiến lược phát triển đội ngũ trí thức, Chiến lược phát triển đội ngũ doanh nhân đến năm 2030, chương trình quốc gia về đào tạo doanh nhân, xây dựng văn hoá kinh doanh Việt Nam tiên tiến, giàu bản sắc và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết số 29-NQ/TW về“Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xem xét, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện trong bối cảnh cả nước ta đang nỗ lực, tập trung triển khai thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, với quyết tâm cao độ của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết đồng lòng của cả nước, nhất định Nghị quyết sẽ sớm đi vào cuộc sống để góp phần thúc đẩy quá trình CNH, HĐH của đất nước nhanh và bền vững./.

Trung tâm Thông tin, phân tích và dự báo kinh tế

The post Bài 4: Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước https://evbn.org/10-nhom-nhiem-vu-giai-phap-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773441/ Thu, 06 Apr 2023 09:30:42 +0000 https://evbn.org/10-nhom-nhiem-vu-giai-phap-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-1680773441/ 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn...

The post 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 gồm:

1- Ðổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2- Xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3- Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường; nâng cao năng lực ngành xây dựng.
4- Ðẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; tiếp tục cơ cấu lại ngành dịch vụ dựa trên nền tảng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo.

5-  Phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

6- Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hóa nhanh và bền vững, gắn kết chặt chẽ và tạo động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

7- Phát triển các thành phần kinh tế nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

8- Ðổi mới chính sách tài chính, tín dụng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhanh, bền vững.

9- Quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả đi đôi với bảo vệ và phát triển thị trường trong nước.

10- Phát huy giá trị văn hóa, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; đội ngũ trí thức và doanh nhân xung kích, đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo đảm tốt an sinh xã hội.

Chuyển đổi các ngành công nghiệp thâm dụng tài nguyên, năng lượng sang các ngành công nghiệp xanh

Trong đó, về nhiệm vụ, giải pháp đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết nêu rõ, xác định nội dung cốt lõi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2021-2030 là thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế; thực hiện chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả, bền vững; nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ và thị trường, bảo vệ và phát huy tốt thị trường trong nước.

Chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp sang các ngành có tính nền tảng, ưu tiên, mũi nhọn, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao; chuyển đổi các ngành công nghiệp thâm dụng tài nguyên, năng lượng sang các ngành công nghiệp xanh, công nghiệp phát thải các-bon thấp.

Cơ cấu lại các ngành nông nghiệp và dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số, phát triển các loại dịch vụ mới có tính liên ngành và giá trị gia tăng cao, đẩy nhanh dịch vụ hóa các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. 

Giai đoạn 2031-2045, tập trung nâng cao chất lượng công nghiệp hóa và đẩy mạnh hiện đại hóa toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống xã hội.

Thực hiện phân công, phân cấp triệt để trong quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; bảo đảm nguyên tắc một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính. 

Nâng cao năng lực dự báo; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên phạm vi cả nước, từng vùng và địa phương; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, gắn trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện.

10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Ảnh 1.

Ưu tiên phát triển cơ khí chế tạo cho sản xuất máy nông nghiệp, ô-tô, tàu biển, thiết bị công trình, thiết bị năng lượng, thiết bị điện, thiết bị y tế.

Có cơ chế, chính sách khuyến khích đủ mạnh để phát triển những lĩnh vực ưu tiên của các ngành công nghiệp nền tảng

Hình thành các vùng công nghiệp, vành đai công nghiệp, cụm liên kết ngành công nghiệp, khu công nghiệp, trọng tâm là hình thành các cụm liên kết ngành công nghiệp; xây dựng và triển khai có hiệu quả quy hoạch vùng nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là đối với các ngành dệt may, da giày, chế biến nông sản, thực phẩm.

Xây dựng và triển khai chương trình quốc gia về nâng cao năng lực độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của nền sản xuất Việt Nam đến năm 2045 (Make in Vietnam 2045) theo hướng chú trọng nâng cao tự chủ về nguyên liệu, công nghệ, sản xuất và thị trường, tăng cường năng lực sáng tạo và thiết kế, phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều công nghệ, có giá trị gia tăng cao và các ngành công nghiệp phát thải các-bon thấp; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới, hấp thụ và làm chủ công nghệ, nhất là công nghệ lõi, công nghệ nguồn.

Ưu tiên nguồn lực và có cơ chế, chính sách khuyến khích đủ mạnh để phát triển những lĩnh vực ưu tiên của các ngành công nghiệp nền tảng: Luyện kim (ưu tiên phát triển thép hợp kim, thép đặc chủng phục vụ công nghiệp chế tạo máy thế hệ mới, nhất là cho quốc phòng, an ninh); cơ khí chế tạo (ưu tiên phát triển cơ khí chế tạo cho sản xuất máy nông nghiệp, ô-tô, tàu biển, thiết bị công trình, thiết bị năng lượng, thiết bị điện, thiết bị y tế); hóa chất (ưu tiên phát triển các loại hóa chất cơ bản, hóa dầu, hóa dược, phân bón); công nghiệp năng lượng (ưu tiên phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới); vật liệu (ưu tiên phát triển vật liệu mới); công nghệ số (ưu tiên phát triển trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, điện toán đám mây, internet kết nối vạn vật, thiết bị điện tử-viễn thông, thiết kế và sản xuất chíp bán dẫn).

Chú trọng phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn: Công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô-tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa; công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp; công nghiệp sinh học (tập trung vào gen, dược phẩm và các chế phẩm sinh học); công nghiệp dệt may, da giày ở các khâu tạo giá trị gia tăng cao dựa trên quy trình sản xuất thông minh, tự động hóa; công nghiệp văn hóa…

Khuyến khích các tập đoàn, doanh nghiệp trong nước liên kết, liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài sản xuất thiết bị năng lượng sạch, tái tạo, hệ thống pin lưu trữ, công nghệ và sản phẩm tiết kiệm năng lượng, đào tạo, chuyển giao công nghệ.

The post 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Tìm hiểu vấn đề “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” trong Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng | Tư liệu văn kiện Đảng https://evbn.org/tim-hieu-van-de-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-gan-voi-phat-trien-kinh-te-tri-thuc-trong-van-kien-dai-hoi-lan-thu-x-cua-dang-tu-lieu-van-kien-dang-1680773431/ Thu, 06 Apr 2023 09:30:32 +0000 https://evbn.org/tim-hieu-van-de-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-gan-voi-phat-trien-kinh-te-tri-thuc-trong-van-kien-dai-hoi-lan-thu-x-cua-dang-tu-lieu-van-kien-dang-1680773431/ 1. Sau 20 năm đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) ở nước ta đã bước và giai đoạn phát...

The post Tìm hiểu vấn đề “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” trong Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng | Tư liệu văn kiện Đảng appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

1. Sau 20 năm đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) ở nước ta đã bước và giai đoạn phát triển mới – đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đây là sự tiếp nối đường lối và chiến lược CNH, HĐH đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, năm 1991 của Đảng. Song, do sự thay đổi nhanh chóng các điều kiện phát triển, cả ở trong nước và trên thế giới đòi hỏi phải có những tư duy mới về nội dung và phương thức thực hiện CNH, HĐH. 

Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006-2010 là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. 

Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người. Đến năm 2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng gấp hơn 2,1 lần so với năm 2000. Trong những năm 2006-2010, mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5 – 8%/năm, phấn đấu đạt trên 8%/năm”. 

Để thực hiện được mục tiêu nói trên, nền kinh tế ở nước ta phải có lực lượng sản xuất đạt trình độ phát triển cao và có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại – đại công nghiệp cơ khí phát triển trên cơ sở khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Muốn vậy phải đẩy mạnh CNH, HĐH. 

Ngày nay, trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển như vũ bão, nhiều công nghệ mới ra đời, trong đó công nghệ thông tin phát triển rất nhanh, nó đã và sẽ tiếp tục giữ vai trò tổng hợp trong sự tác động của con người đối với quá trình sản xuất và các hoạt động khác, đồng thời nó cũng đóng vai trò chuyển đổi một thời đại phát triển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế dựa vào tri thức. Và nền kinh tế dựa vào tri thức đến lượt nó lại mở đường cho các nền kinh tế đang phát triển tiếp nhận công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin để cơ cấu lại nền kinh tế coi phát triển công nghệ thông tin là hướng ưu tiên hàng đầu để hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện chiến lược phát triển rút ngắn thông qua các hoạt động tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, vốn và tri thức kinh doanh, kinh nghiệm quản lý tiên tiến. 

Xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang mở ra nhiều cơ hội đối với các quốc gia dân tộc trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Có thể kể ra các cơ hội sau đây: 

– Toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy nhanh sự phát triển lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao của nền kinh tế thế giới, theo đó nó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới. Đây là một cơ hội rất quan trọng cho sự phát triển của các nước. 

– Toàn cầu hóa kinh tế truyền bá và chuyển giao những thành quả mới về khoa học, công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh đưa kiến thức và kinh nghiệm đến với nhiều quốc gia dân tộc và đặc biệt là tạo tiền đề và điều kiện cho các quốc gia đi sau rút ngắn lộ trình CNH. 

– Toàn cầu hóa kinh tế mang lại những nguồn lực rất quan trọng và cần thiết cho các nước đang phát triển, tạo khả năng cho các nước này có thể phát triển rút ngắn, nhưng đồng thời nó cũng yêu cầu các nước đang phát triển phải xây dựng được chiến lược phát triển quốc gia theo hướng có khả năng “bắt nhịp” và “thích nghi” được với xu hướng phát triển hiện đại, nếu không muốn tụt hậu ngày càng xa hơn. 

Rõ ràng là xu thế toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển kinh tế tri thức đang làm thay đổi mạnh mẽ nội dung và bước đi của quá trình CNH, HĐH và nó đòi hỏi CNH, HĐH ở những nước đi sau (như Việt Nam) phải đồng thời thực hiện hai quá trình: (1) Xây dựng nền công nghiệp theo hướng hiện đại. (2) Phát triển kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là hai nội dung của một quá trình diễn ra đồng thời và phải được thực hiện đồng thời. Đảng ta đã xác định: CNH, HĐH ở nước ta phải dựa vào tri thức, theo con đường đi tắt, rút ngắn. CNH, HĐH phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ một nền kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. 

Từ một trình độ thấp về kinh tế và kỹ thuật, muốn đi lên nhanh, và phát triển theo hướng hiện đại cần kết hợp phát triển tuần tự với phát triển nhảy vọt. Nền kinh tế nước ta phải phát triển theo mô hình “lồng ghép”, một mặt, phải phát triển nông nghiệp và các ngành công nghiệp cơ bản, mặt khác, đồng thời phát triển những ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao. 

Trên thế giới ngày nay, công nghiệp hóa không chỉ gắn với các mục tiêu, giải pháp có “tính chất truyền thống”, mà phải đạt tới mục tiêu hiện đại và dựa trên các công cụ, giải pháp hiện đại. Theo nghĩa đó, công nghiệp hóa phải là quá trình hiện đại hóa. Vì thế, CNH, HĐH được hiểu là quá trình công nghiệp hóa với các mục tiêu và giải pháp phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển hiện đại. Nắm bắt được xu hướng phát triển hiện đại và trên cơ sở tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta, Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN”, “phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm. Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt”. 

Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. 

Như vậy, có thể hiểu rằng, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là một phương thức CNH mới trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ. 

Chỉ có đẩy nhanh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức mới có thể sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triến; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. 

2. Một số định hướng chủ yếu thực hiện CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức 

Thứ nhất, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, với những vấn đề cơ bản sau đây. 

– Hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái nhiệt đới đa dạng sản phẩm hàng hóa, tỷ suất hàng hóa, chất lượng, năng suất và khả năng cạnh tranh cao, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương. 

– Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ. 

– Chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, các vùng chuyên hóa tập trung. Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở nông thôn. Thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn phù hợp với điều kiện của từng vùng. 

– Xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh. Xây dựng nông thôn mới theo hướng dân chủ, công bằng, nông dân có cuộc sống no đủ, có đời sống văn hóa lành mạnh, có môi trường sạch. 

Thứ hai, phát triển kinh tế vùng 

– Đẩy mạnh CNH, HĐH đòi hỏi tập trung phát triển trước hết một số vùng có khả năng tăng trưởng mạnh nhất, tạo động lực lan tỏa đến các vùng khác trong nước. 

– Quy hoạch phát triển các vùng trọng điểm phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể của cả nước và tạo các mối liên kết kinh tế cơ bản giữa các vùng và trong nội bộ từng vùng trên cơ sở phân công lao động, đưa vào lợi thế phát triển của mỗi vùng. 

– Cần đặc biệt quan tâm phát triển những vùng có thế mạnh tiềm năng tự nhiên cho phép tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập… Đồng thời, có cơ chế chính sách để tạo điều kiện cho các vùng còn nhiều khó khăn phát huy được tiềm năng của mình để phát triển nhanh, đặc biệt là vùng biên giới, hải đảo, các vùng Tây Nguyên Tây Nam và Tây Bắc. 

Thứ ba, phát triển nhanh hơn công nghiệp xây dựng và dịch vụ 

– Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghệ chế tác, công nghiệp phần mềm, công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động. Phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất. 

– Khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển mạnh các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế và các công ty xuyên quốc gia. 

– Trên cơ sở bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để xây dựng các kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Phát triển công nghiệp năng lượng đi đôi với công nghệ tiết kiệm năng lượng. Hoàn chỉnh một bước cơ bản mạng lưới giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước… Tăng nhanh năng lực và hiện đại hóa bưu chính – viễn thông. 

– Phát triển vượt bậc các ngành dịch vụ. 

Phát triển nhanh khu vực dịch vụ đáp ứng được yêu cầu và phù hợp với tiềm năng còn rất lớn của nước ta và xu hướng phát triển chung của thế giới; tận dụng tốt thời cơ hội nhập kinh tế để tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ, đưa tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ cao hơn tốc độ tăng GDP. 

Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và sức cạnh tranh cao. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống, mở mang các dịch vụ mới, nhất là những dịch vụ cao cấp, dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Hiện đại hóa và mở rộng các dịch vụ ngân hàng theo kịp yêu cầu phát triển của thị trường tài chính, tiền tệ và hội nhập kinh tế quốc tế. 

Nhà nước kiểm soát chặt chẽ độc quyền và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường dịch vụ. 

Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển 

– Phát triển nguồn nhân lực là khâu quyết định triển vọng của quá trình CNH, HĐH rút ngắn. Điều này thể hiện như sau: 

+ Khắc phục những yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực nước ta để đạt mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế thành công và củng cố các cơ sở tăng trưởng bền vững. 

+ Đây là cách thức đúng đắn để đạt mục tiêu phát triển con người. 

+ Phát triển nguồn nhân lực chính là tạo lập cơ sở quan trọng để tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức. 

Bởi vậy, chiến lược phát triển nguồn nhân lực phải được xác định là một nội dung trung tâm của phát triển bền vững và của quá trình hiện đại hóa. 

Phát triển nguồn nhân lực cần được thực hiện theo hai hướng: Phát triển con người và hiện đại hóa khâu giáo dục, đào tạo. Ở đây, phát triển con người là nền tảng, hiện đại hóa giáo dục, đào tạo là trung tâm. Ở nước ta hiện nay, giáo dục, đào tạo còn lạc hậu và chưa thích ứng với việc hình thành nguồn nhân lực của quá trình hiện đại hóa. Do đó, hiện đại hóa giáo dục, đào tạo chứ không chỉ dừng ở cải cách là một vấn đề trọng tâm, mang tính tiên quyết của quá trình hiện đại hóa. Gắn với quá trình hiện đại hóa giáo dục, đào tạo, việc đầu tư cho giáo dục đào tạo trong mối quan hệ với hiện đại hóa nguồn nhân lực, được xem là đầu tư cho sản xuất, thuộc “ngành công nghiệp nặng” và là đầu tư mang tính hiệu quả nhất. 

– Phát triển khoa học và công nghệ phù hợp xu thế phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ. Chú ý đi ngay từ đầu vào công nghệ hiện đại đối với các lĩnh vực then chốt và từng bước mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời, chú trọng đúng mức việc phát triển công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm. 

Trong vấn đề này, có ba điểm nhấn quan trọng. 

a. Phát triển khoa học tự nhiên và công nghệ. Phát huy những năng lực nội sinh đi đôi với tiếp thu, làm chủ, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ thế giới. Phát triển các công nghệ cao, công nghệ thông tin, viễn thông, sinh học, vật liệu mới, tự động hóa và sản xuất các dạng năng lượng mới. Phát triển hệ thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ. 

b. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng Nhà nước đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia đạt trình độ khu vực và thế giới, xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của một số lĩnh vực trọng điểm; xóa bỏ cơ chế hành chính bao cấp, thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Huy động các thành phần kinh tế, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nâng cao chất lượng và khả năng thương mại của các sản phẩm khoa học và công nghệ; đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp. 

c. Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút, trọng dụng các nhà khoa học, công nghệ tài giỏi ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. 

3. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay 

Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng có ghi “Trong 5 năm tới, chúng ta chủ trương tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức”. 

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN và đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là hai nội dung có quan hệ thống nhất, hữu cơ của quá trình phát triển rút ngắn để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hưởng hiện đại. 

Có thể khẳng định rằng: “Công cuộc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ toàn diện và đồng bộ hơn trong những năm tới phải lấy việc hoàn thiện thế chế KTTT định hướng XHCN để phát huy tối đa nội lực, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là nội dung cơ bản. 

Việc hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, để thúc đẩy nhanh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, phải đảm bảo: 

Một là, thực hiện mục tiêu chiến lược của sự phát triển KTTT là “quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh tiến lên hiện đại trong một xã hội do nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp bức và bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”; “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. 

Muốn vậy, phải có tăng trưởng và phát triển kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và quản lý có hiệu quả nền KTTT. 

Hai là, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh. 

Các chủ thể chế kinh tế thuộc các thành phần kinh tế cấu thành bộ phận quan trọng của thể chế kinh tể thị trường. Ở đây, các chủ thể kinh tế đóng vai trò “người chơi” trong nền kinh tế thị trường. 

Tư duy nhất quán của Đảng ta là các thành phần kinh tế, các chủ thể kinh tế không phân biệt hình thức sở hữu đều bình đẳng với nhau và bình đẳng trước pháp luật và Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên xã hội, mọi thành phần kinh tế phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo, kinh nghiệm quản lý và nhân tài, vật lực để tổ chức sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều của cải cho xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. 

Về phát triển mạnh các thành phần kinh tế, chúng tôi muốn nhấn mạnh hai điểm: 

Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của doanh:nghiệp nhà nước. 

Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân. Muốn thế cần phải: 1/ thừa nhận và khẳng định rằng: Phát triển kinh tế tư nhân trong nền KTTT định hướng XHCN là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Kinh tế tư nhân là một yếu tố cấu thành cơ bản và bình đẳng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. 2/ Cần có một môi trường vĩ mô ổn định và thật sự mang tính khuyến khích phát triển đối với kinh tế tư nhân. 

Ba là, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quản vận hành các thị trường cơ bản, theo cơ chế cạnh tranh tự do, lành mạnh. 

Trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, các loại thị trường đang từng bước được hình thành, còn thiếu nhiều yếu tố tiềm ẩn đan xen, thị trường chưa được hình thành một cách đồng bộ. Do đó, phát triển đồng bộ hệ thống các loại thị trường cơ bản là một nội dung quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở nước ta. 

Để phù hợp với thể chế KTTT hiện đại, các loại thị trường: Hàng hóa và dịch vụ, sức lao động, tài chính, bất động sản, khoa học và công nghệ… tất yếu phải được hình thành và phát triển đồng bộ. Tính đồng bộ của các loại thị trường trong nền KTTT ở nước ta, bao gồm: 

a. Đồng bộ về các loại thị trường. 

b. Đồng bộ về các điều kiện để xây dựng và phát triển hệ thống thị trường hoàn chỉnh. 

c. Đồng bộ về trình độ phát triển. 

Để phát triển từng loại thị trường, cần có những giải pháp cụ thể, thích ứng với điều kiện của một nền kinh tế có điểm xuất phát thấp và đang trong giai đoạn chuyển đổi. Trong điều kiện đó, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo lập các điều kiện môi trường cho các loại thị trường nhanh chóng hình thành và phát triển. 

Bốn là, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước 

KTTT định hướng XHCN muốn phát triển có hiệu quả cần có sự quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, vai trò của Nhà nước trong nền KTTT phải phù hợp với điều kiện của cơ chế thị trường, phải tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan, nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và các công cụ chính sách vĩ mô để điều tiết kinh tế thị trường. Vấn đề cơ bản là, đẩy mạnh cải cách bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý. 

Đổi mới và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế là điều kiện tiên quyết nhằm không ngừng nâng cao năng lực nhà nước, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế. Muốn vậy, phải xây dựng một nhà nước hiện đại, theo hướng: 1. Xây dựng bộ máy nhà nước với một cơ cấu hợp lý, gọn nhẹ có hiệu lực cao cả trong việc lập pháp, hành pháp, tư pháp và có hệ thống hành chính hiện đại. 

2. Có đội ngũ cán bộ, công chức có đủ trình độ, năng lực và thích ứng với xu thế phát triển hiện đại. 

3. Có trang thiết bị làm việc hiện đại và một hệ thống thông tin hiện đại… hình thành chính phủ điện tử. 

4. Có nền tài chính mạnh. 

Theo Chu Văn Cấp, tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận, tháng 8/2006

The post Tìm hiểu vấn đề “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” trong Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng | Tư liệu văn kiện Đảng appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Chính phủ điện tử, Chính phủ số và thực tiễn tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử tại tỉnh Quảng Trị hiện nay https://evbn.org/chinh-phu-dien-tu-chinh-phu-so-va-thuc-tien-tang-cuong-ung-dung-cong-nghe-thong-tin-thuc-day-xay-dung-chinh-quyen-dien-tu-tai-tinh-quang-tri-hien-nay-1680773399/ Thu, 06 Apr 2023 09:30:01 +0000 https://evbn.org/chinh-phu-dien-tu-chinh-phu-so-va-thuc-tien-tang-cuong-ung-dung-cong-nghe-thong-tin-thuc-day-xay-dung-chinh-quyen-dien-tu-tai-tinh-quang-tri-hien-nay-1680773399/   ThS. Nguyễn Thị Diệu Hằng Khoa: Nhà nước và Pháp luật        Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ Ban...

The post Chính phủ điện tử, Chính phủ số và thực tiễn tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử tại tỉnh Quảng Trị hiện nay appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

 

ThS. Nguyễn Thị Diệu Hằng
Khoa: Nhà nước và Pháp luật

       Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030 xác định: “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ thúc đẩy hoàn thành xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số”. Trên cơ sở đó, tỉnh Quảng Trị ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 04/11/2021 của Tỉnh ủy Quảng Trị Về chuyển đổi số tỉnh Quảng Trị đến năm 2025 định hướng đến năm 2030 với mục tiêu tổng quát:“Triển khai chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp; phát triển mạnh kinh tế số và xã hội số; hướng đến lợi ích của người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu đến năm 2030, Quảng Trị cơ bản hoàn thành các mục tiêu tại Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Từng bước nâng thứ hạng của Quảng Trị trên Bảng xếp hạng đánh giá chỉ số Chuyển đổi số (DTI) hàng năm”.
       Để làm rõ quan điểm cũng như sự triển khai của tỉnh Quảng Trị về vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử, chúng ta nghiên cứu các nội dung sau:
       Về thuật ngữ Chính phủ điện tử được hiểu là “Sự hoạt động liên thông của cả hệ thống các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước có ứng dụng một cách có hiệu quả những thành tựu của khoa học, công nghệ thông tin điện tử để bảo đảm việc chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và cung ứng đầy đủ, khẩn trương các thông tin cho tất cả mọi tổ chức, cá nhân thông qua các phương tiện thông tin điện tử” (Trong cuốn sách Một số thuật ngữ hành chính do Viện nghiên cứu hành chính thuộc Học viện Hành chính quốc qua biên soạn).
       Trong thời gian qua, quá trình xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa cơ quan nhà nước, xây dựng một Chính phủ hiệu lực, hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế – xã hội.
       Ngày 15/6/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 942/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
       Theo đó, Chính phủ số là Chính phủ “có toàn bộ hoạt động an toàn trên môi trường số, có mô hình hoạt động được thiết kế lại và vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số, để có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, đưa ra quyết định kịp thời hơn, ban hành chính sách tốt hơn, sử dụng nguồn lực tối ưu hơn, kiến tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia, giải quyết hiệu quả những vấn đề lớn trong phát triển và quản lý kinh tế – xã hội”.
       Trong khi Chính phủ điện tử tập trung vào dịch vụ công trực tuyến, thì Chính phủ số chuyển mọi hoạt động của Chính phủ lên môi trường số, hoạt động dựa trên dữ liệu và cung cấp thêm các dịch vụ mới. Chính phủ điện tử chủ yếu dùng công nghệ thông tin còn Chính phủ số là dùng công nghệ số, sử dụng dữ liệu để ra quyết định, coi dữ liệu là một tài nguyên mới. Và như vậy, cơ quan nhà nước mở dữ liệu và cung cấp dữ liệu mở phục vụ phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Các cơ quan nhà nước kết nối, chia sẻ dữ liệu để người dân chỉ phải khai báo, cung cấp dữ liệu một lần cho các cơ quan nhà nước và các đơn vị cung ứng dịch vụ công thiết yếu.
       Có thể nói, Chính phủ số là Chính phủ điện tử được bổ sung, phát triển từ cách tiếp cận, cách triển khai mới, nhờ vào sự phát triển của công nghệ số và như vậy, Chính phủ số đã bao hàm trong nó khái niệm Chính phủ điện tử.
       Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó: “Xác định nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số”.
       Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh: “Đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số, trong đó tập trung phát triển hạ tầng số phục vụ các cơ quan nhà nước một cách tập trung, thông suốt; thiết kế đồng bộ, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống tích hợp, kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu lớn, nhất là dữ liệu về dân cư, y tế, giáo dục,… Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số; đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số”.
       Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW (Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020), đồng thời Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, đặt ra nhiệm vụ: “Chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phát triển Chính phủ điện tử, hướng đến Chính phủ số; cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trên thiết bị di động thông minh để người dân, doanh nghiệp có trải nghiệm tốt nhất về dịch vụ, nhanh chóng, chính xác, không giấy tờ, giảm chi phí; cải thiện chỉ số xếp hạng quốc gia về Chính phủ điện tử”.
       Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 xác định: “Phát triển Chính phủ số một cách tổng thể, toàn diện, phát huy kết quả đạt được, tập trung nguồn lực, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, có giải pháp, cách làm đột phá, mang tính khác biệt, để cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu phát triển Chính phủ điện tử vào năm 2021 và hình thành Chính phủ số vào năm 2025”.
       Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Kế hoạch số 5807/KH-UBND ngày 17/12/2020 về việc Triển khai thực hiện Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ và Kế hoạch số 190-KH/TU ngày 12/8/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Kế hoạch số 5884/KH-UBND ngày 21/12/2020 về Ứng dụng công nghệ thông tin phát triển Chính quyền số và bảo đảm an toàn thông tin mạng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước tỉnh Quảng Trị năm 2021 và giai đoạn 2021 – 2025.
       Mục tiêu đặt ra đến năm 2025 về cơ bản Quảng Trị hoàn thành việc chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Xây dựng chính quyền điện tử, phát triển đô thị thông minh trên địa bàn tỉnh. Phấn đấu đến năm 2025, thành phố Đông Hà và thị xã Quảng Trị đáp ứng các tiêu chí cơ bản của đô thị thông minh. Phấn đấu kinh tế số chiếm khoảng 20% tổng sản phẩm trong tỉnh.
Định hướng đến năm 2030, Quảng Trị phủ sóng mạng di động 5G, mọi người dân được truy cập Internet băng thông rộng với chi phí thấp. Hoàn thành xây dựng chính quyền điện tử; triển khai đồng bộ hệ thống các dịch vụ thiết yếu thông minh để phục vụ người dân như: Điện, nước, ngân hàng, thương mại, điện tử, du lịch, môi trường, quy hoạch và nhà ở đô thị… thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu lớn của đô thị thông minh; các đô thị lớn trên địa bàn tỉnh đạt hoặc tiệm cận các tiêu chí đô thị thông minh. Kinh tế số chiếm khoảng 30% tổng sản phẩm trong tỉnh.
       Ngay từ năm 2019, Quảng Trị đã ứng dụng thành công phòng họp không giấy tờ VNPT- eCabinet. Bên cạnh đó, hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến từ Trung ương đến cơ sở hoạt động ổn định, hiệu quả, đảm bảo phục vụ tốt công tác lãnh đạo, quản lý. Các cơ quan nhà nước xử lý công việc trên môi trường mạng thông qua Hệ thống Quản lý văn bản và Hồ sơ công việc (VNPT – iOffice) trên phạm vi toàn tỉnh, đồng thời thực hiện ký số văn bản điện tử, xử lý văn bản trên các ứng dụng công nghệ thông tin. Tại Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Trị đã triển khai tích hợp, đồng bộ dữ liệu 1997 dịch vụ công, cung cấp một số dịch vụ công trực tuyến thiết yếu cho doanh nghiệp và người dân, như: đăng ký doanh nghiệp, kê khai thuế, nộp thuế, hải quan điện tử, bảo hiểm xã hội… và thực hiện dịch vụ thanh toán trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công trực tuyến của tỉnh.
       Ngoài ra, mạng giáo dục Việt Nam (VnEdu) đã triển khai đến hơn 150 Trường học, hệ thống tin nhắn VnEdu hơn 70.000 sổ liên lạc điện tử. VNPT – HIS đã phủ đến hơn 85% cơ sở y tế trên địa bàn. Dịch vụ Tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm VNPT- Check cho hơn 80 đơn vị doanh nghiệp sản xuất và cung cấp sản phẩm nông nghiệp ra thị trường, Hệ thống quản lý hành trình tàu cá trên biển VNPT – VSS giúp chi cục thuỷ sản quản lý hơn 100 tàu thuyền trên biển.
       Tháng 01/2021, Trung tâm Giám sát điều hành thông minh (IOC) tỉnh Quảng Trị được đưa vào hoạt động. Trung tâm IOC đặt tại sở Thông tin và Truyền thông, là hệ thống công nghệ thông tin có chức năng giám sát, điều hành, tổng hợp nhiều hoạt động nhằm thu thập, chuẩn hóa dữ liệu, phân tích, xử lý thông tin phục vụ xây dựng chính quyền điện tử hướng đến chính quyền số, phát triển đô thị thông minh.
       Bên cạnh những kết quả đạt được, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử tại tỉnh Quảng Trị gặp phải những khó khăn nhất định. Hạ tầng công nghệ thông tin còn yếu, chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu số trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số. Quy mô kinh tế số còn nhỏ; việc chuyển đổi số đặt ra nhiều thách thức cả về kinh tế và xã hội, nhất là ở các vùng khó khăn, miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…
       Những khó khăn trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là do nhận thức về chuyển đổi số chưa đầy đủ, công tác truyền thông về chuyển đổi số, Chính phủ điện tử, Chính phủ số chưa kịp thời. Nguồn lực đầu tư còn hạn chế; quản lý nhà nước về chuyển đổi số chưa theo kịp thực tiễn. Thiếu nguồn nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin. Phần lớn người dân chưa có thói quen giao dịch trực tuyến, việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn nhiều khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…
       Để tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin thúc đẩy phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 đã xác định 06 nhiệm vụ trọng tâm của các địa phương: (1) Hoàn thiện quy chế, quy định; (2) Phát triển hạ tầng số; (3) Phát triển nền tảng, hệ thống; (4) Phát triển dữ liệu; (5) Phát triển ứng dụng, dịch vụ số; (6) Bảo đảm an toàn, an ninh mạng.
       Trong quá trình đó, để tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử tại tỉnh Quảng Trị cần thực hiện một số giải pháp như sau:
       Thứ nhất, công tác truyền thông nâng cao nhận thức về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng vai trò rất quan trọng. Tăng cường công tác tuyên truyền tới cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân về những lợi ích của các ứng dụng dịch vụ công trực tuyến đem lại, hình thành những trung tâm hỗ trợ người dân, đặc biệt là hỗ trợ người lớn tuổi sử dụng công nghệ thông tin.
       Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cụ thể hoá các quy định của Đảng và Nhà nước tạo cơ sở pháp lý để phát triển chính quyền điện tử trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Xây dựng chính quyền điện tử gắn liền với đẩy mạnh cải cách phương thức, lề lối làm việc. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin thúc đẩy chính quyền các cấp chuyển từ hình thức làm việc trên giấy tờ sang xử lý công việc trên môi trường điện tử, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính công khai, minh bạch, hiện đại.
       Thứ ba, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của xây dựng chính quyền điện tử, phát triển đô thị thông minh gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính. Tăng cường tập huấn các kỹ năng quản lý dịch vụ công trực tuyến, chữ ký số, kỹ năng tham gia, điều hành họp trực tuyến… Chú trọng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên trách về công nghệ thông tin bảo đảm an ninh mạng, thiết kế, quản trị hệ thống, cổng thông tin điện tử…
       Thứ tư, xây dựng các điểm truy cập internet công cộng để tạo cơ hội thuận lợi cho người dân khi không có điều kiện truy cập internet tại nhà. Đồng thời sử dụng các chương trình giáo dục và thông tin công cộng để giúp những người dân sử dụng được các công nghệ mới. Cần đầu tư xây dựng hạ tầng thiết bị, viễn thông băng thông rộng triển khai đến tận thôn, bản hướng đến xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu kết nối liên thông với các địa phương, các bộ, ngành, quốc gia.
       Thứ năm, chú trọng phát triển và hoàn thiện các phần mềm, nền tảng bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong quá trình xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số. Đồng thời chú trọng quy trình tiếp nhận, xử lý, khai thác thông tin, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục các sự cố, lỗ hổng về an ninh mạng. Ngoài ra, cần đảm bảo các nguồn lực để triển khai xây dựng và phát triển chính quyền điện tử. Có cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực, các doanh nghiệp tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quá trình xây dựng chính quyền điện tử, phát triển đô thị thông minh.
       Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin nhằm góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số là xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới. Do vậy, trong thời gian tới, tỉnh Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung cần nỗ lực vượt qua thử thách, tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư để góp phần xây dựng một Chính phủ hiện đại, văn minh./.

The post Chính phủ điện tử, Chính phủ số và thực tiễn tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử tại tỉnh Quảng Trị hiện nay appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Xây dựng chính phủ điện tử – Bước phát triển tất yếu trong quá trình cải cách hành chính https://evbn.org/xay-dung-chinh-phu-dien-tu-buoc-phat-trien-tat-yeu-trong-qua-trinh-cai-cach-hanh-chinh-1680773387/ Thu, 06 Apr 2023 09:29:49 +0000 https://evbn.org/xay-dung-chinh-phu-dien-tu-buoc-phat-trien-tat-yeu-trong-qua-trinh-cai-cach-hanh-chinh-1680773387/ Xây dựng chính phủ điện tử – Bước phát triển tất yếu trong quá trình cải cách hành chính  1. Chính phủ điện tử –...

The post Xây dựng chính phủ điện tử – Bước phát triển tất yếu trong quá trình cải cách hành chính appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Xây dựng chính phủ điện tử – Bước phát triển tất yếu trong quá trình cải cách hành chính

 1. Chính phủ điện tử – phương tiện quan trọng để đạt được mục tiêu của cải cách hành chính ở Việt Nam

Hiện nay, sự nghiệp Đổi mới đất nước, trong đó đặc biệt là đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, thì vấn đề cải cách hành chính trở thành một nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách. Tuy nhiên, muốn công việc đó thành công, xây dựng CPĐT phải được coi là một giải pháp cấp bách, một bước đi tất yếu. Vậy CPĐT là gì ? Nó mang lại những thay đổi, tiện ích nào mà được coi là “điểm nút”của quá trình cải cách hành chính? 

Do những tiện ích to lớn mà nó mang lại, CPĐT là vấn đề “nóng”, được nhiều người quan tâm và cũng có rất nhiều định nghĩa về nó. Hiểu một cách đơn giản, CPĐT là chính phủ ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của công nghệ thông tin – truyền thông để “số hóa”các thủ tục,“tự động hóa”các quy trình làm việc nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác điều hành, quản lý của mình và cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho công dân, doanh nghiệp.

Để thực hiện chức năng quản lý, điều hành và cung ứng dịch vụ công, trong CPĐT tồn tại 4 dạng giao dịch chính: Chính phủ với công dân (G2C); Chính phủ với doanh nghiệp (G2B); Chính phủ với các cơ quan trong chính phủ (G2G); Chính phủ với công chức, viên chức (G2E).

Trong hoạt động của CPĐT, cung cấp dịch vụ công điện tửlà một nhiệm vụ chủ chốt và nó được vận hành theo 4 mức độ sau đây. Mức độ 1: Cổng thông tin điện tử đưa ra các thông tin đầy đủ về quy trình thực hiện dịch vụ. Mức độ 2: Cổng thông tin điện tử cho phép người sử dụng tải các mẫu đơn, hồ sơ để in ra giấy hoặc điền vào các mẫu. Mức độ 3: Cổng thông tin điện tử cho phép người sử dụng điền trực tuyến vào các mẫu đơn, hồ sơ và gửi lại hồ sơ đó tới địa chỉ có trách nhiệm thụ lý hồ sơ. Mức độ 4: Người sử dụng dịch vụ có thể thanh toán chi phí trực tuyến và việc trả kết quả có thể thực hiện trực tuyến hoặc gửi qua đường bưu điện. Khi dịch vụ công trực tuyến “chạy”hiệu quả ở mức độ 3 và mức độ 4 tức là CPĐT đã đạt chỉ số phát triển cao.

Cho dù đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin vào hoạt động của chính phủ là đặc điểm của CPĐT nhưng CPĐT không đơn thuần là sự “tin học hóa”, “số hóa”. Xây dựng CPĐT không bao giờ là mục đích “tự thân” mà là để phục vụ cho các mục tiêu cải cách.  Cũng không thể tiến hành nó một cách đơn độc mà phải gắn nó với công cuộc cải cách hành chính. Thực tế cho thấy, không thể xây dựng một CPĐT khi vẫn duy trì một nền hành chính yếu kém, không vận hành theo một quy trình khoa học. Vì thế, trước khi triển khai việc xây dựng CPĐT, chính phủ phải tổ chức lại hoạt động của mình, phải tối giản hóa, khoa học hóa các quy trình, thủ tục hành chính. Chính phủ cũng phải phân định rõ chức năng, trách nhiệm của từng ban, ngành trong hệ thống chính phủ để mỗi bộ phận thực hiện đúng chức năng đã “mã hóa”của họ. Ngược lại, với sự trợ giúp của các phương tiện và quy trình công nghệ thông tin hiện đại, CPĐT sẽ giúp công cuộc cải cách hành chính đạt được mục tiêu đề ra là tăng cường năng lực, hiệu quả điều hành của chính phủ, mang lại sự hài lòng của dân chúng, tăng cường sự minh bạch của nền hành chính quốc gia, tinh gọn bộ máy để giảm chi tiêu của chính phủ và nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ công chức. Nói một cách khác, chính phủ điện tử mang lại những lợi ích sau đây.

Thứ nhất, Chính phủ điện tử góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người xây dựng nền dân chủ cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á đã khẳng định: Dân chủ nghĩa là “dân là chủ và dân làm chủ”. Trong quá trình Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi dân chủ là một giá trị cần hướng tới, là một đặc trưng bản chất của CNXH ở Việt Nam. Từ nhận thức đó, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bảo đảm quyền làm chủ cho người dân là mục tiêu hàng đầu của công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam. CPĐT chính là phương tiện hữu hiệu để đạt mục tiêu đó.

Trước hết, CPĐT cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho người dân. Thời đại ngày nay, nhu cầu tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mỗi người là rất cao. CPĐT với sự cập nhật thường xuyên tin tức sẽ giúp người dân nhanh chóng tiếp cận khối lượng thông tin chuẩn xác một cách dễ dàng và thường xuyên.

CPĐT còn cung cấp dịch vụ công trực tuyến nên giúp người dân và doanh nghiệp giảm thiểu thời gian chờ đợi và chi phí đi lại. Khi có CPĐT, người dân và doanh nghiệp có thể thực hiện việc cần làm qua cổng thông tin điện tử ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào mà không phải chờ đợi tại các trụ sở cơ quan nhà nước trong giờ hành chính như trước kia. Điều đó đã làm giảm chi phí, nâng cao chất lượng sống của người dân và “sức khỏe”của doanh nghiệp.

Trong chế độ dân chủ, nhân dân có quyền kiểm soát nhà nước nhưng muốn kiểm soát thì nhân dân phải có thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời. Với khối lượng thông tin do CPĐT mang lại, người dân có điều kiện thực hiện tốt hơn chức năng giám sát, kiểm tra của mình; đồng thời có thể tham gia phản biện, xây dựng chính sách, tố cáo các hành vi sai trái của đội ngũ cán bộ, công chức để Chính phủ hoạt động ngày càng tốt hơn. Tóm lại, CPĐT đã nâng cao vai trò làm chủ của người dân, đã đưa chính phủ tới gần dân và đưa dân tới gần chính phủ.

Thứ hai, Chính phủ điện tử góp phần minh bạch hóa nền hành chính quốc gia.

Minh bạch, công khai là đặc tính của nền hành chính hiện đại nên cải cách hành chính phải hướng tới mục tiêu đó. CPĐT với việc cung cấp dịch vụ công cho người dân, cho doanh nghiệp theo hướng công khai, minh bạch sẽ hạn chế sự phiền hà, sách nhiễu, các việc làm tiêu cực của cán bộ, công chức trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Sự minh bạch, công khai trong phương thức quản lý và phục vụ của CPĐT sẽ góp phần đẩy lùi căn bệnh tham nhũng, quan liêu, độc quyền, lười biếng của đội ngũ cán bộ, công chức. Bằng sự truy cập, kiểm tra các dữ liệu điện tử, người đứng đầu các cơ quan công quyền có thể biết chính xác chuyên viên nào làm việc tận tâm, nhanh gọn, chuyên viên nào “ngâm”văn bản, sách nhiễu người dân, doanh nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp. Đơn giản như việc chấm công, giám sát giờ giấc của đội ngũ công chức trước đây phải thực hiện một cách thủ công thì nay các thiết bị điện tử hiện đại kết nối mạng Internet sẽ chuyển dữ liệu về máy chủ để phục vụ cho công tác quản lý nhân sự. Đó là về mặt lý thuyết còn trên thực tế, khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đặt ra mục tiêu xây dựng một chính phủ “liêm chính”thì yêu cầu về tính minh bạch, công khai, trong sạch của nền hành chính càng được nâng cao. Phương tiện đặc hiệu để đạt mục tiêu đó chính là đẩy nhanh hoạt động của CPĐT.

Thứ ba, Chính phủ điện tử góp phần tinh giản biên chế và nâng cao năng lực điều hành của chính phủ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng bộ máy nhà nước là công cụ hữu hiệu để phục vụ nhân dân chứ không phải là gánh nặng cho dân nên tinh giản bộ máy hành chính luôn là mục tiêu cần hướng tới. Nghị quyết 01/NQ-CP Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2018 do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký ngày 1-1-2018 đã xác định mục tiêu trong năm 2018 phải giảm 1,7% biên chế công chức so với năm 2015. Một trong những biện pháp quan trọng để đạt mục tiêu đó chính là đẩy mạnh việc xây dựng CPĐT. Nếu Chính phủ truyền thống cần nhiều công chức tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, giấy tờ và sau đó chuyển lên quản lý cấp cao hơn thì trong CPĐT, người dân và doanh nghiệp sẽ tương tác trực tiếp với người có thẩm quyền quyết định. CPĐT với các chương trình tự động đã được “mã hóa”sẽ nâng cao tốc độ xử lý văn bản, các số liệu cần tính toán nên năng suất lao động của cán bộ sẽ tăng lên nhiều lần so với cách làm thủ công trước đây. CPĐT cho phép thực hiện việc giao ban điện tử, họp trực tuyến, nên giảm được nạn giấy tờ. Với những tiện ích đó, chi phí hoạt động của Chính phủ sẽ được giảm đi đáng kể mà năng lực quản lý của Chính phủ lại được nâng lên.

Thứ tư, Chính phủ điện tử tạo tiền đề cho việc tiếp cận cuộc cách mạng 4.0.  Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được phát triển trên nền tảng khoa học công nghệ nên để có thể tiếp cận xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, một giải pháp quan trọng là áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động hành chính, dịch vụ công của các cơ quan nhà nước. Trong thời đại cách mạng 4.0, yêu cầu đặt ra không chỉ là xây dựng CPĐT mà CPĐT ấy phải có công nghệ tiên tiến nhất, tức là đơn giản nhất, thuận tiện nhất, phổ biến nhất để người dân dễ dàng tiếp cận. Khái niệm “Chính phủ điện tử thế hệ mới”đã ra đời là vì thế.

Tóm lại, sự ra đời của CPĐT thực sự là một cuộc cách mạng trong tiến trình phát triển hành chính công.Nó tạo ra một phong cách lãnh đạo, điều hành hiện đại, hiệu quả và minh bạch, nâng cao mức độ hài lòng cho nhân dân và doanh nghiệp, khắc phục những điểm yếu cố hữu của hệ thống hành chính truyền thống như nạn quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, bưng bít thông tin. Sự hoạt động của CPĐT sẽ chuyển nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ; chuyển từ quan hệ “xin – cho”sang quan hệ phục vụ, cung ứng dịch vụ hiện đại. Là phương tiện hữu hiệu để đạt được các mục tiêu mà công cuộc cải cách hành chính đặt ra, xây dựng chính phủ điện tử là bước đi tất yếu trong tiến trình cải cách hành chính ở Việt Nam. Nói cách khác, nếu không đẩy nhanh quá trình xây dựng CPĐT, công cuộc cải cách hành chính ở nước ta sẽ không thể thành công.

2. Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay

Sớm nhận ra sức mạnh to lớn của cuộc cách mạng công nghệ – thông tin, Chương trình Chính phủ điện tử tại Việt Nam đã được Nhà nước Việt Nam triển khai từ năm 1996 với tên gọi ban đầu là “Tin học hóa các hoạt động cơ quan nhà nước”. Đến năm 2015, chương trình được đổi tên thành “Xây dựng chính phủ điện tử”. Nghị quyết số 36a/ NQ – CP của Chính phủ Về chính phủ điện tử đề ra chủ trương “ứng dụng công nghệ thông tin kết chặt với công cuộc cải cách hành chính”. Trong nghị quyết đó, Chính phủ đã chỉ ra một số nhiệm vụ cấp bách sau đây: Xây dựng hệ thống thông tin điện tử thông suốt, kết nối liên thông văn bản điện tử, dữ liệu điện tử từ Chính phủ đến cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và ngược lại; 100% dịch vụ công sẽ được cung cấp trực tuyến; xây dựng Cổng dịch vụ công quốc giatại địa chỉ duy nhất trên Internet, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với tính năng của CPĐT…

Vấn đề xây dựng CPĐT càng trở nên cấp bách khi vào tháng 5-2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ban hành nghị quyết số 35/NQ – CP với chủ trương “đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ, đồng bộ cải cách hành chính với xây dựng chính phủ điện tử và kiểm soát hành chính, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ”.

Các nghị quyết của Chính phủ đã buộc các bộ, ngành, địa phương tăng cường ứng dựng CNTT trong công tác quản lý, nhất là trong xử lý hồ sơ hành chính, quản lý ngân sách, thuế, kho bạc, hải quan, bảo hiểm xã hội… Kết quả là, năm 2016, dựa vào 3 nhóm tiêu chí là hạ tầng viễn thông, nguồn nhân lực và dịch vụ công trực tuyến, Liên Hợp quốc đánh giá chỉ số phát triển CPĐT của Việt Nam ở hạng thứ 89/193 quốc gia, trong đó, chỉ số dịch vụ công trực tuyến đứng ở thứ hạng 74/193. Tính đến tháng 4-2017, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố đã cơ bản hoàn thành kết nối liên thông phần mềm quản lý văn bản tới Văn phòng Chính phủ, trừ một số bộ, cơ quan đặc thù. Tuy nhiên, tỷ lệ hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra trong nghị quyết 36a mới đạt 61,9%. Ứng dụng CNTT trong các cơ quan còn ở quy mô nhỏ, xử lý công việc qua mạng chưa nhiều, dịch vụ công đạt mức độ 3 và mức độ 4 còn ít(1). Có thể thấy: một CPĐT đúng nghĩa vẫn chưa có ở Việt Nam. Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do:

Trước hết, do hạ tầng công nghệ thông tin ở nước ta còn yếu kém nhưng kinh phí dành cho các việc này rất hạn hẹp. Hệ lụy của Đề án 112 – đề án “Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước”(2001- 2005) chưa được giải quyết triệt để đã tạo ra sự nghi ngờ về tính hiệu quả của việc đầu tư cho CNTT. Cho đến nay, trong hệ thống danh mục ngân sách nhà nước vẫn chưa có mục chi riêng cho việc ứng dụng công nghệ thông tin. Chỉ ở nơi nào người lãnh đạo quan tâm và hiểu rõ sức mạnh của Chính phủ điện tử thì họ mới bố trí kinh phí cho công việc này. Không chỉ nguồn ngân sách hạn chế mà việc phân bổ nguồn vốn xây dựng hạ tầng CNTT theo kiểu “dàn đều”đã dẫn đến kết quả: nơi làm tốt thì không có đủ nguồn lực để hoàn thiện; nơi thì dự án CNTT bị “đắp chiếu”, không có người vận hành, khai thác.

Chúng ta chưa có đủ nguồn lực con ngườiphù hợp với tính năng của CPĐT. Các chuyên gia về CPĐT trên thế giới đã chỉ ra rằng: Công nghệ là thứ ít quan trọng nhất trong việc xây dựng CPĐT; CPĐT không bao giờ là “cuộc dàn trận”về công nghệ; sự đầu tư đồng loạt về công nghệ chỉ là khâu cuối cùng. Để có một CPĐT thực thụ thì việc chuyển đổi tư duy điều khiển, mệnh lệnh, ban phát sang tư duy phụng sự người dân của đội ngũ công chức các cấp mới là điều quan trọng nhất(2).

Bên cạnh đó, sự thiếu quyết tâm của một số người đứng đầu trong việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý và quy trình, thủ tục hành chính chưa ổn định (do đang trong quá trình cải cách) cũng là rào cản đối với việc xây dựng CPĐT ở Việt Nam.

Trước áp lực của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những mục tiêu quan trọng của công cuộc cải cách hành chính, việc xây dựng CPĐT cần được tiếp tục triển khai một cách quyết liệt, thường xuyên, đồng bộ với một số nhóm giải pháp chính sau đây:

 – Nhóm giải pháp về mặt nhận thức.

Chính phủ cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò của công nghệ thông tin đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức trong việc phục vụ nhân dân theo phương thức hiện đại. Cán bộ, công chức các cấp, nhất là người đứng đầu các cơ sở phải có quyết tâm chính trị chuyển đổi nền hành chính “mệnh lệnh”, cơ chế “xin cho”, sang nền hành chính “phục vụ”, coi người dân thực sự là đối tác, khách hàng mà mình cần phục vụ thông qua sự trợ giúp của các phương tiện CNTT hiện đại. 

– Nhóm giải pháp về mặt chủ trương, chính sách.

Về mặt luật pháp, cần khẩn trương hoàn thiện các văn bản pháp luật về giao dịch điện tử, dịch vụ điện tử, chữ ký điện tử và công tác bảo mật; nhanh chóng hoàn thiện các quy định về điều kiện, thủ tục đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ, sản phẩm CNTT; tiếp tục hoàn thiện các chính sách ưu đãi về thuế để khuyến khích các nhà đầu tư phát triển thị trường CNTT tại Việt Nam.

Về mặt kỹ thuật, cần tập trung phát triển hạ tầng băng rộng, đẩy mạnh kết nối số trong các ngành, lĩnh vực; mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; hoàn thành việc xây dựng và đưa vào thử nghiệm Cổng Dịch vụ công quốc giatrên cơ sở dữ liệu chung. Muốn vậy, phải kiên quyết tránh nạn “cát cứ thông tin”. 

Về mặt tổ chức, cần nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng CPĐT. Thực tế cho thấy, muốn có CPĐT phải có các nhà “lãnh đạo điện tử”.Cán bộ đứng đầu phải là người thấu hiểu công năng và tính cần kíp của CPĐT nên luôn coi đó là một nhiệm vụ chính trị và luôn nỗ lực điều hành công việc trong môi trường mạng. Đây là điều không đơn giản vì thực tế cho thấy không ít cán bộ đứng đầu rất ngại thay đổi phương thức điều hành cũ; “ngại”sự minh bạch, giản tiện trong môi trường mạng sẽ làm giảm quyền hành, cơ hội trục lợi và làm tăng mức độ giám sát của người dân, của tổ chức đối với các hoạt động của họ. Nếu đội ngũ cán bộ đứng đầu không quyết tâm, không nỗ lực tiếp cận cái mới, xác định đây là một nhiệm vụ bắt buộc thì việc xây dựng CPĐT sẽ khó tiến triển.

Về công tác đào tạo,cần đẩy mạnh công tác chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ sức đáp ứng những yêu cầu của CPĐT. Trước hết, chúng ta đang rất cần đội ngũ chuyên gia về chuyên ngành CNTTđể làm công tác lập trình, tư vấn, điều chỉnh kỹ thuật cho các cơ quan chính phủ. Đội ngũ chuyên gia này phải làm tốt công tác an toàn, bảo mật, phải biết kết hợp hài hòa giữa tính an toàn và tính tiện ích vì hai đặc tính đó thường đối lập nhau. Để đề phòng nguy cơ mất dữ liệu, sửa đổi thông tin thì các biện pháp bảo đảm an ninh phải được thực hiện ở tất cả các tầng truy nhập. Công nghệ luôn đổi mới rất nhanh chóng nên việc hoàn thiện CPĐT sẽ là liên tục, không có điểm dừng. Do đó, cán bộ chuyên trách về CNTT phải không ngừng học tập và sáng tạo.

Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, Chính phủ cần thường xuyên tổ chức các khóa học về hành chính công hiện đại, CNTT để họ có được sự thành thục các kỹ năng làm việc trong CPĐT. Sau khi được đào tạo, bồi dưỡng, họ phải cam kết thay đổi cách thức làm việctheo quy chuẩn mà CPĐT yêu cầu.

Muốn có CPĐT thì phải có công dân điện tử. Để có được điều này thì Nhà nước phải có chiến lược giáo dục phù hợp để không ngừng nâng cao dân trí và bồi dưỡng kiến thức tin học cho nhân dân. Đặc biệt phải đẩy mạnh công tác phổ cập tin học cho nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để họ có thể khai thác được những tiện ích do CPĐT mang lại.

Ngoài ra, công tác thí điểm, tổng kết, nhân rộng mô hình tiên tiến và việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đã thành công trong việc xây dựng CPĐT cũng là những giải pháp quan trọng cần thực hiện.

Đẩy mạnh việc xây dựng CPĐT để có một nền hành chính hiện đại, đáp ứng nhu cầu của nhân dân và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước đang là một nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Việt Nam. Do cách mạng khoa học công nghệ luôn phát triển với tốc độ rất lớn nên cả hạ tầng CNTT lẫn tri thức về CNTT của con người luôn đứng trước nguy cơ tụt hậu. Vì thế, việc xây dựng, vận hành, hoàn thiện CPĐT sẽ là một quá trình liên tục, không có điểm dừng. Lúc này, Chính phủ cần có quyết tâm chính trị rất lớn, các chuyên gia phải có sự sáng tạo không ngừng, nhân dân phải tích cực ủng hộ, hợp tác bởi xây dựng CPĐT hiện là bước đi tất yếucủa công cuộc Đổi mới ở Việt Nam.

PGS, TS Trần Thị Minh Tuyết – Học viện Báo chí và Tuyên truyền

—————————–

(1) Nghị định 36a mới thực hiện được 61,9%, enternews.vn.

(2) Xây dựng Chính phủ điện tử – công nghệ không phải là tất cả, quantrimang.com.

Theo: lyluanchinhtri.vn

The post Xây dựng chính phủ điện tử – Bước phát triển tất yếu trong quá trình cải cách hành chính appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Xây dựng Chính quyền điện tử – Thực trạng và đề xuất một số giải pháp https://evbn.org/xay-dung-chinh-quyen-dien-tu-thuc-trang-va-de-xuat-mot-so-giai-phap-1680773367/ Thu, 06 Apr 2023 09:29:29 +0000 https://evbn.org/xay-dung-chinh-quyen-dien-tu-thuc-trang-va-de-xuat-mot-so-giai-phap-1680773367/ Để thực hiện thành công “Chính quyền diện tử”, cần có sự quyết tâm cao của toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên...

The post Xây dựng Chính quyền điện tử – Thực trạng và đề xuất một số giải pháp appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Để thực hiện thành công “Chính quyền diện tử”, cần có sự quyết tâm cao của toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; sự quan tâm chỉ đạo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; sự phối hợp của các cơ quan có liên quan.

       Có nhiều định nghĩa về “Chính quyền điện tử”, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra khái niệm mang tính tương đối: “Chính quyền điện tử” là môi trường quản lý, trong đó các cơ quan của Chính phủ sử dụng công nghệ điện tử trong hoạt động giúp cho người dân/doanh nghiệp tiếp cận các thông tin và dịch vụ công do Chính phủ cung cấp một cách thuận tiện, cải thiện chất lượng dịch vụ công và mang lại cơ hội tốt hơn cho người dân/doanh nghiệp trong cuộc sống, trong sản xuất, kinh doanh, trong việc đóng góp các ý kiến với các cơ quan của Chính phủ.

       1. Mục đích của “Chính quyền điện tử”

       – Người dân có thể đóng góp ý kiến dễ dàng hơn đối với các cơ quan của Chính phủ;

       – Người dân có thể nhận được các dịch vụ công tốt hơn từ các cơ quan của chính phủ bất kỳ lúc nào (24h x 7 ngày) tại bất kỳ đâu và vì bất kỳ lý do chính đáng nào;

       – Người dân có thể nhận được nhiều dịch vụ tích hợp hơn từ các cơ quan Chính phủ, bởi các cơ quan này sẽ phối hợp một cách hiệu quả hơn với nhau;

       – Người dân có được thông tin một cách tốt hơn vì họ có thể nhận được các thông tin cập nhật toàn diện về các chính sách và dịch vụ của Chính phủ.

       2. Cơ sở pháp lý xây dựng Chính quyền điện tử

       – Luật giao dịch điện tử năm 2005;

       – Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính;

       – Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số;

       – Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ về công tác văn thư;

       – Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước;

       – Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển chính phủ điện tử giai đoạn 2019 – 2020, định hướng đến 2025;

       – Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước.

       Một trong những nội dung quan trọng của các văn bản quy phạm pháp luật nói trên là việc quy định tài liệu điện tử có giá trị pháp lý như tài liệu giấy, cụ thể như sau:

       – Khoản 1, Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2018 quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tư về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số  quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số; Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần được đóng dấu của cơ quan tổ chức thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bởi chữ ký số cơ quan, tổ chức”;

       – Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 về công tác văn thư quy định: “Văn bản điện tử được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy”.

       3. Cơ sở hạ tầng thông tin quản lý phục vụ tin học hoá của các cơ quan Chính phủ hướng tới “Chính quyền điện tử”

       Khái niệm về nền kinh tế tri thức: khi thông tin và tri thức trở thành một dạng sản phẩm hàng hoá có giá trị cao trong nền kinh tế quốc dân thì những hàng hoá này tạo ra giá trị thặng dư rất lớn, hơn nữa nó được kết tinh trong giá trị sản xuất của tất cả các sản phẩm hàng hoá vật chất khác và có các đặc trưng sau:

       – Về dạng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế tri thức là kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia;

       – Về dạng sản phẩm: sản phẩm của kinh tế tri thức có hình thái thông tin, vì vậy cả 2 thuộc tính (giá trị và giá trị sử dụng) của loại hàng hoá sản phẩm này đều có ý nghĩa lớn trong sự phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức;

       – Về dạng nguyên liệu: để tạo ra sản phẩm của hàng hoá này là các loại thông tin được số hoá;

       – Về dạng lao động: ở đây đòi hỏi phải là loại hình lao động lành nghề được đào tạo công phu.

       Chiến lược số hoá hoạt động quản lý được coi là bộ phận không thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở các quốc gia. Trên cơ sở đó nhanh chóng hình thành cơ sở hạ tầng thông tin quản lý của Chính phủ nhằm:

       – Trợ giúp quá trình chỉ đạo điều hành của Chính phủ trong hoạch định chính sách, phân tích tiến trình thực thi chính sách, kịp thời điều chỉnh định hướng chính sách quản lý một cách hữu hiệu;

       – Tích hợp và chuyển các hoạt động dịch vụ của Chính phủ đến người dân, mà không bị ràng buộc bởi không gian và thời gian.

       4. Ứng dụng CNTT trong các cơ quan Chính phủ hướng theo mô hình “Chính phủ điện tử” – Xu thế chung của quốc tế

       Chính sách và biện pháp nhằm chuẩn bị cho việc phát triển kinh tế tri thức và xã hội thông tin ở các nước tuy có những điểm khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, nhưng cũng có điểm chung đó là:

       – Xây dựng một kết cấu hạ tầng thông tin vững chắc trên cơ sở phát triển các trung tâm dữ liệu điện tử và mạng máy tính với siêu xa lộ thông tin (Super Hight Way Infomation);

       – Phổ cập nền “Văn hoá thông tin” trong dân chúng, tạo tiền đề hình thành xã hội tri thức;

       – Phát triển phương thức kinh doanh mới dựa trên công nghệ thông tin và tri thức để tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, hình thành nền kinh tế thông tin và môi trường thương mại điện tử;

       – Đào tạo lại nguồn lao động và tạo ra những ngành nghề, việc làm mới trong lĩnh vực kinh tế tri thức;

       – Cơ cấu lại hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước (về bộ máy, nhân sự, thông tin chính sách), số hoá các quy trình nghiệp vụ và thủ tục quản lý nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động, hoàn thiện chức năng phục vụ của các cơ quan Chính phủ theo hướng “Chính phủ điện tử”.

       Các biện pháp thực hiện:

       – Đào tạo đội ngũ công chức, viên chức làm quen với kỹ năng làm việc trong môi trường điện tử;

       – Kết nối các cơ quan Chính phủ, từng bước phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông tin theo yêu cầu;

       – Đẩy nhanh việc cung cấp thông tin của Chính phủ cho người dân và doanh nghiệp thông qua môi trường mạng;

       – Triển khai hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ, làm cho thông tin của Chính phủ có khả năng đến được với người dân và doanh nghiệp nhiều hơn;

       – Thúc đẩy việc tin học hoá các dịch vụ công;

       – Nghiên cứu cách thức đưa ra các điểm giao dịch một cửa của Chính phủ, cho phép người dân có thể thực hiện các giao dịch công trên môi trường mạng.

       5. Thực trạng xây dựng “Chính quyền điện tử” hiện nay

       a) Một số kết quả đạt được

       Hiện nay, các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng làm nền tảng trong triển khai xây dựng Chính phủ điện tử như: tham mưu, từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy việc xây dựng Chính phủ điện tử; xây dựng và đưa vào vận hành một số cơ sở dữ liệu như Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; đang triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; đã cung cấp một số dịch vụ công trực tuyến thiết yếu cho doanh nghiệp và người dân như đăng ký doanh nghiệp, kê khai thuế, nộp thuế, hải quan điện tử, bảo hiểm xã hội…; một số Bộ, ngành đã xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; tại một số địa phương, hệ thống thông tin một cửa điện tử được đưa vào vận hành, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của đội ngũ công chức; chất lượng nhân lực về công nghệ thông tin của Việt Nam cũng được nâng cao, đặc biệt một số kết quả nổi bật đã đạt được trong thời gian qua như sau:

       – Khai trương và đưa Cổng Dịch vụ công Quốc gia (DVCQG) vào hoạt động: Xây dựng Cổng DVCQG là một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng “Chính phủ điện tử”, kết nối Chính phủ với người dân và doanh nghiệp. Với phương châm “lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm phục vụ”, Cổng DVCQG hướng tới số hóa hồ sơ, giấy tờ giấy, chuyển hoạt động sử dụng hồ sơ, văn bản giấy, giao dịch trực tiếp sang hoạt động sử dụng hồ sơ, văn bản điện tử, giao dịch điện tử và cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc vào thời gian, địa giới hành chính.

       Cổng DVCQG đi vào vận hành đã thúc đẩy cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin. Đến nay đã có các bộ, ngành, địa phương kết nối, tích       hợp với Cổng Dịch vụ công Quốc gia: Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; 9 tỉnh/thành phố: Thành phố Hà Nội,  Thành phố Hồ Chí Minh,  Quảng Nam, Nam Định,  Ninh Thuận, Thanh Hóa, Bắc Kạn, Hà Tĩnh,  Quảng Ninh; cơ quan khác gồm: Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông quân đội Việt Nam, Tổng công ty Viễn thông Mobifone, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam, Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Vietnamobile, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam…

       – Khai trương và đưa Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet) vào hoạt động: E-Cabinet chính thức đi vào hoạt động là công cụ quan trọng, góp phần đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam, hướng tới phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

       – Khai trương và đưa vào hoạt động Trục liên thông văn bản quốc gia: đã có 95/95 cơ quan ở Trung ương và địa phương (gồm Văn phòng Trung ương Đảng; 31 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) đã hoàn thành kết nối các hệ thống quản lý văn bản và điều hành trên Trục liên thông văn bản quốc gia.

       Các phần mềm quản lý văn bản của bộ, ngành, địa phương đã được kết nối, liên thông cả theo chiều dọc và chiều ngang một cách thông suốt và có tính hệ thống, văn bản điện tử được gửi, nhận nhanh chóng, an toàn giữa các cơ quan nhà nước.

       b) Khó khăn, vướng mắc

       – Thiếu khung pháp lý về phát triển Chính phủ điện tử và một số cơ chế, chính sách quan trọng;

       – Thiếu pháp lý về xác thực cá nhân, tổ chức và các giao dịch trên môi trường mạng, đặc biệt khi cung cấp dịch vụ hành chính công;

       – Thiếu quy định về tiêu chuẩn hóa thông tin và quy trình hóa công việc để tiến tới điện tử hóa;

       – Thiếu CSDL Quốc gia phục vụ chỉ đạo điều hành của Chính phủ và thiếu cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu, gửi nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan tổ chức trong hệ thống hành chính công;

       – Người đứng đầu một số Bộ, ngành, địa phương còn thiếu quyết liệt trong chỉ đạo triển khai xây dựng “Chính quyền điện tử;

       – Phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong triển khai thực hiện và bảo đảm nguồn lực còn yếu;

       – Thiếu công cụ đánh giá, giám sát việc triển khai của người đứng đầu Bộ, ngành, địa phương;

       – Thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính với ứng dụng công nghệ thông tin;

       – Chất lượng cổng dịch vụ công triển khai ở địa phương và Bộ ngành hạn chế, công bố dịch vụ công trực tuyến nhưng thực tế rất ít thực hiện; quy trình vẫn từ giấy đến điện tử – điện tử đến giấy gây phiền hà thêm cho người dân, doanh nghiệp;

       – Thiếu kỹ năng quản lý và kỹ năng công nghệ trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;

       – Đầu tư phân tán, nhỏ giọt không đi kèm các chương trình kinh tế – xã hội trọng tâm trọng điểm của quốc gia hay địa phương; đầu tư cho quá trình vận hành, duy trì và phát triển hệ thống chưa thật sự được chú trọng;

       – Thiếu định danh điện tử của cá nhân, tổ chức; chi phí chứng thư số còn cao so với thu nhập của người dân (1 triệu/người/năm). Để có “Chính quyền điện tử” thì người dân và doanh nghiệp phải thực hiện các giao dịch điện tử trên các hệ thống dịch vụ công của Chính phủ. Tuy nhiên, người dân/doanh nghiệp có khi một năm chỉ có một vài giao dịch hoặc không thực hiện giao dịch nào, nhưng vẫn phải có chứng thư số (theo quy định và chi phí trên), như vậy rất khó khả thi.

       6.  Một số giải pháp về công nghệ thông tin để tiến tới “Chính quyền điện tử”

       – Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Chính quyền điện tử;

       – Cần tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu xây dựng “Chính phủ điện tử”;

       – Xây dựng chương trình đào tạo theo từng đối tượng chủ thể:

       + Cán bộ, công chức, viên chức chung;

       + Công chức, viên chức quản lý vận hành các hệ thống mới;

       + Người dân, doanh nghiệp.

       – Thiết kế, xây dựng giải pháp “đơn giản hóa ứng dụng công nghệ”;

       – Đầu tư có chỉ đạo tập trung, theo ưu tiên với một số hệ thống và cơ sở nền tảng cho “Chính phủ điện tử”; ngân sách đầu tư chú trọng ngân sách hàng năm cho duy trì, vận hành, phát triển;

       – Rà soát, tìm điểm nghẽn để chỉ đạo tháo gỡ;

       – Bổ sung CSDL phục vụ chỉ đạo điều hành:

       + Một số CSDL quốc gia thiết yếu liên quan đến người dân (y tế, giáo dục, việc làm…)

       + Chuẩn hóa CSDL về thủ tục hành chính làm nền tảng cho triển khai dịch vụ công trực tuyến.

       Trong môi trường “Chính quyền điện tử”, người dân có thể bị phân hoá nhanh chóng thành hai nhóm: Nhóm những người có kỹ năng và có công cụ để sử dụng công nghệ mới và nhóm những người không có những điều kiện nói trên. Mục đính của “Chính quyền điện tử” là đưa mọi người xích lại gần nhau, chứ không phải tách họ ra, do vậy Chính phủ phải hoạch định kế hoạch tổng thể, chương trình và lộ trình để khắc phục những bất cập này như:

       – Tạo điều kiện truy cập Internet công cộng cho những ai, vì lý do nào đó không có khả năng truy cập Internet tại nhà riêng;

       – Sử dụng các chương trình giáo dục và thông tin công cộng để giúp những người dân dù trẻ hay già sử dụng được các công nghệ mới.

       Trong giai đoàn đầu của “Chính quyền điện tử”, người dân có thể thực hiện được những việc sau:

       – Đăng ký thông tin điện tử với Chính phủ;

       – Tiến hành giao dịch tài chính với các cơ quan tài chính qua phương tiện điện tử;

       – Điền và gửi toàn bộ các mẫu giấy tờ từ một nơi trên trang Web của Chính phủ;

       – Đóng góp ý kiến về các chính sách của Chính phủ trên môi trường mạng;

       – Giảm thời gian trong các giao dịch bởi thông tin về các giao dịch đã được số hoá và các giao dịch có thể được tiến hành qua các phương tiện điện tử;

       – Cập nhật về những thay đổi cá nhân, qua đó chỉ một lần cập nhật trên Internet có thể bảo đảm việc sử dụng, xác thực thông tin cá nhân đó trong các giao dịch sau này với các cơ quan của Chính phủ.

       Để đạt được các mục tiêu trên, cần phải thực hiện qua các giai đoạn sau:

       Giai đoạn 1: Phát hành/phân phối thông tin.

       Giai đoạn 2: Giao dịch hai chiều chính thức.

       Giai đoạn 3: Tạo lập các cổng truy cập đa chiều.

       Giai đoạn 4: Cá nhân hoá các cửa dịch vụ.

       Giai đoạn 5: Phân cụm các dịch vụ công.

       Giai đoạn 6: Hoàn thành việc tích hợp các dịch vụ công.

       Để thực hiện được các nội dung công việc trên đòi hỏi sự quyết tâm cao của toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; sự quan tâm chỉ đạo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; sự phối hợp của các cơ quan có liên quan nhằm mục tiêu xây dựng “Chính phủ điện tử” theo tinh thần Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển chính phủ điện tử giai đoạn 2019 – 2020, định hướng đến 2025./.

 

Ths. Lê Văn Năng (Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia tài liệu điện tử, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước)

 

Theo: https://luutru.gov.vn/

The post Xây dựng Chính quyền điện tử – Thực trạng và đề xuất một số giải pháp appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Xây dựng và phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam – bất cập và giải pháp https://evbn.org/xay-dung-va-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-o-viet-nam-bat-cap-va-giai-phap-1680773356/ Thu, 06 Apr 2023 09:29:18 +0000 https://evbn.org/xay-dung-va-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-o-viet-nam-bat-cap-va-giai-phap-1680773356/ (LLCT&TT) Ngày nay, chính phủ điện tử (CPĐT) là yếu tố không thể thiếu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên,...

The post Xây dựng và phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam – bất cập và giải pháp appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

(LLCT&TT) Ngày nay, chính phủ điện tử (CPĐT) là yếu tố không thể thiếu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, quá trình xây dựng CPĐT vẫn gặp phải nhiều vấn đề bất cập. Bài viết tìm hiểu về tình hình áp dụng CPĐT ở Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp cho vấn đề CPĐT ở Việt Nam với mong muốn nâng cao hơn nữa hiệu quả của CPĐT trong phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam.

1. Khái quát về chính phủ điện tử

Từ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới đánh dấu những bước tiến quan trọng với cuộc cách mạng công nghệ thông tin (CNTT), với sự ra đời của thương mại điện tử (e-commerce) và doanh nghiệp điện tử (e-business). Chính điều này đã đặt ra thách thức lớn với chính phủ rằng làm thế nào để các chủ trương, chính sách công đến được với người dân và cộng đồng doanh nghiệp một cách hiệu quả, minh bạch nhất và ngược lại tạo điều kiện tốt nhất cho người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý nhà nước của mình. Và các nước phát triển trên thế giới đã tìm ra được chìa khóa cho thách thức đó là phát triển chính phủ điện tử (e-government).

Tại Việt Nam, khái niệm CPĐT vẫn còn là một khái niệm tương đối mới mẻ. Theo World Bank “CPĐT là việc các cơ quan của chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT – TT) để thực hiện quan hệ với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, nhờ đó giao dịch của các cơ quan chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng. Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trưởng và giảm chi phí”(1).

Nói một cách ngắn gọn, CPĐT là chính phủ hiện đại, đổi mới, vì dân, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn trên cơ sở ứng dụng CNTT – TT.

Trước đây, việc giải quyết các vấn đề xã hội của hầu hết chính phủ các nước đều không có sự tham gia của CNTT. Cơ cấu bộ máy chính phủ của một quốc gia có khoảng 50-70 bộ hoặc các cơ quan tương đương và mỗi đơn vị lại có một chức năng riêng, với việc có quá nhiều ban ngành tạo ra sự phức tạp và làm cho khu vực công kém hiệu quả. Như vậy, sự ra đời của CPĐT là một điều thiết yếu nhờ áp dụng Internet và các thành tựu của ứng dụng khoa học công nghệ, giúp cải thiện hoạt động của bộ máy nhà nước.

Nhìn chung, mục tiêu cụ thể khi xây dựng CPĐT mà một quốc gia hướng tới là:

– Nâng cao hoạt động có hiệu quả trong quản lý và phục vụ người dân của chính phủ và các cơ quan chính quyền khác thông qua việc cải cách hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ công như trao đổi văn bản điện tử, thu thập thông tin chính xác và kịp thời ra quyết định, giao ban điện tử.

– Người dân có quyền tham gia, đóng góp xây dựng chính sách, quá trình xây dựng luật pháp và quá trình điều hành của chính phủ một cách chủ động và tích cực.

– Giảm thiểu chi phí cho khu vực công và tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho các đối tượng sử dụng dịch vụ công của chính phủ.

– Nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan cầm quyền.

2. Một số lợi ích mà CPĐT mang lại

2.1. Đưa chính phủ tới gần người dân và đưa dân tới gần chính phủ cũng như phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Người dân sẽ được cung cấp một lượng thông tin vững chắc và cần thiết thông qua việc cập nhật thường xuyên từ CPĐT để phân tích, đánh giá một cách đúng đắn các vấn đề có liên quan giữa chính phủ và người dân. Trong khi đó thông tin về chính sách công là vô cùng quan trọng, xã hội phát triển dẫn tới nhu cầu tìm kiếm thông tin và xử lý thông tin càng cao.

Bên cạnh đó người dân và các doanh nghiệp còn tiết kiệm được thời gian chờ đợi và chi phí đi lại thông qua việc áp dụng dịch vụ công trực tuyến. Nhờ có Internet và các ứng dụng CNTT mà người dân có thể thao tác các việc cần làm qua cổng thông tin điện tử ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào mà không phải phụ thuộc vào giờ làm việc hành chính của các cơ quan nhà nước. Chi phí được giảm thiểu góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân cũng như hiệu quả công việc của các doanh nghiệp.

Mặt khác, phát huy quyền làm chủ của người dân thông qua việc thực hiện tốt hơn chức năng giám sát, kiểm tra của họ cũng như tham gia đánh giá, xây dựng chính sách, tố cáo các hành vi sai trái của cán bộ nhà nước từ những thông tin do CPĐT mang lại.

2.2. Minh bạch hóa các hoạt động của chính phủ, giải trừ tham nhũng, độc quyền

Khi mọi thông tin được công khai, minh bạch qua CPĐT thì những sự phức tạp, sách nhiễu và tiêu cực của cán bộ trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ sẽ được hạn chế tối đa. Qua việc truy cập và kiểm tra các dữ liệu điện tử, người đứng đầu các cơ quan công quyền có thể biết được cấp dưới nào của mình làm việc tận tâm, chuyên viên nào sách nhiễu người dân để có thể đưa ra các giải pháp phù hợp. Việc này góp phần giải trừ tham nhũng, quan liêu, độc quyền của độ ngũ cán bộ, công chức.

2.3. Nâng cao hiệu quả trong quản lý và phục vụ dân của chính phủ

Trước kia, chính phủ truyền thống cần trải qua nhiều bước như tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, giấy tờ và sau đó chuyển lên cấp cao hơn thì trong CPĐT, người dân và doanh nghiệp sẽ tương tác trực tiếp với người có thẩm quyền quyết định. CPĐT với các chương trình tự động đã được “mã hóa” sẽ nâng cao tốc độ xử lý văn bản, các số liệu cần tính toán nên năng suất lao động của cán bộ sẽ tăng lên nhiều lần so với cách làm thủ công trước đây. CPĐT cho phép thực hiện việc giao ban điện tử, họp trực tuyến, nên giảm được nạn giấy tờ. Với những tiện ích đó, chi phí hoạt động của chính phủ sẽ được giảm đi đáng kể mà năng lực quản lý của chính phủ lại được nâng lên.

3. Tình hình áp dụng CPĐT ở Việt Nam

Vai trò và tầm quan trọng của CPĐT đã được Nhà nước nhấn mạnh qua Nghị quyết 36a ban hành ngày 14.10.2015 với mục tiêu đẩy mạnh phát triển CPĐT, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn; nâng vị trí của Việt Nam về CPĐT theo xếp hạng của Liên hợp quốc; công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng. Sau hơn 2 năm triển khai Nghị quyết, tính đến năm 2017, rất nhiều chuyển biến rõ nét đã được ghi nhận từ nhận thức đến hành động, tích cực triển khai ứng dụng CNTT, mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

Báo cáo của Văn phòng Chính phủ về tình hình thực hiện Nghị quyết 36a trong năm 2017 nêu rõ:  “CPĐT dần đi vào thực chất, các bộ, ngành, địa phương cùng với việc tích cực triển khai Nghị quyết 19 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia; Nghị quyết 35 của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn”.

Theo số liệu thống kê được Bộ Thông tin và Truyền thông công bố trong Sách trắng CNTT-TT 2017, tính đến cuối năm 2016, tổng số dịch vụ công trực tuyến đã là 109.644 dịch vụ, trong đó số dịch vụ công trực tuyến mức 3 là 10.872 dịch vụ, chiếm gần 10% tổng số dịch vụ công và dịch vụ công trực tuyến mức 4 là gần 1.400 dịch vụ(2).

Thông tin về kết quả thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong năm 2017, báo cáo của Văn phòng Chính phủ cho hay, trong 3 tháng cuối năm 2017, nhiều bộ, ngành, địa phương đã chính thức triển khai Cổng dịch vụ công trực tuyến nhằm thực hiện cam kết cải cách thủ tục hành chính của bộ, ngành, địa phương với người dân và cộng đồng doanh nghiệp; tăng cường kết nối dịch vụ công trực tuyến với cơ chế một cửa quốc gia.

Văn phòng Chính phủ cũng cho biết, theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, đơn vị đang tiếp tục triển khai, mở rộng các dịch vụ công trực tuyến trên cơ sở Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 theo Quyết định 846 của Thủ tướng Chính phủ; công văn 2779 của Văn phòng Chính phủ và quyết định triển khai chủ động của bộ, ngành, địa phương.

Đặc biệt, trong năm 2017, nhiều dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của các bộ, ngành, địa phương đã được người dân, doanh nghiệp thực hiện với số lượng hồ sơ được tiếp nhận và giải quyết rất lớn. Đơn cử như, Bộ Công an là hơn 8,8 triệu hồ sơ (cấp hộ chiếu và khai báo tạm trú); Bộ Công Thương là gần 772.000 hồ sơ; Bộ Giáo dục và Đào tạo là 270.000 hồ sơ; Bộ Giao thông Vận tải là 144.1189 hồ sơ (cấp giấy phép lái xe và giấy phép kinh doanh vận tải); Thành phố Hà Nội là 225.173 hồ sơ; tỉnh Lâm Đồng là 110.625 hồ sơ; Cà Mau trên 95.000 hồ sơ; Thái Nguyên là 91.201 hồ sơ; Hà Nam gần 82.000 hồ sơ…(3).

Trong những năm qua, việc xây dựng CPĐT cũng như phát triển ứng dụng CNTT đã được Chính phủ quan tâm và chú trọng. Theo Thông tấn xã Việt Nam, chỉ số phát triển CPĐT của Liên hợp quốc được đánh giá dựa trên 3 tiêu chí: dịch vụ công trực tuyến; hạ tầng viễn thông và nguồn nhân lực. Năm 2016, chỉ số phát triển CPĐT của Việt Nam tăng 10 bậc so với năm 2014 (xếp vị trí 89/193). Từ vị trí 89 năm 2016, Việt Nam đã tăng 1 hạng trong Báo cáo Chỉ số phát triển CPĐT 2018 của Liên hợp quốc(4).

Báo cáo Đánh giá và xếp hạng CPĐT Việt Nam 2017 của Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (thuộc Hội Truyền thông số Việt Nam) đã chỉ ra nhiều điểm đáng chú ý. Ở hạng mục xếp hạng cấp bộ và cơ quan ngang bộ, việc cung cấp dịch vụ công của các bộ và cơ quan ngang bộ chỉ ở mức trung bình với tỷ lệ dịch vụ có hồ sơ trực tuyến là 46,06%. Trong đó, Bộ Tài chính đi đầu với hơn 20 triệu hồ sơ được giải quyết trực tuyến. Tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ phân theo các mức tốt (chỉ số đạt từ 0,8 trở lên), khá (chỉ số đạt từ 0,65 đến dưới 0,8) và trung bình (chỉ số đạt dưới 0,65) về Chỉ số tổng hợp được thể hiện như sau:

Bộ Tài chính: 0,7; Bộ Khoa học và Công nghệ: 0,692; Bộ Tư pháp: 0,678; Bộ Nội vụ: 0,663; Bộ Tài nguyên và Môi trường: 0,652; Bộ Kế hoạch và Đầu tư: 0,651; Bộ Thông tin và Truyền thông: 0,648;…(5).

Ở hạng mục tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, Huế là đơn vị đi đầu cả nước trong việc triển khai CPĐT. Tiếp sau đó và Đà Nẵng, Lâm Đồng, Quảng Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh. Nhìn chung, việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại các tỉnh chưa cao. Khoảng cách giữa các tỉnh trong việc phát triển CPĐT hiện nay cũng là một vấn đề đáng được lưu tâm(6).

4. Một số khó khăn, trở ngại trong quá trình xây dựng CPĐT tại Việt Nam

4.1. Bất cập từ các dự án công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin – truyền thông còn yếu kém

Mạng cáp quang FTTH hiện đang phủ sóng 97%, sóng 4G phủ sóng 95% Việt Nam. Tốc độ đường truyền nước ta thuộc loại trung bình: 5,46 Mb/s – xếp thứ 74 trên thế giới; trên Indonesia, Philippines, Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng so với Đài Loan (34,4 Mb/s), Thuỵ Điển (40 Mb/s) và Singapore (55,13 Mb/s) thì còn kém rất xa. Theo khảo sát của WE ARE SOCIAL vào tháng 1.2018, có 64 triệu người dùng Internet ở Việt Nam – chiếm 67% dân số. Để được coi là nước có độ phổ cập viễn thông cao, con số này phải vào khoảng 80%. Sở dĩ chúng ta chưa thể phổ cập viễn thông là do nước ta có nhiều vùng sâu, vùng xa nên gặp khó khăn trong việc phổ cập Internet. Tuy nhiên theo thống kê thì trong 1 năm qua chúng ta đã tăng 27% về số người sử dụng Internet (đứng đầu thế giới) – điều này chứng tỏ rằng cơ sở hạ tầng CNTT đang dần phát triển nhanh ở Việt Nam.

4.2. Năng lực của người dân để phát triển và sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn thấp

Theo lý thuyết thì 98% dân số nước ta biết chữ thì đều có năng lực sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Nhưng thực tế thì không như vậy, có nhiều người khi đến những điểm làm thủ tục hành chính thì lúng túng trong việc điền hồ sơ và phần đông họ là người già và trung niên. Tuy nhiên tình hình khả quan hơn ở phía doanh nghiệp, do đặc tính là cơ quan ngoài nhà nước nên khả năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến của họ khá tốt (như khai báo thuế điện tử, hải quan điện tử…). Ngược lại thì người trẻ ở Việt Nam lại ít gặp khó khăn trong vấn đề sử dụng dịch vụ công và hành chính công do trình độ CNTT có phần được nâng cao và mọi thông tin về giấy tờ để thực hiện các thủ tục hành chính thì đều có đầy đủ trên mạng Internet (CPĐT cấp độ 1 và 2).

4.3. Trình độ nhận thức và kỹ năng công nghệ thông tin của cán bộ công chức, viên chức bị hạn chế

Đa số các cán bộ công chức, viên chức của cơ quan nhà nước giải quyết các thủ tục hành chính còn thủ công, vẫn giữ thói quen làm việc dựa trên giấy tờ, ngại áp dụng công nghệ mới do lo sợ mất quyền kiểm soát và khi công khai, minh bạch sẽ bị giám sát. Bộ phận kỹ thuật có tâm lý cục bộ, không liên thông, chia sẻ thông tin, dữ liệu, muốn được toàn quyền quyết định việc mua sắm các thiết bị từ phần cứng đến phần mềm… Chính vì vậy kỹ năng CNTT của công chức, cán bộ trong khu vực công còn hạn chế.

4.4. Các cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống thông tin cốt lõi tạo nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin thiếu sự liên thông, kết nối

Điều này có thể thấy rõ khi bên ngành công an, có dữ liệu về công dân, song ngành tư pháp cũng có dữ liệu này của mỗi người, ngành thuế hay ngân hàng cũng lưu giữ những dữ liệu khi mỗi cá nhân sử dụng các dịch vụ có liên quan. Và tồn tại ở đây là cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành này lại không liên thông nhau nên việc đối soát hay tham chiếu trong từng trường hợp gây nhiều khó khăn dẫn đến mất thời gian, có những trường hợp các các nhân đều phải khai báo chi tiết lại từ đầu  khi đến mỗi cơ quan.

5. Giải pháp kiến nghị

5.1. Phát huy vai trò người đứng đầu, nâng cao hiệu quả thực thi và trách nhiệm giải trình

Có nhiều ý kiến của các chuyên gia cho rằng việc xây dựng và phát triển CPĐT thành công phần nhiều là do nhận thức, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu. Cụ thể hơn là lãnh đạo các bộ, ngành cũng như địa phương phải có nhận thức rõ ràng về việc xây dựng CPĐT thì bộ, ngành, địa phương đó mới có sự đầu tư thích đáng về cả tài chính và nhân lực cho vấn đề này…

5.2. Nâng cao trình độ nhận thức của cả cán bộ công chức và người dân thông qua các trung tâm tư vấn và hỗ trợ về CPĐT

Năng lực sử dụng CPĐT ở Việt Nam có thể chia làm 2 nhóm: nhóm người lớn tuổi gặp khó khăn với việc đổi mới và nhóm người trẻ thích nghi nhanh. Dân số nước ta là dân số trẻ vì vậy trong tương lai CPĐT có thể được xem sẽ được sử dụng một cách thuận lợi. Tuy nhiên nhóm những người cao tuổi cũng cần sự quan tâm nhất định. Một ví dụ điển hình quốc gia hàng đầu về chỉ số phát triển CPĐT là Singapore, họ đã chú trọng xây dựng những trung tâm hỗ trợ người dân, đặc biệt là người cao tuổi ngay từ giai đoạn đầu trong việc xây dựng CPĐT. Do đó, để phát huy hết tiềm năng phát triển CPĐT, Việt Nam cần có những chương trình kích hoạt từ cấp chính phủ.

5.3. CPĐT cần có chương trình truyền thông hiệu quả đến người dân

Những trang web cung cấp dịch vụ công cấp độ 3 và 4 tiềm năng như egov.hanoi.gov.vn; dichvucong.hochiminhcity.gov.vn; dichvucong.thuathienhue.gov.vn lại ít được phổ biến đủ rộng rãi. Điều đó chứng tỏ Việt Nam vẫn đang chậm chạp trong việc truyền thông và hướng dẫn người dân tiếp cận với chính phủ truyền thống lẫn CPĐT. Như vậy Chính phủ cần tăng cường truyền thông, nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, nhận thức về CPĐT, kinh tế số, hạ tần số… để nâng cao nhận thức, thay đổi thói quen hành vi, tạo sự đồng thuận của các bên về phát triển CPĐT.

5.4. Rà soát, sắp xếp lại và huy động mọi nguồn lực cả về tài chính và con người

Trong những năm qua, Việt Nam đã có những ưu tiên trong đầu tư triển khai ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, các dự án đầu tư vẫn còn phân tán nên không có sự thay đổi rõ rệt nào về xây dựng CPĐT. Trong tương lai gần, để nâng cao hiệu quả đầu tư, cần rà soát, sắp xếp lại và huy động các nguồn lực để triển khai các nhiệm vụ ưu tiên phát triển CPĐT, điều chỉnh cơ chế đầu tư đặc thù cho CNTT, tăng cường xã hội hóa để phát huy hiệu quả hợp tác công – tư trong công tác này. Đồng thời, cần tổ chức đào tạo, tập huấn, khai thác sử dụng các hệ thống thông tin, sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 cho người dân, doanh nghiệp và nghiên cứu, xây dựng cơ chế khuyến khích thu hút nhân tài tham gia xây dựng, phát triển CPĐT, cần phải có cơ chế, tài chính để xây dựng, thuê sản phẩm, dịch vụ CNTT… phục vụ phát triển CPĐT. Nếu không làm được điều đó hoặc mỗi ngành, mỗi địa phương làm theo cách không đồng nhất,  không liên thông với nhau về cơ sở dữ liệu, công nghệ, thì không thể xây dựng và phát triển CPĐT đúng nghĩa.

5.5. Nhà nước cần ban hành một số văn bản về kết nối, chia sẻ dữ liệu, ưu đãi thúc đẩy phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin

Để nâng cao nhận thức ứng dụng CNTT, góp phần xây dựng CPĐT, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và hoạt động quản lý có hiệu quả của cơ quan nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều giải pháp chỉ đạo, điều hành, trong đó tập trung tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển CPĐT như xây dựng, ban hành một số văn bản về kết nối, chia sẻ dữ liệu, ưu đãi thúc đẩy phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin; Nghị định thay thế Nghị định 102/2009/NĐ-CP ngày 06.11.2009 về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; Nghị quyết về CPĐT giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2025;…

Như vậy có thể khẳng định việc xây dựng và phát triển CPĐT ở Việt Nam không chỉ là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong công cuộc đổi mới hệ thống chính trị của đất nước mà còn là một nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu hội nhập và xu thế phát triển tất yếu của các mô hình chính phủ tiên tiến trên thế giới. Công cuộc xây dựng mang tính cách mạng này sẽ gặp nhiều khó khăn và thách thức song dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quản lý hiệu quả của nhà nước và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, những khó khăn trước mắt sẽ dần được khắc phục. Bên cạnh đó, việc nâng cao quyết tâm, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị nhằm phát huy những thành công mà một số địa phương đã đạt được đặc biệt trong việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến thì Việt Nam sẽ sớm hoàn thành được mục tiêu này. Trong tương lai gần, khi CPĐT được hoàn thành, chúng ta sẽ xây dựng được hệ thống điện tử kết nối liên thông xuyên suốt từ trung ương đến địa phương. Hệ thống CNTT được ứng dụng mạnh mẽ, phát triển dịch vụ công trực tuyến cấp độ cao nhất, an ninh và thông tin được bảo đảm an toàn và đặc biệt việc nắm bắt cơ hội để phát triển trong cuộc cách mạng 4.0 sẽ là triển vọng mang tới nhiều thành công mới không chỉ trong lĩnh vực chính trị mà còn trên tất cả các lĩnh vực khác của đất nước ta./.

 _____________________________________________________ 

(1).https://www.worldbank.org/en/topic/digitaldevelopment/brief/e-government. Trang thông tin của Ngân hàng thế giới.

(2) Bộ Thông tin và Truyền thông (2017), Sách trắng CNTT-TT 2017, Nxb. Thông tin  và Truyền thông, tr.12.

(3) http://cchc.cinet.vn/articledetail.aspx?sitepageid=590&articleid=893. Trang thông tin cải cách hành chính ngành văn hóa, thể thao và du lịch thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.(4).http://baochinhphu.vn/Xay-dung-Chinh-phu-dien-tu/ Viet-Nam-tang-10-bac-ve-phat-trien-Chinh-phu-dien-  tu/283328.vgp. Trang thông tin Báo điện tử của Chính phủ.

(5)(6) http://www.huecit.vn/Portals/3/TinTuc/2018/DanhGiaVaXepHangChinhPhuDienTuVietNam20 17.pdf Trang thông tin của Trung tâm Công nghệ Thông tin, tỉnh Thừa Thiên Huế. 

 

The post Xây dựng và phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam – bất cập và giải pháp appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Chính phủ điện tử: Giải quyết 3 vấn đề trụ cột https://evbn.org/chinh-phu-dien-tu-giai-quyet-3-van-de-tru-cot-1680773347/ Thu, 06 Apr 2023 09:29:09 +0000 https://evbn.org/chinh-phu-dien-tu-giai-quyet-3-van-de-tru-cot-1680773347/ Các diễn giả tham dự hội thảo Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử (eGov) lần thứ 15 do Bộ Thông tin và...

The post Chính phủ điện tử: Giải quyết 3 vấn đề trụ cột appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Các diễn giả tham dự hội thảo

Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử (eGov) lần thứ 15 do Bộ Thông tin và Truyền thông, Văn phòng Chính phủ và UBND TPHCM tổ chức vừa diễn ra tại TPHCM, trong đó tập trung thảo luận việc ứng dụng CNTT giải quyết những vấn đề trụ cột của xã hội.

Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử (eGov) lần thứ 15 do Bộ Thông tin và Truyền thông, Văn phòng Chính phủ và UBND TPHCM tổ chức vừa diễn ra tại TPHCM, trong đó tập trung thảo luận việc ứng dụng CNTT giải quyết những vấn đề trụ cột của xã hội.

Hội thảo Quốc gia về Chính phủ điện tử năm nay có chủ đề: “Phát triển Chính phủ điện tử và Cổng dịch vụ công trực tuyến hướng đến Chính phủ số – Mô hình và giải pháp công nghệ”. Sự kiện được tổ chức trong bối cảnh Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp đang nỗ lực, đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số xây dựng Chính phủ điện tử, phát triển Chính phủ số và chuyển đổi số các ngành, lĩnh vực.

Phát biểu tại Hội thảo, ông Ngô Hải Phan, Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ nhắc lại quan điểm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về xây dựng Chính phủ điện tử là “nghĩ lớn, nhìn tổng thể, hành động nhanh và bắt đầu từ những việc cụ thể”.

Trong giai đoạn 2018-2020, Văn phòng Chính phủ đã chủ trì, phố hợp với các bộ, ngành, địa phương và các tập đoàn CNTT, các chuyên gia trong nước, quốc tế tập trung xây dựng và triển khai nhiều hệ thống thông tin quan trọng làm nền tảng cho việc phát triển Chính phủ điện tử của nước nhà. Cụ thể có những chương trình nổi bật như Trục lien thông văn bản Quốc gia; Hệ thống thông tin họp và xử lý công việc của Chính phủ; Hệ thống thông tin báo cáo Quốc gia và Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và đặc biệt là Cổng dịch vụ công Quốc gia kết nối, tích hợp với Cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh. Các hệ thống thông tin này đã được đưa vào vận hành và có sản phẩm cụ thể, tạo bước chuyển lớn trong giải quyết các mối quan hệ giữa Chính phủ với các cơ quan trong hệ thống hành chính, giữa Chính phủ với người dân và Chính phủ với doanh nghiệp. Vừa tạo lực kéo vừa tạo lực đẩy trong triển khai Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số; góp phần thực hiện mục tiêu kéo của Chính phủ vừa phát triển kinh tế vừa hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19 đến người dân và DN.

Ông Ngô Hải Phan cho biết, các bộ, ngành, địa phương đều đã triển khai dịch vụ công trực tuyến, chất lượng giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) được nâng cao, đạt tỉ lệ 97,3% đúng hẹn. Tỉ lệ cung cấp TTHC trên môi trường điện tử tăng nhanh; tỉ lệ hồ sơ TTHC trên môi trường điện tử thông qua các dịch vụ công cũng tăng, đặc biệt tại các bộ.

TPHCM là một trong những địa phương đầu tiên tích hợp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Phó Chủ tịch UBND TPHCM Dương Anh Đức cho biết tại hội thảo, TPHCM sẵn sàng mở ra các kênh chia sẻ dữ liệu, thông tin giúp người dân và doanh nghiệp (DN) sử dụng hiệu quả, tạo ra giá trị nhiều mặt.

Trong từng lộ trình, TPHCM đều nhất quán lấy người dân và DN làm trung tâm cải tiến quy trình dịch vụ của các cơ quan Nhà nước, mục đích cuối cùng để phục vụ người dân và DN một cách tốt nhất.

Tại phiên tọa đàm cấp cao với chủ đề “Giải pháp công nghệ góp phần nâng cao hiệu quả Cổng Dịch vụ công trực tuyến và phát triển chính phủ số” diễn ra dưới sự điều phối của ông Trương Gia Bình, Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn cải cách TTHC, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn FPT đã đưa ra được những giải pháp quan trọng, tập trung vào 2 vấn đề chính: “Làm sao để người dân, DN tham gia tích cực hơn trong các dịch vụ công trực tuyến?” và “Giải pháp thúc đẩy phát triển chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số”.

Ông Trương Gia Bình cho biết: “Để phát triển Chính phủ điện tử từ cấp bộ, ngành đến các cục, vụ, từ Trung ương đến địa phương, quan trọng nhất là phải bắt đầu từ việc đơn giản hóa, cải cách TTHC, cắt giảm thủ tục, đừng chạy theo số lượng mà hãy quan tâm đến chất lượng dịch vụ hành chính công trực tuyến. Làm sao cho người dân cảm thấy thuận lợi, dễ dàng nhất, phải truyền thông để người dân biết, xây dựng được cho người dân niềm tin về việc nhà nước đang nỗ lực thế nào trong phát triển Chính phủ điện tử. Đây sẽ là những nhân tố tăng tốc phát triển Chính phủ điện tử với mục tiêu coi người dân, doanh nghiệp là trung tâm mà Việt Nam đang hướng tới”, ông Trương Gia Bình nhấn mạnh.

Ứng dụng CNTT giải quyết 3 vấn đề trụ cột quan trọng

Ba vấn đề nóng cũng là 3 trụ cột quan trọng của xã hội gồm: Giao thông, giáo dục và y tế trở thành chủ đề chính của 3 phiên thảo luận chuyên đề tại hội thảo Chính phủ điện tử lần thứ 15.

Đối với giao thông, thực trạng nổi cộm mà các chuyên gia, nhà phân tích đưa ra là tình trạng quá tải về hạ tầng, không đáp ứng được nhu cầu phát triển ở các đô thị lớn. Một trong những nguyên nhân của vấn đề này là việc ứng dụng CNTT vào quản lý, phân tích dữ liệu còn thấp.

Kết quả một cuộc khảo sát đưa ra tại hội thảo cho thấy có đến 95% doanh nghiệp logistics tham gia khảo sát không có phần mềm cho người sử dụng dịch vụ. Ngay cả những hình thức ứng dụng CNTT cơ bản như báo giá, trả lời khách hàng tự động, quản lý đơn hàng tự động cũng có tỉ lệ áp dụng thấp. Trong khi người dùng tham gia khảo sát đánh giá rất cao hiệu quả tiết kiệm thời gian khi DN có phần mềm dịch vụ riêng.

Để giải quyết vấn đề chậm trễ và tắc nghẽn kho bãi ở các cảng container, ông Nguyễn Hồng Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Công nghệ Sao Bắc Đẩu cho biết một số cảng như cảng container quốc Tế SP-ITC đã ứng dụng thành công phần mềm quản lý điều hành cảng container thông minh. Ứng dụng cho phép quản lý, khai thác hạ tầng cảng tối ưu và tập hợp hệ thống dữ liệu dùng chung cho phép kết nối xử lý thông tin giữa các cơ quan Nhà nước liên quan đến vận hành cảng. Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT vào vận hành hệ thống cảng Việt Nam là rất thấp, chỉ khoảng 15% cảng có ứng dụng.

Về nhu cầu vận chuyển của người dân, thực tế ở các đô thị lớn như Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng, người dân ngày càng có xu hướng sử dụng các ứng dụng gọi xe thông minh. Chia sẻ kinh nghiệm quản lý giao thông thông minh của các quốc gia phát triển, một đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực này cho thấy việc thu thập dữ liệu vận chuyển sẽ giúp công tác quản lý giao thông hiệu quả, ví dụ như hệ thống sẽ tự động phân tích dữ liệu và đưa ra những phương án điều hướng giúp tài xế di chuyển tối ưu.

Trong bối cảnh hạ tầng giao thông ở các đô thị lớn đang ngày một quá tải thì việc ứng dụng CNTT trong quản lý dữ liệu giao thông sẽ giúp ích cho việc quản lý đô thị một cách thông minh.

Đối với ngành giáo dục, ứng dụng CNTT đã được Bộ GD&ĐT quán triệt ở tất cả các bậc học trong quản lý dữ liệu, quản lý điều hành và tổ chức dạy và học. Bộ đã xây dựng cơ sở dữ liệu với thông tin thu thập của 53.000 trường học từ mầm non đến trung học phổ thông; quản lý 1,5 triệu hồ sơ giáo viên và cán bộ quản lý; quản lý 24 triệu hồ sơ người học; thu thập thông tin cơ sở vật chất, tình hình tài chính các nhà trường… Một trong những ứng dụng CNTT trong giáo dục phát huy hiệu quả rõ nét nhất chính là triển khai việc dạy và học trực tuyến trong thời gian ảnh hưởng dịch COVID-19. Chỉ sau một thời gian ngắn, việc dạy và học trực tuyến đã thúc đẩy người học tiếp cận và quen dần với khai thác dữ liệu học tập khổng lồ trên internet…

Câu chuyện chuyển đổi số trong y tế đang cho thấy những hiệu quả tích cực, nhất là trong bối cảnh dịch COVID-19.

PGS.TS. Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết: “Ngành y tế đang ứng dụng CNTT mạnh mẽ để thay đổi chất lượng khám, chữa bệnh, phục vụ nhân dân được tốt hơn. Việc điều trị bệnh nhân COVID-19 từ đầu dịch đến giờ đã được sự hỗ trợ rất nhiều của CNTT. Đặc biệt là Trung tâm điều hành hỗ trợ điều trị COVID-19 từ xa có tới 31 điểm cầu. Ngày 25/9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ nhấn nút khai trương 1.000 điểm cầu khám, chữa bệnh từ xa. CNTT chính là một trong những giải pháp đưa chất lượng khám, chữa bệnh đến với các vùng cao, vùng xa”, ông Lương Ngọc Khuê cho biết.

Về thực trạng mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ công ngành y tế, ông Lương Ngọc cho biết: “Đã có 41,7 triệu phiếu khảo sát trực tuyến dành cho bệnh nhân nội trú được tiến hành. Khảo sát dịch vụ công trong ngành y tế trên bệnh nhân đã ra viện cho thấy tỉ lệ hài lòng của bệnh nhân chỉ có 79%, như vậy nghĩa là còn 21% cần được chăm sóc nhiều hơn”.

Ông Khổng Văn Đông, Trưởng đơn vị kinh doanh y tế thuộc Tổng công ty Giải pháp doanh nghiệp Viettel cho rằng: “Chưa bao giờ dữ liệu lại quan trọng như thế đối với ngành y tế. Người Việt mình đang gặp những bệnh gì? Ở độ tuổi nào? Phương pháp điều trị nên thế nào? Phải từng bước thực hiện việc bảo vệ dữ liệu đó, tiến tới kết nối, sử dụng để nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh. Tiến lên một bước nữa, số hóa giúp ngành y có thể dễ dàng tra cứu hồ sơ bệnh nhân, lịch sử mắc bệnh để nhanh chóng có biện pháp điều trị tốt nhất. Có công cụ sẽ tầm soát được nhiều bệnh nguy hiểm, đỡ biến chứng, giảm nguy cơ tử vong, hỗ trợ chẩn đoán…”.

Ông Trần Liên Việt,  Phó Tổng Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương (tỉnh Phú Thọ) đã chia sẻ về kinh nghiệm chuyển đổi số trong bệnh viện ở vùng trung du. Năm 2010, từ chỗ ứng dụng CNTT khắc phục ghi chép bệnh án thủ công, Bệnh viện Hùng Vương tiến đến áp dụng các phần mềm Nano – HIS phục vụ trong công tác khám, điều trị và quản lý bệnh nhân, đồng thời kết nối với các hạ tầng thanh toán, lưu trữ, hỗ trợ hội chẩn giải phẫu bệnh, chăm sóc khách hàng, đặt lịch khám chữa bệnh, truyền thông y tế tới người bệnh.

Đến nay, Bệnh viện Hùng Vương đã kết nối khám chữa bệnh từ xa với vai trò là bệnh viện vệ tinh của các bệnh viện tuyến Trung ương nhằm chia sẻ dữ liệu để hội chẩn trực tuyến, điều trị thành công nhiều ca bệnh nguy hiểm. “Trước kia, bệnh viện địa phương không có kỹ thuật viên đọc được kết quả giải phẫu bệnh nên chúng tôi thường phải chuyển file về Hà Nội, mất rất nhiều thời gian nhưng giờ đây thì tất cả được scan lên hệ thống dữ liệu, có thể phóng đại tới 40 lần nên các bác sĩ từ Hà Nội sẽ dễ dàng đọc được kết quả giải phẫu bệnh, tiết kiệm rất nhiều thời gian chờ đợi, nhanh chóng có phác đồ điều trị cho bệnh nhân”, ông Trần Liên Việt chia sẻ.

Ông Lý Đức Đoàn, Giám đốc FPT Digital Healthcare Center cùng quan điểm ứng dụng CNTT vừa giảm tải cho tuyến trên, vừa đỡ thời gian chờ đợi cho người bệnh, đồng thời bảo đảm giãn cách xã hội trong thời gian đối mặt với dịch bệnh COVID-19.

Ông Lý Đức Đoàn cho rằng chuyển đổi số có 2 khía cạnh: Một là số hóa, 2 là dịch chuyển-thay đổi tư duy, thay đổi cách thức hoạt động để xây dựng y tế thông minh. “Khai thác kho dữ liệu ngành y có thể hỗ trợ gửi cảnh báo dịch bệnh đến người dân, cảnh báo các phòng khám không an toàn, khám chữa bệnh từ xa hoặc khám chữa bệnh tại các trạm y tế cơ sở tại xã, phường, quận huyện nhưng bác sĩ có kết nối với tuyến trên, sử dụng dữ liệu trên nền tảng số để khám, chữa bệnh”, ông Lý Đức Đoàn phân tích.

Chuyển đổi số mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng phục vụ, từ chính sách quản lý, thu viện phí, đến chăm sóc, điều trị bệnh nhân…”, ông Lương Ngọc Khuê nhấn mạnh. 

Băng Tâm

The post Chính phủ điện tử: Giải quyết 3 vấn đề trụ cột appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Đề xuất giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử https://evbn.org/de-xuat-giai-phap-trong-tam-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-1680773338/ Thu, 06 Apr 2023 09:29:00 +0000 https://evbn.org/de-xuat-giai-phap-trong-tam-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-1680773338/ Ảnh minh họa Dự thảo Nghị quyết đề ra mục tiêu hoàn thiện nền tảng cho phát triển Chính phủ điện tử nhằm nâng cao...

The post Đề xuất giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Ảnh minh họa

Dự thảo Nghị quyết đề ra mục tiêu hoàn thiện nền tảng cho phát triển Chính phủ điện tử nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp của các cơ quan hành chính nhà nước; phát triển Chính phủ điện tử hướng tới các mục tiêu chương trình hành động của Chính phủ trong việc nâng cao năng lực, hiệu quả của tổ chức bộ máy Chính phủ, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; phát triển Chính phủ điện tử dựa trên dữ liệu và dữ liệu mở, hướng tới nền kinh tế số, xã hội số, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng, tạo ra các giá trị mới góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; tiếp tục nâng vị trí của Việt Nam về Chính phủ điện tử theo xếp hạng của Liên hợp quốc.

Cụ thể, giai đoạn 2018-2020, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tạo lập, quản lý, kiểm kê và chia sẻ dữ liệu, bảo vệ thông tin cá nhân, xác thực điện tử, đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin.

Đồng thời, hoàn thành xây dựng các hệ thống nền tảng gồm: hệ thống kết nối, liên thông, tích hợp, chia sẻ dữ liệu các hệ thống thông tin ở Trung ương và địa phương; trục liên thông văn bản quốc gia; Cổng Dịch vụ công quốc gia; hệ thống xác thực định danh điện tử; hệ thống thông tin báo cáo quốc gia; các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo hiểm, tài chính. 10% người dân và doanh nghiệp tham gia hệ thống Chính phủ điện tử được xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trong tổng số hồ sơ đạt từ 30% trở lên; tăng tối thiểu 20% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4; các thủ tục hành chính được chuẩn hóa, điện tử hóa, bảo đảm mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về thủ tục hành chính đạt mức trên 70% vào năm 2020.

60% phần mềm quản lý văn bản và điều hành của các bộ, ngành, địa phương được kết nối, liên thông với nhau qua trục liên thông văn bản quốc gia, trên 50% phần mềm quản lý văn bản và điều hành tại các bộ, ngành, địa phương được kết nối, liên thông phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trực thuộc bộ, ngành, địa phương; 60% hồ sơ công việc tại cấp bộ, cấp tỉnh, 30% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 20% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng. Bảo đảm 50% báo cáo được gửi, nhận qua hệ thống thông tin báo cáo quốc gia. Rút ngắn từ 30-50% thời gian họp, giảm tối đa việc sử dụng tài liệu giấy thông qua việc ứng dụng các giải pháp chính phủ không giấy tờ, văn phòng điện tử. Hoàn thành đánh giá và đề xuất giải pháp giảm chi phí đầu tư, triển khai, vận hành, quản trị hạ tầng công nghệ thông tin của các bộ, ngành, địa phương trên cơ sở tái cấu trúc và tối ưu hóa hạ tầng công nghệ thông tin. Tiếp tục nâng cao Chỉ số về Chính phủ điện tử, bao gồm ba nhóm chỉ số dịch vụ công trực tuyến (OSI), hạ tầng viễn thông (TII) và nguồn nhân lực (HCI); phấn đấu đến hết năm 2020, Việt Nam nằm trong Nhóm 4 quốc gia đứng đầu ASEAN về chỉ số dịch vụ công trực tuyến (OSI) và Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của Liên hợp quốc.

Giai đoạn 2021 – 2025: 100% Cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh được kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia; 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 phổ biến, liên quan nhiều tới người dân, doanh nghiệp tích hợp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; 100% giao dịch trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh và hệ thống thông tin một cửa điện tử phải được xác thực điện tử; 40% người dân và doanh nghiệp tham gia hệ thống Chính phủ điện tử được xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất…

5 giải pháp chủ yếu

Để hoàn thành mục tiêu trên, Văn phòng Chính phủ đề xuất 5 giải pháp chủ yếu gồm:

1- Xây dựng, hoàn thiện thể chế tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho việc triển khai, xây dựng phát triển Chính phủ điện tử;

2- Xây dựng nền tảng công nghệ phát triển Chính phủ điện tử phù hợp với xu thế phát triển Chính phủ điện tử trên thế giới;

3- Xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử gắn kết chặt chẽ ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính, đổi mới lề lối làm việc nhằm chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình nghiệp vụ, số hóa, tích hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương; đổi mới phương thức phục vụ người dân, doanh nghiệp;

4- Bảo đảm các nguồn lực triển khai xây dựng Chính phủ điện tử;

5- Thiết lập cơ chế bảo đảm thực thi với mục tiêu, chỉ tiêu đo lường kết quả cụ thể, cơ chế theo dõi, giám sát, trách nhiệm giải trình, xử lý kịp thời vướng mắc và nguồn lực tài chính, con người để bảo đảm thực thi.

Trong đó, dự thảo nêu rõ, sẽ xây dựng Kiến trúc Chính phủ điện tử cấp bộ, Kiến trúc Chính quyền điện tử cấp tỉnh, Kiến trúc Chính phủ điện tử toàn Chính phủ, cập nhật Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử (phiên bản 1.0), hoàn thành trong năm 2018 và liên tục cập nhật phù hợp với bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng phát triển Chính phủ điện tử trên thế giới. Xây dựng Hệ thống nền tảng kết nối, liên thông các hệ thống thông tin và hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương kết nối, chia sẻ dữ liệu qua Hệ thống này, triển khai trong giai đoạn 2018-2020, tiếp tục phát triển, hoàn thiện trong giai đoạn 2021-2025.

Xây dựng Trục liên thông văn bản quốc gia, kết nối, liên thông các phần mềm quản lý văn bản và điều hành phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, thực hiện tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin báo cáo quốc gia, đưa vào vận hành năm 2019, tiếp tục phát triển, hoàn thiện trong giai đoạn 2020-2025…

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.

Tuệ Văn

The post Đề xuất giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Mỹ Latinh: Khủng hoảng nước đe dọa bất ổn chính trị https://evbn.org/my-latinh-khung-hoang-nuoc-de-doa-bat-on-chinh-tri-1680773310/ Thu, 06 Apr 2023 09:28:30 +0000 https://evbn.org/my-latinh-khung-hoang-nuoc-de-doa-bat-on-chinh-tri-1680773310/ Tình trạng thiếu nước ở mức báo động đang đe dọa sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội của nhiều quốc gia Mỹ...

The post Mỹ Latinh: Khủng hoảng nước đe dọa bất ổn chính trị appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Tình trạng thiếu nước ở mức báo động đang đe dọa sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội của nhiều quốc gia Mỹ Latinh. Đã xảy ra nhiều vụ việc xung đột giữa các nhóm nông dân, người da đỏ bản xứ và các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, khai thác quặng mỏ. Giới chính trị các quốc gia Mỹ Latinh đang vào cuộc để giải quyết vấn đề.

Những cuộc “chiến tranh nước” thế kỷ 21

Khan hiếm nước đang là vấn nạn tại nhiều nước Mỹ Latinh. Tại Chile, hạn hán làm khô cạn nhiều hồ chứa nước khiến cho nguồn nước vốn đã thiếu hụt càng trở nên khan hiếm hơn. Người ta ước tính đến cuối năm 2021, hơn một nửa dân số nước này bị ảnh hưởng bởi tình trạng khan hiếm nước. Vào tháng 4-2022, lần đầu tiên trong lịch sử, thủ đô Santiago phải triển khai kế hoạch “khẩu phần” nước cho từng hộ dân. Hàng trăm cộng đồng dân cư ở nông thôn miền trung và Bắc Chile đang vật lộn với thiếu nước, phải dựa vào các xe bồn cung cấp nước có giới hạn. Nước đã trở thành vấn đề an ninh quốc gia và luôn nằm ở tốp đầu trong chương trình nghị sự của chính phủ, quốc hội. Năm 2019, hàng triệu người dân Chile đã biểu tình phản đối chính phủ, yêu cầu chính phủ phải giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong tiêu thụ nước.

Câu chuyện về khủng hoảng khan hiếm nước ngọt không phải bây giờ mới có mà đã xuất hiện ở khu vực Mỹ Latinh từ hơn 20 năm qua. Người ta còn nhớ như in sự kiện được gọi là cuộc “chiến tranh nước” đầu tiên trong thế kỷ 21 đã xảy ra tại Bolivia vào năm 2000. Khi đó, hàng ngàn người dân Bolivia từ thành phố Cochabamba biểu tình phản đối dữ dội việc tư nhân hóa dịch vụ cung cấp nước của thành phố. Cuộc biểu tình dẫn đến bạo lực khiến 1 người chết và hàng chục người bị thương, còn công ty cấp nước tư nhân thì bị đuổi khỏi địa phương. Cuộc “chiến tranh nước” đó cũng là tiền đề khủng hoảng chính trị và là một trong những yếu tố góp phần đưa ông Evo Morales lên làm Tổng thống Bolivia. Nhưng, khi ông Morales lên làm tổng thống rồi, thiếu nước vẫn là vấn đề “quốc nạn” chưa được giải quyết. Ông Morales cũng không thể hóa giải được “quốc nạn” thiếu nước khiến chính quyền do ông lãnh đạo đi vào vết xe đổ của người tiền nhiệm.

Mỹ Latinh: Khủng hoảng nước đe dọa bất ổn chính trị -0
Hồ nước cạn khô do hạn hán ở Chile

Đúng là biến đổi khí hậu, tình trạng thời tiết cực đoan, hạn hán là nguyên nhân quan trọng nhất làm cho nước ngày càng thiếu hụt trầm trọng ở khu vực Mỹ Latinh. Nhưng, cách con người quản lý tình trạng này cũng góp phần không nhỏ làm cho nó trở nên tồi tệ hơn. Việc tư nhân hóa cung cấp nước đã làm nảy sinh bất ổn chính trị, xã hội tại nhiều nơi.

Tại nhiều quốc gia trong khu vực, như Chile, Bolivia, Ecuador…, hiến pháp xem nước như một tài sản mà tư nhân có quyền sở hữu. Từ quy định đó, người ta bắt đầu cho phép tư nhân được quyền tự do khai thác và cung cấp nước ngọt, nước sinh hoạt. Tại Chile, hồ nước du lịch nổi tiếng Aculeo gần thủ đô Santiago bị khai tử từ năm 2018 là điển hình của tư nhân hóa nguồn nước. Các doanh nghiệp tư nhân được quyền khai thác các nguồn nước dẫn vào hồ đã làm một việc tai hại là chuyển dòng chảy sang những khu vực khác phục vụ sản xuất. Cùng với biến đổi khí hậu, sự gia tăng dân số sử dụng và khai thác nước cho các mục đích kinh tế khác đã khiến hồ Aculeo cạn kiệt trong vòng chưa tới 10 năm.

Trong guồng quay của cuộc khủng hoảng khan hiếm nước, sự cạnh tranh tiêu thụ nước từ các doanh nghiệp khai thác quặng mỏ làm cho tình trạng khan hiếm nước trở nên ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân. Không chỉ tiêu thụ nguồn nước phục vụ cho hoạt động khai khoáng, các doanh nghiệp này còn làm ô nhiễm nguồn nước còn lại làm cho nước không sử dụng được. Nhiều cuộc biểu tình, đụng độ bạo lực giữa cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp khai khoáng cũng từ đó mà ra và đã có nhiều người chết trong các cuộc “chiến tranh nước” như thế.

Ở đây còn có sự bất bình đẳng trong quyền tiếp cận nguồn nước tại nhiều quốc gia. Chẳng hạn ở Ecuador, giới nhà giàu chỉ chiếm 1% dân số nhưng nắm quyền kiểm soát 64% nguồn nước ngọt. Tại Chile, quốc gia đầu tiên trên thế giới tư nhân hóa dịch vụ cung cấp nước, một bộ phận người dân nước này không thể tiếp cận nguồn nước ngọt, tạo ra lỗ hổng lớn trong xã hội.

Giới chính trị vào cuộc

Dưới thời Tổng thống Morales, tác động của biến đổi khí hậu, hạn hán được giảm thiểu khá tốt nhờ các chương trình, kế hoạch hành động hiệu quả của Chính phủ Bolivia nhưng tình trạng khan hiếm nước ở quốc gia cao nhất khu vực này vẫn chưa được cải thiện. Cho đến nay, thiếu nước vẫn tiếp tục là “quốc nạn” bất chấp “quyết tâm chính trị” của các chính khách.

Trong khi đó, tại Chile, tổng thống mới nhậm chức Gabriel Boric, tổng thống trẻ tuổi nhất trong lịch sử Chile (mới 36 tuổi), đã mang lại hy vọng mới cho người dân với lời hứa hẹn xây dựng tương lai xanh cho đất nước, nhấn mạnh việc bảo vệ và phục hồi các chu kỳ tuần hoàn nước cho sự sống. Ông Boric đã cho thấy quyết tâm thực hiện lời hứa của mình bằng việc bổ nhiệm nhà khoa học về khí hậu Maisa Rojas làm Bộ trưởng Môi trường.

Bà Rojas được biết đến là một nhà khoa học rất tâm huyết với hoạt động chống biến đổi khí hậu toàn cầu. Bà đã cùng một số nhà khoa học Chile viết tâm thư gửi đăng trên tờ tạp chí Nature của Anh bày tỏ lo ngại nếu ứng cử viên từ chối chống biến đổi khí hậu thắng cử. Khi tham gia vào nhóm làm việc về biến đổi khí hậu tại hội nghị COP26, bà Rojas đã thể hiện quyết tâm rất cao trong việc thúc đẩy các giải pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

Với cương vị Bộ trưởng Môi trường của Chile, bà Rojas cho biết sẽ rất khó để đáp ứng kỳ vọng của mọi người trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, nhất là việc giải quyết cuộc khủng hoảng thiếu nước ở Chile hiện nay. Nhưng, bà cũng tuyên bố sẽ cố gắng hết sức.

The post Mỹ Latinh: Khủng hoảng nước đe dọa bất ổn chính trị appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Cần làm gì để nền kinh tế không bị lỡ nhịp với những cơ hội tăng trưởng? https://evbn.org/can-lam-gi-de-nen-kinh-te-khong-bi-lo-nhip-voi-nhung-co-hoi-tang-truong-1680773303/ Thu, 06 Apr 2023 09:28:24 +0000 https://evbn.org/can-lam-gi-de-nen-kinh-te-khong-bi-lo-nhip-voi-nhung-co-hoi-tang-truong-1680773303/ TS. Nguyễn Bích Lâm: Để nền kinh tế không lỡ nhịp với các cơ hội trong nước và quốc tế, Chính phủ cần chỉ đạo...

The post Cần làm gì để nền kinh tế không bị lỡ nhịp với những cơ hội tăng trưởng? appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Cần làm gì để nền kinh tế không bị lỡ nhịp với những cơ hội tăng trưởng? - Ảnh 1.

TS. Nguyễn Bích Lâm: Để nền kinh tế không lỡ nhịp với các cơ hội trong nước và quốc tế, Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành, lĩnh vực chủ động nắm chắc tình hình, rà soát, nhận diện các cơ hội và thách thức, kịp thời đưa ra những chính sách, giải pháp phù hợp.

Mỹ, EU: Lạm phát tăng kỷ lục trong 40 năm

Ngay sau khi thế giới sản xuất được vaccine và khống chế dịch COVID-19 (đại dịch), Mỹ, Khu vực đồng tiền chung châu Âu và các nước đã áp dụng chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng nhằm phục hồi, thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, đưa kinh tế trở lại thời kỳ trước đại dịch.

Năm 2021, kinh tế thế giới có sự phục hồi đặc biệt ấn tượng với GDP toàn cầu tăng 5,9%. Kinh tế Mỹ tăng 5,7%, mức tăng cao nhất kể từ năm 1984 sau khi suy giảm 3,4% trong năm 2020 và cao hơn 3,1% so với trước đại dịch. Khu vực Eurozone tăng 5,2%. Trung Quốc – nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tăng 8,1% cao nhất trong một thập kỷ qua.

Bên cạnh hệ luỵ do thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, kinh tế thế giới phải gánh chịu cuộc khủng hoảng 3 chiều: năng lượng, lương thực và tài chính, cộng hưởng gây nên lạm phát cao.

Mỹ và Cộng đồng chung châu Âu (EU) lạm phát tăng cao liên tiếp, lập kỷ lục trong 40 năm qua. Tại Mỹ, tháng 6/2022 lạm phát tăng đến mức 9,1%. Tại EU, lạm phát đã lập kỷ lục mới 8,9% vào tháng 7- tháng thứ 9 liên tiếp lạm phát tăng.

Các nước thắt chặt chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát

Để kiềm chế lạm phát, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương nhiều nước trên thế giới đã nâng lãi suất với mức khá cao.

Ngày 27/7 vừa qua, FED quyết định nâng lãi suất cơ bản đồng USD với mức 0,75%, đây là lần thứ hai trong vòng 2 tháng FED đã nâng lãi suất với mức cao, đưa lãi suất hiện tại của nền kinh tế lên mức 2,25% -2,5% – mức cao nhất kể từ tháng 12/2018.

Ngoài ra, FED có thể tăng thêm một đợt lãi suất 0,75% vào cuối năm 2022. Dự báo, lãi suất tham chiếu của FED có thể tăng lên mức 3,1%-3,6% vào cuối năm nay và 3,6%-4,1% vào cuối năm 2023.

Nỗ lực thắt chặt chính sách tiền tệ để chống lạm phát của FED diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Mỹ đã giảm 2 quý liên tiếp nhưng lạm phát vẫn chưa được kiểm soát.

Cùng với FED, ngày 21/7 vừa qua, ECB tăng lãi suất cơ bản đồng EUR với mức tăng 0,5%, chấm dứt kỷ nguyên lãi suất âm sau 11 năm. Ngân hàng Trung ương Anh đã tăng lãi suất lên mức cao nhất trong 13 năm qua. Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đều đã có từ 1-3 lần tăng lãi suất từ đầu năm đến nay.

Tác động của FED tăng lãi suất đối với kinh tế thế giới

Cùng với việc tăng lãi suất, FED còn thu hẹp quy mô bảng cân đối kế toán khoảng 427,5 tỷ USD trong nửa cuối năm 2022. Việc thắt chặt chính sách tiền tệ của Mỹ sẽ tác động tới kinh tế thế giới trên 5 phương diện sau:

Mặt bằng lãi suất toàn cầu tăng lên khiến kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, tổng cầu hàng hóa và dịch vụ thế giới suy giảm.

Đồng USD lên giá so với hầu hết các đồng tiền khác làm cho đồng nội tệ của các nước yếu đi so với USD, vì vậy kích thích xuất khẩu nhưng nhập khẩu sẽ đắt hơn, đặc biệt nhập khẩu xăng dầu.

Lãi suất USD tăng, các nhà đầu tư lo ngại rủi ro, rút vốn từ các thị trường mới nổi, quay về đầu tư tại thị trường Mỹ và một số thị trường phát triển khác để phòng tránh rủi ro và hưởng lãi suất cao. Điều này tác động đến dòng vốn đầu tư, nhất là đầu tư gián tiếp nước ngoài.

Tăng lãi suất USD sẽ tác động tiêu cực đến khả năng vay vốn trên thị trường quốc tế của các nước thuộc thị trường mới nổi vì các tổ chức cho vay sẽ đòi trả lãi cao hơn lãi suất khi họ đầu tư an toàn hơn tại Mỹ. Điều này gây khó khăn đối với chính phủ các nước thuộc thị trường mới nổi khi đang phải đương đầu với giá năng lượng và lương thực nhập khẩu tăng cao do đại dịch và cuộc chiến tại Ukraine.

Mỹ tăng lãi suất khiến giá trị đồng USD, tỷ giá giữa đồng nội tệ và USD tăng, gây thêm gánh nặng cho các quốc gia khi phải trả nợ nước ngoài tăng lên, khiến cho dự trữ ngoại tệ cạn kiệt. Bên cạnh đó khi FED tăng lãi suất sẽ thúc đẩy ngân hàng trung ương các nước phải tăng lãi suất để ổn định cán cân vãng lai, dẫn tới suy giảm tăng trưởng kinh tế.

Kinh tế thế giới năm 2022 là bức tranh “u ám và bất định”

Trước những sức ép và tác động của lạm phát cao dẫn đến FED và nhiều ngân hàng trung ương các nước tăng lãi suất; cuộc chiến Nga-Ukraine làm cho khủng hoảng năng lượng càng trầm trọng, các nước châu Âu phải đương đầu với thiếu hụt khí đốt cho mùa đông khắc nghiệt đang đến gần; với chiến lược zero COVID, kinh tế Trung Quốc giảm tốc độ tăng trưởng – đây là những yếu tố tác động rất lớn đối với kinh tế thế giới.

Mới đây, trong Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới năm 2022, IMF dự báo tăng trưởng toàn cầu năm nay ở mức 3,2% và 2,9% cho năm 2023. Đồng thời IMF cũng nâng dự báo lạm phát toàn cầu năm nay tại các nền kinh tế phát triển sẽ chạm mức 6,6% và các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển lên mức 9,5%; dự báo lạm phát trên toàn thế giới sẽ trở lại gần mức trước đại dịch vào cuối năm 2024, sau khi về 5,7% vào cuối năm 2023.

IMF cảnh báo kết quả thực tế có thể còn tệ hơn vì hàng loạt rủi ro hiện hữu. Đó là châu Âu đột ngột ngừng nhập khẩu khí đốt từ Nga; lạm phát khó kiềm chế bằng chính sách; các nước nghèo chật vật trả nợ do tài chính toàn cầu thắt chặt; và kinh tế Trung Quốc suy yếu vì chống dịch và khủng hoảng bất động sản. Theo IMF, trong kịch bản xấu, nếu Nga cắt toàn bộ cung cấp khí đốt cho châu Âu, tăng trưởng toàn cầu có thể chỉ là 2,6% năm 2022 và 2% năm 2023.

Mỹ, nền kinh tế hàng đầu, mang tính dẫn dắt kinh tế thế giới đã suy giảm 2 quý liên tiếp, tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế Mỹ đều suy giảm; theo dự báo của IMF, kinh tế Mỹ sẽ ghi nhận mức tăng trưởng 2,3% năm 2022 và 1% năm 2023.

Hoạt động sản xuất của Trung Quốc đã giảm trong tháng 7/2022. Chỉ số nhà quản trị mua hàng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới giảm xuống 49 vào tháng 7, từ mức 50,2 của tháng 6 và dưới mốc 50, ngưỡng phân định giữa tăng trưởng và suy giảm.

Các chỉ số kinh tế và dự báo triển vọng kinh tế toàn cầu của IMF phản ánh một thực tế kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại trong bối cảnh lạm phát cao, nguy cơ kinh tế thế giới rơi vào suy thoái. IMF mô tả kinh tế thế giới năm 2022 là bức tranh “u ám và bất định”.

Cần làm gì để nền kinh tế không bị lỡ nhịp với những cơ hội tăng trưởng? - Ảnh 2.

Mặc dù kinh tế Mỹ đã có 2 quý suy giảm liên tiếp, kinh tế và tổng cầu thế giới suy giảm, điều này có tác động nhưng không nhiều tới thương mại quốc tế của Việt Nam.

Việt Nam vẫn là thị trường đầu tư hấp dẫn

Mặc dù kinh tế Mỹ đã có 2 quý suy giảm liên tiếp, kinh tế và tổng cầu thế giới suy giảm, điều này có tác động nhưng không nhiều tới thương mại quốc tế của Việt Nam.

Đa số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là hàng tiêu dùng thiết yếu, như hàng dệt may, da giày, sản phẩm nông nghiệp, thủy sản. Ở các nước khi suy thoái, người dân vẫn phải sử dụng những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu này.

Thêm nữa, giá trị các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đối với chi tiêu của các nước trên thế giới không lớn nên kim ngạch xuất khẩu hàng Việt Nam không bị ảnh hưởng nhiều. Thực tế trong 7 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nước ta đạt 216,35 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn được đánh giá là thị trường đầu tư hấp dẫn do hệ thống chính trị và kinh tế vĩ mô ổn định. Trong 7 tháng đầu năm 2022, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ước tính đạt 11,57 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 7 tháng trong 5 năm qua.

Trong thời gian tới dòng vốn FDI có chất lượng hơn, với công nghệ cao sẽ đổ vào Việt Nam trong các lĩnh vực năng lượng sạch, nông nghiệp công nghệ cao, cơ khí chính xác.

Theo khảo sát, khoảng 76% doanh nghiệp của EU đang hoạt động tại Việt Nam sẽ tăng vốn đầu tư. Với dự báo tăng trưởng kinh tế đạt trên 6% trong năm 2022 và 2023.

Kể từ khi FED tăng lãi suất, chỉ có 4.600 tỷ đồng vốn rút dòng từ đầu năm đến nay ra khỏi thị trường Việt Nam.

Tuy vậy, tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm, kéo dài nhiều năm chưa có chuyển biến đáng kể, ảnh hưởng đến huy động các dòng vốn, uy tín quốc gia, giảm niềm tin của nhà đầu tư, nhà tài trợ, nhiều dự án lớn đội vốn, gây lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả.

Đủ sức chống chịu các cú sốc bên ngoài

Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường. Vì vậy khi FED tăng lãi suất, tỷ giá VND/USD tăng không nhiều do dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt mức khá cao, đủ khả năng chống chịu các cú sốc bên ngoài; nguồn cung ngoại tệ từ kiều hối, thực hiện giải ngân vốn FDI dự báo vẫn tăng ổn định, cán cân thương mại cả năm dự báo thặng dư.

Trong thời gian qua, khi FED đã 4 lần tăng lãi suất, tỷ giá VND/USD chỉ tăng khoảng 2%-3%, mức thấp so với biến động tăng tỷ giá đồng nội tệ của các nước trên thế giới. Tỷ giá VND/USD tăng nhẹ trong thời gian qua đã góp phần tăng tính cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của nước ta.

Tuy vậy, kinh tế nước ta phụ thuộc khá lớn vào nguyên vật liệu nhập khẩu. Khi đồng USD tăng giá trong bối cảnh đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ tác động không nhỏ tới ổn định sản xuất và gia tăng tác động của lạm phát chi phí đẩy do nhập khẩu lạm phát.

Mỹ tăng lãi suất khiến nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của chính phủ và doanh nghiệp sẽ tăng lên. Hiện nay, mức vay nợ nước ngoài tự vay, tự trả của Việt Nam vẫn trong khuôn khổ an toàn nợ nước ngoài của quốc gia và đóng góp quan trọng trong việc duy trì đà tăng trưởng kinh tế. So với nhóm các nước trong khu vực, nợ nước ngoài tự vay, tự trả của Việt Nam vẫn ở mức trung bình.

Theo Bộ Tài chính, hiện nay khối lượng vay vốn trong nước của Chính phủ chiếm 90% và vay vốn nước ngoài chỉ chiếm khoảng 10% tổng giá trị hàng năm; các khoản vay trong nước của Chính phủ có xu hướng tăng nhanh và chiếm vai trò chủ đạo, nợ nước ngoài giảm dần, vì vậy rủi ro về tỷ giá đối với nợ nước ngoài giảm xuống, đảm bảo an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia. Do đó, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ bị tác động không nhiều trước việc đồng USD tăng giá.

Tuy vậy, vay và trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng theo phương thức tự vay, tự trả tăng cao, khi FED tăng lãi suất, khu vực doanh nghiệp sẽ tăng gánh nặng trả nợ vay nước ngoài.

Cần làm gì để nền kinh tế không bị lỡ nhịp với những cơ hội?

Trên 5 phương diện tác động của việc FED tăng lãi suất ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam, với sự điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá linh hoạt đảm bảo ổn định mặt bằng lãi suất và tỷ giá sẽ góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, tạo cơ hội thực hiện thành công Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội.

Để kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng cho phục hồi và phát triển kinh tế, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp cần chủ động, linh hoạt, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, rà soát bãi bỏ các quy định không hợp lý nhằm cắt giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng thúc đẩy tổng cung, giảm áp lực lạm phát.

Chính phủ khẩn trương, tập trung chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan tháo gỡ điểm nghẽn về sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật chuyên ngành liên quan đến thực hiện dự án đầu tư công và hạn chế trong công tác giải phóng mặt bằng. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chính sách, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế.

Để nền kinh tế không lỡ nhịp với các cơ hội trong nước và quốc tế, Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành, lĩnh vực chủ động nắm chắc tình hình, rà soát, nhận diện các cơ hội và thách thức, kịp thời đưa ra những chính sách, giải pháp phù hợp; đối với một số ngành, lĩnh vực trong các tình huống đặc biệt thì cần đưa ra giải pháp đặc thù để vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng và phát huy tối đa các cơ hội, thúc đẩy quá trình phục hồi, phát triển kinh tế, xã hội và duy trì động lực tăng trưởng trong dài hạn, tạo dựng và khai thác các động lực tăng trưởng mới.

Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, giữ lãi suất và tỷ giá ổn định trong biên độ cho phép; đảm bảo vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân với lãi suất phù hợp, hỗ trợ xuất nhập khẩu, thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi và phát triển kinh tế, xã hội.

Trong bối cảnh đứt gãy chuỗi cung ứng, Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành liên quan, đặc biệt cộng đồng doanh nghiệp đa dạng nguồn cung. Đảm bảo nguồn cung của từng nhóm nguyên vật liệu của mỗi ngành không phụ thuộc vào một thị trường, một khu vực. Bộ Công Thương chủ trì, cùng với các Bộ, ngành liên quan đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm nguồn cung nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuất, giảm thiểu tác động của nhập khẩu lạm phát đối với nền kinh tế.

Cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm nguồn cung và lưu thông hàng hóa. Đối với các mặt hàng thiếu hụt trong ngắn hạn cần có giải pháp nhập khẩu kịp thời nguyên nhiên vật liệu, cắt giảm chi phí sản xuất; đối với các mặt hàng thiếu hụt dài hạn cần chủ động tìm kiếm nguồn hàng và đối tác cung ứng thay thế.

Chính phủ chỉ đạo điều tiết hợp lý giá các mặt hàng thiết yếu do Nhà nước quản lý như xăng dầu, điện, dịch vụ, y tế, giáo dục… thực hiện trợ cấp xã hội cho những hoàn cảnh khó khăn, qua đó giảm thiểu tác động từ việc Fed tăng lãi suất ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, nhất là người có thu nhập thấp.

Chính phủ cần tập trung vào công tác chỉ đạo, khẩn trương thực hiện các chính sách, giải pháp đã ban hành để tránh bỏ lỡ cơ hội, lỡ nhịp đối với kinh tế nước ta. Chính sách và giải pháp tốt nhưng triển khai chậm vẫn chỉ là chính sách./.

TS. Nguyễn Bích Lâm

The post Cần làm gì để nền kinh tế không bị lỡ nhịp với những cơ hội tăng trưởng? appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Thị trường Mỹ Latinh còn nhiều dư địa cho DN xuất khẩu Việt Nam https://evbn.org/thi-truong-my-latinh-con-nhieu-du-dia-cho-dn-xuat-khau-viet-nam-1680773297/ Thu, 06 Apr 2023 09:28:18 +0000 https://evbn.org/thi-truong-my-latinh-con-nhieu-du-dia-cho-dn-xuat-khau-viet-nam-1680773297/ Diễn đàn Thương mại Việt Nam – Mỹ Latinh năm 2022 thu hút hàng trăm DN tham dự nhằm tìm kiếm các cơ hội hợp...

The post Thị trường Mỹ Latinh còn nhiều dư địa cho DN xuất khẩu Việt Nam appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Thị trường Mỹ Latinh còn nhiều dư địa cho DN xuất khẩu Việt Nam - Ảnh 1.

Diễn đàn Thương mại Việt Nam – Mỹ Latinh năm 2022 thu hút hàng trăm DN tham dự nhằm tìm kiếm các cơ hội hợp tác kinh doanh.

Ngày 25/11, tại TPHCM, Bộ Công Thương phối hợp với UBND TPHCM tổ chức “Diễn đàn Thương mại Việt Nam – Mỹ Latinh năm 2022”.

Mỹ Latinh được biết đến là khu vực thị trường tiềm năng của Việt Nam. Quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và khu vực Mỹ Latinh đã không ngừng được phát triển và mở rộng.

Kim ngạch thương mại hai chiều tăng gần gấp đôi

Theo thống kê của Bộ Công Thương, chỉ trong vòng 5 năm, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng gần gấp đôi từ mức 11,6 tỷ USD của năm 2016 lên mức 21,4 tỷ USD năm 2021, trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ Latinh đạt 12,5 tỷ USD, tăng 46,4%, nhập khẩu từ Mỹ Latinh vào Việt Nam đạt 8,9 tỷ USD, tăng 20,2%.

Đáng chú ý, bên cạnh các thị trường có kim ngạch trao đổi hàng đầu tại khu vực là Brazil, Mexico, Argentina, Chile, nhiều thị trường mới nổi như Panama, Colombia, Peru đã và đang trở thành điểm sáng trong trao đổi thương mại của Việt Nam với Mỹ Latinh. 

Năm 2021, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với các thị trường này đều đạt mức tăng trưởng rất cao, cụ thể như với Colombia đạt 674,7 triệu USD, tăng 41,5%; với Peru đạt 633,7 triệu USD, tăng 62%; với Panama đạt 465,6 triệu USD, tăng 45,5%.

Bước sang năm 2022, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nói chung cũng như của Việt Nam và các nước Mỹ Latinh nói riêng trải qua nhiều biến động, giao thương và chuỗi cung ứng rơi vào khó khăn, thậm chí đứt gãy dưới tác động của đại dịch cùng các bất ổn địa chính trị khu vực và toàn cầu, thương mại song phương giữa Việt Nam và Mỹ Latinh vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. 10 tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch hai chiều đạt 18,7 tỷ USD, tăng 10,5%, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ Latinh đạt 10,2 tỷ USD, tăng 5,3%, nhập khẩu từ Mỹ Latinh vào Việt Nam đạt 8,6 tỷ USD, tăng 17,3%.

Xét về trao đổi thương mại của Việt Nam, Mỹ Latinh vẫn luôn nằm trong số các thị trường đạt tăng trưởng cao nhất. Không chỉ là thị trường xuất khẩu tiềm năng cho các sản phẩm thế mạnh của Việt Nam như hàng dệt may, da giày, nông thủy sản…, Mỹ Latinh còn là khu vực cung ứng nguyên phụ liệu quan trọng cho ngành sản xuất như ngô, đậu tương, thức ăn chăn nuôi…

Hợp tác và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại

Đạt được kết quả tích cực nêu trên, theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải, Việt Nam và các đối tác Mỹ Latinh cũng đang triển khai hiệu quả các hiệp định, thỏa thuận để tạo đòn bẩy cho quan hệ kinh tế thương mại đầu tư, trong đó, phải kể đến Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mà Việt Nam cùng với Mexico, Chile, Peru là thành viên; Hiệp định Thương mại tự do với Chile (VCFTA) hay Hiệp định Thương mại với Cuba. Việt Nam cũng đang tiếp tục trao đổi khả năng đàm phán một hiệp định thương mại tự do với Khối Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur). Các hiệp định nói trên đã và đang mang lại những tác động tích cực, tạo động lực cho quan hệ thương mại – đầu tư song phương không ngừng phát triển.

Thị trường Mỹ Latinh còn nhiều dư địa cho DN xuất khẩu Việt Nam - Ảnh 2.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải khẳng định, Chính phủ và Bộ Công Thương, cùng với hệ thống Thương vụ Việt Nam tại các nước Mỹ Latinh sẽ nỗ lực để hỗ trợ tối đa cho các DN xuất khẩu Việt Nam khai thác hiệu quả thị trường Mỹ Latinh. Ảnh: Báo Công Thương

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và các đối tác khu vực Mỹ Latinh từ lâu vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong hợp tác kinh doanh như: Khoảng cách địa lý xa xôi, chưa có tuyến vận tải hàng hoá và hành khách trực tiếp, chi phí logistics luôn ở mức cao, khác biệt về ngôn ngữ, thiếu thông tin thị trường, lạm phát tăng cao tại một số nước Mỹ Latinh…

Ông Guillermo Perez Cena, Tổng Giám đốc của Công ty Asia America Commerce Solution SRL, một chuyên gia hoạt động lâu năm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hoá giữa Mỹ Latinh và châu Á (trong đó có Việt Nam) nhận định, mặc dù 2 năm vừa qua, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, nhất là ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19 và xung đột địa chính trị, tuy nhiên, vượt qua những khó khăn đó, Việt Nam vẫn phát triển rất mạnh mẽ, là điểm sáng của kinh tế thế giới. Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và khu vực Mỹ Latinh ngày càng phát triển mạnh mẽ, 2 phía có nhiều điểm tương đồng có thể bổ trợ cho nhau. Các mặt hàng của các doanh nghiệp Việt Nam xuất sang thị trường Mỹ Latinh ngoài các mặt hàng thế mạnh như da giày, dệt may thì mặt hàng điện tử cũng ngày càng tăng cao.

Các doanh nghiệp Mỹ Latinh rất lạc quan về mối quan hệ thương mại với Việt Nam và mong muốn có thể hợp tác lâu dài, bền vững với các doanh nghiệp Việt Nam để cùng tận dụng và khai thác tốt các thế mạnh của nhau cũng như các lợi thế của các hiệp định kinh tế thương mại mà hai bên đã ký kết.

Tại diễn đàn, đại diện Thương vụ Việt Nam tại các thị trường Mỹ Latinh cam kết sẽ đồng hành và hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt kịp thời về thông tin thị trường các nước, tăng cường kết nối với các doanh nghiệp bản địa nhằm tận dụng và khai thác hiệu quả nhất các lợi thế từ các hiệp định thương mại đã ký kết.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải khẳng định, Chính phủ và Bộ Công Thương, cùng với hệ thống Thương vụ Việt Nam tại các nước Mỹ Latinh sẽ nỗ lực để hỗ trợ các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về thông tin thị trường, làm cầu nối với các đối tác Mỹ Latinh, hỗ trợ giải quyết khó khăn vướng mắc phát sinh trong quá trình kinh doanh và đầu tư, mở rộng thị trường.

Cũng trong khuôn khổ diễn đàn, hơn 100 doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia hoạt động kết nối trực tiếp với gần 30 doanh nghiệp Mỹ Latinh trong các lĩnh vực nông sản, thực phẩm, dệt may, y tế… để tìm kiếm các cơ hội hợp tác kinh doanh. 

Lê Anh

The post Thị trường Mỹ Latinh còn nhiều dư địa cho DN xuất khẩu Việt Nam appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Mỹ la-tinh nỗ lực ổn định và phát triển kinh tế https://evbn.org/my-latinh-no-luc-on-dinh-va-phat-trien-kinh-te-1680773277/ Thu, 06 Apr 2023 09:27:58 +0000 https://evbn.org/my-latinh-no-luc-on-dinh-va-phat-trien-kinh-te-1680773277/ Năm 2019, Cu-ba triển khai kiện toàn bộ máy, bầu chủ tịch nước, thủ tướng và nhiều chức danh theo lộ trình của Hiến pháp...

The post Mỹ la-tinh nỗ lực ổn định và phát triển kinh tế appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Năm 2019, Cu-ba triển khai kiện toàn bộ máy, bầu chủ tịch nước, thủ tướng và nhiều chức danh theo lộ trình của Hiến pháp mới, tạo nền móng xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện đại, phù hợp công cuộc cập nhật mô hình kinh tế – xã hội, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước. Các bộ trưởng phụ trách kinh tế Cu-ba nhận định, trong bối cảnh Mỹ liên tiếp thắt chặt cấm vận La Ha-ba-na, song năm 2019 “đảo tự do” không rơi vào suy thoái kinh tế. Cu-ba tiến hành các cải cách quan trọng trong khối doanh nghiệp nhà nước, tăng lương cho lao động hưởng ngân sách, tạo thêm điều kiện tiêu dùng cho người dân. Chính phủ Cu-ba đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế 1% trong năm 2020 và triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy kinh tế, chính thức áp dụng chính sách “một cửa” trong cấp phép cho các dự án đầu tư nước ngoài.

Năm vừa qua, chính phủ Vê-nê-xu-ê-la tiếp tục củng cố đoàn kết trong nước, kiên định con đường cách mạng với các chính sách xã hội, phục vụ lợi ích của người dân, ngăn chặn và đối phó hiệu quả các âm mưu gây bất ổn. Tuy nhiên, Ca-ra-cát vẫn cần vượt qua nhiều thách thức, cả về chính trị lẫn kinh tế khi đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn trước tác động của cuộc bao vây cấm vận từ bên ngoài.

Tổng thống Bra-xin G.Bôn-xô-na-rô kêu gọi thành viên Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) phê chuẩn và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã đàm phán và ký kết với các đối tác, trọng tâm là FTA với Liên hiệp châu Âu (EU). Song, bất đồng quan điểm trong MERCOSUR thời gian gần đây càng lộ rõ, nhất là giữa hai “đầu tàu” của Mỹ la-tinh là Bra-xin và Ác-hen-ti-na. Bên cạnh đó, Bra-xin và Ác-hen-ti-na cũng đối mặt thách thức từ bên ngoài, khi Mỹ cảnh báo về nguy cơ tái áp thuế với thép và nhôm nhập khẩu từ hai nước trên.

Cuối năm 2019, chính phủ Ác-hen-ti-na ban hành gói luật liên quan tình trạng khẩn cấp kinh tế. Ưu tiên của Bu-ê-nốt Ai-rét là triển khai các biện pháp hỗ trợ những người bị ảnh hưởng nhiều nhất do suy thoái kinh tế gần hai năm qua, khi tỷ lệ lạm phát và nghèo đói ở mức cao. Dư luận tiến bộ ở Mỹ la-tinh hy vọng, việc lực lượng cánh tả quay trở lại nắm quyền ở Ác-hen-ti-na đem tới nhiều sự công bằng hơn, các chính sách mới sẽ chú trọng tới đại bộ phận người dân, tạo sức bật trong công cuộc khôi phục con đường phát triển của quốc gia Nam Mỹ này.

Năm vừa qua, biểu tình liên tiếp nổ ra ở nhiều nước, như tại Chi-lê, Ê-cu-a-đo và Cô-lôm-bi-a, nhằm phản đối bất bình đẳng xã hội, thúc đẩy chính phủ cải cách. Đầu tháng 12-2019, chính phủ Chi-lê công bố gói phục hồi kinh tế trị giá 5,5 tỷ USD và kế hoạch phát hành trái phiếu bằng đồng ngoại tệ, nhằm phục hồi nền kinh tế vốn chịu thiệt hại nặng nề do các cuộc biểu tình kéo dài. Nhằm ổn định xã hội, Tổng thống Chi-lê X.Pi-nhê-ra ký ban hành kế hoạch cải tổ Hiến pháp, mở đường cho tiến trình soạn thảo văn kiện này, dự kiến bắt đầu bằng cuộc trưng cầu ý dân vào tháng 4-2020. Chính phủ Ê-cu-a-đo và Cô-lôm-bi-a cũng đang nỗ lực tìm biện pháp giải quyết các vấn đề liên quan cải cách kinh tế, hệ thống y tế, lương hưu, chấm dứt tình trạng bạo lực, tham nhũng và những vấn đề khác.

Theo Ủy ban Kinh tế Mỹ la-tinh và Ca-ri-bê (CEPAL), năm 2019 nền kinh tế khu vực này ghi nhận mức tăng trưởng thấp, ở mức 0,1%, do bối cảnh kinh tế – xã hội “cực kỳ phức tạp”. Theo CEPAL, tăng trưởng kinh tế khu vực Mỹ la-tinh và Ca-ri-bê trong giai đoạn 2014 – 2020 sẽ ở mức thấp nhất trong 40 năm qua. Bên cạnh đà suy giảm chung của thế giới, nguyên nhân chủ yếu của khó khăn kinh tế tại Mỹ la-tinh là những biến động lớn trong chính trị nội bộ các nước, gia tăng bất bình đẳng trong xã hội.

Tình hình khu vực Mỹ la-tinh được dự báo còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, bởi những nguyên nhân cơ bản của bất ổn chưa được giải quyết triệt để. Trong bối cảnh đó, các tổ chức tài chính thế giới kêu gọi các nước Mỹ la-tinh thúc đẩy các chính sách kinh tế – xã hội bao trùm và bền vững, phục vụ tối đa lợi ích của mọi tầng lớp trong xã hội, đồng thời tích cực hội nhập, tự do hóa thương mại…

The post Mỹ la-tinh nỗ lực ổn định và phát triển kinh tế appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Định hướng phát triển của các nước Mỹ Latinh dưới chính thể cánh tả https://evbn.org/dinh-huong-phat-trien-cua-cac-nuoc-my-latinh-duoi-chinh-the-canh-ta-1680773268/ Thu, 06 Apr 2023 09:27:49 +0000 https://evbn.org/dinh-huong-phat-trien-cua-cac-nuoc-my-latinh-duoi-chinh-the-canh-ta-1680773268/ (LLCT) – Lực lượng cánh tả đã thực sự đóng vai trò chủ đạo trong đời sống chính trị – xã hội khu vực. Tuy...

The post Định hướng phát triển của các nước Mỹ Latinh dưới chính thể cánh tả appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

(LLCT) – Lực lượng cánh tả đã thực sự đóng vai trò chủ đạo trong đời sống chính trị – xã hội khu vực. Tuy vậy, các Chính phủ hiện tại không có sự đồng nhất về chính sách kinh tế nên thực quyền chính trị cũng có sự khác biệt. Cho nên, việc định hướng phát triển của các quốc gia này cũng khác nhau về mức độ và quy mô.

Từ cuối những năm 90 thế kỷ XX đến nay, sự thắng lợi và lên cầm quyền của lực lượng cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh đã và đang làm thay đổi toàn cảnh bức tranh khu vực vốn được xem là “sân sau” của Mỹ trong suốt gần một thế kỷ qua. Tuy nhiên, hiện nay trong nội bộ các nước Mỹ Latinh dưới chính thể cánh tả đang có sự phân chia thành 2 nhóm nước với hai mô hình khác nhau: 1) Nhóm cácchính phủ cánh tả ít nhiều còn áp dụng chính sách tự do mới và ủng hộ tầng lớp tư sản quốc gia hoặc khu vực trong các dự án, chương trình của mình như Braxin, Urugoay, Chilê và Achentina; 2) Các chính phủ cánh tả khác lại chống đối mạnh mẽ giới tư bản địa phương và nước ngoài trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng. Nhóm này có xu hướng quốc hữu hóa, tăng cường vai trò của nhà nước một cách triệt để như Vênêduêla, Bôlivia, Ecuado và Nicaragoa. Chính sự khác nhau trong định hướng chính sách trên đã làm cho quá trình quốc hữu hóa và định hướng phát triển đất nước của 2 nhóm nước này có sự  khác nhau.

1. Quá trình quốc hữu hóa của các nước Mỹ Latinh dưới chính thể cánh tả

Mặc dù chỉ chiếm hơn 8% dân số và 14,7% diện tích thế giới, nhưng khu vực Mỹ Latinh lại đang nắm giữ nhiều ngành kinh tế then chốt,nhiều nguồn tài nguyên và khoáng sản với trữ lượng lớn của thế giới như: tiềm năng thủy điện (35%), bạc (31%), đồng (28%), than đá (27%), dầu lửa (24%)…Để phát huy tiềm năng và lợi thế của những ngành kinh tế then chốt này, hainhóm nước “cánh tả” trên đã đồng loạt tiến hành quốc hữu hóa và tăng cường vai trò kiểm soát của nhà nước đối với hầu hết các ngành kinh tế quan trọng, tuy nhiên mức độ thực hiện của hainhóm nước này lại có sự khác nhau.

Nhóm nước thứ nhất

Braxin – nền kinh tế lớn nhất Mỹ Latinh, suốt gần 3 thập niên trở lại đây vẫn chịu ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế thị trường theo hướng tự do mới. Tháng 10-2002, với thắng lợi của Chính phủ cánh tả tiến bộ, Tổng thống Lula da Silva lên cầm quyền thay Tổng thống Fernando Henrique Cardoso (1995 – 2002) vẫn tiếp tục thực thi chính sách ổn định nền kinh tế trên cơ sở những gợi ý của IMF trong thỏa thuận với chính phủ tiền nhiệm. Do vậy, Braxin không những được IMF cho vay những khoản tín dụng nhất định cho phát triển kinh tế mà đầu tư nước ngoài của Mỹ, Đức, Ấn Độ, Trung Quốc,…vào quốc gia này cũng gia tăng theo.

Đầu năm 2007, sau khi tái đắc cử, Chính phủ của ông Lula da Silva bắt đầu kiểm soát và can thiệp vào một số ngành kinh tế trọng yếu như dầu mỏ và thủy điện. Tuy nhiên, quá trình quốc hữu hóa của Braxin cũng ở mức độ.

Ở Achentina, tháng 5-2003, Tổng thống Nestor Kirchner bắt đầu trả hết nợ cho IMF, đồng thời quốc hữu hóa một số doanh nghiệp tư nhân trước đó. Đến năm 2007, được các lực lượng cánh tả ủng hộ, phu nhân của Tổng thống Nestor Kirchner, bà Cristina Fernández de Kirchner thắng cử và trở thành nữ Tổng thống đầu tiên ở Achentina. Bà Kirchner đã tiếp tục đẩy mạnh chính sách của chồng bằng cách can thiệp, gia tăng vai trò của nhà nước trong một số ngành kinh tế còn khó khăn. Tháng 11-2008, nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động nghỉ hưu, sau khi các quỹ hưu tríbị mất gần 20% giá trị do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, Chính phủ đã thông qua Thượng viện đề xuất quốc hữu hóa quỹ đầu tư hưu trí mà trước đó Hạ viện đã nhất trí thông qua. Kể từ đó, Chính phủ bắt đầu nắm cổ phiếu của một số công ty lớn nhất trong nước. Ngoài ra, những năm gần đây, Chính phủ đã tiến hành quốc hữu hóa một loạt ngành như: dịch vụ bưu chính, đường sắt và cấp nước. Tuy nhiên, quá trình này chỉ diễn ra ở mức độ thấp.

Ở Chilê, dưới ảnh hưởng của nền kinh tế theo hướng tự do mới, quá trình quốc hữu hóa chỉ diễn ra nhỏ lẻ. Trước đây, trong gần 20 năm (1973 – 1990), Chilê theo đuổi chính sách kinh tế cân bằng và đã cho tư hữu hóa nhiều cơ sở quốc doanh. Ba chính phủ dân sự kế tiếp cũng theo con đường đó nhưng ở tốc độ chậm hơn. Chính phủ Chilê từ đó chỉ nắm giữ vai trò điều hành hạn chế, ngoại trừ vài trường hợp như việc sở hữu công ty đồng CODELCO. Chính phủ kiên quyết theo đuổi tự do mậu dịch và đã ký kết một số hiệp ước tự do mậu dịch với Hoa Kỳ, khối EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Niu Dilân, Xingapo, Brunây và Đài Loan.

 Ngành khai thác và xuất khẩu đồng được xem là ngành kinh tế đem lại nguồn ngân sách quốc gia lớn nhất cho đất nước này (khoảng 70% nguồn ngoại tệ). Năm 2000, do ảnh hưởng của phong trào cánh tả ở Vênêduêla, ứng cử viên của Đảng Xã hội Chilê, ông  Ricardo Lagos Escobar đắc cử Tổng thống. Đến năm 2005, ứng viên Đảng Xã hội, bà Michelle Bachelet Jeria cũng tiếp tục thắng cử và trở thành nữ Tổng thống đầu tiên tại quốc gia này. Sự nắm quyền của đảng cánh tả ở Chilê đã bước đầu có ảnh hưởng tích cực đến quá trình quốc hữu hóa một số ngành kinh tế, nhất là trong ngành khai thác đồng.

Ở Urugoay, năm 2004, ông Tabare RamonVazquez Rosas – ứng cử viên của liên minh cánh tả Mặt trận rộng rãi (FA) thắng cử Tổng thống với 50,69% phiếu bầu(3). Tiếp đến nhiệm kỳ 2010 -2015 của ông Jose Mujica, vị nguyên thủ thứ 40 trong lịch sử quốc gia Nam Mỹ này, đánh dấu nhiệm kỳ cầm quyền thứ hai liên tiếp của liên minh cánh tả Mặt trận rộng rãi. Dưới sự lãnh đạo của liên minh cánh tả, Chính phủ Urugoay không thực hiện quốc hữu hóa một cách cụ thể, nhưng có xu hướng chống lại việc sở hữu tư nhân, tăng cường vai trò của chính phủ trong việc sở hữu các công ty quan trọng như: công ty Republica AFAP (Quỹ hưu trí), AFE (Đường sắt), ANCAP (Năng lượng), ANCO (Bưu điện), ANTEL (Viễn thông), Brou (Ngân hàng), BSE (Bảo hiểm), OSE (Nước và nước thải) và công ty UTE (Điện lực),… Các công ty này hoạt động theo pháp luật công cộng và theo Hiến pháp của Urugoay. Ngoài ra, Chính phủ cũng có quyền sở hữu các bộ phận của nhiều công ty khác hoạt động theo pháp luật tư nhân như các hãng hàng không quốc gia PLUNA và Tổng công ty Phát triển Quốc gia.

Nhìn chung, do mối quan hệ ràng buộc với Mỹ và IMF nên nhóm nước này vẫn còn chịu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do mới.

Với nhóm nước thứ hai, quá trình quốc hữu hóa diễn ra mạnh mẽ hơn, mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước theo con đường “CNXH thế kỷ XXI” cũng quyết liệt hơn, đặc biệt là ở Vênêduêla, Bôlivia và Ecuado.

Vênêduêla là nước có trữ lượng dầu mỏ lớn thứ 6 thế giới, sản lượng khai thác lớn thứ 5 và là một trong 10 nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới. Vì thế, ngành công nghiệp dầu mỏ được xem là ngành kinh tế trụ cột, có đóng góp nhiều nhất cho kinh tế của đất nước (chiếm tới 1/3 GDP, 80% giá trị xuất khẩu và hơn một nửa ngân sách nhà nước).

Sau khi lên nắm quyền năm 1998, đặc biệt là sau khi tái đắc cử Tổng thống năm 2006, ông Hugô Chavet đã khởi xướng một cuộc cách mạng ở Vênêduêla thông qua việc thực hiện một số chính sách như quốc hữu hóa nhiều ngành kinh tế quan trọng, sửa đổi Hiến pháp và kêu gọi quần chúng nhân dân cùng nhau xây dựng “CNXH thế kỷ XXI” nhằm chống đói nghèo vì mục tiêu công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ngày 1-5-2007, Chính phủ Vênêduêla đã giành lại quyền điều hành và sở hữu bốn nhà máy lọc dầu ở khu Ôrinôcô. Tháng 5-2009, sau khi thông qua đạo luật cho phép Chính phủ kiểm soát toàn bộ ngành công nghiệp được xem là “vàng đen” của đất nước, Vênêduêla tiếp tục quốc hữu hóa 39 công ty dầu mỏ tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài (trong đó có khá nhiều công ty có vốn đầu tư từ Mỹ và châu Âu). Tổng thống Hugô Chavet tuyên bố tài sản của 39 công ty tư nhân và nước ngoài bị tịch thu từ nay sẽ thuộc sở hữu Nhà nước. Sau khi tiến hành sửa đổi một số điều luật về kinh tế và nắm Công ty dầu khí quốc doanh PDVSA, Tổng thống Hugô Chavet tiếp tục tuyên bố sẽ quốc hữu hóa các ngành công nghiệp quan trọng khác như điện lực, viễn thông. Ngoài ra, Chính phủ Vênêduêla cũng công bố kế hoạch quốc hữu hóa một số công ty sắt và thép lớn nhất đất nước, đồng thời, sẽ quốc hữu hóa tất cả các ngân hàng tư nhân nếu những ngân hàng này không ưu tiên tài chính cho các công ty trong nước và không tuân thủ luật về cung cấp tín dụng cho các chương trình phát triển xã hội trong các lĩnh vực nông nghiệp, du lịch, xây dựng và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Như vậy, trong hơn 10 năm cầm quyền vừa qua, Tổng thống Hugô Chavet đã tiến hành quốc hữu hóa nhiều ngành công – nông nghiệp, dịch vụ quan trọng với mục tiêu thúc đẩy sản xuất trong nước, bình ổn thị trường. Tất cả những chính sách này đều hướng tới mục tiêu xóa nghèo đói, phát triển kinh tế và định hướng con đường phát triển lên “CNXH thế kỷ XXI” theo quan điểm của đảng cánh tả cầm quyền.

Ở  Bôlivia, quốc gia có trữ lượng khí đốt nhiều thứ hai ở Mỹ Latinh, nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào ngành khai thác năng lượng. Để tăng cường vai trò nhà nước, từng bước loại bỏ sự yếu kém của mô hình tự do mới theo kiểu Mỹ, sau khi lên cầm quyền (tháng 1-2007), Tổng thống Evô Môralét (thuộc cánh tả) đã tiến hành quốc hữu hóa các ngành kinh tế then chốt nhất như khai thác khoáng sản và khí đốt. Việc quốc hữu hóa các ngành này cho phép Chính phủ giành quyền kiểm soát những nguồn tài nguyên mang lại nhiều lợi nhuận từ tay các công ty năng lượng trong và ngoài nước, góp phần cải thiện đời sống của người dân tại quốc gia nghèo nhất Nam Mỹ này. Đây cũng là cam kết của Tống thống Evô Môralét khi nhậm chức.

Theo lệnh quốc hữu hóa mới, các công ty nước ngoài được phép tiếp tục hoạt động tại Bôlivia, tuy nhiên phải tuân thủ luật pháp của nước này, đồng thời các quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai và các loại tài nguyên quốc gia cũng đã được Tổng thống Evô Môralét đưa vào bản Hiến pháp mới của Bôlivia. Hiến pháp đã khẳng định các quyền cơ bản của công dân Bôlivia, trong đó chú trọng tới những thổ dân nghèo, đang chiếm số đông ở nước này; mặt khác, cho phép quyền tự trị kinh tế khu vực, tăng cường kiểm soát của nhà nước về trữ lượng khí đốt…

Ngày 1-5-2008, Tổng thống Evô Môralétquyết định chi 43 triệu USD để kiểm soát 4 công ty liên doanh năng lượng. Tổng thống Evô Môralét cũng ký sắc lệnh quốc hữu hóa Công ty viễn thông (ENTEL) – doanh nghiệp với 50% cổ phần do Công ty Telecom Italia nắm và 44% thuộc về Nhà nước Bôlivia. Theo ước tính, riêng năm 2008, ngành dầu khí đã đem lại cho ngân sách nhà nước tối thiểu 2,5 tỷ USD, tăng mạnh so với mức bình quân 300 triệu USD/năm trước khi Chính phủ quốc hữu hóa ngành này. Chính phủ Bôlivia thông báo sẽ tiếp tục quốc hữu hóa các ngành kinh tế quan trọng như điện lực và đường sắt, có phần lớn cổ phần do công ty nước ngoài nắm giữ.

Tại Ecuado, một trong những nước nghèo ở Mỹ Latinh, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn nguyên liệu thô, xuất khẩu các sản phẩm như dầu mỏ, chuối, hoa và tôm. Công nghiệp chủ yếu theo định hướng dịch vụ và thị trường nội địa. Hiện nay, tình trạng bất bình đẳng xã hội đang ở mứcgay gắt, tỷ lệ người nghèo chiếm 50% dân số (năm 2000 tỷ lệ này chiếm tới 70% dân số), trong khi chỉ khoảng 5% người giàu lại sở hữu hơn 40% giá trị tài sản của  Ecuado. Do vậy, kể từ khi lên nắm quyền điều hành đất nước cuối năm 2006, Chính phủ cánh tả của Tổng thống Raphaen Côrêa đã triển khai nhiều cải cách kinh tế – xã hội nhằm giảm nghèo đói, bất công và đưa đất nước phát triển theo con đường “CNXH thế kỷ XXI”. Chính phủ Ecuado đã từng bước tiến hành quốc hữu hóa ngành dầu khí và chấm dứt hợp đồng với những công ty nước ngoài không tăng sản lượng khai thác tại các giếng dầu ở khu vực Amadôn. Tuyên bố này được nhà lãnh đạo Ecuado đưa ra sau khi ông Côrêa nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân trong cuộc trưng cầu dân ý vừa qua về bản Hiến pháp mới, tạo điều kiện thuận lợi cho Chính phủ Ecuado tăng cường vai trò quản lý kinh tế. Ông Côrêa cũng hối thúc công ty PETR4.SA thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Braxin (Petrobras) khẩn trương thực hiện cam kết với chính phủ và khẳng định sẽ quốc hữu hóa giếng dầu này nếu Petrobras còn tiếp tục trì hoãn việc khai thác.

Chính phủ Ecuado cũng chủ trươngquốc hữu hóa các công ty tư nhân nếu các công ty này không thực hiện theo pháp luật địa phương. Bất kỳ công ty dầu lửa nào không thực hiện các chính sách của nhà nước sẽ bị quốc hữu hóa và trục xuất khỏi đất nước.

Nicaragoa, một trong những nước nghèo ở Tây bán cầu, năm 2004, nợ nần chiếm đến 125,3% GDP. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi là chính; công nghiệp chỉ tập trung trong lĩnh vực chế biến nông sản, sản xuất điện năng trên cơ sở khai thác nguồn địa nhiệt. Năm 2006 trở lại nắm quyền, Tổng thống Nicaragoa – Ông Đanien Óctêga đã tuyên bố sẽ “hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở đất nước mình”. Tuy nhiên, do thực trạng khó khăn của đất nước, chủ trương quốc hữu hóa các ngành kinh tế mớichỉ dừng lại ở việc nhà nước cam kết tập trung thúc đẩy các chính sách kinh tế và xã hội nhằm xóa bỏ nghèo đói, bất bình đẳng xã hội; tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân, bảo đảm quyền lợi cho giới đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế trên tinh thần hòa giải và đoàn kết dân tộc; ưu tiên hợp tác với các nước trong khu vực, nhất là các nước thuộc khối ALBA bao gồm Cuba, Vênêduêla, Bôlivia và Nicaragoa.

 Nhìn chung, mặc dù việc tăng cường vai trò kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế thông qua chính sách quốc hữu hóa ở Mỹ Latinh diễn ra không đồng đều ở mỗi nước và nhóm nước khác nhau, nhưng đã từng bước đưa nền kinh tế vượt qua sự ảnh hưởng của mô hình tự do mới, làm cho khu vực vốn được xem là “sân sau” của Mỹ trước đây đã và đang có nhiều khởi sắc.

2. Định hướng phát triển của các nước Mỹ Latinh dưới chính thể cánh tả

Lực lượng cánh tả đã thực sự đóng vai trò chủ đạo trong đời sống chính trị – xã hội khu vực. Tuy vậy, các Chính phủ hiện tại không có sự đồng nhất về chính sách kinh tế nên thực quyền chính trị cũng có sự khác biệt. Cho nên, việc định hướng phát triển của các quốc gia này cũng khác nhau về mức độ và quy mô. Nhóm nước thứ nhấtcó xu hướng vượt qua các tác động của chủ nghĩa tự do mới bằng cách khôi phục mức độ phát triển kinh tế – xã hội qua sự điều tiết của nhà nước như Bradin, Urugoay, Chilê và Achentina, Panama, Goatêmala. Chính phủ các nước này đã đưa ra các chương trình xã hội như: các gia đình nghèo ở Braxin được nhận được một phần trợ cấp trực tiếp từ nhà nước, những trợ cấp này góp phần gia tăng ủng hộ của quần chúng đối với đảng cầm quyền tại những khu vực chậm phát triển của đất nước. Trong khi đó, một số chính phủ khác lại chủ trương thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ thông qua các thỏa thuận tự do thương mại và đầu tư (Chilê đã ký thỏa thuận này với Mỹ). Braxin dưới thời của Tổng thống Lula da Silva cũng đang tìm kiếm một thỏa thuận tương tự. Tuy nhiên, giữa Braxin và Hoa Kỳvẫn còn tồn tại nhiều sự khác biệt. Những bất đồng này xuất phát từ việc chính phủ bảo vệ quyền lợi của tầng lớp tư sản Braxin, những người luôn e ngại quá trình tự do thương mại sẽ tác động tiêu cực tới nền nông nghiệp và các ngành công nghiệp địa phương, nhất là những ngành đang hướng tới xuất khẩu. Đồng thời, họ cũng không chấp nhận chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ. Achentina cho thấy, chính phủ nước này đã ưu tiên phát triển nền kinh tế thị trường, từng bước tăng cường sự kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế. Tuy vậy, quốc gia này về cơ bản ít có sự đổi thay trên con đường phát triển kinh tế – xã hội của mình mà vẫn phụ thuộc ít nhiều vào Mỹ và IMF.

Có thể nhận thấy rằng, do ảnh hưởng của Mỹ, thực tiễn chính trị ở các nước nàyvẫn chịu sự chi phối của chủ nghĩa tự do mới. Về cơ bản, việc định hướng phát triển của các nước này vẫn nằm trong vòng xoáy của CNTB,có mối quan hệ mật thiết với tư bản địa phương và nước ngoài. Sự thay đổi chỉ giới hạn ở sự điều tiết của nhà nước ở một số các chương trình kinh tế – xã hội.

Định hướng CNXH thế kỷ XXI đặc biệt rõ nét tại nhóm nước Mỹ Latinh dưới chính thể cánh tả áp đảo, với việc chống đối mạnh mẽ giới tư bản địa phương và nước ngoài trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng và tăng cường quyền kiểm soát của nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế.  Dẫn đầu nhóm nước này là Vênêduêla. Tổng thống Hugô Chavet nhiều lần tuyên bố về tính chất XHCNcủa cuộc cách mạng Bôliva ở Vênêduêla, đưa đất nước đi lên CNXH thế kỷ XXI. Ông đã không ít lần khẳng định rằng “không có thế lực nào có thể ngăn chặn quyết tâm xây dựng CNXH thế kỷ XXI” ở Vênêduêla, bởi phần lớn người dân nước này đang muốn tẩy chay toàn bộ “dấu vết” của mô hình chủ nghĩa tự do mới và thoát khỏi CNTB. Tổng thống Hugô Chavet cho rằng, CNXH ở Mỹ Latinh phải được xây dựng trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng cách mạng tiến bộ của Simon Bôliva và tư tưởng nhân đạo của Thiên chúa giáo làm nền tảng tư tưởng. Đồng thời nhấn mạnh tư tưởng “dân chủ cách mạng” và “chính quyền nhân dân” với việc xây dựng một đảng thống nhất trên cơ sở nền kinh tế nhà nước và hợp tác xã đóng vai trò chủ đạo… Muốn làm được điều này, theo ông cần thực hiện bachiến lược để chuyển đổi từ CNTB sang CNXH như: tăng cường sở hữu nhà nước đối với tư liệu sản xuất, mở rộng trao đổi và phân phối phi thị trường, quản lý và điều hành vì lợi ích nhân dân, không bị chi phối bởi lợi ích cá nhân. Sau khi tái đắc cử Tổng thống cuối năm 2006, ông  Hugô Chavet đã tích cực xây dựng và triển khai các kế hoạch nhằm thúc đẩy Vênêduêla tiến theo hướng CNXH. Đó là việc thành lập một chính đảng duy nhất – Ðảng XHCN thống nhất Vênêduêla (PSUV) để lãnh đạo cách mạng. Đồng thời, tiếp tục các chính sách quốc hữu hóa ngành dầu khí, điện lực, viễn thông; tăng cường quản lý nhà nước ở Ngân hàng trung ương; xây dựng kế hoạch thiết lập hệ thống dân chủ địa phương nhằm tăng cường quyền làm chủ của nhân dân; đẩy mạnh việc sửa đổi Hiến pháp làm nền tảng pháp lý cho việc phát triển theo CNXH thế kỷ XXI.

Ở Bôlivia,chính phủcũng đang tích cực chuẩn bị các điều kiện cơ bản để đưa đất nước  tiến theo con đường CNXH thế kỷ XXI như: tiến hành cải cách kinh tế, xã hội và soạn thảo hiến pháp mới. Kể từ khi lên nắm quyền đầu năm 2006, Tổng thống Bôlivia, ông Evô Môralét đã thực hiện nhiều cải cách chính trị, kinh tế quan trọng nhằm xóa bỏ nghèo đói, bất công, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và tiến bộ. Chính phủ đã tiến hành quốc hữu hóa ngành năng lượng, cải cách đất đai, tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến nhằm soạn thảo hiến pháp mới mở rộng quyền cho thổ dân. Bất chấp sự chống phá của lực lượng đối lập, thù địch, các chính sách tiến bộ của chính phủ đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân Bôlivia và các nước trong khu vực. Kết quả là bản hiến pháp mới của nước này đã được thông qua trong cuộc trưng cầu ý dân  ngày 25-1-2009 và chính thức ban hành ngày 7-2-2009. Sự kiện này có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng vì nó cho phép chính phủ cánh tả đẩy nhanh các cải cách chính trị xã hội sâu rộng nhằm chấm dứt sự ảnh hưởng của mô hình CNTB và xây dựng CNXH thế kỷ XXI tại quốc gia giàu tài nguyên khí đốt này.

Với Ecuador và Nicaragoa, được sự giúp đỡ của Cuba, hai nước này đã thực hiện nhiều chính sách cải cách kinh tế, trong đó ưu tiên cho việc xóa đói,giảm nghèo. Nhiệm vụ trọng tâm của Ecuado trong định hướng phát triển lên CNXH thế kỷ XXI là việc tiến hành cải cách hệ thống chính trị thông qua tổ chức bầu quốc hội lập hiến, soạn thảo lại Hiến pháp với mục đích giảm bớt các đặc quyền và đặc lợi của các đảng phái chính trị truyền thống, xóa bỏ mô hình kinh tế tự do mới và tiến hành các chính sách kinh tế – xã hội vì lợi ích của người nghèo. Trong khi đó, ở Nicaragoa, mỗi gia đình được Chính phủ trợ cấp 2.000 USD để phát triển sản xuất, chăn nuôi, đồng thời cũng đang tiến hành nhiều chính sách phát triển kinh tế và cải cách luật pháp.

Nhìn chung, với mức độ, quy mô đột phá khác nhau theo định hướng CNXH thế kỷ XXI,kinh tế – chính trị của hai nhóm nước trên đã có nhiều khởi sắc khiến ảnh hưởng của Mỹ tại đây dần mờ nhạt. Các nước Mỹ Latinh dưới chính thể cánh tả đã và đang cùng hướng tới mục tiêu cao nhất của thời đại là độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

________________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2011

 

TS Nguyễn Văn Lan

ThS La Xuân Thành

Học viện Chính trị – Hành chính khu vực III

 

 

The post Định hướng phát triển của các nước Mỹ Latinh dưới chính thể cánh tả appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Các nước Mỹ Latinh tìm cách giảm nợ – Trang Ngoại giao Kinh tế https://evbn.org/cac-nuoc-my-latinh-tim-cach-giam-no-trang-ngoai-giao-kinh-te-1680773259/ Thu, 06 Apr 2023 09:27:40 +0000 https://evbn.org/cac-nuoc-my-latinh-tim-cach-giam-no-trang-ngoai-giao-kinh-te-1680773259/ Khi một số quốc gia Mỹ Latinh tiếp tục chiến đấu với đại dịch COVID-19, nhiều nước cũng đang cân nhắc xem họ sẽ trả...

The post Các nước Mỹ Latinh tìm cách giảm nợ – Trang Ngoại giao Kinh tế appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Khi một số quốc gia Mỹ Latinh tiếp tục chiến đấu với đại dịch COVID-19, nhiều nước cũng đang cân nhắc xem họ sẽ trả những khoản nợ nần gia tăng đáng kể trong thời kỳ đại dịch như thế nào. Tỷ lệ nợ trên GDP của khu vực Mỹ Latinh và Caribe đã tăng từ 68,9% vào năm 2019 lên ước tính 79,3% vào năm 2020, khiến khu vực này trở thành khu vực mắc nợ nhiều nhất trong số các quốc gia đang phát triển.

Tuần này, Argentina đã kích hoạt thời gian gia hạn 60 ngày để cố gắng đạt được thỏa thuận về khoản nợ với Câu lạc bộ Paris. Argentina cũng như các nước Mỹ Latinh khác như Colombia và Costa Rica đã phải đối mặt với sự phản kháng của công chúng đối với các chương trình trước đại dịch của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhằm cắt giảm chi tiêu. Tuy nhiên, việc cắt giảm chi tiêu có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề đã đẩy 22 triệu người Mỹ Latinh vào cảnh nghèo đói vào năm 2020. Trong khi đó, các chuyển đổi xanh cần thiết để đáp ứng các cam kết của Hiệp định Paris đòi hỏi nhiều chi tiêu công hơn. Sự phục hồi chậm trễ ở các nước thu nhập thấp và trung bình có thể trở thành lực cản đối với toàn bộ nền kinh tế toàn cầu.

IMF đặc biệt có ảnh hưởng đối với các quốc gia mắc nợ dễ bị tổn thương trong khu vực. Qũy này đã cho các nước Mỹ Latinh vay lên tới 66 tỷ đô la trong thời kỳ đại dịch. IMF cho biết các khoản vay COVID-19 dựa trên kỳ vọng rằng các quốc gia sẽ ưu tiên chi tiêu cho các vấn đề như y tế, hỗ trợ những người dễ bị tổn thương và biến đổi khí hậu. IMF dự kiến ​​hầu hết các nước Mỹ Latinh sẽ bắt đầu cắt giảm chi tiêu công tổng thể từ đầu năm nay và tiếp tục như vậy cho đến ít nhất là năm 2026.

Về nợ song phương, Trung Quốc đã đồng ý hợp tác với Câu lạc bộ Paris như một phần của thỏa thuận G-20 để đình chỉ nợ cho 73 quốc gia thu nhập thấp và xây dựng một khuôn khổ chung để tái cơ cấu nợ. Đây có thể là một bước quan trọng nhằm hướng tới sự minh bạch hơn đối với các khoản vay của Trung Quốc.

Về trái chủ tư nhân, theo Ngân hàng Thế giới, vào trước đại dịch, hơn một nửa nợ công nước ngoài của Mỹ Latinh là của các trái chủ tư nhân. Các trái chủ không bị ràng buộc theo bất kỳ cách nào để đình chỉ hoặc cơ cấu lại các khoản nợ theo khuôn khổ chung của G-20, mặc dù IMF đã kêu gọi họ làm như vậy. Argentina, Belize, Ecuador và Suriname đã cơ cấu lại nợ trái chủ tư nhân kể từ khi đại dịch bắt đầu.

Các biện pháp giảm nợ được mô tả ở trên vẫn không thay đổi và không giải quyết được áp lực nợ ở Mỹ Latinh. Một biện pháp quan trọng nữa đang được triển khai là khả năng phê duyệt 650 tỷ đô la trong Quyền rút vốn đặc biệt của IMF, các khoản dự trữ có thể được chuyển đổi sang tiền tệ. Ngoài ra, nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới Carmen Reinhart cho biết bà hy vọng khuôn khổ tái cơ cấu G-20 sẽ được mở rộng cho các nước có thu nhập trung bình.

Nhiều đề xuất đã được đưa ra, đặc biệt là sau khi các nhà hoạch định chính sách thấy sự hiệu quả của việc Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ áp dụng hạn mức tín dụng chéo để hỗ trợ một số ngân hàng trung ương và các nền kinh tế khi đại dịch bùng phát (Ở Mỹ Latinh, Mexico và Brazil được hưởng lợi. Ở nhiều nước không được lợi, vốn ồ ạt chảy ra ngoài). Cựu giám đốc tài chính quốc tế của Cục Dự trữ Liên bang Edwin Truman đề xuất một mạng lưới hoán đổi ngân hàng trung ương nhằm tạm thời tăng khả năng cho vay của IMF. Costa Rica đã đề xuất một quỹ khẩn cấp do các nước phát triển tài trợ, cung cấp các khoản vay 50 năm miễn các điều kiện tài chính và tiền tệ. Một số quốc gia vùng Caribe đã đề xuất giảm nợ để đổi lấy các bước hướng tới thích ứng với biến đổi khí hậu và “các điều khoản về bão” nhằm điều chỉnh việc trả nợ sau các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt.

(Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico)

The post Các nước Mỹ Latinh tìm cách giảm nợ – Trang Ngoại giao Kinh tế appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Để du lịch biển đảo “cất cánh” https://evbn.org/de-du-lich-bien-dao-cat-canh-1680773193/ Thu, 06 Apr 2023 09:26:34 +0000 https://evbn.org/de-du-lich-bien-dao-cat-canh-1680773193/ Quang cảnh hội thảo – Ảnh: VGP/Lưu Hương Trong khuôn khổ Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam – VITM Đà Nẵng 2022, chiều...

The post Để du lịch biển đảo “cất cánh” appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Để du lịch biển đảo “cất cánh” - Ảnh 1.

Quang cảnh hội thảo – Ảnh: VGP/Lưu Hương

Trong khuôn khổ Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam – VITM Đà Nẵng 2022, chiều 9/12 đã diễn ra Hội thảo “Phát triển du lịch biển đảo Việt Nam – Thời cơ, thách thức và giải pháp”.

Phát triển chưa tương xứng tiềm năng

Thứ trưởng Bộ VHTT&DL Đoàn Văn Việt cho biết, Việt Nam với đường bờ biển dài hơn 3260km và sở hữu hơn 3000 hòn đảo lớn, nhỏ, có khoảng 125 bãi biển, nhiều bờ cát trắng và vịnh biển hoang sơ. Với tiềm năng và lợi thế như vậy, du lịch và dịch vụ biển được xác định là ngành kinh tế biển đến năm 2030 phát triển thành công và đột phá theo thứ tự ưu tiên hàng đầu như đã đề ra tại Nghị quyết 36-NQ/TW của BCH Trung ương ngày 22/12/2018 về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045”.

Đồng thời, du lịch biển đảo được xác định là một trong 4 dòng sản phẩm chủ đạo, có lợi thế của du lịch Việt Nam. Điều này đã được khẳng định trong Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/1/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030. 

Thời gian vừa qua, các hoạt động du lịch biển đảo đã chiếm khoảng 70% hoạt động của ngành du lịch Việt Nam. Trong giai đoạn 2010 – 2019, lượng khách đến các địa phương ven biển tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước với 13,6%/năm đối với khách quốc tế và 12,3% đối với khách nội địa. 

Chỉ tính riêng năm 2019 đã đạt trên 34 triệu lượt khách quốc tế và 145,6 triệu lượt khách nội địa, mang lại tổng thu từ du lịch đạt 508 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 67,3% của cả nước. Có thể thấy rằng, du lịch biển phát triển đã có phần đóng góp lớn cho việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương, cũng như của nhiều ngành kinh tế khác; tạo thêm nhiều công ăn việc làm, nâng cao đời sống, thu nhập của người dân địa phương ven biển

Để du lịch biển đảo “cất cánh” - Ảnh 2.

Việc khai thác giá trị mới chỉ dừng lại vùng ven bờ – Ảnh: VGP/Lưu Hương

“Tuy nhiên việc khai thác du lịch biển, đảo chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế vốn có, các hoạt động du lịch biển, đảo vẫn còn tồn tại những hạn chế như việc phát huy, khai thác giá trị tài nguyên cho các hoạt động du lịch biển chỉ dừng ở việc khai thác ven bờ; các hoạt động du lịch bổ sung, bổ trợ cho nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển chưa nhiều; những bất cập về môi trường, về quy hoạch; vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và thế giới thông qua việc đầu tư phát triển sản phẩm du lịch mới, đa dạng, khác biệt và hiệu quả của công tác xúc tiến, quảng bá…”, Thứ trưởng Bộ VHTT&DL đánh giá.

Đồng quan điểm, ông Vũ Thế Bình, Chủ tịch Hiệp hội du lịch Việt Nam cho rằng, tài nguyên du lịch biển đảo của Việt Nam nói chung và của các tỉnh miền Trung nói riêng được đánh giá là đa dạng và phong phú. Nguồn lực tự nhiên này có thể phát triển trở thành điểm đến du lịch biển, đảo đẳng cấp hàng đầu trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên đến nay, Việt Nam chưa có đội tàu du lịch biển nào, cơ sở hạ tầng như các cảng tàu du lịch còn rất thiếu thốn. Do vậy, phát triển du lịch biển đảo nói chung và phát triển du lịch tàu biển nói riêng ở Việt Nam trở thành một nhu cầu cấp bách.

Thí điểm phát triển du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ

Phát biểu tại hội thảo, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển du lịch cho rằng, thời gian tới cần tăng cường đầu tư phát triển hạ tầng, đặc biệt là cảng biển du lịch. Vấn đề phát triển như thế nào cũng cần được chú trọng, phân kỳ, không phát triển ồ ạt, đồng thời để phù hợp với sức phát triển của thị trường, dành dư địa cho những định hướng, ý tưởng mới trong tương lai.

Ngoài ra, các địa phương cũng cần chú trọng phát triển các sản phẩm đa dạng cả về loại hình và chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của các thị trường, phân khúc thị trường khác nhau góp phần giảm cạnh tranh trực tiếp. Đặc biệt chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường, bảo tồn tôn tạo tài nguyên; xác định cộng đồng, người dân địa phương chính là những chủ thể quan trọng trong phát triển du lịch, gắn phát triển du lịch biển với bảo tồn, tôn tạo văn hóa bản địa.

Để du lịch biển đảo “cất cánh” - Ảnh 3.

Việt Nam đón nhiều đoàn du khách quốc tế bằng đường biển – Ảnh: VGP/Lưu Hương

TS. Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Xã hội, Ban Kinh tế Trung ương cho rằng: Để phát triển du lịch và dịch vụ biển đảo, trong thời gian tới cần phải thực hiện đầy đủ, đồng bộ các nhiệm vụ giải pháp của Nghị quyết các kỳ Đại hội đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị, Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, Chiến lược phát triển du lịch.

Kịp thời thể chế hóa các nhiệm vụ giải pháp của các Nghị quyết đảm bảo khuyến khích đầu tư phát triển hạ tầng du lịch; khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng, các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao tại các vùng ven biển. 

Xây dựng, phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm, chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch biển đẳng cấp quốc tế trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hoá, lịch sử đặc sắc của các vùng, miền, kết nối với các tuyến du lịch quốc tế để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của thế giới; nghiên cứu thí điểm phát triển du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ; đẩy mạnh các hoạt động thám hiểm khoa học; chú trọng công tác giáo dục, y tế biển….

Ngành du lịch cần phối hợp với các địa phương tập trung phát triển các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển, đảo, sản phẩm du lịch gắn liền với các dịch vụ vui chơi giải trí, đồng thời xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ khách quốc tế. 

Đối với các địa phương, cần hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển du lịch tại các vùng biển, đảo và lập kế hoạch phát triển từng đảo phù hợp với chủ trương, chính sách phát triển du lịch chung của địa phương và quốc gia, theo hướng tăng trưởng xanh. 

“Trước mắt tập trung đầu tư hạ tầng giao thông kết nối đa phương thức, kết nối liên vùng và khu vực, một số địa phương nghiên cứu đầu tư cầu cảng tàu khách quốc tế chuyên biệt đảm bảo theo quy hoạch tổng thể; đô thị hóa vùng ven biển và hải đảo; đầu tư phát triển khoa học và công nghệ biển gắn phát triển du lịch biển, ưu tiên lĩnh vực hải dương học…” TS. Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Xã hội, Ban Kinh tế Trung ương nêu ý kiến.

Lưu Hương

The post Để du lịch biển đảo “cất cánh” appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Cần thực hiện những biện pháp gì để phát triển ngành du lịch? – Spider man https://evbn.org/can-thuc-hien-nhung-bien-phap-gi-de-phat-trien-nganh-du-lich-spider-man-1680773185/ Thu, 06 Apr 2023 09:26:26 +0000 https://evbn.org/can-thuc-hien-nhung-bien-phap-gi-de-phat-trien-nganh-du-lich-spider-man-1680773185/ Để phát huy những tiềm năng lợi thế, khắc phục những tồn tại hạn chế đang níu đà tăng trưởng của ngành Du lịch, thời...

The post Cần thực hiện những biện pháp gì để phát triển ngành du lịch? – Spider man appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Để phát huy những tiềm năng lợi thế, khắc phục những tồn tại hạn chế đang níu đà tăng trưởng của ngành Du lịch, thời gian tới, cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

– Cơ quan quản lý cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa huy động mọi thành phần kinh tế, nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; Cần quy hoạch sắp xếp và xây dựng các cơ sở dịch vụ: nhà nghỉ, y tế, ăn uống, vui chơi giải trí…; Quản lý chặt chẽ các loại dịch vụ, phí dịch vụ phục vụ du khách; Nâng cao ý thức phục vụ trong kinh doanh, tránh làm mất giá trị văn hóa truyền thống của người Việt.

– Phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nhất là các chuỗi liên kết và dịch vụ, đáp ứng các bộ tiêu chuẩn du lịch quốc tế, đi đôi với bảo tồn, phát triển, quảng bá hình ảnh và phát huy vai trò các vùng di tích lịch sử, các điểm đến và khu du lịch; Xây dựng hình ảnh và thương hiệu, nhận diện du lịch quốc gia có chiều sâu và tầm cao.

– Đẩy mạnh liên kết với các nước trong khu vực, khai thác triệt để tuyến hành lang Đông – Tây, hình thành các tour, tuyến du lịch chung như: Chương trình giữa Việt Nam – Campuchia – Lào, tuyến đường bộ 3 nước Việt Nam – Lào – Thái Lan để đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao sức hấp dẫn, thu hút khách từ các nước ASEAN và khách du lịch từ nước thứ ba vào ASEAN nối tour sang Việt Nam.

Thứ hai, xây dựng môi trường du lịch nhân văn, bền vững.

– Đẩy mạnh công tác truyền thông, định hướng, nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ môi trường du lịch; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng phong trào ứng xử văn minh thân thiện với du khách, giữ gìn trật tự trị an, vệ sinh môi trường…

– Tăng cường quản lý bảo đảm về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; Cung cấp thông tin về dịch vụ tại địa phương cho du khách qua internet và hệ thống các ấn phẩm quảng bá du lịch.

Thứ ba, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hài hòa các mục tiêu phát triển du lịch với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Chú trọng nâng cao năng lực cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành Du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; Thực hiện quản lý theo quy hoạch gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cả nước; quy hoạch phát triển du lịch theo các vùng, địa phương; quy hoạch các khu du lịch tổng hợp và khu du lịch chuyên đề, để tập trung thu hút đầu tư phát triển theo hướng bền vững.

Đồng thời, trước khi phát triển ngành, lĩnh vực khác, Nhà nước cần có những đánh giá tác động đối với ngành Du lịch để từ đó có sự lựa chọn ưu tiên phát triển ngành nào dựa trên tiềm năng, lợi thế của từng địa phương.

Thứ tư, đào tạo và cải thiện nguồn nhân lực du lịch.

– Ngành du lịch cần sớm hoàn thiện hệ thống chính sách và các cơ chế quản lý về phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch, bảo đảm thống nhất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

– Các trường học và DN cần trang bị cho nhân lực du lịch những kiến thức về hội nhập, giỏi về ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ du lịch, am hiểu thị trường, luật pháp quốc tế…

Thứ năm, phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và thương hiệu du lịch.

– Tập trung thu hút có lựa chọn các phân đoạn thị trường khách du lịch; Phát triển mạnh thị trường du lịch nội địa, chú trọng phân đoạn khách nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần và mua sắm; Đẩy mạnh thu hút khách du lịch quốc tế đến từ Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương; Tây Âu; Bắc Âu; Bắc Mỹ và Đông Âu…

– Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp nhằm vào thị trường mục tiêu, lấy sản phẩm du lịch và thương hiệu du lịch là trọng tâm; quảng bá du lịch gắn với quảng bá hình ảnh quốc gia, phù hợp với các mục tiêu đã xác định; gắn xúc tiến du lịch với xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và ngoại giao, văn hóa.

– Tập trung phát triển thương hiệu du lịch quốc gia trên cơ sở thương hiệu du lịch vùng, địa phương, DN và thương hiệu sản phẩm; chú trọng phát triển những thương hiệu có vị thế cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế. Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp và địa phương để đảm bảo hiệu ứng thống nhất.

The post Cần thực hiện những biện pháp gì để phát triển ngành du lịch? – Spider man appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Những giải pháp độc đáo phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường https://evbn.org/nhung-giai-phap-doc-dao-phat-trien-du-lich-gan-voi-bao-ve-moi-truong-1680773174/ Thu, 06 Apr 2023 09:26:15 +0000 https://evbn.org/nhung-giai-phap-doc-dao-phat-trien-du-lich-gan-voi-bao-ve-moi-truong-1680773174/ (TN&MT) – Sau một thời gian sụt giảm mạnh do đại dịch COVID-19, ngành du lịch đang hồi sinh trở lại. Đây là một tin...

The post Những giải pháp độc đáo phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

(TN&MT) – Sau một thời gian sụt giảm mạnh do đại dịch COVID-19, ngành du lịch đang hồi sinh trở lại. Đây là một tin tốt cho nhiều người lao động và doanh nghiệp, nhưng có thể là một tin xấu cho hành tinh.

image1024x768(1).jpgPhát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường. Ảnh: UNDP

Du lịch mang lại rất nhiều mặt tích cực. Khoảng hai tỷ người đi du lịch mỗi năm. Du lịch kết nối mọi người và mang thế giới đến gần hơn thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm, nhận thức văn hóa và xây dựng cộng đồng. Du lịch tạo công ăn việc làm, thúc đẩy sự phát triển của khu vực và là động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên, du lịch cũng mang lại một số nhược điểm. Nhiều điểm đến nổi tiếng đang bị đe dọa bởi sự gia tăng ô nhiễm, các hiểm họa môi trường, thiệt hại cho các khu di sản và sử dụng tài nguyên quá mức.

Dưới đây là một số giải pháp mà khách du lịch có thể tham khảo để vừa có thể tận hưởng kỳ nghỉ tuyệt vời, vừa không gây hại cho môi trường.

1. Lựa chọn đồ nhựa có thể tái sử dụng

Thường được sử dụng trong vòng chưa đầy 15 phút, các đồ nhựa dùng một lần có thể mất hơn 1.000 năm để phân hủy. Nhiều người trong chúng ta đang chuyển sang các lựa chọn bền vững trong cuộc sống hàng ngày. Bằng cách chọn chai và túi có thể tái sử dụng mọi lúc mọi nơi, chúng ta có thể góp phần giảm xả rác thải nhựa trong đại dương và các môi trường sống khác.

2. Tiết kiệm nước

Nhìn chung, khách du lịch sử dụng nước nhiều hơn so với cư dân địa phương. Với tình trạng ngày càng có nhiều nơi khan hiếm nước, những lựa chọn mà du khách đưa ra có thể giúp đảm bảo mọi người được tiếp cận đầy đủ với nước trong tương lai. Nếu không thay khăn trải giường và khăn tắm hàng ngày tại khách sạn, chúng ta có thể tiết kiệm hàng triệu lít nước mỗi năm.

3. Mua hàng địa phương

Khi bạn mua hàng địa phương, nơi bạn thăm quan, bạn sẽ giúp thúc đẩy nền kinh tế địa phương, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương và giúp giảm lượng khí thải carbon của điểm đến do hạn chế vận chuyển hàng hóa. Vì vậy, hãy thưởng thức các sản phẩm tươi ngon được nuôi trồng tại địa phương mỗi khi có cơ hội.

4. Lựa chọn nhà điều hành tour ưu tiên môi trường

Các hoạt động tour liên quan đến con người, hậu cần, nhà cung cấp, vận chuyển và nhiều hơn nữa. Mỗi mắt xích trong chuỗi có thể tác động đến môi trường theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Nếu bạn muốn giao mọi kế hoạch trong chuyến du lịch cho người khác, hãy nhớ chọn một nhà điều hành tour ưu tiên môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả và tôn trọng văn hóa địa phương.

5. Đừng cho động vật ăn

Chia sẻ thức ăn với động vật hoang dã hoặc đến gần chúng làm tăng nguy cơ lây lan các bệnh như cảm lạnh, cúm và viêm phổi từ người sang động vật. Ngoài ra, khi động vật quen với việc tiếp nhận thức ăn từ con người, các hành vi tự nhiên của chúng bị thay đổi và chúng trở nên phụ thuộc vào con người để sinh tồn. Trong một số trường hợp, nó cũng có thể dẫn đến xung đột giữa người và động vật.

6. Đừng ăn thịt động vật hoang dã

Việc tiêu thụ động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng hoặc động vật ngoại lai dẫn đến nạn săn trộm, buôn bán và khai thác động vật hoang dã gia tăng. Bên cạnh tác hại đối với từng cá thể động vật, việc ăn uống vô trách nhiệm có thể làm gia tăng sự tuyệt chủng của các loài đã bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu và mất môi trường sống. Hãy ghi nhớ điều này khi mua quà lưu niệm và tránh xa các sản phẩm làm từ động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng.

7. Sử dụng phương tiện giao thông công cộng

Du lịch có thể làm tăng lượng khí thải CO2 từ giao thông vận tải. Thay vì đi xe cá nhân, hãy sử dụng các phương tiện giao thông công cộng như tàu hỏa, xe buýt và xe tiện chuyến.

8. Hãy ở homestay

Ở với người dân địa phương hoặc gia đình (homestay) là một lựa chọn thân thiện với thiên nhiên cho phép bạn dễ tiếp cận hơn với văn hóa và phong tục địa phương. Ở tại các nhà dân bản địa, du khách có thể có cái nhìn sâu sắc về những phong cách sống khác nhau.

9. Ghé thăm các công viên quốc gia và khu bảo tồn

Khám phá thiên nhiên và động vật hoang dã tại các công viên quốc gia là một cách tuyệt vời để tìm hiểu trực tiếp về các loài động vật và hệ sinh thái của chúng. Trong một số trường hợp, vé vào cửa của bạn có thể góp phần hỗ trợ nỗ lực bảo vệ các loài và cảnh quan, cũng như bảo tồn những không gian tự nhiên để du khách tương lai có thể tận hưởng.

10. Không vứt rác bừa bãi

Bạn hãy bỏ rác vào đúng vị trí để tránh vứt rác bừa bãi. Hãy đảm bảo rằng chúng ta chỉ để lại những ấn tượng đẹp chứ không để lại những tác động xấu về môi trường.

11. Tuyên truyền về du lịch bền vững

Bạn hãy sẵn sàng đi du lịch theo hướng thân thiện với môi trường và đã đến lúc cần tuyên truyền về việc du lịch gắn với bảo vệ môi trường. Hãy tuyên truyền cho những người bạn đồng hành, bạn bè và gia đình về việc du lịch bền vững mang lại lợi ích cho người dân địa phương bằng cách nâng cao thu nhập của họ, đồng thời bảo vệ môi trường sẽ mang lại lợi ích cho tất cả chúng ta.

The post Những giải pháp độc đáo phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Một số giải pháp phát triển ngành du lịch Việt Nam https://evbn.org/mot-so-giai-phap-phat-trien-nganh-du-lich-viet-nam-1680773166/ Thu, 06 Apr 2023 09:26:07 +0000 https://evbn.org/mot-so-giai-phap-phat-trien-nganh-du-lich-viet-nam-1680773166/ Những kết quả đạt được Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, với 125 bãi tắm biển, trong đó hầu hết là các bãi...

The post Một số giải pháp phát triển ngành du lịch Việt Nam appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Những kết quả đạt được

Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, với 125 bãi tắm biển, trong đó hầu hết là các bãi tắm rất đẹp và thuận lợi cho khai thác du lịch mà không phải quốc gia nào cũng có như: Trà Cổ, Hạ Long, Lăng Cô, Ðà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc…

Về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh dnước ta có 85 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, 3.329 di tích xếp hạng di tích quốc gia và 9.857 di tích cấp tỉnh.

Đến nay, Việt Nam có 8 di sản vật thể và danh thắng được công nhận Di sản thế giới, đó là: Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn, Khu phố cổ Hội An, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành Nhà Hồ, Khu danh thắng Tràng An.

Việt Nam có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể lớn với 191 di sản thuộc cả 7 loại hình di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc sinh sống trên mọi miền đất nước được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Tính đến hết năm 2016, Việt Nam có 11 di sản được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản phi vật thể, đó là: Nhã nhạc cung đình Huế; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Dân ca quan họ Bắc Ninh; Ca trù; Lễ hội Đền Gióng; Hát Xoan; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; Đàn ca tài tử Nam Bộ; Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh; Kéo co; Tín ngưỡng thờ Tam Phủ.

Ngoài những lợi thế trên, Việt Nam còn là nước có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại trong đó có phát triển du lịch.

Những yếu tố trên đã thúc đẩy ngành Du lịch phát triển mạnh mẽ (Bảng 1). Trong đó, 2016 là năm thành công, phát triển ấn tượng của ngành Du lịch. Tổng số khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2016 lên đến hơn 10 triệu lượt, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2015.

Bên cạnh đó, ngành Du lịch cũng đã phục vụ 62 triệu lượt khách nội địa, trong đó có gần 30 triệu khách lưu trú. Tổng thu từ du lịch đạt 400.700 tỷ đồng, tăng 18,6% so với năm 2015 (Tổng cục Du lịch, 2016).

Tất cả các con số trên đều đã bằng hoặc vượt chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đó là đón 10-10,5 triệu lượt khách quốc tế; 47-48 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 17-18 tỷ USD. Như vậy, ngành Du lịch đã về đích trước 4 năm so với Chiến lược đề ra.

Năm 2016 cũng là năm đánh dấu ngành Du lịch vượt qua ngưỡng tăng trưởng cũ. Theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, năm 1994 mới chỉ có 1 triệu khách quốc tế đến Việt Nam; Năm 2000 tăng lên 2 triệu lượt khách quốc tế (mỗi năm giai đoạn này chỉ tăng 170.000 lượt khách quốc tế).

Đến năm 2010 đạt 5 triệu lượt khách quốc tế (mỗi năm tăng trung bình 600.000 lượt khách). Đến năm 2016, đã tăng gấp đôi so với mốc năm 2010. Trước đó, để tăng từ 1 lên 5 triệu, ngành Du lịch đã phải mất tới 14 năm (từ năm 1994 đến năm 2010) mới đạt.

Đáng chú ý, thời gian qua, nhiều điểm du lịch mới được mở ra đã thu hút đông đảo du khách tham quan. Các điểm du lịch ở các tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc như Hà Giang đã tạo dựng được thương hiệu là điểm đến mới quyến rũ qua việc tổ chức Lễ hội hoa tam giác mạch; Yên Bái với lễ hội “Mùa vàng Mù Căng Chải”, tâm điểm là sự kiện “Bay trên Mùa vàng”; Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với hang Sơn Đoòng tạo sức hút lớn đối với du khách quốc tế và quan tâm của khách nội địa; Các điểm du lịch biển ở vùng Duyên hải Bắc Bộ, miền Trung, Nam Trung Bộ, Phú Quốc, Côn Đảo có nhiều đổi mới về quản lý và cung cấp dịch vụ, tạo sức hấp dẫn mới đối với khách du lịch trong nước và quốc tế…

Hạn chế và khó khăn

Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành Du lịch Việt Nam vẫn còn gặp không ít khó khăn và thách thức. Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, điểm xuất phát của du lịch Việt Nam quá thấp so với các nước trong khu vực.

Khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam còn hạn chế trước sự cạnh tranh gay gắt của du lịch trong khu vực và thế giới. Công tác quản lý môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nhiều điểm du lịch còn yếu kém và chưa được coi trọng. Công tác quản lý điểm đến chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả.

Tình trạng mất vệ sinh, an ninh, trật tự tại các điểm du lịch vẫn thường xuyên xảy ra; taxi dù, hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, lừa đảo, ép khách du lịch vẫn thường xuyên diễn ra ở nhiều địa phương, nhất là vào mùa cao điểm…

Trong khi đó, nguồn tài nguyên du lịch còn chưa được thống kê, đánh giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả, dẫn tới tài nguyên du lịch thì nhiều, nhưng khai thác bừa bãi, mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có chưa phát huy giá trị của tài nguyên.

Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích… tác động tiêu cực tới phát triển du lịch bền vững.

Tính chuyên nghiệp khi xây dựng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá cũng chưa được nâng cao. Sản phẩm du lịch Việt Nam vẫn chậm đổi mới, nghèo nàn, đơn điệu, thiếu đặc sắc, ít sáng tạo, còn trùng lặp giữa các vùng miền, giá trị gia tăng hàm chứa trong sản phẩm du lịch thấp, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong phát triển sản phẩm.

Công tác xúc tiến quảng bá còn nhiều hạn chế, chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả; mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch. Kinh phí Nhà nước đầu tư còn hạn chế, chưa tạo được hiệu ứng kích cầu.

Hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng tiếp cận điểm đến còn thiếu đồng bộ. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh nhưng nhìn chung tầm cỡ quy mô, tính chất tiện nghi và phong cách sản phẩm du lịch nhỏ lẻ, vận hành chưa chuyên nghiệp, chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu nổi bật. Nguồn nhân lực du lịch cũng là điểm yếu kém lớn của ngành Du lịch.

Một số giải pháp phát triển ngành du lịch Việt Nam - Ảnh 1Ngoài ra, tình trạng các địa phương chọn ngành nào cũng là ngành “mũi nhọn” đã khiến mục tiêu phát triển chồng chéo, ảnh hưởng đến việc thực hiện, nhất là ngành Du lịch nghỉ dưỡng (vốn là Ngành coi trọng chất lượng môi trường) và ngành Công nghiệp nặng là Ngành có nguy cơ gây ô nhiễm cao. 

Một số giải pháp đề xuất

Để phát huy những tiềm năng lợi thế, khắc phục những tồn tại hạn chế đang níu đà tăng trưởng của ngành Du lịch, thời gian tới, cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

– Cơ quan quản lý cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa huy động mọi thành phần kinh tế, nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; Cần quy hoạch sắp xếp và xây dựng các cơ sở dịch vụ: nhà nghỉ, y tế, ăn uống, vui chơi giải trí…; Quản lý chặt chẽ các loại dịch vụ, phí dịch vụ phục vụ du khách; Nâng cao ý thức phục vụ trong kinh doanh, tránh làm mất giá trị văn hóa truyền thống của người Việt.

– Phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nhất là các chuỗi liên kết và dịch vụ, đáp ứng các bộ tiêu chuẩn du lịch quốc tế, đi đôi với bảo tồn, phát triển, quảng bá hình ảnh và phát huy vai trò các vùng di tích lịch sử, các điểm đến và khu du lịch; Xây dựng hình ảnh và thương hiệu, nhận diện du lịch quốc gia có chiều sâu và tầm cao.

– Đẩy mạnh liên kết với các nước trong khu vực, khai thác triệt để tuyến hành lang Đông – Tây, hình thành các tour, tuyến du lịch chung như: Chương trình giữa Việt Nam – Campuchia – Lào, tuyến đường bộ 3 nước Việt Nam – Lào – Thái Lan để đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao sức hấp dẫn, thu hút khách từ các nước ASEAN và khách du lịch từ nước thứ ba vào ASEAN nối tour sang Việt Nam.

Thứ hai, xây dựng môi trường du lịch nhân văn, bền vững.

– Đẩy mạnh công tác truyền thông, định hướng, nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ môi trường du lịch; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng phong trào ứng xử văn minh thân thiện với du khách, giữ gìn trật tự trị an, vệ sinh môi trường…

– Tăng cường quản lý bảo đảm về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; Cung cấp thông tin về dịch vụ tại địa phương cho du khách qua internet và hệ thống các ấn phẩm quảng bá du lịch.

Thứ ba, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hài hòa các mục tiêu phát triển du lịch với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Chú trọng nâng cao năng lực cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành Du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; Thực hiện quản lý theo quy hoạch gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cả nước; quy hoạch phát triển du lịch theo các vùng, địa phương; quy hoạch các khu du lịch tổng hợp và khu du lịch chuyên đề, để tập trung thu hút đầu tư phát triển theo hướng bền vững.

Đồng thời, trước khi phát triển ngành, lĩnh vực khác, Nhà nước cần có những đánh giá tác động đối với ngành Du lịch để từ đó có sự lựa chọn ưu tiên phát triển ngành nào dựa trên tiềm năng, lợi thế của từng địa phương.

Thứ tư, đào tạo và cải thiện nguồn nhân lực du lịch.

– Ngành du lịch cần sớm hoàn thiện hệ thống chính sách và các cơ chế quản lý về phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch, bảo đảm thống nhất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

– Các trường học và DN cần trang bị cho nhân lực du lịch những kiến thức về hội nhập, giỏi về ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ du lịch, am hiểu thị trường, luật pháp quốc tế…

Thứ năm, phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và thương hiệu du lịch.

– Tập trung thu hút có lựa chọn các phân đoạn thị trường khách du lịch; Phát triển mạnh thị trường du lịch nội địa, chú trọng phân đoạn khách nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần và mua sắm; Đẩy mạnh thu hút khách du lịch quốc tế đến từ Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương; Tây Âu; Bắc Âu; Bắc Mỹ và Đông Âu…

– Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp nhằm vào thị trường mục tiêu, lấy sản phẩm du lịch và thương hiệu du lịch là trọng tâm; quảng bá du lịch gắn với quảng bá hình ảnh quốc gia, phù hợp với các mục tiêu đã xác định; gắn xúc tiến du lịch với xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và ngoại giao, văn hóa.

– Tập trung phát triển thương hiệu du lịch quốc gia trên cơ sở thương hiệu du lịch vùng, địa phương, DN và thương hiệu sản phẩm; chú trọng phát triển những thương hiệu có vị thế cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế. Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp và địa phương để đảm bảo hiệu ứng thống nhất.              

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn;

2. Thủ tướng Chính phủ (2013), “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”;

3. Tổng cục Du lịch (2016), Tình hình hoạt động của ngành Du lịch năm 2016 và triển khai nhiệm vụ trong năm 2017;

4. Tổng cục Thống kê (2016), Tình hình kinh tế – xã hội năm 2017.

The post Một số giải pháp phát triển ngành du lịch Việt Nam appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Các biện pháp ổn định, phát triển thị trường lao động và chăm lo đời sống người lao động https://evbn.org/cac-bien-phap-on-dinh-phat-trien-thi-truong-lao-dong-va-cham-lo-doi-song-nguoi-lao-dong-1680773136/ Thu, 06 Apr 2023 09:25:37 +0000 https://evbn.org/cac-bien-phap-on-dinh-phat-trien-thi-truong-lao-dong-va-cham-lo-doi-song-nguoi-lao-dong-1680773136/ Công điện yêu cầu: – Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; – Chủ tịch Ủy ban...

The post Các biện pháp ổn định, phát triển thị trường lao động và chăm lo đời sống người lao động appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Công điện yêu cầu:

– Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ;

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

– Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;

– Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Trong thời gian gần đây, các cấp, các ngành, các địa phương và cả hệ thống chính trị cùng cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm phục hồi, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, tích cực giải ngân vốn đầu tư, ổn định hoạt động doanh nghiệp, góp phần tạo việc làm, cải thiện thu nhập của người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả thị trường lao động. Tuy nhiên, hậu quả của đại dịch COVID-19, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xu hướng chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, sự suy giảm tăng trưởng, thu hẹp thị trường và dấu hiệu suy thoái kinh tế ở một số quốc gia, khu vực đã ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, dẫn đến một bộ phận doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, ảnh hưởng tới việc làm, thu nhập và đời sống của một bộ phận người lao động, trong khi thị trường lao động chưa thực sự phát triển ổn định, bền vững trước những biến động cả bên trong và bên ngoài.

cac bien phap on dinh, phat trien thi truong lao dong va cham lo doi song nguoi lao dong hinh anh 1

Ảnh minh họa.

Để bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động và duy trì ổn định, phát triển thị trường lao động an toàn, bền vững và hội nhập trong thời gian tới, nhất là việc tập trung chăm lo đời sống của người lao động trong dịp Tết Dương lịch 2023 và Tết Nguyên đán Quý Mão, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

1. Các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:

– Tiếp tục rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý, các cơ chế, chính sách liên quan đến thị trường lao động, kịp thời khắc phục các hạn chế, bất cập; từng bước tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế và thông lệ các nước, bảo đảm cho thị trường lao động vận hành an toàn, ổn định, đồng bộ, hiệu quả.

– Tiếp tục thực hiện hiệu quả các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, ổn định các loại thị trường, tháo gỡ khó khăn, tập trung nguồn lực cho các động lực tăng trưởng như đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng; đẩy mạnh phát triển kinh tế, phát triển doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh; có giải pháp cụ thể thúc đẩy tạo việc làm, bảo đảm thu nhập và ổn định đời sống cho người lao động.

2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương:

– Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực; sắp xếp, tổ chức, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm cung cấp đủ lao động có kỹ năng nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, nhất là tại các địa bàn, lĩnh vực trọng điểm.

– Tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản trị thị trường lao động phù hợp, từng bước hiện đại, minh bạch có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu khác làm cơ sở xây dựng và tổ chức triển khai kịp thời, hiệu quả các chính sách về lao động, việc làm, an sinh xã hội.

– Tập trung rà soát, đánh giá nhu cầu nhân lực theo từng địa phương, từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực; đẩy mạnh các hoạt động kết nối cung cầu lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động, bảo đảm cung ứng lao động kịp thời đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.

– Chỉ đạo, hướng dẫn địa phương tăng cường các biện pháp ổn định quan hệ lao động; hỗ trợ các bên đối thoại, giải quyết các vấn đề quan hệ lao động phát sinh; triển khai các biện pháp thích hợp để phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh tranh chấp lao động và bỏ việc làm; giải quyết thỏa đáng, có hiệu quả các cuộc tranh chấp lao động, các yêu cầu phát sinh, không để tranh chấp kéo dài, giải quyết không dứt điểm gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội.

3. Đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam:

– Xây dựng, triển khai hiệu quả phong trào thi đua học tập, rèn luyện nâng cao trình độ kỹ năng nghề, học tập suốt đời trong công nhân lao động. Tăng cường các hoạt động tư vấn pháp luật, tuyên truyền cho người lao động không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; hỗ trợ kịp thời chuyển đổi nghề nghiệp, giới thiệu việc làm cho người lao động.

– Chỉ đạo các cấp công đoàn tăng cường hoạt động đối thoại, thương lượng, tham gia ý kiến với người sử dụng lao động về bảo đảm duy trì việc làm, sắp xếp lao động và giải quyết chế độ cho người lao động theo đúng quy định pháp luật.

4. Đề nghị Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các tổ chức đại diện người sử dụng lao động tăng cường các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo cơ hội và ổn định việc làm cho người lao động.

5. Để bảo đảm việc làm, chăm lo đời sống và an sinh xã hội cho người lao động, đặc biệt trong dịp Tết Dương lịch 2023 và Tết Nguyên đán Quý Mão, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu và đề nghị:

a) Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo, phối hợp với các địa phương chủ động, thường xuyên nắm tình hình về hoạt động sản xuất, kinh doanh, về tuyển dụng, sử dụng lao động, cắt giảm việc làm trong doanh nghiệp; kịp thời tổ chức hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các chế độ, chính sách, thanh toán đầy đủ tiền lương, tiền thưởng theo đúng quy định của pháp luật và các thỏa thuận, nội quy, quy chế của doanh nghiệp; hướng dẫn các địa phương khuyến khích doanh nghiệp có các biện pháp thiết thực, hiệu quả quan tâm chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần và khuyến khích người lao động đổi mới sáng tạo, cùng nhau khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức. Chủ động có giải pháp cơ cấu lại lao động, phòng ngừa, xử lý tranh chấp lao động có thể xảy ra, đặc biệt trong dịp Tết.

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng và các cấp chính quyền địa phương, cơ sở tăng cường theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, chi trả lương, thưởng cho người lao động của doanh nghiệp và đời sống người lao động, nhất là người lao động bị mất việc, thiếu việc làm tạm thời để có các giải pháp hỗ trợ kịp thời, hiệu quả, bảo đảm việc làm, thu nhập và ổn định đời sống cho người lao động.

c) Đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chỉ đạo công đoàn các cấp xây dựng kế hoạch phối hợp với ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nắm tình hình lao động, việc làm, lương, thưởng, đời sống người lao động, việc đi lại của người lao động trong dịp Tết để có các phương án cơ cấu lại lực lượng lao động những nơi thừa, thiếu cục bộ và hỗ trợ kịp thời, hiệu quả, nhất là đối với những người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn.

d) Đề nghị Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các tổ chức đại diện người sử dụng lao động tăng cường tính tuân thủ pháp luật lao động, thúc đẩy đối thoại, thương lượng kịp thời để đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người lao động.

đ) Các doanh nghiệp tích cực, chủ động duy trì sự ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, nỗ lực duy trì, bảo đảm việc làm, sắp xếp lao động và giải quyết các chế độ lương, thưởng cho người lao động, nộp đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn, thực hiện nghiêm các cam kết với người lao động theo quy định của pháp luật, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy, quy chế và các thỏa thuận khác của doanh nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và kêu gọi người dân, doanh nghiệp, người lao động chung sức, đồng tâm, hiệp lực tập trung khắc phục những khó khăn trước mắt, vượt qua thách thức, bảo đảm việc làm, thu nhập và tập trung chăm lo đời sống người lao động, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt trong dịp Tết Dương lịch 2023 và Tết Nguyên đán Quý Mão; góp phần quan trọng duy trì sự ổn định và phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, bền vững, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả trong thời gian tới./.

The post Các biện pháp ổn định, phát triển thị trường lao động và chăm lo đời sống người lao động appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Giải pháp từ phía Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động. – 123docz.net https://evbn.org/giai-phap-tu-phia-nha-nuoc-trong-viec-giai-quyet-viec-lam-cho-nguoi-lao-dong-123docznet-1680773121/ Thu, 06 Apr 2023 09:25:22 +0000 https://evbn.org/giai-phap-tu-phia-nha-nuoc-trong-viec-giai-quyet-viec-lam-cho-nguoi-lao-dong-123docznet-1680773121/ Một phần của tài liệu GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO SỰ KẾT HỢP HÀI HÒA GIỮA CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI...

The post Giải pháp từ phía Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động. – 123docz.net appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

Một phần của tài liệu GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO SỰ KẾT HỢP HÀI HÒA GIỮA CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Giải pháp từ phía Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động.

Ngoài ra, chính sách lao động – việc làm không thể không gắn với chính
sách thu nhập, bảo đảm an sinh và công bằng xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân
dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà
mẹ và trẻ em; trong đó, dân số là mẫu số của chung, nền tảng để giải các bài toán
khác;

Đồng thời, cần tăng cường các chương trình tạo việc làm đa dạng được tài
trợ từ các nguồn đa dạng, với chủ lực là nguồn NSNN các cấp và linh hoạt trong
quản lý, giám sát, giảm thiểu tình trạng lạm dụng, tiêu cực và tham nhũng trong
công tác lao động-việc làm…, trước mắt tập trung xây dựng và triển khai có hiệu
quả Chiến lược an sinh xã hội 2011 – 2020, Chương trình giảm nghèo bền vững
và chương trình việc làm giai đoạn 2011 – 2015; phấn đấu để năm 2011 tỉ lệ hộ
nghèo giảm 2% theo chuẩn mới; phát triển các loại hình bảo hiểm, mở rộng
mạng lưới an sinh xã hội…

3.2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động.
người lao động.

– Nhà nước định chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội 5 năm và hằng năm. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính, cho vay vốn,
giảm, miễn thuế và các biện pháp khuyến kích để người có khả năng lao động tự
giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động.

– Nhà nước cần ban hành Luật Việc làm để quy định cụ thể về chính
sách việc làm của Nhà nước. Trong đó, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm
tạo việc làm mà phải có trách nhiệm định hướng phát triển việc làm hướng

tới thúc đẩy và bảo đảm việc làm bền vững cho người lao động; có những
quy định về các giải pháp cụ thể của Nhà nước.

– Cần gắn kết chính sách việc làm với chính quá trình và kế hoạch tổng
thể về tái cấu trúc kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững. chủ
động phát triển có tổ chức các thị trường lao động có nhiều tiềm năng và hiệu
quả kinh tế cao, nhất là thị trường lao động chất lượng cao về kinh tế nông
nghiệp, kinh tế biển, công nghệ thông tin và xuất khẩu lao động.

– Nhà nước tích cực, mở rộng các chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm
để thu hút và sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số.

– Nhà nước có thêm các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi
cho các cá nhân trong và ngoài nước, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đầu tư phát triển kinh doanh nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao
động. Sử dụng nhiều nhân công Việt Nam cũng là một trong những điều kiện
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật pháp hiện hành.

– Quỹ quốc gia về việc làm phải được sử dụng một cách hợp lý, khoa học
vào các mục đích như : Hỗ trợ các tổ chức dịch vụ việc làm; Hỗ trợ các đơn vị
gặp khó khăn tạm thời để tránh cho người lao động không bị mất việc làm; Hỗ
trợ cho những đơn vị nhận người lao động bị mất việc làm theo đề nghị của cơ
quan lao động địa phương; Hỗ trợ quỹ việc làm cho người lao động bị tàn tật và
dùng để cho vay với lãi suất thấp để giải quyết việc làm cho một số đối tượng
thuộc diện tệ nạn xã hội ( mại dâm, nghiện hút…)

– Các biện pháp trực tiếp để giải quyết viêc làm như:

+ Thành lập tổ chức giới thiệu việc làm như các trung tâm giới thiệu việc
làm và các doanh nghiệp chuyên giới thiệu việc làm. Các tổ chức này có nhiệm
vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ, cung ứng và giúp tuyển lao động theo

yêu cầu của NSDLD, thu thập và cung ứng thông tin về thị trường lao động. Nhờ
đó mà có thể giải quyết vấn đề việc làm được dễ dàng hơn.

+ Tăng cường chính sách gắn dạy nghề với việc làm. Có nghề nghiệp là
điều kiện tiên quyết đối với NLĐ để có thể nhanh chóng tìm được việc làm ổn
định.

+ Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
lao động, khuyến khích tuyển dụng lao động và tự do hợp đồng.

+ Duy trì,bảo đảm việc làm cho Người lao động, chống sa thải nhân công
hàng loạt. từng bước xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp.

+ Bên cạnh các chính sách đó, Nhà nước có thể kết hợp đồng loạt các
chính sách về dân số, phân bố dân cư, cơ cấu lai lực lượng lao động, xóa đói
giảm nghèo gắn với giải quyết việc làm…

– Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng có vai trò rất quan trọng trong vấn đề này
đó là: Định hướng, hỗ trợ và kiểm tra chương trình việc làm của cấp huyện và
cấp xã. Lập quỹ giải quyết việc làm ( từ các nguồn ngân sách địa phương, khoản
hỗ trợ từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm do trung ương chuyển xuống và các
nguồn khác) để giải quyết việc làm cho người lao động. Phải tăng cường đôn
đốc, kiểm tra việc thực hiện các chương trình việc làm, việc sử dụng quỹ giải
quyết việc làm trong phạm vi địa phương theo các quy định của pháp luật.

The post Giải pháp từ phía Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động. – 123docz.net appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>
Để giải quyết vấn đề việc làm không cần có biện pháp nào? https://evbn.org/de-giai-quyet-van-de-viec-lam-khong-can-co-bien-phap-nao-1680773077/ Thu, 06 Apr 2023 09:24:38 +0000 https://evbn.org/de-giai-quyet-van-de-viec-lam-khong-can-co-bien-phap-nao-1680773077/ Câu hỏi: Để giải quyết vấn đề việc làm không cần có biện pháp nào?  A. Phân bố lại dân cư và lao động. B....

The post Để giải quyết vấn đề việc làm không cần có biện pháp nào? appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

]]>

  • Câu hỏi:

    Để giải quyết vấn đề việc làm không cần có biện pháp nào? 

    • A.

      Phân bố lại dân cư và lao động.

    • B.

      Đa dạng các hoạt động kinh tế ở nông thôn.

    • C.

      Đa dạng các loại hình đào tạo. 

    • D.

      Chuyển hết lao động nông thôn xuống thành thị.

    Lời giải tham khảo:

    Đáp án đúng: D

    Một số biện pháp giải quyết vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay là: Phân bố lại dân cư và lao động, đa dạng các hoạt động kinh tế ở nông thôn, đa dạng các loại hình đào tạo, hướng nghiệp dạy nghề, giới thiệu việc làm và đẩy mạnh xuất khẩu lao động.

    Đáp án: D.

    Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi HOC247 cung cấp đáp án và lời giải

    ADSENSE

  • The post Để giải quyết vấn đề việc làm không cần có biện pháp nào? appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Cách dạy con tuổi dậy thì hiệu quả & sai lầm cần tránh | Cleanipedia https://evbn.org/cach-day-con-tuoi-day-thi-hieu-qua-sai-lam-can-tranh-cleanipedia-1680772983/ Thu, 06 Apr 2023 09:23:04 +0000 https://evbn.org/cach-day-con-tuoi-day-thi-hieu-qua-sai-lam-can-tranh-cleanipedia-1680772983/ 10 cách dạy con hiệu quả ở tuổi dậy thì 1. Cách dạy con tuổi dậy thì: Tiêu chuẩn đặt ra với con Ở độ...

    The post Cách dạy con tuổi dậy thì hiệu quả & sai lầm cần tránh | Cleanipedia appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    10 cách dạy con hiệu quả ở tuổi dậy thì

    1. Cách dạy con tuổi dậy thì: Tiêu chuẩn đặt ra với con

    Ở độ tuổi dậy thì, tâm sinh lý của mỗi đứa trẻ có những biến động bất thường. Tâm hồn con nhạy cảm, tâm lý dễ tổn thương bởi những tác động nhỏ xung quanh. Thời điểm này, con có xu hướng thể hiện rõ cái tôi của bản thân hơn bằng những hành động tự quyết. Bạn cần dành thời gian quan tâm, để ý nhiều hơn để đặt ra những tiêu chuẩn phù hợp với con mình. Hút thuốc, rượu bia, cờ bạc… là những điều cấm kỵ buộc con không được phép phạm phải ở độ tuổi này.

    Bạn có thể quy định giờ giới nghiêm để con tuân theo nhưng cũng không nên quá cứng nhắc. Cha mẹ cần thảo luận cùng con, phân tích làm rõ các mặt lợi hại để con hiểu. Dạy con tuổi dậy thì theo cách áp đặt sẽ khiến con phản ứng ngược lại. Việc siết chặt quản lý của bạn làm con cảm giác tù túng, mất tự do. Tuy nhiên, nếu bạn buông lỏng cho con thỏa sức tự do sẽ khiến trẻ dễ sa ngã vào các thói hư tật xấu.

    Dạy con tuổi dậy thì theo cách áp đặt sẽ khiến con phản ứng ngược lạiDạy con tuổi dậy thì theo cách áp đặt sẽ khiến con phản ứng ngược lại

    2. Cách dạy con tuổi dậy thì: Nguyên tắc cho chính cha mẹ

    Thiết lập các tiêu chuẩn cho con một chiều thôi là chưa đủ. Cha mẹ cũng nên đặt ra những nguyên tắc cho chính mình để sẵn sàng đối diện với các tình huống. Bạn nên học cách kiềm chế cơn nóng giận, mất kiểm soát của mình khi con mắc lỗi. Bởi mỗi đứa trẻ có cá tính, suy nghĩ riêng, nhất là ở độ tuổi dậy thì.

    Con bạn chỉ vừa qua giai đoạn trẻ con để chập chững bước vào cánh cửa trưởng thành. Có những suy nghĩ, hành động bồng bột của con làm bạn tức giận, dễ buông lời la mắng. Vì thế bạn cần phải bình tĩnh, ứng xử phù hợp với con lúc này.

    Làm rõ nguyên nhân, trò chuyện với con để bạn có thể cùng thảo luận, phân tích cho con nhìn ra sai lầm của mình. Lòng bao dung, vị tha của cha mẹ sẽ dễ dàng cảm hóa con trẻ, đạt hiệu quả cao trong việc chăm sóc trẻ em vào giai đoạn này và là cách dạy con tuổi dậy thì thông minh.

    Cách dạy con tuổi dậy thì: Nguyên tắc cho chính cha mẹCách dạy con tuổi dậy thì: Nguyên tắc cho chính cha mẹ

    3. Lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của con

    Thế hệ trẻ ngày càng có những xu hướng phát triển khác biệt với thế hệ của cha mẹ. Áp đặt các tiêu chuẩn cũ không phù hợp sẽ chỉ khiến con chán ghét, phản ứng tiêu cực lại. Để nuôi dạy con thông minh, bạn nên dành chút thời gian quan tâm hơn đến sự đổi mới của thời đại để thuận tiện cho việc dạy con tuổi dậy thì.

    Độ tuổi này trẻ thường muốn chứng minh bản thân, tỏ rõ sự thu hút cá nhân để được mọi người quan tâm chú ý. Có những lần bạn sẽ phải đối mặt với tình huống khi con muốn xỏ khuyên, cắt tóc… như bạn bè trang lứa. Bạn nên có cái nhìn thoáng hơn, chắt lọc những nguyện vọng thích hợp và cho phép con trong mức độ giới hạn. Sự thưởng phạt rõ ràng của bạn sẽ khuyến khích trẻ năng nổ học tập, tích cực phấn đấu cho những ước mong của mình. 

    Lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của conLắng nghe tâm tư, nguyện vọng của con

    4. Dạy con tuổi dậy thì là cho con biết những thay đổi của cơ thể

    Ở lứa tuổi dậy, cơ thể của trẻ bắt đầu có những thay đổi. Chính vì vậy, ba mẹ cần chỉ cho con biết cơ thể sẽ có những thay đổi gì, tránh để bé rơi vào tình trạng khủng hoảng, lo sợ, bối rối không biết xử lý như thế nào.

    Một trong những cách dạy con gái tuổi dậy thì đó là hãy cho con biết sự thay đổi về kỳ nguyệt san đầu tiên, cũng như kích thước vòng một tăng lên là hiện tượng tự nhiên ở mọi cô gái. Tiếp đó, các mẹ hãy kín đáo chuẩn bị các vật dụng cần thiết cho chu kỳ kinh nguyệt lần đầu của trẻ, chỉ con cách sử dụng chúng và đảm bảo rằng các vật dụng luôn đi cùng với con (như ở cặp đi học, trong tủ quần áo,…). Nếu con có các triệu chứng đau bụng, bạn hãy chỉ cho con cách dùng thuốc, túi chườm nóng, chế độ ăn uống,…

    Để chuẩn bị tâm lý tuổi dậy thì ở con trai, bạn cần nói cho con biết về thay đổi cơ thể như bắt đầu xuất hiện mùi cơ thể, chất nhờn tiết ra, da dễ bị mụn trứng cá, giọng nói cũng trở nên trầm hơn, kích thước tinh hoàn và dương vật tăng lên…

    Dạy con tuổi dậy thì là cho con biết những thay đổi của cơ thểDạy con tuổi dậy thì là cho con biết những thay đổi của cơ thể

    5. Cùng con tham gia các hoạt động công ích xã hội

    Bạn hãy đề ra những kế hoạch, động viên con cùng mình tham gia các chương trình tình nguyện. Đây cũng có thể coi là một chương trình học ngoại khóa, thực hành bổ ích cho con.

    Các hoạt động như từ thiện, lao động công ích,… sẽ giúp bạn dễ dạy con ở tuổi dậy thì hơn. Thông qua các hoạt động đó, con sẽ được phát triển về mặt tình cảm, đạo đức, nhân cách; khơi gợi tình yêu thương, chia sẻ, mong muốn giúp đỡ mọi người xung quanh, hiểu được cuộc sống của con hiện tại là một điều hạnh phúc và may mắn hơn so với rất nhiều người trong xã hội.

    Ngoài ra, ba mẹ còn có thể cùng con tham khảo các hoạt động như: quyên góp giấy, tập, sách cũ cho trẻ em nhiều có điều kiện cắp sách đến trường, chăm sóc trẻ em mồ côi, người già neo đơn,…

    Cùng con tham gia các hoạt động công ích xã hội là cách dạy con tuổi dậy thì hiệu quảCùng con tham gia các hoạt động công ích xã hội là cách dạy con tuổi dậy thì hiệu quả

    6. Dạy con tuổi dậy thì là vừa làm ba mẹ vừa làm một người bạn tri kỷ của con

    Để dạy con tuổi dậy thì, ba mẹ cần cởi mở hơn trong cách nói chuyện, không nên quá nghiêm túc hoặc không cho con được phép đùa giỡn với mình. Bạn cũng nên tìm hiểu thêm về những thay đổi của xã hội hiện đại để dễ trò chuyện, tránh tình trạng con bướng bỉnh tuổi dậy thì.

    Chỉ khi bé xem bạn là tri kỷ thật sự thì mới có thể thoải mái chia sẻ về những những chuyện vui chuyện buồn trong những ngày đi học, chuyện về bạn bè trang lứa, nhất là về tình yêu tuổi trẻ. Khi tâm sự với con, bạn có thể khéo léo đưa ra những lời khuyên hữu ích khi con gặp khó khăn, kèm theo giáo dục con là về tình yêu, tình dục, cách ứng phó khi bị xâm hại,…

    7. Dạy con suy tuổi dậy thì nghĩ theo hướng tích cực

    Trong suốt quá trình dạy con tuổi dậy thì, ba mẹ sẽ là mũi tên quan trọng để hướng trẻ đi theo con đường tích cực. Suy nghĩ theo hướng tích cực sẽ giúp con đơn giản hóa về tất cả các sự việc đang xảy ra với bản thân mình, từ đó hình thành khả năng thích ứng với cuộc sống, dễ dàng vượt qua khó khăn, khủng hoảng ở lứa tuổi dậy thì.

    8. Để cho con theo đuổi ước mơ của mình

    “Không ai đánh thuế giấc mơ bao giờ”, đặc biệt là những ước mơ của trẻ! Bạn nên theo dõi con có năng khiếu gì, giỏi về lĩnh vực nào, từ đó khuyến khích, tạo điều kiện cho con được làm, được học theo mong ước và đam mê của con. Dù là thành công hay thất bại thì con vẫn chỉ mong có được sự ủng hộ và nhận được những lời khuyên đúng đắn từ ba mẹ, để con có thể thành công hơn hoặc bắt đầu lại từ đầu.

    Dạy con tuổi dậy thì khi có ước mơ, có đam mê cháy bỏng thì trẻ sẽ làm tất cả bằng tâm và nhiệt huyết của mình. Nếu ngược lại, nếu phải làm những điều bản thân không thích thì con trẻ sẽ không có được niềm vui trong công việc, đôi khi còn nhận lấy những thất bại trong cuộc sống.

    Dạy cho con theo đuổi ước mơ của mìnhDạy cho con theo đuổi ước mơ của mình

    9. Tạo điều kiện cho trẻ được tự lập

    Ở lứa tuổi dậy thì, trẻ từ một chỗ luôn phụ thuộc vào ba mẹ sẽ muốn thể hiện tính tự chủ trong suy nghĩ của mình. Con sẽ muốn tham gia đóng góp ý kiến và tự đưa ra các quyết định cá nhân. Chính vì vậy, để dạy con tuổi dậy thì cần bạn tạo điều kiện, dạy con tự lập và có quyết định những suy nghĩ của mình trong một giới hạn nhất định và đảm bảo an toàn cho con (như tự lựa chọn quần áo mình thích, tự sắp xếp nhà cửa, đồ đạc trong phòng, tự lựa chọn bộ môn yêu thích,….)

    Bên cạnh đó, việc tạo điều kiện cho con được độc lập trong một số công việc cũng là cách để trẻ có thể tự giải quyết được khó khăn trong cuộc sống. Sự độc lập có thể mang lại lòng tự tin, thành công, giúp cho con bạn trưởng thành hơn và không phải sống một cuộc sống lệ thuộc vào bất cứ một ai.

    10. Dạy cho trẻ sử dụng tài chính một cách đúng đắn

    Một số bậc phụ huynh có suy nghĩ không cho con trẻ tiêu tiền sử dụng tiền quá sớm vì sợ sẽ làm hư con trẻ, đây chưa hẳn là một lựa chọn tốt. Thay vào đó các bạn có thể cho con một số tiền vừa đủ dùng không quá nhiều, và hướng dẫn cách sử dụng số tiền đó sao cho đúng.

    Ví dụ như cho con con 20.000₫ đặt ra con sẽ chi tiêu trong 2 ngày, nếu hết sẽ không cho thêm, mục đích để con biết phân chia số tiền nên mua gì cho đúng và chia ra cho 2 ngày. Bên cạnh đó, ba mẹ cũng nên khuyến khích trẻ nuôi heo đất, tiết kiệm tiền có thể quyên góp mua tập, sách cho các bạn có hoàn cảnh khó khăn,…

    Dạy cho trẻ sử dụng tài chính một cách đúng đắnDạy cho trẻ sử dụng tài chính một cách đúng đắn

    Cách nói chuyện với trẻ về giới tính theo từng độ tuổi

    1. Cách nói chuyện với trẻ về giới tính từ sơ sinh đến 2 tuổi

    Quá trình nói về tình dục nên được bắt đầu trước khi trẻ biết nói. Vì thế, bạn nên kết hợp dạy trẻ tên của các bộ phận sinh dục vào các hoạt động hàng ngày như thời gian tắm. Bạn có thể những cái tên dễ thương để nói về các bộ phận, thế nhưng những thuật ngũ như dương vật, âm hộ, âm đạo, âm vật, mông và núm vú trẻ cũng nên được biết. Những từ này thường được dùng để truyền đạt những vấn đề về sức khỏe hoặc chấn thương.

    Mặc dù sử dụng những thuật ngữ chính xác của bộ phận sinh dục để dạy con có vẻ khó khăn nhưng bạn hãy nói một cách bình thường như nói về cánh tay, mắt cá chân,… Bên cạnh đó, bạn cũng nên tránh kết nối sinh học tình dục với giới tính. Chẳng hạn, bạn không nên nói các bé trai đều có dương vật và các bé gái đều có âm đạo mà hãy nói “những người có dương vật’ hoặc “những người có âm đạo”. Điều này sẽ giúp con có nền tảng trò chuyện dễ dàng hơn về vai trò và cách nhận dạng giới tính sau này.

    Khi trẻ hai tuổi, bạn có thể bắt đầu nói chuyện, cùng con khám phá cơ thể ở những thời điểm và địa điểm thích hợp. Nếu con bạn có xu hướng sờ vào bộ phận sinh dục của mình thì điều này cũng rất bình thường. Tuy nhiên, bạn hãy cố gắng giải thích một cách nhẹ nhàng cho chúng biết hành động này chỉ nên làm trong không gian riêng tư như phòng ngủ. 

    2. Cách nói chuyện với trẻ về giới tính khi chúng từ 2 đến 5 tuổi

    Với trẻ từ 2-5 tuổi, trọng tâm chính khi giáo dục giới tính cho trẻ là tìm hiểu về ranh giới, những điều gì được và không thích hợp khi nói đến việc chạm vào hoặc bị người khác chạm vào bộ phận sinh dục. Khi người khác chạm vào cần có sự đồng ý của trẻ cũng như trẻ phải học cách hỏi trước khi chạm vào người khác. Bằng những trò chơi dựa trên cảm ứng như cù bạn có thể dạy con cách khẳng định ranh giới riêng, chẳng hạn như nói với trẻ khi nào được và không được trèo vào lòng bạn, điều này giúp tạo nên sự đồng ý trực quan hơn .

    Bạn cần thiết lập để trẻ em có tiếng nói đối với cơ thể của chúng và giữ chúng luôn được an toàn. Bạn có thể bỏ qua các chi tiết rõ ràng, nhưng đây là lúc bạn nên nói với trẻ rằng người khác không bao giờ được yêu cầu hoặc cố gắng chạm vào bộ phận sinh dục của trẻ. Điều quan trọng nhất là bạn cần truyền đạt để con hiểu rằng con có thể nói với bạn về những hành động không phù hợp bất cứ lúc nào, ngay cả khi trước đó chúng đã giữ bí mật.

    Ở độ tuổi này, các bé có thể rất tò mò về cơ thể của nhau. Bạn cần phải thừa nhận tính ham học hỏi này và sử dụng nó để thảo luận về các quy tắc và giá trị của gia đình bạn. Bạn nên nói chuyện với con về thời điểm thích hợp để khỏa thân. Nếu bạn thấy con chơi trò bác sĩ thì hãy thảo luận với con về cách xử lý bộ phận sinh dục của người khác là không phù hợp. Đây những bộ phận rất đặc biệt của cơ thể mà người khác không nên chạm vào.

    Ngoài ra, ở độ tuổi này, có thể con bạn sẽ hỏi trẻ sơ sinh được tạo ra như thế nào. Để trả lời câu hỏi này có rất nhiều cách, phụ thuộc vào mức độ con bạn có thể hiểu được. Nếu con muốn biết thêm thông tin, bạn có thể giải thích cho chúng bằng cách như hai người lớn ghép cơ thể chúng lại với nhau và chia sẻ tinh trùng và trứng để tạo ra một đứa trẻ giống bạn. Bạn cũng nên nói với con một số chi tiết như cách tinh trùng và trứng gặp nhau. Điều quan trọng nhất khi giải thích cho trẻ là không nói dối và cần theo dõi những câu hỏi đó chứ không từ chối nói.

    Bạn cũng nên cho trẻ khám phá cách tạo ra trẻ sơ sinh bằng cách kể cho trẻ nghe câu chuyện chào đời của chính chúng. Bạn có thể điều chỉnh những chi tiết sao cho phù hợp với hoàn cảnh của gia đình mình. Bạn nên lưu ý cho con rằng câu chuyện về sự ra đời của con chỉ là một trong nhiều cách mà các gia đình được tạo ra.

    Điều quan trọng nhất là bạn cần giới thiệu cho trẻ ở độ tuổi này biết được rằng gia đình và các mối quan hệ có thể được xây dựng theo nhiều cách khác nhau. Hơn nữa, những phát biểu hằng ngày của bạn cũng nên mang ngôn ngữ hòa nhập. Chẳng hạn, thay vì nói “Chào mừng, các bạn nam và nữ” thì hãy đổi thành “Chào mừng các em/các bạn”. Sự thay đổi nhỏ này dạy cho trẻ biết rằng giới tính không phải là giới tính nhị phân.

    Hưỡng dẫn cách nói chuyện với trẻ về giới tính khi chúng từ 2 đến 5 tuổiHưỡng dẫn cách nói chuyện với trẻ về giới tính khi chúng từ 2 đến 5 tuổi

    3. Cách nói chuyện với trẻ về giới tính khi chúng từ 6 đến 8 tuổi

    Ở độ tuổi này, điều quan trọng nhất là bạn phải thảo luận về cách khám phá không gian kỹ thuật số một cách an toàn ngay cả khi con bạn sẽ không sử dụng Internet. Bạn nên thiết lập cho con những quy tắc xung quanh việc nói chuyện với người lạ và chia sẻ ảnh trực tuyến, cũng như phải làm gì khi con gặp điều gì đó không thoải mái. Bạn không cần phải giải thích trước về nội dung khiêu dâm cho trẻ nhưng hãy chuẩn bị tinh thần để chúng tình cờ xem được nội dung đó. Bạn hãy bình tĩnh giải thích cho trẻ, không phải khẳng định nội dung khiêu dâm là một thứ gì đó xấu mà bạn hãy giúp con nhận thức được loại trang web này chỉ dành cho người lớn.

    Đây cũng là thời điểm thích hợp để xem xét về hành động thủ dâm bởi độ tuổi này trẻ đã bắt đầu khám phá cơ thể của mình. Hãy coi nó như một thứ gì đó bình thường nhưng được thực hiện một cách riêng tư và đừng quên giữ gìn vệ sinh đúng cách.

    Ở độ tuổi này, bạn cũng có thể nói rõ ràng với trẻ về vấn đề lạm dụng tình dục. Trẻ cần biết được hành động này để tự bảo vệ mình hoặc giúp đỡ một người bạn bị lạm dụng. Chi tiết của cuộc nói chuyện này như thể nào phụ thuộc vào con bạn. Tốt nhất, bạn nên bắt đầu với những điều cơ bản như không ai được chạm vào bộ phận sinh dục của người khác nếu không có sự cho phép của họ. Sau đó, bạn hãy đánh giá cảm giác của con khi nói về chủ đề này, nếu con cảm thấy khó chịu thì hãy tạm dừng và chờ chúng lớn hơn một chút.

    Độ tuổi này thực sự đã đến lúc cần phải giải thích cơ chế giới tính thực tế cho trẻ em. Nếu con bạn đã sẵn sàng, bạn hoàn toàn có thể giới thiệu thông tin này sớm hơn. Ngược lại, nếu con chưa sàng thì bạn hoàn toàn có thể trì hoãn một chút. Để thảo luận vấn đề này dễ dàng hơn, bạn nên kết hợp một cuốn sách hay để đoán trước nhiều câu hỏi của con bạn.

    Nói về tình dục có thể đi đôi với tuổi dậy thì. Khi trẻ khoảng sáu tuổi, bạn hãy có một cuộc thảo luận với con về những thay đổi của cơ thể khi chúng lớn lên. Cụ thể hơn, bạn có thể so sánh những bức ảnh khi chúng còn nhỏ với những bức ảnh trông như bây giờ. Bạn nên nói chuyện chi tiết hơn về tuổi dậy thì trước khi con bạn hoặc những người trong nhóm bạn đồng lứa bắt đầu trải nghiệm nó nếu không nó cũng chỉ là điều xa lạ với trẻ. Trẻ em có âm đạo có thể bắt đầu dậy thì từ 9 đến 11 tuổi và dấu hiệu của sự thay đổi này là sự phát triển của các chồi vú và nó bắt đầu trước khi trẻ 10 tuổi. Sau đó khoảng vài năm, kinh nguyệt sẽ xuất hiện. Trẻ em có dương vật thường bắt đầu tuổi dậy thì vào khoảng 10 tuổi và dấu hiệu rõ ràng nhất là sự phát triển của lông mu.

    Khi thảo luận về tuổi dậy thì, tốt nhất, bạn nên chia sẻ với con một cuốn sách hay. Nó cũng sẽ hướng dẫn bạn về các khía cạnh kỹ thuật của tuổi dậy thì như sự khác biệt giữa testosterone và estrogen, tại sao và cách cơ thể lại trải qua những thay đổi về tóc, bộ phận sinh dục, giọng nói… Bên cạnh đó, trẻ không nên chỉ học về cơ thể của chính mình mà còn học về các cơ quan khác. Mặc dù cơ chế chi tiết của tuổi dậy thì có thể chỉ giới hạn trong một cuộc trò chuyện nhưng tác động của quá trình chuyển đổi này cần được thảo luận liên tục. 

    Ngoài ra, trẻ em ở độ tuổi này cũng cần tìm hiểu thêm về phạm vi thể hiện giới tính. Nếu chính bạn cũng đang tránh né chủ đề này thì hãy tự học trước.

    Cách nói chuyện với trẻ về giới tính khi chúng từ 6 đến 8 tuổiCách nói chuyện với trẻ về giới tính khi chúng từ 6 đến 8 tuổi

    4. Cách nói chuyện với trẻ về giới tính khi chúng 9 đến 12 tuổi

    Giai đoạn này chính là lúc bạn nên bắt đầu nói về phân biệt giới tính và tình dục. Bạn có thể lấy những ví dụ rên các phương tiện truyền thông hoặc trong cộng đồng của bạn. Ví dụ, một ông bà nào đó cho rằng con trai chỉ nên để tóc ngắn để bắt đầu cuộc thảo luận. Những cuộc trò chuyện này có thể khiến trẻ chán nản, nhưng nó có thể giúp trẻ tìm thấy sức mạnh của mình và chỉ ra những tấm gương tích cực về những cá nhân đã vượt qua những định kiến. 

    Ở độ tuổi này, trẻ sẽ có rất nhiều thay đổi về cảm xúc và xã hội, đặc biệt các bé gái có thể phải vật lộn với các vấn đề về cơ thể. Vì thế, bạn nên kiểm tra con cái về cảm giác của chúng cũng như những gì chúng đang băn khoăn. Khi nói về những thay đổi của cơ thể chúng, bạn cần nhấn mạnh lặp đi lặp lại rằng đó là điều bình thường.

    Khi con 11 tuổi, bạn có thể sẽ muốn bắt đầu trò chuyện về các lựa chọn tình dục và tình dục an toàn. Ý tưởng này hơi chói tai nhưng thực sự nó rất quan trọng bởi vì nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thanh thiếu niên thường đưa ra lựa chọn tốt hơn khi biết trước rủi ro. Bạn cũng có thể đề cập đến những loại hình kiểm soát sinh sản khác nhau và giải thích những điều cơ bản về cách chúng hoạt động.

    Nhóm tuổi này thường có nhiều tự do hơn khi trực tuyến vì thế bạn nên trò chuyện định kỳ về an toàn internet và xây dựng dựa trên các quy tắc và giá trị đã được thiết lập. Chẳng hạn, bạn hãy trao đổi thẳng thắn về việc chia sẻ ảnh khỏa thân hoặc khiêu dâm của bản thân hoặc đồng nghiệp là bất hợp pháp, có thể bị buộc tội.

    Khi những câu chuyện nổi bật về việc nhắn tin tình dục hoặc bắt nạt trực tuyến được đưa vào tin tức, bạn hãy sử dụng chúng để hỏi con cách chúng xử lý các tình huống tương tự.

    Làm thế nào để nói chuyện với thanh thiếu niên của bạn về tình dục?

    Trò chuyện với trẻ về giới tính và tình dục sớm thực sự mang lại hiệu quả khi chúng đến tuổi thanh thiếu niên. Nếu bạn là người cởi mở khi thảo luận về những chủ đề đó thì con bạn cũng sẽ thoải mái hơn khi nói chuyện với bạn và đặt câu hỏi cho bạn.

    Thế nhưng, nếu bạn đã im lặng về chủ đề tình dục từ trước cho đến nay thì ngay bây giờ bạn hãy ngồi xuống nói chuyện với con về cách thay đổi của mình. Bởi dù bạn chỉ nghe cũng khiến trẻ yên tâm hơn. 

    Bạn cũng nên thường xuyên thảo luận về sự đồng ý trong các mối quan hệ tình dục vì đây là điều quan trọng. Bạn cần giúp con có cách tự bảo vệ mình trước áp lực và bạo lực khi hẹn hò, cuộc trò chuyện xung quanh những chủ đề này nên bao gồm tác động của việc uống rượu và ma túy.

    Những cuộc trò chuyện thường xuyên về các mối quan hệ lành mạnh là rất quan trọng. Nếu con bạn ngại nói về bản thân thì bạn có thể nói về bạn bè ở trường, cũng có thể nói về mối quan hệ trong quá khứ của mình.

    Cuối cùng, khi nói đến thanh thiếu niên, bạn muốn trao quyền cho con có thể đánh giá rủi ro và đưa ra quyết định đúng đắn. Trẻ em luôn có bản lĩnh, tiếng nói bên trong nên lắng nghe nó là một phần quan trọng của giáo dục giới tính. Khi thảo luận về các chủ đề phù hợp ở đúng lứa tuổi sẽ giúp con bạn thể hiện được điều này.

    Làm thế nào để nói chuyện với thanh thiếu niên của bạn về tình dục?Làm thế nào để nói chuyện với thanh thiếu niên của bạn về tình dục?

    Với những chia sẻ của Cleanipedia, mong rằng các bậc cha mẹ đã có cái nhìn rõ hơn trong cách dạy con tuổi dậy thì. Mỗi đứa trẻ có một cá tính riêng. Bạn cần linh động hơn để có cách dạy con hợp lý, cùng con trải qua giai đoạn “chuyển mình” một cách trọn vẹn. Và bạn đừng quên dạy trẻ kỹ năng sống để con có đủ hành trang khi trưởng thành nhé!

    >>> Xem thêm:

    Tác giả: Team Cleanipedia 

    Bản quyền thuộc về: Unilever Vietnam. Ghi rõ nguồn khi tham khảo.

    The post Cách dạy con tuổi dậy thì hiệu quả & sai lầm cần tránh | Cleanipedia appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Đề số 52 – Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn> https://evbn.org/de-so-52-de-thi-thu-thpt-quoc-gia-mon-ngu-van-1680772974/ Thu, 06 Apr 2023 09:22:56 +0000 https://evbn.org/de-so-52-de-thi-thu-thpt-quoc-gia-mon-ngu-van-1680772974/ Đề bài I. ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Tuổi trẻ – tự bản thân nó đã là một...

    The post Đề số 52 – Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn> appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Đề bài

    I. ĐỌC HIỂU

    Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

    Tuổi trẻ – tự bản thân nó đã là một tài sản, tự bản thân nó đã hàm chứa ánh sáng và hạnh phúc, khi bị dúi xuống bùn, cơ hội để nó vẫn tỏa sáng và thăng hoa sẽ lớn hơn so với khi bạn già đi. Lúc đó là lúc phép thử còn màu nhiệm, con tốt đó trong tay có thể còn phong Hậu; bạn có thời gian làm hậu thuẫn và chân trời vẫn còn gợi nhiều thôi thúc. Còn khi bạn đã lớn tuổi hơn, những xây xước đằng trước sẽ làm cho bạn ngần ngại, nếu bạn bị dúi xuống bùn thì rất có thể bạn sẽ tặc lưỡi nằm đó một mình, hoặc sẽ cố gắng vùng vẫy sao cho người khác cũng vấy bẩn lêm luốc giống với bạn.

    Tuổi trẻ có một thứ vốn ngầm rất đáng quý mà không phải ai cũng biết: sự cô đơn. Trái tim là một giống loài dễ hư hỏng. Nếu nó được no đủ, nó sẽ đổ đốn ngay lập tức. Hạnh phúc làm cho con người ta mềm yếu, người ta vui tươi với mọi thứ, người ta quên mất việc phải làm, người ta còn bắt đầu tặc lưỡi nhiều hơn với những thói quen xấu. Tình yêu là một giống dây leo khó chiều. Nó cần được thử thách và bị tấn công. Nếu bạn mớm cơm cho nó hàng ngày, chăm sóc nó quá no đủ, nó sẽ chết yểu.

    (Theo Kênh14.vn)

    Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản.

    Câu 2: Vì sao tác giả lại cho rằng: Tuổi trẻ – tự bản thân nó đã là một tài sản?

    Câu 3: Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến: …khi bạn đã lớn tuổi hơn, những xây xước đằng trước sẽ làm cho bạn ngần ngại?

    Câu 4: Anh/Chị có đồng tình với quan niệm: Trái tim là một giống loài dễ hư hỏng. Nếu nó được no đủ, nó sx đổ đốn ngay lập tức?

    II. LÀM VĂN

    Câu 1:

    Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về giá trị của tuổi trẻ.

    Câu 2:

    Cảm nhận của anh chị về vẻ đẹp tình người qua chi tiết: Thị Nở đem bát cháo hành cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và Mị cắt dây cởi trói thả A Phủ (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài).

    Lời giải chi tiết

    I. ĐỌC HIỂU

    Câu 1:

    – Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

    Câu 2:

    Tác giả cho rằng “Tuổi trẻ – tự bản thân nó đã là một tài sản” vì:

    – Khị bị dúi xuống bùn, cơ hội để nó vẫn tỏa sáng và thăng hoa sẽ lớn hơn so với khi bạn già đi.

    – Khi vấp ngã, tuổi trẻ có thời gian hậu thuẫn và chân trời vẫn còn nhiều thôi thúc.

    Câu 3:

    – Có thể hiểu ý kiến đó là: Khi lớn tuổi con người ta thích sự ổn định, ngại thay đổi, không còn nhiều nhiệt tình,  thời gian của họ ngày một ít dần. Bởi vậy, khi gặp những sóng gió trong cuộc sống người ta dễ dàng buông xuôi chấp nhận.

    Câu 4:

    – Đồng ý với quan điểm của tác giả bài viết.    

    II. LÀM VĂN

    Câu 1:

    1. Giải thích

    – Tuổi trẻ là gì? Tuổi trẻ – đầu tiên, đó là những người trẻ tuổi. Họ có đầy đủ cả những ưu điểm về thể chất lẫn tinh thần. Họ đang trong thời gian sung sức nhất, chưa nhiều trải nghiệm, nên họ muốn được thử, được dấn thân. Họ dám theo đuổi đam mê của mình, và nếu như họ có khả năng, có kiên trì, họ sẽ thành công.

    2. Bàn luận vấn đề

    – Giá trị của tuổi trẻ:

    +Tuổi trẻ là tuổi dám thử, dám trải nghiệm. Đây là thời gian sung sức nhất, năng động nhất, bởi trong giai đoạn này, những người trẻ luôn sống trong bầu nhiệt huyết cháy bỏng.

    + Tuổi trẻ với đầy mơ ước hoài bão, họ có năng lực, sự sáng tạo, nếu kiên trì nhất định sẽ đạt được thành công.

    + Tuổi trẻ là tương lai của đất nước, tiếp bước cha anh, đưa tổ quốc vươn ra thế giới.

    – Tuổi trẻ cần làm gì?

    + Xác định đúng mục tiêu, mục đích học tập.

    + Không ngừng nỗ lực, phấn đấu.

    + Tự tin thể hiện mình để khẳng định bản thân.

    – Chứng minh: Học sinh lấy dẫn chứng phù hợp, có phân tích ngắn gọn

    – Bàn luận:

    + Trong cuộc sống hôm nay, có nhiều bạn trẻ chìm đắm trong thế giới ảo, với những trò chơi vô bổ mà không biết rằng mình cần làm gì để những năm tháng tuổi trẻ thực sự có ý nghĩa. Họ như những người thừa trong xã hội vì lối sống vô trách nhiệm của bản thân.

    + Không chỉ vậy, có những người còn sống ích kỷ, đề cao cái tôi để rồi không có lấy một tình bạn đẹp. Đó thậm chí còn là những con người chỉ biết nhận mà không biết cho đi.

    – Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề

    Câu 2:

    1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích

    * Giới thiệu về tác giả Nam Cao, tác phẩm Chí Phèo và chi tiết Thị Nở đem bát cháo hành cho Chí Phèo.

    – Nam Cao là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Những sáng tác của ông xoay quanh người trí thức nghèo và người nông dân nghèo. Ông luôn dành cho những con người mang bi kịch về cả đời sống vật chất và tinh thần đó niềm cảm thương sâu sắc.

    – Chí Phèo là một trong những tác phẩm tiêu biểu làm nên tên tuổi của ông. Ban đầu truyện có tên là Cái lò gạch cũ, khi lần đầu thành sách (1941), nhà xuất bản tự ý đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi. Đến khi in lại trong tập Luống cày (1946), Nam Cao đổi tên thành Chí Phèo.

    – Chi tiết Thị Nở đem bát cháo hành cho Chí Phèo là một chi tiết đặc sắc mang nhiều ý nghĩa.

    * Giới thiệu về tác giả Tô Hoài, tác phẩm Vợ chồng A Phủ, chi tiết Mị cởi trói giải thoát cho A Phủ.

    – Tô Hoài là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta. Ông cũng là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có.

    – Vợ chồng A Phủ (1952) là một trong những thiên truyện đặc sắc của Tô Hoài. Tác phẩm được in trong tập “Truyện Tây Bắc”.

    – Chi tiết Mị cắt dây trói cứu A Phủ trong thiên truyện là chi tiết thấm đẫm tình người.

    2. Phân tích

    2.1 Phân tích chi tiết Thị Nở đem bát cháo hành cho Chí Phèo

    * Giới thiệu chung về nhân vật Chí Phèo và Thị Nở

    * Phân tích chi tiết Thị Nở đem bát cháo hành cho Chí Phèo:

    – Hoàn cảnh: Chí Phèo ốm dậy sau một cơn say triền miên. Chí Phèo chỉ có một mình, không ai chăm sóc.

    – Ý nghĩa chi tiết:

    + Thể hiện sự quan tâm, chăm sóc của Thị dành cho Chí và cũng là khát khao được yêu thương của Thị Nở.

    + Đánh thức cảm giác khao khát được yêu thương, đánh thức khao khát được làm người lương thiện – đánh thức nhân tính trong Chí.

    + Biểu hiện của tình yêu giữa hai con người bất hạnh trong xã hội cũ.

    2.2 Phân tích chi tiết Mị cởi trói cứu A Phủ:

    – Hoàn cảnh (tình huống gặp gỡ)

    + A Phủ: trong khi đi chăn bò cho nhà thống lí Pá Tra do mải bẫy nhím nên để hổ vồ mất một con bò, nên bị bắt tội, bị trói đứng.

    + Mị: Sau đêm tình mùa xuân, Mị rơi vào trạng thái tê liệt về tinh thần. Hàng đêm ngồi cạnh bếp lửa (cạnh chỗ A Phủ bị trói hơ chân hơ tay).

    – Ý nghĩa chi tiết:Thể hiện sự thức tỉnh của nhân vật Mị với tình người sâu sắc.

    + Mị thức tỉnh khi nhìn thấy “giọt nước mắt lấp lánh” của A Phủ “bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Những giọt nước mắt đó đã chạm đến tâm can Mị. Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ, nhớ về những kí ức đau khổ, Mị thương mình và xót người.

    + Mị từ cõi vô thức dần sống lại ý thức, nhận ra dấu hiệu của cái chết đang đến gần, Mị càng thương A Phủ hơn, thương người lấn át cả thương mình và quyết định cắt dây cởi trói cho A Phủ

    → Hành dộng của Mị là hành động thấm đẫm tình người. Tình người ở đây là sự đồng cảm với nỗi đau, thấu cảm với cảm xúc và hoàn cảnh của nhau. Tình người chính là sức mạnh dẫn đến kết quả: cắt dây cởi trói A Phủ.

    2.3 Vẻ đẹp tình người qua hai chi tiết:

    – Tình người là tình yêu thương giữa con người với con người có thể là tình yêu, là sự đồng cảm.

    – Hai chi tiết xuất hiện trong hai tác phẩm khác nhau nhưng đều cho ta thấy sức mạnh của tình người. Nó giúp đánh thức những thứ đã ngủ sâu trong con người, giúp con người mạnh mẽ và dũng cảm hơn.

    3. Kết luận

    Khái quát và mở rộng vấn đề.

    Xem thêm: Đề và Lời giải chi tiết Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn mới nhất tại Tuyensinh247.com

    Loigiaihay.com

    The post Đề số 52 – Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn> appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Thế hệ trẻ tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc https://evbn.org/the-he-tre-tam-trong-tri-sang-hoai-bao-lon-xung-kich-xay-dung-va-bao-ve-to-quoc-1680772963/ Thu, 06 Apr 2023 09:22:44 +0000 https://evbn.org/the-he-tre-tam-trong-tri-sang-hoai-bao-lon-xung-kich-xay-dung-va-bao-ve-to-quoc-1680772963/ Phát huy vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng. Ảnh: thanhnienviet.vn Tuổi trẻ là tuổi của hoài bão,...

    The post Thế hệ trẻ tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    leftcenterrightdel

    Phát huy vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng. Ảnh: thanhnienviet.vn

    Tuổi trẻ là tuổi của hoài bão, là tuổi với bao ước mơ và khát vọng cống hiến sức mình, tích cực tiếp thu những tri thức của nhân loại, lao động, sáng tạo và cống hiến cho xã hội. Nếu mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, thì tuổi trẻ là lứa tuổi đáng sống nhất của cuộc đời mỗi người. Có lẽ, mùa xuân và tuổi trẻ là hiện thân của sức sống, khát vọng vươn lên mãnh liệt và nồng cháy. Bác rất đề cao vai trò của thế hệ trẻ, đặc biệt là thế hệ thanh niên, Bác xem thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, là đầu tàu để xây dựng và phát triển đất nước. Vậy tuổi trẻ hiện nay cần phải làm gì để xứng đáng với mong đợi của Bác, của toàn dân và Tổ quốc?

    Trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” đã phân tích một cách sâu sắc bối cảnh thực tiễn Việt Nam và vị trí, vai trò thanh niên trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay. Nhận thấy rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vậy là thế hệ trẻ, là mùa xuân của xã hội, thế hệ trẻ cần làm gì, làm như thế nào để khẳng định và đóng góp sức mình vào công cuộc kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội?

    Ngày nay, bước vào thời kỳ công nghiệp 4.0, các nước ra sức chạy đua về công nghệ, kỹ thuật với hàng loạt các công trình nghiên cứu, sáng chế, áp dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào đời sống sản xuất, tối ưu hóa các quy trình sản xuất. Nhận thấy điều này, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương để đưa đất nước hội nhập, theo kịp với sự phát triển của thế giới. Đại hội Đảng XIII đã đề ra chủ trương “phải đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số” cùng hàng loạt các chính sách, chủ trương khác. Những vấn đề được Tổng Bí thư nêu trong bài viết đã khẳng định những nhiệm vụ quan trọng thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ hiện nay.

    Trước hết, thế hệ trẻ cần phải chăm chỉ, sáng tạo, có mục đích và động cơ học tập đúng đắn, học tập để mai sau xây dựng đất nước, hiểu được học tập tốt là yêu nước. Theo Tổng Bí thư, “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Để thực hiện được mục tiêu đó, một trong những nhiệm vụ đặt ra là “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức”. Trong đó, tuổi trẻ Việt Nam nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, có đầy đủ kiến thức, kỹ năng để thích ứng với những bước phát triển mới trong khoa học và công nghệ. Theo nhận định của Ph.Ăngghen, sinh viên là giai cấp “vô sản trí thức”, là những người bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học,… trong tương lai, sẽ cùng sát cánh với người bạn của nó là các công nhân thủ công nghiệp mà trong quá trình công nghiệp hóa chính là giai cấp công nhân hiện đại. Chính vì vậy, thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước phải không ngừng học tập, sáng tạo, tiếp thu các công nghệ mới để trang bị một nền tảng tốt, giàu kiến thức, vững kỹ năng để tiếp nối các thế hệ cha anh trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức.

    Thứ hai, tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong; lối sống trong sáng, lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội; biết đấu tranh chống các biểu hiện của lối sống lai căng, thực dụng, xa rời các giá trị văn hoá – đạo đức truyền thống của dân tộc. Trong số các nhiệm vụ đặt ra, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề cập đến “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”. Đại hội XIII của Đảng cũng đặt ra 06 nhiệm vụ trọng tâm và 03 đột phá chiến lược, trong đó văn hóa vẫn được xem là nền tảng tinh thần của xã hội. Đây sẽ là một động lực quan trọng để phát huy giá trị, truyền thống của dân tộc, phát huy giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam nói chung và tuổi trẻ Việt Nam nói riêng để đóng góp vào sự phồn thịnh của đất nước. Ở vị trí là những người con được kế thừa nền hòa bình, độc lập dân tộc, được thụ hưởng những sản phẩm của quá trình phát triển đất nước, tuổi trẻ Việt Nam phải luôn tỉnh táo, kiên quyết chống lại và bài trừ những hành vi suy thoái đạo đức, văn hóa, dũng cảm lên án các hành vi vi phạm pháp luật, các tệ nạn xã hội. Để gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, các bạn trẻ phải tự rèn luyện, nâng cao  đón nhận các sản phẩm nước ngoài một cách có chọn lọc, tránh lối sống sính ngoại, chê bai các mặt hàng nội địa, tránh thực trạng mù quáng trước văn hóa nước ngoài, phải để bản thân “hòa nhập chứ không hòa tan”. Bên cạnh đó, tuổi trẻ Việt Nam cần phải “học lịch sử” chứ không chỉ dừng ở “học môn lịch sử”, tôn trọng lịch sử chính là tiền đề để tôn trọng văn hóa, tạo điều kiện để phát huy và khơi gợi một cách đầy đủ nhất những giá trị to lớn của dân tộc Việt Nam mà ông cha ta đã xây dựng, bảo vệ trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước.

    Thứ ba, luôn nâng cao nhận thức chính trị, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tránh nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị. Hiện nay, các thiết bị công nghệ hiện đại và hệ thống mạng xã hội đang ngày càng phát triển đã tạo ra nhiều ảnh hưởng lớn đến giới trẻ, bao gồm cả những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, một trong số đó là khiến giới trẻ sống tách biệt với xã hội, hình thành lối sống vô tâm, vô cảm, thờ ơ chính trị, đi ngược với câu nói của cha ông trong lịch sử dân tộc Việt Nam: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Bên cạnh đó, mặc dù với sự phát triển của công nghệ, giới trẻ có thể tiếp cận nhanh chóng nhiều nguồn thông tin, nhưng cách thức tiếp cận còn rất thụ động. Nhiều bạn trẻ chủ yếu đọc báo qua những bài được chia trẻ trên mạng xã hội chưa được kiểm chứng cụ thể, thay vì chủ động tiếp cận tới các nguồn tin chính thức, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch truyền bá những thông tin xuyên tạc Đảng và Nhà nước mà nếu không có những nhận thức chính trị đầy đủ, người đọc sẽ hình thành suy nghĩ sai lệch, gây ra những hệ lụy khôn lường cho tình hình an ninh xã hội. Tuổi trẻ Việt Nam cũng phải có nhiệm vụ tự mình nâng cao nhận thức trị, học và làm theo Bác, hỗ trợ Đảng và Nhà nước trong việc loại bỏ các thông tin xuyên tạc, tiêu cực khỏi các nền tảng mạng xã hội, tuyên truyền đến người thân, bạn bè có cách tiếp nhận thông tin đúng đắn và phải báo cáo ngay các trường hợp phản động, chống phá Nhà nước.

    Thứ tư, biết trau dồi các kỹ năng hội nhập trong thời kỳ mới, tiếp thu sự phát triển của công nghệ, phát triển bản thân phù hợp với hoàn cảnh gia đình và xã hội. Trong các bài viết của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”. Theo lời Tổng Bí thư, trong quá trình xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ta không nên mù quáng phủ nhận tất cả những sản phẩm chủ nghĩa tư bản đã tạo ra mà phải chắt lọc, kế thừa những thành tựu phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước. Trong đó, tuổi trẻ với bản chất năng động, sáng tạo, nhiệt huyết, nhanh nhạy là đối tượng lý tưởng để tiếp thu các công nghệ mới, tham gia giao lưu, hội nhập quốc tế. Song cũng cần phải lưu ý rằng, trong quá trình hội nhập phải luôn tỉnh táo để không đánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc, phải dung hòa được nếp sống hiện đại với những giá trị truyền thống. Nhiệm vụ học tập khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế đòi hỏi lớp thanh niên hiện nay phải nhanh chóng trang bị cho mình năng lực hội nhập, như bản lĩnh, kiến thức, trình độ ngoại ngữ, tin học, kỹ năng, tác phong công nghiệp, hiểu biết văn hóa dân tộc, đất nước mình, đồng thời phải hiểu biết tình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa thế giới. Để thực hiện nhiệm vụ đó, mỗi thanh niên phải tự mình phát huy tinh thần học tập, rèn luyện. Trong đó, việc trau dồi các kiến thức tin học và ngoại ngữ yếu tố tiên quyết, nhất là tiếng Anh vì hiện nay, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ thông nhất trên thế giới, thông thạo tiếng Anh sẽ là một lợi thế rất lớn cho việc xin việc làm cũng như nắm bắt được nhiều cơ hội khởi nghiệp từ sự hội nhập toàn cầu.

    Bản thân là sinh viên, đặc biệt là sinh viên ngành khoa học, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thì việc hội nhập là rất cần thiết để có thể học hỏi những điều mới mẻ trên thế giới, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm từ quá trình hội nhập, cố gắng phấn đấu trở thành thế hệ thanh niên vừa hồng vừa chuyên, rèn đức luyện tài, tích cực tham gia vào công tác tình nguyện, các phong trào trường lớp, đoàn hội ở địa phương và nơi học tập, không ngừng nỗ lực học tập, nâng cao kiến thức, ra sức cống hiến sức mình cho sự nghiệp kiến thiết và bảo vệ tổ quốc. Ngoài ra, tích cực trau dồi lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa để tránh bị tác động bởi các thế lực thù địch, phản động. Bản thân chủ động tham gia các cuộc thi Ánh sáng soi đường, tham gia cuộc thi Tìm hiểu về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, … do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức, cố gắng phấn đấu theo mẫu hình thanh niên Việt Nam: tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn.

    Đảng xác định thanh niên giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người, luôn đặt niềm tin vào thanh niên, phát huy vai trò làm chủ và năng lực của thanh niên trong công cuộc xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Lời dạy của Bác lúc sinh thời cho thấy những tình cảm sâu sắc, sự quan tâm của Người đối với thế hệ thanh niên “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cõi của Người không sớm hồi sinh”. Trước sự quan tâm và kì vọng ấy, thế hệ trẻ thật sự cần nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình và không ngừng học tập, phấn đấu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để trở thành thế hệ thanh niên vừa hồng vừa chuyên như mong đợi của Bác.

    Bác đã từng nói: “Tuổi trẻ là tuổi của tương lai. Muốn có tương lai tốt đẹp thì phải chiếm lấy bằng ý chí và nghị lực của chính bản thân”, thế hệ trẻ là những người chủ tương lai của đất nước, do đó, cần ra sức rèn đức luyện tài, cố gắng phấn đấu và học tập, tu dưỡng đạo đức, tiên phong trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. Chúng ta tin rằng với lòng nhiệt huyết cùng với ý chí, khát vọng cống hiến cho đời, thế hệ thanh niên Việt Nam sẽ xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc./.

    The post Thế hệ trẻ tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Phiên thảo luận 5: Đa dạng nguồn thu cho các cơ quan báo chí https://evbn.org/phien-thao-luan-5-da-dang-nguon-thu-cho-cac-co-quan-bao-chi-1680772955/ Thu, 06 Apr 2023 09:22:37 +0000 https://evbn.org/phien-thao-luan-5-da-dang-nguon-thu-cho-cac-co-quan-bao-chi-1680772955/ Phiên thảo luận 5: Đa dạng nguồn thu cho các cơ quan báo chí Hội thảo với chủ đề “Đa dạng nguồn thu cho các...

    The post Phiên thảo luận 5: Đa dạng nguồn thu cho các cơ quan báo chí appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Phiên thảo luận 5: Đa dạng nguồn thu cho các cơ quan báo chí

    Hội thảo với chủ đề “Đa dạng nguồn thu cho các cơ quan báo chí” diễn ra chiều 12/11 có sự tham gia của các nhà báo, diễn giả: Lê Trọng Minh – Tổng Biên tập báo Đầu tư; Lê Xuân Trung – Phó Tổng Biên tập Báo Tuổi trẻ; Phạm Hữu Quang – Phó Tổng Biên tập Tạp chí Ngày Nay; Nguyễn Ngọc Ánh – Tổng Biên tập Báo Hải Phòng; Vũ Ngọc Tú – Tổng Biên tập Báo Đắk Nông.

    Phần 1: Đại biểu trình bày tham luận

    Ông Lê Trọng Minh – Tổng Biên tập Báo Đầu tư: “Tổ chức sự kiện – Nhìn từ góc độ kinh tế báo chí”

    Bài tham luận đặt ra vấn đề, hiện chưa có số liệu chính thức nào được công bố về số lượng sự kiện được tổ chức bởi các tòa soạn báo tại Việt Nam hay số lượng tòa soạn có tổ chức các sự kiện, song theo quan sát của chúng tôi, rõ ràng ngày càng có thêm nhiều tòa soạn quan tâm đến hoạt động này vì những mục đích khác nhau. Có những sự kiện rất lớn, thu hút sự tham gia của nhiều thành phần cả trong nước và quốc tế. Có những sự kiện về hình thức chỉ mang tính nội bộ, nhưng lại tạo ra sự chú ý của cả một cộng đồng. Có những sự kiện thuần túy được tổ chức với ý nghĩa là một phần nhiệm vụ của tòa soạn, không gắn với mục tiêu kinh doanh và có những sự kiện kết hợp cả hai nội dung trên.

    Báo Đầu tư cũng đánh giá thành công về mặt kinh tế của các sự kiện không đơn thuần dựa trên kết quả doanh thu phí và tài trợ. Hiệu quả kinh tế lớn nhất mà các sự kiện mang lại, dù là chỉ vì mục đích từ thiện như “Swing for the Kids” hay sự kiện có tính chất quốc tế như “Diễn đàn Mua bán & Sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam” (M&A Vietnam Forum) – một sự kiện lớn thường niên đã thực hiện thành công suốt 14 năm qua và có thu phí, là ở những giá trị “hậu sự kiện”. Ngoài việc tăng cường sự gắn kết như đã nói ở trên, có thêm khách hàng mới và những ý tưởng nội dung mới mà các sự kiện mang lại đều là những hiệu quả rất lớn nhìn từ phương diện phát triển kinh doanh.

    Nhưng ngay cả nếu chúng ta đánh giá sự thành công của sự kiện thuần túy ở phương diện tài chính thì cũng có không ít sự kiện sẽ mang lại kết quả tích cực.

    Từ thực tiễn đó, diễn giả chia sẻ kinh nghiệm của Báo Đầu tư trong tổ chức các sự kiện có tính cung cấp thông tin dạng như diễn đàn, hội thảo, tọa đàm…

    Thứ nhất, tìm được chủ đề mà chúng ta cảm thấy các bên đều đang rất quan tâm, đặc biệt là những chủ đề mang tính thời sự thu hút được sự chú ý của truyền thông và công chúng.

    Thứ hai, khi đã có chủ đề được đánh giá là đủ hấp dẫn, cần tìm được những diễn giả phù hợp nhất để hiện thực hóa chủ đề thành nội dung hấp dẫn. Thông thường, chúng ta có xu hướng tìm đến những gương mặt quen thuộc, nhất là những người được công chúng độc giả mến mộ. Điều đó cũng hết sức tự nhiên và thường phát huy hiệu quả tốt. Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng sẽ tạo ra cảm nhận không tốt về tính đa dạng và trong một số trường hợp lại đặt diễn giả vào tình huống khó xử vì phải thảo luận về những vấn đề không thuộc chuyên môn sâu của mình.

    z3875014060593_30c760692529e6037e9da534b572e8c4.jpgÔng Lê Trọng Minh – Tổng Biên tập báo Đầu tư.

    Thứ ba, thời điểm dự kiến tổ chức sự kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nếu sự kiện có các thành phần chính tham gia là người nước ngoài, chúng ta nên chú ý lịch nghỉ hè, nghĩ lễ tết thường niên của họ. Nếu sự kiện mong muốn có sự tham dự của các lãnh đạo cấp cao, chúng ta không thể không tính đến những khoảng thời gian diễn ra các kỳ họp lớn trong năm hay những sự kiện chính trị quan trọng đã có lịch được ấn định…

    Thứ tư, luôn phải có “phương án B”, vì mọi tình huống đều có thể xảy ra trong thực tế: địa điểm mong muốn không thể đặt được đúng ngày đó, diễn giả không tham dự được vì lý do đột xuất, nhất là những diễn giả then chốt, thiên tai, dịch bệnh… Việc có sẵn kịch bản dự phòng sẽ giúp đơn vị tổ chức chủ động trước mọi tình huống.

    Thứ năm, xây dựng kịch bản chi tiết và chia sẻ với diễn giả để có sự chuẩn bị tốt, không tạo tình huống quá bất ngờ khiến diễn giả lúng túng, nhưng không cứng nhắc đi theo kịch bản đã chuẩn bị sẵn đó khiến cuộc thảo luận mất đi tính tự nhiên và sôi động. Một cuộc thảo luận hấp dẫn rất cần có yếu tố “đuổi bắt”, “tung hứng” và nếu có thể thì thêm một chút hài hước sẽ làm tăng được sự chú ý của các khán thính giả. Vì vậy, việc chọn được người dẫn dắt thảo luận phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng.

    Thứ sáu, địa điểm tổ chức cần phù hợp với tính chất sự kiện. Một không gian sang trọng như khách sạn 4, 5 sao hay trung tâm hội nghị lớn thường có khuynh hướng xuất hiện đầu tiên trong ý tưởng của nhà tổ chức cũng như nhà tài trợ.

    Thứ bảy, coi trọng từng chi tiết trong khâu hậu cần. Cả bức tranh lớn có thể bị xấu đi vì vài nét nguệch ngoạc nhỏ. Vài sơ sót nhỏ trong khâu kỹ thuật (micro không kêu, đèn thiếu sáng…) có thể khiến thành công về nội dung kém đi sự trọn vẹn. Sự tư vấn của các chuyên gia kỹ thuật là hết sức cần thiết trong trường hợp này.

    Thứ tám, làm tốt những phần việc thông thường khác: chuẩn bị ngân sách, nhân sự, chuẩn bị tài liệu đầy đủ, mời các cơ quan truyền thông tham dự và đưa tin…

    Theo diễn giả, các tòa soạn báo Đảng hội đủ những lợi thế cần thiết, nhất là vị thế và uy tín tại cộng đồng địa phương. Việc tổ chức thành công và hiệu quả các sự kiện sẽ không chỉ bổ sung thêm nguồn doanh thu quý giá để đầu tư trở lại cho phát triển hạ tầng cả cứng và mềm của tòa soạn, mà tự thân sự kiện cũng là một nguồn thông tin quý giá để tòa soạn tổ chức nội dung sâu hơn, hấp dẫn hơn, cập nhật hơn.

    z3875015251469_c3b9bff5214b048f7c4806893d200725.jpgCác đại biểu tham dự hội thảo.

    Ông Lê Xuân Trung – Phó Tổng Biên tập Báo Tuổi trẻ: Tạo thêm nguồn thu từ nội dung số

    Khảo sát công chúng báo mạng, báo giấy cho thấy, từ năm 2021 trở đi, lượng phát hành của báo giấy giảm xuống góc 45 độ, đỉnh điểm rơi vào năm 2020-2021. Trong khi báo điện tử tăng vọt, từ 2005 đến 2021, tăng cao hơn mức độ giảm của báo in. Phần lớn độc giả lên mạng đọc tin trên báo điện tử. Đại dịch làm cho báo in ngày càng thoái trào, một số báo thua lỗ.

    Như vậy, muốn có thêm nội dung số sẽ có thêm công chúng và có thêm nguồn thu. Muốn đa dạng hóa nguồn thu phải đa dạng hóa công chúng. Cách để có thêm nội dung số là phải số hóa những nội dung sẵn có, chế biến lại thành nội dung số, sản xuất phát triển nội dung số.

    Nhóm chuyên nội dung số sẽ tập trung sản xuất nội dung (text, ảnh, audio, video, đồ họa, livestream…) cho báo điện tử, truyền hình mạng, youtube, facebook, Tiktok, Podcast, Zalo…

    Mục tiêu của việc sản xuất nội dung là để đáp ứng người dùng, đặc biệt là người dùng trung thành, từ đó mới bảo đảm tạo ra nguồn thu bền vững. Nhóm ưu tiên những nội dung có nhiều bạn đọc trên báo điện tử và các kênh báo chí trên nền tảng số; Đầu tư sản xuất những nội dung riêng, khác biệt, chất lượng cao, không nhất thiết phải chạy đua về số lượng để tránh lãng phí, bội thực…

    Để tăng số lượng công chúng, các tòa soạn cần xác định đối tượng người dùng chính và xây dựng hồ sơ người dùng thực tế trên cơ sở dữ liệu thu thập được thường xuyên. Tòa soạn nên phân loại khách hàng để lên chương trình quản lý, chăm sóc khách hàng, đặc biệt là khách hàng trung thành.

    Theo diễn giả, nguồn thu từ nội dung số sẽ gồm:

    Một là, thu từ việc bán bản quyền cho các trang tin điện tử, mạng xã hội, ứng dụng OTT. Thí dụ như Zalo, Lotus, Báo mới… mua bản quyền nội dung trên báo.

    Hai là, thu từ quảng cáo trực tiếp và gián tiếp thông qua các doanh nghiệp, đại lý, các công ty công nghệ. Thí dụ vừa qua Báo Tuổi trẻ bán quảng cáo trực tiếp cho đối tác qua kênh email.

    z3875047648462_00e85b48c3eb36cd786c4a1b44bf2dcb.jpgÔng Lê Xuân Trung – Phó Tổng Biên tập Báo Tuổi trẻ.

    Báo Tuổi trẻ đã tổ chức thành Tọa đàm trực tuyến trên facebook về Chăm sóc phục hồi – Đồng hành cùng vượt biến cố sức khỏe.

    Báo Tuổi trẻ cũng đã có những chương trình thành công như: Chương trình nghệ thuật “Mẹ là tình yêu 2022”; Lễ công bố báo cáo: Để Việt Nam tươi sắc đào xuân? Cải cách thể chế hướng tới thực thi hiệu quả; Ngày phở Việt; Ngày không tiền mặt; Chuyển đổi số để hướng tới xã hội không dùng tiền mặt.

    Thứ ba là thu từ sự kiện truyền thông, ưu tiên trên các nền tảng số.

    Diễn giả nhận định, nếu chúng ta không mở ra kênh mạng xã hội, chuyển đổi số không thể thực hiện đơn đặt hàng, có thêm được nguồn thu như thế này. Đóng góp của độc giả cho báo chí rất quan trọng. 

    Ông Phạm Hữu Quang – Phó Tổng Biên tập Tạp chí Ngày Nay: Mô hình thu phí báo chí trực tuyến

    Việc bỏ tiền ra mua thông tin là xu hướng nhiều tờ báo lớn trên thế giới đang áp dụng. Rất nhiều tờ báo thành công như The New York Times, Wall Street Journal, Washington Post (Mỹ), Bild (Đức), Financial Times, Economist, Times of London (Anh)… The New York Times được đánh giá là một trong những tờ báo thành công nhất trong việc thu phí bạn đọc.

    Chỉ trong 3 tháng đầu năm 2020, The New York Times
    có số người đăng ký trả phí đọc báo online đạt được kỷ lục kể từ thời điểm báo này bắt đầu tính phí cho nội dung digital vào năm 2011: Gần 600 nghìn người. Nâng tổng số người đăng ký trả tiền đọc báo của tờ này lên đến con số 5 triệu. Như vậy, để tăng độc giả công chúng chỉ có thể tăng trên nền tảng số.

    Theo báo cáo thường niên “Các xu hướng và dự báo về báo chí, truyền thông và công nghệ năm 2020” của Viện Nghiên cứu Báo chí Reuters (RISJ), 52% lãnh đạo các cơ quan báo chí tại 29 quốc gia khẳng định thu phí báo điện tử là trọng tâm tạo doanh thu của họ trong thời gian tới. 14% cho rằng nguồn thu quảng cáo là trọng tâm trong năm tiếp theo.

    Theo diễn giả, dựng tường thu phí là một lựa chọn trong nhiều cách tạo nguồn thu cho cơ quan báo chí.

    Trước sự phát triển ngập tràn của mạng xã hội, các trang thông tin điện tử, các kênh thông tin trực tuyến, bạn đọc đang bị “nhiễu loạn” trong một biển thông tin, rất khó phân biệt ngay lập tức đâu là thông tin thật, đâu là tin giả (fake news). Một trong những sứ mệnh của báo chí chính thống là truyền tải thông tin chính xác, kịp thời.

    z3875112996535_1347dcfcc6a90075d54d01f0affec179.jpgÔng Phạm Hữu Quang – Phó Tổng Biên tập Tạp chí Ngày Nay.

    Bạn đọc cần tiếp cận những thông tin mang tính xác thực, những nội dung có hàm lượng tri thức cao, những câu chuyện tử tế và nhân văn, những góc nhìn riêng biệt từ những cây bút, nhà báo có uy tín.

    Diễn giả nhấn mạnh, những tác phẩm báo chí đích thực, thông tin chính thống, có giá trị, được đầu tư bài bản, được trình bày hiện đại, bắt mắt là điều mà công chúng luôn mong đợi. Để tiếp cận những tác phẩm đó, độc giả sẵn sàng trả tiền.

    Yếu tố quan trọng nhất vẫn là sự khác biệt và chất lượng của nội dung. Bạn đọc hiện nay tin rằng khi trả tiền thì họ sẽ thu được thông tin tốt hơn so với các nguồn miễn phí. Không bị làm phiền bởi quảng cáo.

    Thu phí trên báo điện tử chỉ là một lựa chọn trong rất nhiều lối đi trên con đường phát triển của một cơ quan báo chí. Việc đa dạng hóa nguồn thu, trong đó có chiến lược thu phí báo điện tử, là điều cần được các cơ quan báo chí tính đến khi nguồn thu từ các kênh khác bị hạn chế dần.

    Diễn giả nhấn mạnh, báo chí thu phí trực tuyến đòi hỏi rất khắt khe ở ba khía cạnh:

    Nội dung: Bản quyền là vấn đề cốt lõi của các nhà sản xuất nội dung, trong đó có báo chí; Nội dung chuyên sâu giúp bạn đọc ở lại lâu hơn với tờ báo; Nội dung khác biệt giúp bạn đọc nhớ đến và tìm đến tờ báo; Bạn đọc không bị làm phiền bởi các quảng cáo gây mất tập trung; Xây dựng nội dung báo chí giải pháp: Phân tích, đưa giải pháp. Là cầu nối, kết nối bạn đọc với cơ quan có trách nhiệm; Báo chí dữ liệu: Kết hợp trí tuệ nhân tạo để cung cấp thông tin dữ liệu cho bạn đọc.

    Phương thức thanh toán: Theo diễn giả, tòa soạn có thể thu phí toàn bộ tức là bạn đọc phải trả phí khi muốn đọc bất kỳ tin bài nào; Có thể thu phí một số chuyên mục, bạn đọc chỉ phải trả phí khi đọc một số nội dung; Miễn phí số lượng tin, bài nhất định tức là bạn đọc phải đăng nhập và phải trả phí, sau khi được đọc một số lượng tin bài theo quy định của báo.

    Cổng thanh toán: Diễn giả cũng chia sẻ kinh nghiệm thu phí mục Special Today trên Tạp chí Ngày nay: thu phí 180 nghìn đồng/tháng. Chuyên mục có nội dung riêng biệt, chuyên sâu; tích hợp Multimedia+Multi Platform; Không quảng cáo.

    Diễn giả cho biết, việc thu phí với mức giá như vậy với 2 mục tiêu, một là bạn đọc làm quen với thanh toán khi đọc báo điện tử và hai là tòa soạn, phóng viên làm quen với việc sản xuất nội dung cho bạn đọc trả tiền.

    Khó khăn nhất không phải công nghệ hay sản xuất nội dung mà thói quen tiêu dùng chưa hình thành.

    Phần 2: Hội thảo bàn tròn

    Ông Nguyễn Ngọc Ánh, Tổng Biên tập Báo Hải Phòng: Trong 3 năm vừa qua, 2 năm Covid-19 và 1 năm phục hồi, Báo Hải Phòng về nguồn thu không bị ảnh hưởng, thậm chí trong thời gian Covid-19, nguồn thu tăng hơn. Đến giờ, nguồn thu của báo khá ổn định cho dù chúng tôi không có nguồn thu mới.

    Chúng tôi đã nhận được lời đề nghị từ Google, Facebook, Zalo trong việc mua nội dung trên báo nhưng chúng tôi cũng chưa dám thu phí từ việc bán nội dung. Chúng tôi cũng chưa xây dựng việc thu phí đọc báo điện tử.

    z3875188174352_e449a97ff5fbecbabb2dbb68ec134fae.jpgCác đại biểu tham dự hội thảo.

    Ông Vũ Ngọc Tú, Tổng Biên tập báo Đắk Nông hỏi: Tôi rất quan tâm tổ chức sự kiện tại các tòa soạn báo. Báo Đắk Nông cũng tham gia tổ chức sự kiện thu tiền. Tôi muốn hỏi, khi tổ chức sự kiện khó khăn trở ngại lớn nhất với các tòa soạn như Báo Tuổi trẻ, Báo Đầu tư là gì?

    Ông Lê Trọng Minh, Tổng Biên tập Báo Đầu tư:

    Khó khăn lớn nhất là tự làm mới mình. Hiện nay, về mặt nội dung báo chí, việc chuyển tải thông tin cùng một sự kiện làm sao cho hay, cho khác biệt đã là một vấn đề. Thông tin hiện nay rất ít độc quyền. Do đó, làm thế nào để khác biệt rất khó. Bên cạnh đó, với sự kiện mang tính thường niên, làm thế nào để cách tổ chức sự kiện của năm sau khác năm trước cả về mặt nội dung và hình thức cũng là bài toán.

    Vì thế, trong phần chia sẻ của mình, tôi nhấn mạnh đến yếu tố đầu tiên chính là câu chuyện chọn chủ đề thế nào.

    z3875190160036_8f1708efae998dcf6ceaa261b08e558a.jpgÔng Lê Trọng Minh, Tổng Biên tập Báo Đầu tư.

    Ông Lê Xuân Trung, Phó Tổng Biên tập Báo Tuổi trẻ:

    Khó khăn nhất khi tham gia tổ chức sự kiện là căn cứ tiêu chí: Có nên làm và đáng làm hay không. Chúng tôi phải xác định sự kiện có đáp ứng nhu cầu của độc giả hay không bởi vì nếu chỉ đáp ứng của doanh nghiệp chưa đủ.

    Thí dụ, khi tổ chức Chương trình “Ngày của phở”, chúng tôi không chỉ đáp ứng nhu cầu của đơn vị tài trợ mà muốn làm sao biến phở thành một món ăn đại diện cho văn hóa ẩm thực Việt nam. Như vậy, truyền thông về mặt sự kiện có ý nghĩa với đời sống xã hội và người đọc. Ở đó, chúng tôi nâng tầm của sự kiện không chỉ là câu chuyện ẩm thực mà giá trị của hạt gạo. Thông điệp của phở khi đó đủ sức làm sự kiện truyền thông và biến sự kiện đó không chỉ tạo nên giá trị cho đơn vị đặt hàng mà thành sự kiện báo chí. Khi đó, sự kiện này xứng đáng để chúng ta đầu tư.

    z3875191948906_21a192f5870919bb65a8b9a03395389a.jpgÔng Lê Xuân Trung, Phó Tổng Biên tập Báo Tuổi trẻ.

    Câu hỏi: Xin hỏi ông Lê Trọng Minh, Tổng Biên tập Báo Đầu tư, việc tổ chức sự kiện của báo đã bảo đảm nguồn thu cơ bản của báo chưa?

    Ông Lê Trọng Minh, Tổng Biên tập Báo Đầu tư:

    Về hiệu quả, việc tổ chức sự kiện không phải hoạt động chính của báo, chỉ chiếm 20% doanh thu của báo. Nhưng những cái mang lại cả trước và sau rất giá trị. Cấu phần đó có thể lên tới 35-40%, đặc biệt là giá trị nội dung đem lại để biến nó thành cơ hội kinh tế báo chí khác.

    Đôi khi chúng ta nghĩ tổ chức sự kiện thu tài trợ 5, 7 tỷ đồng nhưng chi hết 4 tỷ đồng, thực chất cầm về chẳng bao nhiêu. Tuy nhiên có sự kiện vài trăm triệu nhưng lãi thuần vì chi phí bỏ ra thực hiện rất nhanh gọn.

    Do đó, vì sao tôi nói, chúng ta nên tổ chức sự kiện ở nhà vì khi đó không mất phí, tăng hiệu quả và giảm chi phí hơn nhiều. Quan trọng nhất khi tổ chức sự kiện là phải làm mới mình, phải sẵn sàng với sự cạnh tranh của nhiều đối tác bên ngoài. Khi đó ta mới trở thành nhà tổ chức có uy tín, khách hàng mới tìm tới mình.

    Câu hỏi: Hiện nay nhiều báo Đảng khó có thể tổ chức sự kiện do nhiều yếu tố. Làm cách nào để các tòa soạn có thể “trúng thầu” tổ chức sự kiện?

    Ông Lê Trọng Minh, Tổng Biên tập Báo Đầu tư:

    Đây không phải là câu chuyện của báo Đảng hay không. Trong những đối tượng mà báo chí phục vụ có cả cơ quan cấp trên. Nếu chúng ta tổ chức sự kiện phù hợp mục đích cơ quan đó thì chắc chắn không chịu sự cản trở nào. Báo Đầu tư thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ phải thực hiện mục tiêu truyền thông cho bộ.

    z3875188165735_e72efb5c46420390920aed36d8f5bfc0.jpgCác đại biểu chia sẻ tại hội thảo.

    Hoặc chúng ta có thể tổ chức sự kiện liên quan đến vấn đề kinh tế nổi lên của địa phương. Nếu sự kiện được sự quan tâm của chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp, thí dụ như bất động sản thì các cơ quan báo chí sẽ dễ tìm đến sự “trúng thầu” vì bên tài trợ thấy đúng nhu cầu, cơ quan chức năng thấy đây chính là vấn đề tồn tại cần giải quyết.

    The post Phiên thảo luận 5: Đa dạng nguồn thu cho các cơ quan báo chí appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Trình bày một vấn đề https://evbn.org/trinh-bay-mot-van-de-1680772946/ Thu, 06 Apr 2023 09:22:27 +0000 https://evbn.org/trinh-bay-mot-van-de-1680772946/ I. Tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề – Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong học tập, nhiều lúc chúng ta...

    The post Trình bày một vấn đề appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    I. Tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề

    – Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong học tập, nhiều lúc chúng ta cần phải trình bày một vấn đề nào đó trước tập thể hoặc trước người khác để bày tỏ nguyện vọng, suy nghĩ, nhận thức của mình cũng như thuyết phục họ cảm thông và đồng tình với mình.

    VD: phát biểu xây dựng bài, phát biểu trong các cuộc sinh hoạt tổ, sinh hoạt lớp, đại hội lớp, đại hội Đoàn,…

    – Công việc này không dễ dàng thực hiện một cách có hiệu quả như mong muốn. Trước mắt, chúng ta hãy rèn luyện một số thao tác đơn giản, cần thiết nhất.

    II. Công việc chuẩn bị

    1. Chọn vấn đề trình bày

    – Đề tài “Thời trang và tuổi trẻ” đặt ra nhiều vấn đề cần thảo luận, trao đổi, tuy nhiên mỗi người chỉ nên nói về một khía cạnh nào đó mà thôi.

    – Nhiệm vụ đặt ra là anh (chị) phải chọn một vấn đề nào để trình bày. Để có cơ sở chọn lựa, hãy suy nghĩa và xác định:

    + Đề tài “Thời trang và tuổi trẻ” có thể bao gồm những vấn đề nào?

    + Người nghe là những ai (tuổi tác, trình độ, giới tính, nghề nghiệp,…)? Họ đang quan tâm đến vấn đề gì?

    + Bản thân anh (chị) am hiểu và thích thú vấn đề nào?

    – Việc lựa chọn vấn đề trình bày tuỳ thuộc vào đề tài chung, hiểu biết của bản thân, lượng tư liệu thu thập được, tính hấp dẫn của khía cạnh được lựa chọn và sự quan tâm của người nghe.

    2. Lập dàn ý cho bài trình bày

    – Thời gian dành cho một cá nhân phát biểu không nhiều nên việc cân nhắc tính toán trình bày những nội dung gì, theo cách nào, thứ tự ra sao, nhấn mạnh vào ý nào,… cần được ghi lại một cách cụ thể, rỏ ràng. 

    -> Việc lập dàn ý là hết sức cần thiết: một mặt nó đảm bảo cho việc trình bày đúng, đủ, hàm súc về nội dung, mặt khác nó giúp chúng ta chủ động trong lúc trình bày.

    – Dàn ý bài trình bày một vấn đề cũng tương tự như dàn ý của một bài văn. Anh (chị) đã chọn được vấn đề trình bày, bây giờ cần tiến hành lập dàn ý. Hãy thực hiện một số việc cụ thể theo những gợi ý sau:

    + Để làm sáng tỏ một vấn đề được lựa chọn, cần phải trình bày bao nhiêu ý?

    + Các ý đó được triển khai thành những ý nhỏ nào?

    + Sắp xếp các ý theo trình tự nào cho hợp lí? Ý nào là trọng tâm của bài trình bày?

    + Chuẩn bị trước những câu chào hỏi, kết thúc, chuyển ý và dự kiến điều khiển giọng điệu, cử chỉ khi nói.

    @1261688@@1261768@

    III. Trình bày

    1. Bắt đầu trình bày

    – Bắt đầu (chào hỏi khi xuất hiện).

    – Bước lên diễn đàn, không nên vội vàng, hấp tấp trình bày ngay.

    2. Trình bày nội dung

    – Giới thiệu nội dung chính.

    – Trình bày từng ý chính.

    – Dùng câu chuyển, câu liên kết để chuyển ý từ nội dung này sang nội dung khác.

    – Xem xét phản ứng của người nghe để có thể điều chỉnh nội dung, cách nói và tư thế, điệu bộ của mình.

    3. Kết thúc và cảm ơn

    – Tóm tắt, nhấn mạnh một số ý chính.

    – Cảm ơn người nghe.

    @1261921@

    IV. Ghi nhớ

    1. Kỹ năng trình bày một vấn đề là một kĩ năng giao tiếp quan trọng trong cuộc sống.

    2. Trước khi trình bày, cần tìm hiểu trình độ, yêu cầu, tâm lí, sở thích của người nghe; lựa chọn nội dung và lập dàn ý cho bài trình bày. Các bước trình bày thường theo thứ tự: chào hỏi, tự giới thiệu, lần lượt trình bày các nội dung đã định, kết thúc và cảm ơn.

    3. Để trình bày đạt hiểu quả, cần đảm bảo các yêu cầu của giao tiếp khẩu ngữ về nội dung, âm thanh, lời nói, cử chỉ, điệu bộ.

    @1262109@

    The post Trình bày một vấn đề appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay hay nhất (12 Mẫu) – THPT Lê Hồng Phong https://evbn.org/viet-van-ban-nghi-luan-trinh-bay-suy-nghi-ve-song-dep-cua-gioi-tre-hien-nay-hay-nhat-12-mau-thpt-le-hong-phong-1680772937/ Thu, 06 Apr 2023 09:22:19 +0000 https://evbn.org/viet-van-ban-nghi-luan-trinh-bay-suy-nghi-ve-song-dep-cua-gioi-tre-hien-nay-hay-nhat-12-mau-thpt-le-hong-phong-1680772937/ Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay bao gồm dàn ý chi tiết cùng 12...

    The post Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay hay nhất (12 Mẫu) – THPT Lê Hồng Phong appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay bao gồm dàn ý chi tiết cùng 12 bài văn mẫu do thầy cô biên soạn và tổng hợp sẽ là tài liệu hữu ích giúp các em hoàn thiện tốt bài tập làm văn của mình.

    Đề bài: Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay

    Dàn ý viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay

    I. Mở bài:

    Dẫn dắt giới thiệu vấn đề cần nghị luận

    II. Thân bài:

    a. Giải thích ngắn gọn và nhận xét khái quát về vấn đề nghị luận.

    b. Bàn luận về sống đẹp

    * Những biểu hiện của sống đẹp

    • Sống đẹp là lối sống có lý tưởng, khát vọng hoài bão và ước mơ
    • Sống đẹp là sống biết yêu thương, chia sẻ và giúp đỡ người khác

    * Ý nghĩa của sống đẹp

    • Sống có hoài bão, ước mơ giúp con người vươn tới những thành tựu trong cuộc sống
    • Người có ý chí, nghị lực sẽ chạm tới thành công trong cuộc sống
    • Được mọi người yêu mến, quý trọng. Chính lòng nhân hậu, bao dung khiến cho cuộc sống mỗi người bình an, tốt đẹp, xã hội văn minh.

    * Phản đề: Phê phán những biểu hiện sống thiếu ý chí, khát vọng, ước mơ, ích kỷ, vô cảm.

    III. Kết bài:

    Khẳng định lại ý nghĩa vấn đề

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay ngắn gọn – Mẫu 1

    Sống đẹp là một lối sống rất cần trong cuộc sống ngày nay. Vậy như thê thế nào là sống đẹp? Sống đẹp là sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng. Sống đẹp là sống có chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân của mình khi vấp ngã, biết bền lòng và dũng cảm vượt qua những thử thách, khó khăn để vươn lên, chắp cánh cho ước mơ của mình được bay cao, bay xa.

    Sống đẹp còn là một lối sống có văn hóa, biết lịch sự; là một cuộc sống có tri thức, có tình người. Sống đẹp trước hết phải xuất phát từ lòng nhân ái, bảo dung giữa người với người. Hiện nay trong cuộc sống có vô vàn những con người sống đẹp với những hành động, cử chỉ ấm lòng người. Ví dụ như trong thời tiết nắng nóng ở Sài Gòn, đã có người mang nước sâm lạnh ra ngoài vỉa hè cho mọi người uống mà không lấy tiền. Hay ở trên mạng xã hội đưa tin có một thành niên dân tộc nhặt được ví của người lạ và đã tìm mọi cách để trả cho họ mà không cần cảm ơn. Những hành động đẹp như vậy đã giúp người gần người hơn, xã hội tốt đẹp hơn.

    Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn bộ phận không nhỏ những người sống tiêu cực, đi ngược lại với đạo đức xã hội. Những hành động như thế đáng đáng phê phán và lên án gay gắt. Như thế sẽ làm xã hội ngày càng đi xuống, còn người ngày càng thờ ơ lạnh nhạt với nhau. Hãy mở rộng lòng mình, đem yêu thương sưởi ấm cho những trái tim ướt lạnh trước sóng gió của cuộc đời. Hãy biết cho đi để được nhận lại: tình yêu thương, niềm tin và hy vọng.

    Sống đẹp là lối sống mà ai ai cũng muốn có được. Sống phải biết học tập và rèn luyện đúng cách thì lối sống ấy mới tồn tại và phát triển. Không ai sống đẹp ngay từ lúc lọt lòng. Bởi vậy, học tập và rèn luyện đúng cách là con đường duy nhất đưa ta đến với một lối sống văn minh, một lối sống đẹp. Bạn còn chờ gì nữa ?

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay ngắn gọn – Mẫu 2

    Trong cuộc sống, mỗi người đều có một thái độ sống và phong cách sống riêng của chính mình. Thật vậy, theo em, phong cách sống đẹp chính là thái độ sống có mục tiêu, có ước mơ và luôn nỗ lực để theo đuổi ước mơ và mục tiêu sống của chính bản thân mình. Đã bao giờ bạn tự hỏi “Cuộc sống sẽ ra sao nếu không có ước mơ?”. Không có ước mơ, con người chắc chắn sẽ sống một cuộc sống vô định, vô nghĩa. Không có ước mơ thì đồng nghĩa với việc chúng ta chẳng có con đường để đi cho riêng mình, ta sẽ mãi mãi phó mặc cuộc sống của mình cho số phận và điều gì đến thì đến. Vậy nên, không có ước mơ thì ta sẽ mãi phụ thuộc và sống vô nghĩa biết nhường nào.

    Vì vậy, sống đẹp chính là việc từng ngày được sống, ta luôn nỗ lực phấn đấu theo đuổi ước mơ và mục tiêu của mình đến cùng bằng tất cả những sự nỗ lực và kiên trì. Nỗ lực là khi con người dồn 100% sức lực, tâm trí cho công việc mà mình muốn làm, con đường mà mình muốn đi. Nỗ lực là khi ta vận dụng tất cả những tiềm năng và yếu tố, năng lực, kỹ năng mình có bằng mọi cách khác nhau để đạt được thứ mà mình mong muốn. Kiên trì là khi con người có sức bền bỉ với công việc mà mình đang làm, gặp khó khăn thì không nản mà tìm cách vượt qua bằng các cách khác nhau để đạt được điều mà mình muốn thì thôi. Kiên trì và nỗ lực cũng chính là thông điệp trong câu nói “Có công mài sắt có ngày nên kim”: nếu như con người chịu khó, nỗ lực làm việc, phấn đấu và hoàn thiện bản thân không ngừng nghỉ thì sẽ đạt được thành quả tương xứng.

    Người biết nỗ lực là người biết tìm tòi và khám phá ra những yếu tố và tiềm lực mà mình có để vận dụng vào công việc mình đang làm. Hơn nữa, người nỗ lực cũng là người không từ bỏ 1 cơ hội nào để đưa ra những giải pháp tốt nhất cho công việc mình đang làm, không ngừng thử thách bản thân và tìm đủ mọi cách để đạt được thành công. Chính nhờ sự nỗ lực phi thường ấy mà đã có biết bao con người thành công trên cuộc sống. Trên cả thành công, đó là một thái độ sống đẹp hơn bao giờ hết.

    Chính vì vậy, thái độ sống đẹp mà ai cũng cần phải có đó là sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng nghỉ và kiên trì đến cùng vì mục tiêu của bản thân.

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 3

    Trong cuộc sống văn minh hiện nay, chúng ta có thể nhìn thấy rất nhiều cách sống khác nhau. Có người thì chọn cách sống ẩn dật. Có người thì chọn cách sống xa hoa, tiêu xài lãng phí vô tội vạ. Cũng có người chọn cách sống “Làm người của công chúng”. Chúng ta có rất nhiều con đường để lựa chọn cách sống riêng của mình. Như thế, việc lựa chọn giữa “sống đẹp” và “sống xấu” sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của chúng ta. Và trong một lần nghĩ suy, nhà thơ Tố Hữu đã đặt cho ta một nghi vấn: “Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn…?” Gợi lên biết bao suy nghĩ trong lòng chúng ta.

    Trước hết, “sống đẹp” là như thế nào? Tùy trường hợp và hoàn cảnh, cũng như cuộc sống xã hội, chúng ta có thể hiểu hai từ ngữ này theo nhiều phương diện. Có người cho rằng “Sống đẹp” là vẻ bề ngoài sang trọng, quý phái, cũng có thể là ăn mặc theo thời đại. Có những người lại nghĩ đó là cách sống ẩn dật, tu hành. Thế nhưng liệu nhà thơ Tố Hữu có muốn nhắm tới ý nghĩa kia chăng??? Theo quan điểm riêng của tôi là không. “Sống đẹp” có lẽ đơn giản là sống tốt, giúp đời, giúp người bằng chính trái tim chân thành, vốn dĩ được sinh ra để yêu thương và cảm nhận tình yêu thương.

    Có vẻ như định nghĩa từ ngữ trên cách nhìn của tác giả thật đơn giản nhưng xét ra cũng chẳng giản đơn trong đời sống hằng ngày là mấy. Đó thật là một suy nghĩ vô cùng tiêu cực. Trong cuộc sống này, hằng ngày có biết bao con người đang trao cho nhau những cử chỉ yêu thương nhẹ nhàng, đằm thắm. Cũng có biết bao nụ cười ánh mắt đem tới niềm hạnh phúc, ủi an cho người khác. Những cử chỉ nhỏ nhặt đó thôi có lẽ cũng đủ gọi là “Sống đẹp” rồi. Bởi vì một người “sống đẹp” là một người luôn đem tới niềm tin và sức mạnh cho người khác.
    Nhưng phải chăng, “sống đẹp” chỉ mang ý nghĩa ngắn gọn của khái niệm sống trong phạm trù xã hội? Vâng, “Sống đẹp” còn là việc tự phấn đấu để rèn luyện bản thân và hướng con người tới Chân – Thiện – Mỹ. Việc ra sức lao động, ra sức học tập, ra sức chiến đấu… để đạt được hiệu quả to lớn cũng được cho là “sống đẹp”. Thời phong kiến xưa cũ, “chí làm trai” của các “trang nam nhi” là vì lợi ích chung của toàn xã hội, của quốc gia, không màng tới danh lợi tiền tài, sẵn sàng hi sinh cho quốc gia, sẵn sàng đánh đổi cả bản thân cho hoà bình dân tộc. Đó là một quan niệm “sống đẹp” rất hay. Tiêu biểu cho thời kỳ này là những bậc danh thần, những vị đạt tướng quân lỗi lạc: Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Lê Lợi, …

    Như đã nói ở trên, quan niệm “sống đẹp” được rèn luyện và thay đổi theo thời gian. Trong hai cuộc chiến tranh ác liệt, giải phóng dân tộc dưới ách đô hộ của Pháp – Mỹ. Ta thấy hình ảnh oai hùng của dân tộc Việt Nam với sự lãnh đạo của vị cha già đáng kính Hồ Chí Minh. Người đã định hướng cho cuộc đời mình chính là tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc. Người đã kiên trì bôn ba tứ xứ, học hỏi cái hay, cái đẹp của xứ người để rèn luyện kiến thức bản thân rồi truyền đạt lại cho dân tộc. Đó là ngọn đuốc chói loà, ngọn hải đăng không bao giờ tắt dẫn đường cho chúng ta đạt tới sự hoàn hảo của “sống đẹp”. Đồng hành cùng Bác Hồ chính là những tấm gương kiên trì trong chiến đấu, những phát minh và nỗ lực không ngừng, cũng như những hi sinh chiến đấu tới giọt máu cuối cùng của nhân dân. Tiêu biểu cho giai đoạn này chính là Trần Đại Nghĩa; Phạm Tiến Duật; Chính Hữu;…

    Đó là những quan điểm về “sống đẹp” đáng để chúng ta noi theo. Thế nhưng ta đang ở trong thời kỳ hoà bình với sự phát triển đi lên của xã hội, quan điểm xưa không còn hiệu dụng cho thời gian này. Nghĩa vụ của chúng ta bây giờ chính là xây dựng đất nước, phát triển vững mạnh, mà trước hết là phát huy tối đa năng lực trong học tập và lao động. Có những con người đã thành công trên con đường “sống đẹp” này. Giáo sư Ngô Bảo Châu – người đã kiên trì chứng minh bổ đề Langlands suốt 15 năm trường. Đó là một thành quả to lớn cho sự phát triển nền Toán học Việt Nam trên trường Quốc tế. Hay là gần đây, anh Lê Vũ Hoàng đã đạt được giải nhất trong cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” khi hoàn cảnh gia đình vô cùng khó khăn. Anh đã phấn đấu để đạt thành quả đáng khen đó.

    Trên là những tấm gương sáng ngời về “sống đẹp” trong ba thời kì quan trọng trong sự phát triển đi lên của Việt Nam. Thế nhưng cũng có những thành phần đã và đang làm ô uế danh dự cái xã hội này bằng những hành vi bạo tàn không thể nào tưởng tượng được, Họ có nghĩ rằng họ đang làm bộ mặt của chính họ, gia đình họ và toàn thể dân tộc nhục nhã trên cộng đồng quốc tế khi thông tin đang được truyền đi với “tốc độ ánh sáng”? Sự kiện Lê Văn Luyện gần đây là một nỗi đau lớn, một vết nhơ không thể xoá nhoà cho danh dự của đất nước này. Nhưng đó cũng chỉ là một trong số nhỏ trong vô vàn tội ác đang diễn ra. Là một công dân Việt Nam, tôi cảm thấy những việc làm vô đạo đức, vi phạm nghiêm trọng quyền sống và được sống của con người, là một điều không thể nào chịu đựng được. Nó làm cho truyền thống nhân nghĩa tốt đẹp của dân tộc từ xưa đến nay mất đi một cách trắng trợn

    Một nhà văn đã từng nói: “Không có gì chúng ta không thể làm khi chúng ta thật sự cố gắng”. Chính vì thế, điều mọi người nên làm bây giờ là hãy góp phần, dù là nhỏ nhoi để giúp cuộc sống này đẹp hơn. Và hãy cố gắng nỗ lực hoàn thiện bản thân mình hằng ngày bởi vì “Tội ác lớn nhất con người có thể làm, chính là không cố gắng”
    Nói tóm lại, “sống đẹp” qua các thời kì tuy có khác nhau nhưng đều quy về cái tốt đẹp cho xã hội. Là một công dân Việt Nam, nằm trong đại gia đình thế giới, chúng ta hãy làm cho cuộc sống này tốt đẹp hơn. Hãy ước mơ và dám ước mơ. Hãy tin rằng điều chúng ta đang làm sẽ trở thành hiện thực.

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 4

    Trong cuộc sống hằng ngày mỗi người chọn cho mình những cách thể hiện khác nhau hình thành lên những cách sống khác nhau: sống đẹp, sống có ích và lối sống ích kỷ, buông thả thậm chí chìm trong vòng tội lỗi.

    Như vậy “sống đẹp” là một lối sống tích cực mà mỗi người cần phải hướng tới. Nhưng sống thế nào mới là lối “sống đẹp”, còn là điều băn khoăn của rất nhiều người. Sống đẹp là có lối sống lành mạnh, phong phú, phù hợp với các chuẩn mực của xã hội. Sống đẹp là sống không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, không ngừng tiến bộ, vươn lên sáng tạo và thành công. Sống đẹp là sống theo pháp luật, sống theo đạo lí con người, luôn vui tươi, hạnh phúc. Như vậy, sống đẹp là sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng cao đẹp.

    Sống đẹp là sống có chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân của mình khi vấp ngã, biết bền lòng và dũng cảm vượt qua những thử thách, khó khăn để vươn lên, chắp cánh cho ước mơ của mình được bay cao, bay xa. Sống đẹp còn là một lối sống có văn hóa, biết lịch sự; là một cuộc sống có tri thức, có tình người.

    Sống đẹp, trước hết là sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Mỗi con người đều có mối liên hệ nhất định đối với gia đình và xã hội. Khi còn nhỏ, chúng ta thụ hưởng thành quả lao động từ người khác. Khi trưởng thành, chúng ta phải tích cực lao động, vừa để xây dựng lối sống cho riêng mình vừa để góp sức xây dựng xã hội. Biết cho đi để được nhận về, biết cống hiến hơn là thụ hưởng. Biết sẻ chia, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau hơn là chỉ lo vun vén cho bản thân, ích kỉ với người khác. Đừng tự tách mình ra khỏi đời sống xã hội chỉ vì lòng tham và ích kỉ. Sống đẹp là phải nỗ lực thành công trong công việc và trong đời sống.

    Không có con đường nào êm ái dẫn đến thành công. Chỉ có những con đường đầy chông gai, thử thách mới đưa bạn đến với chiến thắng vẻ vang. Bàn chân có thể sẽ chảy máu vì gai nhọn nhưng đừng ngồi xuống rên xiết, hãy để máu ấy thấm lên những cánh hồng đỏ thắm trên bước đường vinh quang của bạn! Làm được như vậy tức là bạn đang “sống đẹp”, sống và luôn giữ cho mình một niềm tin vào ngày mai, luôn có một nghị lực vươn lên hướng đến ánh mặt trời.

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 5

    Sống đẹp là sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng. Sống đẹp là sống có chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân của mình khi vấp ngã, biết bền lòng và dũng cảm vượt qua những thử thách, khó khăn để vươn lên, chắp cánh cho ước mơ của mình đưọc bay cao, bay xa. Sống đẹp còn là một lối sống có văn hóa, biết lịch sự; là một cuộc sống có tri thức, có tình người.

    Trong cuộc sống hằng ngày mỗi người chọn cho mình những cách thể hiện khác nhau hình thành lên những cách sống khác nhau: sống đẹp, sống có ích và lối sống ích kỷ, buông thả thậm chí chìm trong vòng tội lỗi. Như vậy “sống đẹp” là một lối sống tích cực mà mỗi người cần phải hướng tới. Nhưng sống thế nào mới là lối “sống đẹp” còn là điều băn khoăn của rất nhiều người.

    “Đẹp” không phải chỉ là cái đẹp hình thức. Cái “đẹp” thể hiện từ những hành động cư xử nhỏ nhất trong cuộc sống đến nghị lực vươn lên trong mỗi con người. “Sống đẹp” trước hết phải xuất phát từ lòng nhân ái, từ chính tình yêu trong trái tim để từ đó mà sống hết mình vì người khác, để bao dung, thứ tha … Xuất phát từ tình yêu thương nên bất cứ hành động nào dù là nhỏ nhất cũng đầy sự quan tâm, chia sẻ giữa những con người. Một sáng đến trường bạn không sợ muộn học mà dừng lại giúp một cụ già qua đường. Mỗi ngày dành dụm tiền để ủng hộ quỹ “vì người nghèo”. Những hành động ấy dù nhỏ nhặt nhưng đều là những nghĩa cử cao đẹp.

    Sống đẹp là sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Trong lịch sử của dân tộc có biết bao tấm gương về sống đẹp: Trần Hưng Đạo, Trưng Nhị, Trưng Trắc, Trần Quốc Toản, chị Võ Thị Sáu, anh Kim Đồng, anh Nguyễn Văn Trỗi,… vĩ đại hơn cả là Bác Hồ kính yêu. Họ là những người sống hết mình vì dân tộc vì cách mạng, vì nền độc lập, tự do của đất nước. Họ đã giành cả cuộc đời mình cho Tổ quốc. Họ là những anh hùng đã có công giữ nước, là những tấm gương sáng cho chúng ta học tập, noi theo.

    Bên cạnh đó cũng không hiếm những người có lối sông tiêu cực, đi ngược với luân lí và đạo đức. Đó là những tên bán nước, buôn người, những người đầu độc chính dân tộc mình bằng thuốc phiện, rượu cồn. Chính họ đã vấy bẩn bộ mặt xã hội, làm cho không ít dân ta trở nên nhu nhược, bần hèn. Đó là những tấm gương xấu đáng bị lên án và bài trừ. Thật vậy, để sông đẹp không phải là điều đơn giản. Ai cũng biết sống đẹp là như thế nào, nhưng không phải ai cũng biết sống thế nào cho đẹp. Bởi lẽ, cuộc sống hiện tại quá hỗn tạp, có nhiều luồng tư tưởng khác nhau, hoặc đồng điệu hoặc trái ngược nhau. Có những người sống thiên về vật chất mà vô tình đánh mất đi vẻ đẹp của tâm hồn. Trong khi sống đẹp đòi hỏi chúng ta phải thực sự tỉnh táo, biết nhận thức, biết yêu thương, biết giữ mình khỏi những cám dỗ của xã hội.

    Sống đẹp không phải là chuyện một ngày, một bữa. Chúng ta không thể trở thành người sống đẹp chỉ trong một ngày, một giờ. Cần phải nhận thức đúng và rèn luyện thường xuyên. Lâu ngày sẽ trở thành thói quen, lối sống của ta sẽ dần được cải thiện. Sống đẹp không khó; chi khó khi ta lười biếng, e ngại hoặc chưa đủ quyết tâm, dễ dàng bỏ cuộc, buông xuôi, mặc cho dòng đời xô đẩy. Cuộc đời bạn phải do bạn quyết định. Có sống đẹp hay không cũng do ở nơi bạn. Đừng ngồi lì mãi thế! Cũng đừng mãi mê muội chạy theo những thứ phù phiếm mà đánh mất đi bản chất của mình! Đừng sống phí tuổi thanh xuân cho những trò vui vô bổ, những thói ăn chơi trụy lạc! Mà bạn hãy trao dổi kiến thức, sinh hoạt, vui chơi lành mạnh, tham gia các hoạt động xã hội như giúp đỡ người nghèo, các em bé mồ côi, các cụ già ốm đau, không nơi nương tựa.

    Sẽ sống đẹp nếu con người có mục tiêu, có lý tưởng hợp lý, vừa sức và hài hòa giữa các giá trị. Giá trị vật chất, giá trị nhân văn, giá trị tinh thần, giá trị thẩm mỹ… phải thực sự hài hòa trong quan hệ tương tác sẽ làm cho mỗi người sống đẹp hơn. Thật sự bất hợp lý và thiếu toàn diện nếu như con người thiếu động cơ sống hay thiếu động cơ đích thực và chân chính. Sống đẹp mãi là động lực để mỗi người phấn đấu nếu như mỗi người biết cống hiến, biết hy sinh và có bản lĩnh sống!

    Hãy mở rộng lòng mình, đem yêu thương sưởi ấm cho những trái tim ướt lạnh trước sóng gió của cuộc đời. Hãy biết cho đi để được nhận lại: tình yêu thương, niềm tin và hy vọng. Sống đẹp là lối sống mà ai ai cũng muốn có được. Sống phải biết học tập và rèn luyện đúng cách thì lối sống ấy mới tồn tại và phát triển. Không ai sống đẹp ngay từ lúc lọt lòng. Bởi vậy, học tập và rèn luyện đúng cách là con đường duy nhất đưa ta đến với một lối sống văn minh, một lối sống đẹp. Bạn còn chờ gì nữa ?

    Hãy bắt đầu từ hôm nay, và ngay bây giờ ! Bạn thực sự muốn mình là một ngưòi “Sống đẹp”. Tôi từng đọc một bài thơ nghe qua tưởng chỉ là thơ vui nhưng lại mang một ý nghĩa sâu sắc:

    “Khi anh sinh ra

    Mọi người đều cười

    Riêng anh thì khóc tu tu

    Bạn đang xem: Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay hay nhất (12 Mẫu)

    Hãy sống sao để khi chết đi

    Mọi người đều khóc

    Còn môi anh thì nở nụ cười”

    Bạn và tôi, hãy tự chiêm nghiệm cho mình lối sống đẹp để khi ở cuối con đường, chúng ta đều mỉm cười mãn nguyện!

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 6

    Cuộc sống vẫn luôn đặt ra cho chúng ta rất nhiều câu hỏi khiến chúng ta phải băn khoăn, trăn trở để đi tìm câu trả lời. Sống thế nào cho đúng, sống thế nào cho không mất lòng người khác… Có quá nhiều thứ mà chúng ta cần phải lần lượt đi tìm đáp án, cũng như để hoàn thiện bản thân mình từng ngày. Tố Hữu từng băn khoăn với câu hỏi “Ôi sống đẹp là thế nào, hỡi bạn”. Một câu hỏi khiến nhiều người không thể trả lời ngay lập tức được, một câu hỏi có khi phải mất rất nhiều thời gian để tìm ra đáp án.

    Tố Hữu là nhà thơ lăn lộn với đời, với nghề, với dân tộc và nhận ra rất nhiều chân lí. Thế nhưng ông vẫn cứ loay hoay với câu hỏi mà có lẽ ai cũng có thể hỏi như vậy.

    Một câu cảm thán tự hỏi chính bản thân mình, rộng ra là hỏi người khác, hỏi rằng tôi và bạn đã có ai sống đẹp hay chưa? Bởi hiện nay lối sống đẹp đang là vấn đề cần phải bàn luận và gây tranh cãi. Thế nào là sống đẹp? Biểu hiện của sống đẹp và vai trò của sống đẹp hiện nay.

    Mỗi người đều có một cách sống của riêng mình, đó là cách sống phù hợp nhất với suy nghĩ, với phong cách của bản thân mình. Nhưng liệu rằng cách sống đó có khiến người khác hài lòng hay không.

    Sống đẹp chính là lối sống đúng với đạo lí từ xa xưa của cha ông ta, đúng với chuẩn mực xã hội, không khiến người khác phải phàn nàn, không ảnh hưởng đến thuần phong mĩ tục. Sống đẹp xuất phát từ phong cách của từng người, chúng ta không nên ép người khác phải sống thế này, sống thế kia, chỉ cần nó là lối sống “đúng và đẹp” như chúng ta vẫn mong.

    Sống đẹp là một chuẩn mực mà rất nhiều người hướng đén, tuy nhiên nó không phải là duy nhất. Bởi vì tùy vào độ tuổi mà chúng ta ứng xử, sống như thế nào cho đẹp, cho hay. Mỗi độ tuổi sẽ có những cách sống đẹp khác nhau, không giống nhau nhưng tạo nên một thể thống nhất. Đối với những đứa trẻ thì sống đẹp không phải là cống hiến, không vi phạm luật lệ được đặt ra. Sống đẹp với các em chính là biết vâng lời cha mẹ, biết học hành chăm chỉ, biết cư xử có chủ ngữ với những người lớn hơn… Đó chính là sống đẹp ở các em nhỏ.

    Còn đối với người lớn, thì sống đẹp sẽ biểu hiện trong chính suy nghĩ và hành động của người đó hằng ngày. Sống đẹp xuất phát từ lời ăn tiếng nói hằng ngày mà chúng ta vẫn thường chứng kiến. Những người lao động thì cần phải biết chăm chỉ lao động, phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Mỗi người một việc, đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc chung cho toàn xã hội.

    Trong quá trình lao động thì cần phải giúp đỡ những người yếu kém hơn mình, không vi phạm những quy luật đã đề ra, không nên vì lợi ích của bản thân mình mà chà đạp, vùi dập những người xung quanh. Một ví dụ cụ thể: Trong một cơ quan, chúng ta sống và làm việc cạnh tranh nhau và muốn được vươn xa hơn nữa. Trong quá trình đó, việc bỏ ra thời gian giúp đỡ đồng nghiệp xung quanh không những trau dồi kiến thức mà còn tạo ấn tượng tốt cho những người xung quanh. Họ sẽ yêu quý bạn và trân trọng con người của bản. Như vậy chẳng phải chúng ta đang sống đẹp hay sao.

    Trong hai cuộc kháng chiến, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều tấm gương sống đẹp. Đó là Nguyễn Văn Trỗi, là Nguyễn Viết Xuân, Võ Thị Sáu. Họ đều là những người sẵn sàng hi sinh bản thân mình để đổi lại sự hòa bình, tự do cho đất nước. Cho đến bây giờ thì lối sống của họ vẫn được nhiều người trân trọng và làm gương.

    Sống đẹp sẽ khiến cho cuộc sống của chúng ta thoải mái, hòa đồng, tự tin; đồng thời sẽ khiến cho nhiều người yêu quý và trân trọng bạn.

    Cha ông ta từ xưa đến nay vẫn có truyền thống yêu thương những người xung quanh “Thương người như thể thương thân”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”… Lối sống đẹp là lối sống nên phát huy để cuộc sống này thêm tốt đẹp hơn.

    Ngược lại có nhiều lại không có cách sống đẹp, mà lại sống không phù hợp với thuần phong mĩ tục, sống vi phạm pháp luật, sống ích kỉ, chỉ biết đến lợi ích của bản thân mình. Những người như thế sẽ không được mọi người yêu mến, cuộc sống của họ sẽ không được tốt đẹp như họ nghĩ.

    Tố Hữu với câu hỏi “Ôi sống đẹp là gì hỡi bạn” thực sự đã thức tỉnh được con người về cách sống nên và đúng trong cuộc sống này. Sống sao cho không hổ thẹn với bản thân mình, tốt cho mình, tốt cho người là cách sống nên tuyên truyền và phát huy hơn nữa.

    Tùy vào suy nghĩ của từng người mà “sống đẹp” được cảm nhận theo nhiều cách khác nhau, nhưng dù thế nào thì nó cũng mang một ý nghĩa tốt đẹp. Sống đẹp là sống có mục đích, sống có tình cảm, có lí tưởng, sống vì mọi người,…Sống đẹp là mang lại niềm vui cho người khác mà không phải vì một lợi ích cá nhân nào, cũng không phải để mọi người chú ý khen ngợi. Sống như thế chỉ với một mục đích sống tốt đẹp, giúp ích cho đời mang lại niềm vui cho mọi người. Trong kho tàng ca dao – tục ngữ, cha ông ta từng thiết tha sống đẹp. Đến thời đại chúng ta, Tố Hữu cũng tha thiết kêu gọi bằng câu thơ “Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn?”.

    Nguyễn Hữu Ân – chàng trai vào đời bằng nghĩa cử đẹp như trang cổ tích, đã dùng gần hết “chiếc bánh thời gian” của mình để thăm nom, chăm sóc cho những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối; một em học sinh vùng núi hằng ngày cõng bạn bị cụt hai chân đến trường ròng rã bao năm liền… Không chỉ có vậy, ta còn thấy nó qua những câu chuyện phương Đông trong “nhị thập tứ hiếu”,… Nhưng ngày nay không ít người chỉ biết sống cho riêng mình, không cần quan tâm đến mọi người, thậm chí họ còn sẵn sàng chà đạp lên cuộc sống của người khác để kiếm lợi ích cho bản thân mình. Đó là một trong những quan niệm sai lầm về lối sống, đó là một lối sống ích kỉ và nhỏ nhen, nếu như không sớm khắc phục thì hậu quả sẽ không tốt cho thế hệ con cháu sau này, nó biến mọi người trở nên vô cảm và khi đó cuộc sống sẽ rất tẻ nhạt, buồn chán… Để cho xã hội tốt đẹp hơn, trước hết ta phải làm đẹp con người đã, làm đẹp ở đây không phải là đi thẩm mĩ để đẹp dung nhan mà là làm đẹp nhân cách con người. Ta phải rèn luyện tính tự lập hòa đồng biết yêu thương, giúp đỡ những người xung quanh mình dù đó là một việc làm rất nhỏ. Suy nghĩ trong từng lời nói, cử chỉ sẽ giúp ta rèn luyện phẩm chất tốt đẹp hơn.

    Sống đẹp là một chuẩn mực cao nhất trong nhân cách con người, câu thơ của Tố Hữu có tác dụng gợi mở, nhắc nhở chung cho mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ hiện nay phải biết giữ gìn truyền thống tốt đẹp cùa dân tộc như lá lành đùm lá rách”, “Nhường cơm sẻ áo”, cùng nâng đỡ tâm hồn, nhân cách của nhau để cuộc sống ý nghĩa hơn, góp phần xây dựng một đất nước văn minh giàu đẹp.

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 7

    Tôi quan niệm tuổi trẻ là thế hệ thiếu niên, thanh niên, là lớp người đang học phổ thông và đại học, cao đẳng, đó là lớp người từ 14, 15 đến 30 tuổi.

    Sống đẹp nghĩa là thế nào? – Sống đẹp nghĩa là có tâm hồn đẹp: yêu nước, yêu nhà, yêu người. Phải là đứa con hiếu thảo của ông bà, cha mẹ: phải là người anh, người chị, đứa em biết yêu thương, coi “anh em như thể tay chân”, biết “chị ngã, em nâng” trong gia đình. Phải là người giàu lòng yêu nước, tận tụy, trung thành với nhân dân. Biết dũng cảm đánh giặc để cứu nước, cứu dân; biết lao động cần cù, sáng tạo để xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp, có thể “sánh vai các cường quốc năm châu” là sống đẹp. Sống đẹp là giàu tình thương, biết san sẻ, cưu mang, biết quan tâm đến đồng bào, biết “thương người như thể thương thân”.

    Những kẻ bất hiếu, bất trung, bất nghĩa, sống ích kỉ, tham lam, độc ác., sao có thế gọi là “sống đẹp?”, “Miệng thế gian”, sự đánh giá của nhân dân, của người đời là đúng đắn nhất, công bằng nhất ai là người sống đẹp, ai là kè lèm nhèm:

    “Trăm năm bia đá thì mòn
    Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

    Tục ngữ có câu: “Người đẹp vì lụa”, về hình thức, có thể hiểu là ăn mặc đẹp, sống nhà lầu xe hơi, sống sang trọng là sống đẹp, nhưng cần biết, cần nhớ là không được, không nên xa hoa lãng phí mới là sống đẹp. Vì hiểu không đúng, không đầy đủ mà có không ít cô, cậu đang ngày ngày cắp sách tới trường mà đầu tóc nhuộm đỏ, nhuộm vàng, con trai mà tai đeo khuyên bạc, ngực, lưng, cánh tay… xăm đủ hình thù cổ quái. Bỏ học, trốn học, ăn chơi, sống buông thả, chạy theo “mốt”… Cách sống, cách ăn nói, cách ứng xử… của số ít chàng trai, cô gái này sao có thế gọi là “sống đẹp?” Học sinh, sinh viên mà thuốc lá phì phèo đầu môi, ăn nói tục tĩu, coi vũ trường là chốn “nương thân” để khoe tài, khoe của. Hiện nay, có không ít người trong giới trẻ, trong học sinh hiểu không đúng về hai chữ “sống đẹp” nên đã sống buông thả, trở thành loại người “cá biệt” trong nhà thường, trong gia đình và xã hội.

    Sống đẹp phải được thể hiện bằng hành động phong phú, sôi nổi, đẹp. Tuổi trẻ phải biết sống vì lí tưởng cao đẹp, sống có ước mơ cao đẹp. Tuổi trẻ phải biết hiến dâng. Nghĩa là chăm chỉ học hành, tu dưỡng đạo đức, không ngừng vươn lên, hăm hở bước vào con đường lao động sáng tạo, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, học thêm ngoại ngữ đế làm cộng cụ tiến lên. Phấn đấu trở thành “con ngoan, trò giỏi”, “thanh niên tiến tiến”, “sống có ích”… là sống đẹp.

    Khi Tổ quốc và dân tộc đắm chìm trong vòng nô lệ nhục nhã, chí sĩ Phan Bội Châu kêu gọi thanh niên:

    “Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi
    Cởi lốt xưa mà tu dưỡng lấy tinh thần
    Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn
    Đúc gan sắt để dời non lấp bể
    Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…”
    (Bài ca chúc Tết thanh niên)
    Thi sĩ Tố Hữu có những vần thơ náo nức, lay gọi:
    “Hỡi những chàng trai, những cô gái yêu
    Trên những đèo mây, những tầng núi đá
    Hai bàn tay ta hãy làm tất cả
    Xuân đã đến rồi, hối hả tương lai!…”

    Thời kháng chiến chống Mĩ, con đường ra trận là con đường mòn Hồ Chí Minh, là ngày hội lớn của tuổi trẻ anh hùng. Tuổi trẻ thuở ấy đã sống đẹp, đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, đã nêu cao tinh thần “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”.

    Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, vì một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh… đã và đang hướng tuổi trẻ chúng ta ngày nay phải biết sống đẹp. Sống đẹp trong lòng tổ quốc và nhân dân. Sống đẹp cho hôm nay và ngày mai. Sống đẹp trong cách sống, trong học tập và lao động. Và nên nhớ: Sống để hiến dâng và phục vụ, như Tố Hữu đã nói: “sống là cho đâu chỉ riêng mình”.

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 8

    Trong cuộc sống, có những người chỉ biết sống cho riêng mình, đó là lối sống nhỏ nhen, ích kỷ. Muốn xã hội tốt đẹp hơn thì con người phải biết sống cao đẹp.

    Lẽ sống cao đẹp ở đây là sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng, sống vì cộng đồng, sống để cống hiến cho xã hội, cho đất nước. Sống đẹp là sống có ý chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân của mình khi bị vấp ngã, biết bền lòng và dũng cảm vượt qua những thử thách, khó khăn để vươn lên, chắp cánh cho ước mơ của mình được bay cao, bay xa. Chúng ta cần phải sống đẹp vì đó là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người cần hướng tới. Là lí do mà mỗi con người cần mong muốn đạt được.

    Người có lí tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn, giúp ích cho gia đình, xã hội và đất nước. Trong lịch sử của dân tộc có biết bao tấm gương về sống đẹp: xưa có Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,…; nay có anh Kim Đồng, chị Võ Thị Sáu, anh Lê Văn Tám,… và cao cả hơn là Bác Hồ kính yêu. Họ là người sống hết mình vì dân tộc, đã hiến dâng trọn vẹn cả cuộc đời cho dân tộc, cho Tổ quốc. Họ xứng đáng là tấm gương sáng về lí tưởng sống đẹp cho chúng ta noi theo.

    Bên cạnh đó cũng không hiếm những người có lối sống tiêu cực, đi ngược với luân lí và đạo đức. Đó là những tên bán nước, buôn người, những người đầu độc chính dân tộc mình bằng thuốc phiện, rượu cồn. Đó là những tấm gương xấu đáng bị bài trừ. Vậy chúng ta làm gì để trở thành người có lí tưởng sống đẹp? Trước hết, ta cần phải xác định lí tưởng sống đúng đắn, có những hoài bão lớn ích nước lợi nhà ra sao. Tiếp theo cần phải lên kế hoạch học tập, rèn luyện kĩ năng, sức khỏe nhằm thực hiện mục đích đó. Và điều quan trọng là chúng ta phải cụ thể hóa những kế hoạch ấy bằng những hành động cụ thể.

    Hãy sống và cống hiến hết mình như ngày hôm nay là ngày cuối cùng ta được sống, không sống hoài, sống phí dù chỉ một ngày.

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 9

    “Con người sinh ra không phải để tan biến như hạt cát vô danh, họ sinh ra để in dấu chân của mình trên mặt đất và in dấu lại trong tim của người khác” (Xukhomlinxki). Thật vậy, mỗi chúng ta sinh ra trên đời là một bản thể riêng biệt của tạo hóa, bạn không thể là bản sao của người khác, và ngược lại người khác cũng không thể là bản sao từ bạn. Vì vậy, chúng ta cần sống cống hiến, sống tích cực, sống đẹp cho đất nước.

    Vậy “sống đẹp” là như thế nào? “Sống đẹp” là sống có mục đích, sống có ý chí, nghị lực và ước mơ. Là sống với những khao khát của bản thân, sẵn sàng vượt qua thử thách, khó khăn để đến với mục đích cuối con đường; là sẵn sàng ước mơ và thực hiện nó, đưa nó bay cao bay xa. Hơn hết, “sống đẹp” còn là lối sống tích cực, lối sống đáng trân trọng trong xã hội ngày nay. Còn “sống cống hiến” là gì? Đó là lối sống mà mỗi chúng ta cần có. Đó là lối sống đưa bạn đến gần mọi người xung quanh, lối sống lành mạnh và tốt đẹp. “Sống cống hiến” là sống hết mình, sống vì mục đích chung, sẵn sàng cống hiến sức, tài năng, trí tuệ, sáng tạo cho đất nước. Như vậy, cả hai lối sống “sống đẹp, sống cống hiến” đều là lối sống tích cực, sống có ích đối với xã hội, là lối sống mà mỗi chúng ta ai cũng cần có.

    Con người sinh ra cần sống để cống hiến, làm tốt đẹp cho cuộc sống thay vì tồn tại, làm những điều bất lợi cho cuộc sống và chính bản thân mình.trong cuộc sống, lối sống cống hiến, sống đẹp là những điều đáng trân trọng và cần thiết. Đối với cuộc sống của chúng ta, sống đẹp và sống cống hiến được xem là tiêu chí xếp hàng đầu đưa con người tới thành công, tốt đẹp, hạnh phúc và trân trọng từ người khác. Trong học tập, lối sống đẹp giúp bạn có thể hòa nhập, tìm hiểu và xây dựng tình bạn tốt đẹp, trong sáng. Không chỉ vậy, lối sống đẹp còn được thể hiện qua ý thức của chính bản thân bạn trong cuộc sống. Sống cống hiến, sống đẹp là lối sống mà mỗi chúng ta cần có và rèn luyện để có được lối sống đẹp. Nhà văn “phù thủy” J.K Rowling chính là tấm gương của lối sống đẹp, sống cống hiến hết sức mình. Trước khi trở thành nhà văn được nhiều người yêu thích, Rowling là một phụ nữ thất nghiệp, ly hôn và nuôi con bằng trợ cấp xã hội. Với 7 tập Harry Potter, Rowling nổi tiếng khắp thế giới và là người đầu tiên trở thành tỷ phú nhờ viết sách. Như vậy, J.K Rowling là ta gương sáng cho lối sống tốt đẹp, cống hiến.

    Tuy nhiên, trong xã hội hiện tại vẫn có nhiều kẻ sống vị kỷ, ích kỉ, tiêu cực; chỉ sống vì bản thân mà không nghĩ tới người khác. Những kẻ như vậy đáng bị xã hội lên án, phê phán. Đồng thời, là lớp học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần rèn luyện đạo đức, kỹ năng sống để có thể sống tốt đẹp, sống có ích. Muốn vậy, ngay từ bây giờ, là học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần hăng say học tập, rèn luyện bản thân cả về đạo đức lẫn tinh thần. Hãy sống cống hiến hết mình, làm những điều mình có thể làm, sống một cuộc sống có ích để một ngày không xa, đất nước sẽ ngày càng phát triển. Hãy làm thật nhiều điều tốt đẹp như: tham gia cùng nhóm bạn, cùng lớp, cùng các hoạt động trong trường để lan tỏa tới tất cả mọi về lối sống cống hiến, sống đẹp; để chúng ta trở thành cây non của thế giới tươi đẹp ấy.

    “Sứ mệnh chân chính của con người là sống chứ không phải tồn tại” (Jack London). Quả thực, chúng ta sống trên đời để sống hết mình, sống cuồng nhiệt, cháy bỏng với bản thân và với xã hội. Hãy ước mơ hết mình, thực hiện hết mình. Hãy sống có mục đích, sống để cống hiến, để tạo dựng những điều tốt đẹp gửi tới tất cả mọi người. Để hành tinh của chúng ta là màu xanh, sắc xanh tươi đẹp, ấm áp, hạnh phúc.Bởi chỉ có như vậy, chúng ta mới là chính mình, là mầm non cho tương lai tương sáng của đất nước.

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 10

    Sống đẹp là sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng. Sống đẹp là sống có chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân của mình khi vấp ngã, biết bền lòng và dũng cảm vượt qua những thử thách, khó khăn để vươn lên, chắp cánh cho ước mơ của mình được bay cao, bay xa. Sống đẹp còn là một lối sống có văn hóa, biết lịch sự; là một cuộc sống có tri thức, có tình người.

    Trong cuộc sống hằng ngày mỗi người chọn cho mình những cách thể hiện khác nhau hình thành lên những cách sống khác nhau: sống đẹp, sống có ích và lối sống ích kỷ, buông thả thậm chí chìm trong vòng tội lỗi. Như vậy “sống đẹp” là một lối sống tích cực mà mỗi người cần phải hướng tới. Nhưng sống thế nào mới là lối “sống đẹp” còn là điều băn khoăn của rất nhiều người.

    “Đẹp” không phải chỉ là cái đẹp hình thức. Cái “đẹp” thể hiện từ những hành động cư xử nhỏ nhất trong cuộc sống đến nghị lực vươn lên trong mỗi con người. “Sống đẹp” trước hết phải xuất phát từ lòng nhân ái, từ chính tình yêu trong trái tim để từ đó mà sống hết mình vì người khác, để bao dung, thứ tha … Xuất phát từ tình yêu thương nên bất cứ hành động nào dù là nhỏ nhất cũng đầy sự quan tâm, chia sẻ giữa những con người. Một sáng đến trường bạn không sợ muộn học mà dừng lại giúp một cụ già qua đường. Mỗi ngày dành dụm tiền để ủng hộ quỹ “vì người nghèo”. Những hành động ấy dù nhỏ nhặt nhưng đều là những nghĩa cử cao đẹp.

    Sống đẹp là sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Trong lịch sử của dân tộc có biết bao tấm gương về sống đẹp: Trần Hưng Đạo, Trưng Nhị, Trưng Trắc, Trần Quốc Toản, chị Võ Thị Sáu, anh Kim Đồng, anh Nguyễn Văn Trỗi,… vĩ đại hơn cả là Bác Hồ kính yêu. Họ là những người sống hết mình vì dân tộc vì cách mạng, vì nền độc lập, tự do của đất nước. Họ đã giành cả cuộc đời mình cho Tổ quốc. Họ là những anh hùng đã có công giữ nước, là những tấm gương sáng cho chúng ta học tập, noi theo.

    Bên cạnh đó cũng không hiếm những người có lối sống tiêu cực, đi ngược với luân lí và đạo đức. Đó là những tên bán nước, buôn người, những người đầu độc chính dân tộc mình bằng thuốc phiện, rượu cồn. Chính họ đã vấy bẩn bộ mặt xã hội, làm cho không ít dân ta trở nên nhu nhược, bần hèn. Đó là những tấm gương xấu đáng bị lên án và bài trừ. Thật vậy, để sông đẹp không phải là điều đơn giản. Ai cũng biết sống đẹp là như thế nào, nhưng không phải ai cũng biết sống thế nào cho đẹp. Bởi lẽ, cuộc sống hiện tại quá hỗn tạp, có nhiều luồng tư tưởng khác nhau, hoặc đồng điệu hoặc trái ngược nhau. Có những người sống thiên về vật chất mà vô tình đánh mất đi vẻ đẹp của tâm hồn. Trong khi sống đẹp đòi hỏi chúng ta phải thực sự tỉnh táo, biết nhận thức, biết yêu thương, biết giữ mình khỏi những cám dỗ của xã hội.

    Sống đẹp không phải là chuyện một ngày, một bữa. Chúng ta không thể trở thành người sống đẹp chỉ trong một ngày, một giờ. Cần phải nhận thức đúng và rèn luyện thường xuyên. Lâu ngày sẽ trở thành thói quen, lối sống của ta sẽ dần được cải thiện. Sống đẹp không khó; chỉ khó khi ta lười biếng, e ngại hoặc chưa đủ quyết tâm, dễ dàng bỏ cuộc, buông xuôi, mặc cho dòng đời xô đẩy. Cuộc đời bạn phải do bạn quyết định. Có sống đẹp hay không cũng do ở nơi bạn. Đừng ngồi lì mãi thế! Cũng đừng mải mê muội chạy theo những thứ phù phiếm mà đánh mất đi bản chất của mình! Đừng sống phí tuổi thanh xuân cho những trò vui vô bổ, những thói ăn chơi trụy lạc! Mà bạn hãy trao đổi kiến thức, sinh hoạt, vui chơi lành mạnh, tham gia các hoạt động xã hội như giúp đỡ người nghèo, các em bé mồ côi, các cụ già ốm đau, không nơi nương tựa.

    Sẽ sống đẹp nếu con người có mục tiêu, có lý tưởng hợp lý, vừa sức và hài hòa giữa các giá trị. Giá trị vật chất, giá trị nhân văn, giá trị tinh thần, giá trị thẩm mỹ… phải thực sự hài hòa trong quan hệ tương tác sẽ làm cho mỗi người sống đẹp hơn. Thật sự bất hợp lý và thiếu toàn diện nếu như con người thiếu động cơ sống hay thiếu động cơ đích thực và chân chính. Sống đẹp mãi là động lực để mỗi người phấn đấu nếu như mỗi người biết cống hiến, biết hy sinh và có bản lĩnh sống!

    Hãy mở rộng lòng mình, đem yêu thương sưởi ấm cho những trái tim ướt lạnh trước sóng gió của cuộc đời. Hãy biết cho đi để được nhận lại: tình yêu thương, niềm tin và hy vọng. Sống đẹp là lối sống mà ai ai cũng muốn có được. Sống phải biết học tập và rèn luyện đúng cách thì lối sống ấy mới tồn tại và phát triển. Không ai sống đẹp ngay từ lúc lọt lòng. Bởi vậy, học tập và rèn luyện đúng cách là con đường duy nhất đưa ta đến với một lối sống văn minh, một lối sống đẹp. Bạn còn chờ gì nữa ?

    Hãy bắt đầu từ hôm nay, và ngay bây giờ ! Bạn thực sự muốn mình là một người “Sống đẹp”.

    Tôi từng đọc một bài thơ nghe qua tưởng chỉ là thơ vui nhưng lại mang một ý nghĩa sâu sắc:

    “Khi anh sinh ra
    Mọi người đều cười
    Riêng anh thì khóc tu tu
    Hãy sống sao để khi chết đi
    Mọi người đều khóc
    Còn mỗi anh thì nở nụ cười”

    Bạn và tôi, hãy tự chiêm nghiệm cho mình lối sống đẹp để khi ở cuối con đường, chúng ta đều mỉm cười mãn nguyện!

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 11

    Cuộc sống luôn vần xoay, đổi dời, văn minh và tiên tiến hơn nhưng tôi dám chắc rằng, sống đẹp chính là chân lý, điều căn cốt bất di bất dịch, trường tồn mãi mãi.

    Sống đẹp không phải là một điều gì lớn lao, phi thường mà chính là phong cách sống, thái độ sống của chúng ta. “Sống” không phải là tồn tại theo nghĩa đơn thuần, mà nó mục đích để con người hướng tới. Bạn có ý tưởng, ước mơ, có tình yêu thương, biết san sẻ và giúp đỡ người khác,… đó đã gọi là sống đẹp. Định nghĩa về sống đẹp thật rộng nhưng đơn giản, đó là cách sống có trách nhiệm với bản thân mình , gia đình và cả xã hội. Trong lịch sử dân tộc, có biết bao tấm gương sống đẹp như Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Thị Sáu,… Họ là những vị anh hùng, có lý tưởng, hoài bão, tinh thần yêu nước, dám hi sinh quên mình để bảo vệ nền độc lập cho Tổ quốc.

    Trong cuộc sống hiện đại, khi chiến tranh lùi xa, sống đẹp được thể hiện ở tình thần tương thân, tương ái, đoàn kết và sẻ chia giữa người với người. Đại dịch COVID-19 vừa qua đã gây thiệt hại không nhỏ đến nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn đó, điều làm chúng ta ấm lòng chính là những “vòng tay” nồng nhiệt, thể hiện truyền thống “lá lành đùm lá rách” truyền thống của dân tộc. Chính phủ, nhà nước đã tạo điều kiện để đón các công dân từ nước ngoài về quê hương, với phương châm “không để một ai bị bỏ lại phía sau trong cuộc chiến chống COVID-19”. Giữa tình cảnh hàng chục, hàng nghìn hoạt động kinh tế đóng cửa, khiến người dân lao động thất nghiệp, ta vẫn thấy những cánh tay của các mạnh thường quân dang rộng, phát gạo, thực phẩm miễn phí cho người khó khăn… Đó là những nét đẹp để lại dấu ấn trong lòng người dân Việt Nam lẫn bạn bè quốc tế, tạo nên niềm tự hào dân tộc.

    Nói đi cũng phải nói lại, bên cạnh những việc làm tốt đẹp trên, có không ít bộ phận, cá nhân vì ích kỉ mà làm trái luân lý, đạo đức. Cũng trong tình hình rối ren của dịch bệnh, nhiều chủ tiệm kinh doanh các thiết bị y tế lợi dụng thời cơ trục lợi như nâng mức giá khẩu trang, dung dịch rửa tay,…Giả vờ khó khăn để kiếm chác, tranh giành với những hoàn cảnh khó khăn. Sống đẹp là điều tốt, đáng được tuyên dương còn ngược lại, sống ích kỷ, tiểu nhân là hành động đáng lên án. Lâu dần, những thói quen xấu sẽ trở thành mầm bệnh, sinh ra nhiều tệ nạn xã hội.

    Để sống đẹp không phải chỉ ngày một, ngày hai mà là cả một quá trình tu dưỡng, thay đổi, nhìn cuộc sống tích cực. Biết tránh xa, lên án những hành động xấu, nhân rộng tấm lòng nhân ái, lành mạnh trong suy nghĩ và hành động mới có thể hướng đến sự sống đẹp. Là học sinh, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, cần phải biết dặn mình, chăm chỉ học tập, noi gương những tấm gương tốt để dặn lòng cố gắng. Ngay từ bây giờ và ngay lúc này, bản thân cần chăm chỉ học tập, biết yêu thương và sống có trách nhiệm.

    Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay – Mẫu 12

    Cuộc sống luôn có những quy tắc và chuẩn mực của nó. Và con người sống cũng đều tuân theo nó. Những lối sống, phong cách sống luôn là điều mà mọi người quan tâm. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, có rất nhiều những nền văn hóa khác nhau du nhập vào Việt Nam. Những nền văn hóa ấy cũng kéo theo những suy nghĩ, lối sống mới. Người Việt dễ dàng hòa nhập với chúng đặc biệt là giới trẻ. Điều đó cũng không hề xấu. Biết hội nhập là tốt, biết học hỏi những điều mới là hay. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra chính là người trẻ, sống mới nhưng vẫn phải đẹp. Tuổi trẻ phải sống đẹp.

    Để nói về vấn đề này, đầu tiên ta phải hiểu sống đẹp là gì, là như thế nào. Chắc chắn, sống đẹp là sống tốt rồi. Bởi đã “đẹp” đương nhiên phải là hợp lý. “Sống đẹp” là sống phù hợp với đạo lý, với những chuẩn mực của xã hội. Sống biết yêu thương, biết sẻ chia. Sống có hoài bão và ước mơ. Sống cho đúng với lương tâm con người, đúng với những lí tưởng cao cả đúng đắn mà mình hướng tới. Sống đẹp là sống với một tâm hồn đẹp. Vậy thế nào là đạo lý, là chuẩn mực xã hội, là lí tưởng cao cả? Những điều đó có thể là những đạo lý của con người Việt từ xưa đến nay như yêu nước thương nòi, khiêm tốn, kiên trì, giản dị, giàu lòng nhân ái; có thể là lí tưởng xây dựng xã hội chủ nghĩa, những mục tiêu hiện đại hóa đất nước… Biết yêu thương là biết đồng cảm, sẻ chia chân thành với những người thân, những người xung quanh mình, những mảnh đời éo le hơn nếu có thể. Sống có hoài bão, ước mơ. Với những đam mê và ước mơ của mình có trách nhiệm và hành động để đạt được chúng. Không ai có thể sống tốt nếu không có những ước mơ dẫn đường. Ước mơ chính là kim chỉ nam giúp ta chọn con đường để đi tới. Nhiều người bạn của tôi sống mà không có bất cứ một ước mơ nào, họ không biết mình thích gì, cứ đi mà không biết cái đích mình đến là đâu. Chính vì vậy mà họ lãng phí thời gian và tiền bạc của mình vào những trò tiêu khiển không điểm dừng. Rồi dần dần, họ sống buông thả lúc nào không hay, đến khi quay đầu lại cũng đã quá muộn. Những trường hợp như tôi kể trên rất nhiều. Bạn không tin chỉ cần vài thao tác nhỏ trên mạng cũng có thể thấy hàng loạt những lời kêu ca về họ.

    Sống đẹp không chỉ được thể hiện ở phong cách sống mà còn ở cách ăn nói, đối nhân xử thế, cách mà ta nhìn nhận cuộc đời. Trước hết là lời ăn tiếng nói. Tiếng nói không chỉ mang nét đặc trưng của vùng miền nơi bạn sinh sống mà còn thể hiện trình độ của bạn. Bởi người khôn khéo và có học thức không bao giờ sử dụng những lời tục tĩu, lăng mạ như mấy bà bán cá ngoài chợ được. Ngôn ngữ sử dụng đều được lựa chọn sao cho phù hợp nhất nhưng vẫn có khả năng diễn đạt thái độ và tâm ý của người nói. Những lời nói phải được sử dụng sao cho phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đôi bên.

    Chẳng hạn giao tiếp với sếp thì dùng một lối nói, về nhà nói chuyện với ba mẹ một lối nói…. Việc giao tiếp với người xung quanh là một cơ hội để cho họ biết được tâm hồn cũng như tính cách của mình. Và việc bạn sống đẹp hay không cũng được đánh giá qua những lời nói ấy. Cách đối nhân xử thế cũng là mặt biểu hiện hết sức quan trọng. Yếu tố này thể hiện rõ nhất phong cách sống của bạn. Bạn đối xử với bề trên như thế nào, với bạn bè anh em như thế nào,với những người xung quanh, với kẻ thù, những người ganh ghét bạn như thế nào đều thể hiện rõ. Bạn hòa nhã với họ, bạn không chấp nhặt phản bội, đâm sau lưng hoặc tìm cách hãm hại họ đó là sống đẹp. Bạn bao dung với những người làm tổn thương bạn đó là sống đẹp. Bạn biết đồng cảm với những người bất hạnh hơn mình cũng là sống đẹp. Bạn sống với một tâm thế lạc quan yêu đời đó cũng là sống đẹp.

    Phần nào hiểu qua sống đẹp là gì, câu hỏi đặt ra cho chúng ta lại là:”Tại sao tuổi trẻ lại phải sống đẹp?”. Thì tôi có thể giải thích đầu tiên tuổi trẻ là lực lượng nòng cốt của xã hội. Tuổi trẻ với vai trò dựng xây đất nước, nằm trong độ tuổi lao động, là động lực phát triển đất nước. Sứ mệnh của tuổi trẻ là dựng xây và bảo vệ Tổ Quốc. Nếu không sống đẹp, đất nước ấy sẽ chẳng thể phồn vinh, mà còn có nguy cơ rơi vào bạo loạn. Bởi đối lập với sống đẹp là ích kỉ, là độc ác tham lam, luôn mang trong mình dã tâm không tốt đẹp. Những lối sống ấy sẽ ăn mòn lương tri con người, làm cho xã hội ngày càng xuống cấp trầm trọng về mặt đạo đức xã hội, khiến xã hội không thể phát triển vững bền. Sống đẹp sẽ giúp cho con người có một nhân sinh quan đúng đắn, là tiền đề để xã hội phát triển theo chiều hướng tích cực. Là một người trong hàng ngũ tuổi trẻ, bạn hãy hăm hở, đam mê học hỏi để dựng xây nước nhà, rèn luyện trở thành con ngoan trò giỏi, tạo cho mình một lối sống đẹp, đúng đắn. Khi đó không những cuộc sống mỉm cười với bạn mà chính bạn cũng cảm thấy mình thanh thản và xứng đáng.

    Đừng đắm chìm mãi trong những trò tiêu khiển, đừng ngủ quên trong huyễn hoặc hão huyền. Hãy đứng lên và hành động để tiến về phía trước. Vì tương lai là do chính bạn tạo ra chứ không phải ai khác. Tấm gương sống đẹp nổi bật nhất chính là Bác Hồ vĩ đại của chúng ta. Với nhiệt huyết tuổi trẻ của Người, Người đã bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm ra con đường cứu nước, tìm ra lối đi đúng đắn để giải phóng cho dân tộc. Bởi vậy mà ngày nay, phong trào học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh luôn là phong trào sôi nổi của tuổi trẻ, những thanh niên, đoàn viên, đảng viên. Phong trào này không những thúc đẩy sự phát triển trong lối sống của đại bộ phận giới trẻ mà còn hình thành những tấm gương sống đẹp mới cho xã hội.

    Sống đẹp là một vấn đề chưa bao giờ là thôi cần thiết. Và tuổi trẻ phải sống đẹp là một điều tất yếu và quan trọng. Không một lĩnh vực nào mà tuổi trẻ bị khuất phục. Bởi vậy hãy rèn luyện cho mình một lối sống đẹp đúng nghĩa để không phí hoài tuổi xuân của chính bản thân mình. Vì “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”(Xuân Diệu) nên đừng để thời gian trôi qua một cách vô nghĩa. Hãy thức tỉnh và hành động ngay hôm nay để làm giàu cho chính bản thân cũng như chuẩn bị cho một tương lai tươi sáng.

    ************

    Trên đây là 12 bài mẫu Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay lớp 10 hay nhất do thầy cô biên soạn. Hy vọng dựa vào đây, các em sẽ có nhiều gợi ý mới lạ để hoàn thành tốt bài tập của mình một cách xuất sắc nhất. Chúc các em học tập thật tốt và luôn đạt điểm cao nhé.

    Đăng bởi: THPT Lê Hồng Phong

    Chuyên mục: Giáo Dục

    Bản quyền bài viết thuộc THPT Lê Hồng Phong. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!

    Tác giả: https://c3lehongphonghp.edu.vn – Trường Lê Hồng Phong

    Nguồn: https://c3lehongphonghp.edu.vn/viet-van-ban-nghi-luan-trinh-bay-suy-nghi-ve-song-dep-cua-gioi-tre-hien-nay/

    The post Viết văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ về sống đẹp của giới trẻ hiện nay hay nhất (12 Mẫu) – THPT Lê Hồng Phong appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Để người trẻ dám nghĩ, dám làm, dám vươn lên https://evbn.org/de-nguoi-tre-dam-nghi-dam-lam-dam-vuon-len-1680772918/ Thu, 06 Apr 2023 09:22:00 +0000 https://evbn.org/de-nguoi-tre-dam-nghi-dam-lam-dam-vuon-len-1680772918/ Phó Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Thái Học – Ảnh: NGUYỄN KHÁNH Trao đổi cùng Tuổi Trẻ, Phó trưởng Ban Nội chính trung ương...

    The post Để người trẻ dám nghĩ, dám làm, dám vươn lên appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Phó Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Thái Học - Ảnh: NGUYỄN KHÁNH

    Phó Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Thái Học – Ảnh: NGUYỄN KHÁNH

    Trao đổi cùng Tuổi Trẻ, Phó trưởng Ban Nội chính trung ương Nguyễn Thái Học cho rằng tọa đàm để cùng thảo luận, qua đó lan tỏa sâu rộng giá trị cốt lõi cuốn sách Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến với lớp trẻ. Ông Học nói:

    – Qua cuốn sách, chúng ta thấy hình ảnh của Tổng bí thư khi còn trẻ đã thể hiện rõ thái độ phê phán, lên án thói hư, tật xấu của cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ qua ngòi bút của mình. Lớp trẻ khi soi mình vào cuốn sách, vào những suy nghĩ, tư tưởng của Tổng bí thư giúp định hình những giá trị đích thực cho bản thân trong quá trình phấn đấu vươn lên.

    * Chúng ta bắt đầu từ bài viết “Bệnh sợ trách nhiệm” đã xuất bản từ 50 năm trước được trích đăng lại song vẫn giữ tính thời sự khi soi vào tình hình hiện nay.

    – Trong phần thứ 2 của sách, Tổng bí thư nói về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và rèn luyện tư cách đạo đức cán bộ, đảng viên với các bài viết: Bệnh sợ trách nhiệm, Móc ngoặc, Làm xiếc, Của công – của riêng, Một sự thật nhức nhối… Qua ngòi bút của nhà báo trẻ Nguyễn Phú Trọng, những thói hư, tật xấu này đã được phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau.

    Ở bài “Bệnh sợ trách nhiệm” viết năm 1973, Tổng bí thư phân tích, đánh giá tình hình khó khăn của đất nước lúc bấy giờ, đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên phải làm việc bằng hai, bằng ba để góp công, góp của, góp sức vào nhiệm vụ chung. Nhưng thực tế có một bộ phận cán bộ, đảng viên làm việc cầm chừng, né tránh, an phận thủ thường.

    Bài viết ấy chỉ ra nguyên nhân của vấn đề chính là do chủ nghĩa cá nhân của bản thân cán bộ, đảng viên không muốn bứt phá, phấn đấu, vươn lên, hay chỉ muốn an toàn, làm việc cầm chừng, khỏi phải đụng chạm tới trách nhiệm của mình. 

    Thêm vào đó là do người lãnh đạo nhìn nhận, đánh giá cán bộ không khách quan, không công bằng. Người làm được cũng như người không làm được, tích cực cũng như cầm chừng, dẫn đến cán bộ, đảng viên không có động lực phấn đấu vươn lên.

    * Người trẻ vốn gắn với tinh thần xung kích, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Tại sao lại cần đặt vấn đề “Người trẻ có sợ trách nhiệm?”, thưa ông?

    Để người trẻ dám nghĩ, dám làm, dám vươn lên - Ảnh 1.

    Các bạn trẻ tình nguyện TP.HCM chuyển vật dụng từ đất liền ra lắp tặng công trình cho bà con tại đảo Thổ Chu (Kiên Giang) trong chiến dịch Mùa hè xanh – Ảnh: Q.L.

    – Bài viết trên được Tổng bí thư viết cách đây 50 năm, tình hình khó khăn lúc đó khác xa bây giờ. Nhưng đến nay vẫn có những điểm tương đồng để chúng ta phải suy nghĩ, bởi đất nước hiện đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức, nhất là sau đại dịch COVID-19.

    Trước những yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải làm việc với tinh thần, trách nhiệm cao, nỗ lực lớn và hết lòng vì Đảng, vì dân. Vậy nhưng thực tế lại có một bộ phận cán bộ, đảng viên sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám làm.

    Chính điều này, Ban Nội chính trung ương gợi mở Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia Sự Thật và báo Tuổi Trẻ phối hợp tổ chức buổi tọa đàm “Người trẻ có sợ trách nhiệm?”. Nội dung mang tính thời sự, rất thiết thực, ý nghĩa. Qua đó, có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để nhận diện, phân tích, đánh giá về việc người trẻ có sợ trách nhiệm không? Nếu có thì ở đối tượng, lĩnh vực, mức độ nào.

    Cùng với đó, xác định rõ nguyên nhân từ đâu dẫn đến việc sợ trách nhiệm, không dám làm. Có phải do bản thân nhụt chí, không muốn phấn đấu vươn lên, không có chí tiến thủ, tinh thần cầu tiến? Hay do những vấn đề về thể chế, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước không khuyến khích, bảo vệ được người trẻ dám nghĩ, dám làm? Hoặc do lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa tạo được môi trường làm việc công khai, minh bạch, khách quan, công bằng? Hay vì thủ trưởng, cấp trên chỉ đạo theo kiểu áp đặt, mệnh lệnh buộc phải làm không vì cái chung mà vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, cá nhân…

    Tôi nghĩ đây là cơ hội để giúp các bạn trẻ nhận diện, tiếp xúc rõ hơn với đánh giá của Tổng bí thư khi nói về bệnh “sợ trách nhiệm”. Từ đó người trẻ khẳng định được sự năng động, dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vươn lên.

    * Có ý kiến cho rằng công cuộc phòng, chống tham nhũng vừa qua quá mạnh mẽ cũng gây tâm lý lo ngại cho nhiều người sợ làm sai và phải chịu trách nhiệm. Ông nghĩ sao về điều này?

    – Tôi khẳng định chống tham nhũng, tiêu cực mạnh mẽ, quyết liệt, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm không phải là nguyên nhân gây ra tâm lý sợ sai, không dám làm. Chỉ khi làm sai, có hành vi tham nhũng, tiêu cực gây ra hậu quả mới bị xem xét xử lý, còn làm đúng, làm vì cái chung sẽ được khuyến khích, bảo vệ.

    Có thể có trường hợp nêu trên nhưng là do cán bộ không hiểu, không nắm vững quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và năng lực hạn chế nên sợ sai, ngại không dám làm. Những người như vậy không nên giữ những vị trí, chức trách quan trọng mà cần nhường chỗ cho người xứng đáng đảm nhận.

    Cạnh đó, một phần nguyên nhân còn do các quy định của pháp luật còn chồng chéo, chưa rõ ràng, hiểu thế nào cũng được, dẫn đến cán bộ khó thực hiện. Với những quy định như vậy cần phải rà soát, chỉnh sửa sớm, không thể để những người làm đúng trách nhiệm, vì lợi ích chung của đất nước, của nhân dân lại bị xử lý.

    Tuổi Trẻ là tờ báo uy tín, được bạn đọc trẻ rất quan tâm. Nhiều thông tin, định hướng của báo được người trẻ đón nhận tích cực. Do đó, việc báo cùng phối hợp tổ chức tọa đàm này gắn với việc quán triệt tư tưởng, tinh thần của Tổng bí thư về phòng, chống tham nhũng là rất quan trọng. Điều này truyền thêm sự tự tin, vững vàng, đồng thời nâng cao bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm cho giới trẻ.

    Ông NGUYỄN THÁI HỌC

    Đòi hỏi bản lĩnh người trẻ

    * Qua theo dõi, quan sát, ông có thấy nhiều người trẻ có biểu hiện sợ sai, không dám làm?

    – Đúng là có những người trẻ làm việc cầm chừng, thiếu chí tiến thủ, ngại va chạm. Điều này không phải là tố chất của cán bộ trẻ, cần xem nguyên nhân từ đâu. Có phải do môi trường ở cơ quan, đơn vị, địa phương hay người đứng đầu, tập thể lãnh đạo thiếu quan tâm, thiếu xem xét, cất nhắc, đề bạt, động viên, khen thưởng những người tích cực, luôn làm việc, năng động, sáng tạo?

    Tuy nhiên cán bộ trẻ cũng cần xác định phải luôn luôn phấn đấu, vươn lên, không nề hà, không sợ khó, không sợ khổ. Cán bộ trẻ phải thể hiện bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải kiên quyết đấu tranh. Đồng thời, dù đối mặt với khó khăn, với sự thiếu công bằng, thậm chí là chèn ép càng cần có bản lĩnh để vượt qua.

    Cần xây dựng được môi trường làm việc hết sức bình đẳng để mọi sự cố gắng, phấn đấu vươn lên đều được trân trọng, ghi nhận, mọi hành vi vi phạm đều phải bị xem xét xử lý. Khi có sự công khai, minh bạch, công bằng ở môi trường công tác sẽ tạo ra được ý chí, sự năng động, sáng tạo cho người trẻ.

    Tọa đàm Tọa đàm ‘Người trẻ có sợ trách nhiệm?’

    Ngày 6-4, báo Tuổi Trẻ phối hợp cùng Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự Thật tổ chức tọa đàm “Người trẻ có sợ trách nhiệm” với sự định hướng của Ban Nội chính trung ương.

    The post Để người trẻ dám nghĩ, dám làm, dám vươn lên appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Nhức nhối luận án tiến sĩ: Vai trò quyết định của người hướng dẫn https://evbn.org/nhuc-nhoi-luan-an-tien-si-vai-tro-quyet-dinh-cua-nguoi-huong-dan-1680772913/ Thu, 06 Apr 2023 09:21:54 +0000 https://evbn.org/nhuc-nhoi-luan-an-tien-si-vai-tro-quyet-dinh-cua-nguoi-huong-dan-1680772913/ Niềm vui sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ của một nghiên cứu sinh (thứ hai từ trái sang) tại Trường ĐH Kỹ thuật...

    The post Nhức nhối luận án tiến sĩ: Vai trò quyết định của người hướng dẫn appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Nhức nhối luận án tiến sĩ: Vai trò quyết định của người hướng dẫn - Ảnh 1.

    Niềm vui sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ của một nghiên cứu sinh (thứ hai từ trái sang) tại Trường ĐH Kỹ thuật Dresden, Đức, bên cạnh giáo sư hướng dẫn (thứ ba từ trái sang) – Ảnh: TUD

    Để giữ uy tín của mình, giáo sư sẽ ít khi chấp nhận một đề tài nghiên cứu chất lượng thấp.

    Mục tiêu đào tạo tiến sĩ

    Đào tạo tiến sĩ (TS) là hệ đào tạo cao nhất trong các bậc đào tạo hàn lâm. Mục tiêu của đào tạo TS là đào tạo ra một người có kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó. Sau khi làm TS, người đó có khả năng làm nghiên cứu độc lập, có khả năng xuất bản và trao đổi thông tin khoa học đạt tiêu chuẩn cao và hiệu quả.

    Người có khả năng làm nghiên cứu độc lập nghĩa là đọc hiểu được các vấn đề chuyên sâu của lĩnh vực mình theo đuổi, biết đặt ra những giả thiết, vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa, biết cách tìm lời giải, biết sử dụng những phương pháp nghiên cứu phù hợp với giả thiết, biết cách diễn giải và phản biện phù hợp với kết quả nghiên cứu.

    TS phải là người có khả năng xuất bản và trao đổi thông tin khoa học hiệu quả, phải biết viết và xuất bản các công trình khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế trên các tạp chí khoa học chính thống. Ngoài ra, những người làm TS phải biết trình bày các công trình nghiên cứu và biết cách trao đổi, thảo luận, phản biện khoa học với các cộng đồng khoa học.

    Nhìn vào các mục tiêu trên, chúng ta có thể thấy hai phần chính của đào tạo TS là đào tạo nghiên cứu và đào tạo kỹ năng. 

    Phần chính và quan trọng nhất trong đào tạo TS chính là công trình nghiên cứu. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra các tri thức mới và có ý nghĩa. Nếu là nghiên cứu cơ bản thì mục tiêu là khám phá ra những hiểu biết, những tri thức khoa học mới mẻ, nghĩa là chưa từng được khám phá trước đây. 

    Trong nghiên cứu cơ bản thì đó có thể là các kiến thức khoa học, các phương pháp khoa học mới có thể dẫn đến, tạo ra hoặc ứng dụng được trên các sản phẩm. Như vậy, có thể thấy các bài dạng tổng hợp, tổng kết, đánh giá và các đề xuất thì không phải là các công trình khoa học.

    Uy tín học thuật

    Để thực hiện được các công trình nghiên cứu khoa học chất lượng thì các nghiên cứu sinh (NCS) thường được hướng dẫn bởi một người hướng dẫn chính và 2 -3 hướng dẫn phụ, thường là các giáo sư (GS) có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu trong cùng một nhóm chuyên ngành.

    NCS phải tham gia các khóa học, các seminar chuyên môn cũng như kỹ năng, các hội thảo khoa học lớn. Để có khả năng viết và xuất bản các bài báo khoa học thì các NCS phải tự viết các công trình nghiên cứu của mình theo tiêu chuẩn khoa học đã được quy định, phải biết nhận dạng các tạp chí khoa học chính thống và uy tín, phải biết cách trao đổi khoa học với các phản biện viên và tạp chí.

    Các chương trình đào tạo TS tại châu Âu và Mỹ thường kéo dài trong 3 đến 5 năm, chương trình đào tạo tập trung và liên tục tại các viện nghiên cứu và trường đại học. Các NCS làm nghiên cứu toàn thời gian nên họ được trả lương hoặc học bổng để đảm bảo cuộc sống trong suốt quá trình làm nghiên cứu.

    Tuy nhiên, cũng có một số ít NCS làm nghiên cứu bán thời gian, tức là họ đang làm việc ở một nơi khác nhưng vẫn vừa làm nghiên cứu TS, họ được phép làm nghiên cứu tại các cơ sở đủ tiêu chuẩn làm nghiên cứu ngoài trường đại học. Những trường hợp này cũng phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về chất lượng công trình khoa học và các kỹ năng khoa học khác.

    Chất lượng đào tạo TS ảnh hưởng lớn đến uy tín của các viện nghiên cứu và trường đại học, do vậy các hội đồng khoa học và hội đồng hướng dẫn thường chú trọng rất nhiều vào các công trình nghiên cứu và các khóa đào tạo kỹ năng cho NCS. Đặc biệt, người hướng dẫn có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của luận án tiến sĩ, đến mức dường như nhà trường hay các hội đồng ít khi phải “đau đầu” với bài toán chất lượng nghiên cứu.

    Thu hồi bằng tiến sĩ

    Nhà trường và các hội đồng thường chỉ phải vào cuộc đối với các vụ nghi ngờ có “đạo văn”. Với những công trình nghiên cứu đã hoàn thành, các NCS đã được cấp bằng TS, nhưng một khi nhà trường hay bất kỳ một hội đồng độc lập nào đấy phát hiện ra rằng công trình đó vi phạm về chất lượng hay đạo đức như “đạo văn” thì bằng TS đã được cấp vẫn có thể bị rút lại.

    Có thể kể ra đây một vài ví dụ về các nhân vật nổi tiếng tại Đức đã bị rút bằng TS vì những vi phạm trong nghiên cứu như cựu bộ trưởng quốc phòng Đức Karl-Theodor zu Guttenberg (bị rút bằng TS năm 2011), bà Annette Schavan – cựu bộ trưởng đào tạo và khoa học liên bang (bị rút lại bằng TS năm 2013).

    ‘Nhức nhối luận án tiến sĩ’: Tâm lý sính bằng cấp trong mắt nhà quản lý

    TTO – Thật không ổn khi những người đang làm việc ở các cơ quan công quyền, các tổ chức chính trị – xã hội đổ xô đi học để có được học vị tiến sĩ.

    The post Nhức nhối luận án tiến sĩ: Vai trò quyết định của người hướng dẫn appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Chúng tôi cùng Tuổi Trẻ làm báo và những kỳ vọng trẻ – Tuổi Trẻ Online https://evbn.org/chung-toi-cung-tuoi-tre-lam-bao-va-nhung-ky-vong-tre-tuoi-tre-online-1680772908/ Thu, 06 Apr 2023 09:21:49 +0000 https://evbn.org/chung-toi-cung-tuoi-tre-lam-bao-va-nhung-ky-vong-tre-tuoi-tre-online-1680772908/ Chị Nguyễn Thị Thu Hương chia sẻ tại buổi họp mặt tri ân bạn đọc ngày 26-8 – Ảnh: Thanh Tùng Và ngay trong buổi...

    The post Chúng tôi cùng Tuổi Trẻ làm báo và những kỳ vọng trẻ – Tuổi Trẻ Online appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Chị Nguyễn Thị Thu Hương chia sẻ tại buổi họp mặt tri ân bạn đọc ngày 26-8 - Ảnh: Thanh Tùng

    Chị Nguyễn Thị Thu Hương chia sẻ tại buổi họp mặt tri ân bạn đọc ngày 26-8 – Ảnh: Thanh Tùng

    Và ngay trong buổi họp mặt với mục đích tri ân bạn đọc được tổ chức sau đó, những đòi hỏi của bạn đọc với Tuổi Trẻ lập tức được đưa ra.

    Tôi yêu cầu…

    “Cậu bé xương thủy tinh” Đỗ Minh Hội, hôm nay vóc dáng vẫn còn thấp bé nhưng đã là sinh viên năm cuối, với những suy nghĩ thật chín chắn: “Tôi nghĩ mỗi bài báo ngoài việc phản ánh sự việc cần phải có thêm nhiều ý kiến của người quản lý, lãnh đạo. Với quyền hạn, chức năng của mình, nhà báo hãy tăng cường chất vấn để có giải pháp thật cụ thể cho mỗi vấn đề, thời hạn cụ thể để giải quyết. Có vậy, đọc báo, ngoài việc động lòng trắc ẩn, bạn đọc mới thấy… đã”.

    Chị Nguyễn Thị Thu Hương, mẹ của Hội, góp những lời chân thành mà thẳng thắn: “Tuổi Trẻ nên biết thêm rằng trên cương vị độc giả, nuôi dưỡng và duy trì một lòng yêu với báo chí thật sự là rất khó. Khó mà yêu mãi được nếu người yêu của mình cứ mỗi ngày mỗi nhạt. Thêm vào đó, những người cung cấp tin tức cho báo chí đôi khi lại cũng vì thế mà gặp phải những khó khăn, rắc rối. Tôi mong Tuổi Trẻ mỗi ngày mỗi mạnh mẽ với cái xấu, mỗi ngày mỗi tử tế với cái tốt, giữ tương tác với bạn đọc thường xuyên”.

    Là một độc giả của Tuổi Trẻ từ đầu thập niên 1980, ông Thiều Văn Thọ kể một truyền thống trong gia đình mình là quây quần sau bữa cơm tối và… điểm báo Tuổi Trẻ, đọc bài báo hay thì cùng vui, gặp bài chưa tới lại cùng bực bội.

    Ông Thọ yêu cầu: “Những năm trước đây, qua theo dõi tôi thấy các cơ quan quản lý tiếp thu góp ý của báo chí rất tốt. Gần đây, sức ỳ của xã hội hình như lớn hơn, góp ý của báo có khi rơi vào hư không, các đề tài không đi được đến cùng, thành ra bí bách, sáo mòn… Tôi mong Tuổi Trẻ thoát ra được điều đó.

    “Báo hãy mở thêm chuyên mục Kính thưa Thủ tướng để đăng ý kiến của người dân về những vấn đề nóng của đất nước, và theo dõi sự phản hồi. Hãy làm nóng trang báo hơn bằng dũng khí của mình để giải tỏa sức ỳ của xã hội, thúc bách từ các quan chức đến những em thiếu nhi để sống tích cực hơn, có trách nhiệm hơn với sự phát triển bền vững của đất nước này” là những gợi ý của ông Thọ.

    Thầy giáo Nguyễn Hữu Nhân (đến từ Sa Đéc, Đồng Tháp) bày tỏ nỗi băn khoăn: “Năm nào trên Tuổi Trẻ cũng nóng những tin tức về kỳ tuyển sinh đại học, nhưng câu chuyện các cử nhân ra trường rồi thất nghiệp càng cần làm nóng hơn”.

    Và thầy Nhân “đặt hàng”: Báo Tuổi Trẻ hãy viết về sự bất cập, mâu thuẫn giữa sử dụng lao động trong ngành sư phạm. Hãy đặt câu hỏi: Bao giờ mới có cải cách thật sự trong giáo dục để học sinh giỏi dám theo nghề dạy học, để giáo viên trẻ có trình độ, am hiểu công nghệ, tâm huyết có thể đến được với học sinh?

    “Viết đi, đừng đợi”

    Những đòi hỏi khiến cho không khí buổi họp mặt nóng lên lập tức. Sôi nổi và sẵn lòng “xăn tay áo” vào việc, chị Đỗ Huỳnh Hoa góp ý không chỉ cho báo Tuổi Trẻ mà cho cả những bạn đọc: “Tôi đã theo dõi Tuổi Trẻ trong nhiều năm. Mỗi lần đọc một bài báo giàu sức chiến đấu, cả người nóng lên, lòng yêu nước như rừng rực. Mỗi lần đọc một bài báo cúi xuống với từng thân phận con người, tôi nghe lòng rưng rưng, bồi hồi, quay về những ngày khó khăn thơ bé.” 

    Chị Hoa chia sẻ “Cầm tờ báo tôi cuốn theo từng câu chữ, từng cảm xúc của người viết. Vì vậy, với tư cách một bạn đọc, cộng tác viên có trách nhiệm, tôi nghĩ chỉ đơn thuần đòi hỏi báo mạnh mẽ lên, đừng nhạt đi là không đủ. Hãy thông cảm cho những khó khăn của Tuổi Trẻ và đóng góp cho Tuổi Trẻ bằng chính những bài viết của mình. Với tính kế thừa mạnh mẽ của mình, bản sắc của Tuổi Trẻ sẽ không mất đi đâu, đừng quá lo”…

    Chị Nguyễn Thị Hạnh cũng đồng ý: “Là bạn đọc, tôi rất thông cảm và hiểu những thăng trầm mà Tuổi Trẻ đã trải qua. Xã hội bây giờ quá nhiều chuyện để nói, nhưng chỉ nói thôi thì không thay đổi được. Chúng ta cùng lên tiếng với Tuổi Trẻ để có những bài báo tích cực hơn. Là cộng tác viên, nếu muốn đọc báo phản ánh bức xúc của mình, hãy viết trước đi, đừng đợi…”.

    Trẻ nhất trong số khách mời, Triệu Ngọc Diệp khiến mọi người ngạc nhiên khi tiết lộ cô mới 23 tuổi nhưng đã cộng tác với Tuổi Trẻ được chín năm, bắt đầu từ một bài báo về lần đầu tiên cô bé 14 tuổi được cha mẹ cho phép xem World Cup.

    “Từ đó tôi viết bài cho Tuổi Trẻ như một cách học. Tôi lớn lên cùng với Tuổi Trẻ, và tự hào thấy tiếng nói, suy nghĩ của mình được lắng nghe, được ghi nhận. Tôi mong những diễn đàn trên Tuổi Trẻ sẽ được mở thường xuyên hơn để có chỗ cho người trẻ chúng tôi…” – Ngọc Diệp bày tỏ.

    Chị Ngô Thị Thu An (ủy viên ban biên tập báo Tuổi Trẻ):

    Luôn là tờ báo hướng thiện, tử tế

    “Chúng tôi hiểu rằng để giữ được tình yêu, niềm tin và đáp ứng kỳ vọng của bạn đọc rất khó nhưng chúng tôi luôn cố gắng. Xem báo, mọi người sẽ thấy Tuổi Trẻ luôn cải tiến, luôn làm mới và gìn giữ bản sắc của mình.” 

    “Có những lúc chúng tôi chưa làm được, có bài báo chưa hay, còn sai sót, có chương trình chưa chỉn chu, nhưng chúng tôi cam kết Tuổi Trẻ luôn là một tờ báo hướng thiện, tử tế… Viết về cái xấu để chiến đấu với nó, viết về cái tốt cũng là để điều xấu bớt đi. Tất cả là vì những điều tốt đẹp trên cuộc đời này.”

    Một diễn đàn đa chiều, một định chế tham khảo

    Bạn đọc Lan Hương góp ý cải tiến báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần  Ảnh: Thanh Tùng

    Bạn đọc Lan Hương góp ý cải tiến báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần – Ảnh: Thanh Tùng

    “Tôi không đồng ý với cách các báo đưa về cách xét tuyển đại học năm nay. Chẳng qua là trước kia tất cả những diễn biến được dư luận cho là như “thị trường chứng khoán” này diễn ra trong phòng kín, ít ai biết để có ý kiến. Còn nay khi nó hiện lên trên bảng điện tử trước bàn dân thiên hạ, tức nó công khai, như ta mong muốn thì dường như lại vượt sức chịu đựng của chúng ta”.

    Ý kiến của nhà báo Lưu Vĩ Lân đã làm cuộc họp cộng tác viên thân tín của Tuổi Trẻ Cuối Tuần ngày 21-8 nóng lên. Nóng không phải vì nghĩa đen của ý kiến, mà vì nhà báo đã gián tiếp nhắc đến một tiêu chí Tuổi Trẻ Cuối Tuần nhiều năm đeo đuổi: đưa những tiếng nói đa chiều, nhiều giọng để góp phần cho những giải pháp tích hợp được nhiều chất xám nhất của xã hội.

    Xuyên suốt cuộc trao đổi, các cộng tác viên Tuổi Trẻ Cuối Tuần đã thảo luận về những khó khăn của nghề báo hiện nay, làm cách nào để tiếng nói đa chiều đó không phải là “chiều theo ý kiến của số đông độc giả” mà phải là “báo chí dự báo” (nhà báo Nguyễn Vạn Phú), báo chí phản biện nhưng phải có tính hướng dẫn, không chỉ thông tin mà còn “thuyết phục” (giáo sư Nguyễn Văn Tuấn – Úc), và các ý kiến lẫn phản biện phải trên cùng một nền tảng dữ liệu (TS Phạm Thị Ly).

    Cuộc gặp mặt cũng đã xoay quanh những thách thức của báo in nói riêng và báo chí nói chung thời bùng nổ công nghệ thông tin và mạng xã hội, như nhận định của chuyên gia công nghệ thông tin Vũ Thái Hà: “Nếu trước đây người ta không biết và tìm đến báo chí để biết thông tin, thì nay khi người ta biết hết nhờ mạng xã hội, người ta sẽ đọc báo để tìm thêm những phân tích, lý giải”.

    Tuy nhiên, việc xây dựng những phương án kỹ thuật và phiên bản điện tử vẫn là điều Tuổi Trẻ và Tuổi Trẻ Cuối Tuần cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa. Những chuyên mục mới đáp ứng với nhu cầu thời đại cũng được các chuyên gia đề nghị mở, như các vấn đề khoa học, môi trường, biến đổi khí hậu…

    Đi cùng Tuổi Trẻ nói chung và Tuổi Trẻ Cuối Tuần nói riêng qua nhiều năm tháng, các cộng tác viên đã động viên tờ báo hãy tiếp tục là một kênh tham khảo và tiếng nói của giới trí thức. Các ý kiến đã xoay quanh việc sao cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần không chỉ là tờ báo phản ánh những trăn trở và tìm kiếm những giải pháp xã hội tốt đẹp, mà còn vì “sau khi tất cả những khó khăn, bồng bột nhất thời qua đi, người ta cần đọc điều đọng lại” (cộng tác viên Lan Hương).

    Những chuyên mục nhẹ nhàng hơn nhưng mang tính gia đình, giáo dục như Nhật ký thành phố, Câu chuyện cuộc sống… được các cộng tác viên khuyến khích phát huy. Tư vấn viên học đường Bảo Nhi cho biết một số bài trong chuyên mục Câu chuyện cuộc sống đã được các thầy cô sử dụng như một tư liệu tham khảo trong việc tiếp cận giới trẻ và giảng dạy.

    Những kỳ vọng đã được đặt ra. Không chỉ duy trì được các tờ báo in trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của mạng xã hội và truyền thông đa phương tiện, những người cùng Tuổi Trẻ Cuối Tuần làm báo nhiều năm tháng qua còn hi vọng tờ báo sẽ tiếp tục làm thay đổi suy nghĩ của nhiều người, trở thành một định chế tham khảo cho tất cả những ai quan tâm.

    TTCT

    The post Chúng tôi cùng Tuổi Trẻ làm báo và những kỳ vọng trẻ – Tuổi Trẻ Online appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh thông qua dạy học chủ đề phương trình – hệ phương trình https://evbn.org/skkn-phat-trien-nang-luc-giai-quyet-van-de-thuc-tien-cho-hoc-sinh-thong-qua-day-hoc-chu-de-phuong-trinh-he-phuong-trinh-1680772903/ Thu, 06 Apr 2023 09:21:45 +0000 https://evbn.org/skkn-phat-trien-nang-luc-giai-quyet-van-de-thuc-tien-cho-hoc-sinh-thong-qua-day-hoc-chu-de-phuong-trinh-he-phuong-trinh-1680772903/ Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu “SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh thông qua...

    The post SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh thông qua dạy học chủ đề phương trình – hệ phương trình appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu “SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh thông qua dạy học chủ đề phương trình – hệ phương trình”, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

     hoặc cách giải bài 
    toán trên. 
    Tóm lại bài toán này được chọn lựa và sử dụng cách trên là nhằm góp phần 
    phát triển các thành tố: NL hiểu được vấn đề, thu nhận được thông tin từ tình huống 
    thực tiễn; NL chuyển đổi thông tin từ tình huống TT về mô hình TH; NL tìm kiếm 
    chiến lược giải quyết mô hình TH; NL thực hiện chiến lược để tìm ra kết quả; NL 
    chuyển từ kết quả giải quyết mô hình TH sang lời giải của BTCTHTT 
    3.3.4. Giáo viên hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu và sưu tầm các ứng dụng 
    của chủ đề phương trình – hệ phương trinh để chuyển những tình huống thực 
    tiễn khi học các bộ môn khoa học khác trong trường phổ thông thành các bài 
    toán chứa tình huống thực tiễn. 
    Ví dụ 19. Người ta trộn 8 g chất lỏng này với 6 g chất lỏng khác có khối 
    lượng riêng lớn hơn nó là 30,2 /g cm để được hỗn hợp có khối lượng riêng 
    30,7 /g cm . Tìm khối lượng riêng của mỗi chất lỏng. 
    Ví dụ 20. Người ta pha 3kg nước nóng ở nhiệt độ 090 C và 2kg nước lạnh ở 
    nhiệt độ 020 C . Hỏi nhiệt độ nước sau khi pha là bao nhiêu. 
    Ví dụ 21. Vào thế kỷ III trước công nguyên, vua xứ Xi-ra-cut giao cho Ac-si-
    met kiểm tra chiếc mũ bằng vàng của nhà vua có bị pha thêm bạc hay không. Chiếc 
    36 
    mũ có trọng lượng 5 (niuton) (theo đơn vị hiện nay), nhúng trong nước thì trọng 
    lượng giảm 0,3(niuton). Biết rằng khi cân trong nước, vàng giảm 1
    20
     trọng lượng, 
    bạc giảm 1
    10
     trọng lượng. Hỏi chiếc mũ chứa bao nhiêu gam vàng, bao nhiêu gam 
    bạc? 
    Khi khai thác và sử dụng các bài toán dạng trên giúp học sinh nắm rõ hơn sự 
    liên kết giữa các môn học trong chương trình, thể hiện vai trò của toán học trong các 
    bộ môn khoa học tự nhiên, thấy rõ được các tình huống thực tiễn có thể xuất hiện 
    trong các môn học này, qua đúng cũng giúp cho học sinh tự tin hơn khi học các môn 
    học này nhằm phát triển tốt năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn. 
    a) Mục đích và ý nghĩa của biện pháp: 
    Đây cũng là một biểu hiện cụ thể của quan niệm DH tích cực, phát huy tối đa 
    vai trò chủ thể của HS trong học tập. HS chủ động trong mọi hình thức, mỗi hành 
    động cụ thể. Thêm nữa, HS hoàn toàn có khả năng thực hiện việc này (chủ yếu là 
    sưu tầm song không hạn chế khả năng “chế biến”, “sáng tác” của các em để có được 
    càngnhiều bài toán chứa tình huống thực tiễn thuộc càng nhiều lĩnh vực thì càng tốt). 
    Ứng dụng của toán học mà HS có thể trực tiếp nhận và phải tìm hiểu, giải quyết 
    trước hết là qua nội dung học tập nói chung và đặc biệt là các bộ môn có liên quan 
    chặt chẽ với toán học (các môn khoa học tự nhiên), góp phần thực hiện nguyên tắc 
    liên môn trong DH. 
    Ngoài việc sưu tầm các bài tập ở các môn học khác đòi hỏi phải sử dụng công 
    cụ TH để giải quyết thì cần tạo cho HS khả năng tự mình khai thác các bài toán chứa 
    tình huống thực tiễn thuộc các lĩnh vực của cuộc sống. 
    b) Cách thức thực hiện biện pháp: 
    Nhằm tạo cơ hội để HS có thể sưu tầm, khai thác các bài toán chứa tình huống 
    thực tiễn nói chung thì các yêu cầu sau có thể xem là điều kiện cần: 
    Thứ nhất, người học phải có vốn kiến thức toán học cần thiết 
    Thứ hai, người học cần phải có vốn hiểu biết thực thiễn ở mức độ phù hợp với 
    lứa tuổi và trình độ trải nghiệm, có vốn ngôn ngữ tự nhiên, có khả năng chuyển đổi 
    sang ngôn ngữ toán học hoặc ngược lại nói chung. 
    37 
    Thứ ba, người học phải nhận ra được kiến thức toán học tiềm ẩn trong tình 
    huống thực tiễn nói chung và tình huống của môn học nói riêng. Biết liên kết kiến 
    thức toán học với kiến thức trong thực tiễn trong các môn học khác, với các trải 
    nghiệm của bản thân trong cuộc sống. 
    Dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một trong những cách dạy nhằm phát 
    triển được năng lực của học sinh đạt kết quả cao. Để học sinh chủ động, cùng nhau 
    trao đổi, tìm hiểu, phát huy được tối đa vai trò của học sinh trong bài học, học sinh 
    hoàn toàn có khả năng thực hiện được việc này. Qua nhiều trải nghiệm thực tế, khi 
    giáo viên hướng dẫn chi tiết nhiệm vụ và để học sinh tụ cùng nhau làm việc sẽ đem 
    lại hiệu quả và kiến thức học sinh ghi nhớ lại được rất nhiều. Trong biện pháp này 
    giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh khai thác những bài toán có ứng dụng cuộc sống 
    gắn với nội dung phương trình – hệ phương trình trong cuộc sống và các bài toán 
    ứng dụng kiến thức môn Toán chủ đề phương trình – hệ phương trình để giải các bài 
    tập trong các bộ môn học khác. Với công việc đó học sinh phải xây dựng được bài 
    tập, phải hình dung được kiến thức để xử lý những tình huống, bài tập đó như thế 
    nào, từ đó học sinh hình thành nên cho mình những năng lực, sáng tạo, sự phản ứng 
    nhạy bén khi làm và giải các bài tập thực tiễn trong lý thuyết cũng như ngoài cuộc 
    sống. 
    3.3.5. Sử dụng bài toán chứa tình huống thực tiễn trong hoạt động thực 
    hành, hoạt động ngoại khóa Toán học cho học sinh. 
    a) Mục đích và ý nghĩa của biện pháp: 
    Đây là những hoạt động nhằm giúp HS kết nối trực tiếp được TH với TT qua 
    học tập. Đó chính là cơ hội để HS thực hành các kiến thức lý thuyết TH, áp dụng 
    kiến thức vào giải quyết các vấn đề TT. Điều này cũng giúp HS thấy được ý nghĩa 
    và giá trị của kiến thức toán trong ứng dụng để từ đó góp phần thúc đẩy mạnh động 
    cơ trong học tập môn Toán. Sự cần thiết của việc thực hành toán được khẳng định 
    trong hướng dẫn về PPDH theo chương trình tập huấn thay SGK của Bộ Giáo dục 
    và Đào tạo: “Việc chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành TH để đảm 
    bảo yêu cầu rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức TH vào TT, nâng cao 
    hứng thú cho người học”.“Đảm bảo việc đánh giá một cách toàn diện, không thiên 
    về trí nhớ hoặc lí thuyết; phải chú ý đánh giá trình độ phát triển tư duy TH, NL sáng 
    tạo trong khi học và giải toán, khả năng thực hành, ứng dụng vào các tình huống, 
    đặc biệt là tình huống thực tế...”. 
    38 
    Học kết hợp với hành không phải là điều gì mới mẻ về mặt lý luận mà thực sự 
    đã trở thành nguyên lý được cả thế giới thừa nhận từ lâu nay. Song ở đây muốn nhấn 
    mạnh thêm đến tác dụng tích cực của hoạt động thực hành đối với việc góp phần tạo 
    nên sự thay đổi tích cực đối với NLGQVĐTT một sự kết hợp hiệu quả (nếu tổ chức 
    tốt) giữa suy nghĩ và hành động, thao tác, tay chân, giữa lý thuyết và thực tiễn. 
    Ngoài việc đảm bảo và tăng cường hoạt động thực hành Toán học thì các hình 
    thức ngoại khóa Toán học cũng có ý nghĩa tích cực trong việc khai thác các bài toán 
    chứa tình huống thực tiễn. Nếu được tổ chức tốt, khêu gợi được hứng thú và nhiệt 
    tình tham gia một cách tự nguyện của các thành viên thì các hoạt động như các câu 
    lạc bộ Toán học, nhóm sưu tầm, tập san Toán học,... chắc chắn sẽ có được rất nhiều 
    bài toán chứa tình huống thực tiễn phong phú đa dạng và cách giải chúng cũng phong 
    phú không kém. Đó là nguồn bài tập rất có giá trị đối với việc dạy và học toán. Từ 
    nhiều thập kỷ của thế kỷ trước giáo dục Toán học nước ta đã cố gắng đảm bảo các 
    hoạt động trên (thực hành, ngoại khóa) và đạt được kết quả tốt. Tuy nhiên, do hoàn 
    cảnh chiến tranh và đặc biệt là do áp lực của các kỳ thi đại học mà đề thi chỉ bao 
    gồm các bài toán lý thuyết cùng với một số lý do khác mà thực hành, ngoại khóa 
    Toán học đã bị coi nhẹ, thậm chí đã bị loại bỏ khỏi kế hoạch dạy học toán ở nhiều 
    trường. Đã đến lúc phải đưa hoạt động thực hành, ngoại khóa trở về đúng vị trí và ý 
    nghĩa của chúng. 
    b) Cách thức thực hiện biện pháp: 
    - Tổ chức hoạt động ngoại khóa: 
    Giáo viên có thể tổ chức ngoại khóa bằng cách: Nghiên cứu, làm bài tập lớn; 
    Điều tra, khảo sát; Làm báo Toán học (chú trọng thực tiễn); Giao lưu Toán học; Tổ 
    chức thăm quan các cơ sở sản xuất có ứng dụng Toán học mà có thể tham quan được. 
    - Tổ chức hoạt động thực hành: 
    + Trước hết là đảm bảo tốt việc dạy các giờ thực hành được quy định, đồng thời 
    tìm kiếm thêm các cơ hội thực hành từ các chủ đề Toán học. Khi thực hành có thể 
    tổ chức thực hành trong lớp học và thực hành ngoài lớp học. 
    Ví dụ 22: Cho học sinh thực hành đo chiều sâu của giếng cạn nước trong nhà 
    trường. 
    39 
    Cho một học sinh thực hiện thả một viên đá rơi xuống cái giếng trong khuôn 
    viên nhà trường. Một học sinh khác thực hiện đo thời gian để viên đá chạm đáy giếng 
    Sau 1,5 giây thì nghe thấy tiếng đá chạm đáy giếng. 
    Giáo viên yêu cầu: Xác định thời gian rơi của viên đá (làm tròn đến 0,1 giây) 
    và chiều sâu của cái giếng (làm tròn đến mét) sau khi cung cấp cho học sinh các 
    công thức: quãng đường S (mét) của vật rơi tự do (không có vận tốc đầu) sau t giây 
    được tính theo công thức 25S t và vận tốc của âm thanh là 340m/s. 
    Học sinh thảo luận tìm cách giải quyết vấn đề thầy vừa nêu. Giáo viên theo dõi 
    các nhóm học sinh thực hiện. 
    Hướng dẫn giải: Gọi thời gian rơi của hòn đá từ miệng giếng đến đáy giếng là 
    t (0 1,5t  giây) 
     Thời gian âm thanh truyền từ đáy giếng đến 
    miệng giếng là 1,5 t (giây). Quãng đường mà hòn 
    đá rơi được: 21 5S t . Quãng đường mà âm thanh 
    truyền được:  2 340. 1,5S t  . 
    Vì quãng đường mà hòn đá rơi được bằng 
    quãng đường mà âm thanh truyền được (chính là 
    khoảng cách từ miệng giếng đến đáy giếng), nên ta 
    có phương trình: 1 2S S 
     2
    2
    5 340. 1.5
    68 102 0
    34 1258 1,47
    34 1258 69,47
    t t
    t t
    t
    t
      
       
       
     
       
    
    
    Vậy: Thời gian rơi của hòn đá từ miệng giếng 
    đến đáy giếng là: 1,46t  (giây). Độ sâu của cái giếng là: 25.(1,47) 10.80S   (mét) 
    + Thực hành trong lớp học (làm các bài tập có ý nghĩa thực hành). Với hình 
    thức này, giáo viên có thể đặt ra các tình huống liên quan đến thực tiễn dưới dạng 
    bài tập (ở các bước củng cố và luyện tập, các bài tập này có thể không có ở trong 
    SGK). Để thu hút học sinh tham gia và đưa ra các bài tập có ý nghĩa thì các bài tập 
    cần gắn với các tình huống cụ thể, hiện tượng cụ thể trong thực tiễn. 
    40 
    Ví dụ 23. Trên một vùng biển được xem như bằng phẳng và không có chướng 
    ngại vật. Vào lúc 6h có một tàu cá đi thẳng qua tọa độ Z theo hướng Nam – Bắc 
    với vận tốc không đổi. Đến 7h một tàu du lịch cũng đi thẳng qua tọa độ Z nhưng 
    theo hướng Đông – Tây với vận tốc lớn hơn vận tốc tàu cá 12 /km h . Đến 8h khoảng 
    cách hai tàu là 60km . Tính vận tốc mỗi tàu. 
     Giải. Gọi vận tốc của tàu đánh cá là: x ( 0x  , km/h). 
    Vận tốc của tàu du 
    lịch là: 12x  (km/h). 
    Quãng đường OA 
    mà tàu đánh cá đi được 
    sau  8 6 2At h   là 
     . 2A AOA v t x km  
    Quãng đường OB 
    mà tàu du lịch đi được sau  8 7 1Bt h   là   . 1 12B BOB v t x km   . 
    Đến 8h khoảng cách hai tàu là 60km 60AB km 
    Xét tam giác vuông OAB vuông tại O , áp dụng định lý pitago ta có: 
    2 2 2AB OA OB  
       2 22
    2
    60 2 12
    5 24 3456 0
    24
    28,4
    x x
    x x
    x
    x
       
       
       
    Vậy vận tốc cùa tàu đánh cá là  24 /km h , của tàu du lịch là  36 /km h . 
     Các hoạt động thực hành trong lớp và ngoài lớp học cần được giáo viên triển 
    khai vào thời gian thích hợp theo phân phối chương trình ngay từ đầu năm học; có 
    thể bố trí các giờ học tự chọn là các hoạt động này. Ngoài ra, giáo viên có thể bổ 
    sung hoạt động thực hành ngoài lớp học và các hoạt động ngoại khóa. 
    3.3.6. Đổi mới, lựa chọn phương pháp dạy học nhằm nâng cao năng lực 
    giải quyết vấn đề trong học tập cho học sinh. 
    41 
    Trong quá trình dạy học chủ đề phương trình – hệ phương trình, giáo viên cần 
    lựa chọn, kết hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau: phương pháp dùng lời 
    (thuyết trình, vấn đáp), phương pháp trực quan (dùng hình ảnh, video,), phương 
    pháp thực hành Việc lựa chọn phương pháp cần phù hợp với nội dung và mục tiêu 
    của bài học. Để nâng cao năng lực giải quyết vấn đề trong học tập cho học sinh, bên 
    cạnh việc kết hợp với các phương pháp dạy học khác, giáo viên cần chú trọng sự 
    dụng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp đàm thoại phát hiện 
    và vận dụng bài tập hợp lý. 
    4. Thực nghiệm. 
    4.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm. 
    Mục đích thực nghiệm sư phạm (TNSP) nhằm đánh giá tính khả thi, hiệu quả 
    của các biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS thông qua 
    dạy học chủ đề Phương trình – hệ phương trình. 
    Việc thực nghiệm sư phạm phải đảm bảo tính khách quan, phù hợp với đối 
    tượng HS, sát với tình hình thực tế dạy học. 
    Đối tượng thực nghiệm là học sinh lớp 10T3 (43 học sinh) và lớp đối chứng là 
    10A2 (40 học sinh). 
    Kết quả kiểm tra giữa kỳ 1 năm học 2020 – 2021 của lớp 10T3 và lớp 10A2 
    được phân tích như sau: 
    Bảng phân bố tần số điểm kiểm tra giữa kì 1 (X) của hai lớp (trước thực nghiệm) 
    X 5 6 7 8 9 10 Tổng số học sinh 
     1 10 3n T 3 4 9 14 10 3 43 
     1 10 2n A 3 3 10 12 9 3 40 
     Với quy ước            0;5 5; 5;6 6; 6;7 7; 7;8 8; 8;9 9; 9;10 10      . 
    Kết quả trung bình 
     Lớp thực nghiệm – 10T3 Lớp đối chứng – 10A2 
    Số học sinh 43 40 
    42 
    Điểm trung bình 7,77 7,75 
    Độ lệch chuẩn 1,63 1,67 
    Điểm thấp nhất 4,4 4,0 
    Điểm cao nhất 10 9,6 
    Nội dung thực nghiệm bao gồm các hoạt động sau: 
    Hoạt động 1: Tiến hành dạy thực nghiệm 1 tiết luyện tập về các bài toán chứa 
    tình huống thực tiễn của chủ đề phương trình – hệ phương trình tại lớp 10T3. 
    Hoạt động 2: Tiến hành kiểm tra năng lực học sinh thông qua bài kiểm tra tự 
    luận cuối chương Phương trình – hệ phương trình để đánh giá tình khả thi và hiệu 
    quả của các biện pháp phát triển năng lực ở mục 3 tại lớp 10T3 và lớp 10A2. 
    4.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm. 
    Kết quả kiểm tra thực nghiệm của lớp 10T3 và lớp 10A2 được phân tích như 
    sau: 
    Bảng phân bố tần số điểm kiểm tra giữa kì 1 (X) của hai lớp (sau thực nghiệm) 
    X 5 6 7 8 9 10 Tổng số học sinh 
     1 10 3n T 1 2 8 16 12 4 43 
     1 10 2n A 2 4 10 11 10 3 40 
     Với quy ước            0;5 5; 5;6 6; 6;7 7; 7;8 8; 8;9 9; 9;10 10      . 
    Kết quả trung bình 
     Lớp thực nghiệm – 10T3 Lớp đối chứng – 10A2 
    Số học sinh 43 40 
    Điểm trung bình 8,11 7,80 
    Độ lệch chuẩn 1,22 1,48 
    Điểm thấp nhất 5,0 4,6 
    Điểm cao nhất 10 9,6 
    43 
    Từ kết quả thực nghiệm trên, ta thấy đối với bài kiểm tra sau thực nghiệm thì 
    điểm trung bình của lớp thực nghiệm cao hơn hẳn so với bài kiểm tra trước thực 
    nghiệm (cao hơn 0,34 điểm), độ lệch chuẩn của bài kiểm tra trước thực nghiệm so 
    với bài kiểm tra sau thực nghiệm (giảm từ 1,63 xuống còn 1,22); điểm trung bình 
    kiểm tra của lớp đối chứng giữa trước thực nghiệm và sau thực nghiệm chỉ tăng 0,05 
    điểm. Điều này chứng tỏ sau thời gian thực nghiệm học sinh lớp thực nghiệm có sự 
    tiến bộ và phát triển đồng đều hơn trước và các biện pháp được trình bày ở 3 là hợp 
    lí, khả thi và phù hợp với học sinh. 
    44 
    PHẦN III. KẾT LUẬN 
    1. Ý nghĩa của sáng kiến. 
    Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn là một trong những 
    mục tiêu quan trong trong dạy học môn Toán ở trường THPT trong giai đoạn hiện 
    nay. Dựa trên những lí luận cơ bản về các khái niệm năng lực, năng lực phát hiện và 
    giải quyết vấn đề.. đề tài đã đề ra được các định hướng cùng với các giải pháp 
    nhằm giúp cho học sinh phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn 
    thông qua việc giảng dạy nội dung chủ để phương trình, hệ phương trình trong 
    chương trình Đại sô lớp 10 – ban cơ bản. Cụ thể như sau 
    Trình bày được các định hướng xây dựng hệ thống bài tập có nội dung thực 
    tế trong dạy học chủ đề phương trình hệ phương trình: 
    a) Thưc hiện khai thác, sử dụng bài toán có nội dung thực tế trong toàn bộ quá 
    trình dạy học chủ đề. 
    b) Hệ thống bài tập được xây dựng trên cơ sở sưu tầm các bài tập ở những lĩnh 
    vực khác nhau của đời sống phù hợp với nội dung dạy học phát triển năng lực 
    phát hiện và giải quyết vấn đề. 
    c) Sử dụng các bài tập chủ đề phương trình – hệ phương trình trong các bộ môn 
    khác, các hoạt động nội khóa và ngoại khóa, lí thuyết và thực hành. 
    d) Phải cố gắng khai thác ưu thế của bài toán phương trình – hệ phương trình 
    trong dạy học tất cả các khâu trên lớp. 
    Đề tài cũng nêu được một số giải cách thức để xây dựng bài toán chứa tình 
    huống thực tiễn trong dạy học chủ đề phương trình – hệ phương trình: 
    a) Sưu tầm bài toán chứa tình huống thực tiễn 
    b) Xây dựng bài toán chứa tình huống thực tiễn mới từ bài toán chứa tình huống 
    thực tiễn có sẵn. 
    c) Xây dựng bài toán chứa tình huống thực tiễn từ bài toán “Toán học thuần túy”. 
    45 
    Từ đó đề tài đã đề ra được bốn biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực 
    phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh thông qua dạy học chủ đề 
    phương trình – hệ phương trình, đó là: 
    a) Dạy cho học sinh hiểu chắc và sâu kiến thức cơ bản về giải phương trình – hệ 
    phương trình có yếu tố thực tế. 
    b) Sử dụng bài toán chứa tình huống thực tiễn trong tất cả các khâu của quá trình 
    dạy học chủ đề phương trình – hệ phương trình. 
    c) Lựa chọn và sử dụng phù hợp những bài toán chứa tình huống thực tiễn chủ 
    đề phương trình – hệ phương trình để rèn luyện những yếu tố của năng lực 
    phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh. 
    d) Giáo viên hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu và sưu tầm các ứng dụng của Toán 
    để chuyển những tình huống thực tiễn khi học các môn khoa học khác thành 
    các bài toán chứa tình huống thực tiễn. 
    e) Sử dụng bài toán chứa tình huống thực tiễn trong hoạt động thực hành, hoạt 
    động ngoại khóa Toán học cho học sinh. 
    f) Đổi mới, lựa chọn phương pháp dạy học nhằm nâng cao năng lực giải quyết 
    vấn đề trong học tập cho học sinh. 
    Quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài tôi cũng đã tiến hành thực nghiệm các 
    giải pháp mình đề xuất ở các lớp mình trực tiếp giảng dạy. kết quả thực nghiệm đã 
    chứng minh được tính khả thi của đề tài. 
    2. Hướng phát triển của đề tài. 
    Chủ đề “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh thông qua 
    dạy học chủ đề phương trình – hệ phương trình” là một chủ đề gần gũi, quan trọng, 
    cần thiết để giáo viên và học sinh vận dụng vào quá trình dạy học qua đó từng bước 
    giúp học sinh phát triển toàn diện các năng lực chung và năng lực cốt lõi của bản 
    thân. 
    Việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn có thể được mở rộng trong 
    các chủ đề khác trong chương trình Toán trung học phổ thông. 
    Với ý nghĩa quan trọng của đề tài và khả năng áp dụng tại trường THPT Hà 
    Huy Tập thì để tài này có thể mở rộng cho các trường THPT khác trong tỉnh và cũng 
    là một tài liệu tham khảo cho các giáo viên Toán phổ thông. 
    46 
    3. Kiến nghị. 
    Để phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn trong dạy học chủ đề phương 
    trình – hệ phương trình nói riêng và chương trình toán THPT nói chung tôi đề xuất 
    một số kiến nghị sau: 
    + Về phía nhà trường cần chuẩn bị về cơ sở vật chất như phòng học trải nghiệm, 
    thực hành, thiết bị để học sinh thực hành, hệ thống công nghệ thông tin. Yêu cầu 
    chuyên môn nhà trường tăng thêm các nội dung thực tiễn trong các bài thi, bài kiểm 
    tra, trong các hoạt động dạy học trong nhà trường 
    + Về phía giáo viên phải không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn, 
    hiểu biết thực tế ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Chủ động trong phương pháp dạy học 
    nhằm phát triển các năng lực cần thiết cho học sinh. Mạnh dạn đưa các tình huống 
    thực tiễn vào các chủ đề dạy học nếu có thể 
     Vinh, ngày 20 tháng 3 năm 2021 
     Hồ Đức Nam 
    47 
    TÀI LIỆU THAM KHẢO 
    [1]. Trần Văn Hạo – Vũ Tuấn – Doãn Minh Cường – Đỗ Mạnh Hùng – 
    Nguyễn Tiến Tài (2019), Đại số 10, Nhà xuất bản giáo dục. 
    [2]. Đoàn Quỳnh – Nguyễn Huy Đoan – Nguyễn Xuân Liêm – Đặng Hùng 
    Thắng – Trần Văn Vuông (2019), Đại số nâng cao 10, Nhà xuất bản giáo dục. 
    [3]. Nguyễn Bá Kim (2002), Phương pháp dạy học môn Toán, Nhà xuất bản 
    Đại học sư phạm. 
    [4]. Đố Đức Thái – Đố Tiến Đạt – Phạm Xuân Chung – Nguyễn Sơn Hà – 
    Phạm Sỹ Nam – Vũ Đình Phượng - Nguyễn Thị Kim Sơn – Vũ Phương Thúy – 
    Trấn Quang Vinh (2018), Dạy học phát triển năng lực môn Toán trung học phổ 
    thông, Nhà xuất bản Đại học sư phạm. 
    [5]. Sở Giáo dục và đào tạo Nghệ An , Đề thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2017 
    – 2018, 2020 – 2021. 
    [6]. Sở Giáo dục và đào tạo Hà Tĩnh, Đề thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2020 – 
    2021. 
    [7]. G. Polya (1997), Giải bài toán như thế nào?. Nhà xuất bản giáo dục. 
    [8]. Trần Vui (2014), Giải quyết vấn đề thực tế trong giải toán. Nhà xuất bản 
    Đại học Huế. 
    

    The post SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh thông qua dạy học chủ đề phương trình – hệ phương trình appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ https://evbn.org/nhieu-van-de-can-lam-sang-to-1680772902/ Thu, 06 Apr 2023 09:21:43 +0000 https://evbn.org/nhieu-van-de-can-lam-sang-to-1680772902/ Phóng toToàn cảnh hội thảo “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử VN” tại Thanh Hóa sáng 18-10 – Ảnh: Việt DũngTT –...

    The post Nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    NZUZXGIm.jpgPhóng toToàn cảnh hội thảo “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử VN” tại Thanh Hóa sáng 18-10 – Ảnh: Việt DũngTT – Dù được tổ chức tại một thành phố nhỏ như Thanh Hóa, hội thảo quốc gia “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử VN” (diễn ra trong hai ngày 18 và 19-10) vẫn thu hút hơn 400 nhà khoa học từ khắp đất nước và cả quốc tế tham dự, đóng góp những nghiên cứu mới nhất.
    Nghe đọc nội dung toàn bài:

    TT – Dù được tổ chức tại một thành phố nhỏ như Thanh Hóa, hội thảo quốc gia “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử VN” (diễn ra trong hai ngày 18 và 19-10) vẫn thu hút hơn 400 nhà khoa học từ khắp đất nước và cả quốc tế tham dự, đóng góp những nghiên cứu mới nhất.

    Có lẽ ban tổ chức hội thảo cũng hơi bất ngờ khi nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học và dư luận xã hội như vậy.

    Tình cảm của hậu thế dành cho những giá trị lịch sử

    Không chỉ có các nhà khoa học mà còn có các nhà chính trị: nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu, phó trưởng Ban tuyên giáo T.Ư Vũ Ngọc Hoàng… và không chỉ là những hậu duệ của các chúa Nguyễn ở cố đô Phú Xuân hay đất phát tích Thanh Hóa, mà còn là hậu duệ của dòng họ Nguyễn ở khắp VN, ở nước ngoài cũng về quê tham dự ngày trọng đại này.

    Một cuộc triển lãm mini đã được diễn ra ngay tại sảnh chính của địa điểm hội thảo. Những hình ảnh của đoàn làm phim Đi tìm dấu tích ba vua (Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân), từ những lăng mộ hoang tàn của vua Thành Thái ở Huế, đến nghĩa trang Ba Đồn – nơi chôn những người dân bị thảm sát vì theo phong trào Cần Vương, sang tận quần đảo Reunion – nơi vị vua yêu nước Duy Tân bị lưu đày… khiến người xem không khỏi xúc động và tự hào.

    Xúc động vì biết được những câu chuyện ngoài sử sách – cha ông ta đã anh dũng lựa chọn sự hi sinh như vậy và đã nhận lấy những bi kịch mà chỉ lịch sử mới minh oan được. Và tự hào vì sau rất nhiều lớp bụi thời gian, cuối cùng con cháu hôm nay cũng tìm được đến tận nơi, cả những góc tận cùng trái đất, bên kia đại dương để nâng niu nắm xương lưu đày của cha ông mang về đất mẹ.

    Ngay trước giờ khai mạc hội thảo, 10 phút trong bộ phim vừa hoàn thành được công chiếu, và tất cả cử tọa đã ngồi lặng trước màn hình khi giọng nhà thơ Nguyễn Duy cất lên: “Thịt da lưu lạc xứ người/Mà linh hồn vẫn ở nơi quê nhà… Bao triều vua phế đi rồi/Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”… Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân… chính là những hậu duệ cuối cùng xứng đáng với những vị tiên hiền – Nguyễn Hoàng đã từ mảnh đất Thanh Hóa ra đi mở mang bờ cõi cũng vào một ngày cuối thu đầu đông như thế này, 450 năm trước.

    Ít có hội thảo khoa học nào diễn ra nghiêm túc mà cảm động như vậy.

    Khách quan, trung thực, công bằng

    Trong lời khai mạc hội thảo, GS sử học Phan Huy Lê – chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN – đã đề xuất những tranh luận về mặt tích cực lẫn hạn chế của vương triều Nguyễn trong tiến trình lịch sử VN cần khách quan, trung thực, công bằng, để hội thảo có thể đi đến những nhận xét toàn diện.

    Do những biến động lịch sử, cách nhìn nhận và đánh giá của hậu thế về vai trò của chúa Nguyễn và triều Nguyễn có rất nhiều thay đổi qua mỗi thời kỳ. Có khi một chiều ngợi ca, có khi phê phán, thậm chí mạt sát. Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu “nhận thức lại lịch sử” đã trở thành nhu cầu của thời đại.

    Nhận thức lại triều Nguyễn – như GS Phan Huy Lê nói trong lời đề dẫn – luôn là một tất yếu, và một quá trình vận động, không có chân lý cuối cùng. Cũng vì thế mà tại hội thảo lớn nhất từ trước đến nay về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn có những vấn đề vẫn còn tiếp tục cần được làm sáng tỏ.

    Với khối lượng báo cáo đồ sộ: 91 báo cáo – 800 trang khổ lớn, trong buổi sáng đầu tiên của hội thảo các nhà khoa học đã chia làm ba nhóm đề tài chính để thảo luận: “Chúa Nguyễn”, “Vương triều Nguyễn”, “Di sản văn hóa”. Với từng nhóm đề tài, hội thảo đã đặt ra những vấn đề có thể đạt đến sự thống nhất và những vấn đề sẽ còn phải tranh cãi.

    Về chúa Nguyễn, công lao không thể phủ nhận là: khai phá và xây dựng Thuận – Quảng, mở mang lãnh thổ và xác lập chủ quyền trên đất Nam bộ. Nhưng còn tranh cãi gay cấn nhất là quan hệ Nguyễn – Tây Sơn và xác định công lao thống nhất đất nước. Hành động cầu viện Xiêm của Nguyễn Ánh – tuy không thành vì 5 vạn quân Xiêm đã bị chiến thuyền của Nguyễn Huệ đánh tan tác ở Rạch Gầm – Xoài Mút, nhưng cũng vẫn cần được đặt lên bàn cân lịch sử để cân công – cân tội.

    Về vương triều Nguyễn, thành tựu vĩ đại nhất là đã xác định chủ quyền lãnh thổ trên một dải giang sơn tương đương nước Việt hiện nay; xây dựng được chính quyền quân chủ tập trung hoàn thiện nhất trong lịch sử đất nước; thiết lập bộ máy luật pháp, hành chính; xây dựng nền kinh tế có chủ quyền, có thông thương; bắt đầu manh nha ý tưởng canh tân xã hội. Nhưng cũng không thể không đặt ra trách nhiệm về việc đã lãnh đạo một cuộc chiến không cân sức, với những sai lầm về chiến lược dẫn đến thất bại trước sức mạnh quân sự Pháp, dẫn đến mất nước hoàn toàn vào tay thực dân Pháp năm 1885.

    Với các di sản văn hóa triều Nguyễn cũng vậy. Ba di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới: đô thị cổ Hội An, kinh thành Huế, nhã nhạc cung đình Huế. Hệ thống giáo dục, thi cử thời Nguyễn, hệ thống văn bia đồ sộ, kho thư tịch khổng lồ… còn lại đến ngày nay ghi nhận thành tựu vĩ đại mà dân tộc ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn…

    Nhưng cũng không thể không nhận thấy chính tinh thần Nho giáo rập khuôn của phong kiến Trung Hoa đã không còn là công cụ để trí thức VN nhận thức thời đại, chính vì thế các ý tưởng canh tân của những vị vua như Minh Mạng đã không thể kịp vận hành để thành thể chế khiến VN trở nên yếu ớt và lạc hậu trước các thế lực kinh tế, quân sự từ phương Tây tràn sang.

    Với những “công” và “tội” ấy, triều Nguyễn – một trong những triều đại vĩ đại và phức tạp nhất trong lịch sử dân tộc – đang cần được và đòi hỏi các nhà khoa học phân tích, đánh giá lại khách quan, công bằng, trung thực, tạo những tiền đề khoa học cho việc biên soạn lại một bộ quốc sử của thời đại chúng ta. Mà một tiền đề quan trọng là những kết luận từ hội thảo này, sau ngày thảo luận cuối vào hôm nay 19-10.

    ————————-

    XEsuTUxD.jpgPhóng toCác đại biểu dự hội thảo và đông đảo bà con xã Hà Long, huyện Hà Trung, Thanh Hóa thắp hương tại lăng Trường Nguyên – Ảnh: Việt DũngTT – Chiều 18-10, các đại biểu dự hội thảo đã về xã Hà Long (huyện Hà Trung, Thanh Hóa) viếng và dâng hương tại các di tích của vùng đất phát tích nhà Nguyễn.

    TT – Chiều 18-10, các đại biểu dự hội thảo đã về xã Hà Long (huyện Hà Trung, Thanh Hóa) viếng và dâng hương tại các di tích của vùng đất phát tích nhà Nguyễn.

    Kể từ sau Cách mạng Tháng 8-1945, khi triều đại nhà Nguyễn kết thúc, có lẽ đây là cuộc viếng thăm đông đúc nhất với sự có mặt của nhiều quan khách và đông đảo nhà nghiên cứu sử học của cả nước.

    Các đại biểu đã đến lăng Trường Nguyên được tương truyền là nơi an táng Nguyễn Kim (1467-1545) – thân phụ của chúa Tiên Nguyễn Hoàng; viếng đình Gia Miêu – nơi thờ Thái bảo hoành công Nguyễn Công Duẫn, công thần của khởi nghĩa Lam Sơn, một vị tiên hiền của nhà Nguyễn.

    BE3HDcWd.jpgPhóng toĐình Gia Miêu – Ảnh: Việt Dũng

    Đình Gia Miêu là ngôi đình lớn với kiến trúc chạm trổ đẹp nhất của vùng Hà Trung. Đặc biệt khu tôn miếu Triệu Tường được vua Gia Long cho xây dựng vào năm 1804 ngay sau khi lên ngôi. Lăng miếu Triệu Tường (được ví như thái miếu trong Đại nội Huế) được xây với chu vi 182 trượng, có thành cao hào sâu bao quanh, thờ các tiên tổ họ Nguyễn và Triệu tổ Nguyễn Kim, Thái tổ Nguyễn Hoàng.

    Công trình kiến trúc độc đáo này hiện còn lưu dấu trên ảnh chụp vào năm 1933, còn thực tế đã bị hoang phế, xuống cấp suốt mấy chục năm và bị hủy hoại hoàn toàn vào năm 1977. Các công trình này đã được xếp hạng di tích quốc gia. Hiện tỉnh Thanh Hóa đã có những thám sát, khảo cổ khu vực này để phục dựng lăng miếu Triệu Tường như xưa.

    Một nhu cầu lịch sử cấp thiết và chính đángKiến nghị chỉnh sửa sách giáo khoa

    The post Nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THIẾT KẾ TRANG PHỤC TRẺ EM LỨA TUỔI TIỂU HỌC https://evbn.org/cac-yeu-to-anh-huong-den-thiet-ke-trang-phuc-tre-em-lua-tuoi-tieu-hoc-1680772831/ Thu, 06 Apr 2023 09:20:32 +0000 https://evbn.org/cac-yeu-to-anh-huong-den-thiet-ke-trang-phuc-tre-em-lua-tuoi-tieu-hoc-1680772831/ Thiết kế thời trang là ngành gắn liền với nền công nghiệp làm đẹp, lĩnh vực thiết kế thời trang vô cùng rộng lớn đòi hỏi...

    The post CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THIẾT KẾ TRANG PHỤC TRẺ EM LỨA TUỔI TIỂU HỌC appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Thiết kế thời trang là ngành gắn liền với nền công nghiệp làm đẹp, lĩnh vực thiết kế thời trang vô cùng rộng lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, sinh viên hay mỗi nhà nghiên cứu cần có thời gian, gu thẩm mỹ, khả năng cảm thụ để dẫn dắt người tiêu dùng đến với cái đẹp. Một trong những lĩnh vực được quan tâm, chú ý trong những năm gần đây là thiết kế trang phục trẻ em.

    Thực tế cho thấy, thực trạng thiết kế trang phục trẻ em ở Việt Nam dù đã có rất nhiều những đóng góp tích cực, xong còn tồn tại những hạn chế về vật liệu dệt may, kiểu dáng mẫu mã chưa đa dạng, mô phỏng trang phục của người lớn thu nhỏ, chưa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi trẻ em… Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của các yếu tố trẻ em là vô cùng rộng lớn, bài viết này xin được đề cập đến “Các yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế trang phục trẻ em lứa tuổi tiểu học” phần lý luận chung làm cơ sở để giúp sinh viên ngành công nghệ may và Thiết kế thời trang cũng như những người nghiên cứu trong lĩnh vực Dệt may có thể vận dụng trong quá trình sáng tác.

    1. Một số khái niệm

    Trang phục :

    Là những gì con người mang khoác trên cơ thể, kể cả đồ đội trên đầu, đồ đi dưới chân, đồ đắp trên mặt, và những gì được sử dụng kèm theo quần áo

    [1]

    . Trang phục bao gồm:

    + Quần áo

    + Mũ, nón, khăn

    + Giày, dép, guốc

    + Găng , tất

    + Đồ trang sức

    + Mỹ phẩm…

    Những vật dụng trên kết hợp hài hoà với nhau trong một chỉnh thể thống nhất trên từng người mặc gọi là trang phục.

    Như vậy, trang phục trẻ em cũng vậy, những gì các em mang, mặc trên người

    – Yếu tố: là danh từ chỉ một bộ phận được cấu thành bởi một sự vật, một hiện tượng liên quan

    .

    Trong thiết kế thời trang, để thiết kế trang phục cho một đối tượng, nhóm đối tượng đều phải nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự thay đổi về trang phục.

    – Ảnh hưởng: là một danh từ chỉ sự tác động

    từ người, sự việc hoặc hiện tượng có thể làm dần dần có những biến đổi nhất định trong tư tưởng, hành vi, hoặc trong quá trình phát triển ở sự vật hoặc người nào đó.

     

    [1]Trích nguồn:

    Trần Thủy Bình (2005), Giáo trình Mỹ thuật trang phục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    Trong Thiết kế thời trang, muốn có một bộ trang phục phù hợp với cá tính, sở thích, công năng của chúng cần làm rõ sự tác động từ người, sự việc hoặc hiện tượng liên quan đến sự thay đổi của trang phục.

    – Thiết kế:

    “Thiết kế là những gì liên kết sự sáng tạo và đổi mới. Nó định hình các ý tưởng để trở thành những đề xuất thực tiễn và hấp dẫn người dùng hoặc khách hàng. Thiết kế có thể được mô tả như sự triển khai sáng tạo đến một mục đích cụ thể nào đó.”

    – Theo George Cox, trưởng khoa Đồ họa, Trường đại học Luân Đôn.

              Hầu hết các kết quả của thiết kế đều trực quan (có thể nhìn thấy), và nó xuất phát từ một định nghĩa đơn giản khác: ‘Thiết kế là tất cả những gì xung quanh bạn, mọi thứ do con người làm ra đều đã được thiết kế, dù có ý thức hay vô thức’.

    – Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học: là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi, là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ. Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội.

    2

    . Các yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế trang phục học sinh tiểu học

              Cũng giống như thiết kế trang phục ở các lứa tuổi khác, thiết kế trang phục ở lứa tuổi tiểu học chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau:

    2.1. Yếu tố địa lý – môi trường

              Yếu tố địa lý – môi trường ảnh hưởng đến thời trang nói chung, mang lại đặc điểm riêng biệt của thời trang đối với từng vùng miền, lãnh thổ. Trang phục trẻ em cũng vậy, cũng có những đặc điểm riêng biệt đối với từng vùng miền địa lý khác nhau.

              Trẻ em ở Châu Á có cách mặc khác với trẻ em ở Châu Âu, do tập quán của từng dân tộc, do từng vùng địa lý, khí hậu khác nhau mà có sự lựa chọn trang phục cho trẻ em khác nhau..

              Chất liệu, màu sắc trong trang phục của trẻ em cũng được sử dụng phù hợp đối với từng vùng miền, lãnh thổ và môi trường của mỗi quốc gia. Không những thế, đối với mỗi quốc gia cũng lại có sự phân bố theo vùng miền, địa phương khác nhau, khí hậu khác nhau lại cũng có cách chọn trang phục và xu hướng cho trẻ khác nhau.

    2.2. Yếu tố văn hóa- giáo dục

              Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa độc đáo. Do đó trang phục nói chung và của từng tộc người nói riêng thật phong phú đa dạng và đầy tính năng qua từng thời kỳ của lịch sử.

              Trang phục không phải hình thành và biến động chỉ trong bản thân hệ thống nội tại của nó mà còn gắn bó với hàng loạt bộ phận khác nhau của đời sống văn hóa xã hội: điều kiện hình thành, phong tục tập quán, thị hiếu, thói quen, nghề nghiệp, tuổi tác… của từng đối tượng hay nhóm đối tượng cư dân.

              Đối với trẻ em, chịu sự giáo dục của cha mẹ và nhà trường, yếu tố văn hóa – giáo dục có ảnh hưởng đến tâm sinh lý của các em. Một nền văn hóa – giáo dục tốt, có nền tảng, các em sẽ được phát triển toàn diện, lành mạnh, có ích cho gia đình và xã hội.Văn hóa các em được truyền dạy có tốt thì con người các em mới đẹp cả về thể chất và tinh thần.

              Trong lĩnh vực trang phục, mỗi một dân tộc lại có một “văn hóa mặc” khác nhau. Trên thế giới, có bao nhiêu dân tộc thì lại có bấy nhiêu lịch sự trang phục của dân tộc đó, trang phục trẻ em của mỗi dân tộc đó cũng vậy, chịu sự ảnh hưởng của cách mặc mà cha mẹ lựa chọn cho từ bé, các bé lớn lên và có lựa chọn riêng về cách mặc của mình. Tuy nhiên, cách mặc đó không nằm ngoài “văn hóa mặc” chung của dân tộc, đất nước hay vùng miền lãnh thổ.

              Châu Á, châu Âu… mỗi châu lục lại có những đặc điểm riêng về địa lý, khí hậu và văn hóa – giáo dục. Do vậy, trang phục trẻ em của mỗi châu lục lại khác nhau. Ví dụ, ở các nước châu Âu, việc mặc đồ của trẻ em đã được định hướng ngay từ bé, bởi các em sống trong xã hội phát triển, văn hóa mặc được hình thành từ rất sớm, các nhà thiết kế có chiến lược sản xuất thời trang cho các em một cách rõ rệt. Đồng thời, trên ghế nhà trường, các em được giáo dục về thẩm mỹ, phát triển cá tính về mọi mặt, trong đó có định hướng về thẩm mỹ của mỗi cá nhân. Do đó, việc lựa chọn trang phục của em em cũng có sự khắt khe riêng. Trong khi đó, ở một số các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển, văn hóa vẫn đang từng bước hoàn thiện, việc định hướng cho các em về thẩm mỹ khi còn trên ghế nhà trường vẫn chưa được chú trọng nhiều. Do vậy, “văn hóa mặc” của các em ở những quốc gia này vẫn chưa được như các nước phát triển.

              Việc định hướng, giáo dục trẻ có cách mặc cũng như thẩm mỹ trong cách mặc là việc làm rất quan trọng đối với mỗi một quốc gia. Nó phải: phù hợp với nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ hiện đại, phù hợp với quan niệm, tiêu chuẩn về trang phục của truyền thống dân tộc.

    2.3.

    Yếu tố tâm lý của các bậc phụ huynh

              Trước đây, do điều kiện kinh tế, các bậc phụ huynh thường có quan điểm rằng trẻ em mặc gì cũng được bởi chúng nhanh lớn, quần áo vừa mua mặc được thời gian ngắn là phải bỏ rồi. Nên có rất nhiều phụ huynh thường lấy quần áo cũ của người khác cho con mình sử dụng hoặc đứa bé mặc của đứa lớn. Cho nên trang phục trẻ em hầu như ko phát triển và không có sự phong phú về kiểu mẫu trang phục. Ngày nay, do điều kiện kinh tế phát triển, đối với nhiều bậc phụ huynh, việc cho con trẻ chưng diện cũng là một hình thức thể hiện sĩ diện và bộ mặt của gia đình. Mặt khác, các phụ huynh đều muốn lựa chọn những gì tốt nhất cho con em mình. Vì thế, tùy vào điều kiện kinh tế mà họ lựa chọn trang phục cho con mình phù hợp, với mong muốn con mình không thua kém bạn bè. Bố mẹ nên tập cho con biết cách ăn mặc một cách gián tiếp: chỉ cho bé các màu sắc nào kết hợp với nhau thì đẹp. Có thể chỉ cho bé thấy bạn nào mặc ở lớp đẹp để bé học tập. Mang lại sự tự tin cho con trẻ là điều rất quan trọng. Với những bố mẹ có điều kiện về kinh tế thì việc thể hiện sự phô diễn cho con mình thì đó là quan niệm sai lầm. Với trẻ con điều quan trọng là cho chúng cảm nhận đúng thế giới xung quanh, cho chúng được hòa đồng với thế giới. Tóm lại, cha mẹ nên quan tâm đến sở thích của bé để có ứng xử và định hướng thích hợp, giúp bé phát triển thẩm mỹ phù hợp với hoàn cảnh kinh tế gia đình và môi trường sống, đồng thời có đời sống nội tâm phong phú.

    2.4. Yếu tố tâm lý lứa tuổi tiểu học

    Tuy cùng chịu sự chi phối của những quy luật và yếu tố như ở các giai đoạn phát triển khác, nhưng mỗi một giai đoạn lứa tuổi trong quá trình phát triển tâm lí của cá thể nói chung và trẻ em nói riêng là một khoảng thời gian nhất định với những đặc trưng riêng của một trình độ phát triển. Lứa tuổi học sinh tiểu học là một giai đoạn phát triển với các đặc trưng sau: Học sinh tiểu học thường là những trẻ có tuổi từ 6 – 11, 12 tuổi. Đây là lứa tuổi đầu tiên đến trường- trở thành học sinh và có hoạt động chủ đạo. Trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo. Là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học.

    Tuổi tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh hội. Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học, trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học và môi trường xã hội. Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh tiểu học lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi.

    Lứa tuổi được đặc trưng bởi một loạt những yếu tố:

    – Những đặc điểm của điều kiện sống, hoạt động và các yêu cầu đề ra cho trẻ ở giai đoạn phát triển hiện tại. Ở mỗi lứa tuổi, các em sống trong hoàn cảnh nhất định, có những mối quan hệ nhất định với thế giới bên ngoài, các em chịu sự tác động nhất định của xã hội, phải đáp ứng những yêu cầu nhất định của người lớn, của xã hội v.v…

    – Đặc điểm về cấu trúc sinh lí cơ thể của trẻ em và những biến đổi của chúng.

    – Những đặc điểm tâm lí trong cấu trúc nhân cách của đứa trẻ. Ở mỗi lứa tuổi, có những đăc điểm tâm lí mới khác với lứa tuổi trước.

    Lứa tuổi học sinh tiểu học (6-11 tuổi): là giai đoạn mà các nhà chuyên môn gọi là Troisième Enfance, lứa tuổi bắt đầu theo học Tiểu học, hoặc còn gọi là Phổ thông cơ sở cấp 1.

    Các em rất giàu trí tưởng tượng, nhiều khi quá tin vào những điều huyễn hoặc, những truyện cổ tích thần tiên, những truyện thần thoại dân gian được kể trong các lớp học hoặc trước khi đi ngủ buổi tối. Từ đó các em tự thêu dệt những mơ mộng rất dễ thương đến bất ngờ.

    Sau này, lớn hơn một chút, tính thần thoại chuyển dần sang khía cạnh thần tượng hóa một cách đơn giản. Khi các em được tiếp xúc thân tình với một người lớn nào đó có nhân cách cao thượng, các em sẽ nhanh chóng hình thành các ước mơ sẽ có được nhân cách ấy (ví dụ: “Lớn lên em sẽ làm cô giáo như cô…”; “Em sẽ là một Ronaldo của Việt Nam…” ).

    Do đó, nếu người lớn biết khéo nương theo trí tưởng tượng và những mơ mộng hồn nhiên trong sáng của các em, có thể hướng dẫn các em dần dần gạn lọc đi những nét viển vông huyễn hoặc để chuyển những giá trị tốt đẹp hiện thực nơi nhân cách các em. Với góc độ thiết kế trang phục, cần phải thiết kế trang trí có đôi nét thể hiện sự ngộ nghĩnh, đáng yêu thì mới đảm bảo phù hợp tâm lý lứa tuổi này.

     

    Trong nghiên cứu đặc điểm tâm lý lứa tuổi tiểu học, một vấn đề không thể bỏ qua đó chính là Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống. Hoạt động vui chơi, học tập hay những biến đổi tâm lý kèm theo các hoạt động đó sẽ phần nào quyết định kiểu dáng, màu sắc trong thiết kế trang phục.

    Hoạt động của học sinh tiểu học

    :

    Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:

    + Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động.

    Các em, kể cả các bé gái, cần phải luôn tay luôn chân, chạy nhảy, leo trèo, nô đùa và hò hét thỏa thích, hoặc im lặng ngồi táy máy, hì hục nghịch phá một trò nào đó, hay làm một việc gì đó vừa sức mình. Riêng bé nam, các em rất thích các trò chơi đối kháng, mang tính giao chiến và đua tranh giữa hai phe (ví dụ: kéo co, cướp cờ, đánh trận giả…). Các em sẵn sàng chơi hăng say hết mình, bởi đối với các em, chuyện thắng thua rất là quan trọng, nó nhằm mục đích tự khẳng định cá tính cho dù các em chưa đủ lý luận cao xa gì lắm về bản thân. Với các em nữ, vấn đề cũng tương tự như khi các em đặc biệt thích các trò chơi tuy nhẹ nhàng hơn con trai, nhưng cũng là chuyện luân phiên thi đua giành phần thắng cho mình (ví dụ: nhảy cò cò, đánh chuyền, nhảy dây, chơi ô ăn quan…). Vậy nên, trang phục thiết kế cho lứa tuổi này phải có kết cấu trang phục, màu sắc, trang trí phù hợp cho sự vận động liên tục của các em.

    + Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bả thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,… Ngoài ra, trẻ còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,…

    + Hoạt động xã hội:  Các em bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,…

    Những thay đổi kèm theo:

    + Trong gia đình: Các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia công việc trong gia dình. Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,… các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đìn từ rất nhỏ.

    + Trong nhà trường: Do nội dung, tính chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt.

    + Ngoài xã hội: Các em tham gia vào một số các hoạt động mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình). Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình.

    Ở điểm này, trang phục cho các em phải thiết kế vui tươi và dễ thương, đúng với độ tuổi các em, phải thỏa mãn phần nào trí tưởng tượng tò mò của các em để đưa vào trang phục những hình thức trang trí thích hợp. Ngoài ra, trang phục cũng là một trong những hình thức để giúp chúng ta giáo dục trẻ em.

    Trong việc giáo dục trẻ em thì hoàn cảnh và mối quan hệ, ảnh hưởng của những người xung quanh đối với trẻ em có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy, một điều cần lưu ý làm sao để quần áo trẻ em có tính ưu việt cao về tư tưởng và thẩm mỹ. Trẻ em luôn hoạt động, vận động nên khi thiết kế trang phục cho trẻ cần thoải mái, thuận tiện trong mọi điều kiện.

    Bộ trang phục đẹp, thuận tiện, phù hợp với chức năng, không những góp phần phát triển óc thẩm mỹ mà còn giáo dục kỹ năng lao động, tính ưa sạch sẽ, tính cẩn thận, tính kỷ luật, tính khiêm tốn và những đức tính khác của con người tương lai trong xã hội văn minh. Quần áo luôn luôn liên quan tới hoạt động nào đó của con người và có thể sử dụng trong những mục đích khác nhau. Thông qua trang phục còn giúp trẻ hiểu biết tính thẩm mỹ trong bản sắc văn hoá dân tộc. 


    Hình 1.

    Hoạt động của trẻ em lứa tuổi tiểu học

    2.5. Đặc điểm khí hậu

    Đặc điểm khí hậu vùng miền là một trong những yếu tố quan trọng trong việc thiết kế trang phục nói chung cũng như trang phục học sinh tiểu học. Điều kiện khí hậu chính là một trong những cơ sở để thiết kế trang phục phù hợp hơn với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em.

    Lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới, và nằm ở rìa phía đông nam của phần châu Á lục địa, giáp với biển Đông nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa.

    Việt Nam có ba miền khí hậu chủ yếu, bao gồm: miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu phía Nam, miền khí hậu Trung và Nam Trung Bộ.

    Miền Bắc Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa xuân, hè, thu, đông rõ rệt. Mùa xuân miền Bắc bắt đầu từ tháng 2 cho đến hết gần tháng 4, là mùa đẹp nhất trong năm.

    Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, vào mùa này thì nhiệt độ trong ngày khá nóng và mưa nhiều. Tháng nóng nhất thường là vào tháng 6.Tháng 5 đến tháng 8 là tháng có mưa nhiều nhất trong năm.

    Vậy, trang phục nói chung, đồng phục học sinh tiểu học nói riêng nhất thiết phải thiết kế chất liệu thấm hút mồ hôi, kiểu dáng, trang trí đơn giản. Màu sắc nên kết hợp những màu sáng nhẹ với một màu nào đó phù hợp với lứa tuổi, vừa tạo nên sự phù hợp với đặc điểm thời tiết mùa hè.

    Mùa thu chỉ vỏn vẹn trong hai tháng 9 và 10. Thu miền Bắc rất đẹp, trời trong xanh, không khí mát mẻ.

    Mùa đông thường

    kéo dài

    vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau

    (phổ biến ở miền Bắc Việt Nam)

    , mùa này khí hậu lạnh và hanh khô

    . Chính vì thế, trang phục ngoài việc làm ấm áp cho các em thì trang phục cần gọn gàng, thuận tiện trong quá trình hoạt động và vui chơi của các em. Ngoài ra, nên chọn và phố những màu sắc ấm áp, phù hợp với tâm lý lứa tuổi này, đó là vẫn phải đảm bảo tính trang trọng, nghiêm túc mà vẫn thỏa mãn trí tưởng tượng, tâm lý thích bắt chước của trẻ em. Với các trường học, thời điểm mùa đông là học sinh ngại mặc đồng phục nhất do các em thường chọn những kiểu trang phục ấm áp mà áo đồng phục mùa đông thường thiết kế hai lớp mỏng. Nhưng áo đồng phục cũng không thể thiết kế quá ấm áp vì học sinh còn sử dụng trong thời tiết mùa thu, mùa xuân.


     

    Hình 2. Trang phục trẻ em theo mùa khí hậu

    2.6.

    Thông số, kích thước trẻ em lứa tuổi tiểu học

              Trong thiết kế trang phục trẻ em ngoài các yếu tố kể trên, yếu tố chọn, phân tích thông số kích thước đối tượng là công việc hết sức quan trọng. Công việc này đòi hỏi nhà thiết kế phải hiểu sâu về đặc điểm nhân trắc học cơ thể người, nắm vững kiến thức Ecgônômi trong thiết kế sản phẩm, hiểu được tâm sinh lý lứa tuổi…       

         Ở bất kỳ nước nào cũng có tiêu chuẩn cỡ số trong may mặc. Ở nước ta cũng đã có một số tiêu chuẩn cỡ số trong may mặc. Tiêu chuẩn cỡ số được xây dựng dựa trên cơ sở kết quả khảo sát trên cơ thể người ở các vùng khác nhau: Thành thị, nông thôn, miền núi, miền biển….Vì điều kiện lao động sinh hoạt khác nhau nên cơ thể cũng phát triển khác nhau. Các số liệu này được xử lý một cách khoa học, từ đó xây dựng số đo chung nhất cho từng cỡ. Đối với hàng may sẵn hệ thống cỡ số này có tác dụng rất lớn vì nó sẽ đáp ứng được phần lớn 95% người sử dụng, phục vụ tốt cho việc triển khai sản xuất hàng loạt.

               Kích cỡ trang phục liên quan trực tiếp đến số đo của cơ thể, do đó để thiết kế được trang phục trẻ em có độ vừa vặn thì điều đầu tiên đó là phải khảo sát được số đo chính xác nhất. Không giống như độ tuổi trưởng thành, có thông số kích thước cơ thể người tương đối ổn định thì thong số, kích thước của trẻ em có sự thay đổi trong các giai đoạn khác nhau. Đặc biệt ở lứa tuổi tiểu học, các bé có giai đoạn đầu là kích thước của nhi đồng và giai đoạn sau là của tiền thiếu niên cho nên kích thước lứa tuổi này rất phức tạp. Vì vậy, thiết kế trang phục trẻ em lứa tuổi này cần nắm được thông số, kích thước trẻ em để có sự vừa vặn trong trang phục.

     

    2.7.

    Tác động của các loại hình giải trí – nghệ thuật tới trang phục trẻ em

    Điện ảnh

    Một số tác phẩm điện ảnh hoặc phim chuyển thể từ những câu chuyện cổ tích có ảnh hưởng tới trang phục trẻ em như Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, Tazan nhí, Harry Potter, Alice lạc vào xứ sở thần tiên… những tác phẩm này ảnh hưởng nhiều đến cách mặc của trẻ em vì các em cũng có những thần tượng từ những bộ phim này. Thường thì những tác phẩm này được chuyển thể từ truyện, các em đã tưởng tượng nhiều về trang phục của các nhân vật mà mình yêu thích, khi được các đạo diễn chuyển thể thành phim, hình tượng các nhân vật đó rõ ràng hơn từ hình dáng, khuôn mặt cho đến trang phục. Việc trẻ em muốn có những bộ quần áo giống như các thần tượng của mình trên phim cũng được các nhà sản xuất thời trang chú trọng. Do đó, ảnh hưởng của điện ảnh tới trang phục của trẻ là điều rất dễ nhận thấy.

     



    Hình 3. Trang phục dựa theo bộ phim:”Alice lạc vào xứ sở thần tiên”

     

    Âm nhạc

    Âm nhạc không chỉ ảnh hưởng tới thời trang dành cho người lớn mà bản thân âm nhạc cũng có ảnh hưởng tới trang phục trẻ em rất nhiều. Theo như điều tra, các thần tượng âm nhạc lớn cũng có ảnh hưởng riêng tới sở thích của các bé. Trẻ em cũng muốn được trở thành những thần tượng của mình, do vậy, các bé cũng hình thành lên những sở thích về cách mặc giống như thần tượng.

    Trong những năm gần đây, ở Việt Nam có nhiều cuộc thi về âm nhạc Đồ rê mí dành cho các bé. Những mẫu thiết kế dành cho các bé biểu diễn cũng phần nào ảnh hưởng đến cách chọn trang phục cho con mình của phụ huynh hoặc sở thích của các bé.

    Hoạt hình

    Có thể nói, các nhân vật hoạt hình có ảnh hưởng nhiều đến đời sống vui chơi giải trí của trẻ em ngay từ nhỏ. Các bé nam có những nhân vật hoạt hình ưa thích riêng của mình như Ben 10, Spider man,… hoặc bé gái thì có nhiều những hình tượng yêu thích như công chúa Elsa, Lọ Lem, Bạch Tuyết, búp bê… Các hình tượng này cũng được các nhà sản xuất thời trang dành cho trẻ em khai thác nhiều. Nếu yêu thích thần tượng nào, các bé sẽ ưu tiên chọn lựa trang phục mà trên đó có hình ảnh của thần tượng đó.

    Hãng Disney cũng có hẳn một bộ phận sản xuất các sản phẩm thời trang có ảnh hưởng cũng như là có hình ảnh của các nhân vật trong các phim hoạt hình mà hãng sản xuất ra như công chúa Elsa, vịt Donald, chuột Mickey…

    Hình 4. Trang phục dựa theo bộ phim: “Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn”

    Game và các sản phẩm đồ chơi khác

    Khoa học kỹ thuật phát triển, nhu cầu giải trí của con người cũng từng bước thay đổi đòi hỏi những phương tiện cao cấp hơn. Trong những năm gần đây, game phát triển mạnh, một số trò chơi cũng có những hình thái, cách chơi, hình ảnh vui nhộn đáng yêu mà trẻ em rất yêu thích, các sản phẩm đồ chơi dành cho các bé cũng phần nào đó ảnh hưởng đến trang phục trẻ em.

    Do vậy, trong thiết kế trang phục trẻ em lứa tuổi tiểu học, cần nghiên cứu kỹ những ảnh hưởng của các yếu tố trên để thiết kế trang phục sao cho phù hợp, độc đáo, không làm mất đi những đặc trưng lứa tuổi này.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Trần Thủy Bình (2005), Giáo trình Mỹ thuật trang phục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    2. Nguyễn Thị Hà Châu (1990), Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học: Xây dựng hệ thống cỡ số cơ thể người lớn và trẻ em để thiết kế sản phẩm quần áo, giày, mũ và găng tay, Trung tâm nghiên cứu công nghệ may.

    3. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thùy (2006), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Tiền Giang, Tiền Giang.

    4. Đỗ Văn Thông, Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Khoa Sư phạm, Đại học An Giang.

    4. Các website chuyên ngành

    5.

    https://vtudien.com/

     
     

    The post CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THIẾT KẾ TRANG PHỤC TRẺ EM LỨA TUỔI TIỂU HỌC appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Tổng Hợp 201 Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước https://evbn.org/tong-hop-201-de-tai-luan-van-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-1680772667/ Thu, 06 Apr 2023 09:17:48 +0000 https://evbn.org/tong-hop-201-de-tai-luan-van-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-1680772667/ Đánh giá post Chia Sẻ Danh Sách Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước dành cho các bạn học viên đang chuẩn bị làm...

    The post Tổng Hợp 201 Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Đánh giá post

    Chia Sẻ Danh Sách Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước dành cho các bạn học viên đang chuẩn bị làm bài tốt nghiệp nhé, để tìm kiếm một đề tài hay và phù hợp với ngành học của các bạn học viên là không khó. Có khi những đề tài đó đã được giáo viên hướng dẫn tư vấn cho các bạn học viên đề tài hết rồi, tuy nhiên đó là những bạn may mắn khi được giáo viên lựa chọn cho đề tài để làm bài tốt nghiệp. Vậy còn những bạn không được giáo viên hướng dẫn tự vấn đề tài thì sao? Để giúp các bạn học viên lựa chọn đề tài phù hợp với công việc hiện tại của mình hơn thì dưới đây, Dịch Vụ Hỗ Trợ Viết Luận Văn có chia sẻ đến các bạn học viên một Danh Sách Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước mới nhất cho cá bạn học viên cùng nhau tham khảo đề tài để làm bài tốt nghiệp nhé.

    Ngoài ra, các bạn học viên có gặp khó khăn trong việc lựa chọn đề tài hay không có thời gian làm bài thì có thể liên hệ trực tiếp đến Dịch Vụ Hỗ Trợ Viết Luận Văn để được hỗ trợ về bài làm, cũng như tìm hiểu quy trình làm bài, và giá cả bài làm của bạn nhé. Thân Mến/

    Tổng Hợp 201 Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    1. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    2. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    3. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    4. vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Y tế thật sự là công bộc của dân-
    5. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    6. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ công chức ngành Y tại đơn vị cơ sở Y tế-
    7. Tổ chức thực hiện qui chế dân chủ ở đơn vị cơ sở Y tế- Võ Thị Long
    8. Tăng cường xây dựng quan hệ đúng đắn giữa chủ thể và khách thể trong quản lý hành chính ở Viện VSYTCC
    9. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở thuộc Bộ Y tế
    10. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về Y tế
    11. Vận dụng phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    12. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở bệnh viện tâm thần trung ương 2
    13. Vấn đề quản lý kinh tế Việt Nam
    14. Nhà nước và pháp luật
    15. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
    16. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ công chức ngành Y tế tại đơn vị cơ sở
    17. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ công chức ngành Y tế tại đơn vị cơ sở
    18. Vấn đề nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội ở đơn vị
    19. Vấn đề tổ chức thực hiện các nghĩa vụ của cán bộ công chức ở đơn vị Y tế thuộc Bộ Y tế
    20. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    21. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính nhà nước ở đơn vị cơ sở Y tế
    22. Lý luận và thực tiển xây dựng cán bộ công chức Y tế thật sự là công bộc của nhân dân
    23. vấn đề cải cách hành chính chống quan liêu  ở các cơ sở Y tế thuộc Bộ Y tế
    24. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Vấn đề tăng cường pháp chế ơ  đơn vị Y tế thuộc Bộ Y tế
    25. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
    26. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ của công chức ngành Y ở cơ quan đơn vị
    27. Vấn đề nâng cao hiệu lực quản lý hành chính ở đơn vị Y tế thuộc Bộ Y tế
    28. Ứng dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    29. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ công chức ngành Y  ở đơn vị Y tế cơ sở
    30. vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ của công chức ngành Y ở cơ quan đơn vị
    31. Một số vấn đề về quản lý kinh tế Y tế Việt Nam
    32. Tăng cường QLNN về Y tế
    33. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Tổ chức thực hiện dân chủ đơn vị Y tế
    34. Tổ chức phòng chống tham nhũng, lãng phí ở các đơn vị cơ sở Y tế
    35. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở y tế
    36. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta và những đề xuất cá nhân
    37. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở Y tế
    38. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta và những đề xuất cá nhân
    39. Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính ở đơn vị
    40. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam
    41. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ của cán bộ, công chức ngành Y ở Viện Vệ sinh Y tế công cộng
    42. Tăng cường quản lý nhà nước về Y tế
    43. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    44. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    45. Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Y tế thực sự là công bộc của nhân dân
    46. Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Y tế thực sự là công bộc của dân
    47. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở thuộc Bộ Y tế
    48. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    49. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Xây dựng nhà nước pháp quyền
    50. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân – do dân- vì dân theo đường lối của Đảng
    51. Tăng cường xây dựng quan hệ đúng đắn giữa chủ thể và khách thể trong quản lý hành chính ở đơn vị Y tế
    52. vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ của công chức ngành Y ở cơ quan đơn vị
    53. Tổ chức thực hiện các nghĩa vụ  cán bộ công chức ngành Y ở đơn vị cơ sở Y tế
    54. Vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về Y tế
    55. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    56. Ứng dụng các phương pháp quản lý nhà nước vào công việc quản lý tại đơn vị Y tế
    57. Cải cách hành chính về tổ chức bộ máy ở Viện VSYTCC
    58. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    59. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Ủy ở đơn vị cơ sở Y tế
    60. Tăng cường sự lãnh đạo của chi bộ, đảng bộ ở bệnh viện
    61. Nâng cao hiệu quả quảnlý hành chính ở đơn vị trong phạm vi khoa phòng
    62. Vấn đề nâng cao hiệu lực quản lý văn hóa tư tưởng ở cơ quan đơn vị
    63. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính tại khoa nội thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy
    64. Vấn đề đổi mới quản lý nhà nước đối với họat động dược tư nhân
    65. ăng cường quản lý nhà nước về Y tế trong sự nghiệp chăm sóc- bảo vệ sức khỏe nhân dân
    66. Vấn đề đổi mới quản lý nhà nước đối với họat động hành nghề dượ tư nhân
    67. Tổ chức thực hiện các nghĩa vụ của cán bộ công chức tại khoa Y tế công cộng, trường ĐHYdựơc Tp.HCM
    68. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ – chi bộ cơ sở ở cơ quan đơn vị
    69. Xây dựng lực lượng cán bộ công chức Y tế vững mạnh và trong sạch ở đơn vị cơ sở Y tế
    70. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế
    71. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở thuộc Bộ Y tế
    72. Xây dựng lực lượng cán bộ công chức Y tế trong sạch vững mạnh ở đơn vị cơ sở Y tế
    73. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở thuộc Bộ Y tế
    74. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế
    75. Vấn đề tăng cường quản lý các chương trình Y tế quốc gia
    76. Tăng cường sự lãnh đạo của chi bộ, đảng bộ ở bệnh viện
    77. Vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Bộ chi bộ ở cơ quan đơn vị
    78. Tăng cường quản lý nhà nước về Y tế- Hồ Thị Hồng
    79. Vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về Y tế
    80. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Nhà nước pháp quyền
    81. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    82. Vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ và chi bộ ở cơ quan đơn vị
    83. tăng cường xây dựng quan hệ đúng đắn giữa chủ thể và khách thể trong quản lý hành chính ở đơn vị
    84. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    85. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    86. Tổ chức thực hiện dân chủ cơ sở ở đơn vị Y tế
    87. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ở đơn vị Y tế
    88. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Y tế thật sự là công bộc của dân
    89. Tăng cường quản lý nhà nước về Y tế
    90. Tăng cường quản lý nhà nước về Y tế
    91. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị Y tế
    92. Tăng cường pháp chế ở đơn vị Y tế
    93. Phương hướng phát triển và giải pháp tổ chức thực hiện dân chủ ở đơn vị Y tế
    94. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ của công chức ngành Y ở cơ quan đơn vị
    95. Vấn đề tổ chức quản lý khoa học ở một đơn vị Y tế thuộc Bộ Y tế
    96. Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuốc Đông dược
    97. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ
    98. Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước về Y tế
    99. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở thuộc bộ Y tế
    100. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở thuộc Bộ Y tế

    CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

    ===>>> Viết Thuê Luận Văn Ngành Quản Lý Hành Chính

    Gợi Ý Chuyên Mục Đề Tài Khóa Luận Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Năm 2022

    1. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế
    2. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế
    3. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở bệnh viện tâm thần trung ương 2
    4. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Tổ chức thực hiện dân chủ ở đơn vị Y tế
    5. Tổ chức thực hiện các nghĩa vụ của cán bộ, công chức ngành Y ở cơ sở Y tế
    6. Nâng cao quản lý nhà nước đối với họat động Y tế tư nhân
    7. Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính ở đơn vị
    8. Vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về Y tế
    9. Tổ chức thực hiện dân chủ ở đơn vị Y tế
    10. tăng cường quản lý nhà nước về Y tế
    11. Vấn đề tổ chức thực hiện công tác ban hành văn bản quản lý ở cơ quan đơn vị
    12. Nâng cao vai trò đoàn thể ở Viện VSYTCC
    13. Đổ mới quản lý hành chính nhà nước trong trường đại học Y dược Tp.HCM
    14. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế
    15. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    16. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở thuộc Bộ Y tế
    17. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Ủy đối với đơn vị cơ sở Y tế
    18. Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính tại bệnh viện Chợ Rẫy
    19. Góp phần nâng cao quản lý nhà nước trong công tác quản lý thuốc Y dược học cổ truyền
    20. Xây dựng nhà nước pháp quyền do dân vì dân theo đường lối của Đảng
    21. Vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Bộ chi bộ ở cơ quan đơn vị
    22. Tổ chức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ở đơn vị Y tế
    23. Tổ chức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ở đơn vị Y tế
    24. Cải cách hành chính trong họat động khám chữa bệnh của bệnh viện, cơ sở Y tế
    25. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị Y tế
    26. Tổ chức thực hiện dân chủ cơ sở ở đơn vị Y tế
    27. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế trong lĩnh vực dược phẩm
    28. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    29. Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Y tế thật sự là công bộc của nhân dân
    30. Quản lý nhà nước về văn hóa
    31. Tăng cường quản lý nhà nước Y tế trong lĩnh vực củng cố và phát triển mạng lưới Y tế cơ sở
    32. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ của công chức ngành Y ở cơ quan đơn vị
    33. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    34. Vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở
    35. Xây dựng lực lượng cán bộ, công chức Y tế trong sạch, vững mạnh ở đơn vị cơ sở Y tế
    36. Vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về Y tế
    37. Tổ chức thực hiện dân chủ ở đơn vị Y tế
    38. Vấn đề tổ chưc thực hiện quy chế dân chủ tại cơ quan đơn vị
    39. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Tổ chức quản lý bệnh viện
    40. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế
    41. Vấn đề tổ chức quản lý bệnh viện
    42. Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước đối với các bệnh viện  của ngành Y tế
    43. Vấn đề nâng cao hiệu lực quản lý hành chính về đào tạo tại trường đại học Y dược Tp.HCM
    44. Tăng cường quản lý nâng cao chất lượng đào tạo tại đại học
    45. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế
    46. Góp một số ý kiến về đổi mới quản lý nhà nước trong lãnh vực hành nghề dược tư nhân
    47. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan đơn vị
    48. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đơn vị khoa Y học cổ truyền
    49. Tổ chức quản lý nghiên cứu khoa học ở trường đại học Y dược Tp.HCM
    50. Tăng cường quản lý nhà nước về Y tế
    51. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ tại cơ quan đơn vị
    52. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Nâng cao vai trò lãnh đạo của chi bộ ở đơn vị
    53. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan đơn vị
    54. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thuộc Bộ Y tế
    55. Nâng cao quản lý nhà nước đối với họat động Y tế tư nhân
    56. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở thuộc Bộ Y tế
    57. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    58. Vấn đề tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan
    59. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế
    60. Tăng cường quản lý nhà nước về Y tế
    61. Thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động tại các đơn vị cơ sở
    62. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Y tế
    63. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ- Chi bộ ở cơ quan đơn vị
    64. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị Y tế
    65. Nâng cao quản lý nhà nước đối với họat động Y tế tư nhân
    66. Tổ chức thực hiện nghĩa vụ của cán bộ- công chức ngành Y ở cơ quan đơn vị
    67. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị Y tế
    68. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    69. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    70. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Nâng cao QLNN đối với họat động Y tế tư nhân

    TOP 80 Đề Tài Luân Văn Chuyên Ngành Quản Lý Hành Chính Nhà Nước NEW

    1. Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
    2. Quản lý nhà nước trong hoạt động thanh tra Y tế hành nghề Y dược tư nhân tại Tp.HCM
    3. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm
    4. Tình trạng quản lý nhà nước về cung ứng thuốc của ngành Y tế Việt Nam
    5. Cải cách quản lý hành chính ở đơn vị Viện Vệ sinh Y tế công cộng Tp.HCM
    6. Quản lý nhà nước về xây dựng nhân lực bệnh viện Chợ Rẫy
    7. Nuôi con bằng sữa mẹ trong tình hình hiện nay
    8. Áp dụng thực tiễn chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và các ý kiến đề xuất
    9. Quản lý hành chính nhà nước về lĩnh vực dược- thực trạng, cơ hội, thách thức và triển vọng
    10. Vai trò của quản lý nhà nước về Y tế  và biện pháp chống quá tải bệnh viện
    11. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở Y tế
    12. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Quản lý tổ chức nhân sự tại Viện Pasteur Tp.HCM
    13. Pháp chế và tăng cường pháp chế cơ sở tại khoa phẫu thuật gây mê hồi sức (phòng mổ) bệnh viện Chợ Rẫy
    14. Thực trạng sử dụng phụ gia, hóa chất độc hại trong thực phẩm và  những giải pháp tăng  cường quản lý nhà nước đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
    15. Hoạt động quản lý và một số  giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các phòng khám đa khoa tư nhân tại thành phố  Hồ Chí Minh
    16. Xử lý tình huống vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề mê tín dị đoan có ảnh hưởng, liên quan đến môi trường văn hóa, Y tế trên địa bàn huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương
    17. Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với họat động của các kênh phân phối dược phẩm tại Việt Nam
    18. Tăng cường hiệu lực- hiệu quả quản lý hành chính nhà nước trong việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại khoa hồi sức- phẫu thuật bệnh tim bệnh viện Chợ Rẫy
    19. Vấn đề đổi mới QLHCNN đối với họat động kinh tế trong thị trường dược ở VN Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức  y tế thật sự là công bộc của dân
    20. Việc kết hợp phương pháp hành chính và phương pháp giáo dục thuyết phục hành chính ở đơn vị khoa kiểm nghiệm trung tâm Viện VSYTCC
    21. Vài góp ý về đổi mới QLNN đối với hành nghề Y dược tư nhân
    22. Cải cách hành chánh trong họat động khám, chữa bệnh của khoa nội dịch vụ bệnh viện Chợ Rẫy
    23. Nâng cao quản lý nhà nước đối với họat động y tế tư nhân
    24. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đơn vị Đại học Y-Dươc Tp.HCM
    25. Vận dụng các phương pháp QLHCNN vào trong bệnh viện
    26. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng
    27. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính vào công việc của cơ sở Y tế
    28. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ công chức ngành Y tại đơn vị Y tế cơ sở
    29. Mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền cơ sở
    30. Vấn đề tổ chức thực hiện nghĩa vụ của công chức ngành Y ở cơ quan đơn vị
    31. Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính ở khoa chấn thương sọ não bệnh viện Chợ Rẫy
    32. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cơ sở Y tế
    33. Vấn đề cải cách thủ tục hành chính ở các cơ quan đơn vị
    34. Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính ở đơn vị
    35. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Nâng cao hiệu lực quản lý HCNN tại đơn vị Y tế
    36. Kỹ năng giao tiếp, một công cụ hữu ích cho dược sĩ trong việc tăng cường hiệu quả điều trị
    37. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở Y tế
    38. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    39. Nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước tại khoa dược bệnh viện
    40. Quản lý hành chính nhà nước lĩnh vực an toàn lao động  tại Tp.HCM
    41. Nâng cao hiệu quản quản lý hành chính nhà nước về Y tế
    42. Lớp quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên ngành Y tế
    43. Vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng trong đơn vị
    44. Thực trạng và giải pháp nâng cao Y đức của nhân viên Y tế trong giai đọan hiện nay
    45. Giải pháp giảm tình trạng quá tải tại khoa tổng hợp B1- Bệnh viện Thống Nhất
    46. Quản lý hành chính nhà nước trong công tác xã hội hóa lĩnh vực Y tế
    47. Nâng cao hiệu quả quản lý nước thải Y tế tại bệnh viện Chợ Rẫy
    48. Vận dụng các phương pháp quản lý hành chính ở đơn vị cơ sở Y tế
    49. Quản lý nhà nước về nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong ngành Y tế
    50. Quản lý nhà nước về sức khỏe cá nhân bằng thẻ sức khỏe & công nghệ thông tin
    51. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Lựa chọn phương án tăng cường quản lý Y tế
    52. Vấn đề nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
    53. Tăng cường xây dựng quan hệ đúng đắn giữa chủ thể và khách thể trong quản lý hành chính ở đơn vị kiểm nghiệm vi sinh thực phẩm
    54. Cải cách hành chính tại khoa Y học cổ truyền trường đại học Y dược Tp.HCM thực trạng và giải pháp
    55. Vấn đề nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị cả nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
    56. Tăng cường quản lý nhà nước về Y tế là yêu cầu bức thiết trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa nước ta hiện nay
    57. Vấn đề nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
    58. Vấn đề nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
    59. Tăng cường xây dựng mối quan hệ đúng đắn giữa chủ thể và khách thể trong quản lý hành chính tại khoa ngoại tổng hợp BV Thống Nhất
    60. Một số ý kiến đề xuất đổi mới quản lý nhà nước với họat động Y dược tư nhân trong phạm vi chuyên khoa răng hàm mặt
    61. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Vấn đề xây dựng nhà  nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam
    62. Nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước
    63. Nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
    64. Vấn đề nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
    65. Nâng cao hiệu quả việc kết hợp phương pháp hành chính với phương pháp giáo dục thuyết phục ở đơn vị khoa VSLĐ-BNN Viện VSYTCC
    66. Vấn đề nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
    67. Vấn đề nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nứoc
    68. Vấn đề nâng cao vị trí vai trò trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
    69. Vấn đề tổ chức thực hiện các nghĩa vụ của cán bộ công chức ở khoa y trường đại học Y dược Tp.HCM
    70. Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước:Vận dụng quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền của dân- do dân- vì dân theo đường lối của Đảng vào quản lý chương trình “Chăm sóc sức khỏe chung và sức khỏe răng miệng “ cho tuyến Y tế cơ sở

    HƯỚNG DẪN VIẾT LUẬN VĂN Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    Trình tự thực hiện Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    • Học viên lên đề cương chi tiết các vấn đề mình sẽ nghiên cứu. (gửi qua mail để giáo viên hướng dẫn chỉnh sửa trước khi tiến hành viết chính thức).
    • Học viên tiến hành tìm số liệu cụ thể cho Luận Văn tại địa phương nơi mình nghiên cứu để làm luận cứ chứng minh cho những luận điểm mà mình đề ra trong bài nghiên cứu.
    • Tiến hành viết và gửi nội dung bản thảo cho giáo viên hướng dẫn trước khi in bài đem nộp cho nhà trường.

    Thứ tự nội dung cần trình bày của một Luận Văn

    • Phần mở đầu
    • Lý do chọn đề tài
    • Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài, tình hình nghiên cứu:
    • Học viên cần trả trời các câu hỏi trong mỗi mục sau:
    • Mục đích nghiên cứu: Vì sao tôi nghiên cứu đề tài này?
    • Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu cụ thể của tôi là ai, là cái gì?
    • Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề mà tôi nghiên cứu được giới hạn ở đâu, thời gian nào vì sao?
    • Phương pháp nghiên cứu: Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
    • Phương pháp luận: Tôi dựa trên cơ sở lý luận nào? Lý thuyết nào?
    • Phương pháp thực hành nghiên cứu: thu thập dữ liệu định tính (Phỏng vấn sâu, tham dự), định lượng (điều tra bảng hỏi), tổng hợp tư liệu thành văn….
    • Kết cấu đề tài: Đề tài của tôi chia làm mấy chương, mấy tiểu mục, trình bày tóm tắt nội dung các chương, tên chi tiết các tiểu mục.
    • Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Trước tôi đã có ai nghiên cứu đề tài này? Họ nghiên cứu điều gì (trình bày tóm tắt), điều gì chưa nghiên cứu, cái mới của đề tài mà tôi sẽ nghiên cứu là gì?
    • Phần giải quyết vấn đề (có thể kết cấu thành 2 hoặc 3 chương)
    • Chương một: Tổng quan
    • Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề được nghiên cứu
    • Trình bài khái quát những yếu tố lịch sử, chính trị, xã hội của địa phương nơi nghiên cứu (Diện tích, dân số, thành phần dân cư, đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội…)
    • Chương hai: Nội dung chính của đề tài
    • Thực trạng của vấn đề
    • Hướng xử lý và giải quyết của địa phương dựa trên chủ trương, đường lối của Đảng như thế nào?
    • Ý kiến đề xuất, giải pháp thực hiện
    • Kết luận: Tóm tắt những vấn đề đã nghiên cứu, phát hiện, rút ra ý nghĩa cho bản thân và đơn vị nơi mình đang công tác.

    Hình thức trình bày Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    • Khóa luận trình bày trên khổ giấy A4, font Times New Roman, size 13, cách dòng 1.5, số trang từ 20-25.
    • Cách đánh dấu thứ tự mục và tiểu mục trong chương:
    • Chương 1……
    • Chương 2: Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
    • Cách dẫn nguồn tài liệu trích dẫn [STTTLTK, ST]: STTTLTK là số thứ tự của tài liệu mà học viên trích dẫn nằm trong danh mục tài liệu tham khảo của học viên, ST là số trang mà nội dung trích dẫn nằm trong tài liệu tham khảo. Dẫn nguồn thường đặt sau trích dẫn. Trích dẫn ngắn trong 4 câu, đặt vào ngoặc kép in nghiêng. Trích dẫn dài hơn 4 câu phải lùi vào 2 khoảng trắng so với văn bản gốc của khóa luận.
    • Bên ngoài đóng bìa mềm theo mẫu quy định.
    • Bố cục trình bày:
    • Bìa chính
    • Bìa phụ (Giấy A4)
    • Trang nhận xét của GV
    • Mục lục (Số thứ tự; thứ tự các tên nội dung phần, chương, mục; số trang)
    • Phần nội dung
    • Danh mục tài liệu tham khảo ( Tên tác giả theo thứ tự A-Z, Tên Công trình, nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản; Tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt trình bày trước, tài liệu tiếng nước ngoài (nếu có) trình bày sau; Tên công trình tham khảo in nghiêng)
    • Phụ lục (hình ảnh và số liệu). Phụ lục hình ảnh và bảng biểu phải dẫn nguồn phía dưới. Vi dụ:
    • Bảng 1.1
    • Nguồn: (ghi nơi trích nguồn bảng biểu, nếu do HV lập thì ghi: Tác giả)
    • Hình 1.1
    • Nguồn: cách ghi giống với bảng biểu.

    Lưu ý: Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    • Các trích dẫn cần đưa vào ngoặc kép, và có trích dẫn cụ thể [ Tài liệu, Trang] Ví dụ: “……..” [1, tr 16]
    • Là tài liệu tham khảo số 1 trong phần danh mục tài liệu tham khảo
    • Do đó, học viên cần làm trước tài liệu tham khảo trước khi trích dẫn vào nội dung để không lẫn lộn.
    • Các phần cần diễn giải mà không nằm trong nội dung cần trình bày của Luận Văn, nhưng HV muốn diễn giải thêm cho người đọc hiểu, thì dùng footnote.

    HỖ TRỢ VIẾT LUẬN VĂN

    Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website:  https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: [email protected]

    The post Tổng Hợp 201 Đề Tài Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Đề cương ôn tập hành chính học https://evbn.org/de-cuong-on-tap-hanh-chinh-hoc-1680772658/ Thu, 06 Apr 2023 09:17:40 +0000 https://evbn.org/de-cuong-on-tap-hanh-chinh-hoc-1680772658/ Khái niệm quản lý hành chính nhà nước và phân tích đặc điểm cơ bản của hành chính nhà nước. Khái niệm quản lý hành...

    The post Đề cương ôn tập hành chính học appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    1. Khái niệm quản lý hành chính nhà nước và phân tích đặc điểm cơ bản của hành chính nhà nước.

    Khái niệm quản lý hành chính nhà nước: Quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước với nội dung đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước với mục tiêu tổ chức và chỉ đạo trực tiếp thường xuyên công cuộc xây dựng đất nước. Với khái niệm này ta có thể thấy quản lý hành chính nhà nước trước hết là:

    –                                 Một hình thức hoạt động của nhà nước.

    –                                 Đối tượng thực hiện: Được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước.

    –                                 Nội dung: Đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước.

    –                                 Mục tiêu: Tổ chức và chỉ đạo trực tiếp thường xuyên công cuộc xây dựng đất nước.

    Phân tích đặc điểm cơ bản của hành chính nhà nước:

    Hành chính nhà nước có những đặc điểm cơ bản sau đây:

    –         Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước.

    Tính chấp hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện ở sự thực hiện trên thực tế các văn bản hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước. Ví dụ như đối với văn bản pháp luật cao nhất của nhà nước đó là hiến pháp, nó có tính phổ biến và áp dụng cho mọi người dân phải tuân theo. Việc tuân thủ và làm theo hiến pháp của mọi công dân đó là biểu hiện của tính chấp hành của hoạt động hành chính nhà nước (Ví dụ cụ thể: Khi một đứa trẻ được sinh ra thì nó đã có quyền của một con người được bố mẹ lên trụ sở UBND làm giấy khai sinh cũng như khi một người qua đời thì được khai tử. Khi một người ra đường tham gia vào giao thông thì phải tuân thủ luật lệ an toàn giao thông (như đi phía bên phải đường, đội mũ bảo hiểm…) và nếu như vi phạm thì sẽ bị phạt.

    Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên thực tế thì các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền. Ví dụ như khi một luật mới hay một quyết định được ban hành thì kèm theo đó chủ thể quản lý hành chính nhà nước cũng sẽ ban hành các văn bản thông tư hướng dẫn thực hiện luật.

    –         Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính chủ động và sáng tạo.

    Điều này thể hiện ở việc các chủ thể quản lý căn cứ vào tình hình, đặc điểm của từng đối tượng quản lý cụ thể để đề ra các biện pháp quản lý thích hợp. Ví dụ như đối với đồng bào các dân tộc thiểu số thì các quy định về luật cũng như chính sách và việc áp dụng cũng có sự khác biệt đối với những đối tượng khác. Ví dụ như một số dân tộc người phụ nữ có tập tục búi tóc cao và như vậy khi tham gia giao thông thì họ không thể đội mũ bảo hiểm nhưng cũng không thể phạt họ như đối với các đối tượng khác. Hơn nữa, hầu hết các trường hợp vi phạm luật do thói quen phong tục tập quán của họ hay do thiếu hiểu biết pháp luật do trình độ nhận thức còn thấp của một bộ phận người dân tộc thiểu số đều được xử lý hết sức nhẹ nhàng trên tinh thần giảng giải và phân tích cho họ hiểu pháp luật của nhà nước và về những vi phạm của họ chứ ít có sự xử phạt nghiêm khắc hay cưỡng chế thi hành đối với những lỗi vi phạm hành chính thông thường. Điều này thể hiện sự linh hoạt, sáng tạo và khôn khéo của chủ thể quản lý hành chính.

    Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính để điều chính các hoạt động quản lý nhà nước. Ví dụ như việc sửa đối hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã được thực hiện trên tinh thần lấy ý kiến đóng góp của toàn thể nhân dân, sau đó quốc hội sẽ thảo luận và thống nhất các điều luật và sự thay đổi cuối cùng để có một bản hiến pháp đầy đủ toàn diện và phù hợp nhất với tình hình thực tế và nguyện vọng của nhân dân. Việc quyết định lấy ý kiến của toàn thể nhân dân tham gia sửa đối hiến pháp thay vì một bộ phận chuyên thực hiện việc nghiên cứu, sửa đổi hiến pháp như trước đây thể hiện sự chủ động và sáng tạo của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

    –         Hoạt động hành chính nhà nước được đảm bảo về phương diện tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.

     Tất cả các cơ quan nhà nước đều tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng hoạt động này chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Đứng đầu là Chính phủ sau đến các Bộ và cơ quan ngang bộ và UBND các cấp.

    –         Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có mục tiêu chiến lược, có chương trình và có kế hoạch để thực hiện mục tiêu.

    Giống như hoạt động quản lý nói chung, hoạt động quản lý hành chính cũng có mục tiêu chiến lược, được cụ thể hóa bằng các mục tiêu nhỏ hơn, đồng thời có kế hoạch, chương trình và biện pháp để thực hiện mục tiêu đó. Ví dụ như thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo thì Chính phủ sẽ cụ thể hóa mục tiêu lớn này bằng các mục tiêu nhỏ hơn như mcuj tiêu đến năm 2015 không còn hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%, tăng tỷ lệ lao động có việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp… Để thực hiện mục tiêu nhỏ này thì Chính phủ lại có các chương trình và kế hoạch nhỏ hơn trên nhiều mặt để thực hiện mục tiêu ví dụ như các chương trình 134, 135…

    –                                 Quản lý hành chính nhà nước chủ yếu do đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện (công vụ).

    1. Nguyên tắc hoạt động của hành chính nhà nước? Phân tích nguyên tắc Đảng lãnh đạo.

    Nguyên tắc hoạt động hành chính nhà nước là những quy tắc, những tư tưởng chỉ đạo, tiêu chuẩn hành vi đòi hỏi chủ thể quản lý hành chính nhà nước cần tuân thủ trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động hành chính nhà nước.

    Phân tích nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong hành chính nhà nước:

    Về cơ sở pháp lý:

    Điều 4 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: Đảng cộng sản Việt Nam – đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.

    Về nội dung nguyên tắc:

    – Đảng đề ra đường lối, chủ trương, định hướng cho quá trình tổ chức hoạt động của hành chính nhà nước. Phân tích. VD

    – Đảng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những người có phẩm chất, năng lực đảm nhận các chức vụ trong bộ máy hành chính nhà nước. Phân tích. VD

    – Đảng kiểm tra hoạt động bộ máy  hành chính nhà nước. Phân tích VD

    – Các cán bộ, Đảng viên gương mẫu trong quá trình hoạt động hành chính nhà nước Phân tích. VD

    Nhận xét: Ðây là nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, cần được vận dụng một cách khoa học và sáng tạo cơ chế Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong quản lý hành chính nhà nước, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Ðảng cũng như khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước.

    Câu 3: Phân biệt mô hình hành chính công truyền thống và mô hình quản lý công mới?

    Tiêu chí

    Mô hình HCC truyền thống 

     

    Mô hình quản lý công mới (hành chính phát triển)

     

    Mục tiêu

    – Hành chính công truyền thống bảo đảm đúng chu trình, đúng quy tắc, thủ tục hành chính (chú trọng đến đầu vào).

    –      – Đánh giá việc quản lý hành chính thông qua xem xét mức độ thực thi các quy tắc, thủ tục hành chính.

    – Bảo đảm kết qủa tốt nhất, hiệu quả cao nhất (chú trọng đến kết quả – đầu ra);

     

     

    – Dùng các tiêu chí cụ thể để đánh giá kết quả quản lý hành chính.

     

    Công chức

    – Trách nhiệm của người công chức, nhà quản lý là giám sát việc thực hiện và giải quyết công việc theo quy chế thủ tục. Những quy định, điều kiện để công chức thực thi công vụ theo một hệ thống thứ bậc rất chặt chẽ, cứng nhắc theo quy định.

        – Thời gian làm việc của công chức được quy định chặt chẽ, có thời gian công (làm việc ở cơ quan) và thời gian tư (thời gian không làm việc ở cơ quan). Công chức mang tính trung lập, không tham gia chính trị, thực hiện một cách trung lập các chính sách do các nhà chính trị đề ra

     

    – Trách nhiệm của người công chức, nhà quản lý chủ yếu là bảo đảm thực hiện mục đích, đạt kết quả tốt, hiệu quả cao. Những quy định, điều kiện để công chức thực thi nhiệm vụ có hình thức linh hoạt, mềm dẻo hơn.

       

    – – Thời gian làm việc linh hoạt hơn, có thể họ làm việc trong một thời gian nhất định, có thể làm chính thức hoặc hợp đồng (có một phần thời gian làm công vụ tại nhà). Công chức cam kết về mặt chính trị cao hơn trong các hoạt động của mình, các hoạt động hành chính mang tính chính trị nhiều hơn.

     

    Chính phủ

    -Mọi công vụ được Chính phủ thực thi, giải quyết theo pháp luật quy định. Chức năng của Chính phủ nặng về hành chính xã hội, trực tiếp tham gia các công việc công ích xã hội.

     

      

    – Chức năng của Chính phủ thuần tuý mang tính hành chính không trực tiếp liên hệ đến thị trường

     

    – Các công vụ mang tính chính trị nhiều hơn, ảnh hưởng của chính trị ngày càng lớn trong hành chính. Chức năng tham gia trực tiếp các dịch vụ công cộng ngày càng giảm bớt mà thông qua việc xã hội hoá các dịch vụ đó để quản lý xã hội, nhưng vẫn có sự quản lý của Nhà nước.

       

    – – Chức năng của Chính phủ đối mặt với những thách thức của thi trường.

     

     

    Câu 4: Thế nào là thể chế HCNN? Các yếu tố cấu thành thể chế HCNN?

    Khái niệm: Thể chế hành chính nhà nước là các quy định chung do Nhà nước xác lập trong Hiến pháp, Luật và các văn bản pháp quy tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước để thực hiện quản lý xã hội.

     

    -Các yếu tố cấu thành thể chế hành chính nhà nước

    1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của các cơ quan thuộc bộ máy hành chính Nhà nước từ Trung ương tới cơ sở, bao gồm:

    – VB quy định tổ chức CP, Bộ

    – VB quy định tổ chức UBND, Sở ban ngành

    2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định nội dung của quản lý HC nhà nước trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội

              VD: về tổ chức bộ máy nhà nước thì Hiến pháp quy định có 4 cấp, cụ thể hoá là Luật Tổ chức bộ máy nhà nước, có NĐ của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn thi hành…).

    3. Hệ thống văn bản quy phạm pl  quy định chế độ công vụ, công chức

                       Ví dụ:

    –                                                       Luật CBCC 2008

    –                                                       Luật viên chức năm 2010

    –                                                        Các Nghị định, Thông tư về bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật…

    4. Hệ thống các chế định về tài phán hành chính nhằm giải quyết tranh chấp hành chính giữa công dân với nền hành chính.

    Ví dụ: Luật tố tụng hành chính

    5. Hệ thống các thủ tục hành chính nhằm giải quyết các quan hệ giữa Nhà nước với công dân và với các tổ chức xã hội.

              Ví dụ: Bộ thủ tục hành chính chung, các thủ tục đăng ký hộ khẩu gồm những loại giấy tờ gì, ai làm…).

    Câu 5: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thể chế HCNN?

    • Chế độ chính trị

    Đối với Việt Nam, hệ thống chính trị bao gồm Đảng cầm quyền, Nhà nước và nhân dân vận động theo cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Mối quan hệ và sự vận động của hệ thống chính trị đó quyết định trực tiếp tới nội dung của thể chế hành chính nhà nước.

    – Mọi thể chế hành chính nhà nước đều phải hướng theo sự chỉ đạo thông qua các Nghị quyết của Đảng theo các kỳ đại hội.

    – Thể chế hành chính nhà nước cũng cần đảm bảo được vấn đề dân chủ của nhân dân trong khuôn khổ pháp luật vì nhà nước Việt Nam là nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa.

    – Thể chế hành chính nhà nước cũng phải đảm bảo tính nhân đạo của nền hành chính nhà nước, bảo đảm quyền con người và quyền cdân

    • Nền kinh tế và vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tê

    Thể chế kinh tế của mỗi quốc gia bao gồm hệ thống quy định pháp luật định hướng, can thiệp và điều tiết các hoạt động kinh tế nhằm làm cho nền kinh tế quốc dân vận động theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.

    THCCNN phải đầy đủ, hoàn thiện và mang tính dự báo đối với sự phát triển của nền kinh tế

    * Trình độ phát triển của quốc gia

    – Thể chế hành chính nhà nước bao gồm các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thức đẩy xã hội phát triển theo định hướng của nhà nước;

    – Khi xây dựng thể chế hành chính nhà nước để quản lý xã hội thì phải phù hợp với trình độ phát triển của các quan hệ xã hội trong từng giai đoạn, thời kỳ nhất định.

    – Thể chế hành chính nhà nước cũng phải có tính năng vượt trội để định hướng cho sự phát triển của các quan hệ xã hội theo mong muốn của Nhà nước.

    • Văn hoá dân tộc

    – Khi xây dựng thể chế hành chính nhà nước để quản lý xã hội cần tính đến những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của nền văn hoá.

    – Thể chế hành chính nhà nước bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc, đồng thời nó phải hạn chế và xoá bỏ những yếu tố tiêu cực trong xã hội.

    • Môi trường quốc tế

    – Xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế

    – Hoàn thiện hệ thống thủ tục: thủ tục thuế quan, xuất nhập cảnh, đầu tư nước ngoài, đăng ký sở hữu trí tuệ…

    – Hoàn thiện thể chế liên quan tới thị trường như thể chế về huy động vốn, tiền tệ, thị trường chứng khoán, bất động sản, thị trường lao động, thể chế về hoạt động của các cơ quan đối ngoại và những người làm công tác đối ngoại.

    Câu 6: Trình bày dấu hiệu nhận biết công chức? Quan niệm công chức ở Việt Nam hiện nay?

    • Nhìn chung, công chức ở các nước trên thế giới có những dấu hiệu nhận biết chung như sau:

    –                                                       Là công dân của nước đó;

    –                                                       Được tuyển dụng bởi Nhà nước

    –                                                       Làm việc trong các cơ quan nhà nước;

    –                                                       Được trả lương từ ngân sách nhà nước;

    –                                                       Làm các công việc mang tính chất thường xuyên, liên tục.

    • Quan niệm về công chức ở Việt Nam hiện nay

    Khái niệm công chức: Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh nhất định, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

    Những nhận định sau đúng hay sai. Giải thích

    – CBCC làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương. (sai, giải thích)

    – CBCC là người làm việc trong bộ máy NN (sai, giải thích)

    – CBCC là người đại diện cho nhà nước để thực thi quyền hành pháp (sai, giải thích)

    – CBCC là những người làm việc trong biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước (đúng, giải thích)

    Câu 7: Khái niệm cơ quan HCNN? phân biệt cơ quan HCNN có thẩm quyền chung và cơ quan HCNN có thẩm quyền riêng?

    KN: Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan nhà nước với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, với cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức xác định nhằm thực hiện hoạt động quản lý hành chính trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Khái niệm

        CQHCNN TQ chung: Là cơ quan hành chính có chức năng và thẩm quyền quản lý mọi đối tượng, mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên phạm vi lãnh thổ được phân cấpVD:CP, UBND

        CQHCNN TQ riêng: Là cơ quan hành chính có chức năng và thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước ngành hoặc lĩnh vực theo sự phân công, phân cấp.

    VD: Bộ, cơ quan ngang bộ, các sở ban ngành

    P.vi tác động

      Mọi ngành, mọi lĩnh vực trong phạm vi lãnh thổ nhất định

      Một hoặc một vài ngành, lĩnh vực nhất định

    Đối tượng điều chỉnh

       Mọi mối quan hệ xã hội phát sinh từ các đối tượng trong XH

       Một hoặc một vài mối quan hệ XH nhất định gắn với từng ngành, lĩnh vực

    Cơ chế hoạt động

      Tập thể, quyết định theo đa số

      Thủ trưởng

    H.thành lãnh đạo

      Bầu hoặc bầu + bổ nhiệm

      Chủ yếu bổ nhiệm

    Ký VB

    Lãnh đạo ký thay mặt

    Lãnh đạo ký trực tiếp

     

    Câu 8: Trình bày khái niệm Bộ máy nhà nước, Bộ máy hành chính nhà nước , Cơ quan hành chính nhà nước? Phân loại cơ quan trong HCNN?

    -Khái niệm Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương và cơ sở hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước

    –  Bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước với thẩm quyền, cơ cấu nhất định nhằm thực hiện quyền hành pháp của Nhà nước.

    Khái niệm: Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan nhà nước với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, với cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức xác định nhằm thực hiện hoạt động quản lý hành chính trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Phân loại cơ quan hành chính nhà nước:

    * Theo phạm vi thẩm quyền:

    –                                                       Cơ quan có thẩm quyền chung: CP, UBNDCC

    –                                                       Cơ quan có thẩm quyền chuyên môn: Bộ Cq ngang Bộ, Sở ban ngành

    * Theo căn cứ pháp lí để thành lập

    – Các cơ quan Hiến định : CP, UBND, Các Bộ, Cq ngang bộ

    – Cơ quan được thành lập trên cơ sở các đạo luật và văn bản dưới luật: gồm cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng cục, Cục, Vụ, Viện, Sở, phòng, ban.

    * Theo phạm vi lãnh thổ

    – Cơ quan hành chính ở TW: CP, Bộ cơ quan ngang Bộ

    –  Cơ quan hành chính ở địa phương: UBNDCC và các Sở, ban, ngành

    Câu 9:  Khái niệm chức năng HCNN, phân tích đặc điểm chức năng HCNN?

    * Khái niệm: Chức năng HCNN là những phương diện hoạt động chủ yếu được hình thành thông qua quá trình phân công, chuyên môn hóa lao động của nền hành chính nhà nước nhằm thực thi quyền hành pháp

    * Đặc điểm:

    – Chức năng HCNN phụ thuộc vào mối quan hệ giữa hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước; Phân tích. VD

    – Chức năng HCNN do Hiến pháp, Luật, các văn bản quy phạm khác quy định; Phân tích. VD

    – Phân định chức năng HCNN tổng quan và chức năng của từng cơ quan HCNN cụ thể. Phân tích. VD

    Câu 10: Trình bày về các phương pháp quản lí hành chính nhà nước? Lấy ví dụ minh họa?

    Khái niệm: Phương pháp quản lí hành chính nhà nước là cách thức thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của bộ máy hành chính; cách thức tác động của chủ thể quản lí hành chính nhà nước lên các đối tượng quản lí nhằm đạt được hành vi xử sự cần thiết.

    • Nhóm phương pháp chung

    –    Phương pháp kế hoạch hóa

    • Xây dựng chiến lược phát triển KTXH

    • Lập quy hoạch tổng thể và chuyên ngành

    • Dự báo xu thể phát triển

    • Đặt chương trình mục tiêu và xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn

    • Sử dụng pp này để tính toán các chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, các biện pháp cân đối

    –    Phương pháp thống kê

    • Tiến hành điều tra, khảo sát, phân bổ sử dụng các pp tính toán

    • Thu thập số liệu, tổng hợp và chỉnh lý để tính toán tốc độ phát triển các chỉ tiêu quan trọng

    • Phân tích các nguyên nhân, dự báo tình hình của hiện tượng quản lí

    –      Phương pháp toán học

    • Các cơ quan nhà nước sử dụng các máy điện toán  để thu thập số liệu xử lý và lưu trữ thông tin

    • Tính toán cân đối các liên ngành trong mọi lĩnh vực quản lí

    –     Phương pháp tâm lí xã hội

    Tác động vào tâm tư, tình cảm của người lđ, tạo cho họ không khí hồ hởi yêu thích công việc, gắn bó với tập thể hăng say làm việc, giải quyết các vướng mắc trong công tác, giúp đỡ giải quyết các khó khăn về cuộc sống

    –     Phương pháp sinh lí học

    Các cq hành chính nhà nước tiền hành bố trí nơi làm việc phù hợp với sinh lí con người, tạo ra sự thoải mái trong làm việc và tiết kiệm các thao tác không cần thiết nhằm nâng cao năng suất lao động như: bố trí phòng làm việc; bàn làm việc; ghế ngồi; màu sắc; ánh sáng…

    • Nhóm phương pháp chủ đạo

    – Phương pháp thuyết phục

    Là cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính nhà nước vào nhận thức, tình cảm nhằm nâng cao tính tự giác và khả năng làm việc của đối tượng quản lý.

    – Phương pháp cưỡng chế

    Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với những cá nhân hoặc tổ chức nhất định trong những trường hợp mà pháp luật quy định.

    – Phương pháp hành chính

    Là cách thức điều hành của chủ thể quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra mệnh lệnh hành chính dứt khoát, bắt buộc thưc hiện đối với đối tượng quản lý

    -Phương pháp kinh tế

    Là cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính nhà nước lên lợi ích của  đối tượng quản lý thông qua việc sự dụng các đòn bẩy kinh tế.

    Câu 11: Trình bày khái niệm quyết định HCNN và phân tích tính chất quyết định HCNN?

    – Khái niệm: Quyết định quản lí hành chính nhà nước là QĐ của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước được ban hành trên cơ sở pháp luật nhà nước để giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình quản lí hành chính nhà nước.

    * Tính chất quyết định quản lí hành chính nhà nước

    – QĐQLHCNN mang tính quyền lực nhà nước. Phân tích. VD

    – QĐQLHCNN mang tính pháp lí vì hệ quả pháp lí của quyết định là làm phát sinh, thay đổi chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Phân tích. VD

    – QĐQLHCNN mang tính dưới luật, nội dung phù hợp với Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản quản lí của cơ quan quản lí cấp trên. Phân tích. VD

    – QĐQLHCNN được ban hành để thực hiện quyền hành pháp của hệ thống hành chính nhà nước. Phân tích. VD

     

    Câu 12: Trình bày khái niệm quyết định HCNN và phân loại quyết định HCNN?

    Khái niệm: Quyết định quản lí hành chính nhà nước là QĐ của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước được ban hành trên cơ sở pháp luật nhà nước để giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình quản lí hành chính nhà nước.

    • Căn cứ vào thẩm quyền ban hành

    –   Chính phủ : Nghị định, Nghị quyết liên tịch

    –         Thủ tướng Chính phủ: Quyết định

    –         Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ: Thông tư và thông tư liên tịch

    –         UBND: Quyết định và chỉ thị

    • Căn cứ vào thời gian có hiệu lực của QĐ

    – Có hiệu lực lâu dài đ­ợc áp dụng cho đến khi có quyết định hành chính khác thay thế.

    – Có hiệu lực trong một thời gian nhất định – là những quyết định có ghi rõ thời hạn có hiệu lực, tuỳ thuộc vào thời gian giải quyết vấn đề.

    – Quyết định hành chính có hiệu lực một lần chỉ giải quyết những nhiệm vụ cụ thể.

    • Căn cứ vào cấp ban hành

    – Quyết định hành chính cấp Trung ­ương

    – Quyết định hành chính nhà nư­ớc cấp địa phư­ơng

    • Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh

    – QĐHCNN về lĩnh vực văn hóa

    – QĐHCNN về lĩnh vực y tế

    – QĐHCNN về lĩnh vực giáo dục…

    * Căn cứ vào tính chất và nội dung của QĐ

    – QĐHC chung (QĐHCNN cơ bản)

    – QĐHCNN mang tính quy phạm

    – QĐHCNN cá biệt

    Câu 13: Phân biệt quyết định hành chính quy phạm và quyết định hành chính cá biệt?

    Chia sẻ:

    Thích bài này:

    Thích

    Đang tải…

    The post Đề cương ôn tập hành chính học appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>
    Đề cương thi môn quản lý hành chính nhà nước https://evbn.org/de-cuong-thi-mon-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-1680772641/ Thu, 06 Apr 2023 09:17:22 +0000 https://evbn.org/de-cuong-thi-mon-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-1680772641/ Ngày đăng: 08/07/2016, 14:58 ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Câu1: Trình bầy khái niệm quản lý nhà nước: Quản...

    The post Đề cương thi môn quản lý hành chính nhà nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>

    Ngày đăng: 08/07/2016, 14:58

    ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Câu1: Trình bầy khái niệm quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước điều khiển đạo hệ thống hay trình để vận động theo phương hướng đạt mục đích định vào quy luật hành chính, luật nguyên tắc tương ứng Điều kiện quản lý: – Phải có quyền uy – Có tổ chức – Và có sức mạnh cưỡng chế Quản lý nhà nước hoạt động nhà nước lĩnh vực lập pháp., hành pháp tư pháp nhằm thực chức đối nội đối ngoại nhà nước Quản lý nhà nước tác động chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu pháp luật tới đối tượng quản lý nhằm thực chức đối nội đối ngoại nhà nước chủ quan quản lý nhà nước tổ chức hay mang quyền lực nhà nước trình hoạt động tới đối tượng quản lý Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: Nhà nước Cơ quan nhà nước tổ chức nhà nước xã hội cá nhân nhà nước uỷ quyền thực quyền quản lý nhà nước Khách thể quản lý nhà nước: Là trật tự quản lý nhà nước Quản lý hành nhà nước hình thức hoạt động nhà nước thực trước hết uỷ quyền quan hành nhà nước Tính chấp hành thể chỗ bảo đảm thực thực tế văn pháp luật quan quyền lực nhà nước tiến hành sở pháp luật Tính chất điều hành để đảm bảo cho văn pháp luật quan quyền lực nhà nước thực thi.Trong thực tế chủ thể quản lý nhà nước tiến hành hoạt động tổ chức hoạt động trực tiếp đối tượng quản lý Cơ quan hành nhà nước ban hành mệnh lệnh cụ thể bắt buộc đối tượng quản lý phải thực Như chủ thể quản lý hành nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước điều khiển hoạt động đối tượng quản lý Hoạt động điều hành nội dung hoạt động chấp hành quyền lực nhà nước Chủ thể quản lý hành nhà nước Là quan nhà nước, cán nhà nước có thẩm quyền, tổ chức xã hội cà cá nhân nhà nước trao quyền quản lý hành Khách thể quản lý hành nhà nước Câu 2: “So sánh quản lý nhà nước với quản lý” Quản lý nhà nước hoạt động nhà nước lĩnh vực lập pháp, hành pháp tư pháp nhằm thực chức đối nội đối ngoại nhà nước Nói cách khác quản lý nhà nước tác động chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu pháp luật tới đối tượng quản lý nhằm thực chức đối nội chức đối ngoại nhà nước Từ khái niệm này, vào phạm vi, vào chủ thể khách thể hoạt động quản lý nhà nước nói riêng hoạt động quản lý nói chung ta dễ dàng phân biệt, so sánh giống khác hoạt động này: Nếu quản lý ( xã hội ) a/ Khái niệm: Có thể diễn đạt công thức sau: quản lý = đạo: + Hệ thống, trình + quy luật, định luật + Phương hướng cụ thể hệ thống hay trình vận động theo trình tự định b/ phạm vi quản lý (xã hội): bao hàm rộng tất lĩnh vực, hoạt động đời sống gia đình, quản lý tôn giáo, quản lý trị đạo đức Thì quản lý nhà nước a/ Khái niệm: Có thể biểu đạt sau: quản lý nhà nước = hoạt động: + lập pháp + Hành pháp + tư pháp Để thực chức đối nội đối ngoại nhà nước b/ Phạm vi quản lý nhà nước: Chỉ lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp c/ Chủ thể quản lý nhà nước – Phải quan nhà nước nhà nước c/ Chủ thể quản lý: rộng – Con người chủ thể quản lý xã hội – Các cá nhân tổ chức xã hội trao quyền lực nhà nước – Các quan nhà nước d/ Khách thể quan nhà nước: – Cá nhân trao quyền không Đó trật tự quản lý nhà nước xác trao quyền định quy phạm pháp luật d/ Khách thể quản lý: Đó trật tự quản lý nói chung xá định quy phạm đạo đức trị, tôn giáo, pháp luật *Tóm lại: Khi nhà nước xuất phần lớn công việc xã hội nhà nước quản lý Nói đến hoạt động quản lý nhà nước nói đến hoạt động máy nhà nước Hoạt động quản lý xã hội mang phạm vi rộng lớn hơn, bao trùm có hoạt động quản lý nhà nước phận quan trọng ảnh hưởng định đến hoạt động quản lý khác Câu 3: “tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước ” Xuất phát từ thực trạng sở kinh tế xã hội nước ta kinh tế nhỏ bé yếu kém, trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ thấp, đội ngũ cán viên chức nhà nước đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn Vì để đưa đất nước lên việc tiến hành cải tiến hành tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước quan trọng, cấp bách có tính sống Nhà nước ta tổ chức thực quyền lực nhân dân,do dân dân, để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước trước hết phải Luôn tôn trọng nêu cao vị trí, vai trò lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục cải cách máy hành chính, tiêu chuẩn hoá đội ngũ công chức, viên chức nhà nước, muốn cần thực tốt số biện pháp sau: -Tăng cường pháp chế XHCN, tiếp tục sửa đổi xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế, hành chính, quyền nghĩa vụ công dân.nâng cao trình độ quan lập pháp, tuyên truyền nâng cao dân trí thức pháp luật cho nhân dân – Xác định rõ lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cấp tỉnh, huyện, đề cao quyền chủ động trách nhiệm địa phwơng đồng thời đảm bảo đạo thống quyền trung ương, xây dựng quyền cấp xã vững mạnh – Tăng cường hiệu lực quan bảo vệ pháp luật.xử lý nhanh chóng kịp thời, ngiêm minh vi phạm pháp luật – Kiên dũng cảm xếp lại tổ chức tinh giảm biên chế quan hành nghiệp làm cho máy gọn nhẹ hoạt động có hiệu – Kiên quyết, kiên trì tiến hành thường xuyên lâu dài đấu tranh tham nhũng biện pháp khác từ giáo dục tư tưởng, khuyến khích kinh tế.đến trừng phạt nghiêm khắc – Thực tốt biện pháp đòi hỏi nỗ lực đoàn kết trí đông đảo nhân dân lao động lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, góp phần to lớn vào việc xây dựng nhà nước ta thực trở thành nhà nước nhân dâ, dân dân, đại diện tập trung quyền lực nhân dân thực nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công văn minh lời Bác Hồ dạy: “ dễ trăm lần không dân chịu, khó vạn lần dân liệu xong ” Câu 4: “So sánh quản lý hành nhà nước quản lý nhà nước” Xuất phát từ khái niệm quản lý nhà nước hoạt động nhà nước lĩnh vực lập pháp, hành pháp tư pháp nhằm thực chức đối ngoại nhà nước, ta thấy hoạt động quản lý nhà nước nói chung quản lý hành nói riêng (tức quản lý nhà nước lĩnh vực hành pháp hoạt động đạo thực pháp luật gọi quản lý hành nhà nước) Có điểm riêng sau: Quản lý nhà nước Quản lý hành nhà nước * Khái niệm: rộng Quản lý nhà nước = đạo hoạt động + lập pháp + Hành pháp + Tư pháp Để thực chức đối nội đối ngoại nhà nước * Chủ thể: – Nhà nước quan nhà nước – Các tổ chức xã hội cá nhân\được trao quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước * Khách thể: Trật tự quản lý nhà nước xác định quy phạm pháp luật * Khái niệm: Hẹp Quản lý hành nhà nước= hoạt động đạo pháp luật ( hành pháp) Bảo đảm chấp hành luật, pháp lệnh nghị quyết, quan quyền lực nhà nước (cơ quan dân chủ) * chủ thể: – Cơ quan hành nhà nước – Cán nhà nước có thẩm quyền *Khách thể: Đảm bảo hoạt động chấp hành, điều hành sở pháp luật để đạo thực pháp luật *Tóm lại: Hoạt động quản lý hành nhà nước (tức hoạt động hành pháp đạo tổ chức thực pháp luật sở pháp luật) hoạt động rộng lớn thường xuyên quan trọng quản lý nhà nước nằm khuôn khổ nhà nước Câu 5: “trình bày đối tượng luật hành chính, nhóm quan trọng nhất?Tại sao?” * Đối tượng điều chỉnh luật hành chính: Là quan hệ xã hội phát sinh trình điều hành quản lý nhà nước bao gồm đối tượng: – Nhóm 1: Bao gồm quan hệ xã hội phát sinh trình quan hành nhà nước thực chấp hành điều hành bao gồm: Quan hệ quan hành nhà nước cấp với quan nhà nước cấp theo hệ thống dọc Quan hệ quan hành nhà nước có thẩm quyền chung với quan hành nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cung cấp Quan hệ quan hành có thẩm quyền chuyên môn cấp với quan hành có thẩm quyền chuyên môn cấp trực tiếp Quan hệ quan hành nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp với pháp luật quy định quan có thẩm quyền định quan Trong quan hệ chủ thể quản lý thường quan có chức chuyên môn tổng hợp Quan hệ quan hành nhà nước địa phương với đơn vị trực thuộc trung ương đóng địa phương Quan hệ quan hành nhà nước với đơn vị sở trực thuộc Quan hệ quan nhà nước với đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế quốc doanh Quan hệ quan hành nhà nước với tổ chức xã hội Quan hệ quan hành nhà nước với công dân người nước ngoài, người quốc tịch làm ăn sinh sống Việt Nam – Nhóm II: Bao gồm quan hệ xã hội hình thành trình quan xây dựng củng cố chế độ công tác nội quan, nhằm ổn định mặt tổ chức để hoàn thành chức nhiệm vụ -Nhóm III: Bao gồm quan hệ xã hội hình thành trình cá nhân, tổ chức nhà nước trao quyền quản lý hành nhà nước số trường hợp cụ thể pháp luật quy định Trong nhóm đối tượng điều chỉnh luật hành nhóm quan trọng nhóm quan hệ phát sinh trình tổ chức, đạo thực pháp luật Trong trình chấp hành, điều hành quản lý nhà nước là: – Phạm vi quan hệ nhóm diễn nhiều lĩnh vực trị, kinh tế, văn hóa – chủ thể quan hành nhà nước, chủ thể thiếu Là chủ thể quan trọng chủ yếu, quan, cá nhân trao quyền – Số lượng quan hệ diễn thường xuyên liên tục với số lượng lớn Tần số lớn ngày, Bao gồm nhóm nhỏ Câu 6: “Chứng minh phương pháp điều chỉnh luật hành phương pháp mệnh lệnh đơn phương bắt buộc” Xuất phát từ khái niệm luật hành ngành luật hệ thống pháp luật nước ta bao gồm quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trình hoạt động quản lý hành nhà nước quan hành nhà nước Trong nội quan hành nhà nước trình cá nhân hay tổ chức trao quyền hay tổ chức thực tổ chức quản lý hành nhà nước vấn đề cụ thể pháp luật quy định Mặt khác phương pháp điều chỉnh ngành luật nói chung cách thức tác động ngành luật nên đối tượng Phương pháp điều chỉnh ngành luật hành cách thức mà luật hành tác động đến nhóm đối tượng luật hành Vậy thực tiễn phương pháp điều chỉnh luật hành xuất phát từ việc thực chấp hành, điều hành nên phương pháp điều chỉnh luật hành mệnh lệnh, đơn phương hình thành từ quan hệ “Quyền lực-phục tùng” bên có quyền nhân danh nhà nước mệnh lệnh bắt buộc thi hành bên có nghĩa vụ, phục tùng mệnh lệnh Chính quan hệ thể bất bình đẳng bên tham gia quan hệ quản lý hành nhà nước Những biểu sau làm sáng tỏ thêm phương pháp điều chỉnh luật hành phương pháp bất bình đẳng ý chí: – Chủ thể quản lý có quyền nhân danh nhà nước để áp đặt ý chí nên đối tượng quản lý Các quan hệ đa dạng nên việc áp đặt ý chí chủ thể quản lý nên đối tượng quản lý thực nhiều trường hợp khác: + Hoặc bên có thẩm quyền đơn phương mệnh lệnh cụ thể hay đặt quy định bắt buộc bên kiểm tra thực chúng, phía bên phải thực mệnh lệnh, quy định Ví dụ: Chính phủ mệnh lệnh cho cấp, ngành phải tích cực phòng chống lụt bão mùa mưa bão đồng thời kiểm tra đôn đốc việc thực cấp, ngành, Chính phủ đặt quy định xử phạt vi phạm hành Các đối tượng quản lý có liên quan phải tuân thủ thực mệnh lệnh quy định + Hoặc bên có thẩm quyền vào pháp luật để đáp ứng hay bác bỏ yêu cầu, kiến nghị đối tượng quản lý Trong trường hợp quyền định thuộc quan có thẩm quyền, Vì có trùng hợp ý chí.Ví dụ: Công dân có quyền làm đơn yêu cầu UBND huyện cấp giấy sử dụng đất hay giấy xây dựng nhà ở, UBND huyện chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu công dân + Hoặc bên có quyền hạn định bên điều phải bên cho phép hay phê chuẩn phối hợp định Khi phải có phối hợp nhiều chủ thể nhân danh nhà nước thực việc áp đặt ý chí đối tượng quản lý Ví dụ: quan công an cần bắt giữ đối tượng quản lý phải có phối hợp đồng ý quan Viện kiểm sát, lệnh bắt phải có phê chuẩn Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân áp dụng – Biểu thứ hai không bình đẳng thể chỗ bên áp dụng biện pháp cưỡng chế hành nhằm buộc đối tượng quản lý phải thực mệnh lệnh Sự bất bình đẳng bên tham gia quan hệ quản lý hành nhà nước biểu rõ nét không phụ thuộc vào quan hệ Sự không bình đẳng bên quan hành nhà nước với tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, công dân đối tượng quản lý khác không bắt nguồn từ quan hệ tổ chức mà bắt nguồn từ quan hệ “phục tùng”trong quan hệ quan hành nhà nước, nhân danh nhà nước để thực chức chấp hành – điều hành đối tượng quản lý, đối tượng quản lý phải phục tùng ý chí nhà nước mà người đại diện quan hành Sự bất bình đẳng bên tham gia quan hệ quản lý hành nhà nước thể rõ nét tính chất đơn phương bắt buộc định hành nhà nước chủ thể quản lý hành đưa vào thẩm quyền sở phân tích đánh giá tình hình, có quyền mệnh lệnh đề biện pháp cưỡng chế nhà nước Tuy nhiên cưỡng chế mà dựa vào biện pháp khác giáo dục thuyết phục hiệu dùng đến cưỡng chế Kết luận: Phương pháp điều chỉnh luật hành phương pháp mệnh lệnh đơn phương bắt nguồn từ quan hệ “quyền lợi- phục tùng” Phương pháp xây dựng nguyên tắc sau: + Xác nhận không bình đẳng bên tham gia quan hệ hành chính, bên nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để đưa bên định hành bên phải phục tùng định + Bên nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước có quyền định công việc cách đơn phương xuất phát từ lợi ích chung nhà nước, xã hội phạm vi quyền hạn để chấp hành pháp luật + Quyết định đơn phương cử bên sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu lực bắt buộc thi hành bên hữu quan bảo đảm sức mạnh cưỡng chế nhà nước Câu Phân tích dấu hiệu để xác định nguồn luật hành Định nghĩa nguồn: Nguồn luật hành văn quy phạm pháp luật quan nhà nước, có thẩm quyền ban hành theo thủ tục hình thức định.có nội dung quy phạm pháp luật hành có hiệu lực bắt buộc thi hành đối tượng có liên quan bảo đảm thực cưỡng chế nhà nước Như văn pháp luật luật hành mà có văn chứa đựng quy phạm pháp luật hành chínhmới nguồn luật hành Còn văn pháp luật không chứa đựng nội dung quy phạm pháp luật hành thuộc ngành luật khác điều chỉnh, ví dụ: Luật tổ chức phủ, luật bầu cử Không phải tất văn pháp luật nhà nước ban hành nguồn luật hành Những văn chứa đựng quy phạm pháp luật hành có hiệu lực bắt buộc thi hành đối tượng có liên quan bảo đảm thực cưỡng chế nhà nước mà nguồn luật hành thuộc ngành luật hành Đặc điểm ban hành văn pháp luật nguồn luật hành : Các văn pháp luật nguồn ban hành luật hành chủ yếu quan nhà nước có thẩm quyền độc lập ban hành Có văn nhiều quan nhà nước phối hợp ban hành để giải công việc có liên quan phối hợp giải quyết.Ví dụ: thông tư liên Có số văn giả pháp luật liên tịch quan hành nhà nước với tổ chức chủ yếu số lượng Câu8: phân biệt hoạt động quản lý hành chinh nhà nước với hoạt động quan lý tổ chức xã hội Cơ quan hành nhà nước 1.Chủ thể: Nhân danh nhà nước có Tham gia vào quân hệ pháp luật Đối tượng: Toàn xã hội cá nhân Tổ chức Phương tiện quản lý: Nhà nước quản lý Xã hội pháp luật Được bảo đảm thực Cưỡng chế nhà nước Tổ chức xã hội Các tổ chức xã hội nhân danh tổ chức Hẹp có thành viên Các tổ chức xã hội quản lý điều Lệ Đảm bảo cưỡng chế mang tính Xã hội Không đảm bảo Bộ máy nhà nước Câu Trình bầy nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đặt lên hàng đầu quản lý hành nhà nước Hiến pháp1992 quy định điều “Đảng cộng sản Việt Nam đội tiên phong giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi giai cấp công nhân, nhân dân lao động dân tộc theo chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí minh lực lượng lãnh đạo nhà nước xã hội” – Sự lãnh đạo Đảng nhà nước xã hội mang tính tất yếu – Sự lãnh đạo Đảng giữ vai trò định việc xác định phương hướng hoạt động máy nhà nước để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tạo điều kiện để nhân dân lao động tham gia vào quản lý nhà nước Lãnh đạo quản lý nhà nước trước hết nghị vạch đường lối chủ chương, sách nhiệm vụ cho quản lý nhà nước Phương hướng hoàn thiện hệ thống quan quản lý mặt tổ chức cấu hình thức phương pháp hoạt động chung Mọi vấn đề quan trọng quản lý nhà nước kể vấn đề chiếm lược lâu dài Đảng thảo luận định – Với tầm quan trọng lãnh đạo Đảng hoạt động nhà nước tính tất yếu Biểu hiện: Đảng lãnh đạo theo đường lối, tổ chức cán bộ, kiểm tra * Các hình thức lãnh đạo Đảng: – Đảng lãnh đạo QLHCNN việc đưa đường lối chủ trương, sách về lĩnh vực hoạt động khác QLHCNN Thể qua văn kiện – nghị Đảng, đường lối sách Đảng “ nguồn” chủ yếu để CQNN có thẩm quyền thể chế hóa thành luật – Đảng lãnh đạo QLHCNN thông qua công tác tổ chức cán bộ: Các tổ chức Đảng bồi dưỡng, đào tạo Đảng viên ưu tú, có phẩm chất lực gánh vác công việc máy HCNN Đảng đưa ý kiến việc bố trí cán phụ trách vào vị trí lanh đạo quan HCNN Việc giới thiệu cán Đảng vào vị trí tiến hành thông qua tín nhiệm NN, quần chúng nhân dân Đảng không áp đặt tổ chức, quan mà giới thiệu Vấn đề bầu, bổ nhiệm thực CQNN theo trình tự, thủ tịc PL qui định, ý kiến t/c Đảng sở để CQ xem xét đưa định cuối Ví dụ: Đảng giới thiệu nhân để QH bầu chức danh quan trọng Chủ tịch nước, Chủ tịch QH, Thủ tướng CP – Đảng lãnh đạo QLHCNN thông qua công tác kiểm tra : Đảng đánh giá tính hiệu tính thực tế đường lối để rút kinh nghiệm từ khắc phục đồng thời phát huy mặt tích cực Qua công tác kiểm tra Đảng nắm hoạt động thể chế hoá đường lối Đảng, cấp quyền Và kiểm tra để phát vi7 phạm để kịp thời điều chỉnh xử lý – Đãng lãnh đạo thể thông qua uy tín vai trò gương mẫu tổ chức Đảng Đảng viên Các nghị Đảng không mang tính quyền lực pháp lý, có tính bắt buộc trực tiếp thi hành Đảng viên, uy tín Đảng, vai trò gương mẫu Đảng viên, lãnh đạo to lớn Đảng hệ thống quản lý nhà nước bảo đảm hiệu hoạt động * Phương pháp lãnh đạo Đảng: – Đảng sử chủ yếu phương pháp thuyết phục , Đảng tổ chức trị không phảlà CQNN nên khả sử dụng quyền lực NN thiết chế NN có : Công an, quân đội, tòa án vvv – Đảng sữ dụng phương pháp cưỡng chế Đảng, tức xử lý vi7 phạm thông qua điều lệ Đảng Tóm lại: Chính lãnh đạo Đảng sở đảm bảo phối hợp quan nhà nước tổ chức xã hội lôi đông đảo quần chúng nhân dân.tham gia thực nhiệm vụ quản lý nhà nước tất cấp quản lý Thay quan hành nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để quan hành thực tốt chức Câu 10: Các nghị Đảng (của đại biểu toàn quốc ban tri trung ương) có phải nguồn luật hành hay không ? Tại ? Các nghị đảng văn quan nhà Nhà nướcban hành, không chứa quy định pháp luật hành Các văn nguồn văn luật hành sở, để nhà nước hoá thành quy phạm pháp luật hành Do vây nghị Đảng nguồn luật hành Câu 11: Trình bầy nguyên tắc tập trung dân chủ Điều Hiến pháp 1992 quy định “ Quốc hội, HĐND cấp quan khác nhà nước tổ chức hoạt động nhà nước ta Nguyên tắc tập trung dân chủ ” Đây nguyên tắc tổ chức hoạt độnh nhà nước ta Nguyên tắc quy dịnh trước hết lãnh đạo tập trung Sự tập trung bảo đảm cho quan cấp địa phương sở có khả thực định trung ương đồng thời đảm bảo tính sáng tạo chủ động địa phương vá sở việc giải vấn đề địa phương sở Tránh tập trung quan liêu dân chủ trớn Vô nguyên tắc dẫn đến cục địa phương, phải bảo đảm quyền làm chủ cấp quản lý quyền định trung ương đói với nhữngvấn đề then chốt Những vấn đề có tính chất chiến lược bảo đảm cho phát triển cân đối kinh tế quốc dân Biểu nguyên tắc tập trung dân chủ : 1/ phụ thuộc quan hành nhà nước vào quan quyền lực nhà nước cấp Đây quan hệ Trực thuộc chịu trách nhiệm báo cáo công tác quan quản lý nhà nước trước quan dân cư Yếu tố tập trung thể rõ rệt quan hệ quuan quyền lực quuan hành Yếu tố dân chủ thực việc quan quyyền lực trao quyền sáng tạo cho quan hành quan quyền lực không làm 2/ phục tùng cấp tối đa với cấp Địa phương với trung ương Có phục tùng trung ương tập trung quyền lực nhà nước để đạo, Giám sát hoạt động cấp Sự phân cấp quản lý phân định, chức trách, nhiệm vị quyền hạn cấp quản lý Sự phân cấp cho địa phương tránh cho quan trung ương phải làm công việc thuộc quyền địa phương Các quan hành nhà nước cấp tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị cấp cụ thể khuyến khích sản xuất cải vật chất bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp quyền lực chung đơn vị sở Giúp đỡ mặt vật chất hướng dẫn hoạt động 3/ Sự phụ thuộc chiều quan hành nhà nước địa phương: Chiều dọc phụ thuộc quan hành cấp để quan hành cấp tập trung quyền lực để đạo cấp phát huy mạnh địa phương hoàn thành nhiệm vụ cấp giao Câu 12: Những trường hợp công dân tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, để tham gia vào quân hệ phát luật hành công dân có điều kiện ? Hãy phân tích điều kiện Khái niệm : Quan hệ pháp luật hành quan hệ xã hội phát sinh lĩnh vực chấp hành điều hành nhà nước, đièu chỉnh quy phạm pháp luật hành chủ thể mang quyền nghĩa vụ theo quy định pháp luật hành Nhưng trường hợp công dân tham gia vào quân hệ pháp luật hành – Công dân thực quyền – Công dân thực nghĩa vụ – Công dân thực nghĩa vụ quyền lợi ích họ bị xâm phạm họ yêu cầu quan có thẩm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp + Điều kiện : Công dân có lực chủ thể pháp luật cho phép Câu 13: Trong trường hợp vi phạm hành xảy hết thời hạn xử phạt hành quan cán nhà nước có thẩm quyền có phép áp dụng biện pháp xử lý phạt vi phạm hành hay không? tai sao?trong trường hợp nào? Về nguyên tắc vi phạm hành xảy hết thời hạn xử phạt vi phạm hành không xử lý vi phạm hành song số trường hợp cụ thể pháp luật quy định vi phạm hành xảy hết thời hiệu xử phạt quan cán có thẩm quyền không phép định xử phạt hành phép áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung ( trường hợp biện pháp xử phạt bổ sung áp dụng độc lập) tước quyền xử dụng giấy phép, tịch thu tang vật Phương tiện vi phạm buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, buộc tiêu huỷ văn hoá phẩm độc hại, vật phẩm gây nguy hại cho sức khoẻ người tiêu dùng, buộc phải khắc phục tình trạng gây ô nhiễm môi trường, buộc phải bồi thường thiệt hại đến triệu động lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, nghĩa vụ, ngân hàng.môi trường Câu 14: “ trình bày đối tượng luật hành chính, nhóm quan trọng ? sao?” * Đối tượng điều chỉnh luật hành chính: Là quan hệ xã hội phát sinh trình điều hành quản lý nhà nước bao gồm đối tượng: – nhóm 1: Bao gồm quan hệ xã hội phát sinh trình quan hành nhà nước thực chấp hành điều hành bao gồm: Ví dụ: Để giúp quan có thẩm quyền giải khiếu nại tố cáo công dân cách đắn nhanh chóng Pháp lệnh khiếu nại tố cáo công dân quy định cụ thể thủ tục nhận đơn, trả lời người có đơn 4/ áp dụng quy phạm pháp luật hành phải nhanh chóng thời hạn pháp luật quy định trả lời công khai thức kết giải cho đối tượng có liên quan Quy định thời gian cần thiết cho việc giải cho công việc cụ thể Nhà nước buộc quan có thẩm quyền cho việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính, phải nâng cao chất lượng hiệu công việc quan nhằm bảo đảm quyền nghĩa vụ đối tượng có liên quan Việc trả lời công khai, thức văn nhằm mục đích hạn chế tùy tiện chống vi phạm trình áp dụng quy phạm pháp luật hành giúp cho nhân dân tham gia rộng rãi vào việc giám sát hoạt động máy nhà nước 5/ Kết áp dụng quy phạm pháp luật hành phải đảm bảo thực thực tế không hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật hành trở thành vô nghĩa làm giảm lòng tin nhân dân nhà nước Cần phải sử dụng nhiều biện pháp phương tiện khác kể máy cưỡng chế để bắt buộc đối tượng có liên quan phải thực văn quy phạm pháp luật hành chính, vây pháp luật thực triệt để được, tôn trọng tăng cường pháp chế XHCN Câu 17: “Có phải quan hệ pháp luật co quan hành nhà nước tham gia phải quan hệ pháp luật hành hay không?” Như biết quan hệ pháp luật hành quan hệ xã hội phát sinh lĩnh vực chấp hành điều hành điều chỉnh quy phạm pháp luật hành chủ thể mang quyền nghĩa vụ theo quy định pháp luật hành Vì không thiết quan hệ pháp luật có quan hành nhà nước tham gia quan hệ pháp luật hành Mặt khác để xem xét mối quan hệ phải mối quan hệ hành ta vào làm sở để làm phát sinh, chấm dứt tham gia quy phạm pháp luật hành kiện pháp lý hành chính, kiện thực tế mà xảy pháp luật hành với việc phát sinh quyền nhiệm vụ pháp lý hành Do ta rút mối quan hệ pháp luật có tham gia quan hành nhà nước, dấu hiệu tham gia quy phạm pháp luật hành kiện pháp lý hành đồng thời không đặt đến khách thể trật tự quản lý hành nhà nước quan hệ quan hệ pháp luật hành Ví dụ: A ký hợp đồng lao động với thủ trưởng quan hành X mối quan hệ mối quan hệ pháp luật không mối quan hệ pháp luật hành Câu 18: “Mỗi công dân đủ 18 tuổi trở lên chủ thể quan hệ pháp luật hành chính, mệnh đề hay sai? Tại sao” Mệnh đề không Như ta biết Chủ thể quan hệ hành bên tham gia vào pháp luật hành có lực chủ thể, mang quyền nghĩa vụ theo quy định pháp luật Chủ thể quan hệ pháp luật hành cá nhân hay tổ chức Nếu cá nhân công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch Nếu tổ chức quan nhà nước Các tổ chức xã hội tổ chức kinh tế Việt Nam người nước Cá nhân tổ chức muốn trở thành chủ thể quan hệ pháp luật hành phải có lực chủ thể Mà lực chủ thể bao gồm: Năng lực pháp lý hành Năng lực hành vi hành +Năng lực pháp lý hành mà khả pháp luật hành quy định cho cá nhân tổ chức hưởng phải làm nghĩa vụ định quản lý hành nhà nước * Năng lực hành vi hành khả người nhà nước thừa nhận mà với khả người hành vi gánh vác nghĩa vụ hưởng quyền hành cách độc lập Từ ta rút công dân có lực chủ thể trở thành chủ thể Câu 19: Phân tích đặc trưng quan hệ pháp luật hành sau: “Trong quan hệ pháp luật hành chính, quyền nghĩa vụ bên tham gia gắn với hoạt động chấp hành điều hành” trước vào phân tích đặc trưng nghiên cứu biết: * Quan hệ pháp luật hành quan hệ xã hội phát sinh lĩnh vực phát hành điều hành điều chỉnh quy phạm pháp luật hành chủ thể mang quyền nghĩa vụ theo quy định pháp luật * Lĩnh vực chấp hành điều hành biểu hoạt động quản lý hành nhà nước – Chấp hành việc làm yêu cầu luật pháp thể chỗ quản lý hành nhà nước hoạt động pháp luật vào thực tiễn quản lý nhà nước thực mệnh lệnh quan dân cư – Điều hành việc đạo đối tượng thuộc quyền trình quản lý – Trong lĩnh vực chấp hành điều hành vai trò chủ thể vô quan trọng có: chủ thể bắt buộc chủ thể thường (tức đối tượng hành nhà nước) – Quyền nghĩa vụ bên tham gia quan hệ pháp luật hành gắn với hoạt động chấp hành điều hành nhà nước tức chúng phát sinh trình quản lý hành nhà nước lĩnh vực trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, kinh tế mà không phát sinh lĩnh vực lập pháp hay tư pháp Do thực tốt quyền nghĩa vụ góp phần tích cực việc thực quyền nghĩa vụ chủ thể số quan hệ pháp luật khác quan hệ pháp luật khác quan hệ đất đai, tài ngân hàng – Quyền nghĩa vụ nội dung quan hệ pháp luật hành việc chấp hành điều hành chủ thể tham gia – Một bên có quyền nhân danh nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước đơn phương bắt buộc bên phải phục tùng ý chí – bên có quyền yêu cầu kiến nghị bên xác lập quan hệ pháp luật hành Do quyền nghĩa vụ bên tham gia không nằm lĩnh vực chấp hành điều hành quan hệ pháp luật hành Câu 20: Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ? Tại biểu phụ thuộc hai chiếu có quan hành nhà nước địa phương? Dưới góc độ pháp lý nguyên tắc tư tưởng đạo bắt nguồn từ chất chế độ quy định pháp luật tạo thành sở cho việc tổ chức, hoạt động mát nhà nước khâu trình quản lý nhà nước Những nguyên tắc pháp lý nói chung nguyên tắc quản lý hành nhà nước nói riêng chủ yếu quan nhà nước có thẩm quyền ban hành mang tính khoa học ổn định Những nguyên tắc xây dựng rút từ sống sở nghiên cứu quy luật khách quan đời sống xã hội phản ánh sâu sắc quy luật phát triển khách quan Những nguyên tắc nguyên tắc mà bất bất dịch Trái lại vận dụng nguyên tắc quản lý nhà nước gắn liền trình phát triển xã hội, nguyên tắc sửa đổi bổ xung cho phù hợp quy luật phát triển Một nguyên tắc quản lý hành nhà nước nguyên tắc tập trung dân chủ Đây nguyên tắc hiến định Hiến pháp 1992- Điều ghi nhận “Quốc hội HĐND cấp quan khác nhà nước tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ” nguyên tắc bao hàm kết hợp yếu tố : -Tập trung thâu tóm quyền lực nhà nước chủ thể quản ký điều hành, đạo việc thực pháp luật Tập trung tập trung toàn diện tuyệt đối mà vấn đề nhất, yếu chất Sự tập trung bảo đảm cho cấp đối tượng khác có khả thực định trung ương vào điều kiện thực tế là: Nhân lực điều kiện thiên nhiên, khoáng sản, tiềm khác Đồng thời phát huy quyền chủ động sáng tạo địa phương sở việc giải vấn đề – Dân chủ việc mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy trí tuệ tập thể vào hoạt động quản lý, phát huy hết khả tiềm tàng đối tượng quản lý trình thực pháp luật, thực mệnh lệnh cấp – Nếu có lãnh đạo tập trung mà không mở rộng dân chủ tạo điều kiện cho hành vi vi phạm quyền công dân, cho tệ quan liêu tham nhũng, hách dịch cửa quyền phát triển Không có lãnh đạo tập trung thống nhất, phát triển xã hội trở thành tự phát, lực lượng dân chủ bị phân tán không đủ sức để chống lại lực phản động, phản dân chủ Tập trung dân chủ yếu tố có kết hợp chặt chẽ với nhau, có mối quan hệ qua lại phụ thuộc thúc đẩy phát triển quản lý hành nhà nước Sự lãnh đạo tập trung sở mở rộng dân chủ yêu cầu khách quan của”nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo chế thị trường có quản lý nhà nước theo định hướng XHCN” Các quan hành nhà nước địa phương tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc chiều(chiều dọc chiều ngang) +Mối phụ thuộc dọc giúp cho cấp tập trung quyền lực nhà nước để đạo thực với cấp tạo nên hoạt động chung thống Mối phụ thuộc dọc giúp cho cấp tập trung quyền lực nhà nước để đạo thực với cấp tạo nên hoạt động chung + Mối phụ thuộc ngang tạo điều kiện cho cấp mở rộng dân chủ, phát huy mạnh địa phương để hoàn thành nhiệm vụ cấp mà cấp giao phó Sự phụ thuộc chiều quan hành nhà nước địa phương khách quan bảo đảm thống lợi ích chung nước với lợi ích địa phương, lợi ích ngành với lợ ích vùng lãnh thổ Câu 21: Tại hoạt động ban hành văn quy phạm pháp luật hành thức hành nhà nước, hoạt động ban hành văn áp dụng chủ yếu quản lý hành nhà nước Có nhiều hình thức quản lý hành nhà nước hình thức ban hành văn quy phạm pháp luật, hình thức ban hành văn áp dụng quy phạm pháp luật hành * Hoạt động ban hành văn quy phạm pháp luật hành hình thức phổ biến, hình thức quan trọng mang tính chất pháp lý quan hành nhà nước nhằm để cụ thể hóa, chi tiết hóa điều quy định văn pháp luật quan quyền lực nhà nước Bởi quan quyền lực nhà nước với văn thường quy định vấn đề có tính chất chung không quy định cụ thể chi tiết Việc quan hành nhà nước hình thức ban hành văn quy phạm pháp luật hành nhằm thực chức quản lý hành lĩnh vực đời sống xã hội Vì văn quy phạm pháp luật hành ban hành để áp dụng thời gian dài, áp dụng nhiều lần với đối tượng có liên quan Các văn quy định quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ quyền quy định việc tổ chức hoạt động Ta lấy ví dụ sau để làm sáng tỏ: vào văn Quốc hội UBTVQH (Nghị Quốc hội, pháp lệnh xử lý vi phạm hành UBTVQH) Chính phủ ban hành nghị định 36, nghị định 49 việc lập lại an toàn giao thông đường bộ, trật tự an toàn giao thông đô thị đồng thời phải xử lý đối tượng vi phạm lĩnh vực Hoạt động ban hành văn quy phạm pháp luật quan hành nhà nước gọi hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động lập quy Thông qua hoạt động quan hành nhà nước quy định nhiều vấn đề như: Nhiệm vụ, quyền hạn cấu tổ chức quan hành nhà nước, thủ tục cần thiết để thực quyền nghĩa vụ công dân Chỉ có quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn quy phạm pháp luật, hoạt động phổ biến quan nhà nước có thẩm quyền * Hoạt động ban hành băn áp dụng quy phạm pháp luật hành hoạt động chủ yếu quan hành nhà nước Là hình thức quản lý quan trọng thiếu Bởi hình thức hoạt động tiến hành thường xuyên liên tục đâu có hoạt động quản lý hành quan quản lý hành nhà nước có ban hành văn áp dụng quy phạm pháp luật hành như: Quyết định đề bạt, định bổ nhiệm, thuyên chuyển, bãi miễn Những văn áp dụng áp dụng lần trường hợp cụ thể đối tượng cụ thể định Đây áp dụng quy phạm pháp luật hành hoạt động chủ yếu quan hành nhà nước quản lý hành Câu 22: Mối quan hệ thuyết phục cưỡng chế Trước vào phân tích mối quan hệ thuyết phục cưỡng chế ta cần biết rằng: * Phương pháp thuyết phục giáo dục cảm hóa phương pháp quản lý quan trọng đem lại hiệu cao Phương pháp thể tính ưu việt chế độ XHCN, thể truyền thống nhân đạo dân tộc ta Thuyết phục bao gồm số biện pháp giải thích, hướng dẫn, động viên, khuyến khích, trình bày chứng minh để đảm bảo cộng tác, tuân thủ hay phục tùng tự giác đối tượng quản lý nhằm đạt số kết định Thuyết phục không mang tính bắt buộc cứng rắn phương pháp lại mang tính chất pháp lý quy định pháp luật thực chủ thể mang tính quyền lực nhà nước tiến hành khuôn khổ pháp luật * Phương pháp cưỡng chế biện pháp bắt buộc bạo lực quan nhà nước có thẩm quyền cá nhân hay tổ chức định mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc cá nhân hay tổ chức thực hành vi định pháp luật quy định tài sản cá nhân hay tổ chức hoạt động tự thân thể cá nhân Đây phương pháp thiếu áp dụng biện pháp giáo dục cảm hóa không đem lại hiệu áp dụng kẻ chống đối lại đường lối sách Đảng, pháp luật nhà nước thông qua loại cưỡng chế: cưỡng chế hình sự, cưỡng chế dân sự, cưỡng chế kỷ luật, cưỡng chế hành * Giữa thuyết phục giáo dục cảm hóa với cưỡng chế có mối quan hệ gắn bó: – Để đảm bảo việc thực thi pháp luật đắn, hợp lý, có hiệu tùy trường hợp cụ thể áp dụng trước sau lúc coi trọng biện pháp mà coi lơ biện pháp – Để hoạt động đem lại hiệu cần phải ý mức kết hợp cưỡng chế thuyết phục + Nếu cưỡng chế nhà nước kỷ luật nhà nước bị lung lay, pháp chế XHCN không tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho tệ nạn xã hội phát triển, kẻ thù giai cấp kẻ thù dân tộc hoạt động chống phá cách mạng + Nếu thuyết phục hoạt động quản lý nhà nước hiệu quả, không động viên tự giác chấp hành pháp luật nhân dân, không nâng cao ý thức pháp luật tinh thần tự chủ, không đảm bảo tính chất mềm dẻo thực truyền thống nhân đạo dân tộc, làm thay đổi chất nhà nước – Nếu trọng cưỡng chế nhà nước trở thành nhà nước bạo lực, nhà nước cảnh sát – Do cần phải kết hợp chặt chẽ hài hòa phương pháp quản lý cần phải: + So sánh mối tương quan giai cấp, tương quan lực lượng + Phải vào trường hợp cụ thể để thuyết phục trước cưỡng chế sau Câu 23: “Phân biệt cưỡng chế hành trách nhiệm hành chính” Để phân biệt trước hết cần làm rõ nội dung đặc điểm khái niệm * Cưỡng chế hành gì? Cưỡng chế hành biện pháp cưỡng chế nhà nước quan hành nhà nước trường hợp định tòa án nhân dân định tổ chức hay cá nhân có hành vi vi phạm hành hay số cá nhân hay tổ chức định nhằm ngăn ngừa vi phạm xảy hay ngăn chặn thiệt hại thiên tai, dịch họa gây Trình tự để áp dụng biện pháp cưỡng chế hành phải tuân theo luật Các biện pháp cưỡng chế hành có nhóm Nhóm xử phạt hành Nhóm biện pháp ngăn chặn hành Nhóm biện pháp phòng ngừa hành *Trách nhiệm hành gì: Trách nhiệm hành hậu mà cá nhân hay tổ chức vi phạm hành phải gánh chịu trước nhà nước áp dụng biện pháp xử phạt hành tức nhà nước áp dụng biện pháp xử phạt hành phù hợp để giáo dục cá nhân hay tổ chức vi phạm hành đồng thời giáo dục phòng ngừa cá nhân hay tổ chức khác góp phần bảo đảm cho pháp luật thực nghiêm minh Câu 24: Phân biệt xử phạt hành biện pháp ngăn chặn hành Trong cưỡng chế hành biện pháp xử phạt hành biện pháp ngăn chặn hành biện pháp thường áp dụng nhiều Tuy nằm phương pháp quản lý hành nhà nước phương pháp có điểm khác rõ rệt mức độ nội dung *Biện pháp xử phạt hành *Biện pháp ngăn chặn hành – Khái niệm: Xử phạt hành biện pháp quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng cá nhân hay tổ chức: Có hành vi vi phạm hành nhằm truy cứu trách nhiệm hành cá nhân hay tổ chức vi phạm hành Cơ sở xử phạt hành chính: có vi phạm hành xảy – Nội dung; biện pháp xử phạt hành chính: + Phạt chính: Cảnh cáo, Phạt tiền + Phạt bổ sung: tịch thu tang vật phương tiện vi phạm Tước quyền sử dụng giấy phép + Biện pháp khác: Buộc tháo dỡ khôi phục tình trạng ban đầu Các biện pháp quy định cụ thể điều 1, 13, 14, 15, pháp lệnh xử phạt vi phạm hành – Chủ thể có thẩm quyền quy định điều 26 đến điều 37 pháp lệnh xử phạt vi phạm hành -Trình tự thủ tục: thông qua ban hành định xử phạt Mục đích: trừng phạt vi phạm giáo dục người khác -Khái niệm: Ngăn chặn hành quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng cá nhân hay tổ chức có thể: Có vi phạm vi phạm hành nhằm ngăn chặn vi phạm hành xảy Cơ sở ngăn chặn hành không vi phạm hành chính, trước có vi phạm vi phạm xảy – Nội dung bao gồm biện pháp hành khác biện pháp ngăn chặn bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành quy định điều 12 điều 22 pháp lệnh xử phạt vi phạm hành có 13 biện pháp có biện pháp tạm giữ người, phương tiện tang vật, khám người, khám nơi giữ tang vật phương tiện vi phạm Chủ thể: Quy định điều 40 lệnh xử phạt vi phạm hành – Trình tự thủ tục: Tùy theo trường hợp cụ thể mà có quyền định phù hợp Mục đích: Ngăn chặn vi phạm hành xảy khắc phục thiệt hại vi phạm hành gây Câu 25: “Phân biệt văn quản lý hành với văn nguồn luật hành chính” Hình thức ban hành văn quản lý hành nhà nước hoạt động quản lý hành nhà nước Thông qua hoạt động chủ thể có thẩm quyền đạt quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ phát sinh lĩnh vực chấp hành điều hành mặt đời sống xã hội Cũng giải vấn đề cụ thể riêng biệt đối tượng quản lý định Chúng ta cần phân biệt rõ văn quản lý hành với văn coi nguồn luật hành Văn coi nguồn luật hành Văn quản lý hành – Khái niệm: văn quy phạm pháp luật quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục trình tự định có nội dung chứa đựng quy phạm pháp luật hành Có hiệu bắt buộc thi hành, đảm bảo thực sức mạnh cưỡng chế nhà nước – Chủ thể ban hành: +Các quan quyền lực nhà nước +Các quan nhà nước khác tòa án, Viện kiểm sát thủ trưởng quan xét xử, kiểm sát thủ trưởng đơn vụ sở (ban hành quy định nội quy) +Các cá nhân có thẩm quyền chủ tịch nước +Chủ thể rộng – Nội dung: Chỉ chứa đựng quản lý hành nhà nước – Hình thức văn bản: văn luật luật (nghị định, thị) – Trình tự ban hành: Theo hình thức định – Khái niệm: Văn quản lý hành nhà nước văn luật ban hành sở để chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh nghị quan quyền lực nhà nước Chủ thể ban hành: + Các quan quyền lực nhà nước + Các cá nhân có thẩm quyền trưởng máy bay, thuyền trưởng tàu biển, thẩm phán định, thủ trưởng, quan tòa án, kiểm sát, thủ trưởng đơn vị sở + Chủ thể hẹp – Nội dung: Chứa đựng quản lý pháp lý hành mệnh lệnh cụ thể Ví dụ: Nghị định phủ, văn cấp đất, cấp nhà – Hình thức văn bản: văn luật từ nghị định trở xuống (để cụ thể hóa, chi tiết hóa văn quan quyền lực) – Trình tự thủ tục ban hành: Tuỳ theo trường hợp cụ thể không trái với luật Câu 26: “Phân biệt viên chức công chức với viên chức công chức Việc phân biệt có ý nghĩa gì? vi phạm viên chức nhà nước chịu nhiều trách nhiệm pháp lý” Để phân biệt viên chức công chức với viên chức công chức ta cần vào định nghĩa (Khái niệm) vào đặc điểm riêng, tính chất công việc theo bảng so sánh sau: *Viên chức công chức *Viên chức công chức – Định nghĩa: Viên chức nhà nước người – Định nghĩa: công chức nhà nước công lao động làm quan nhà nước dân Việt Nam bổ nhiệm tuyển bầu bổ nhiệm hay tuyển dụng giữ dụng giữ công việc thường xuyên chức vụ định hoạt động công sở nhà nước trung ương hay địa góp phần vào việc thực thi tùy phương,ở nước hay nước chức vụ định trả lương theo chức xếp vào ngạch bậc hưởng lương từ vụ hoạt động đó, ngân sách nhà nước – Công việc bầu theo nhiệm kỳ – Công việc viên chức công chức bao – Đối tượng sau gọi viên chức thường xuyên viên chức – Đối tượng sau gọi công chức +Sỹ quan, hạ sỹ quan quân đội, đội + người làm việc quan hành biên phòng + Là người giữ chức vụ quan quyền lực nhà nước, quan hành nhà nước, quan kiểm sát, quan xét xử bầu cử theo nhiệm kỳ + Là người làm việc đơn vị sow thuộc máy quản lý máy hành nhà nước – Viên chức nhà nước không trực tiếp sản xuất cải vật chất hoạt động họ bảo đảm việc lãnh đạo kiểm tra trình Xác định phương hướng phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất, thực biện pháp có tổ chức – Hoạt động họ tạo điều kiện trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ cụ thể nhà nước trung ương, tỉnh, huyện cấp tương đương + Là người làm việc quan đại diện sứ quán, lãnh quán nước ta nước +Những người làm việc trường học, viện nghiên cứu, đài phát thanh, đài truyền hình, quan báo chí hưởng lương từ ngân sách + Các nhân viên dân làm việc quan quốc phòng + Những người tuyển dụng bổ nhiệm để giữ công việc thường xuyên quan kiểm sát, xét xử + Những người tuyển dụng bổ nhiệm để giữ công việc thường xuyên máy nhà nước như: Văn phòng Quốc Hội UBTVQH HĐND cấp người khác theo quy định pháp luật – Hoạt động họ gián tiếp làm phát sinh., thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật cụ thể * Việc phân biệt viên chức công chức với viên chức công chức có ý nghĩa thực tiễn lớn việc tổ chức hoạt động máy quản lý nhà nước ta Giúp cho quan chức có thể: – Xây dựng tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán – Áp dụng chế độ xác đội ngũ công chức – Tạo điều kiện cho công cải cách hành chính, thúc đẩy công việc đổi đất nước, * Cũng vi phạm viên chức nhà nước chịu nhiều trách nhiệm là: – Trách nhiệm hình – Trách nhiệm dân – Trách nhiệm kỷ luật – Trách nhiệm hành Tương ứng với loại trách nhiệm hình thức cưỡng chế để truy cứu trách nhiệm Qua ta thấy viên chức nhà nước vi phạm pháp luật chịu nhiều loại trách nhiệm: hình sự, dân sự, kỷ luật Câu 27: “trình bày trường hợp công dân tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, lấy ví dụ minh họa” Hiến pháp 1992 điều 49 ghi nhận “Công dân nước CHXHCNViệt Nam” nước ta công dân có quyền trị Quyền công dân quy định cụ thể thực đầy đủ người dân lao động người chủ lực đất nước, có mối quan hệ khăng khít bền vững với nhà nước Công dân thực hiện, sử dụng quyền nghĩa vụ tham gia vào quan hệ pháp luật cụ thể có quan hệ pháp luật hành Mối quan hệ hình thành trường hợp tham gia sau đây: a Khi công dân sử dụng quyền: Ví dụ: công dân thực quyền tự kinh doanh theo quy định pháp luật, làm đơn xin cấp giấy phép kinh doanh gửi UBND quận, huyện- quan có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh b Khi công dân thực quyền nghĩa vụ: Ví dụ: Việc công dân thực quyền nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc làm phát sinh quan hệ pháp luật hành công dân quan quân cấp quận huyện c Khi quyền lợi ích hợp pháp công dân bị xâm phạm, họ đòi hỏi nhà nước phải bảo vệ phục hồi quyền Ví dụ: có hành vi trái pháp luật công chức xâm phạm tới quyền hưởng tới quyền chế độ bảo hiểm công dân, công dân có đơn khiếu nại gửi thủ trưởng trực tiếp viên chức Đã làm phát sinh mối quan hệ pháp luật hành công dân có đơn khiếu nại với cán nhà nước có thẩm quyền giải đơn khiếu nại d Khi công dân không thực nghĩa vụ nhà nước; Ví dụ: Công dân, buôn bán theo pháp luật không nộp thuế kinh doanh làm phát sinh quan hệ pháp luật hành công dân với UYBND quận, huyện phòng thuế trực thuộc Tóm lại muốn tham gia vào quan hệ pháp luật hành công dân phải có lực chủ thể (năng lực pháp lý hành lực hành vi hành chính) Nhà nước quy định lực chủ thể công dân trong quan hệ pháp luật hành thể thống quyền nghĩa vụ công dân Việc bảo đảm thực quyền, bảo đảm nghĩa vụ quan trọng Nhà nước quy định bảo đảm trị, vật chất, tổ chức pháp lý cần thiết để công dân tham gia đông đảo đầy đủ vào quản lý nhà nước nhằm thực quyền nghĩa vụ công dân Câu 28: “A độ tuổi vị thành niên thực vi phạm hành chính” hỏi Nêu trường hợp A bị truy cứu trách nhiệm hành chính, Những trường hợp A không bị truy cứu trách nhiệm hành a Khi A bị truy cứu trách nhiệm hành trường hợp sau: – Khi A đủ 14 tuổi đến 16 tuổi tinh thần, thể chất phát triển bình thường, thực vi phạm hành với lỗi cố ý – Khi A từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi, tinh thần thể chất phát triển bình thường phải chịu trách nhiệm hành kể có lỗi cố ý vô ý thực vi phạm hành – Khi A vi phạm hành không nằm trường hợp miễn truy cứu trách nhiệm hành tình cấp thiết, kiện bất ngờ, phòng vệ đáng… xảy b Khi A không bị truy cứu trách nhiệm hành chính: – Khi chưa đủ 14tuổi – Khi chưa đủ 14 tuổi đến 16 tuổi thực vi phạm hành với lỗi vô ý – Khi A đủ 16 tuổi đến 18 tuổi việc vi phạm hành với lỗi vô ý – Khi A đủ 16 tuổi đến 18 tuổi thực vi phạm hành trường hợp miễn truy cứu trách nhiệm hành như: Tình cấp thiết, kiện bất ngờ, phòng vệ đáng … Câu 29: “Điều kiện để truy cứu trách nhiệm hành công dân” Đối với công dân thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) bị truy cứu trách nhiệm hành họ thực hành vi vi phạm hành với điều kiện sau: – Không mắc bệnh tâm thần, không bị rối loạn thần kinh, không bị bệnh khả điều khiển hành vi – Hành vi vi phạm quy định văn có quy định phạt vi phạm hành – Thực hành vi vi phạm không thuộc trường hợp sau: Sự kiện bất ngờ, tình cấp thiết, phòng vệ đáng, hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hành * Đối với người vị thành niên: – Người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi thực hiên hành vi vi phạm hành điều kiện công dân đủ 18 tuổi trở lên – Người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi chịu trách nhiệm hành hành vi vi phạm hành với lỗi cố ý mức phạt cao đến …đồng – Người chưa đủ 14 tuổi không bị truy cứu trách nhiệm hành họ vi phạm hành áp dụng biện pháp giáo dục Câu30: Biểu phụ thuộc chiều tổ chức hoạt động quan hành nhà nước địa phương Lấy ví dụ minh họa Các quan hành nhà nước địa phương tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc theo chiều (Chiều dọc chiều ngang).Mối phụ thuộc dọc giúp cho cấp tập trung quyền lực nhà nước để đạo hoạt động với cấp tạo nên hoạt động chung thống Mối phụ thuộc ngang tạo điều kiện cần thiết cho cấp mở rộng dân chủ, phát huy mạnh địa phương để hoàn thành nhiệm vụ mà cấp giao phó Nguyên tắc phụ thuộc chiều đảm bảo thống lợi ích chung nước với lợi ích địa phương Giữa lợi ích ngành với lợi ích vùng lãnh thổ Ví dụ: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Hội đồng nhân dân Từ Liêm, Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm Câu 31: “Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành có tính chất bắt buộc xử lý vi phạm hành không” Vi phạm hành hành vi cá nhân hay tổ chức thực cách cố ý hay vô ý xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà tội phạm hình theo quy định pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành Điều 3- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành ghi rõ: Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính: 1/ Việc xử lý vi phạm hành phải người có thẩm quyền tiến hành vi vi phạm quy định pháp luật 2/ Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành có hành vi vi phạm hành pháp luật quy định Cá nhân bị áp dụng biện pháp khác trường hợp quy định điều 21, 22, 23, 24, 25 pháp lệnh 3/ Mọi vi phạm hành phải phát kịp thời phải bị đình Việc xử lý phải tiến hành nhanh chóng, công minh, mọ hậu vi phạm hành gây phải khắc phục theo pháp luật 4/ Mọi hành vi vi phạm hành bị xử phạt lần Một người khác thực hành vi vi phạm hành bị xử phạt hành vi vi phạm Nhiều người thực hành vi vi phạm hành người vi phạm bị xử phạt 5/ Việc xử phạt vi phạm hành phải vào tính chất, mức độ vi phạm, thân nhân tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để giải định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp 6/ Không xử lý vi phạm hành trường hợp thuộc tình cấp thiết, phòng vệ đáng, kiện bất ngờ vi phạm hành mắc bệnh tâm thần bệnh khác làm khả nhận thức khả điều khiển hành vi Mọi vi phạm hành phải phát kịp thời xử lý công minh nhanh chóng theo pháp luật Việc phát xử lý kịp thời vi phạm hành không làm cho vi phạm bị chấm dứt thực tế mà có tác dụng lớn lao việc tác động tích cực vào ý thức người vi phạm công dân khác việc củng cố uy tín nhà nước nhân dân, bị xử lý vi phạm phải đảm bảo công minh pháp luật nghiêm minh bị xử lý ý nghĩa xử phạt nặng người vi phạm mà có nghĩa vi phạm đưa xử lý theo pháp luật không để lọt người vi phạm, không phạt oan người không vi phạm Một vi phạm hành bị xử phạt lần: Một người thực nhiều vi phạm hành bị xử phạt vi phạm, tổng hợp vi phạm, tổng hợp hình thức phạt chung vượt mức cao mức xử phạt áp dụng vi phạm nặng nhất; Ví dụ: Trần A lái xe giới mà lái xe,đã lái xe vào khu vực có biển báo cấm Khi A thực vi phạm hành chính: + Đi vào khu vực có biển báo cấm (Điểm c khoản điều 5, nghị định 141/HĐBTngày 25/4/1991của HĐBT xử phạt vi phạm hành lĩnh vực an ninh trật tự) + Lái xe giới mà lái (điểm c khoản điều Nghị định trên) Do mức phạt tối đa vi phạm thứ 50.000đ, vi phạm thứ 200.000đ, tổng hợp mức phạt mức cao áp dụng tối đa với A 2000.000đ Nhiều người thực vi phạm hành người bị xử phạt Tuy nhiên bị xử lý cần xem xét tới yếu tố chủ quan, khách quan có liên quan tới người vi phạm để xác định mức phạt cho thỏa đáng Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành phải vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để định hình thức, mức phạt cá nhân, tổ chức vi phạm hành Điều 37 – Nguyên tắc phân định thẩm quyền xử lý vi phạm hành (pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính) 1/ UBND cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành lĩnh vực quản lý nhà nước địa phương 2/ Cơ quan quản lý nhà nước chuyển ngành có thẩm quyền xử lý vi phạm hành thuộc lĩnh vực ngành 3/ trường hợp vi phạm hành thuộc thẩm quyền xử lý nhiều quan việc xử lý quan thụ lý thực Ví dụ: Các vi phạm lĩnh vực thuộc quyền xử lý quan thuế chủ tịch UBND Các quan khác thụ lý ban đầu phải chuyển hồ sơ cho quan thuế xử lý Câu 32: “Ý nghĩa thời hiệu xử phạt hành chính” Vi phạm hành cá nhân hay tổ chức thực cách có ý hay vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà tội phạm hình theo quy định pháp luật phải xử phạt vi phạm hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành – Điều 9: Thời hiệu xử phạt hành 1/ Thời hiệu xử phạt vi phạm hành năm kể từ ngày vi phạm hành thực Thời hạn tính năm vi phạm hành lĩnh vực tài Xây dựng, môi trường, nhà ở, đất đai, đê điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh Các hành vi buôn lậu, sản xuất buôn hàng, bán hàng giả, thời hạn nói tên không xử phạt bị áp dụng biện pháp quy định điểm a, b d-khoản 3- Điều 11 pháp lệnh 2/ Đối cá nhân bị khởi tố, truy tố có định đưa vụ án xét xử theo thủ tục tố tụng hình mà có định đình điều vụ án bị xử phạt hành tháng kể từ ngày có định đình 3/ Trong thời hạn quy định điều khoản điều cá nhân tổ chức có vi phạm hành cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt không áp dụng thời hiệu nói điều khoản điều Thời hiệu định xử phạt vi phạm hành quy định điều pháp lệnh xử lý vi phạm hành 7/1995 Có ý nghĩa thực tiễn tổ chức hành quan hành nhà nước Xác định rõ trách nhiệm quan nhà nước có thẩm quyền trách nhiệm cá nhân Đảm bảo cho pháp luật thực hiện, đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN Đồng thời đề cao trách nhiệm cán quan nhà nước phải nhanh chóng kịp thời xác phát xử lý hành vi vi phạm hành Câu 33: “Phân tích nguyên tắc vi phạm hành bị xử phạt lần” Vi phạm hành hành vi cá nhân hay tổ chức thực cách vô ý hay cố ý, xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà tội phạm hình theo quy định pháp luật phải bị xử phạt hành “Một người vi phạm hành bị xử phạt lần” “Một người thực nhiều hành vi vi phạm hành bị xử phạt hành vi vi phạm bị xử phạt” (Điều 3- Phần 4- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính) Một vi phạm hành bị xử phạt lần Một người thực nhiều vi phạm hành bị xử phạt vi phạm, tổng hợp hình thức phạt chung không vượt mức cao mức xử phạt áp dụng vi phạm nặng Ví dụ: Trần Q lái xe giới mà lái xe, lái xe vào khu vực có biển báo cấm Khi A thực vi phạm hành chính: + Đi vào khu vực có biển báo cấm (Điểm c khoản điều Nghị định 141/HĐBT ngày 25/4/1991 HĐBT xử phạt hành lĩnh vực an ninh trật tự) +Lái xe giới mà lái (điểm c, khoản điều Nghị định trên) Mức phạt tối đa vi phạm thứ 50.000đ, vi phạm thứ 200.000đ Cho nên tổng hợp mức phạt mức cao áp dụng A 200,000đ Câu 34: “Phân tích vi phạm hành (hoặc phân tích khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính), cho ví dụ minh họa” Vi phạm hành hành vi cá nhân hay tổ chức thực cách vô ý hay cố ý, xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà hình theo quy định pháp luật bị xử phạt hành Hành vi vi phạm hành xác định hành vi vi phạm mà cá nhân tổ chức vi phạm lỗi cố ý hay vô ý xác định vi phạm hành Vi phạm hành có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp so với tội hình sự.Vi phạm hành khác với tội vi phạm hình tính chất mức độ nguy hiểm hành vi vi phạm Tính chất nguy hiểm hành vi phụ thuộc vào khả gây thiệt hại hành vi Nếu khả lớn tính nguy hiểm hành vi cao ngược lại mức độ nguy hiểm hành vi phụ thuộc vào quy mô vi phạm thiệt hại thực tế xảy – Vi phạm hành xử phạt vi phạm hành không luật mà văn luật điều chỉnh chủ yếu thuộc thẩm quyền xử lý quan nhà nước theo thủ tục hành Trong thực tế số lượng vi phạm hành thường xuyên xảy lĩnh vực đời sống xã hội tác hại lớn Ví dụ: Do chấp hành luật lệ giao thông không nghiêm nên hàng ngày quốc lộ thường xuyên xảy hành vi vi phạm luật lệ giao thông dẫn đến mắc độ thiệt hại người phương tiện lớn Mặc dù vi phạm hành đa dạng có đặc điểm Câu 35: “Phân tích tính quyền lực văn quản lý hành nhà nước” Văn quản lý hành nhà nước văn luật chủ thể quản lý hành nhà nước có thẩm quyền ban hành sở để thi hành văn quan quyền lực nhà nước để thực chức nhiệm vụ hình thức thủ tục pháp luật quy định, có nội dung mệnh lệnh pháp luật Có hiệu lực bắt buộc thi hành đối tượng có liên quan đảm bảo thực cưỡng chế nhà nước Câu 36.Trình bầy điều kiện làm phát sinh thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành Một quan hệ pháp luật hành muốn phát sinh, thay đổi phải có quy phạm pháp luật hành Sự kiện pháp lý hành lực chủ thể Câu 37: ý nghĩa việc quy định thời hiệu sử phạt vi phạm hành Trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành thời hiệu dùng để biểu thị khoảng thời gian định pháp luật pháp luật xử phạt vi phạm hành quy định, mà hết hạn không xử phạt cá nhân tổ chức vi phạm hành chính.việc quy đinh thời hiệu có ý nghĩa quan trọng Bơi tạo sở pháp lý thốnh việc xử phạt thi hành định xử phạt hành chính, góp phần đề cao trách nhiệm quan, người có thẩm quyền xử phạt hành việc phát kịp thời.Xử lý nhanh chóng, công minh, pháp luật vụ việc vi phạm hành chính, bảo đảm hiệu lực thi hành tác dụng giáo dục phòng ngừa định xử phạt vi phạm hành Theo điều điều 48 điều 56 pháp lệnh xử lý vi phạm hành thời hiệu xử lý vi phạm hành nói chung năm kể từ ngày vi phạm hành thực vi phạm hành lĩnh vực tài chính, xay dựng, môi trường nhà Thì thời hiệu tính năm Trường hợp vụ án có định đình điều tra, đình vụ án hành vi sử phạt vi phạm hành thời hiệu xử phạt tháng kể từ ngày có định đình Các trường hợp nói không áp dụng cá nhân, tổ chức vi phạm hành cố tình trốn tránh cản trở việc xử phạt lại vi phạm hành chưa hết thời hiệu xử phạt trường hợp trốn tránh thi hành định xử phạt hành

    – Xem thêm –

    Xem thêm: Đề cương thi môn quản lý hành chính nhà nước,

    The post Đề cương thi môn quản lý hành chính nhà nước appeared first on EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    ]]>