Đề tài báo cáo thực tập sản phẩm mới của công ty Unilever 9 điểm

  1. LỜI MỞ ĐẦU
    Hội

    nhập kinh tế thế giới đã trở thành một xu thế khách quan trong giai
    đoạn hiện nay khi mà làn sóng toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh
    mẽ.Chính thức gia nhập WTO tức là hoà mình vào nền kinh tế toàn cầu,vào
    dòng chảy chung của nền kinh tế nhân loại Việt Nam sẽ có những cơ hội tốt
    hơn để tiếp cận thị trường, để xuất khẩu hàng hoá,thu hút vốn đầu tư và tăng
    dần hiệu quả kinh tế vĩ mô. Nhưng bên cạnh đó là những thách thức về khả
    năng cạnh tranh cũng như tốc độ phát triển của các doanh nghiệp Việt khi
    nước ta thực hiện các cam kết mở cửa. Sẽ có nhiều hơn sự xuất hiện của các
    doanh nghiệp nước ngoài,của các tập đoàn đa quốc gia và của chính các
    doanh nghiệp có đầu tư trong nước. Đứng trước một môi trường cạnh tranh
    khốc liệt như thế, điều kiện nào sẽ quyết định sự sống còn của mỗi doanh
    nghiệp? Đó chính là cách nhận thức về sự thoả mãn khách hàng và phương
    thức gây dựng niềm tin trong lòng công chúng.Có được một chỗ đứng vững
    vàng trong trái tim của người tiều dùng,doanh nghiệp sẽ trụ vững trên thị
    trường và không ngừng phát triển.Hay nói cách khác chính sách marketing
    chính là chiếc chìa khoá vàng cho sự thành công của một doanh nghiệp.
    Để có thể tìm hiểu rõ hơn về chính sách Marketing mà cụ thể ở đây là
    chính sách sản phẩm mới trong thực tế cũng như cách thức mà nó ảnh
    hưởng,tác động và thúc đẩy sự phát triển của một doanh nghiệp, em đã tiến
    hành một cuộc nghiên cứu nhỏ có tên: “Tìm hiểu về chính sách sản phẩm
    mới của nhãn hiệu nước xả vải Comfort”.Nội dung chủ yếu của cuộc
    nghiên cứu được dành để tìm hiểu,phân tích, đánh giá về chính sách sản phẩm
    mới của nhãn hiệu Comfort trên thị trường Việt Nam từ đó tìm ra những
    phương án nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy những thế mạnh của
    những sản phẩm mới đã làm nên thành công của nhãn hiệu Comfort .
    Khi làm bài tiểu luận này em nhận được sự chỉ dạy rất tận tình của cô
    Nguyễn Thị Thu Hương, xin chân thành cảm ơn cô đã giúp đỡ em.
    1

  2. PHẦN I: CƠ

    SỞ LÝ LUẬN
    1. Bản chất của Marketing
    1.1 Định nghĩa về Marketing
    Marketing không phải là bán hàng, không phải là tiếp thị (chào hàng)
    như nhiều người lầm tưởng. Marketing bao gồm rất nhiều hoạt động như
    nghiên cứu marketing, sản xuất ra hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị hiếu của
    khách hàng, quy định giá cả, tổ chức và quản lý hệ thống tiêu thụ, quảng cáo,
    khuyến mại và sau đó mới bán chúng cho người tiêu dùng.
    Marketing là một dạng hoạt động của con người (tổ chức) nhằm thỏa
    mãn nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi. Ý tưởng cội nguồn của
    marketing là thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng một cách ưu
    thế hơn so với đối thủ cạnh tranh. Để hiểu hết khái niệm marketing cần phải
    nắm bắt được các khái niệm cơ bản khác như: nhu cầu tự nhiên, mong muốn,
    nhu cầu có khả năng thanh toán, giá trị, chi phí, sự thỏa mãn, sản phẩm, trao
    đổi, giao dịch.
    1.2 Chức năng của marketing
    Chức năng cơ bản của marketing là tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp.
    Có thế nói đây là chức năng quan trong nhất của doanh nghiệp khi doanh
    nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, nhưng muốn chức năng này thành
    công nó phải được phối hợp hài hòa với các chứ năng khác bắt nguồn từ
    những lĩnh vực: sản xuất, tài chính, nhân sự.
    Làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường: sẽ giúp các nhà sản
    phẩm với nhu cầu thị trường: sẽ giúp các nhà sản xuất trả lời câu hỏi: sản xuất
    ra cái gì, sản xuất như thế nào, cho ai, số lượng bao nhiêu và khi nào đưa ra
    thị trường là phù hợp nhất. Qua đó, đạt được mục tiêu cuối cùng là cho ra đời
    sản phẩm thỏa mãn người tiêu dùng và tạo ra thị trường tiếp theo sẽ thu được
    lợi nhuận đạt hiệu quả kinh doanh cao.
    Chức năng phân phối
    Bao gồm toàn bộ hoạt động nhằm tổ chức vận động hàng hóa một cách
    tối ưu và hiệu quả từ nơi sản xuất tới trung gian bán buôn bán lẻ hoặc trực
    tiếp tới người tiêu dùng
    Chức năng tiêu thụ hàng hóa
    – Kiểm soát giá cả thị trường
    2

  3. – Nghiên cứu

    đề ra các nghiệp vụ và nghệ thuật bán hàng
    Chức năng yểm trợ
    Là chức năng mang tính bề nổi của maketing nhằm thúc đẩy sự tiêu thụ
    hàng hóa bao gồm: quảng cáo, kích thích tiêu thụ, tuyên truyền, bán hàng cá
    nhân
    1.3. Các thành phần cơ bản của maketing
    Gồm sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh. Đây là
    4 nội dung quan trọng không thể thiếu của bất kỳ chính sách kinh doanh nào,
    ở bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào của doanh nghiệp.
    Bốn chính sách kinh doanh của maketing như sau:
    • Chính sách sản phẩm
    • Chính sách giá
    • Chính sách phân phối
    • Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh
    Các doanh nghiệp dựa trên đặc điểm tiềm năng của mình để vận dụng
    chính sách kinh doanh phù hợp với từng phần tử và cuối cùng tạo ra được một
    chiến lược hỗn hợp (maketing-mix)
    Maketing-mix là các chiến lược, giải pháp, chiến thuật áp dụng và kết
    hợp nhuần nhuyễn cả bốn chính sách của chiến lược maketing trong hoàn
    cảnh thực tiễn của doanh nghiệp để phát huy sức mạnh tổng hợp của bốn
    chính sách đó.
    1.4 Quản trị Marketing
    Quản trình marketing là phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra
    việc thi hành các biện pháp nhằm thiệt lập, củng cố và duy trì những cuộc
    trao đổi có lợi với khách hàng mục tiêu để đạt được các mục tiêu đã xác định
    của doanh nghiệp. Quản trị marketing có thể thực hiện theo năm quan điểm
    khác nhau; trong đó quản điểm marketing định hướng khách hàng và quan
    điểm marketing dựa trên sự kết hợp giữa ba lợi ích: khach hàng, doanh nghiệp
    và xã hội là những quan điểm hiện đại nhất làm cơ sở cho quản trị marketing
    hầu hết các doanh nghiệp hiện nay.
    Quản trị marketing còn là quản trị quá trình marketing bảo gồm 5 giai
    đoạn: phân tích cơ hội marketing, lựa chọn thị trường mục tiêu, thiết lập chiên
    lược marketing, hoạch định chương trình, tổ chức thực hiện và kiểm tra
    marketing.
    3

  4. 2.Chính sách sản

    phẩm
    2.1 Sản phẩm theo quan điểm của Marketing
    2.1.1 Sản phẩm
    Khi nói về sản phẩm người ta thường quy nó về một hình thức tồn tại vật
    chất cụ thể và do đó nó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thể
    quan sát được. Đối với các chuyên gia marketing, họ hiểu sản phẩm ở một
    phạm vi rộng lớn hơn nhiều.
    Với họ: Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu
    cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút
    sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.
    Theo quan điểm này sản phẩm hàng hóa bao hàm cả những vật thể hữu
    hình hay vô hình (các dịch vụ), bao hàm cả những yếu tố vật chất và phi vật
    chất. Ngay cả trong những sản phẩm hữu hình thì cũng bao hàm cả yếu tố vô
    hình. Trong thực tế, người ta thường xác định sản phẩm thông qua đơn vị sản
    phẩm.
    2.1.2 Phân loại sản phẩm hàng hóa
    Hoạt động và chiến lược marketing khác nhau vì nhiều lý do, trong đó
    có lý do tùy thuộc vào loại hàng hóa. Điều đó cũng có nghĩa là muốn có
    chiến lược marketing thích hợp và hoạt động marketing có hiệu quả các nhà
    quản trị marketing cần phải biết hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh thuộc
    loại nào. Trong hoạt động marketing các cách phân loại có ý nghĩa đáng chú ý
    là:
    2.1.2.1 Phân loại theo thời hạn sử dụng và hình thái tồn tại
    Theo cách phân loại này, thế giới hàng hóa có:
    • Hàng hóa lâu bền: là những vật phẩm thường được sử dụng nhiều năm
    • Hàng hóa sử dụng ngắn hạn: là những vật phẩm được sử dụng một lần
    hay một vài lần
    • Dịch vụ: là những đối tượng được bán dưới dạng hoạt động, ích lợi,
    hay sự thỏa mãn
    2.1.2.2 Phân loại hàng tiêu dùng theo thói quen mua hàng
    Thói quen mua hàng là yếu tố rất cơ bản ảnh hường đến cách thức hoạt
    động marketing. Theo đặc điểm này hàng tiêu dùng được phân thành các loại
    sau:
    4

  5. • Hàng hóa

    sử dụng thường ngày: đó là hàng hóa mà người tiêu dùng
    mua cho việc sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt. Đối với hàng hóa này, vì
    được sử dụng và mua sắm thường xuyên nên nó là nhu cầu thiết yếu, khách
    hàng hiểu biết hàng hóa và thị trường nói chung.
    • Hàng hóa mua kiểu ngẫu hứng: đó là hàng hóa được mua không có kế
    hoạch trước và khách hàng cũng không chủ ý tìm mua. Đối với hàng hóa này
    khi gặp cộng với khả năng thuyết phục của người bán khách hàng mới nảy
    sinh ý định mua.
    • Hàng hóa mua khẩn cấp: đó là những hàng hóa được mua khi xuất hiện
    những nhu cầu cấp bách vì một lý do bất thường nào đó. Việc mua những
    hàng hóa này không suy tính nhiều.
    • Hàng hóa mua có lựa chọn: đó là hàng hóa mà việc mua diễn ra lâu
    hơn, đồng thời khi mua khách hàng thường lựa chọn, so sánh, cân nhắc về
    công dụng, kiểu dáng, chất lượng, giá cả của chúng.
    • Hàng hóa cho các nhu cầu đặc thù: đó là những hàng hóa có tính chất
    đặc biệt hay hàng hóa đặc biệt mà khi mua người ta sẵn sàng bỏ thêm sức lực
    và thời gian để tìm kiếm và lựa chọn chúng.
    • Hàng hóa cho các nhu cầu thụ động: đó là những hàng hóa mà người
    tiêu dùng không hay biết và thường cũng không nghĩ đến việc mua chúng.
    Trong trường hợp này thường là những hàng hóa không có liên quan trực tiếp,
    tích cực đến nhu cầu cuộc sống hàng ngày. Ví dụ như bảo hiểm…
    2.1.2.3 Phân loại hàng tư liệu sản xuất
    Tiêu liệu sản xuất là những hàng hóa được mua bởi các doanh nghiệp
    hay các tổ chức. Chúng cũng bao gồm nhiều thứ, loại có vai trò và mức độ
    tham gia khác nhau vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp và tổ chức đó.
    Người ta chia chúng thành các loại như sau:
    • Vật tư và chi tiết: đó là những hàng hóa được sử dụng thường xuyên và
    toàn bộ vào cấu thành sản phẩm được sản xuất ra bởi các nhà sản xuất. Thuộc
    nhóm này có rất nhiều mặt hàng khác nhau: có loại có nguồn gốc từ nông
    nghiệp, từ trong thiên nhiên hoặc vật liệu đã qua chế biến.
    • Tài sản cố định: đó là những hàng hóa tham gia toàn bộ, nhiều lần vào
    quá trình sản xuất và giá trị của chúng được dịch chuyển dần vào giá trị sản
    phẩm do doanh nghiệp sử dụng chúng tạo ra.
    5

  6. • Vật tư

    phụ và dịch vụ: đó là những hàng hóa dùng để hỗ trợ cho quá
    trình kinh doanh hay hoạt động của các tổ chức và doanh nghiệp.
    2.2 Danh mục sản phẩm
    Danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những loại sản phẩm và mặt
    hàng mà một người bán cụ thể đưa ra để bán cho những người mua. Danh
    mục sản phẩm của một Doanh nghiệp thường bao gồm:
    • Chiều rộng: chiều rộng danh mục sản phẩm thể hiện Doanh nghiệp có
    bao nhiêu loại sản phẩm khác nhau
    • Chiều dài: chiều dài danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng trong
    danh mục sản phẩm
    • Chiều sâu: chiều sâu danh mục sản phẩm thể hiện có bao nhiêu phương
    án (dạng) của mỗi sản phẩm trong loại
    • Mật độ: mật độ danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến
    mức độ nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối
    cùng
    2.3 Các quyết định về nhãn hiệu sản phẩm
    Nhãn hiệu sản phẩm là tên gọi , thuật ngữ , biểu tượng, hình vẽ hay sự
    phối hợp giữa chúng, được dùng để xác nhận sản phẩm của một người bán
    hay một nhóm người bán và để phân biệt chúng với các sản phẩm của đối thủ
    cạnh tranh
    Quyết định về nhãn hiệu cho những sản phẩm cụ thể là một trong những
    quyết định quan trong khi soạn thảo chiến lược marketing cho chúng. Quyết
    định đó có liên quan trực tiếp tới ý đồ định vị sản phẩm và xây dựng hình ảnh
    sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường.
    2.4 Quyết định về bao gói sản phẩm
    Một số sản phẩm đưa ra thị trường không cần phải bao gói. Đa số sản
    phẩm, bao gói là yếu tố rất quan trọng về các phương diện khác nhau
    Bao gói thường có bốn yếu tố cấu thành điển hình: lớp tiếp xúc trực
    tiếp với sản phẩm, lớp vỏ bảo vệ tiếp xúc, bao bì vận chuyển, nhãn hiệu và
    các thông tin mô tả sản phẩm trên bao gói
    Ngày nay bao gói trở thành công cụ đắc lực của hoạt động marketing,
    bởi vì:
    • Một là, sự phát triển của hệ thống cửa hàng tự phục vụ, tự chọn ngày
    càng tăng
    6

  7. • Hai là,

    mức giàu sang và khả năng mua sắm của người tiêu dùng càng
    tăng
    • Ba là, bao bì góp phần tạo ra hình ảnh về công ty và nhãn hiệu
    • Bốn là, tạo ra khả năng và ý niệm về sự cải tiến sản phẩm
    2.5 Chính sách sản phẩm mới
    Khái quát về sản phẩm mới:
    Do những thay đổi nhanh chóng về thị hiếu, công nghệ, tinh hình cạnh
    tranh, công ty không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào sản phẩm hiện
    có. Vì vậy, mỗi công ty đều phải quan tâm đến chương trình phát triển sản
    phẩm mới nếu muốn tồn tại và phát triển vơi uy tín ngày càng tăng.
    Để có được sản phẩm mới công ty có thể có 2 cách: mua toàn bộ công
    ty nào đó, mua bằng sang chế hay giấy phép sản xuất sản phẩm của người
    khác, hoặc tự thành lập bộ phận nghiên cứu marketing và thiết kế sản phẩm
    mới.
    Theo quân điểm marketing, sản phẩm mới có thể là những sản phẩm
    mới về nguyên tắc, sản phẩm mới cải tiến từ các sản phẩm mới hiện có hoặc
    những nhãn hiệu mới do kết quả nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm của công ty.
    Nhưng dấu hiệu quan trọng nhất đánh giá sản phẩm đó là sản phẩm mới hay
    không phải là sự thừa nhận của khách hàng.
    Thiết kế, sản xuất sản phẩm mới là một việc làm cần thiết, nhưng có
    thể là mạo hiểm đối với doanh nghiệp. Bởi vì chúng có thể thất bại do những
    nguyên nhân khác nhau. Để hạn chế bớt rủi ro các chuyên gia – những người
    sang tạo sản phẩm mới phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong quá trình
    tạo ra sản phẩm mới và đưa nó vào thị trường.
    Các giai đoạn thiết kế và marketing sản phẩm mới.
    Trong việc thiết kế sản phẩm mới thường phải trải qua 3 giai đoạn hết
    sức quan trọng là: hình thành ý tưởng; lựa chọn ý tưởng; soạn thảo và thẩm
    định dự án.
    Giai đoạn 1: Hình thành ý tưởng:
    Tìm kiếm những ý tưởng về sản phẩm là bước đầu tiên quan trọng để
    hình thành phương án sản xuất sản phẩm mới. việc tìm kiếm này phải được
    tổ chức một cách có hệ thống và thường căn cứ vào các nguồn tin sau:
    7

  8. – Từ phía

    khách hàng, thăm dò ý kiến của họ, trao đổi ý kiến với họ, thư
    từ và dơn khiếu nại của họ gửi đến, các thông tin họ phản ảnh trên báo chí và
    phương tiện thông tin đại chúng…;
    – Từ các nhà khoa học
    – Nghiên cứu những sản phẩm thành công hay thất bại của đối thủ cạnh
    tranh.
    – Nhân viên bán hàng và những người của công ty thường tiếp xúc với
    khách hàng;
    – Những người có bằng sáng chế phát minh, các trường đại học, các
    chuyên gia công nghệ và quản lý, các nhà nghiên cứu marketing…
    Ý tưởng về sản phẩm mới thường hàm chứa những tư tưởng chiến lược
    trong hoạt động kinh doanh và hoạt động marketing của công ty như: tạo ra
    một ưu thế đặc biệt nào đó so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh; cống hiến
    một sự hài lòng hay thỏa mãn nào đó cho khách hàng…Với mỗi ý tưởng đó
    thường có khả năng điều kiện thực hiện và ưu thế khác nhau. Vì vậy phải
    chọn lọc ý tưởng tốt nhất.
    Giai đoạn 2: Lựa chọn ý tưởng:
    Mục đích của việc lựa chọn ý tưởng là để cố gắng phát hiện sàng lọc và
    thải loại những ý tưởng không phù hợp, kém hấp dẫn, nhằm chọn được những
    ý tưởng tốt nhất. Để làm được điều này mỗi ý tưởng về sản phẩm mới cần
    được trình bày bằng văn bản trong đó có những nội dung cốt yếu là: mô tả sản
    phẩm, thị trường mục tiêu, các đối thủ cạnh tranh, ước tính sơ bộ quy mô thị
    trường, các chi phí có liên quan đến việc thiết kế, chi phí sản xuất, giá cả dự
    kiến và thời gian sản xuất, mức độ phù hợp với công ty về các phương diện
    công nghệ, tài chính, mục tiêu chiến lược…Đó cũng chính là các tiêu chuẩn
    để lựa chọn và thẩm định ý tưởng và phương án sản xuất mới.
    Giai đoạn 3 Soạn thảo và thẩm định dự án sản phẩm mới:
    Sau khi đã có những ý tưởng được chọn lựa, mỗi ý tưởng phải được
    xây dựng thành những dự án sản phẩm mới.
    Ý tưởng và dự án là những khái niệm khác nhau. Chỉ có dự án mới tạo
    thành hình ảnh thực sự về một sản phẩm mà công ty dự định đưa ra thị trường
    và nó có ý nghĩa đối với khách hàng.
    Ý tưởng là những tư tưởng khái quát về sản phẩ, còn dự án là sự thể
    hiện tư tưởng khái quát đó thành các phương án sản phẩm mới với các tham
    số về đặc tính hay công dụng hoặc đối tượng sử dụng khác nhau của chúng.
    8

  9. Sau khi đã

    có dự án về sản phẩm, cần phải thẩm định từng dự án này.
    Thẩm định dự án là thử nghiệm quan điểm và thái độ của nhóm khách hàng
    mục tiêu đối với phương án sản phẩm đã được mô tả. Qua thẩm định dựa trên
    ý kiến của khách hàng tiềm năng kết hợp với các phân tích khác nữa công ty
    sẽ lựa chọn được một dự án sản phẩm chính thức.
    Giai đoạn 4: Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới:
    Sau khi dự án sản phẩm mới tốt nhất được thông qua công ty cần soạn
    thảo chiến lược marketing cho nó. Chiến lược marketing cho sản phẩm mới
    bao gồm 3 phần:
    – Phần thứ nhất mô tả quy mô, cấu trúc thị trường và thái độ của khách
    hàng trên thị trường mục tiêu, dự kiến xác lập vị trí sản phẩm, chỉ tiêu về khối
    lượng bán, thị phần và lợi nhuận trong những năm trước mắt;
    – Phần thứ hai trình bày quan điểm chung về phân phối sản phẩm và dự
    đoán chi phí marketing cho năm đầu;
    – Phần thứ ba trình bày những mục tiêu cho tương lai về các chỉ tiêu: tiêu
    thụ, lợi nhuận, quan điểm chiến lược lâu dài về các yếu tố marketing – mix.
    Trên cơ sở các tư liệu đã có trước khi quyết định thiết kế cho sản phẩm,
    ban lãnh đạo công ty tiến hành duyệt lần cuối cùng về mức độ hấp dẫn của
    kinh doanh sản phẩm mới, phân tích và cân nhắc kĩ các chỉ tiêu dự kiến về:
    mức bán, chi phí và lợi nhuận.
    Giai đoạn 5: Thiết kế sản phẩm mới.
    Trong giai đoạn thiết kế các dự án sản phẩm phải được thể hiện thành
    những sản phẩm hiện thực, chứ không phải chỉ là những mô tả khái quát như
    các bước trên. Để làm việc này, bộ phận thiết kế nghiên cứu sẽ tạo ra một hay
    nhiều phương án hay mô hình sản phẩm. Thao dõi và kiểm tra các thông số
    kinh tế – kĩ thuật, các khả năng thực hiện vai trò của sản phẩm và từng bộ
    phận, chi tiết cấu thành nó. Tạo ra sản phẩm mẫu, thử nghiệm chức năng của
    nó trong phòng thí nghiệm, kiểm tra thông qua khách hàng hay người tiêu
    dùng để biết ý kiến của họ.
    Giai đoạn 6: Thử nghiệm trong điều kiện thị trường:
    Nếu sản phẩm mới đã qua được việc thử nghiệm chức năng và sự kiểm
    tra của người tiêu dùng thì công ty sẽ sản xuất một loạt nhỏ để thử nghiệm
    trong điều kiện thị trường. Ở bước này người ta vừa thử nghiệm sản phẩm
    vừa thử nghiệm các chương trình marketing. Vì vậy đối tượng thử nghiệm có
    thể là: vừa khách hàng, vừa các nhà kinh doanh và các chuyên gia có kinh
    9

  10. nghiệm. Nhưng mục

    tiêu theo đuổi trọng yếu trong bước này là để thăm dò
    khả năng mua và dự báo chung về mức tiêu thụ. Để đạt được mục tiêu đó sản
    phẩm sẽ được bán thử ở thị trường.
    Giai đoạn 7: Triển khai sản xuất hàng loạt và quyết định tung sản phẩm
    mới ra thị trường:
    Sau khi thử nghiệm thị trường công ty đã có căn cứ rõ nét hơn để quyết
    định có sản xuất đại trà sản phẩm mới hay không. Nếu việc sản xuất mới đại
    trà hàng loạt được thông qua công ty phải thực sự bắt tay vào triển khai
    phương án tổ chức sản xuất và marketing sản phẩm mới. Trong giai đoạn này
    những quyết định liên quan đến việc tung sản phẩm mới vào thị trường là
    cực kì quan trọng. Cụ thể là trong giai đoạn này công ty phải thông qua 4
    quyết định:
    – Khi nào thì tung ra sản phẩm mới chính thức vào thị trường?
    – Sản phẩm mới sẽ được tung ra ở đâu?
    – Sản phẩm mới trước hết phải tập trung bán cho đối tượng khách hàng
    nào?
    – Sản phẩm mới được tung ra bán như thế nào? Với những hoạt động hỗ
    trợ nào để xúc tiến việc bán?
    10

  11. PHẦN II:THỰC TRẠNG

    NGHIÊN CỨU
    2.1 Sơ lược về công ty Unilever Việt Nam:
    Thương hiệu
    Tên viết tắt: Unilever.
    Địa chỉ:156 Nguyễn Lương Bằng, p.Trần Phú,quận 7, tp.HCM.
    Điện thoại: 0854135686
    Fax: 0854135686
    Email: [email protected].
    Web: http: //www.unilever.com.vn.
    Unilever là một tập đoàn toàn cầu của Anh và Hà Lan nổi tiếng thế giới
    trên lĩnh vực sản xuất các sản phẩm tiêu dùng bao gồm các sản phẩm chăm
    sóc vệ sinh cá nhân và gia đình, thức ăn, trà và đồ uống từ trà. Cùng với
    Proctol & Gambel (P&G), Unilever hiện đang thống trị khắp Thế giới về các
    sản phẩm này. Unilever Việt Nam được thành lập năm 1995,là tập hợp của ba
    công ty riêng biệt: Liên doanh Lever Việt Nam có trụ sở tại Hà Nội, Elida P/S
    và công ty Best Food đặt tại thành phố Hồ Chí Minh. Unilever Việt Nam luôn
    đạt tốc độ bình quân hai con số mỗi năm. Tổng doanh thu năm 2009 của
    Unilever gần bằng 1% GDP của Việt Nam. Hiện nay công ty có 5 nhà máy tại
    Hà Nội, Củ Chi, Thủ Đức và khu công nghiệp Biên Hòa. Công ty hiện tại có
    hệ thống phân phối bán hàng trên toàn quốc thông qua 350 nhà phân phối lớn
    và 150000 cửa hàng bán lẻ, gián tiếp tạo việc làm cho hơn 7.000 người.
    11

  12. Với sứ mệnh

    giúp nâng cao chất lượng đời sống của mọi người dân Viêt
    Nam, Unilever Việt Nam luôn luôn coi trọng người tiêu dùng Việt Nam thông
    qua việc cam kết đưa đến các sản phẩm có chất lượng quốc tế, với lựa chọn
    đa dạng phù hợp với nhu cầu thu nhập khác nhau của người tiêu dùng Việt
    Nam. Hầu hết các nhãn hàng của Unilever Việt Nam nằm trong danh sách
    hàng đầu trên thị trường Viêt Nam, các sản phẩm như bột giặt OMO, dầu gội
    đầu Clear, sữa rửa mặt Pond’s, kem đánh răng P/S, nước xả vài Comfort,…
    đã trở thành nhãn hiệu quen thuộc,ưa dùng và luôn là sự lựa chọn số 1 của gia
    đình Việt Nam. Điều này được chứng minh qua những khảo sát thực tế, trung
    bình mỗi ngày có khoảng 5 triệu sản phẩm của Unilever đến tay hộ gia đình
    trên phạm vi cả nước. Từ năm 1995 đến năm 2009, Unilever đưa đến thị
    trường hơn 540 sản phẩm.
    Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt, Unilever Việt Nam đã và đang chứng
    tỏ rằng mình là công ty nước ngoài thành đạt nhất ở Việt Nam hiện nay.
    Ngày 6/4/2016 vừa qua, trong lễ kỉ niệm 15 năm hoạt động của công ty tại
    Việt Nam, Unilever Việt Nam vinh dự được đón nhận huân chương Lao Động
    hạng nhất của Chủ tịch nước trao tặng. Như vậy Unilever Việt Nam đã trở
    thành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ngành
    hàng tiêu dùng nhanh và là một trong rất ít những doanh nghiệp FDI tại Việt
    Nam được nhận phần thưởng cao quý này, vinh dự này cũng đánh dấu một
    chặng đường mới trong hoạt động của công ty Unilever ở Việt Nam, củng cố
    vị trí dẫn đầu của công ty là trở thành doanh nghiệp FDI đi tiên phong trong
    lĩnh vực của minh và tái khẳng định một lần nữa cam kết mạnh mẽ của công
    ty là: “Lớn mạnh cùng tương lai và nhân dân Việt Nam”.
    2.2Thương hiệu Comfort:
    Comfort là nhãn hiệu nước xả làm mềm vải của công ty Unilever được ra
    mắt lần đầu tiên tại Anh năm 1969, và xuất hiện trên thị trường Việt Nam từ
    năm 1999.Ngày nay Comfort là một hiệu toàn cầu, hoạt động ở Châu Âu,
    Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Trung Đông.
    Unilever đã phối hợp với Cowan để đưa Comfort vào cuộc sống, phù
    hợp với người tiêu dùng Việt Nam và truyền tải được khỏe khoắn và hương
    thơm đặc trưng. Comfort đã sở hữu và sử dụng hiệu quả những hình tượng
    đặc sắc, ấn tượng như “ Giọt nước”, “ Gia đình Andy & Lyly”…trong truyền
    thông.
    12

  13. 2.3 Chính sách

    sản phẩm của Công ty Unilever đối với sản phẩm
    nước xả vải Comfort.
    Sản phẩm theo quan điểm của Marketing là tất cả các yếu tố có thể đáp
    ứng nhu cầu, mong muốn của khách hàng, mang lại lợi ích cho họ, đồng thời
    có thể chào bán trên thị trường. Mỗi doanh nghiệp khi kinh doanh trên thị
    trường đều có chung mục đích là tối đa hoá lợi nhuận. Để tối đa hoá lợi nhuận
    doanh nghiệp phải luôn tìm cách làm cho hàng hoá dịch vụ của mình đáp ứng
    được nhu cầu đa dạng phong phú và luôn thay đổi của thị trường. Muốn vậy
    doanh nghiệp phải xây dựng và triển khai hiệu quả các chiến lược sản phẩm
    của mình.
    Xây dựng chính sách sản phẩm bao gồm việc xác định: nhãn hiệu sản
    phẩm; bao gói, dịch vụ sản phẩm; chủng loại sản phẩm và danh mục sản
    phẩm và phương thức đa dạng hóa danh mục sản phẩm ấy.
    Công ty Unilever Việt Nam đã đưa ra thị trường dòng sản phẩm Comfort
    và đồng thời liên tục phát triển dòng sản phẩm này đa dạng, phong phú cả về
    chất lượng cũng như hình thức phù hợp với nhiều sở thích của người tiêu
    dùng ở nhiều lứa tuổi. Đặc biệt, Comfort đã được Viện da liễu quốc gia thử
    nghiệm và chứng nhận an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Dòng sản phẩm
    Comfort được phát triển theo nhiều chiều như:
    – Đối với chiều rộng của sản phẩm: Dạng chai nhựa :4l, 2l, 1l, 800ml,
    400ml. Dạng túi : 1l, 5ml,..
    – Đối với chiều sâu của sản phẩm: Comfort hương gió xuân, comfort
    hương cỏ hoa, comfort hương ban mai,…
    Ngoài ra còn có các dòng sản phẩm Comfort thơm lâu, comfort một lần
    xả,…tiện dụng cho người sử dụng.
    Nhận xét về sản phẩm Comfort:
    1. Ngay từ khi Comfort ra đời, hình ảnh thiên thần hương mang đến cho
    giới người tiêu dùng sử dụng sản phẩm này thật ấn tượng. Bởi cái nhìn từ vẻ
    đẹp của những chú thiên thần này thật dễ thương, thoạt nhìn đã thấy dễ mến.
    Đánh tâm lý thích thú của trẻ em khi xem đoạn clip quảng cáo này. Với đôi
    cánh bé bé xinh xinh đánh bật tất cả mùi hương bám trên áo quần, đây là
    thông điệp mang đến cho người tiêu dùng cảm thấy thích thú và đặt niềm tin
    vào những chú thiên thần hơn. Cũng như những chú thiên thần này, đã thật sự
    cho thấy rõ về sức mạnh bảo vệ hương thơm của sản phẩm. Đây là điều mà
    13

  14. Comfort mang đến

    cho người tiêu dùng với cảm giác thơm lâu. Comfort đã
    thật sự mạnh mẽ nhờ đôi cánh của chú thiên thần hay vẻ đẹp dễ mến của chú.
    Đây là những hình ảnh của những chú thiên thần đáng yêu và dễ mến:
    2. Ngoài những vấn đề đó công ty đã thiết kế thành công chai
    Comfort với nhiều kiểu dáng thật đẹp mắt và đa dạng hoá. Điều này chắn
    chắn rằng sẽ thu hút được nhiều khách hàng khó tính.
    3. Bước đầu chuyển từ mẫu hình tượng thiên thần hương sang đôi
    tình nhân Andy và Lyly, có thể nói là được sự ủng hộ của người tiêu dùng bởi
    đây là hình ảnh mới, lạ thường, tạo sự tò mò, tình cảm và vui nhộn.
    4. Tiếp tục sau thành công của đôi tình nhân Andy và Lyly,
    Comfort lại tiếp tục đưa ra dòng sản phẩm mới: Comfort sáng tạo với những
    mùi hương được kết hợp đặc biệt, đại diện hình ảnh là một gia đình hạnh
    phúc.
    14

  15. 2.4. Mục tiêu

    kinh doanh của công ty đối với sản phẩm Comfort khi
    đưa ra thị trường sản phẩm mới:
    Mục tiêu của sản phẩm comfort là chiếm lĩnh khoảng 50% – 60% thị
    phần tại Việt Nam, trở thành người dẫn đầu trong việc cung cấp nước xả vải.
    Các chiến lược Marketing cụ thể của Comfort:
    Chiến lược thế giới vải:
    a. Nguyên nhân ra đời phân tích SWOT:
    Strengths: (Điểm mạnh)
    Hình ảnh thiên thần hương đã giúp comfort chiếm lĩnh thành công 40%
    thị phần nước xả vải của Việt Nam, vượt mặt cả Downy của ông lớn P&G.
    Có một thế đứng vững chắc trong lòng người tiêu dùng, nên việc thay
    đổi chiến lược marketing không còn mang tính mạo hiểm cao như khi mới gia
    nhập thị trường nữa.
    Weaks: (Điểm yếu)
    Comfort chưa thực sự có lợi thế về hương thơm, trong khi đó đối thủ
    chính là Downy vẫn đang được người tiêu dùng đánh giá cao về lĩnh vực này
    với dòng sản phẩm Downy đậm đặc hơn 4 lần.
    Opportunities: (Cơ hội)
    Thị trường nước xả vải vẫn còn khá nhiều chỗ trống khách hàng tiềm
    năng.
    Threats:( Nguy cơ)
    Đối thủ chính Downy đang tấn công thị trường trẻ em với các sản phẩm
    độc đáo Downy chống muỗi đánh vào phân khúc khách hàng đang bị bỏ ngỏ.
    Thị trường nước xả vải cấp thấp cũng đang tấn công thị trường và cạnh
    tranh gay gắt về mùi hương.
    b. Mục tiêu hướng đến:
    – Định hình comfort thành nhãn hiệu nước xả vải hàng đầu tại việt nam,
    thành một sản phẩm không thể thiếu trong mỗi gia đình.
    15

  16. – Tăng khả

    năng nhận diện thương hiệu.
    – Tăng khả năng bành trướng về phân phối trên khắp cả nước.
    – Biến những sản phẩm của mình không chỉ đơn thuần là hàng hóa mà
    còn là những người bạn trong cuộc sống hằng ngày.
    – Khách hàng mục tiêu: nội trợ ở mọi tầng lớp
    c. Chiến lược thực hiện
    Từ mục tiêu trên Unilever đã định hình chiến lược mới lần này theo
    hướng đi vào lòng người bằng cách sử dụng hình thức storytelling marketing.
    mới Comfort sang tạo, mang đến sự mới lạ bất ngờ cho người tiêu dùng .
    Tâm lý của người nội trợ, đa phần là người vợ, người mẹ chăm lo cho gia
    đình đã được khéo léo thể hiện qua hình ảnh nhân vật Lily hay một gia đình
    hạnh phúc. Từ mối tương quan đó, Comfort đã đánh trúng tâm lý những
    khách hàng này, họ cũng muốn mình là một người vợ, người mẹ đảm đang,
    chu đáo… Vậy thì hãy dùng Comfort! Đó là thông điệp mà Comfort muốn
    gửi gắm đến khách hàng của mình.
    Chiến lược tập trung và dồn dập : Comfort trong thời gian đầu mới xuất
    hiện đôi tình nhân vải đã đầu tư rất lớn cho các hoạt đông truyền thông: TVC,
    printads, outdoorads và các hoạt đông pr. Các chương trình quảng cáo xuất
    hiện với tần suất lớn, các poster, banner hiện diện ở khắp nơi từ đường phố
    cho đến trạm xe buýt. Với chiến dịch dồn dập này Comfort muốn thu hút sự
    chú ý đông đảo của người tiêu dùng, mở rộng mức độ nhận biết của khách
    hàng và biến quảng cáo trở thành một cơn sốt, một đề tài bàn tán đông
    đảo như hình ảnh thiên thần hương thời kỳ trước.
    n có sức
    2.5 Đánh giá chiến lược (kết quả về doanh số, mức độ nhận biết
    của khách hàng, so sánh với chiến lược tại thời điểm đó, so sánh)
    Hình ảnh Thế giới vải đã vấp phải nhiều phản hồi không mấy tốt đẹp từ
    phía người tiêu dùng. Có ý kiến cho rằng hình tượng nhân vật xấu,nội dung
    chuyện hàm chán thiếu sự thú vị và tính liên kết. Tuy nhiên nhờ sự bành
    trướng của truyền thông, comfort đã nhận được rất rất nhiều sự chú ý của
    người tiêu dùng vì thế khả năng dùng thử sản phẩm cao hơn nhiều.Doanh số
    comfort tăng nhanh chóng, dẫn đầu tại thị trường nước xả vải việt
    16

  17. nam.Downy bị tụt

    hậu vì sản phẩm downy chống muỗi không thu hút được sự
    quan tâmcủa người tiêu dùng nhiều, đồng thời mức độ tin tưởng sản phẩm
    chưa cao.
    Ưu điểm :
    Không thể phủ nhận rằng Comfort luôn mang đén sự hài lòng cho đại đa
    số người sử dụng nó, điều đó chứng tỏ rằng chất lượng của Comfort được
    người tiêu dùng công nhận, thành công đó chắc chắn phải nhắc tới đó là
    hương thơm đặc trưng, sự đậm đặc và khả năng lưu lại trên vải quần áo rất
    lâu, đây là lợi thế để sản phẩm Comfort có thể cạnh tranh được với các sản
    phẩm lớn như Downy và đứng vững trên thị trường.
    Ngoài chất lượng sẵn có, Comfort còn được đầu tư các chiến lược
    marketing rầm rộ trên truyền thông, báo chí, các poster quảng cáo với tần suất
    lớn,… đã đánh động đén người tiêu dùng, tập trung sự chú ý vào các sản
    phẩm của mình. Đặc biệt với cách lấy các hình tượng nhân vật để kể những
    câu chuyện hấp dẫn khiến mọi người chú ý nhiều hơn.
    Nhược điểm:
    Bên cạnh những thành công của các sản phẩm mới , thì vẫn còn một số
    khách hàng lại không ưa dùng sản phẩm Comfort, lý do chủ yếu nằm ở sở
    thích của mỗi người, trong khi đó comfort dù đưa ra rất nhiều sản phẩm đa
    dạng nhưng chưa thực sự chú trọng đến thành phần người tiêu dùng thuộc
    nhiều lứa tuổi như trẻ em hay người già, đây là những lứa tuổi dễ nhạy cảm
    với da, nên cũng cần có các sản phẩm phù hợp.
    Tuy được đầu tư marketing mạnh mẽ trên mọi phương diện nhưng ngoài
    những lợi ích mà nó đem lại thì Comfort lại vấp phải những phản hồi không
    thiện chí về một số hình ảnh trong quảng cáo như: hình hai nhân vật chính
    Andy và Lyly được tạo hình không đẹp mắt, bị đưa ra so sánh với hình ảnh
    những thiên thần hương dễ thương trước đó hay gần đây nhất là quảng cáo
    Comfort sáng tạo đang gây xôn xao dư luận vì bị cho là cổ vũ người Việt sinh
    con thứ 3. Dù là cố tình hay vô tình nhưng những hình ảnh không đẹp cũng
    ảnh hưởng một phần nào đó đến tâm lý của khách hàng, đặc biệt là trong cuộc
    sống hiện nay mọi người luôn hướng tới cái đẹp, cái hoàn mỹ nên có những
    hình ảnh đã làm xấu đi hình tượng của Comfort.
    17

  18. PHẦN III: GIẢI

    PHÁP PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM.
    3.1 Giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đồng thời đa dạng hóa
    sản phẩm:
    Không thể phủ nhận được sức mạnh phủ sóng của sản phẩm Comfort
    trên thị trường hàng tiêu dùng ở Việt Nam, phải nói rằng Comfort luôn là
    thương hiệu hàng đầu để người sử dụng lựa chọn, bởi vậy Comfort phải luôn
    đảm bảo được chất lượng về hương thơm, sự bền lâu trên vải quần áo hay sự
    an toàn với người sử dụng. Đồng thời phải nâng cao chất lượng sản phẩm như
    việc nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm có hương thơm đặc sắc , độ đậm đặc
    và khả năng lưu lại trên vải vóc.
    Đời sống càng phát triển thì nhu cầu của người tiêu dùng càng nhiều và
    đòi hỏi chất lượng cũng như sự đa dạng sản phẩm càng lớn, bởi vậy thách
    thức của Comfort bây giờ là nghiên cứu đưa ra các sản phẩm mới phù hợp với
    nhiều lứa tuổi (trẻ em, người già…) nhưng phải đảm bảo chất lượng, đặc biệt
    là khi trên thị trường đang xuất hiện rất nhiều các mặt hàng nước xả vải khác
    nhau thì Comfort lại càng phải chú trọng đến sự an toàn cho người tiêu dùng
    lên hàng đầu.
    3.2 Giải pháp cho hình thức quảng cáo sản phẩm Comfort:
    Một số giải pháp cho chương trình quảng cáo sản phẩm comfort:
    Biện pháp 1: Ta sẽ làm mới hình ảnh dựa trên các hình ảnh cũ như :thay đổi
    hình tượng đôi vợ chồng vải bằng cách chọn chất liệu vải mới, đẹp hơn, bắt
    mắt hơn, đồng thời “ thẩm mỹ” lại để dễ vào lòng người hay với quảng cáo
    mới đây của Comfort sáng tạo bị cho là không phù hợp với xu hướng kế
    hoạch hoá gia đình ở Việt Nam thì nên thay đổi cho người xem thỏa mãn.
    Biện pháp 2:Đưa mẫu quảng cáo mới (cách này mạo hiểm nhưng nếu thành
    công sẽ mang lại hiệu quả cao)
    Dưới đây là ý tưởng cho mẫu quảng cáo mới:
    – Ý tưởng 1: Sau giờ làm, ông bố ghé ngang trường rước con trai tan
    học(có những chú bướm bay lượn lờ).Trên đường về, xung quanh là khung
    cảnh cánh đồng hoa nở rộ thơm ngát, những chú bướm từ hoa bay đến đậu
    vào mình hai bố con (vì hương thơm từ hai bố con cuốn hút đàn bướm hơn cả
    hương hoa), gây chú ý người xung quanh họ theo về đến nhà. Tại nhà là hình
    ảnh hai mẹ con đang giặt đồ xả bằng nước xả vải Comfort (có những chú
    thiên thần hương bám vào sợi vải) được sự giúp đỡ của đàn bướm mang
    18

  19. những chiếc áo

    thơm ngào ngạt phơi dưới ánh nắng và nụ cười tươi rói của
    ông mặt trời, những chú bướm kết thành sợi dây dài để phơi đồ, tạo một
    khung cảnh rợp bướm bay.
    – Ý tưởng 2: Trong một ngôi trường, những em học sinh đang trong giờ
    tập thể dục.Trong buổi tập đang say sưa, một bạn gái đứng yên lặmg, thầy
    giáo đến hỏi: “tại sao em không tập”, cô bé trả lời “em ngửi thấy một mùi
    hương và một con bướm cứ bay và đậu trên áo của bạn ấy”. Bên cạnh là một
    cậu bé đang say sưa với bài tập của mình, trên vai của cậu là một con bướm
    cứ nhấp nhô theo điệu tập của cậu. Làm cho cả lớp và cả thầy giáo cũng cảm
    thấy ngạc nhiên, tất cả xôn xao hỏi cậu: “người bạn thơm quá” cậu bé cười và
    nói: ” mẹ mình giặt áo và xả bằng Comfort đó mà”. Và buổi học của ngày
    hôm sau, hàng ngàn đàn bướm bay lượn lờ, tung tăng nô đùa cùng những cô
    cậu bé học sinh này. Phải chăng Comfort là sức mạnh của hương thơm.
    Trên đây là một số giải pháp đẻ hướng đến hình ảnh mới của nước xả
    vải Comfort, biểu tượng của hương thơm.
    19

  20. KẾT LUẬN
    Trong điều

    kiện hội nhập hiện nay, thị trường luôn đòi hỏi phải có
    những sản phẩm mới , chất lượng ra đời, bởi vậy việc hình thành những chính
    sách sản phẩm mới là vô cùng quan trọng, nó là khởi đầu để có một bước tiến
    mới vững chắc cho sự mới lạ xuất hiện.
    Để xây dựng được một hệ thống chính sách sản phẩm mới phù hợp với
    tình hình tài chính , quy mô thị trường, quy mô sản xuất… không phải là đơn
    giản mà là sự phấn đấu của một đội ngũ công nhân viên của công ty trong
    suốt một quá trình.
    Công ty đạt được những thành công với những sản phẩm hàng đầu điển
    hình như Comfort đã là một thành tựu đáng nể của tâp thể lãnh đạo, cán bộ,
    công nhân viên. Bởi vậy, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng trong
    tương lai Comfort sẽ luôn đứng vững trên thị trường Việt Nam.
    Trên đây là bài tiểu luận mang tính chất khoa học đầu tiên, còn nhiều
    khuyết điểm, mong các thầy cô góp ý để những bài sau em có thể hoàn thành
    tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.
    20

  21. TÀI LIỆU THAM

    KHẢO
    1. Marketing căn bản – Philip Kotler – NXB Thống kê Hà Nội.
    2. Marketing căn bản – NXB Đại học Kinh tế quốc dân.
    3. Quản trị doanh nghiệp – NXB Đại học Kinh tế quốc dân.
    4. Websites:
    www.google.com.vn.
    www.unilever.com.vn
    21

  22. MỤC LỤC
    LỜI MỞ

    ĐẦU……………………………………………………………………………………..1
    22