Câu 8. Phân biệt các khái niệm hoạt động giáo dục theo nghĩa rộng, hoạt động – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (323.09 KB, 87 trang )

Dạy học

Hoạt động dạy học là một bộ phận của giáo dục (nghĩa rộng),là quá trình tác động qua

lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã

hội loài người (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…) để phát triển những năng lực và phẩm chất

cuả người học theo mục đích giáo dục.

Giống nhau: Là hai bộ phận của hoạt động giáo dục tổng thể, hai hoạt động này gắn bó

chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau nhưng có sự tách biệt tương đối về chức năng

nhưng đều hướng đến thực hiện mục đích lớn của giáo dục là hình thành mẫu nhân cách

lý tưởng cho xã hội.

Khác nhau

Tiêu chí

Mục đích

Chức năng

nhiệm vụ

Hoạt động dạy học

Nhằm chủ yếu hình thành:

Năng lực trí tuệ, kỹ năng trí tuệ

Chức năng trội: Chủ yếu nhằm thực

hiện nhiệm vụ giáo dục trí tuệ

Có thế mạnh về mặt phát triển trí tuệ,

nhận thức: hình thành các biểu tượng,

khái niệm, định luật, lý thuyết, các kỹ

năng, kỹ xảo…

Đối tượng

Hệ thống khái niệm

Hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo được

quy định chặt chẽ, phù hợp logic nhận

thức, tuân theo một chương trình, kế

hoạchdạy học nhằm đạt được một mục

tiêu giáo dục xác định.

Lĩnh vực

Môn học/khoa học

Chủ đề, chủ điểm, nội dung giáo dục (nghĩa

hẹp) đa dạng phong phú

Cơ chế hình

thành

Thời gian

Con đường nghiên cứu khoa học, logic

cao

Chiếm lĩnh nhanh hơn

Hình thức

Lớp/bài

Hệ thống bài lên lớp (theo thời khóa

biểu), xemina, thực hành, thí nghiệm…

Khơng gian

Phương

thức:

Hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp)

Nhằm chủ yếu hình thành:

Phẩm chất nhân cách, giá trị, kỹ năng sống

Chức năng trội: Chủ yếu nhằm thực

hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thẩm mĩ,

sức khỏe, lao động…

Có thế mạnh về mặt xúc cảm, thái độ: hình

thành niềm tin, chuẩn mực, lý tưởng, động

cơ, nguyên tắc hành vi, lối sống.

Hệ thống giá trị, chuẩn mực

Hệ thống các chuẩn mực xã hội (các định

hướng giá trị về đạo đức, văn hóa, thẩm

mĩ…), có tính khơng chắc chắn, chủ yếu

dựa theo nhu cầu xã hội, nguyện vọng và

hứng thú của đối tượng.

Phòng học là chủ yếu

Truyền đạt, phân tích, giảng giải…

Hình thức: chủ yếu cá nhân

17

Tác động vào cảm xúc, nhiều khi phi logic

Lâu dài hơn, bền bỉ hơn

Nhóm/nội dung GIÁO DỤC

Các sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội,

tham quan, lao động cơng ích, các sinh hoạt

thường nhật…

Ngồi lớp học thơng thường, trong nhà

máy, trong cuộc sống xã hội…

Trải nghiệm, biểu diễn, chiêm nghiệm…

Hình thức: chủ yếu hoạt động tập thể

Mục đích

trải nghiệm

Kiểm tra

đánh giá

Quản lý

Chủ yếu để tích lũy kinh nghiệm quan hệ,

hoạt động, ứng xử, giải quyết vấn đề… để

thích ứng với sự đa dạng của cuộc sống

luôn vận động

Chủ yếu đánh giá các kiến thức khoa học Nhấn mạnh đến kinh nghiệm, thái độ thực

học được đã được vận dụng như thế nào hiện, tính trải nghiệm, cảm xúc, giá trị,

vào thực tiễn.

niềm tin, thói quen…

Thường sử dụng đánh giá định lượng

Thường sử dụng đánh giá định tính.

Người lãnh đạo là đại diện của tập thể học

Người lãnh đạo quá trình dạy học chủ

sinh, đồn thể và gia đình, của giáo viên

yếu là giáo viên bộ môn

chủ nhiệm/ giáo dục viên…

Quản lý theo chương trình mơn học, thi

Quản lý theo chường trình hoạt động của

cử.

tập thể

Chủ yếu để củng cố kiến thức khoa học

(tích hợp), lý luận thông qua việc giải

quyết nhiệm vụ của thực tiễn

BẢNG SO SÁNH BA HOẠT ĐỘNG VỀ CHỨC NĂNG CƠ BẢN

Các khái niệm

Giáo dục (theo nghĩa rộng)

Giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể hình thành và phát triển

nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển tối đa những

tiềm năng (sức mạnh thể chất và tinh thần) của con người.

Giáo dục (nghĩa hẹp)

Giáo dục (nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩa rộng), là hoạt

động giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức,

thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của

cá nhân trong các mối quan hệ xã hội. Theo nghĩa này giáo dục (nghĩa hẹp) bao gồm các

bộ phận: đức dục, mỹ dục, thể dục, giáo dục lao động.

Dạy học

Dạy học là một bộ phận của giáo dục (nghĩa rộng),là quá trình tác động qua lại giữa

giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài

người (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…) để phát triển những năng lực và phẩm chất cuả

người học theo mục đích giáo dục.

18

Giống nhau: Cả hai hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục là tập con của họat động

giáo dục tổng thể, đều hướng đến hình thành nhân cách con người, tác động tích cực đến

xã hội.

Khác nhau

Tiêu chí

Hoạt động giáo dục

tổng thể (theo nghĩa

rộng)

Hình thành mẫu nhân

cách con người mà

giáo dục cần đào tạo

đáp ứng yêu cầu của xã

hội trong từng giai

đoạn phát triển.

Phát triển toàn diện

nhân cách con người.

Chức năng cơ bản

Chức năng của nó bao

gồm cả chức năng của

hoạt động dạy học và

hoạt động giáo dục

(theo nghĩa hẹp), được

cụ thể hóa thành các

nhiệm vụ:

Giáo dục trí tuệ, giáo

dục đạo đức, giáo dục

thẩm mĩ, giáo dục thể

chất và giáo dục lao

động hướng nghiệp.

Hoạt động dạy học

Hoạt động giáo dục

Chức năng trội: Chủ

yếu nhằm thực

hiện nhiệm vụ giáo dục

trí tuệ như

+ Trau dồi học vấn,

truyền thụ và lĩnh hội hệ

thống tri thức khoa học

phổ thông, cơ bản, hiện

đại, phù hợp với thực

tiễn rèn luyện hệ thống

kỹ năng, kỹ năng, kỹ

xảo nhận thức và thực

hành cho người học.

+ Tổ chức, hướng dẫn

học sinh phát triển năng

lực và phẩm chất trí tuệ.

+Tổ chức, hướng dẫn

học sinh hình thành,

phát triển phẩm chất

nhân cách và phát triển

toàn diện nhân cách.

Làm cơ sở để tiến hành

phát triển hoạt động

giáo dục (theo nghĩa

hẹp), dạy học phải đi

đến giáo dục.

Chức năng trội: Chủ

yếu nhằm thực hiện

nhiệm vụ giáo dục đạo

đức, thẩm mĩ, sức

khỏe, lao động…

Có thế mạnh về mặt

xúc cảm, thái độ: hình

thành niềm tin, chuẩn

mực, lý tưởng, động

cơ, nguyên tắc hành vi,

lối sống.

Thực hiện chức năng

dựa trên có cơ sở của

hoạt động dạy học,

thúc đẩy dạy học.

Câu 9. Phân tích bản chất, tính hai mặt của hoạt động dạy học. Từ đó rút ra kết luận sư

phạm

Định nghĩa hoạt động dạy học

19

Hoạt động dạy học (theo nghĩa hẹp) là hoạt động kép, là hoạt động phối hợp tương tác

và thống nhất giữa hoạt động chủ đạo chủ đạo của giáo viên và hoạt động tự giác, tích

cực, chủ động của học sinh nhằm thực hiện mục tiêu dạy học.

Phân tích

Quan niệm về hoạt động dạy học phản ánh tính hai mặt của hoạt động này: hoạt động

dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Hai hoạt động này không tách rời nhau

mà nằm trong mối quan hệ tương tác với nhau, dạy tốt sẽ dẫn đến học tốt và ngược lại, là

một hoạt động chung hướng tới mục đích hình thành nhân cách con người mới, đáp ứng

yêu cầu của thời đại. Trong đó:

– Người giáo viên đóng vai trò chủ thể định hướng, tổ chức, hướng dẫn, điều chỉnh hoạt

động nhân thức, học tập của học sinh đảm bảo cho học sinh thực hiện đầy đủ và có chất

lượng những yêu cầu, nhiệm vụ học tập phù hợp với mục tiêu dạy học cấp học. Giáo viên

đóng vai trò hết sức quan trọng để khuyến khích tính ham hiểu biết của người học, rèn

luyện độc lập khám phá trí tuệ, tăng cường khả năng tổ chức và sử dụng kiến thức giúp

người học đạt được năng lực học suốt đời qua việc tự giáo dục. Để đáp ứng được nhu cầu

dạy và học, giáo viên cần phải có năng lực của một nhà khoa học chân chính và một nhà

sư phạm tâm huyết.

– Phối hợp với hoạt động dạy của giáo viên, học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy,

vừa là chủ thể của hoạt động học tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động

học tập dưới sự tổ chức sư phạm của giáo viên nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ

năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhân thức, đặc biệ là năng lực tư duy sáng tạo, hình

thanh cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức của con người mới.

Chính học sinh chứ khơng phải con người nào khác phải tự làm ra sản phẩm giáo dục.

Tính chất hành động của họ quyết định tới chất lượng tri thức mà họ tiếp thu.

Ở đây chúng ta nhận thấy sự khác nhau giữa quan điểm hoạt động dạy học truyền thống

và hiên đại. Quan điểm truyền thống nhấn mạnh chức năng điều khiển quá trình nhân

thức của người dạy và tính tích cực, chủ động, tự điều khiển của người học. Ngược lại

theo quan điểm hiện đại về hoạt động dạy học, người ta rất coi trọng yếu tố điều khiển sư

phạm của giáo viên, ở đây vai trò của giáo viên đã có sự thay đổi, người giáo viên phải

biết gợi mở, hướng dẫn, dạy cho người học cách tìm kiếm và xử lý thơng tin và từ đó vận

dụng. Tuy nhiên, muốn được như vậy cần coi trọng môi trường công tác giữa việc dạy và

việc học và người học phải tự điều khiển q trình nhận thức của mình thơng qua việc

tích cực, chủ động, tự lực chiếm lĩnh lấy nội dung học tập với sự hỗ trợ của người dạy.

Kết luận sư phạm

– Giáo viên: chủ động, tích cực trong cơng tác xây dựng, định hướng, điều chỉnh quá trình

lĩnh hội tri thức của học sinh, giáo viên cần nhân thức mối quan hệ mật thiết với học sinh

và tầm quan trọng của việc tự nhân thức của học sinh để hướng tới hồn thành mục tiêu

20

dạy học. Giáo viên còn phải không ngừng nâng cao chuyên môn cả về tri thức khoa học

lẫn kỹ năng quản lý, truyền đạt thông tin để cung cấp hệ thống tri thức chuẩn sát và bắt

kịp với sự phát triển không ngừng của xã hội. Hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến

việc nhận thức của học sinh. Không bi quan, chán nản mà phải kiên trì nổ lực, việc dạy

học phải có kế hoach cụ thể, ro ràng, hồn thành mục tiêu truyền đạt kiến thức cơ bản mà

bộ quy định cũng như mục tiêu kiến thức mà bản thân mỗi giáo viên đặt ra.

+ Tri thức cũng như cách thức truyền đạt phải mang tính vừa sức chung, vừa sức riêng,

chú ý quan sát những học sinh yếu kém để giúp đỡ các em học tập tốt hơn cũng như giúp

đỡ các em khá giỏi phát triển năng lực của mình hơn.

– Học sinh: khơng ngừng phối hợp với thầy cơ và trải nghiệm thực tiễn để hình thành hệ

thống tri thức có chọn lọc cho riêng mình, cần tạo hứng thú học tập, duy trì hoạt động học

lâu dài, thậm chí trong suốt cuộc đời. Mỗi học sinh phải biết tích cực, chủ động lĩnh hội

tri thức, khơng lười biếng, chủ quan, không tự cao cũng như tự ti về bản thân. Không

ngừng giúp đỡ các bạn khác cùng tiến bộ, xây dựng tinh thần đoàn kết trong học tập, tạo

lập các nhóm để việc học tập được diễn ra tốt hơn.

Bên cạnh đó:

– Nhà trường: chủ động tạo điều kiện, môi trường cho giáo viên tổ chức hoạt động dạy

học đạt được mục tiêu đề ra.

– Gia đình và xã hội không ngừng phối hợp với nhà trường, giáo viên để giúp đỡ học sinh

lĩnh hội tri thức khoa học. Phụ huynh học sinh cần kèm cặp, nhắc nhở các em chuẩn bị

bài vở tốt trước khi đến lớp, nhắc nhở các em tích cực tham gia các hoạt động trên lớp,

trong nhà trường do giáo viên tổ chức như xây dựng bài, tham gia các họat động ngoại

khóa học tập… Xã hội cần quan tâm và hạn chế những tác động tiêu cực, những tri thức

lệch lạc, xây dựng các thư viện, các buổi giao lưu tri thức miễn phí, hấp dẫn dành cho học

sinh, tạo ra các trang mạng bổ ích phụ trợ cho việc học tập, các cuộc thi dành cho học

sinh giỏi như Toán, tiếng Anh trên máy tính…

Câu 10. Phân tích tính hai mặt của hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp). Từ đó rút ra

kết luận sư phạm cần thiết cho cơng tác giáo dục học sinh phổ thông.

Định nghĩa hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp)

Hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) là hoạt động phối hợp, thống nhất hoạt động chủ

đạo của nhà giáo dục và họat động tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục của người được

giáo dục nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất nhân cách phù hợp với yêu cầu

xã hội.

Phân tích

21

+ Trong q trình giáo dục, nhà giáo dục đóng vai trò chủ đạo, có nghĩa là địnhh

hướng, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình hình thành nhân cách của người được

giáo dục, theo định hướng của mục đích và nhiệm vụ giáo dục. Nhà giáo dục tác động lên

học sinh một cách có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện phù hợp.

Qua đó kích thích và làm phát triển ở học sinh tính tự giác, tích cực, tự giáo dục. Thể hiện

cụ thể thơng qua việc:

• Xác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, đề ra các yêu cầu giáo dục.

• Lựa chọn các loại hoạt động và giao lưu phù hợp

• Tổ chức thường xuyên khoa học, hợp lý các hoạt động và giao lưu

• Khơi dậy, kích thích tính tích cực, tự giáo dục của đối tượng

• Giáo dục của nhà trường đóng vai trò chủ đạo phối hợp với các lực lượng giáo dục

• Xây dựng mơi trường giáo dục

• Thường xun kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh hoạt động giáo dục.

+ Trong quá trình giáo dục, người được giáo dục tồn tại một mặt với tư cách là đối

tượng chịu sự tác động có định hướng của nhà giáo dục song mặt khác lại tồn tại với tư

cách là chủ thể tự giáo dục, có nghĩa là họ tự tổ chức, tự điều khiển quá trình hình thành

nhân cách của mình. Họ tiếp nhận những tác động một cách có chọn lọc, có khả năng tự

vận động đi lên, tự chuyển hóa những yêu cầu chuẩn mực thành nhu cầu, mong muốn

phát triển chính bản thân.

+ Như vậy, trong q trình giáo dục diễn ra sự tác động qua lại tích cực giữa nhà

giáo dục và người được giáo dục, trong đó tính tích cực, chủ động của học sinh là rất

quan trọng. Nếu khơng có sự tác động qua lại này thì sẽ khơng có bản thân q trình giáo

dục theo đúng nghĩa của nó. Nói cách khác, trong quá trình giáo dục diễn ra sự tác động

qua lại tích cực và sự thống nhất biện chứng giữa giáo dục và tự giáo dục.

Kết luận sư phạm

– Nhà trường: chủ đạo, thống nhất các lực lượng giáo dục.

– Nhà giáo dục: cần hạn chế những tác động tiêu cực, kiên trì nhẫn nại, tác động liên tục.

Ngồi ra nhà giáo dục khơng nên bi quan, nóng vội, chán nản, bng lỏng, bi quan sớm.

22