Cảm nhận về bài Về luân lí xã hội ở nước ta hay nhất – Ngữ văn lớp 11 – Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Đề bài: Bình luận về đạo đức xã hội ở nước ta

Bài giảng Đạo đức xã hội ở nước ta – Cô Thúy Nhàn (giáo viên )

Cũng như nhiều nhà cách mạng khác ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Mục đích cuối cùng của Phan Châu Trinh cũng là giành độc lập tự do cho dân tộc. Tuy nhiên, mỗi người chọn cho mình một con đường khác nhau. Bằng trực giác và sự nhạy cảm của một trí thức, bằng tầm nhìn xa của một người có đầu óc dân chủ, ông không chọn con đường bạo lực mà kiên trì thực hiện: “Khai dân trí”, “Chân dân chí”, “Hậu dân sinh”. “để tạo nên sức mạnh quốc gia. Tư tưởng đó được thể hiện rõ nét trong bài Luân lí và luân lí Đông Tây, viết năm 1925. Đoạn trích Về luân lí xã hội ở nước ta khá tiêu biểu cho tư tưởng này.

Bài Đạo đức và luân lý Đông Tây được Người cho vào đêm 19-1-1925 tại một nhà thiếu niên ở Sài Gòn (TP.HCM ngày nay). Trong bài, Phan Châu Trinh đã nhấn mạnh tác dụng của luân thường đạo lý, khẳng định một trong những nguyên nhân dẫn đến mất nước là đánh mất luân lý, đạo đức truyền thống. Trong đoạn trích, có thể tóm tắt luận điểm của Phan Châu Trinh như: Thực chất tinh thần dân chủ; Ý thức cộng đồng ở nước ta còn thấp, muốn trở nên hùng mạnh như các nước phương Tây thì phải tìm ra nguyên nhân và khắc phục tình trạng này. Rõ ràng, đây là một cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề chặt chẽ, sáng tạo và có sức thuyết phục cao.

Trong phần đầu của bài văn, Phan Châu Trinh nêu rõ một thực trạng đáng buồn của các công xã Việt Nam đầu thế kỷ XX là dân trí thấp. Điều này hoàn toàn đúng vì chủ trương của người Pháp khi sang Đông Dương là thực hiện chính sách ngu dân để dễ cai. Tuy nhiên, điều đáng bàn ở đây là lối hành văn của Phan Chu Trinh không những đúng mà còn đẹp và thuyết phục. Bắt đầu từ dân trí thấp kéo theo hàng loạt hệ lụy. Nói như tác giả, đó là: “Xã hội đạo đức ở nước ta tuyệt nhiên không ai biết, so với quốc gia đạo đức, chính người dân còn dốt nát hơn nhiều”. Có nghĩa là tinh thần xã hội có ý thức cộng đồng ở nước ta còn “dốt nát” hơn rất nhiều. Hay đúng hơn, hầu như không được biết đến. Không sử dụng yếu tố nghị luận mà lập luận sắc bén thông qua việc sử dụng phép so sánh, lựa chọn từ ngữ… Tác giả còn thể hiện thái độ buồn bã, tâm trạng bức xúc, đó là thái độ của một con người giàu tấm lòng yêu nước. Thái độ của Phan Chu Trinh thật đáng khâm phục mặc dù ông đang hướng về các nước phương Tây chủ trương “duy tâm”. Nhưng ông không phủ nhận Nho giáo, hơn nữa, chúng ta vẫn có thể thấy ông nói về nó với sự kính trọng. Điều này một lần nữa làm rõ quan điểm của ông. Đổi mới nhận thức của con người theo hướng hiện đại để bắt kịp xu thế nhưng không có nghĩa là xa rời lối sống và cách học của người phương Đông. Phải chăng ông là người rất hợp thời ở đây khi mà sau gần một thế kỷ, trong xu thế hội nhập, chúng ta cũng luôn chủ trương “hòa nhập mà không hòa tan”.

Sau khi chỉ ra thực trạng đen tối của đời sống tinh thần, ý thức xã hội và tính cộng đồng ở nước ta, tác giả dùng tiêu chuẩn của các nước phương Tây để so sánh. Tác giả chỉ lấy một ví dụ để cho thấy một cách diễn đạt đã trở thành nếp sống: “Ở Pháp, hễ có kẻ có thế lực hay chính quyền dùng vũ lực đàn áp quyền lợi riêng tư của một người hay một đoàn thể thì người dân sẽ van xin hoặc chống cự. , hoặc những lời vu khống, gây bất lợi cho đến khi một tác phẩm mới được lắng nghe”. Hiện tượng này rõ ràng là xa lạ với người Việt Nam lúc bấy giờ. Lạ vì theo tác giả, họ có “nhóm”, có “công” – tức là họ có tính cộng đồng, ý thức xã hội, hay nói đúng hơn là dân trí đã phát triển ở mức cao. Rõ ràng, đây là một điểm yếu, một điều xa lạ với người Việt Nam như đã nói ở trên.

Vậy thực tế của cái gọi là ý thức xã hội, thiếu ý thức cộng đồng ở nước ta là gì? Như tác giả đã chỉ ra, chúng ta nhận ra một thực tế: “người chết không có ai, sống thu mình, thu mình”. Tuy nhiên, điều đáng nói là tác giả không chỉ dừng lại ở việc thể hiện mà còn nhìn vào nguồn gốc của nó. Ngược lại, ngày xưa ta thấy rõ cha ông ta không dạy như thế. Câu tục ngữ: “Không ai bẻ đũa cả” mà tác giả miêu tả đã chứng minh điều đó. Nghĩa là “dân tộc Việt Nam này thuở nào cũng biết đoàn thể, biết công ích, biết góp gió thành bão, chặt cây làm rừng…”. Cuối cùng nguyên nhân chính là do người cầm cân nảy mực trăm năm. Vì mắc bệnh “ham quyền, ham vinh hoa” nên chỉ biết có vua mà không biết có dân, chỉ lo nịnh vua mà không làm tròn bổn phận của mình. quan tâm đến người dân. Dạy ít người còn “xé nát tình đoàn kết dân tộc”.

Đọc văn bản, chúng ta cũng nhận thấy rất rõ thái độ của Phan Châu Trinh. Anh căm ghét và khinh thường những người này đến cùng cực. Bắt đầu từ chữ “đông” “người”, “bầy” cả bọn “bầy đàn” như giòi bọ. Rồi đến giọng điệu mỉa mai, miệt thị khi nói về những kẻ ham hư vinh: “Dâu trôi nổi, cực khổ đến đâu, miễn là có người thắt lưng, đội nón, áo thụng, chít khăn đen là đã vây quanh. Nằm dưới, trăm ngàn năm cũng sẽ xong? Dân lợi mà tiêu! Hại dân mà tiêu! Dân càng nô, ngôi càng lâu, quan càng quý!” Tức là ông đã chỉ ra và bày tỏ thái độ của mình trước mối quan hệ giữa sự giàu có của bọn quan lại và sự khốn khổ của nhân dân. Nỗi khổ của Phan Châu Trinh không chỉ là chuyện cơm ăn áo mặc. Khổ nhất cho họ là họ “ngu mà không biết”, không còn đủ thông minh để phân biệt. các loài hoa khác, vì quyền lợi của mình, chúng đã chà đạp lên con người, từ thành phố đến nông thôn bởi suy cho cùng “dân càng nô…quan càng giàu”. Quyền lợi như một cơn đại dịch, lan rộng, ai cũng học chữ Nho đến chữ Tây, từ quê đến thành thị, thử hỏi bao giờ hết dịch? Trước thực tế đó, Người đã phải thốt lên: “Ôi! Một dân tộc như vậy, làm sao nảy sinh tư tưởng cách mạng trong đầu óc họ được! Thế nên ở Việt Nam chúng ta không có chủ nghĩa xã hội!” Cuối bài là lập luận đồng thời là lời kêu gọi. Các vấn đề được liên kết theo kiểu dây chuyền. Phải có đoàn thể và đoàn thể mới có thể “truyền bá chủ nghĩa xã hội”, giác ngộ đồng bào, khơi dậy tinh thần đoàn kết thì dân tộc Việt Nam mới có đủ sức mạnh để đẩy lùi quân xâm lược. , vừa thoát khỏi vòng nô lệ.

Đọc bài văn của Phan Chu Trinh, người đọc bị thuyết phục bởi tấm lòng yêu nước, thương dân, đại nghĩa và khát vọng độc lập cho dân tộc. Cái tâm ấy được thể hiện qua tài hùng biện, qua cách lập luận chặt chẽ, bằng ngôn ngữ trong sáng gợi cảm xúc. Vì vậy, mặc dù con đường cách mạng Người đi chưa thực sự mang lại độc lập cho dân tộc Việt Nam, nhưng mãi mãi trong lịch sử, nhân dân Việt Nam biết ơn và tự hào về Người.

Xem thêm các bài văn mẫu về phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 11:

ve-luan-lixa-hoi-o-nuoc-ta.jsp

Các bộ đề lớp 11 khác

Bạn thấy bài viết Cảm nhận về bài Về luân lí xã hội ở nước ta hay nhất – Ngữ văn lớp 11 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Cảm nhận về bài Về luân lí xã hội ở nước ta hay nhất – Ngữ văn lớp 11 bên dưới để Trường Tiểu Học Đằng Lâm có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: c1danglamhp.edu.vn của Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Nhớ để nguồn bài viết này: Cảm nhận về bài Về luân lí xã hội ở nước ta hay nhất – Ngữ văn lớp 11 của website c1danglamhp.edu.vn

Chuyên mục: Văn học