Dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 trường tiểu học trung văn, quận – Tài liệu text

Dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 trường tiểu học trung văn, quận nam từ liêm, hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.38 MB, 127 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

HÀ HỒNG THẮM

DÀN DỰNG HÁT TỐP CA CHO HỌC SINH KHỐI 4,
KHỐI 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG VĂN,
QUẬN NAM TỪ LIÊM, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ÂM NHẠC
Khóa 6 (2015 – 2017)

Hà Nội, 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

HÀ HỒNG THẮM

DÀN DỰNG HÁT TỐP CA CHO HỌC SINH KHỐI 4,
KHỐI 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG VĂN,
QUẬN NAM TỪ LIÊM, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc
Mã số: 8140111

Người hướng dẫn: TS. Lê Vinh Hưng

Hà Nội, 2018

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những nội
dung tham khảo được trích dẫn từ các tài liệu có nguồn gốc. Các số liệu và kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất cứ
công trình nghiên cứu nào trong và ngoài nước.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn

Hà Hồng Thắm

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ÂM
NHẠC NGOẠI KHÓA TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG VĂN …………… 8
1.1. Khái niệm thuật ngữ ……………………………………………………………………….. 8
1.1.1. Dàn dựng ……………………………………………………………………………………. 8
1.1.2. Tốp ca ………………………………………………………………………………………… 9
1.1.3. Hoạt động âm nhạc ngoại khóa ……………………………………………………. 11
1.2. Vai trò của dàn dựng hát tốp ca trong hoạt động ngoại khóa âm nhạc ở
trường phổ thông ………………………………………………………………………………… 12
1.2.1. Đối với học sinh ………………………………………………………………………… 12
1.2.2. Đối với giáo viên ……………………………………………………………………….. 14
1.3. Đặc điểm tâm sinh lý và giọng hát của học sinh……………………………….. 15
1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý………………………………………………………………….. 15
1.3.2. Đặc điểm giọng hát ……………………………………………………………………. 17
1.4. Thực trạng hoạt động giáo dục âm nhạc tại Trường Tiểu học Trung Văn …. 19

1.4.1. Khái quát về nhà trường ……………………………………………………………… 19
1.4.2. Đội ngũ giáo viên ………………………………………………………………………. 21
1.4.3. Học sinh khối 4, khối 5 ………………………………………………………………. 25
1.4.4. Hoạt động dàn dựng hát tốp ca tại trường Tiểu học Trung Văn ……….. 26
Tiểu kết ……………………………………………………………………………………………… 30
Chương 2: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÀN DỰNG HÁT TỐP CA
CHO HỌC SINH KHỐI 4, KHỐI 5 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC
TRUNG VĂN ……………………………………………………………………………………. 32
2.1. Những yêu cầu cho việc nâng cao chất lượng dàn dựng hát tốp ca cho
học sinh khối 4, khối 5 Trường Tiểu học Trung Văn ………………………………. 32
2.1.1. Mục đích của việc nâng cao chất lượng dàn dựng hát tốp ca …………… 32

2.1.2. Mục tiêu cụ thể của việc nâng cao chất lượng dàn dựng hát tốp ca ….. 33
2.1.3. Yêu cầu về tính chất và đặc điểm dàn dựng hát tốp ca …………………… 34
2.2. Rèn luyện kĩ năng hát tốp ca ………………………………………………………….. 39
2.2.1. Hát chuẩn giai điệu…………………………………………………………………….. 39
2.2.2. Hát bè ………………………………………………………………………………………. 46
2.2.3. Xử lý lời ca ……………………………………………………………………………….. 50
2.2.4. Các phần dàn dựng bổ xung cho hát …………………………………………….. 52
2.3. Hướng dẫn dàn dựng hát tốp ca ……………………………………………………… 56
2.3.1. Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng của Phong Nhã
(chuyển soạn Vinh Hưng) ……………………………………………………………………. 56
2.3.2. Điều em muốn của Trương Quang Lục, lời thơ: Phương Liên (chuyển
soạn cho tốp ca Đào Ngọc Dung) …………………………………………………………. 66
2.4. Thực nghiệm sư phạm …………………………………………………………………… 72
2.4.1. Mục đích thực nghiệm ……………………………………………………………….. 72
2.4.2. Đối tượng thực nghiệm ………………………………………………………………. 72
2.4.3. Nội dung thực nghiệm ………………………………………………………………… 72
2.4.4. Kết quả thực nghiệm ………………………………………………………………….. 74

Tiểu kết ……………………………………………………………………………………………… 74
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………….. 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………………. 78
PHỤ LỤC …………………………………………………………………………………………. 82

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Âm nhạc cũng như một số môn học Nghệ thuật khác, góp một phần rất
lớn vào mục tiêu giáo dục phổ thông. Âm nhạc là yếu tố quan trọng, là một
phần không thể thiếu góp phần hình thành nhân cách hài hòa, phát triển tư
duy, bồi dưỡng nâng cao năng lực thẩm mỹ, năng lực sáng tạo…cho học sinh.
Đặc biệt thông qua giai điệu, lời ca có ý nghĩa góp phần giúp các em tránh xa
những thói hư tật xấu, giáo dục cho học sinh về tư tưởng, tình cảm, lòng yêu
quê hương đất nước, tinh thần tự hào dân tộc, đồng thời hướng các em đến
với những điều tốt đẹp, xây dựng cho các em thị hiếu âm nhạc lành mạnh.
Giáo dục âm nhạc trong trường phổ thông, giúp trẻ có được những kĩ
năng sống, kĩ năng giao tiếp tốt hơn. Âm nhạc rất dễ đi vào lòng các em
không chỉ bằng lời hát mà bằng giai điệu, bằng những sắc thái biểu cảm
của người hát. Điều đó giúp cho học sinh thấy thoải mái và vui vẻ hơn sau
những giờ học căng thẳng. Có thể khẳng định, âm nhạc có thế mạnh trong
việc khích lệ học sinh trong học tập và phát triển năng lực thẩm mĩ cho học
sinh. Trong chương trình giáo dục âm nhạc ở trường phổ thông, ca hát là
một nội dung quan trọng. Học hát giúp cho học sinh phát triển tai nghe,
phát triển giọng… Trong đó hát tốp ca, đồng ca chính là một phương tiện
có hiệu quả để giáo dục tinh thần tập thể, tính kỉ luật và tính đoàn kết.
Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và đào tạo đặc biệt quan tâm, đã
đưa giáo dục âm nhạc là một môn học độc lập và là nội dung bắt buộc, trong

chương trình chính khóa. Đây là một nội dung được các Trường Tiểu học đưa
vào các trong chương trình hoạt động ngoại khóa.
Một trong những hoạt động ngoại khóa trong trường phổ thông hiện nay
là ngoại khóa âm nhạc. Ở các trường Tiểu học, việc tổ chức biểu diễn âm
nhạc chủ yếu là hát đơn ca, song ca, tốp ca và đồng ca. Các loại hình trình

2

diễn này sẽ giúp cho học sinh mạnh dạn hơn trong mọi hoạt động. Tuy nhiên,
để thực hiện tốt các tiết mục biểu diễn tập thể đòi hỏi có sự hòa hợp trong
giọng hát và cần sự đầu tư dàn dựng công phu. Thực tế, nhiều chương trình
biểu diễn âm nhạc ở các trường Tiểu học còn thiên về các tiết mục đơn ca, ít
đầu tư cho các tiết mục tập thể như tốp ca, đồng ca, hợp xướng.
Trường Tiểu học Trung Văn, là một trong những trường có bề dày về
hoạt động ngoại khóa của Quận Nam Từ Liêm. Các hoạt động âm nhạc cho
học sinh luôn được Nhà trường chú trọng, được duy trì và phát triển rộng với
kế hoạch chặt chẽ được đề ra từ đầu năm học. Nhà trường thường xuyên tổ
chức các chương trình, cuộc thi cho học sinh trong các ngày lễ. Ban Giám
hiệu luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để hoạt động âm nhạc đạt hiệu quả cao
nhất. Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên âm nhạc luôn tự mình học hỏi nhằm
nâng cao chất lượng dàn dựng các tiết mục tốp ca.
Việc dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 của Trường trong
những năm qua đã có những thành công nhất định, được đánh giá qua các
chương trình, cuộc thi do Quận Nam Từ Liêm tổ chức. Điển hình là tiết mục
tốp ca nhận được sự đánh giá cao về chuyên môn trong biểu Lễ tuyên dương
khen thưởng của Quận Nam Từ Liêm (từ năm học 2013-2014), cũng như đạt
các giải cao khi tham gia các chương trình Cuộc thi Văn nghệ của Quận. Có
thể nói học sinh của Trường Tiểu học Trung Văn rất yêu thích các hoạt động
văn nghệ thể thao, nhiều em có năng khiếu. Bên cạnh những mặt đạt được,

việc dàn dựng các tiết mục hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 vẫn còn
một số hạn chế như: các em hát chưa chuẩn về cao độ, trường độ, hay gặp
khó khăn khi thể hiện hát các bài hát có âm vực rộng, gặp các quãng nhảy
xa, phong cách biểu diễn của học sinh còn chưa tự tin, … Những hạn chế
đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nghệ thuật của tiết mục hát tốp
ca, cũng như phát triển khả năng ca hát cho học sinh của Nhà trường.

3

Xuất phát từ những nhận thức trên, chúng tôi chọn đề tài luận văn
chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học âm nhạc: Dàn dựng hát tốp
ca cho học sinh khối 4, khối 5 Trường Tiểu học Trung Văn, Quận Nam Từ
Liêm, Hà Nội.
2. Lịch sử nghiên cứu
Qua quá trình tìm hiểu và thu thập tài liệu, có một số tài liệu liên quan
đến đề tài như:
Đỗ Mạnh Thường – Nguyễn Minh Cầm (1982), Hướng dẫn hát tập thể.
Đây là tài liệu viết cho những người làm công tác phụ trách, đặc biệt là với
giáo viên Tiểu học về một số kinh nghiệm tổ chức, cách hướng dẫn thiếu nhi
hát tập thể, xây dựng đội đồng ca, hợp xướng thiếu nhi và phương pháp luyện
tập, cung cấp kiến thức cơ bản cho người làm công tác phụ trách. Có thể nói,
đây là tài liệu giúp luận văn có những khái quát chính xác hơn về hát tập thể
là tài liệu thực sự bổ ích trong quá trình viết luận văn.
Nguyễn Minh Cầm (1982), Chỉ huy và biểu diễn hợp xướng. Tài liệu
gồm 5 phần, Đây là tài liệu cần để luận văn có được những thông tin cần thiết
trong quá trình tìm hiểu thực hiện đề tài.
Nguyễn Lâm Soạn (1987), Phương pháp chỉ huy hợp xướng và hệ thống
bài tập dàn dựng bè. Tài liệu đề cập tới các bước làm việc của người chỉ huy,
cách thức xử lý hát bè… Đây là tài liệu để chúng tôi tham khảo khi dàn dựng

cho học sinh hát bè.
Trần Nguyên Hoàn (2002), Phương pháp thể hiện bài hát hành khúc
trong giảng dạy bộ môn thanh nhạc. Đề tài nghiên cứu khoa học của Trường
Cao đẳng Sư phạm Nhạc – Họa Trung ương. Đề tài đã giải quyết một phần
phương pháp dạy học bộ môn Thanh nhạc và phương pháp thể hiện bài hát
hành khúc, đáp ứng được nhu cầu đổi mới của nhà trường ở thời gian lúc bấy
giờ. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ nêu ra phương pháp thể hiện mà chưa đề cập

4

đến việc sử dụng phương pháp, hướng dẫn cho người dạy và người học thực
hiện phương pháp như đề tài đặt ra.
Đoàn Phi (2005), Chỉ huy dàn dựng hát tập thể. Tài liệu này chủ yếu dạy
kỹ thuật chỉ huy hát tập thể, cung cấp cho người học các kiến thức chung khi
dàn dựng hợp xướng. Từ những kinh nghiệm về dàn dựng hợp xướng, tác giả
đã đưa ra nhiều lời khuyên bổ ích cho những người làm công tác dàn dựng hát
tập thể nói chung và dàn dựng hát hợp xướng nói riêng.
Vũ Tự Lân – Lê Thế Hào (2007), Phương pháp hát và chỉ huy dàn dựng
hát tập thể. Tác giả tài liệu đưa ra hướng dẫn về phương pháp hát và chỉ huy
dàn dựng các chương trình hát tập thể. Trong tài liệu này đã đưa ra một số
khái niệm, định nghĩa và định hướng cụ thể về phương pháp hát và chỉ huy
dàn dựng hát cụ thể. Cũng như cách phát huy giọng hát tự nhiên của học sinh
khi dàn dựng. Đối với luận văn có thể tham khảo một số phương phát hát cho
lứa tuổi mà chúng tôi nghiên cứu.
Lê Anh Tuấn (2007), Giáo trình dàn dựng chương trình âm nhạc tổng
hợp. Tài liệu này đề cập tới công tác dàn dựng các chương trình tổng hợp
như hát – múa trong nhà trường phổ thông, các hình thức tổ chức các hoạt
động âm nhạc ngoại khóa, tổ chức chương trinh biểu diễn âm nhạc trong các
ngày lễ, trong các cuộc thi nghệ thuật. Tài liệu này là tài liệu bổ ích, có giá

trị liên quan đến vấn đề dàn dựng mà chúng tôi sẽ kế thừa trong luận văn.
Trần Ngọc Lan (2011), Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật
ca hát. Bên cạnh những vấn đề đặc trưng của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra một
số giải pháp ứng dụng nâng cao chất lượng hát tiếng Việt cho rõ lời, rõ nghĩa.
Đây là tài liệu bổ ích, có giá trị liên quan đến vấn đề biểu diễn các tác phẩm
thanh nhạc tiếng Việt.
Tại Trường Đại học sư phạm Nghệ Thuật Trung Ương đã có một số
khóa luận và luận văn nghiên cứu về dàn dựng chương trình âm nhạc tổng

5

hợp và dàn dựng tốp ca như: Mai Thị Nga (2005) Nghiên cứu một số biện
pháp dàn dựng tốp ca trong chương trình âm nhạc ngoại khóa của trường
THCS Ba Đình – Bỉm Sơn – Thanh Hóa, khóa luận Đại học Sư phạm Âm
nhạc; Nguyễn Thu Thủy (2016), Dàn dựng chương trình âm nhạc tổng hợp
cho học sinh trường Tiểu học Lômônôxốp Mỹ Đình, luận văn chuyên ngành
Lý luận và Phương pháp dạy học âm nhạc; Lò Thị Ánh Nguyệt (2016),
Dàn dựng tốp ca trong hoạt động âm nhạc ngoại khóa tại Trường Trung
học cơ sở Lê Quý Đôn – Mường La – Sơn La, luận văn chuyên ngành Lý
luận và Phương pháp dạy học âm nhạc; Tạ Thị Lan Phương (2014), Dàn
dựng chương trình âm nhạc tổng hợp cho học sinh khối các trường Trung
học cơ sở huyện Quốc Oai, Hà Nội, luận văn chuyên ngành Lý luận và
Phương pháp dạy học âm nhạc
Nhìn chung các giáo trình, tài liệu nghiên cứu trên đều đề cập đến
phương pháp dàn dựng chương trình nghệ thuật nói chung, đến thực trạng
và những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ngoại khóa, các hình thức
hát tập thể, tốp ca tại các trường. Đây là nguồn tư liệu quý báu là cơ sở cần
thiết mà luận văn kế thừa như một nguồn tài liệu phong phú khi bàn về
những vấn đề về hát tốp ca. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu dàn

dựng hát tốp ca với học sinh Tiểu học và chưa có đề tài nào nghiên cứu
thực nghiệm tại trường Tiểu học Trung Văn Quận Nam Từ Liêm, nên đề tài
luận văn là không có sự trùng lặp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đưa ra biện pháp dàn dựng nhằm nâng cao chất
lượng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối5 trong các hoạt động âm nhạc
ngoại khóa tại Trường Tiểu học Trung Văn, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

6

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về hát tốp ca, tìm hiểu thực trạng việc dàn dựng các tiết mục
tốp ca trong chương trình biểu diễn âm nhạc ở trường Tiểu học Trung Văn Quận Nam Từ Liêm – Hà Nội
Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn đã khảo sát được, đưa ra một số
biện pháp dàn dựng, cách luyện tập tiết mục tốp ca trong hoạt động âm nhạc
ngoại khóa phù hợp với học sinh tại trường Tiểu học Trung Văn, Quận Nam
Từ Liêm, Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nâng cao chất lượng của việc dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4,
khối 5 tại Trường Tiểu học Trung Văn, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu chủ yếu tại Trường Tiểu học Trung Văn, Quận Nam Từ
Liêm, Hà Nội và khảo sát dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 từ
năm 2016 đến tháng 5 năm 2018.
Luận văn khảo sát các tư liệu về ca khúc viết cho thiếu nhi đã được biểu
diễn trước công chúng, thu âm, in ấn (gồm các ca khúc ở phần phụ lục).
Các vấn đề nghiên cứu về dàn dựng hát tốp ca rất rộng. Luận văn chủ

yếu tập trung nghiên cứu kỹ năng dàn dựng cho phần hát (hát chuẩn giai điệu,
hát bè, xử lý lời ca ).
Thực nghiệm với ca khúc Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên Nhi
Đồng, của Phong Nhã (chuyển soạn Vinh Hưng)
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp:
Phân tích, so sánh và tổng hợp để nghiên cứu các tài liệu, các kết quả điều
tra, từ đó tổng hợp, khái quát hóa, đưa ra những nhận định có tính khoa học.

7

Trao đổi ý kiến chuyên gia để giúp cho tác giả luận văn tham khảo ý kiến
của các chuyên gia có trình độ cao xem xét, nhận định về dàn dựng hát tốp ca
Điều tra và thực nghiệm sư phạm để khảo sát thực trạng các hoạt động
hát tốp ca trong và ngoài Nhà trường thông qua những thông tin khách quan
từ giáo viên và học sinh.
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn có một số đóng góp chính như sau:
Đề xuất các biện pháp dàn dựng tiết mục tốp ca góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động ngoại khóa và biểu diễn âm nhạc tại trường Tiểu học Trung
Văn – Quận Nam Từ Liêm – Hà Nội.
Làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học cùng hướng.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn
gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động âm nhạc ngoại khóa tại
Trường Tiểu học Trung Văn
Chương 2: Nâng cao chất lượng dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4,
khối 5 tại trường Tiểu học Trung Văn

8

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ÂM NHẠC
NGOẠI KHÓA TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG VĂN
1.1. Khái niệm thuật ngữ
1.1.1. Dàn dựng
Ngày nay, nhiều hoạt động âm nhạc diễn ra tại các trường học và ngoài
xã hội. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của người làm công tác âm
nhạc là tham gia chỉ đạo, hướng dẫn luyện tập và biểu diễn để tạo ra các tiết
mục, chương trình nghệ thuật hấp sẫn, sáng tạo, độc đáo… đem lại những giá
trị nghệ thuật cho công chúng. Những yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn, việc
đúc kết về danh từ “dàn dựng” cũng cần mang tính lý luận, khái quát để phát
triển nó. Cũng từ đó, nhiều tài liệu, nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra
khái niệm dàn dựng.
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (1998), của Hoàng Phê (chủ biên)đã giải
nghĩa: “Dàn dựng là tổ chức hướng dẫn luyện tập cho diễn viên trước khi biểu
diễn trên sân khấu” [31;212]; cũng trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (2014) của
Nguyễn Văn Hùng và Thái Xuân Đệ đã giải nghĩa tương tự như giải nghĩa
trên: “Dàn dựng là tập luyện và chuẩn bị mọi mặt cho việc trình bày tác phẩm
nghệ thuật trước khi đưa ra diễn trên sân khấu” [13;215].
Khái niệm dàn dựng của Lê Vinh Hưng dựa trên cơ sở thực tế khi làm
việc với diễn viên để khái quát: “dàn dựng thực chất là quá trình luyện tập để
người dàn dựng làm hòa hợp thế mạnh của từng diễn viên, những người mà
khí chất, tính cách, giọng hát…có thể khác biệt, thậm chí đối chọi nhau, thành
một khối thống nhất trong quá trình biểu diễn âm nhạc” [15;12].
Từ những giải nghĩa và cách giải thích mở rộng giải nghĩa nói trên,
chúng tôi có thể khái quát: dàn dựng là công việc của người đứng đầu, có

năng lực thị phạm các hình thức biểu diễn, thêm/bớt về liều lượng các thủ

9

pháp của nghệ thuật âm nhạc và truyền vào cho diễn viên thực hiện các nhiệm
vụ chuyển tải chủ đề tư tưởng của một chương trình/một tác phẩm nghệ thuật;
tạo màu sắc riêng cho từng tiết mục/kết cấu nội dung chương trình và đóng
vai trò quyết định chất lượng biểu diễn âm nhạc.
Ngoài chuyên môn về lĩnh vực âm nhạc, người dàn dựng/(giáo viên)
còn phải hiểu biết kiến thức cơ bản về các môn nghệ thuật khác như mỹ
thuật (trang trí, bố cục..,), múa (ngôn ngữ hình thể)… Bên cạnh đó, việc
dàn dựng ở trường phổ thông còn đòi hỏi giáo viên phải nắm bắt được tâm
lý học sinh. Học sinh phổ thông có năng khiếu không giống như người học
nghệ thuật chuyên nghiệp và cũng không có nhiều thời gian cho việc luyện
tập biểu diễn. Trong sự hạn chế về thời gian và điều kiện làm việc, giáo
viên còn phải biết liên kết, động viên học sinh tham gia và phát huy mọi
khả năng của mình để dàn dựng thành công những tiết mục/chương trình
biểu diễn âm nhạc, đáp ứng được yêu cầu giáo dục nghệ thuật ngày cao
trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2. Tốp ca
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt (1994) của Văn Tân, giải nghĩa “Tốp nhóm ít người” [35;801]; theo Ca hát và biểu diễn (1982) của Đặng Hòe và
Đức Bằng cho rằng: “Tốp ca là một đơn vị biểu diễn thường có trên dưới
mười người tham gia, đây là đơn vị nhỏ gọn rất sinh động có khả năng biểu
diễn được nhiều bài hát có nội dung khác nhau” [11;105].
Trong cuốn Phương pháp dạy học âm nhạc (2001) của Ngô Thị Nam:
Hát tốp ca có thể từ 4 đến 8, 10 học sinh cùng biểu diễn. Tốp ca có
thể có một bè và có thể có hai hoặc ba bè… Trong tốp ca có thể có
phần lĩnh xướng của một học sinh hoặc 2 học sinh. Hình thức hát
này cũng đòi hỏi ở học sinh phải có tính chủ động, mạnh dạn, tích

cực [25;101].

10

Từ những khái niệm trên có thể khái quát: tốp ca được hiểu là sự biểu
diễn một tác phẩm thanh nhạc được viết cho một/nhiều loại giọng hát do một
nhóm ca sĩ cùng trình bày (ví dụ: tốp ca nam, tốp ca nữ vvv…). Để phân biệt
với các hình thức biểu diễn nhóm như song ca, tam ca thì số lượng người
trong tốp ca thường từ 4 người đến 12 người. Hình thức biểu diễn tốp ca có
khả năng trình bày bài hát với nhiều cách thức thể hiện khác nhau: có
câu/đoạn nhạc sử dụng lối hát đối đáp, nối tiếp; có câu/đoạn sử dụng lối hát
hòa âm/phức điệu. Các hình thức biểu diễn tốp ca tương đối đa dạng, được
phân theo giới tính/lứa tuổi như tốp ca giọng nữ, tốp ca giọng nam, tốp ca
giọng nam và giọng nữ, tốp ca giọng thiếu nhi.
Tốp ca giọng nữ là sự kết hợp của nhiều giọng hát do một nhóm nữ
trình bày. Tốp ca giọng nữ có tính chất mềm mại, thường phù hợp với
những bài hát trữ tình, tươi vui, duyên dáng. Ví dụ như một số bài: Việt
Nam quê hương tôi của Đỗ Nhuận, Quê em của Nguyễn Đức Toàn, Nhạc
Rừng của Hoàng Việt, Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao, Màu cờ tôi yêu của
Phạm Tuyên…
Tốp ca giọng nam là sự kết hợp của nhiều giọng hát, do một nhóm nam
trình bày. Tốp ca giọng nam có tính chất khoẻ khoắn, thường phù hợp với
những bài ngợi ca, sôi nổi, hùng tráng. Ví dụ như một số bài: Đêm trường Sơn
nhớ Bác Nhạc: Trần Chung; Lời: Trích thơ Nguyễn Trung Thu, Anh vẫn hành
quân của Huy Du, Hành khúc người mẹ xa con của An Thuyên…
Tốp ca giọng nam nữ là sự kết hợp giữa nhiều giọng hát, do một nhóm
nam trình bày. Số lượng người hát của tốp ca giọng nam và nữ thường gấp
đôi tốp ca giọng nam/tốp ca giọng nữ, trong đó tỉ lệ giữa nam và nữ tương
đương nhau. Những bài hát phù hợp với hình thức này như: Việt Nam ơi

mùa xuân đến rồi của Huy Du, Mẹ Việt Nam anh hùng của An Thuyên, Hồ
Chí Minh đẹp nhất tên Người của Trần Kiết Tường…

11

Tốp ca giọng thiếu nhi là kết hợp của các em có độ tuổi từ 6 đến 12. Loại
tốp ca này có tính chất trong sáng, mượt mà, phù hợp với các ca khúc vui
tươi, nhí nhảnh, nhẹ nhàng. Ví dụ như các bài hát: Ca ngợi Tổ quốc của
Hoàng Vân, Bay cao tiếng hát ước mơ của Nguyễn Nam, Em là mầm non của
Đảng của Mộng Lân.
Như vậy, tiêu chí được chú trọng hàng đầu trong việc dàn dựng tốp ca là
vai trò của tập thể, sự hoà hợp của tập thể, vai trò của cá nhân là vì tập thể.
Việc đòi hỏi của hát tốp ca là phải hát đúng cao độ, trường độ và sắc thái âm
nhạc… Biểu diễn tốp ca không cần thiết từng thành viên phải có giọng hát tốt
như đơn ca và cũng không qui định chặt chẽ như biên chế trong hát hợp
xướng. Tốp ca dễ chọn người tham gia, dàn dựng không cần nhiều thủ pháp
phức tạp như hợp xướng. Khi dàn dựng tốp ca trong trường phổ thông, giáo
viên cần phải nắm bắt được các công đoạn về dàn dựng như chọn học sinh thể
hiện, chọn tác phẩm, dự kiến kế hoạch tập luyện, vận dụng kiến thức, sáng
tạo… để đạt chất lượng nghệ thuật.
1.1.3. Hoạt động âm nhạc ngoại khóa
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt (1994) của Văn Tân, đã giải nghĩa “Ngoại
khóa là hoạt động giáo dục ngoài giờ học chính thức” [35;561]; trong cuốn Từ
điển tiếng Việt (2014) của Nguyễn Văn Hùng – Thái Xuân Đệ, cho rằng:
“Ngoại khóa là môn học hoặc hoạt động giáo dục ngoài giờ hay còn gọi là
ngoài chương trình chính thức lên lớp” [13;572].
Từ hai giải nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu ngoại khóa là các hoạt động
được tổ chức ngoài giờ lên lớp không có trong chương trình môn học theo
quy định của Bộ Giáo dục. Ngoại khóa là một trong những mảng hoạt động

giáo dục quan trọng ở nhà trường phổ thông; ngoại khóa là các hoạt động kết
hợp giữa vui chơi và học tập ngoài giờ lên lớp góp phần gắn kết giữa kiến
thức trên lớp với các hoạt động thực tế. Mục đích của hoạt động ngoại khóa là

12

hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho đời sống tinh thần
của các em phong phú hơn. Thông qua hoạt động ngoại khóa sẽ là điều kiện,
môi trường để bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo cho học sinh.
Như vậy, hoạt động âm nhạc ngoài giờ lên lớp là một bộ phận nằm trong
nội dung của ngoại khóa. Trong trường Tiểu học hoạt động ngoại khóa âm
nhạc giúp các em có năng khiếu được thể hiện mình đây là cơ sở để duy trì
phong trào văn nghệ, là sân chơi tập thể vui, lành mạnh.
Hoạt động âm nhạc ngoại khóa trong trường Tiểu học được thiết lập bởi
một số hình thức: lớp dạy Keyboard, Guitar; câu lạc bộ em yêu dân ca; tổ
chức các trò chơi âm nhạc vv… Khi tham gia các câu lạc bộ trên đa số các em
học sinh được tìm hiểu sâu hơn về những kiến thức âm nhạc mà trong các giờ
học chính khóa chưa được tiếp cận, ưu điểm đạt được là các em nắm chắc hơn
về kiến thức âm nhạc, phát triển khả năng ca hát. Đặc biệt thông qua quá trình
tham gia các câu lạc bộ, các em có điều kiện rèn luyện các kỹ năng thực hành
âm nhạc, từ đó tạo thêm tình yêu, sự say mê hơn đối nghệ thuật âm nhạc.
1.2. Vai trò của dàn dựng hát tốp ca trong hoạt động ngoại khóa âm nhạc
ở trường phổ thông
1.2.1. Đối với học sinh
Dàn dựng hát tốp ca là hoạt động thực hành âm nhạc nhằm cung cấp,
củng cố hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh. Thông qua hoạt
động này hình thành năng lực làm việc theo nhóm, phát triển khả năng giao
tiếp, ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể. Thêm vào đó, dàn
dựng hát tốp ca còn tạo cho học sinh môi trường trải nghiệm, khơi gợi tình

thân ái hữu nghị đoàn kết, khắc phụ c tính rụt rè/thiếu tự tin.
Chủ đề trong các bài hát tốp ca giành cho lứa tuổi thiếu nhi thường ngợi
ca tình yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào… thông qua giai điệu, lời ca có
ý nghĩa từ đó tác động đến nhân cách học sinh.

13

Dàn dựng hát tốp ca tạo khả năng nâng cao nhận thức thẩm mỹ cho học
sinh. Tác phẩm âm nhạc là chỉnh thể chân – thiện – mỹ trọn vẹn thể hiện tập
trung lý tưởng của con người khi nhận thức thế giới bằng các cảm xúc mạnh
mẽ, đi vào chiều sâu các quy luật tình cảm rất riêng của con người. Chính vì
vậy, thông qua việc dàn dựng tốp ca sẽ cung cấp một lượng kiến thức âm
nhạc phong phú cho học sinh. Hơn nữa, tính chất đan xen nhiều phong cách
thể hiện của việc biểu diễn tốp ca sẽ tạo khả năng nhận thức nhiều cấp độ,
nhiều ý nghĩa về nghệ thuật ca hát.
Biểu diễn âm nhạc trong trường phổ thông nhằm tạo nên sự phong phú
của đời sống tinh thần, nuôi dưỡng khát vọng, kích thích tiềm năng sáng tạo
theo quy luật cái đẹp cho học sinh. Điều đó càng trở nên quan trọng, nếu các
tiết mục biểu diễn tốp ca ngày càng chất lượng, sâu sắc thì việc giáo dục âm
nhạc càng được lan tỏa, chuyển biến nhanh chóng từ nhu cầu thẩm mỹ mang
tính giải trí sang trình độ thẩm mỹ giàu tính con người hơn nhiều. Trên thực
tế, các tác phẩm âm nhạc không chỉ giáo dục con người bằng các phương thức
truyền thụ tri thức, giáo lý, đạo đức… mà nó còn được gợi mở, cuốn hút về
mặt thẩm mỹ thông qua biểu diễn, làm cho con người tiếp thu được những giá
trị âm nhạc trọn vẹn.
Dàn dựng hát tốp ca là điều kiện để người giáo viên có thể khơi gợi cho
học sinh nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều sáng tạo khác nhau trong việc trình
diễn bài hát. Với các thủ pháp theo lối hát đối đáp, nối tiếp, hát bè… sẽ hình
thành cho học sinh thẩm mỹ âm nhạc một cách đúng đắn. Sự đan xen của các

giọng hát trong lối hát hòa thanh, lối hát phức điệu không chỉ tạo nên sự hòa
hợp thống nhất về âm thanh mà còn phát triển cho học sinh khả năng nghe
nhạc nhạy bén, tinh tế. Việc các em biểu diễn một bài hát có chất lượng nghệ
thuật ở hình thức tốp ca sẽ thêm phần phát triển cho việc giáo dục thẩm mỹ ở
nhà trường phổ thông.

14

Dàn dựng tốp ca góp phần rèn luyện thị hiếu âm nhạc đúng đắn, năng lực
hoạt động âm nhạc tập thể, phát triển được tài năng của các em. Có thể nhận
định rằng việc dàn dựng tốp ca sẽ góp phần hoàn thiện hơn trong việc giáo
dục thẩm mỹ cho học sinh. Bởi vì, không như đơn ca chỉ đem đến cho người
nghe cảm nhận được giai điệu, mà tốp ca còn có khả năng tạo được nhiều màu
sắc, cung bậc khác nhau trong việc thể hiện tác phẩm của nhiều giọng hát, nó
có thể diễn giải được sự cần thiết nhất định về tính chất đa thanh. Điều đó
chắc chắn sẽ góp phần đặt cơ sở nền tảng cho việc hình thành thị hiếu âm
nhạc của học sinh.
1.2.2. Đối với giáo viên
Nếu giáo viên âm nhạc chỉ dạy tốt môn học của mình trong phạm vi lớp
học thì họ chưa thể khẳng định được vai trò của mình trong nhà trường. Còn
việc giáo viên vừa dạy tốt, vừa nổi bật trong các hoạt động âm nhạc ngoại
khóa, trong đó có dàn dựng tốp ca thì vị thế của môn học và uy tín của họ mới
thật sự được khẳng định.
Dàn dựng tốp ca mang tính thực hành là chủ yếu, nên việc thực hiện rèn
luyện kĩ năng dàn dựng và bổ sung kiến thức âm nhạc sẽ giúp cho giáo viên
chủ động hơn khi thực hành dàn dựng tốp ca. Việc vận dụng những kỹ năng
ca hát vào hoạt động âm nhạc ngoại khóa tại trường Tiểu học sẽ có thêm hiểu
biết về tác phẩm một cách sâu sắc hơn; giúp cho giáo viên nâng cao trình độ
dàn dựng, chuyên nghiệp hơn trong công việc của họ.

Dàn dựng tốp ca sẽ góp phần giúp cho giáo viên có thêm sự tích luỹ kinh
nghiệm thông qua các tài liệu, trao đổi với đồng nghiệp; biết vận dụng kiến
thức âm nhạc thể hiện nhạc cảm trong quá trình dàn dựng. Bên cạnh đó, việc
dàn dựng tốp ca còn giúp cho giáo viên am hiểu sâu sắc hơn về tâm sinh lý
của học sinh Tiểu học trong việc biểu diễn ca hát nhằm liên kết, phát huy mọi
khả năng….

15

1.3. Đặc điểm tâm sinh lý và giọng hát của học sinh
Bậc học Tiểu học là nền móng của toàn bộ hệ thống giáo dục ở trường
phổ thông. Theo quy định hiện nay học sinh Tiểu học bắt đầu từ khi 6 tuổi
vào lớp 1 và kết thúc bậc Tiểu học là 12 tuổi lớp 5. Trẻ em ở giai đoạn này có
thể chia thành hai giai đoạn nhỏ bởi sự khác biệt về trình độ khác nhau về thể
chất và những đặc điểm sinh lí của học sinh. Giai đoạn 1 đối với trẻ từ lớp 1
đến lớp 3. Giai đoạn 2 là trẻ từ lớp 4 đến lớp 5.
1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý
Học sinh khối 4, khối 5 là giai đoạn cuối của cấp học Tiểu học. Đây là
giai đoạn tiếp thu và tích lũy tri thức qua việc tiếp thu, lĩnh hội một hệ thống
tri thức qua các môn học. Các em được học cách học cách sống, học kĩ năng
sống trong nhà trường và xã hội. bên cạnh các hoạt động học tập chính khóa
thì các em còn phải tham gia thực hiện các hoạt động khác của Đội thiếu niên
Tiền phong Hồ Chí Minh…. Khi em được tham gia các hoạt động này góp
phần phát triển đến tâm sinh lý của học sinh.
Theo cuốn Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp
giáo viên hạng III. (2017), nhiều tác giả đã khái quát:
Đầu tiên là về cơ thể của các em phát triển một cách tương đối êm ả
và đồng đều. Chiều cao mỗi năm tăng thêm khoảng 4 cm; trọng
lượng cơ thể mỗi năm tăng thêm khoảng 2 ki-lô-gam. Nếu trẻ vào

lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam), 104 cm
(nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ). [30;57].
Tuy nhiên, theo chúng tôi thực tế khi học sinh lên đến lớp 4, lớp 5, thì
ngoài việc phát triển theo lứa tuổi thì, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng
4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg.
Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 – 90 lần/ phút, mạch máu tương đối
mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh…

16

Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,
xương tay đang trong thời kỳ phát triển. Hệ cơ đang trong thời kỳ phát
triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy,
nô đùa… Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do
vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy
hình tượng, tư duy trừu tượng…[30;57].
Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các
cuộc thi về trí tuệ. Ở tuổi này thấy rõ tính linh hoạt nhưng lại chóng mệt mỏi,
bởi các chức năng của hệ thần kinh chưa phát triển đầy đủ. Chức năng các
giác quan cũng đạt được sự hoàn thiện rõ rệt. Đặc điểm tính cách của các em
có khuynh hướng hoạt động ít cân nhắc, suy nghĩ trước khi hành động, thường
ảnh hưởng tác động kích thích cả về bên trong lẫn bên ngoài. Các em thường
có sự tin tưởng tuyệt đối vào người lớn, hoặc thông qua sách vở và đặc biệt là
những thầy/cô giáo trực tiếp giảng dạy. Với sự hồn nhiên trong sáng, thích
khám phá khiến các em nghĩ mình có thể làm mọi điều mình muốn. Với tính
chân thật, rất hiếu động, có lòng vị tha cùng với ham hiểu biết, ham chơi và hay
bắt chước là đặc điểm nổi trội của các em ở lứa tuổi này. Bên cạnh đó, các em
còn biểu lộ tình cảm một cách trực tiếp, cụ thể như dễ cười, dễ khóc và cũng dễ
nổi giận.

Từ sự khác biệt của lứa tuổi Tiểu học so với các lứa tuổi khác về mặt
tâm – sinh lí như khả năng hiểu biết của các em còn hạn chế, khả năng ghi nhớ
không bền vững, do đó, việc truyền dạt những kiến thức âm nhạc cho học
sinh lứa tuổi Tiểu học cần có những phương pháp phù hợp. Việc truyền thụ
kiến thức âm nhạc cho các em cần phải dễ hiểu, lôi cuốn, hấp dẫn; các hoạt
động âm nhạc cần phải sinh động, hình thức trình diễn âm nhạc linh hoạt,
sáng tạo, ấn tượng là điều không thể thiếu trong việc dàn dựng đối với lứa
tuổi này.

17

1.3.2. Đặc điểm giọng hát
Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học (dưới 12 tuổi) thường chưa phân biệt rõ rệt
về giới tính trong giọng hát. Các em có giọng hát tự nhiên, hát theo bản năng
và thường hát giọng ngực. Nhược điểm của hát giọng ngực là khiến cho cả
khối thanh đới phải làm việc liên tục, nhanh mệt, đôi khi âm thanh phát ra có
lúc bị nghẹn. Đặc biệt là hát giọng ngực sẽ không tạo được sự thống nhất về
âm sắc của các em ở cả ba âm khu trầm, trung và cao. Hát bằng giọng ngực
tiếng sẽ nông, cứng, nhanh hết hơi, khó điều khiển sắc thái.
Trong giáo trình Thực hành sư phạm (2008) của Hoàng Long – Hoàng Lân
đề cập đến khả năng học tập và tiếp thu âm nhạc của học sinh bậc Tiểu học:
Học sinh rất nhạy cảm với giai điệu và nhất là tiết tấu. Thích hát
nhưng giọng vẫn còn non nớt, hơi thở ngắn chưa có khả năng ngân
giọng với các nốt nhạc ngân dài. Rất thích vừa hát vừa kết hợp với
các hoạt động kèm theo. Khả năng tập trung trí lực không lâu,
chóng chán khi một hoạt động diễn ra nhiều lần không thay đổi.
Thích nghe hát nghe đàn nhưng chỉ tiếp thu được các bài ngắn.
Mạnh dạn hồn nhiên khi tham gia các hoạt động văn nghệ. Tiếp thu
âm nhạc bằng tình cảm trực giác khó có thể tiếp thu bằng lí thuyết

và diễn giải dài dòng nặng về lý trí. Thích được trực tiếp tham gia
vào các hoạt động như đánh đàn, múa hát, sử dụng nhạc cụ gõ…
nghe kể chuyện âm nhạc, thích xem tranh truyện vvv. [23;22].
Theo cuốn Phương pháp hát và chỉ huy dàn dựng hát tập thể (1998) của
Vũ Tự Lân và Lê Thế Hào có nêu:
Khi các em đến tuổi 11 – 12 là giai đoạn đi trước thời kỳ “vỡ
giọng”, bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu cho thấy những thay đổi
về cơ thể. Sự tăng trưởng về cơ thể nói chung, sự tăng trưởng về
bộ máy phát thanh nói riêng không còn phẳng lặng nữa… Giọng
hát không sáng sủa nữa, dường như xỉn lại, hơi khàn. Có thể thấy sự
thay đổi cả về tầm cữ giọng [20;42].

18

Ở lứa tuổi khối 4, khối 5 có thể coi là thời kỳ đẹp nhất của tuổi thiếu
nhi, giọng hát của các em đã bắt đầu có những âm sắc riêng và có độ vang
rất tốt. Theo chúng tôi ở giai đoạn này thanh đới của các em vẫn có độ
mềm dẻo, âm vực và âm lượng tăng nên việc nắm bắt âm chuẩn ổn định và
thành thục, giọng hát có âm sắc rõ ràng, có thể trình diễn một số bài hát có
bè tương đối phức tạp ở hình thức tốp ca. Ngoài ra, lứa tuổi còn có khả
năng biểu cảm khá rõ nét và thể hiện tính độc lập trong việc trình diễn âm
nhạc. Nếu được quan tâm hướng dẫn rèn luyện đúng cách thì giọng hát
phát triển tương đối ổn định.
Trong cuốn sách Giáo trình âm nhạc và phương pháp dạy học âm nhạc
(2012) của Hoàng Long – Hoàng Lân đã đúc kết về âm vực giọng hát của học
sinh Việt Nam khối 4 và khối 5 là từ a đến c2 hoặc d2 [22;178].

Hoàng Điệp và nhóm tác giả (2012) lại đưa ra đúc kết chung về giọng
hát thiếu nhi của thế giới là có âm vực tương đương so với giọng nữ. Thiếu

nhi giọng cao tương đương với giọng nữ cao (soprano), thiếu nhi giọng trầm
tương đương với giọng nữ trầm (alto) [5;12].

Như vậy, so sánh hai tổng kết trên thì âm vực của giọng hát thiếu nhi
Việt Nam hẹp hơn so với giọng hát thiếu nhi của thế giới. Sự khác biệt này sẽ
là cơ sở để chúng tôi đề cập ở chương 2 trong việc lựa chọn bài hát, cách thức
phát triển, mở rộng âm vực giọng hát thiếu nhi khối 4, khối 5 khi dàn dựng
tốp ca.

19

1.4. Thực trạng hoạt động giáo dục âm nhạc tại Trường Tiểu học Trung Văn
1.4.1. Khái quát về nhà trường
Trường Tiểu học Trung Văn là một ngôi trường đóng trên địa bàn
phường Trung Văn – Quận Nam Từ Liêm Thành phố Hà Nội. Với diện tích
khoảng 8025m2. Vị trí nằm ở cửa ngõ phía Nam thành phố Hà Nội. Phía Bắc
và Đông giáp Quận Thanh Xuân, phía Nam giáp Quận Hà Đông. Trường là
điểm đến luôn nhận được sự ủng hộ từ phía cha mẹ học sinh khi chọn cho con
em mình theo học. Ngày 29/9/2010 trường được chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân
thành phố Hà Nội công nhận là trường chuẩn quốc gia mức độ 2. Là niềm
vinh dự, động lực để thầy và trò quyết tâm thực hiện tốt mục tiêu dạy tốt và
học tốt. Nhà trường luôn thực hiện tốt theo các chủ trương của ngành Giáo
dục, thông qua các nghị định, thông tư đổi mới phương pháp dạy học lấy học
sinh là trung tâm, và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo đúng quy
định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của Sở Giáo dục. Trong giờ học giáo
viên không chỉ truyền tải kiến thức mà còn gợi mở trí tưởng tượng, óc sáng
tạo cho học sinh, giờ học đạt hiệu quả cao.
Chính vì vậy, học sinh của nhà trường phát huy được tính tích cực, chủ
động, tự tin, biết sáng tạo trong các hoạt động giáo dục và ngoại khóa âm

nhạc của Nhà trường. Trong thời gian học tập tại trường, các em không chỉ
được cung cấp đầy đủ kiến thức, mà còn được rèn luyện về sức khỏe qua các
hoạt động ngoại khóa.
Về cơ sở vật chất Trường có đầy đủ trang thiết bị theo đúng quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường có 39 phòng học, và có 04 chức năng
(02 phòng học tin học, 02 phòng học ngoại ngữ), sĩ số một lớp tối đa 55 học
sinh. Các phòng đều được trang thiết bị dạy học đầy đủ và hiện đại; khuôn
viên của Trường có nhiều cây xanh, thoáng mát, có vườn thưc vật. Tạo môi
trường trong lành, thoáng đãng. Thư viện của Trường có tương đối đầy đủ tư

20

liệu, đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu học tập của cán bộ giáo viên và học
sinh. Ngoài ra thư viện Nhà trường luôn chú trọng và bổ xung nhiều đầu sách
phù hợp với học sinh. Nhìn chung tất cả các phòng học của Nhà trường đáp
ứng tối ưu cho việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.
Tuy nhiên, Nhà trường chưa có phòng học bộ môn âm nhạc riêng, giáo
viên luôn phải di chuyển đến từng lớp để dạy học. Bởi vậy, việc khai thác và
sử dụng trang thiết bị cho việc dạy học âm nhạc tại các lớp học chưa thực sự
đồng bộ, phần lớn phụ thuộc vào việc tự trang bị phương tiện dạy học của
giáo viên. Trang âm, loa đài của Trường được đầu tư bởi hai dàn loa với công
suất nhưng cũng chỉ đáp ứng được các hoạt động mang tính thường xuyên của
nhà trường phổ thông. Còn khi cần tổ chức những hoạt động ngoại khóa âm
nhạc mang tính qui mô lớn hơn thì vẫn phải thuê trang âm ở ngoài. Sự khó
khăn về địa điểm tập luyện các chương trình âm nhạc ngoại khóa cũng là hạn
chế. Nhà trường chưa có phòng tập đa năng, các em luôn phải tập luyện ở sân
vào cuối giờ. Chính vì vậy, những hạn chế đó ảnh hưởng không nhỏ tới quá
trình tập luyện và biểu diễn các hoạt động âm nhạc.
Mặc khác, Nhà trường nằm trên địa bàn với nhiều thành phần dân cư

khác nhau như công chức, viên chức, buôn bán… Một nửa số dân là di cư từ
các địa phương khác đến, nên điều kiện về đời sống vật chất/tinh thần cũng
như trình độ của học sinh là không đồng đều. Phần lớn cha mẹ học sinh rất
quan tâm, tạo điệu kiện cho các em học tập và tham gia các hoạt động ngoại
khóa do Nhà trường tổ chức… Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế của một số
gia đình còn hạn chế, nhiều em có năng khiếu chưa được cha mẹ tạo điều kiện
để các em tham gia. Đây cũng là điểm khó khăn khi chọn học sinh tham gia.
Từ năm 2014 đến nay, năm nào trường cũng có học sinh đạt giải vô địch
quốc gia Robothon và giải Nhì giải Ba Robothon quốc tế. Thêm vào đó, Nhà
trường còn có nhiều học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi như: giải Nhất cuộc

Thành Phố Hà Nội, 2018L ỜI CAM ĐOANTôi xin cam kết đây là khu công trình điều tra và nghiên cứu của riêng tôi. Những nộidung tìm hiểu thêm được trích dẫn từ những tài liệu có nguồn gốc. Các số liệu và kếtquả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất cứcông trình điều tra và nghiên cứu nào trong và ngoài nước. Thành Phố Hà Nội, ngày tháng năm 2018T ác giả luận vănHà Hồng ThắmMỤC LỤCMỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1C hương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ÂMNHẠC NGOẠI KHÓA TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG VĂN …………… 81.1. Khái niệm thuật ngữ ……………………………………………………………………….. 81.1.1. Dàn dựng ……………………………………………………………………………………. 81.1.2. Tốp ca ………………………………………………………………………………………… 91.1.3. Hoạt động âm nhạc ngoại khóa ……………………………………………………. 111.2. Vai trò của dàn dựng hát tốp ca trong hoạt động giải trí ngoại khóa âm nhạc ởtrường đại trà phổ thông ………………………………………………………………………………… 121.2.1. Đối với học sinh ………………………………………………………………………… 121.2.2. Đối với giáo viên ……………………………………………………………………….. 141.3. Đặc điểm tâm sinh lý và giọng hát của học sinh ……………………………….. 151.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý ………………………………………………………………….. 151.3.2. Đặc điểm giọng hát ……………………………………………………………………. 171.4. Thực trạng hoạt động giải trí giáo dục âm nhạc tại Trường Tiểu học Trung Văn …. 191.4.1. Khái quát về nhà trường ……………………………………………………………… 191.4.2. Đội ngũ giáo viên ………………………………………………………………………. 211.4.3. Học sinh khối 4, khối 5 ………………………………………………………………. 251.4.4. Hoạt động dàn dựng hát tốp ca tại trường Tiểu học Trung Văn ……….. 26T iểu kết ……………………………………………………………………………………………… 30C hương 2 : NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÀN DỰNG HÁT TỐP CACHO HỌC SINH KHỐI 4, KHỐI 5 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌCTRUNG VĂN ……………………………………………………………………………………. 322.1. Những nhu yếu cho việc nâng cao chất lượng dàn dựng hát tốp ca chohọc sinh khối 4, khối 5 Trường Tiểu học Trung Văn ………………………………. 322.1.1. Mục đích của việc nâng cao chất lượng dàn dựng hát tốp ca …………… 322.1.2. Mục tiêu đơn cử của việc nâng cao chất lượng dàn dựng hát tốp ca ….. 332.1.3. Yêu cầu về đặc thù và đặc thù dàn dựng hát tốp ca …………………… 342.2. Rèn luyện kĩ năng hát tốp ca ………………………………………………………….. 392.2.1. Hát chuẩn giai điệu …………………………………………………………………….. 392.2.2. Hát bè ………………………………………………………………………………………. 462.2.3. Xử lý lời ca ……………………………………………………………………………….. 502.2.4. Các phần dàn dựng bổ xung cho hát …………………………………………….. 522.3. Hướng dẫn dàn dựng hát tốp ca ……………………………………………………… 562.3.1. Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng của Phong Nhã ( chuyển soạn Vinh Hưng ) ……………………………………………………………………. 562.3.2. Điều em muốn của Trương Quang Lục, lời thơ : Phương Liên ( chuyểnsoạn cho tốp ca Đào Ngọc Dung ) …………………………………………………………. 662.4. Thực nghiệm sư phạm …………………………………………………………………… 722.4.1. Mục đích thực nghiệm ……………………………………………………………….. 722.4.2. Đối tượng thực nghiệm ………………………………………………………………. 722.4.3. Nội dung thực nghiệm ………………………………………………………………… 722.4.4. Kết quả thực nghiệm ………………………………………………………………….. 74T iểu kết ……………………………………………………………………………………………… 74K ẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………….. 76T ÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………………. 78PH Ụ LỤC …………………………………………………………………………………………. 82M Ở ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiÂm nhạc cũng như một số ít môn học Nghệ thuật khác, góp một phần rấtlớn vào tiềm năng giáo dục phổ thông. Âm nhạc là yếu tố quan trọng, là mộtphần không hề thiếu góp thêm phần hình thành nhân cách hòa giải, tăng trưởng tưduy, tu dưỡng nâng cao năng lượng thẩm mỹ và nghệ thuật, năng lượng phát minh sáng tạo … cho học sinh. Đặc biệt trải qua giai điệu, lời ca có ý nghĩa góp thêm phần giúp những em tránh xanhững thói hư tật xấu, giáo dục cho học sinh về tư tưởng, tình cảm, lòng yêuquê hương quốc gia, ý thức tự hào dân tộc bản địa, đồng thời hướng những em đếnvới những điều tốt đẹp, thiết kế xây dựng cho những em thị hiếu âm nhạc lành mạnh. Giáo dục đào tạo âm nhạc trong trường đại trà phổ thông, giúp trẻ có được những kĩnăng sống, kĩ năng tiếp xúc tốt hơn. Âm nhạc rất dễ đi vào lòng những emkhông chỉ bằng lời hát mà bằng giai điệu, bằng những sắc thái biểu cảmcủa người hát. Điều đó giúp cho học sinh thấy tự do và vui tươi hơn saunhững giờ học stress. Có thể chứng minh và khẳng định, âm nhạc có thế mạnh trongviệc khuyến khích học sinh trong học tập và tăng trưởng năng lượng thẩm mĩ cho họcsinh. Trong chương trình giáo dục âm nhạc ở trường đại trà phổ thông, ca hát làmột nội dung quan trọng. Học hát giúp cho học sinh tăng trưởng tai nghe, tăng trưởng giọng … Trong đó hát tốp ca, đồng ca chính là một phương tiệncó hiệu suất cao để giáo dục ý thức tập thể, tính kỉ luật và tính đoàn kết. Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và đào tạo và giảng dạy đặc biệt quan trọng chăm sóc, đãđưa giáo dục âm nhạc là một môn học độc lập và là nội dung bắt buộc, trongchương trình chính khóa. Đây là một nội dung được những Trường Tiểu học đưavào những trong chương trình hoạt động giải trí ngoại khóa. Một trong những hoạt động giải trí ngoại khóa trong trường đại trà phổ thông hiện naylà ngoại khóa âm nhạc. Ở những trường Tiểu học, việc tổ chức triển khai trình diễn âmnhạc hầu hết là hát đơn ca, song ca, tốp ca và đồng ca. Các mô hình trìnhdiễn này sẽ giúp cho học sinh mạnh dạn hơn trong mọi hoạt động giải trí. Tuy nhiên, để thực thi tốt những tiết mục biểu diễn tập thể yên cầu có sự hòa hợp tronggiọng hát và cần sự góp vốn đầu tư dàn dựng công phu. Thực tế, nhiều chương trìnhbiểu diễn âm nhạc ở những trường Tiểu học còn thiên về những tiết mục đơn ca, ítđầu tư cho những tiết mục tập thể như tốp ca, đồng ca, hợp xướng. Trường Tiểu học Trung Văn, là một trong những trường có bề dày vềhoạt động ngoại khóa của Quận Nam Từ Liêm. Các hoạt động giải trí âm nhạc chohọc sinh luôn được Nhà trường chú trọng, được duy trì và tăng trưởng rộng vớikế hoạch ngặt nghèo được đề ra từ đầu năm học. Nhà trường liên tục tổchức những chương trình, cuộc thi cho học sinh trong những đợt nghỉ lễ. Ban Giámhiệu luôn tạo mọi điều kiện kèm theo thuận tiện để hoạt động giải trí âm nhạc đạt hiệu suất cao caonhất. Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên âm nhạc luôn tự mình học hỏi nhằmnâng cao chất lượng dàn dựng những tiết mục tốp ca. Việc dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 của Trường trongnhững năm qua đã có những thành công xuất sắc nhất định, được nhìn nhận qua cácchương trình, cuộc thi do Quận Nam Từ Liêm tổ chức triển khai. Điển hình là tiết mụctốp ca nhận được sự nhìn nhận cao về trình độ trong biểu Lễ tuyên dươngkhen thưởng của Quận Nam Từ Liêm ( từ năm học 2013 – năm trước ), cũng như đạtcác giải cao khi tham gia những chương trình Cuộc thi Văn nghệ của Quận. Cóthể nói học sinh của Trường Tiểu học Trung Văn rất yêu dấu những hoạt độngvăn nghệ thể thao, nhiều em có năng khiếu sở trường. Bên cạnh những mặt đạt được, việc dàn dựng những tiết mục hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 vẫn cònmột số hạn chế như : những em hát chưa chuẩn về cao độ, trường độ, hay gặpkhó khăn khi biểu lộ hát những bài hát có âm vực rộng, gặp những quãng nhảyxa, phong thái trình diễn của học sinh còn chưa tự tin, … Những hạn chếđó đã tác động ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nghệ thuật và thẩm mỹ của tiết mục hát tốpca, cũng như tăng trưởng năng lực ca hát cho học sinh của Nhà trường. Xuất phát từ những nhận thức trên, chúng tôi chọn đề tài luận vănchuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học âm nhạc : Dàn dựng hát tốpca cho học sinh khối 4, khối 5 Trường Tiểu học Trung Văn, Quận Nam TừLiêm, TP.HN. 2. Lịch sử nghiên cứuQua quy trình khám phá và tích lũy tài liệu, có một số ít tài liệu liên quanđến đề tài như : Đỗ Mạnh Thường – Nguyễn Minh Cầm ( 1982 ), Hướng dẫn hát tập thể. Đây là tài liệu viết cho những người làm công tác làm việc đảm nhiệm, đặc biệt quan trọng là vớigiáo viên Tiểu học về một số ít kinh nghiệm tay nghề tổ chức triển khai, cách hướng dẫn thiếu nhihát tập thể, kiến thiết xây dựng đội đồng ca, hợp xướng mần nin thiếu nhi và giải pháp luyệntập, phân phối kiến thức và kỹ năng cơ bản cho người làm công tác làm việc đảm nhiệm. Có thể nói, đây là tài liệu giúp luận văn có những khái quát đúng mực hơn về hát tập thểlà tài liệu thực sự hữu dụng trong quy trình viết luận văn. Nguyễn Minh Cầm ( 1982 ), Chỉ huy và màn biểu diễn hợp xướng. Tài liệugồm 5 phần, Đây là tài liệu cần để luận văn có được những thông tin cần thiếttrong quy trình khám phá triển khai đề tài. Nguyễn Lâm Soạn ( 1987 ), Phương pháp chỉ huy hợp xướng và hệ thốngbài tập dàn dựng bè. Tài liệu đề cập tới những bước thao tác của người chỉ huy, phương pháp giải quyết và xử lý hát bè … Đây là tài liệu để chúng tôi tìm hiểu thêm khi dàn dựngcho học sinh hát bè. Trần Nguyên Hoàn ( 2002 ), Phương pháp bộc lộ bài hát hành khúctrong giảng dạy bộ môn thanh nhạc. Đề tài nghiên cứu và điều tra khoa học của TrườngCao đẳng Sư phạm Nhạc – Họa Trung ương. Đề tài đã xử lý một phầnphương pháp dạy học bộ môn Thanh nhạc và chiêu thức bộc lộ bài háthành khúc, phân phối được nhu yếu thay đổi của nhà trường ở thời hạn lúc bấygiờ. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ nêu ra giải pháp biểu lộ mà chưa đề cậpđến việc sử dụng giải pháp, hướng dẫn cho người dạy và người học thựchiện giải pháp như đề tài đặt ra. Đoàn Phi ( 2005 ), Chỉ huy dàn dựng hát tập thể. Tài liệu này đa phần dạykỹ thuật chỉ huy hát tập thể, phân phối cho người học những kỹ năng và kiến thức chung khidàn dựng hợp xướng. Từ những kinh nghiệm tay nghề về dàn dựng hợp xướng, tác giảđã đưa ra nhiều lời khuyên có ích cho những người làm công tác làm việc dàn dựng háttập thể nói chung và dàn dựng hát hợp xướng nói riêng. Vũ Tự Lân – Lê Thế Hào ( 2007 ), Phương pháp hát và chỉ huy dàn dựnghát tập thể. Tác giả tài liệu đưa ra hướng dẫn về giải pháp hát và chỉ huydàn dựng những chương trình hát tập thể. Trong tài liệu này đã đưa ra một sốkhái niệm, định nghĩa và xu thế đơn cử về giải pháp hát và chỉ huydàn dựng hát đơn cử. Cũng như cách phát huy giọng hát tự nhiên của học sinhkhi dàn dựng. Đối với luận văn hoàn toàn có thể tìm hiểu thêm 1 số ít phương phát hát cholứa tuổi mà chúng tôi nghiên cứu và điều tra. Lê Anh Tuấn ( 2007 ), Giáo trình dàn dựng chương trình âm nhạc tổnghợp. Tài liệu này đề cập tới công tác làm việc dàn dựng những chương trình tổng hợpnhư hát – múa trong nhà trường đại trà phổ thông, những hình thức tổ chức triển khai những hoạtđộng âm nhạc ngoại khóa, tổ chức triển khai chương trinh màn biểu diễn âm nhạc trong cácngày lễ, trong những cuộc thi nghệ thuật và thẩm mỹ. Tài liệu này là tài liệu hữu dụng, có giátrị tương quan đến yếu tố dàn dựng mà chúng tôi sẽ thừa kế trong luận văn. Trần Ngọc Lan ( 2011 ), Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuậtca hát. Bên cạnh những yếu tố đặc trưng của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra mộtsố giải pháp ứng dụng nâng cao chất lượng hát tiếng Việt cho rõ lời, rõ nghĩa. Đây là tài liệu hữu dụng, có giá trị tương quan đến yếu tố màn biểu diễn những tác phẩmthanh nhạc tiếng Việt. Tại Trường Đại học sư phạm Nghệ Thuật Trung Ương đã có một sốkhóa luận và luận văn nghiên cứu và điều tra về dàn dựng chương trình âm nhạc tổnghợp và dàn dựng tốp ca như : Mai Thị Nga ( 2005 ) Nghiên cứu 1 số ít biệnpháp dàn dựng tốp ca trong chương trình âm nhạc ngoại khóa của trườngTHCS Ba Đình – Bỉm Sơn – Thanh Hóa, khóa luận Đại học Sư phạm Âmnhạc ; Nguyễn Thu Thủy ( năm nay ), Dàn dựng chương trình âm nhạc tổng hợpcho học sinh trường Tiểu học Lômônôxốp Mỹ Đình, luận văn chuyên ngànhLý luận và Phương pháp dạy học âm nhạc ; Lò Thị Ánh Nguyệt ( năm nay ), Dàn dựng tốp ca trong hoạt động giải trí âm nhạc ngoại khóa tại Trường Trunghọc cơ sở Lê Quý Đôn – Mường La – Sơn La, luận văn chuyên ngành Lýluận và Phương pháp dạy học âm nhạc ; Tạ Thị Lan Phương ( năm trước ), Dàndựng chương trình âm nhạc tổng hợp cho học sinh khối những trường Trunghọc cơ sở huyện Quốc Oai, TP.HN, luận văn chuyên ngành Lý luận vàPhương pháp dạy học âm nhạcNhìn chung những giáo trình, tài liệu nghiên cứu và điều tra trên đều đề cập đếnphương pháp dàn dựng chương trình thẩm mỹ và nghệ thuật nói chung, đến thực trạngvà những giải pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng ngoại khóa, những hình thứchát tập thể, tốp ca tại những trường. Đây là nguồn tư liệu quý báu là cơ sở cầnthiết mà luận văn thừa kế như một nguồn tài liệu nhiều mẫu mã khi bàn vềnhững yếu tố về hát tốp ca. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu và điều tra dàndựng hát tốp ca với học sinh Tiểu học và chưa có đề tài nào nghiên cứuthực nghiệm tại trường Tiểu học Trung Văn Quận Nam Từ Liêm, nên đề tàiluận văn là không có sự trùng lặp. 3. Mục đích và trách nhiệm nghiên cứu3. 1. Mục đích nghiên cứuLuận văn điều tra và nghiên cứu đưa ra giải pháp dàn dựng nhằm mục đích nâng cao chấtlượng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối5 trong những hoạt động giải trí âm nhạcngoại khóa tại Trường Tiểu học Trung Văn, Quận Nam Từ Liêm, TP.HN. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứuNghiên cứu về hát tốp ca, khám phá tình hình việc dàn dựng những tiết mụctốp ca trong chương trình trình diễn âm nhạc ở trường Tiểu học Trung Văn Quận Nam Từ Liêm – Hà NộiCăn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn đã khảo sát được, đưa ra một sốbiện pháp dàn dựng, cách rèn luyện tiết mục tốp ca trong hoạt động giải trí âm nhạcngoại khóa tương thích với học sinh tại trường Tiểu học Trung Văn, Quận NamTừ Liêm, TP. Hà Nội. 4. Đối tượng và khoanh vùng phạm vi nghiên cứu4. 1. Đối tượng nghiên cứuNâng cao chất lượng của việc dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 tại Trường Tiểu học Trung Văn, Quận Nam Từ Liêm, Thành Phố Hà Nội. 4.2. Phạm vi nghiên cứuNghiên cứu hầu hết tại Trường Tiểu học Trung Văn, Quận Nam TừLiêm, TP.HN và khảo sát dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 từnăm năm nay đến tháng 5 năm 2018. Luận văn khảo sát những tư liệu về ca khúc viết cho mần nin thiếu nhi đã được biểudiễn trước công chúng, thu âm, in ấn ( gồm những ca khúc ở phần phụ lục ). Các yếu tố nghiên cứu và điều tra về dàn dựng hát tốp ca rất rộng. Luận văn chủyếu tập trung chuyên sâu điều tra và nghiên cứu kiến thức và kỹ năng dàn dựng cho phần hát ( hát chuẩn giai điệu, hát bè, giải quyết và xử lý lời ca ). Thực nghiệm với ca khúc Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên NhiĐồng, của Phong Nhã ( chuyển soạn Vinh Hưng ) 5. Phương pháp nghiên cứuLuận văn sử dụng đa phần chiêu thức : Phân tích, so sánh và tổng hợp để nghiên cứu và điều tra những tài liệu, những hiệu quả điềutra, từ đó tổng hợp, khái quát hóa, đưa ra những đánh giá và nhận định có tính khoa học. Trao đổi quan điểm chuyên viên để giúp cho tác giả luận văn tìm hiểu thêm ý kiếncủa những chuyên viên có trình độ cao xem xét, đánh giá và nhận định về dàn dựng hát tốp caĐiều tra và thực nghiệm sư phạm để khảo sát tình hình những hoạt độnghát tốp ca trong và ngoài Nhà trường trải qua những thông tin khách quantừ giáo viên và học sinh. 6. Những góp phần của luận vănLuận văn có 1 số ít góp phần chính như sau : Đề xuất những giải pháp dàn dựng tiết mục tốp ca góp thêm phần nâng cao chấtlượng hoạt động giải trí ngoại khóa và màn biểu diễn âm nhạc tại trường Tiểu học TrungVăn – Quận Nam Từ Liêm – TP. Hà Nội. Làm tài liệu tìm hiểu thêm cho những nghiên cứu và điều tra khoa học cùng hướng. 7. Bố cục của luận vănNgoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tìm hiểu thêm và Phụ lục, Luận văngồm 2 chương : Chương 1 : Cơ sở lý luận và tình hình hoạt động giải trí âm nhạc ngoại khóa tạiTrường Tiểu học Trung VănChương 2 : Nâng cao chất lượng dàn dựng hát tốp ca cho học sinh khối 4, khối 5 tại trường Tiểu học Trung VănChương 1C Ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ÂM NHẠCNGOẠI KHÓA TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG VĂN1. 1. Khái niệm thuật ngữ1. 1.1. Dàn dựngNgày nay, nhiều hoạt động giải trí âm nhạc diễn ra tại những trường học và ngoàixã hội. Một trong những trách nhiệm quan trọng của người làm công tác làm việc âmnhạc là tham gia chỉ huy, hướng dẫn rèn luyện và màn biểu diễn để tạo ra những tiếtmục, chương trình nghệ thuật và thẩm mỹ hấp sẫn, phát minh sáng tạo, độc lạ … đem lại những giátrị thẩm mỹ và nghệ thuật cho công chúng. Những nhu yếu và yên cầu của thực tiễn, việcđúc kết về danh từ “ dàn dựng ” cũng cần mang tính lý luận, khái quát để pháttriển nó. Cũng từ đó, nhiều tài liệu, nhiều khu công trình nghiên cứu và điều tra đã đưa rakhái niệm dàn dựng. Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt ( 1998 ), của Hoàng Phê ( chủ biên ) đã giảinghĩa : “ Dàn dựng là tổ chức triển khai hướng dẫn rèn luyện cho diễn viên trước khi biểudiễn trên sân khấu ” [ 31 ; 212 ] ; cũng trong cuốn Từ điển Tiếng Việt ( năm trước ) củaNguyễn Văn Hùng và Thái Xuân Đệ đã giải nghĩa tựa như như giải nghĩatrên : “ Dàn dựng là tập luyện và sẵn sàng chuẩn bị mọi mặt cho việc trình diễn tác phẩmnghệ thuật trước khi đưa ra diễn trên sân khấu ” [ 13 ; 215 ]. Khái niệm dàn dựng của Lê Vinh Hưng dựa trên cơ sở thực tiễn khi làmviệc với diễn viên để khái quát : “ dàn dựng thực ra là quy trình rèn luyện đểngười dàn dựng làm hòa hợp thế mạnh của từng diễn viên, những người màkhí chất, tính cách, giọng hát … hoàn toàn có thể độc lạ, thậm chí còn đối chọi nhau, thànhmột khối thống nhất trong quy trình biểu diễn âm nhạc ” [ 15 ; 12 ]. Từ những giải nghĩa và cách lý giải lan rộng ra giải nghĩa nói trên, chúng tôi hoàn toàn có thể khái quát : dàn dựng là việc làm của người đứng đầu, cónăng lực thị phạm những hình thức màn biểu diễn, thêm / bớt về liều lượng những thủpháp của thẩm mỹ và nghệ thuật âm nhạc và truyền vào cho diễn viên thực thi những nhiệmvụ chuyển tải chủ đề tư tưởng của một chương trình / một tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật ; tạo sắc tố riêng cho từng tiết mục / cấu trúc nội dung chương trình và đóngvai trò quyết định hành động chất lượng màn biểu diễn âm nhạc. Ngoài trình độ về nghành nghề dịch vụ âm nhạc, người dàn dựng / ( giáo viên ) còn phải hiểu biết kiến thức và kỹ năng cơ bản về những môn thẩm mỹ và nghệ thuật khác như mỹthuật ( trang trí, bố cục tổng quan .., ), múa ( ngôn từ hình thể ) … Bên cạnh đó, việcdàn dựng ở trường đại trà phổ thông còn yên cầu giáo viên phải chớp lấy được tâmlý học sinh. Học sinh đại trà phổ thông có năng khiếu sở trường không giống như người họcnghệ thuật chuyên nghiệp và cũng không có nhiều thời hạn cho việc luyệntập trình diễn. Trong sự hạn chế về thời hạn và điều kiện kèm theo thao tác, giáoviên còn phải biết link, động viên học sinh tham gia và phát huy mọikhả năng của mình để dàn dựng thành công xuất sắc những tiết mục / chương trìnhbiểu diễn âm nhạc, phân phối được nhu yếu giáo dục nghệ thuật và thẩm mỹ ngày caotrong quá trình lúc bấy giờ. 1.1.2. Tốp caTrong cuốn Từ điển tiếng Việt ( 1994 ) của Văn Tân, giải nghĩa “ Tốp nhóm ít người ” [ 35 ; 801 ] ; theo Ca hát và màn biểu diễn ( 1982 ) của Đặng Hòe vàĐức Bằng cho rằng : “ Tốp ca là một đơn vị chức năng màn biểu diễn thường có trên dướimười người tham gia, đây là đơn vị chức năng nhỏ gọn rất sinh động có năng lực biểudiễn được nhiều bài hát có nội dung khác nhau ” [ 11 ; 105 ]. Trong cuốn Phương pháp dạy học âm nhạc ( 2001 ) của Ngô Thị Nam : Hát tốp ca hoàn toàn có thể từ 4 đến 8, 10 học sinh cùng màn biểu diễn. Tốp ca cóthể có một bè và hoàn toàn có thể có hai hoặc ba bè … Trong tốp ca hoàn toàn có thể cóphần lĩnh xướng của một học sinh hoặc 2 học sinh. Hình thức hátnày cũng yên cầu ở học sinh phải có tính dữ thế chủ động, mạnh dạn, tíchcực [ 25 ; 101 ]. 10T ừ những khái niệm trên hoàn toàn có thể khái quát : tốp ca được hiểu là sự biểudiễn một tác phẩm thanh nhạc được viết cho một / nhiều loại giọng hát do mộtnhóm ca sĩ cùng trình diễn ( ví dụ : tốp ca nam, tốp ca nữ vvv … ). Để phân biệtvới những hình thức màn biểu diễn nhóm như song ca, tam ca thì số lượng ngườitrong tốp ca thường từ 4 người đến 12 người. Hình thức màn biểu diễn tốp ca cókhả năng trình diễn bài hát với nhiều phương pháp biểu lộ khác nhau : cócâu / đoạn nhạc sử dụng lối hát đối đáp, tiếp nối đuôi nhau ; có câu / đoạn sử dụng lối háthòa âm / phức điệu. Các hình thức màn biểu diễn tốp ca tương đối phong phú, đượcphân theo giới tính / lứa tuổi như tốp ca giọng nữ, tốp ca giọng nam, tốp cagiọng nam và giọng nữ, tốp ca giọng mần nin thiếu nhi. Tốp ca giọng nữ là sự tích hợp của nhiều giọng hát do một nhóm nữtrình bày. Tốp ca giọng nữ có đặc thù thướt tha, thường tương thích vớinhững bài hát trữ tình, vui tươi, duyên dáng. Ví dụ như một số ít bài : ViệtNam quê nhà tôi của Đỗ Nhuận, Quê em của Nguyễn Đức Toàn, NhạcRừng của Hoàng Việt, Mùa xuân tiên phong của Văn Cao, Màu cờ tôi yêu củaPhạm Tuyên … Tốp ca giọng nam là sự phối hợp của nhiều giọng hát, do một nhóm namtrình bày. Tốp ca giọng nam có đặc thù khoẻ khoắn, thường tương thích vớinhững bài ngợi ca, sôi sục, hùng tráng. Ví dụ như 1 số ít bài : Đêm trường Sơnnhớ Bác Nhạc : Trần Chung ; Lời : Trích thơ Nguyễn Trung Thu, Anh vẫn hànhquân của Huy Du, Hành khúc người mẹ xa con của An Thuyên … Tốp ca giọng nam nữ là sự tích hợp giữa nhiều giọng hát, do một nhómnam trình diễn. Số lượng người hát của tốp ca giọng nam và nữ thường gấpđôi tốp ca giọng nam / tốp ca giọng nữ, trong đó tỉ lệ giữa nam và nữ tươngđương nhau. Những bài hát tương thích với hình thức này như : Nước Ta ơimùa xuân đến rồi của Huy Du, Mẹ Nước Ta anh hùng của An Thuyên, HồChí Minh đẹp nhất tên Người của Trần Kiết Tường … 11T ốp ca giọng mần nin thiếu nhi là phối hợp của những em có độ tuổi từ 6 đến 12. Loạitốp ca này có đặc thù trong sáng, mềm mịn và mượt mà, tương thích với những ca khúc vuitươi, nhí nhảnh, nhẹ nhàng. Ví dụ như những bài hát : Ca ngợi Tổ quốc củaHoàng Vân, Bay cao tiếng hát tham vọng của Nguyễn Nam, Em là mần nin thiếu nhi củaĐảng của Mộng Lân. Như vậy, tiêu chuẩn được chú trọng số 1 trong việc dàn dựng tốp ca làvai trò của tập thể, sự hoà hợp của tập thể, vai trò của cá thể là vì tập thể. Việc yên cầu của hát tốp ca là phải hát đúng cao độ, trường độ và sắc thái âmnhạc … Biểu diễn tốp ca không thiết yếu từng thành viên phải có giọng hát tốtnhư đơn ca và cũng không qui định ngặt nghèo như biên chế trong hát hợpxướng. Tốp ca dễ chọn người tham gia, dàn dựng không cần nhiều thủ phápphức tạp như hợp xướng. Khi dàn dựng tốp ca trong trường đại trà phổ thông, giáoviên cần phải chớp lấy được những quy trình về dàn dựng như chọn học sinh thểhiện, chọn tác phẩm, dự kiến kế hoạch tập luyện, vận dụng kỹ năng và kiến thức, sángtạo … để đạt chất lượng nghệ thuật và thẩm mỹ. 1.1.3. Hoạt động âm nhạc ngoại khóaTrong cuốn Từ điển tiếng Việt ( 1994 ) của Văn Tân, đã giải nghĩa “ Ngoạikhóa là hoạt động giải trí giáo dục ngoài giờ học chính thức ” [ 35 ; 561 ] ; trong cuốn Từđiển tiếng Việt ( năm trước ) của Nguyễn Văn Hùng – Thái Xuân Đệ, cho rằng : “ Ngoại khóa là môn học hoặc hoạt động giải trí giáo dục ngoài giờ hay còn gọi làngoài chương trình chính thức lên lớp ” [ 13 ; 572 ]. Từ hai giải nghĩa trên, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể hiểu ngoại khóa là những hoạt độngđược tổ chức triển khai ngoài giờ lên lớp không có trong chương trình môn học theoquy định của Bộ Giáo dục đào tạo. Ngoại khóa là một trong những mảng hoạt độnggiáo dục quan trọng ở nhà trường đại trà phổ thông ; ngoại khóa là những hoạt động giải trí kếthợp giữa đi dạo và học tập ngoài giờ lên lớp góp thêm phần kết nối giữa kiếnthức trên lớp với những hoạt động giải trí trong thực tiễn. Mục đích của hoạt động giải trí ngoại khóa là12hình thành và tăng trưởng nhân cách của học sinh, giúp cho đời sống tinh thầncủa những em đa dạng và phong phú hơn. Thông qua hoạt động giải trí ngoại khóa sẽ là điều kiện kèm theo, thiên nhiên và môi trường để tu dưỡng năng khiếu sở trường và kĩ năng phát minh sáng tạo cho học sinh. Như vậy, hoạt động giải trí âm nhạc ngoài giờ lên lớp là một bộ phận nằm trongnội dung của ngoại khóa. Trong trường Tiểu học hoạt động giải trí ngoại khóa âmnhạc giúp những em có năng khiếu sở trường được biểu lộ mình đây là cơ sở để duy trìphong trào văn nghệ, là sân chơi tập thể vui, lành mạnh. Hoạt động âm nhạc ngoại khóa trong trường Tiểu học được thiết lập bởimột số hình thức : lớp dạy Keyboard, Guitar ; câu lạc bộ em yêu dân ca ; tổchức những game show âm nhạc vv … Khi tham gia những câu lạc bộ trên hầu hết những emhọc sinh được khám phá sâu hơn về những kỹ năng và kiến thức âm nhạc mà trong những giờhọc chính khóa chưa được tiếp cận, ưu điểm đạt được là những em nắm chắc hơnvề kiến thức và kỹ năng âm nhạc, tăng trưởng năng lực ca hát. Đặc biệt trải qua quá trìnhtham gia những câu lạc bộ, những em có điều kiện kèm theo rèn luyện những kỹ năng và kiến thức thực hànhâm nhạc, từ đó tạo thêm tình yêu, sự mê hồn hơn đối nghệ thuật và thẩm mỹ âm nhạc. 1.2. Vai trò của dàn dựng hát tốp ca trong hoạt động giải trí ngoại khóa âm nhạcở trường phổ thông1. 2.1. Đối với học sinhDàn dựng hát tốp ca là hoạt động giải trí thực hành thực tế âm nhạc nhằm mục đích phân phối, củng cố mạng lưới hệ thống kỹ năng và kiến thức, kỹ năng và kiến thức, kỹ xảo cho học sinh. Thông qua hoạtđộng này hình thành năng lượng thao tác theo nhóm, tăng trưởng năng lực giaotiếp, ứng xử giữa cá thể với cá thể, cá thể với tập thể. Thêm vào đó, dàndựng hát tốp ca còn tạo cho học sinh môi trường tự nhiên thưởng thức, khơi gợi tìnhthân ái hữu nghị đoàn kết, khắc phụ c tính ngần ngại / thiếu tự tin. Chủ đề trong những bài hát tốp ca giành cho lứa tuổi mần nin thiếu nhi thường ngợica tình yêu quê nhà quốc gia, yêu đồng bào … trải qua giai điệu, lời ca cóý nghĩa từ đó tác động ảnh hưởng đến nhân cách học sinh. 13D àn dựng hát tốp ca tạo năng lực nâng cao nhận thức thẩm mỹ và nghệ thuật cho họcsinh. Tác phẩm âm nhạc là chỉnh thể chân – thiện – mỹ toàn vẹn biểu lộ tậptrung lý tưởng của con người khi nhận thức quốc tế bằng những xúc cảm mạnhmẽ, đi vào chiều sâu những quy luật tình cảm rất riêng của con người. Chính vìvậy, trải qua việc dàn dựng tốp ca sẽ phân phối một lượng kiến thức và kỹ năng âmnhạc đa dạng và phong phú cho học sinh. Hơn nữa, đặc thù xen kẽ nhiều phong cáchthể hiện của việc màn biểu diễn tốp ca sẽ tạo năng lực nhận thức nhiều Lever, nhiều ý nghĩa về nghệ thuật và thẩm mỹ ca hát. Biểu diễn âm nhạc trong trường đại trà phổ thông nhằm mục đích tạo nên sự phong phúcủa đời sống niềm tin, nuôi dưỡng khát vọng, kích thích tiềm năng sáng tạotheo quy luật cái đẹp cho học sinh. Điều đó càng trở nên quan trọng, nếu cáctiết mục màn biểu diễn tốp ca ngày càng chất lượng, thâm thúy thì việc giáo dục âmnhạc càng được lan tỏa, chuyển biến nhanh gọn từ nhu yếu nghệ thuật và thẩm mỹ mangtính vui chơi sang trình độ nghệ thuật và thẩm mỹ giàu tính con người hơn nhiều. Trên thựctế, những tác phẩm âm nhạc không chỉ giáo dục con người bằng những phương thứctruyền thụ tri thức, giáo lý, đạo đức … mà nó còn được gợi mở, hấp dẫn vềmặt thẩm mỹ và nghệ thuật trải qua màn biểu diễn, làm cho con người tiếp thu được những giátrị âm nhạc toàn vẹn. Dàn dựng hát tốp ca là điều kiện kèm theo để người giáo viên hoàn toàn có thể khơi gợi chohọc sinh nhiều cung bậc xúc cảm, nhiều phát minh sáng tạo khác nhau trong việc trìnhdiễn bài hát. Với những thủ pháp theo lối hát đối đáp, tiếp nối đuôi nhau, hát bè … sẽ hìnhthành cho học sinh thẩm mỹ và nghệ thuật âm nhạc một cách đúng đắn. Sự xen kẽ của cácgiọng hát trong lối hát hòa thanh, lối hát phức điệu không riêng gì tạo nên sự hòahợp thống nhất về âm thanh mà còn tăng trưởng cho học sinh năng lực nghenhạc nhạy bén, tinh xảo. Việc những em trình diễn một bài hát có chất lượng nghệthuật ở hình thức tốp ca sẽ thêm phần tăng trưởng cho việc giáo dục thẩm mỹ và nghệ thuật ởnhà trường đại trà phổ thông. 14D àn dựng tốp ca góp thêm phần rèn luyện thị hiếu âm nhạc đúng đắn, năng lựchoạt động âm nhạc tập thể, tăng trưởng được năng lực của những em. Có thể nhậnđịnh rằng việc dàn dựng tốp ca sẽ góp thêm phần triển khai xong hơn trong việc giáodục thẩm mỹ và nghệ thuật cho học sinh. Bởi vì, không như đơn ca chỉ đem đến cho ngườinghe cảm nhận được giai điệu, mà tốp ca còn có năng lực tạo được nhiều màusắc, cung bậc khác nhau trong việc biểu lộ tác phẩm của nhiều giọng hát, nócó thể diễn giải được sự thiết yếu nhất định về đặc thù đa thanh. Điều đóchắc chắn sẽ góp thêm phần đặt cơ sở nền tảng cho việc hình thành thị hiếu âmnhạc của học sinh. 1.2.2. Đối với giáo viênNếu giáo viên âm nhạc chỉ dạy tốt môn học của mình trong khoanh vùng phạm vi lớphọc thì họ chưa thể khẳng định chắc chắn được vai trò của mình trong nhà trường. Cònviệc giáo viên vừa dạy tốt, vừa điển hình nổi bật trong những hoạt động giải trí âm nhạc ngoạikhóa, trong đó có dàn dựng tốp ca thì vị thế của môn học và uy tín của họ mớithật sự được khẳng định chắc chắn. Dàn dựng tốp ca mang tính thực hành thực tế là hầu hết, nên việc thực thi rènluyện kĩ năng dàn dựng và bổ trợ kiến thức và kỹ năng âm nhạc sẽ giúp cho giáo viênchủ động hơn khi thực hành thực tế dàn dựng tốp ca. Việc vận dụng những kỹ năngca hát vào hoạt động giải trí âm nhạc ngoại khóa tại trường Tiểu học sẽ có thêm hiểubiết về tác phẩm một cách thâm thúy hơn ; giúp cho giáo viên nâng cao trình độdàn dựng, chuyên nghiệp hơn trong việc làm của họ. Dàn dựng tốp ca sẽ góp thêm phần giúp cho giáo viên có thêm sự tích luỹ kinhnghiệm trải qua những tài liệu, trao đổi với đồng nghiệp ; biết vận dụng kiếnthức âm nhạc bộc lộ nhạc cảm trong quy trình dàn dựng. Bên cạnh đó, việcdàn dựng tốp ca còn giúp cho giáo viên am hiểu thâm thúy hơn về tâm sinh lýcủa học sinh Tiểu học trong việc màn biểu diễn ca hát nhằm mục đích link, phát huy mọikhả năng …. 151.3. Đặc điểm tâm sinh lý và giọng hát của học sinhBậc học Tiểu học là nền móng của hàng loạt mạng lưới hệ thống giáo dục ở trườngphổ thông. Theo pháp luật lúc bấy giờ học sinh Tiểu học khởi đầu từ khi 6 tuổivào lớp 1 và kết thúc bậc Tiểu học là 12 tuổi lớp 5. Trẻ em ở tiến trình này cóthể chia thành hai tiến trình nhỏ bởi sự độc lạ về trình độ khác nhau về thểchất và những đặc thù sinh lí của học sinh. Giai đoạn 1 so với trẻ từ lớp 1 đến lớp 3. Giai đoạn 2 là trẻ từ lớp 4 đến lớp 5.1.3. 1. Đặc điểm tâm sinh lýHọc sinh khối 4, khối 5 là quy trình tiến độ cuối của cấp học Tiểu học. Đây làgiai đoạn tiếp thu và tích góp tri thức qua việc tiếp thu, lĩnh hội một hệ thốngtri thức qua những môn học. Các em được học cách học cách sống, học kĩ năngsống trong nhà trường và xã hội. bên cạnh những hoạt động giải trí học tập chính khóathì những em còn phải tham gia triển khai những hoạt động giải trí khác của Đội thiếu niênTiền phong Hồ Chí Minh …. Khi em được tham gia những hoạt động giải trí này gópphần tăng trưởng đến tâm sinh lý của học sinh. Theo cuốn Tài liệu tu dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ nghề nghiệpgiáo viên hạng III. ( 2017 ), nhiều tác giả đã khái quát : Đầu tiên là về khung hình của những em tăng trưởng một cách tương đối êm ảvà đồng đều. Chiều cao mỗi năm tăng thêm khoảng chừng 4 cm ; trọnglượng khung hình mỗi năm tăng thêm khoảng chừng 2 ki-lô-gam. Nếu trẻ vàolớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng chừng 106 cm ( nam ), 104 cm ( nữ ) cân nặng đạt 15,7 kg ( nam ) và 15,1 kg ( nữ ). [ 30 ; 57 ]. Tuy nhiên, theo chúng tôi thực tiễn khi học sinh lên đến lớp 4, lớp 5, thìngoài việc tăng trưởng theo lứa tuổi thì, chiều cao của trẻ hoàn toàn có thể xê dịch khoảng4-5 cm, cân nặng hoàn toàn có thể xê dịch từ 1-2 kg. Tim của trẻ đập nhanh khoảng chừng 85 – 90 lần / phút, mạch máu tương đốimở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn hảo … 16H ệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ tăng trưởng. Hệ cơ đang trong thời kỳ pháttriển mạnh nên những em rất thích những game show hoạt động như chạy, nhảy, nô đùa … Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thành xong về mặt công dụng, dovậy tư duy của những em chuyển dần từ trực quan hành vi sang tư duyhình tượng, tư duy trừu tượng … [ 30 ; 57 ]. Do đó, những em rất hứng thú với những game show trí tuệ như đố vui trí tuệ, cáccuộc thi về trí tuệ. Ở tuổi này thấy rõ tính linh động nhưng lại chóng stress, bởi những công dụng của hệ thần kinh chưa tăng trưởng rất đầy đủ. Chức năng cácgiác quan cũng đạt được sự triển khai xong rõ ràng. Đặc điểm tính cách của những emcó khuynh hướng hoạt động giải trí ít xem xét, tâm lý trước khi hành vi, thườngảnh hưởng tác động ảnh hưởng kích thích cả về bên trong lẫn bên ngoài. Các em thườngcó sự tin yêu tuyệt đối vào người lớn, hoặc trải qua sách vở và đặc biệt quan trọng lànhững thầy / cô giáo trực tiếp giảng dạy. Với sự hồn nhiên trong sáng, thíchkhám phá khiến những em nghĩ mình hoàn toàn có thể làm mọi điều mình muốn. Với tínhchân thật, rất hiếu động, có lòng vị tha cùng với ham hiểu biết, ham chơi và haybắt chước là đặc thù nổi trội của những em ở lứa tuổi này. Bên cạnh đó, những emcòn biểu lộ tình cảm một cách trực tiếp, đơn cử như dễ cười, dễ khóc và cũng dễnổi giận. Từ sự độc lạ của lứa tuổi Tiểu học so với những lứa tuổi khác về mặttâm – sinh lí như năng lực hiểu biết của những em còn hạn chế, năng lực ghi nhớkhông vững chắc, do đó, việc truyền dạt những kỹ năng và kiến thức âm nhạc cho họcsinh lứa tuổi Tiểu học cần có những giải pháp tương thích. Việc truyền thụkiến thức âm nhạc cho những em cần phải dễ hiểu, hấp dẫn, mê hoặc ; những hoạtđộng âm nhạc cần phải sinh động, hình thức trình diễn âm nhạc linh động, phát minh sáng tạo, ấn tượng là điều không hề thiếu trong việc dàn dựng so với lứatuổi này. 171.3.2. Đặc điểm giọng hátỞ lứa tuổi học sinh Tiểu học ( dưới 12 tuổi ) thường chưa phân biệt rõ rệtvề giới tính trong giọng hát. Các em có giọng hát tự nhiên, hát theo bản năngvà thường hát giọng ngực. Nhược điểm của hát giọng ngực là khiến cho cảkhối thanh đới phải thao tác liên tục, nhanh mệt, nhiều lúc âm thanh phát ra cólúc bị nghẹn. Đặc biệt là hát giọng ngực sẽ không tạo được sự thống nhất vềâm sắc của những em ở cả ba âm khu trầm, trung và cao. Hát bằng giọng ngựctiếng sẽ nông, cứng, nhanh hết hơi, khó tinh chỉnh và điều khiển sắc thái. Trong giáo trình Thực hành sư phạm ( 2008 ) của Hoàng Long – Hoàng Lânđề cập đến năng lực học tập và tiếp thu âm nhạc của học sinh bậc Tiểu học : Học sinh rất nhạy cảm với giai điệu và nhất là tiết tấu. Thích hátnhưng giọng vẫn còn non nớt, hơi thở ngắn chưa có năng lực ngângiọng với những nốt nhạc ngân dài. Rất thích vừa hát vừa phối hợp vớicác hoạt động giải trí kèm theo. Khả năng tập trung chuyên sâu trí lực không lâu, chóng chán khi một hoạt động giải trí diễn ra nhiều lần không đổi khác. Thích nghe hát nghe đàn nhưng chỉ tiếp thu được những bài ngắn. Mạnh dạn hồn nhiên khi tham gia những hoạt động giải trí văn nghệ. Tiếp thuâm nhạc bằng tình cảm trực giác khó hoàn toàn có thể tiếp thu bằng lí thuyếtvà diễn giải dài dòng nặng về lý trí. Thích được trực tiếp tham giavào những hoạt động giải trí như đánh đàn, múa hát, sử dụng nhạc cụ gõ … nghe kể chuyện âm nhạc, thích xem tranh truyện vvv. [ 23 ; 22 ]. Theo cuốn Phương pháp hát và chỉ huy dàn dựng hát tập thể ( 1998 ) củaVũ Tự Lân và Lê Thế Hào có nêu : Khi những em đến tuổi 11 – 12 là quá trình đi trước thời kỳ “ vỡgiọng ”, mở màn Open những tín hiệu cho thấy những thay đổivề khung hình. Sự tăng trưởng về khung hình nói chung, sự tăng trưởng vềbộ máy phát thanh nói riêng không còn yên bình nữa … Giọnghát không sáng sủa nữa, có vẻ như xỉn lại, hơi khàn. Có thể thấy sựthay đổi cả về tầm cữ giọng [ 20 ; 42 ]. 18 Ở lứa tuổi khối 4, khối 5 hoàn toàn có thể coi là thời kỳ đẹp nhất của tuổi thiếunhi, giọng hát của những em đã mở màn có những âm sắc riêng và có độ vangrất tốt. Theo chúng tôi ở tiến trình này thanh đới của những em vẫn có độmềm dẻo, âm vực và âm lượng tăng nên việc chớp lấy âm chuẩn không thay đổi vàthành thục, giọng hát có âm sắc rõ ràng, hoàn toàn có thể trình diễn một số ít bài hát cóbè tương đối phức tạp ở hình thức tốp ca. Ngoài ra, lứa tuổi còn có khảnăng biểu cảm khá rõ nét và bộc lộ tính độc lập trong việc trình diễn âmnhạc. Nếu được chăm sóc hướng dẫn rèn luyện đúng cách thì giọng hátphát triển tương đối không thay đổi. Trong cuốn sách Giáo trình âm nhạc và giải pháp dạy học âm nhạc ( 2012 ) của Hoàng Long – Hoàng Lân đã đúc rút về âm vực giọng hát của họcsinh Nước Ta khối 4 và khối 5 là từ a đến c2 hoặc d2 [ 22 ; 178 ]. Hoàng Điệp và nhóm tác giả ( 2012 ) lại đưa ra đúc rút chung về giọnghát mần nin thiếu nhi của quốc tế là có âm vực tương tự so với giọng nữ. Thiếunhi giọng cao tương tự với giọng nữ cao ( soprano ), mần nin thiếu nhi giọng trầmtương đương với giọng nữ trầm ( alto ) [ 5 ; 12 ]. Như vậy, so sánh hai tổng kết trên thì âm vực của giọng hát thiếu nhiViệt Nam hẹp hơn so với giọng hát mần nin thiếu nhi của quốc tế. Sự độc lạ này sẽlà cơ sở để chúng tôi đề cập ở chương 2 trong việc lựa chọn bài hát, cách thứcphát triển, lan rộng ra âm vực giọng hát mần nin thiếu nhi khối 4, khối 5 khi dàn dựngtốp ca. 191.4. Thực trạng hoạt động giải trí giáo dục âm nhạc tại Trường Tiểu học Trung Văn1. 4.1. Khái quát về nhà trườngTrường Tiểu học Trung Văn là một ngôi trường đóng trên địa bànphường Trung Văn – Quận Nam Từ Liêm Thành phố Thành Phố Hà Nội. Với diện tíchkhoảng 8025 mét vuông. Vị trí nằm ở cửa ngõ phía Nam thành phố TP.HN. Phía Bắcvà Đông giáp Quận TX Thanh Xuân, phía Nam giáp Quận HĐ Hà Đông. Trường làđiểm đến luôn nhận được sự ủng hộ từ phía cha mẹ học sinh khi chọn cho conem mình theo học. Ngày 29/9/2010 trường được quản trị Ủy Ban Nhân Dânthành phố Thành Phố Hà Nội công nhận là trường chuẩn vương quốc mức độ 2. Là niềmvinh dự, động lực để thầy và trò quyết tâm thực thi tốt tiềm năng dạy tốt vàhọc tốt. Nhà trường luôn thực thi tốt theo những chủ trương của ngành Giáodục, trải qua những nghị định, thông tư thay đổi giải pháp dạy học lấy họcsinh là TT, và thay đổi giải pháp kiểm tra nhìn nhận theo đúng quyđịnh của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của Sở Giáo dục đào tạo. Trong giờ học giáoviên không chỉ truyền tải kiến thức và kỹ năng mà còn gợi mở trí tưởng tượng, óc sángtạo cho học sinh, giờ học đạt hiệu suất cao cao. Chính thế cho nên, học sinh của nhà trường phát huy được tính tích cực, chủđộng, tự tin, biết phát minh sáng tạo trong những hoạt động giải trí giáo dục và ngoại khóa âmnhạc của Nhà trường. Trong thời hạn học tập tại trường, những em không chỉđược cung ứng vừa đủ kiến thức và kỹ năng, mà còn được rèn luyện về sức khỏe thể chất qua cáchoạt động ngoại khóa. Về cơ sở vật chất Trường có rất đầy đủ trang thiết bị theo đúng lao lý củaBộ Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường có 39 phòng học, và có 04 công dụng ( 02 phòng học tin học, 02 phòng học ngoại ngữ ), sĩ số một lớp tối đa 55 họcsinh. Các phòng đều được trang thiết bị dạy học rất đầy đủ và văn minh ; khuônviên của Trường có nhiều cây xanh, thoáng mát, có vườn thưc vật. Tạo môitrường trong lành, thoáng đãng. Thư viện của Trường có tương đối khá đầy đủ tư20liệu, cung ứng được nhu yếu điều tra và nghiên cứu học tập của cán bộ giáo viên và họcsinh. Ngoài ra thư viện Nhà trường luôn chú trọng và bổ xung nhiều đầu sáchphù hợp với học sinh. Nhìn chung tổng thể những phòng học của Nhà trường đápứng tối ưu cho việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh. Tuy nhiên, Nhà trường chưa có phòng học bộ môn âm nhạc riêng, giáoviên luôn phải chuyển dời đến từng lớp để dạy học. Bởi vậy, việc khai thác vàsử dụng trang thiết bị cho việc dạy học âm nhạc tại những lớp học chưa thực sựđồng bộ, phần đông phụ thuộc vào vào việc tự trang bị phương tiện đi lại dạy học củagiáo viên. Trang âm, loa đài của Trường được góp vốn đầu tư bởi hai dàn loa với côngsuất nhưng cũng chỉ phân phối được những hoạt động giải trí mang tính tiếp tục củanhà trường đại trà phổ thông. Còn khi cần tổ chức triển khai những hoạt động giải trí ngoại khóa âmnhạc mang tính qui mô lớn hơn thì vẫn phải thuê trang âm ở ngoài. Sự khókhăn về khu vực tập luyện những chương trình âm nhạc ngoại khóa cũng là hạnchế. Nhà trường chưa có phòng tập đa năng, những em luôn phải tập luyện ở sânvào cuối giờ. Chính vì thế, những hạn chế đó tác động ảnh hưởng không nhỏ tới quátrình tập luyện và màn biểu diễn những hoạt động giải trí âm nhạc. Mặc khác, Nhà trường nằm trên địa phận với nhiều thành phần dân cưkhác nhau như công chức, viên chức, kinh doanh … Một nửa số dân là di cư từcác địa phương khác đến, nên điều kiện kèm theo về đời sống vật chất / niềm tin cũngnhư trình độ của học sinh là không đồng đều. Phần lớn cha mẹ học sinh rấtquan tâm, tạo điệu kiện cho những em học tập và tham gia những hoạt động giải trí ngoạikhóa do Nhà trường tổ chức triển khai … Bên cạnh đó, do điều kiện kèm theo kinh tế tài chính của một sốgia đình còn hạn chế, nhiều em có năng khiếu sở trường chưa được cha mẹ tạo điều kiệnđể những em tham gia. Đây cũng là điểm khó khăn vất vả khi chọn học sinh tham gia. Từ năm năm trước đến nay, năm nào trường cũng có học sinh đạt giải vô địchquốc gia Robothon và giải Nhì giải Ba Robothon quốc tế. Thêm vào đó, Nhàtrường còn có nhiều học sinh đạt giải cao trong những kỳ thi như : giải Nhất cuộc

Source: https://evbn.org
Category : blog Leading