Thích Học Toán

79E5849C-D813-41BB-9139-84E782E7021C

Hè năm ngoái tôi có dịp nghỉ ngơi tĩnh dưỡng một tuần ở Huyền Không Sơn Thượng. Đây là ghi chép của tôi trong thời hạn ở trong tu viện. Ghi chép lan man, không có nội dung gì đặc biệt quan trọng, nhưng tôi muốn san sẻ với nhiều người vì thời hạn sống trong tu viện đã đổi khác tôi phần nào, có lẽ rằng theo hướng tốt hơn .

Huyền Không Sơn Thượng là một thiền viện nằm trong địa bàn của huyện Hương Trà. Tu viện nằm sâu trong rừng, trên độ cao vừa phải. Tu viện lúc đầu là nơi Minh Đức Triều Tâm Ảnh chọn làm nơi lánh xa thế nhân, khi đó là đồi trọc hoang vu. Sau này, nhiều sư trẻ xin về theo, trong đó có sư Chơn Tín. Lúc đầu thầy Tâm Ảnh không nhận họ, nhưng họ quyết ở lại giúp thầy trồng cây, làm ruộng … Sau hai mươi mấy năm, xung quanh thiền viện đã hình thành một cánh rừng nguyên sinh. Ở trên cao là thông, phía dưới là keo, xung quang chùa và thiền viện có nhiều tre, trúc, bàng, lộc vừng và nhiều cây cảnh.

Bạn đang đọc: Thích Học Toán

Anh Bi, anh Linh và anh Thuyết đưa tôi đến thiền viện chiều thứ hai 6/8/2018. Trên đường đi, anh Thuyết dừng xe ở phố kinh doanh để anh Bi xuống mua cho tôi mấy gói mì đề phòng khi đói. Anh Bi chỉ kém anh Thuyết hai tuổi nhưng luôn gọi anh Thuyết là thầy. Anh Bi vốn là hiệu trưởng trường chuyên cấp hai Nguyễn Tri Phương là người có nhiều quan hệ và biết tổ chức triển khai sắp xếp việc làm. Mọi việc lớn nhỏ của hội đồng nhỏ những anh toán ở Huế đều do anh Bi sắp xếp. Anh Thuyết vì là thầy của anh Bi, và cũng là người có học vị cao nhất nên nghiễm nhiên là thủ lĩnh của nhóm. Lúc mới gặp, tôi không thích anh Thuyết lắm, có lẽ rằng vì mái tóc nhuộm đen nháy của anh. Tôi có tình cảm với anh Hiếu ốm nhách hơn. Chơi với nhau lâu, tôi yêu quý toàn bộ những anh. Các anh luôn mong tôi vào Huế để những anh đưa đi chơi, đi ăn, uống ca phe chuyện trò toán. Dần dần tôi cũng thích san sẻ thời hạn của mình với những anh .
Trước khi đi, tôi có để số điện thoại thông minh của anh Thuyết cho mẹ tôi để mẹ liên lạc khi có việc gấp vì hoàn toàn có thể mạng di động không phủ đến khu vực của thiền viện. Không giật mình lắm khi mẹ tôi gọi ngay cho anh Thuyết để dặn dò và nhờ anh mua cho tôi mấy thứ thuốc mà do vội tôi không mang đi. Mẹ tôi là như vậy, một nỗi lo nho nhỏ trong đầu hoàn toàn có thể làm bà bồn chồn, và phải xử lý triệt để nó thì mới hoàn toàn có thể nghĩ đến việc khác. Đặc biệt khi nỗi lo đó tương quan đến con trai của bà .
Thầy Chơn Tín đợi chúng tôi ở Am Mây Tía. Thầy Chơn Tín dáng vóc phương phi, ít cười, nhưng vẻ mặt toát ra sự khảng khái, chân thực. Thầy phổ cập cho tôi 1 số ít nội quy cho đời sống trong thiền viện. Ở đây, những sư tụng kinh hai lần mỗi ngày, một lần lúc 4 : 30 sáng khi vừa ngủ dạy, một lần lúc 6 : 00 chiều, xong rồi mọi người về am cốc của mình nghỉ ngơi. Chùa nấu cho ăn vào buổi sáng và buổi trưa. Ở đây những sư theo Phật giáo nam tông, có thủ tục đi xếp bát khất thực. Khi đi khất thực người ta cho ăn gì phải ăn nấy, vì vậy những sư ăn mặn, không ăn chay. Thầy Chơn Tín đã để sẵn trong cốc nhiều mì gói, bánh quy, sữa đề phòng đói bụng vào buổi tối. Sau đó thầy phăng phăng xách cái va li nhỏ và đưa tôi về cốc .
Cốc là một ngôi nhà nhỏ, nằm trên vách núi. Các sư trẻ ở trong khu nhà chung. Các sư tu tập lâu ngày ở trong cốc như vậy. Cốc tôi ở gọi là Cốc Sư Thiện. Sư Chơn Hạnh, em trai của sư Chơn Tín nói với tôi rằng sư Thiện đã vào miền nam. Để đi lên Cốc Sư Thiện phải dò theo những bậc đá nhấp nhô mà những sư đẽo vào núi. Leo chừng ba mươi bước thì đến một tấm đá nhẵn thín, bắc ngang qua ao cá nhỏ uốn vòng quanh cốc. Ao nhỏ nhưng nước rất trong. Trong đó có ếch, nhái, rắn nước và những con cá nhỏ sống. Xung quanh ao, sư Thiện trồng nhiều cây dương xỉ, một loài cây tôi mà tôi ưa thích. Ở bên trái am còn có một bụi trúc vàng, thân trúc vàng óng, khoẻ mạnh. Chếch góc ao, có cả một cây chuối rất đẹp. Lần tiên phong tôi nhìn thấy cả buồng chuối và hoa chuối. Thông thường ở những loài cây khác, hoa rụng thì mới hiệu quả. Cây chuối của sư Thiện mang một buồng chuối đã chín lắm, màu đã chuyển sang đen xì, vậy mà ở cuống của nó vẫn còn một bông hoa chuối rất tươi .
Cốc có hai phòng. Phòng trong là phòng ngủ, có cả điều hoà nhiệt độ. Phòng ngoài có một cái bàn đá màu trắng để thưởng trà và đọc sách. Ở góc phòng có một cái bàn nhỏ nơi thầy Chơn Tín đã xếp đủ sữa, nước, mì gói, bánh quy cho tôi đủ dùng cả tháng. Sau khi chia tay anh Bi, anh Linh và anh Thuyết, tôi đóng cửa và tâm lý mình sẽ làm gì với thời hạn năm ngày ở trong thiền viện. Vào lúc đó, tôi chú ý thấy ba quả thị mà thầy Chơn Tín để lại cho tôi ở trên cái bàn đá. Cầm một quả thị lên ngửi thấy hương thật thơm. Tâm trí tôi bỗng trở nên thanh thản lạ lùng. Tôi tự bảo mình thay vì việc đặt ra cho mình một thời hạn biểu ngặt nghèo, hay là tôi cứ ngồi đây ngắm ba quả thị, dõi theo quy trình đổi khác của nó. Bây giờ còn đang tươi tắn, thơm hương như vậy, năm ngày nữa thì sẽ thế nào .
Chiều hôm đó, tôi đi bộ dọc theo con đường mòn vào sâu trong rừng trước giờ tụng kinh. Đi đường bị muỗi cắn khắp người mới sực nhớ ra rằng mình vào rừng ở mà quên không máng thuốc sức chỗng muỗi. Đường khó đi, nhiều lúc lại có cây đổ ngang đường. Ven đường có những cốc còn đang xây dở. Không quá lâu, con đường mòn đẫn đến một cái cốc khá khang trang, trồng nhiều hoa theo hàng lối. Ngại làm phiền, tôi không dám đi xuyên qua cái cốc đó để xem đường mòn còn liên tục hay không .
Trở lại sân chùa trước giờ rung chuông, tôi thấy một Tỳ kheo tươi tắn, đi cùng hai con chó đi đến chào. Sư tự ra mắt mình là Chơn Hạnh, em trai của sư Chơn Tín. Chơn Hạnh hỏi tôi có thiếu gì trên cốc không. Tôi nói không hiểu sao trên đó không có màn, mà có nhiều muỗi quá. Chơn Hạnh nói muỗi rừng ra nhiều tầm 5-6 giờ, trước giờ tụng kinh. Sau giờ đó chúng về rừng, đêm không cắn người. Tôi nghe lạ quá vì muỗi ở Hà nội cắn người bất kể giờ giấc. Nhưng quả thật đêm đó tôi ngủ ngon, không bị muỗi cắn. Ngồi đọc sách ở trong cốc chỉ bị muỗi đến quấy vào đầu giờ sáng và cuối giờ chiều .
Chuông trên tháp gióng độ 10 phút thì một tỳ kheo khởi đầu thỉnh chuông trong chánh điện. Các tỳ kheo khác lục tục về chỗ mình ngồi. Tôi được xếp ngồi ở góc bên phải cùng những novice. Các sư đọc kinh pali chừng 15 phút rồi chuyển sang ngồi thiền. Tiếng tụng kinh pali của những tỳ kheo vảng vào đầu tôi như ngọn gió Tây nóng và khô thổi sạch đi những bụi bặm bụi bờ, khí ẩm lưu cữu lâu ngày trên mặt phẳng của tâm hồn. Đèn phụt tắt khi những tỳ kheo đưng tụng kinh để thiền. Tôi cố bất động thân và tâm, tập trung chuyên sâu theo dõi nhịp thở nhưng vì gối tê, sống lưng mỏi, tâm phiêu diêu, tôi cảm thấy căng thẳng mệt mỏi muốn đứng dạy chi sau 10 phút. Vì không muốn làm trộn lẫn sự tập trung chuyên sâu của những tỳ kheo, tôi cố chịu đau ngồi đến cùng. Tôi nhận ra rằng học thiền cơ bản là phải kiên trì, chứ không cần nỗ lực gò ép mình quá đáng. Đến cuối tuần, tôi hoàn toàn có thể ngồi được lâu hơn, không còn cảm xúc đau mỏi như hôm đầu. Tâm vẫn khởi lên những tâm lý này nọ, nhưng nó cũng mau quay lại với nhịp thở hơn .
Buổi tụng kinh và thiền ở chánh thất kết thúc sau 7 giờ tối. Lúc đó ngoài trời đã tối đen. Lúc đấy tôi mới nhớ tới điều anh Bi nói lúc chia tay : đáng ra phải mang cho Châu cái đèn pin. Không đợt tôi hỏi, thầy Chơn Tín vào Am mây tía lấy cho tôi mượn một cái đèn pin. Nhờ vào nó tôi mới dò dẫm đi về cốc của mình .
Đêm ở trong rừng không hề yên tĩnh như ta nghĩ. Chỉ về đêm ta mới thấy rừng là nơi trú ngụ của trăm ngàn sinh linh. Ồn ào nhất là tiếng ễnh uông. Nó kêu như tiếng thanh tre gõ lên một dãy ống tre, từng đợt cách nhau chừng nửa phút. Bắt nhịp là một tiếng chim, hơi thảng thốt, nhưng vì rất đều đặn, nên không gây ra cảm xúc bi ai. Con ễnh uông và con chim nhỏ hoà tấu với nhau như vậy cho đến lúc hàng loạt dàn nhạc rừng oà lên cùng một lúc để rồi lại lặng đi ngay. Trong đêm rừng tối đen, ta chỉ còn thính giác để đảm nhiệm những tín hiệu của rừng. Tâm hồn ta lắng xuống trong cảm xúc thoải mái và dễ chịu đã được rừng đảm nhiệm, có vẻ như đã trở thành một phần hữu cơ của rừng .
Điện thoại reo báo thức lúc 4 giờ sáng để sẵn sàng chuẩn bị đi tụng kinh lúc 4 : 30. Không đủ can đảm và mạnh mẽ để chui ra khỏi giấc ngủ say để xuyên rừng đi lên chánh điện, tôi duỗi chân ngủ tiếp. Khi tỉnh dạy thì trời ở ngoài đã sáng. Tôi cố tìm ra con ếch đêm qua kêu to thế mà không tìm ra. Con ếch duy nhất mà tôi tìm thấy là con vật tý hon này. Vì một nguyên do riêng, tôi rất chăm sóc đến loài ếch và rất mong ước gặp một con ếch với kích cỡ đủ lớn. Mong muốn này sẽ được toại nguyện vào ngày ở đầu cuối tới hai lần .
Tuy không tìm thấy ếch, tiềm năng bắt đầu, tôi tìm thấy một vài con vật rất đáng yêu luôn quanh quẩn cái ao nhỏ nằm trước mặt cốc. Đây là một con mèo hoang, rất dạn người, sẵn sàng chuẩn bị lẻn vào cốc ăn vụng bánh quy của tu sĩ. Bên cạnh bánh quy, bọn mèo hoang tỏ ra chăm sóc đến những con cá bé li ti bơi trong ao .
Một con vật khác, ít thù địch hơn với loài cá là con tắc kè. về hình tướng, tắc kè có lẽ rằng là sinh linh khôi ngô nhất mà tôi gặp ở trong rừng. Nó có cái cổ màu xanh lè và cái đuôi rất dài .
Điều lạ nhất xảy ra với tôi vào buổi sáng tiên phong ở trong chùa là cảm xúc trìu mến đặc biệt quan trọng dành cho con tắc kè này bỗng dưng khởi lên trong tâm. Lòng trìu mến đó tăng trưởng cả sang con kiến, con muỗi .
Một tâm trạng bình an từ từ định hình trong tôi. Cả ngày tôi không ra khỏi cốc trừ lúc những chú tiểu gõ kẻng gọi ăn trưa, và cuối giờ chiều khi chuông chùa gióng lên gọi những tỳ kheo lên chánh điện tụng kinh .
Đây là ngày tiên phong ở chùa, tôi chủ định chỉ làm nhưng gì để tạo cho mình cảm xúc bình yên, để dành nhưng yếu tố khó khăn vất vả phải tâm lý cho nhưng ngày sau. Tôi dành cho mình niềm vui đọc thật kỹ bài báo của Deligne về giả thuyết Weil, một viên ngọc của toán học văn minh. Tôi thấy một cảm xúc khoan khoái khi hiểu toàn vẹn lập luận cùa Deligne, khá ngắn gọn, nhưng thật tinh xảo. Định đọc thêm toán nhưng đầu óc cảm thấy hơi mệt nên lại thôi. Thay vì việc bắt mình thao tác liên tục như thói quen, giờ đây mỗi lúc cảm thấy stress, tôi cho phép mình ngừng lại, ngồi vào tư thế thiền và đếm hơi thở của mình .
Buổi tối sau giờ tụng kinh, sư Chơn Hạnh qua cốc thăm tôi. Sư mang cho tôi một đôi dép nhựa để đi trong phòng tăm cho khỏi ướt chân, một chai sữa đậu nành và một chút ít bánh quy. Sư kể chuyện cốc tôi ở trước là của sư Thiện, nay sư Thiện đã đi vào Nam. Trong cốc có một giá sách nhỏ, có lẽ rằng do sư Thiện để lại. Nhìn nhưng quyển sách sư Thiện để lại hoàn toàn có thể cảm thấy một tâm hồn hiền thiện, giản đơn : ngoài quyển sách Phật pháp cơ bản mà sau đó tôi đọc hết trong thời hạn ngồi một mình trong cốc, còn có sách tự học tiếng Trung, tự học đàn guitare, mấy tập thơ Huế … Hôm sau sư Chơn Hạnh mang cho tôi mượn thêm hai quyển sách của sư trụ trì Minh Đức. Hai quyển đó giảng pháp dưới hình thưc kể chuyện. Mặc dù không thích lắm thể loại hư cấu tôn giáo, khi rời tu viện tôi xin phép mang theo một trong hai quyển để đọc trên đường, như một cách nhớ lại những ngày ở trong tu viện .
Tôi dành ngày thứ ba ở tu viện để tâm lý về những yếu tố còn khó khăn vất vả, còn tạo ra những xung đột trong nội tâm. Sự kiện đáng quan tâm của ngày này là cuộc gặp gỡ với một con nhện gớm ghiếc bò cạnh nơi tôi ngủ. Mặc dù cảm xúc trìu mến dành cho con tắc kè xinh đẹp phần nào lan sang con nhện, tôi do dự không biết con vật này có nọc độc hay không. Trên đường xuống chùa, gặp thầy Chơn Phúc, anh trai của thầy Chơn Tín, người luôn niềm nở chào hỏi, tôi hỏi thầy Chơn Phúc xem nhện ở đây có độc, có căn người hay không. Thầy cười bảo nhện ở rừng này lành lắm, không độc, không cắn người. Vậy là tôi yên tâm liên tục sống chung với con nhện. Thực ra sau đó tôi không gặp lại nó nữa, trừ một lần khi đang đọc sách thì thấy buồn buồn ở gáy. Sờ tay thì hoá ra một con nhện khác đang mày mò khu vực sống lưng gáy của mình. Tôi búng nhẹ cho nó rơi xuống đất, không làm nó tổn thương .
Nhớ đến lời khuyên của Phan Việt, tôi lẩm nhẩm đọc đi đọc lại lời kinh thực hành thực tế Thiền tha thứ :
“ Vì lâm lạc và không minh mẫn nên tôi đã có những hành vi, lời nói, ý nghĩ sai lầm đáng tiếc làm thiệt hại, gây đau khổ cho những người khác, những chúng sinh khác. Xin toàn bộ mở lòng từ bi và trí tuệ để tha thứ cho tôi .
Tôi thành thật tha thứ cho những người đã có những hành vi, lời nói ý nghĩ làm thiệt hại và gây đau khổ cho tôi .

Tôi thành thật tha thứ cho chính mình và nguyện từ nay làm lành, tránh dữ, giữ tâm trong sạch.”

Tuy chưa đi được tới tận cùng yếu tố muốn tâm lý tới, tôi cảm thấy một sự nhẹ nhõm thanh thản nào đó trong tâm hồn, trái với cảm xúc nặng nề u uất thường có. Dường như việc để tâm vào quan sát chính mình một cách thiện chí, làm cho cái tâm được quan sát có được cảm xúc bình an .
Ngày thứ tư ở thiền viện là ngày thứ năm của tuần. Trời mưa nặng hạt từ rạng sáng. Con đường lên xuống cốc trở nên trơn tuột. Xuống cốc khi chạng vạng vào giờ ăn sáng lúc trời mưa nặng hạt, tôi phải dò từng bước để khỏi ngã. Khi vừa vượt qua đoạn tưởng chừng nguy hại nhất, chỗ cầu thang làm bằng những phiến đá xếp nhấp nhô nghiêng ngả và dốc, khi đến đoạn cầu thang tưởng như phẳng phiu hơn, thì trượt chân. Mưa tiếp nối cả buổi sáng. Chìm đắm trong tâm lý của mình nên quên giờ xuống chùa ăn trưa làm cho Chơn Hạnh phải mang một suất ăn lên cốc .
Trời ngớt mưa sau giờ trưa. Cảm thấy tâm lý của mình mở màn đi vòng quanh, tôi chợt nảy ra ý muốn đi bộ. Nhìn trên map google thi thấy gần thiền việc có một cái hồ, tôi đặt nó làm đích cho cuộc đi bộ. Ra khỏi cổng thiền viện chưa đến 1 km tôi thấy một lối rẽ nhỏ đi về hướng hồ mà không có trên map. Đi theo lối đó dẫn tôi đến một khu vực khá tiêu điều, nơi có hai ngôi mộ cổ hình như bị bỏ phí, gần một khu vực ô nhiễm hình như để chôn rác. Trên map khu vực này đáng ra là một phần của lòng hồ nhưng có lẽ rằng khoanh vùng phạm vi hồ nước đã bị đổi khác. Xa xa có một ngôi nhà dựng tạm bơ, một chiếc xe máy đặt giữa sân, và một đàn bò con đứng con ngồi hình dáng uể oải .
Bỏ lại đằng sau khung cảnh thê lương này, tôi đi theo một con đường mòn không có trên map. Dọc con đường mòn có hai, ba cái lán chỏng chơ. Gặp một người đàn ông chừng ba mươi tuổi, vẻ mặt u uất, làm vẻ không nhận thấy sự hiện hữu của tôi, nhưng khi đi qua thì liếc theo tôi với ánh mắt dò xét, như có ý đồ. Xung quanh lán có nhiều thùng nuôi ong, và có lẽ rằng đó là nguyên do để người đàn ông kia ở đây. Trong đầu tôi Open một sự quan ngại, người đàn ông này có vẻ như chẳng có gì để mất trên cuộc sống này nữa. Hắn ta hoàn toàn có thể giết tôi để cướp số tiền tôi đem theo trên người mà không ai biết. Tuy nhien, Ý nghĩ đấy biến mất khi tôi nhìn thấy lá cờ nhà Phật bay phấp phới bên những cái lán .
Đi khoảng chừng cây số dọc theo bờ hồ mà không thấy hồ đâu. Liên tục là rừng keo độc chỉ một loài cây. Sau từng keo là ruộng lúa. Đi qua một xóm nghèo thì hiện ra một con đê. Con đê này là nguyên do tôi không nhìn thấy hồ, hồ nằm ở phía bên kia con đê. Con đê chì còn cách tầm 20 mét nhưng không hề tiếp cận được. Giữa con đường mòn tôi đi và con đê là một cái đầm nông có sú vẹt, nước sâm sấp lên đến đàu gối. Loáng thoáng nhìn thấy ở đầu kia con đê có mấy người đang chạy chơi. Tôi đi về hướng đó. Sự yên bình của trưa hè chợt bị phá vỡ bởi động cơ của một chiếc xe máy cũ. Trên xe có hai người, người ngồi trước tay cầm một cái vợt, người ngồi sau vai đeo một cái túi balo có gì nặng. Chiếc xe máy đưng phía sau sống lưng tôi tầm 10 mét. Hai người lội về phía đầm nước. Bây giờ tôi nhìn thấy cái người kia vác ở trên sống lưng là một cái ac-qui điện. Đây là hai kẻ đánh cá bằng điện. Đánh cá bằng điện là một trong những game show ngu xuẩn và gian ác nhất mà con người tạo ra. Chỉ để bắt một con cá, họ sẽ giết chết hàng trăm con cá con .
Hết vùng sình lầy thì con đường mòn gặp bờ đê. Bờ đê xây vững chắc, cứ độ 20 mét lại có nhưngz bậc thang để đi lên trên đê. Từ trên đê nhìn xuống mặt nước thoáng đáng trải dài đến tận chân núi. Đây là khu công trình thuỷ lợi hồ chứa nước Khe ngang. Đang ngắm để thu cả cái khoảng trống khoáng đạt trước mắt vào cái màn hình hiển thị điện thoại thông minh, thì một người đàn ông trung niên đến gần nói với tôi : nhờ anh chụp ảnh hộ mấy cháu, điện thoại thông minh tối quá không chỉnh được cho rõ mặt. Phải định thần mấy phút tôi mới hiểu ra nhu yếu của ông ta. Ở phía dưới chân đê bên hồ một tốp phụ nữ nông thôn đang tạo dáng chụp ảnh kỷ niệm. Tôi vẫy tay gọi họ lên trên đê. Cái điện thoại cảm ứng rẻ tiền họ dùng để chụp ảnh bị ngợp bởi ánh sáng ngoài trời vì vậy màn hình hiển thị tối đen. Tôi gợi ý chụp họ bằng điện thoại thông minh của tôi rồi gửi ảnh qua gửi tin nhắn. Lúc đầu những cô còn ngượng, mặt nghiêm trang như mấy anh lính canh lăng bác. Tôi nói những o nghêm trọng quá chụp không được. Vậy thôi là đủ để những nàng cười hết cơ số và tôi được một tấm hình thật vừa lòng. Nụ cười ấm cúng của những người phụ nữ nông thôn xua đi cái mùi tanh tanh còn đọng lại trong mũi tôi sau khi gặp hai gã đánh cá bằng điện .
Tôi hỏi làm thế nào những o có thời hạn đi du lịch thăm quan hồ ? Họ nói ngày hôm nay chúng tôi đi ăn giỗ, ăn giỗ xong phải ra đây chụp ảnh trước khi đi về nhà những đây vài chục cây số .
Đường về tu viện xa hơn tôi tưởng. Trời nóng hơn, tuy đâu đây mở màn thấy mấy con gió. Sau mấy cây số lên dốc, người tôi mồ hôi vã ra như tắm. Tuy vậy không cảm thấy mệt, đầu óc cảm thấy vui phơi phới, thảnh thơi kỳ lạ .
Tôi cảm thấy thấm mệt sau giờ tụng kinh và thiền. Món bánh quy trở nên khó nuốt nên đành đi ngủ với cái bụng đói .
Ngày thứ năm ở thiền viện và là ngày thứ sáu của tuần, tôi định dành để tâm lý tiếp về cái yếu tố làm mình phiền não, và mở màn ghi chép lại ký ức về những ngày ở đây. Kế hoạch của tôi bị đổi khác. vào giờ thư giãn giải trí sau giờ ăn sáng kho những tỳ kheo ngồi trò chuyện trong Am mây tía, sư Chơn Tín cho tôi biết buổi chiều mọi người cùng xuống Huyền Không 1 nghe Hoà thượng Viên Minh giảng pháp .
Hoà thượng Viên Minh là một trong bốn người tu hành cùng thầy Minh Đức xây dựng Huyền Không. Chùa này lúc đầu đặt ở Lăng Cô. Sau 75, chính quyền sở tại không được cho phép những thầy ở Lăng Cô nữa, vì nguyên do bảo mật an ninh, nên họ phải quay lại Huế. Đó là điểm xuất phát của chùa Huyền Không ở Huế. Sau một thời hạn ở Huế, thầy Minh Đức muốn lánh khỏi nhân tình thế thái nên lên rừng ở. Từ đó mới có Huyền Không Sơn Thượng .
Sau giờ ăn trưa, trong lúc chờ xe bus đi xuống Huyền Không 1, tôi ngồi trò chuyện với sư Chơn Phúc. Buổi chuyện trò đó để lại trong tôi nhiều xúc cảm. Sư Chơn Phúc thuật lại một phần cuộc sống của mình. Thầy vốn là một tay giang hồ có số má, đã từng đi tù bốn lần, lần cuối do vác dao đi chém phó công an Nha Trang. Chơn Phúc thuật lại những khoảnh khắc của cuộc sống mình khi mà cái sống và cái chết chỉ cách nhau một gang tay. Thầy nói thầy đi tu để trả ơn sâu của thầy Minh Đức, người tu hành có năng lực hiểu được tâm can của cả những kẻ giang hồ. Sư Chơn Phúc không định đi nghe thầy Viên Minh giảng pháp vì những lời của thầy Viên Minh tuy cao siêu, nhưng “ viễn ly mặt đất ” và không “ lọt lỗ tai ” giang hồ .
Tôi theo xe của nhà chùa xuống Huyền Không 1 nghe giảng pháp trong thực trạng tâm ý mệt mỏ sau giờ trò chuyện với sư Chơn Phúc. Thời tiết nóng và ngột ngạt làm những chuyện không dễ chịu nhỏ trở thành rào cản để tâm lý thực sự lắng nghe. Sư MC mất gần nửa tiếng sắp xếp cử toạ theo thứ bậc tu hành, những tỳ kheo ngồi trước, tiếp theo là những sư sari, chỉ có hai hàng ghế phía sau là dành cho những phật tử. Sau đó một người của ban tổ chức triển khai bê cái lọng mầu vàng đặt bên phía phải khán đài đi, để rồi quay lại từ phía trái khán đài, che nắng cho Hoà thượng Viên Minh đi lên bục giảng pháp. Thầy Viên Minh giảng rằng thực chất của việc tu tập là làm đổi khác nhận thưc và hành vi, vàn thực chất của giác ngộ là đạt được nhận thức đúng và hành vi tốt. Khi đó là đến niết bàn, con người được giải phóng khỏi khổ đau và phiền não. Thầy nói đấy là nguyên do vì sao cuộc sống với nhưng khổ đau của nó chính là trường học để con người giác ngộ .
Trong phần Q&A, đợi đến cuối giờ khi không còn ai giơ tay đặt câu hỏi, tôi mạo muội hỏi thầy Viên Minh điều làm tôi bứt rứt trong giờ giảng pháp. Câu hỏi của tôi là lòng từ bi có đóng vai trò gì trong quy trình giác ngộ hay không. Câu vấn đáp của thầy rứt khoát đến mức làm cho tôi quá bất ngờ. Thầy nói rằng nếu hiểu từ bi như lòng yêu thương thì đó là một cản trở cho quy trình giác ngộ. Yêu thương hay thù ghét đều cản trở quy trình giác ngộ. Cũng như lý trí hay tình cảm cũng cản trở sự giác ngộ .
Phải chăng yêu thương, thù ghét đều là những ảo giác do tâm tạo ra ?
Tôi cảm thấy khá suy sụp sau giờ giảng pháp, không đủ sức để đi tụng kinh nữa. Về đến cốc, tôi cố đi ngủ từ 6 giờ tối để thoát khỏi cảm xúc buồn nôn và cơn nhức đầu .
Tôi tỉnh dạy lúc hai giờ sáng với cảm xúc khoan khoái và minh mẫn lạ lùng. Kịp tắm rửa để chuẩn bị sẵn sàng tham gia buổi tụng kinh sớm lần tiên phong .
Trên đường đi xuống chùa, tôi bất chợt cảm thấy ướt ở bên đùi trái. Cái ươn ướt bỗng chốc chuyển từ đằng trước đùi ra đằng sau. Đập đập vào chân thì một chú ếch rơi ra khỏi ống quần. Nhìn chú ếch chui từ chân mình ra tạo cho tôi một sự hứng khởi đặc biệt quan trọng .
Đây là buổi sáng ở đầu cuối của khoá tu này. Sau khi ăn sáng, tôi ngồi lại Am mây tía ăn nhãn và trò chuyện với những tỳ kheo. Tôi cảm ơn họ đã đảm nhiệm tôi trong những ngày qua ở thiền viện .
Sau đó tôi quay lại cốc, quét dọn đồ vật và vệ sinh nhà cửa thật sạch. Khác với mong đợi, tôi không cảm thấy vui hay buồn khi nhìn ba trái thị đã khô héo. Biểu hiện của sự vô thường không còn tạo cho tôi cảm hứng gì đặc biệt quan trọng .

Lúc xỏ chân vào giầy chuẩn bị xuống cốc, toi thấy có cái gì như một cục đất rất to rơi vào giầy. Té ra là một con cóc cụ. Tôi tạm biệt cốc và con cóc với một niềm vui phơi phới trong lòng.

Khi đi xuống núi, tôi lẩm nhẩm lời dạy của Phật :
“ Con hãy là hải đảo của chính mình, là nơi phụ thuộc của chính mình, không có nơi lệ thuộc nào khác ” .
“ Con hãy là hải đảo của chính mình, là nơi lệ thuộc của chính mình, không có nơi lệ thuộc nào khác ” .

Source: https://evbn.org
Category: blog Leading