Tích hợp giải thích các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn hóa học lớp 9 cấp – Tài liệu text
Tích hợp giải thích các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn hóa học lớp 9 cấp THCS
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (486.82 KB, 24 trang )
Bạn đang đọc: Tích hợp giải thích các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn hóa học lớp 9 cấp – Tài liệu text
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu là giúp học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí lực, thể chất, thẫm mĩ và các kĩ năng cơ
bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo, hình thành nhân cách
con người Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân; Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với từng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học;
bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Để đạt các mục tiêu đó thì khâu đột phá là đổi mới phương pháp giáo dục
từ lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học
tích cực”. Làm cho “học” là quá trình kiến tạo: tìm tòi, khám phá, phát hiện,
khai thác và xử lí thông tin, Học sinh tự mình hình thành hiểu biết, năng lực và
phẩm chất. “Dạy” là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh: cách tự
học, sáng tạo, hợp tác, dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách
học. Học để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai giúp học sinh
nhận thức được sự cần thiết, bổ ích cho bản thân và cho sự phát triển xã hội.
Với bộ môn Hóa học, định hướng đổi mới phương pháp dạy học được coi
trọng thể hiện ở sự quan tâm, tạo mọi điều kiện để học sinh trở thành chủ thể
hoạt động sáng tạo trong giờ học, tự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng bằng nhiều
phương pháp.
– Khai thác đặc thù của bộ môn tạo ra hình thức hoạt động đa dạng.
– Đổi mới hoạt động học tập của học sinh, tăng thời gian dành cho HS
hoạt động trong giờ học
– Tăng mức độ hoạt động trí lực, chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh
như thường xuyên sử dụng tổng hợp các phương pháp dạy học, tích hợp, liên
môn.
Đổi mới phương pháp dạy học bước đầu đã đem lại hiệu quả cao về chất
lượng. Tuy nhiên việc lĩnh hội kiến thức Hoá học của học sinh là hết sức khó khăn,
vì Hóa học là một môn học mới lạ đối với HS ở THCS, mà khối lượng kiến thức
học sinh cần lĩnh hội tương đối nhiều. Phần lớn các bài gồm những khái niệm mới,
rất trừu tượng, khô cứng và khó hiểu nên học sinh dễ nhàm chán. Những học sinh
khả năng tư duy không cao có xu hướng sợ học bộ môn, đặc biệt khó khăn hơn với
học sinh của các trường thiếu thốn về cơ sở ứng dụng vào thực tiễn. Do đó, giáo
viên cần tìm ra phương pháp dạy học gây được hứng thú học tập bộ môn giúp các
em chủ động lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không gượng ép là điều cần
quan tâm.
Đối với đơn vị trường THCS Hoằng Kim về cơ sở vật chất liên quan đến bộ
môn Hóa Học đã được trang bị khá đầy đủ( có phòng Hóa thí nghiệm, máy chiếu,
dụng cụ, hóa chất…) nên là một trong những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sự yêu
1
thích của học sinh, giúp học sinh nâng cao hơn về kĩ năng vận dụng kiến thức trong
thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui và hứng thú trong các em.
Kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy Hóa học tôi nhận thấy rằng: Học sinh
thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn
có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời
sống hàng ngày. Rất nhiều kiến thức Hóa học có thể liên hệ được với các hiện
tượng tự nhiên xung quanh chúng ta, từ đó cung cấp cho học sinh một hệ thống
kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, là giáo viên bộ môn
hoá học thì cần hình thành ở các em học sinh một kỹ năng cơ bản, phổ thông, thói
quen học tập và làm việc khoa học để làm nền tảng cho việc giáo dục xã hội chủ
nghĩa, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động. Có những phẩm chất cần
thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu chân lí khoa học, có ý
thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội có thể hoà hợp với môi trường
thiên nhiên, chuẩn bị cho học sinh học lên cao và đi vào cuộc sống lao động.
Xuất phát từ những thực tế đó và một số kinh nghiệm trong giảng dạy bộ
môn Hóa học, tôi thấy để có chất lượng giáo dục bộ môn Hóa học cao tôi chọn đề
tài: “Lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn Hóa Học
lớp 9 bậc THCS”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Xây dựng hệ thống một số hiện tượng Hóa học thực tiễn cho từng bài giảng
trong chương trình Hóa học lớp 9.
Vận dụng hệ thống các hiện tượng đã xây dựng để dạy học chương trình
Hóa 9 nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi giới hạn đề tài nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Quá trình dạy học môn hóa học 9 ở trường THCS.
Các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp tích hợp môi trường, kĩ
năng vận dụng kiến thức trong học tập và liên hệ thực tiễn của bộ môn Hóa học.
3.2. Khách thể nghiên cứu:
Học sinh lớp 9A, 9B trường THCS Hoằng Kim.
3.3. Phạm vi giới hạn đề tài nghiên cứu
Các bài dạy trong chương trình Hóa học lớp 9.
4. Phương pháp nghiên cứu.
– Nghiên cứu luật giáo dục về đổi mới chương trình, phương pháp dạy học
– Nghiên cứu tại liệu về lí luận dạy học, phương pháp dạy bộ môn Hóa
– Nghiên cứu thực trạng dạy Hóa ở trường THCS Hoằng Kim
– Liên hệ hiện tượng Hóa học thực tiễn áp dụng ở một số bài dạy:
+ Nêu vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự học và thảo luận
theo nhóm học tập.
+ Giáo viên giải đáp thắc mắc, tổng kết.
2
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận.
Đối với học sinh THCS các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệp cho
tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ thích môn nào mình
học có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó. Người giáo viên
dạy Hóa học phải biết nắm tâm lý và đặc điểm lứa tuổi của học sinh, đồng thời lựa
chọn phương pháp dạy học phù hợp với thực tiễn và đời sống hàng ngày để các em
thấy môn Hóa học rất gần gũi với các em. Giáo viên phải tổ chức các hoạt động tự
lực học tập sau:
+ Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh theo hướng tích hợp
– Cho học sinh thấy được mối qua hệ hữu cơ của các bộ môn khoa học với
nhau như: Hóa, Lý, Sinh, Địa, GDCD…từ đó làm tăng khả năng tiếp thu, hiểu biết
kiến thức sâu, rộng hơn.
– Khi dạy kiến thức Hóa bất kể ở đơn vị kiến thức nào có liên quan đến môn
học khác Giáo viên cần đưa ra các câu hỏi dạng mở theo hướng tích hợp để học
sinh chủ động tìm hiểu, trả lời và thấy được mối quan hệ giữa các môn.
Ví dụ : Tại sao càng lên cao không khí càng loãng?
Kiến thức Vật lý: do lực hút của Trái Đất
Kiến thức Hóa Học: Do khí O2 nặng hơn không khí ( d O2/KK = 32/ 29) nên tập
chung ở dưới, càng lên cao thì càng tập chung các khí nhẹ hơn như H2…
– Giáo viên phải biết chọn những vấn đề quan trọng, mấu chốt để lồng ghép
các nội dung khác nhau: bảo vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe…
Đây là hướng đi mà ngành giáo dục đã và đang tiếp tục đẩy mạnh ở những
năm gần đây.
+ Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập mối liên hệ các nội
dung với thực tiễn
– Học sinh thấy hứng thú sẽ dễ dàng tiếp thu ghi nhớ bài học nếu giáo viên
có sự liên hệ giữa kiến thức SGK với thực tiễn
+ Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua tình huống giả định
bằng hiện tượng thực tế.
Nếu dạy học mà chỉ áp dụng một kiểu dạy sẽ gây nhàm chán. Vậy nên cần
áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép với nhau, trong đó giáo dục bằng hình thức
đưa ra các tình huống giả định và vấn đáp để giúp học sinh chủ động
Trong quá trình dạy học, dựa vào sự hướng dẫn của giáo viên học sinh thực
hiện các hoạt động chủ yếu theo một quy trình sau:
Thu thập thông tin: thông qua việc tự làm thí nghiệm hoặc quan sát thí
nghiệm do giáo viên biểu diễn, quan sát hiện tượng tự nhiên, đọc tài liệu, xem
tranh ảnh, ôn lại những kiến thức đã học, học sinh sẽ thu được những thông tin cần
thiết về các hiện tượng Hóa học cần học.
Xử lí thông tin: thông qua một hệ thống câu hỏi, giáo viên hướng dẫn học
sinh căn cứ vào thông tin đã thu thập để rút ra những kết luận cần thiết.
Vận dụng: Dựa vào kết luận đã rút ra từ bài học, học sinh vận dụng vào thực
tiễn để hiểu sâu bài hơn.
3
Tuy nhiên tùy thuộc vào từng bài giảng cụ thể giáo viên có thể lồng ghép
giải thích các hiện tượng trong thực tế vào bài dạy của mình cho phù hợp như:
* Lồng ghép vào phần mở bài:
Ví dụ: Trước khi vào giảng dạy bài: Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại
không bị ăn mòn, giáo viên có thể nêu vấn đề vào bài với câu hỏi sau: Tại sao
những đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt và dần dần đồ vật không
dùng được ?
* Lồng ghép trong quá trình giảng dạy:
Ví dụ: Khi dạy xong phần tính chất vật lí của axit sunfuric giáo viên có thể
cho học sinh trả lời câu hỏi:
Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể rót từ
từ axit sunfuric đậm đặc vào nước ?
Hay : lồng ghép vào tính chất hóa học, ứng dung, điều chế …các chất. Đồng
thời lồng ghép tích hợp vào nội dung bài dạy như: biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi
trường…
* Lồng ghép khi kết thúc bài học
Ví dụ: Khi giảng dạy xong bài; phân bón hóa học giáo viên có thể cho học
sinh giải thích câu ca dao sau:
“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
* Liên hệ với địa phương ( nếu có) để thấy rõ và gần gũi hơn
2. Thực trạng của vấn đề.
Khi chuẩn bị thực hiện đề tài này, học sinh còn rất mơ hồ trong việc nắm bắt
các kiến thức, việc nắm bắt kiến thức bộ môn Hóa học của các em chỉ ở mức độ
thấp đó là nắm các khái niệm, định luật… Học sinh chưa biết và vận dụng… chưa
đi sâu vào quá trình giải thích, giải quyết các vấn đề nên học sinh hay nhàm chán.
Những học sinh có khả năng tư duy không cao thì có xu hướng sợ học bộ môn này.
Đặc biệt là trường chưa có phòng thực hành bộ môn nên các tiết thực hành chỉ
dừng lại ở mức độ thí nghiệm biểu diễn của giáo viên vì vậy không tạo được mục
tiêu thúc đẩy ý thức học tập cũng như sự yêu thích bộ môn cho học sinh.
Để áp dụng đề tài vào trong giảng dạy tôi đã thực hiện một số hoạt động sau:
– Điều tra về mức độ, thái độ của học sinh về nội dung của đề tài: điều kiện
học tập của học sinh. Cho học sinh mượn tài liệu để photo và hướng dẫn học sinh
tìm hiểu.
– Xác định mục tiêu, chọn lọc các trường hợp cần nhận biết, xây dựng
nguyên tắc áp dụng cho mỗi trường hợp, lựa chọn các câu hỏi cần thiết liên quan
đến từng nội dung bài và dự đoán các tình huống có thể xảy ra khi thực hiện.
– Sưu tầm tài liệu và trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp.
3. Giải pháp, biện pháp vận dụng đề tài vào thực tiễn.
Trong quá trình thực hiện tôi đã lựa chọn những nội dung, hiện tượng trong
thực tế có liên quan đến các bài học trong chương trình Hóa học 9 và phân bố
chúng vào cụ thể từng bài học như sau:
Chương I: CÁC LOẠI HỢP CHẤT VÔ CƠ .
4
Bài 1: Tính chất hóa học của Oxit, khái quát về sự phân loại oxit.
Ví dụ 1: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ? ( Trích tài
liệu [5] )
Giải thích: – Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô
tô, xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và
hơi nước trong không khí nhờ xúc tác là các oxit kim loại (có trong khói, bụi nhà
máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3.
2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
2NO + O2 → 2NO2
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Trong đó H2SO4 là
nguyên nhân chính gây ra mưa axit.
– Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới. Mưa
axit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm
từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
Áp dụng: Nêu vấn đề khi vào học bài mới.
Bài 2: Một số oxit quan trọng
Ví dụ 1: Tại sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bốc lên mù mịt,
nước vôi như bị sôi lên và nhiệt độ hố vôi rất cao có thể gây nguy hiểm cho tính
mạng của người và động vật. Do đó cần tránh xa hố đang tôi vôi hoặc sau khi tôi
vôi ít nhất 2 ngày ? ( Trích tài liệu [1] )
Giải thích: Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng tạo thành canxi hiđroxit:
5
CaO + H2O → Ca(OH)2
Phản ứng này tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đem theo
cả những hạt Ca(OH)2 rất nhỏ tạo thành như khói mù trắng. Do nhiệt tỏa ra nhiều
nên nhiệt độ của hố vôi rất cao. Do đó người và động vật cần tránh xa hố vôi
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài
Bài 3: Tính chất hóa học của axit.
Ví dụ 1: Vì sao nước rau muống đang xanh khi vắt chanh vào thì chuyển
sang màu đỏ ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Có một số chất hóa học gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho
màu của dung dịch thay đổi khi độ pH của dung dịch thay đổi. Trong rau muống
(và vài loại rau khác) có chất chỉ thị màu này, trong chanh có 7% axit xitric. Vắt
chanh vào nước rau làm dung dịch có tính axit, do đó làm thay đổi màu của nước
rau. Khi chưa vắt chanh nước rau muống màu xanh là chứa chất kiềm.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa
học của axit khi tác dụng với chất chỉ thị màu.
Ví dụ 2: Vì sao khi ăn trái cây không nên đánh răng ngay ?
( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Vì chất chua (tức axit hữu cơ) có trong trái cây sẽ kết hợp với
những thành phần trong thuốc đánh răng theo bàn chảy sẽ tấn công các kẽ răng
và gây tổn thương cho lợi. Bởi vậy người ta đợi đến khi nước bọt trung hòa
lượng axit trong trái cây nhất là táo, cam, nho, chanh…
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất
hóa học của axit khi tác dụng với bazơ tạo phản ứng trung hòa
Bài 4: Một số axit quan trọng.
Ví dụ 1: Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể
rót từ từ axit sunfuric đậm đặc vào nước ? ( Trích tài liệu [1] )
Giải thích: Khi axit sunfuric tan vào nước sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn.
Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn trong nước. Nếu bạn cho nước vào
axit, nước sẽ nổi trên bề mặt axit. Tại vị trí nước tiếp xúc với axit nhiệt độ cao làm
cho nước sôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm.
Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là “ phải
rót từ từ ” axit vào nước và không nên pha trong các bình thủy tinh. Bởi vì thủy
tinh sẽ dễ vở khi tăng nhiệt độ khi pha.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời về cách pha
loãng axit H2SO4 khi dạy phần tính chất vật lí của axit sunfuric đặc.
Bài 7: Tính chất hóa học của bazơ.
Ví dụ 1: Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau?
Giải thích: Do trong nọc của ong, kiến, nhện (và một số côn trùng khác) có
axit hữu cơ tên là axit formic (HCOOH). Vôi là chất bazơ nên trung hòa axit làm ta
đỡ đau.
(Trích tài liệu [4] )
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa
học của bazơ
Bài 8: Một số Bazơ quan trọng.
6
Ví dụ 1: Tại sao khi quét vôi tôi lên tường thì lát sau vôi khô và cứng lại ?
Giải thích: Vôi là canxi hiđroxit, là chất tan ít trong nước nên khi cho
nước vào tạo dung dịch trắng đục, khi tô lên tường thì Ca(OH)2 nhanh chóng
khô và cứng lại vì tác dụng với CO2 trong không khí theo phương trình:
Ca(OH)2 + CO2 → CaCO3 ↓ + H2O
( Trích tài liệu [1] )
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa
học của canxi hiđroxit.
Ví dụ 2: Tại sao ăn trầu phải có đủ cau, trầu và vôi, nhất là không thể
thiếu vôi ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Trong lá trầu có chứa tinh dầu, trong hạt cau có chứa một chất
gọi là arecolin, chất này có tính độc. Không có vôi miếng trầu không thể chuyển
sang màu đỏ, vôi là chất kiềm khi tác dụng với arecolin làm chất này chuyển
thành arecaidin không độc mà có tác dụng gây hưng phấn, ấm áp làm cho da mặt
hồng hào, môi đỏ thắm, chống cảm cúm, diệt khuẩn làm sạch miệng, làm chặt
chân răng.
Áp dụng: Có thể đặt câu hỏi trên cho phần tích hợp bảo vệ sức khỏe .
Bài 9: Tính chất hóa học của muối.
Ví dụ 1: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lại có lớp cặn ở dưới
đáy ấm? Cách tẩy lớp cặn này? ( Trích tài liệu [5] )
Giải thích: Trong tự nhiên nước ở một số vùng là nước cứng tạm thời, là
nước có chứa muối Ca(HCO3)2, Mg(HCO3)2. Khi nấu sôi sẽ xảy ra phản ứng hoá
t
học :
Ca(HCO3)2 → CaCO3 + CO2 + H2O
t
Mg(HCO3)2 → MgCO3 + CO2 + H2O
CaCO3, MgCO3 sinh ra đóng cặn. Cách tẩy cặn ở ấm: Cho vào ấm 1 lượng dấm
(CH3COOH 5%) và rượu, đun sôi rồi để nguội qua đêm thì tạo thành 1 lớp cháo
đặc chỉ hớt ra và lau mạnh là sạch.
0
0
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Ví dụ 2: Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?
( Trích tài liệu [3] )
Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người có nồng
độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO 3 dùng để chế thuốc đau dạ
dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng:
7
NaHCO3 + HCl
NaCl + H2O + CO2
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Bài 10: Một số muối quan trọng.
Ví dụ 1: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn
(NaCl)? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Do nhiệt độ sôi của nước ở áp suất 1at là 100 oC, nếu ta thêm
NaCl thì lúc đó làm cho nhiệt độ của nước muối khi sôi (dung dịch NaCl loãng) là
> 100oC. Do nhiệt độ sôi của nước muối cao hơn của nước nên rau chín nhanh hơn,
thời gian luộc rau không lâu nên rau ít mất vitamin. Vì vậy khi đó rau muống sẽ
mềm hơn và xanh hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Ví dụ 2: Tại sao phải ăn muối iot ? ( Trích từ tài liệu [5] )
Giải thích: Trong cơ thể con người có tồn tại một lượng iot tập trung ở
tuyến giáp trạng. Ở người trưởng thành lượng iot này khoảng 20-50mg. Hàng
ngày ta phải bổ sung lượng iot cần thiết cho cơ thể bằng cách ăn muối iot. Iôt có
trong muối ăn dạng KI và KIO3. Nếu lượng iot không cung cấp đủ thì sẽ dẫn đến
tuyến giáp trạng sưng to thành bướu cổ, nặng hơn là đần độn, vô sinh và các
chứng bệnh khác.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi khi kết thúc bài nhằm giúp cho học
sinh hiểu được ích lợi của việc ăn muối iot và tuyên truyền cho cộng đồng.
Bài 11: Phân bón hóa học.
Ví dụ 1: Vì sao người ta dùng tro bếp để bón cho cây ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Trong tro bếp có chứa muối K2CO3, cung cấp nguyên tố K
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Ví dụ 2: Cao dao Việt Nam có câu:
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Câu này mang hàm ý của khoa học hoá học như thế nào?(Trích tài liệu [1] )
Giải thích: Câu ca dao nhắc nhở người làm lúa:
Vụ chiêm khi lúa đang trổ đòng đòng mà có trận mưa rào, kèm theo sấm
chớp thì sẽ rất tốt và cho năng suất cao sau này.
Do trong không khí có ~ 80% khí N2 và ~ 20% khí O2, khi có chớp (tia lửa
điện) sẽ tạo điều kiện cho N2 hoạt động:
N2 + O2 Tia lửa điện 2 NO
Sau đó:
2NO + O2
2NO2
Khí NO2 sẽ tan trong nước mưa:
NO2 + H2O + O2
+
HNO3
+
HNO3
H + NO3
Nhờ hiện tượng này, hàng năm làm tăng 6−7 kg N cho mỗi mẫu đất.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Bài 12: Mối liên hệ giữa các hợp chất vô cơ.
8
Ví dụ 1: Tại sao để cải tạo đất ở một số ruộng chua người ta thường bón
bột vôi ? ( Trích tài liệu [5] )
Giải thích: Thành phần của bột vôi gồm CaO và Ca(OH) 2 và một số ít
CaCO3. Ở ruộng chua có chứa axit, pH < 7, nên sẽ có phản ứng giữa axit với CaO,
Ca(OH)2 và một ít CaCO3 làm giảm tính axit nên ruộng sẽ hết chua.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Chương II: KIM LOẠI
Bài 15: Tính chất vật lí của kim loại.
Ví dụ 1: Vì sao nhôm lại được sử dụng làm dây dẫn điện cao thế? Còn đồng
lại được sử dụng làm dây dẫn điện trong nhà?
( Trích tài liệu [5] )
Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng riêng của nhôm là
2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là 8,96g/cm3) Do đó, nếu như
dùng đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây các cột điện sao cho
chịu được trọng lực của dây điện. Việc làm đó không có lợi về mặt kinh tế. Còn
trong nhà thì việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh hưởng lớn lắm.Vì vậy
ở trong nhà thì ta dùng dây đẫn điện bằng đồng.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần tính dẫn điện của kim
loại.
Bài 16: Tính chất hóa học của kim loại.
Ví dụ 1: Tại sao khi đánh rơi vỡ nhiệt kế thủy ngân thì không được dùng
chổi quét mà nên rắc bột S lên trên? ( Trích tài liệu [4] )
Thủy ngân (Hg) là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là một
chất độc. Vì vậy khi làm rơi vỡ nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì
thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi và làm cho quá trình thu
gom khó khăn hơn. Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể
tác dụng với thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi.
Hg + S
HgS
Quá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Ví dụ 2: Vì sao ta hay dùng bạc để “đánh gió” khi bị bệnh cảm ?
9
Giải thích: Khi bị bệnh cảm, trong cơ thể con người sẽ tích tụ một lượng
khí H2S tương đối cao. Chính lượng H2S sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi. Khi ta dùng
Ag để đánh gió thì Ag sẽ tác dụng với khí H 2S. Do đó, lượng H2S trong cơ thể
giảm và dần sẽ hết bệnh. Miếng Ag sau khi đánh gió sẽ có màu đen xám:
4Ag + 2H2S + O2→ 2Ag2S↓(đen) + 2H2O
( Trích tài liệu [4] )
Áp dụng: Hiện tượng “đánh gió” đã được ông bà ta sử dụng từ rất xa xưa
cho đến tận bây giờ để chữa bệnh cảm. Cách làm này rất có cơ sở khoa học mà
mọi người cần phải biết. Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài
học
Bài 16: Dãy hoạt động hóa học của Kim loại.
Ví dụ 1: Tại sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại: K, Na, Mg
bằng khí CO2 ? ( Trích tài liệu [3] )
Giải thích: Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được
trong khí CO2
Mg + CO2
MgO + C
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần xây dựng dãy hoạt
động hóa học.
Bài 17: Sắt.
Ví dụ 1: Tại sao những đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt và
dần dần đồ vật không dùng được ? ( Trích tài liệu [3] )
Giải thích: Khi tiếp xúc với không khí ẩm có oxi, hơi nước …. sắt bị oxi hóa
theo các phản ứng sau: 2Fe + O2 + 2H2O Không khí ẩm 2Fe(OH)2
4Fe(OH)2 + O2 + 2H2O →
4Fe(OH)3
Fe(OH)3 bị loại nước dần tạo thành Fe2O3 theo thời gian. Vì gỉ sắt
Fe2O3.nH2O xốp nên quá trình ăn mòn tiếp diễn vào lớp bên trong đến khi toàn bộ
khối kim loại đều gỉ. Gỉ sắt không còn tính cứng, ánh kim, dẻo của sắt mà xốp,
giòn nên làm đồ vật bị hỏng.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài.
Bài 18: Nhôm.
Ví dụ 1: Giải thích hiện tượng:“Một nồi nhôm mới mua về sáng lấp lánh
bạc, chỉ cần dùng nấu nước sôi, bên trong nồi nhôm, chỗ có nước biến thành màu
xám đen ?” ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Mới xem thì có vẻ lạ vì nồi nhôm mới, ngoài nước ra thì
không tiếp xúc với gì khác, chẳng lẽ nước lại làm cho nồi đen ? Bình thường
10
trông bên ngoài nước không có vấn đề gì, thực tế trong nước có hòa tan nhiều
chất, thường gặp nhất là các muối canxi, magiê và sắt. Các nguồn nước có thể
chứa lượng muối sắt ít nhiều khác nhau, loại nước chứa nhiều sắt “ là thủ phạm”
làm cho nồi nhôm có màu đen. Vì nhôm có tính khử mạnh hơn sắt nên nhôm sẽ
đẩy sắt ra khỏi muối của nó và thay thế ion sắt, còn ion sắt bị khử sẽ bám vào bề
mặt nhôm, nồi nhôm sẽ bị đen: Để hoàn thành được điều trên phải có 3 điều
kiện: Lượng muối sắt trong nước phải đủ lớn; Thời gian đun sôi phải đủ lâu; Nồi
nhôm phải là nồi mới
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu hiện tượng trên để dẫn nhập vào bài
Ví dụ 2: Giải thích câu: “ Anh đừng bắc bậc làm cao
Phèn chua em đánh nước nào cũng trong”.
Giải thích: K2SO4.Al2(SO4)3. 24H2O. Do khi đánh phèn trong nước phèn
tan ra tạo kết tủa Al(OH)3, chính kết tủa keo này đã dính kết các hạt đất nhỏ lơ
lửng trong nước đục thành các hạt đất to hơn, nặng và chìm xuống làm nước
trong. Phèn chua rất có ích cho việc xử lí nước đục ở các vùng lũ để có nước
trong dùng cho tắm, giặc. Vì cục phèn chua trong và sáng cho nên đông y còn
gọi là minh phàn ( minh là trong trắng, phàn là phèn).
(Trích tài liệu [4] )
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong
Bài 20: Hợp kim sắt Gang, Thép.
Ví dụ 1: Chảo, môi, dao đều được làm từ sắt. Vì sao chảo lại giòn ? môi
lại dẻo ? còn dao lại sắc ?
Giải thích: Chảo xào rau, môi và dao đều làm từ sắt. Thế nhưng loại sắt
để chế tạo chúng lại không giống nhau. Sắt dùng để làm chảo là “gang”. Gang
có tính chất là rất gịn. Trong công nghiệp, người ta nấu chảy lỏng gang để đổ
vào khuôn, gọi là “đúc gang”. Môi múc canh được chế tạo bằng “thép non”.
Thép non không gịn như gang. Người ta thường dùng búa để rèn, biến thép
thành các đồ vật có hh́nh dạng khác nhau. Dao thái rau không chế tạo từ thép non
mà bằng “thép”. Thép vừa dẻo vừa dát mỏng được, có thể rèn, cắt gọt nên rất
sắc.
Áp dụng: Vấn đề từ sắt có thể điều chế những vật dụng có chức năng
khác nhau được sử dụng rất rộng rãi trong cuộc sống. Giải thích được điều này
đòi hỏi học sinh phải biết được tính chất của sắt cũng như hợp kim của nó. Giáo
viên có thể đặt câu hỏi này vào bài bài bài
Ví dụ 2: Xung quanh các nhà máy sản xuất gang, thép, phân lân, gạch
ngói,…cây cối thường ít xanh tươi, nguồn nước bị ô nhiễm. Điều đó giải thích
như thế nào ?
Giải thích: Việc gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí là do
nguồn chất thải dưới dạng khí thải, nước thải, chất rắn thải…
– Những chất thải này có thể dưới dạng khí độc như: SO 2, H2S, CO2, CO,
HCl, Cl2…có thể tác dụng trực tiếp hoặc là nguyên nhân gây mưa axit làm hại
cho cây.
– Nguồn nước thải có chứa kim loại nặng, các gốc nitrat, clorua, sunfat…
sẽ có hại đối với sinh vật sống trong nước và thực vật.
11
– Những chất thải rắn như xỉ than và một số chất hóa học sẽ làm cho đất bị
ô nhiễm, không thuận lợi cho sự phát triển của cây. Do đó để bảo vệ môi trường
các nhà máy cần được xậy dựng theo chu trình khép kín, đảm bảo khử được
phần lớn chất độc hại trước khi thải ra môi trường.
Áp dụng: giáo viên có thể đặt câu hỏi này khi dạy xong phần sản xuất
gang, thép để tích hợp bảo vệ môi trường, giúp học sinh ý thức được việc bảo vệ
môi trường.
Bài 21: Ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại không bị ăn mòn.
Ví dụ1: Vì sao ở các cơ sở đóng tàu thường gắn một miếng kim loại Kẽm
Zn ở phía sau đuôi tàu ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Thân tàu biển được chế tạo bằng gang thép. Gang thép là hợp
kim của sắt, cacbon và một số nguyên tố khác. Đi lại trên biển, thân tàu tiếp xúc
thường xuyên với nước biển là dung dịch chất điện li nên sắt bị ăn mòn, gây hư
hỏng. Để bảo vệ thân tàu thường áp dụng biện pháp sơn nhằm không cho gang
thép của thân tàu tiếp xúc trực tiếp với nước biển. Nhưng ở phía đuôi tàu, do tác
động của chân vịt, nước bị khuấy động mãnh liệt nên biện pháp sơn là chưa đủ.
Do đó mà phải gắn tấm kẽm vào đuôi tàu. Khi đó sẽ xảy ra quá trình ăn mòn
điện hóa. Kẽm là kim loại hoạt động hơn sắt nên bị ăn mòn, còn sắt thì không bị
mất mát gì. Sau một thời gian miếng kẽm bị ăn mòn thì sẽ được thay thế theo
định kỳ. Việc này vừa đở tốn kém hơn nhiều so với sửa chữa thân tàu.
Áp dụng: giáo viên có thể đặt câu hỏi này khi dạy Phương pháp chống ăn
mòn kim loại.
Chương III: PHI KIM
Bài 25: Tính chất của phi kim.
Ví dụ 1: “Ma trơi” là gì ? Ma trơi thường xuất hiện ở đâu ?
Giải thích: Trong xương của động vật luôn có chứa một hàm lượng
photpho. Khi cơ thể động vật chết đi, nó sẽ phân hủy một phần thành photphin PH3
và lẫn một ít điphotphin P2H4. Photphin không tự bốc cháy ở nhiệt độ thường. Khi
đun nóng đến 150oC thì nó mới cháy được. Còn điphotphin P 2H4 thì tự bốc cháy
trong không khí và tỏa nhiệt. Chính lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình này làm cho
photphin bốc cháy:
2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O
Quá trình trên xảy ra cả ngày lẫn đêm nhưng do ban ngày có các tia sáng của
mặt trời nên ta không quan sát rõ như vào ban đêm.
Hiện tượng ma trơi chỉ là một quá tŕnh hóa học xảy ra trong tự nhiên.
Thường gặp ma trơi ở các nghĩa địa vào ban đêm.
( Trích tài liệu [5] )
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Bài 26: Clo.
Ví dụ 1: Tại sao nước máy thường dùng ở các thành phố lại có mùi khí
clo ?
Giải thích: Trong hệ thống nước máy ở thành phố, người ta cho vào một
lượng nhỏ khí clo vào để có tác dụng diệt khuẩn. Một phần khí clo gây mùi và một
phần tác dụng với nước:
Cl2 + H2O
HCl + HClO
12
Axit hipoclorơ (HClO) sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh nên có tác dụng khử
trùng, sát khuẩn nước. Phản ứng thuận nghịch nên clo rất dễ sinh ra do đó khi ta sử
dụng
nước
ngửi
được
mùi
clo.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Bài 27: Cacbon.
Ví dụ 1: Vì sao than chất thành đống lớn có thể tự bốc cháy ?
Giải thích: Do than tác dụng chậm với O2 trong không khí tạo CO2, phản
ứng này tỏa nhiệt. Nếu than chất thành đống lớn phản ứng này diễn ra nhiều, nhiệt
tỏa ra được tích góp dần khi đạt tới nhiệt độ cháy của than thì than sẽ tự bốc cháy.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Ví dụ 2: Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫu
than củi ?
Giải thích: Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ hơi khét của cơm
làm cho cơm đỡ mùi khê.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần tính hấp phụ của
cacbon.
Bài 28: Các oxit của cacbon.
Ví dụ 1: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra?
Giải thích: Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm
khí cacbonic CO2. Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để
ép CO2 hòa tan vào nước. Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại
Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO2 lập tức bay vào không
khí. Vì vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi. Về mùa hè người ta
thường thích uống nước ngọt ướp lạnh. Khi ta uống nước ngọt vào dạ dày, dạ dày
và ruột không hề hấp thụ khí CO 2. Ở trong dạ dày nhiệt độ cao nên CO 2 nhanh
chóng theo đường miệng thoát ra ngoài, nhờ vậy nó mang đi bớt một nhiệt lượng
trong cơ thể làm cho người ta có cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Ngoài ra CO2 có tác
dụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng cường việc tiết dịch vị, giúp nhiều cho tiêu
hóa.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Ví dụ 2: Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc, khí CO hoặc không có
oxi, để tránh khi xuống giếng bị chết ngạt ?
13
Xem thêm: Hoàng Duy Hùng – Wikipedia tiếng Việt
Giải thích: Trong các giếng sâu ở một số vùng đồng bằng thường có nhiều
khí độc CO và CH4 và thiếu oxi. Vì một lí do nào đó mà ta xuống giếng thì rất nguy
hiểm. Đã có rất nhiều trường hợp tử vong do trèo xuống giếng gặp nhiều khí độc và
chết ngạt do thiếu oxi. Điều tốt nhất là tránh phải xuống giếng, nếu có xuống thì
nên mang theo bình thở oxi. Trước khi xuống giếng cần thử xem trong giếng có
nhiều khí độc hay không bằng cách cột một con vật như gà, vịt rồi thả xuống giếng.
Nếu gà, vịt chết thì chứng tỏ dưới giếng có nhiều khí độc.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố phần cacboxit.
Ví dụ 3: “Hiệu ứng nhà kính” là gì? ( Trích tài liệu [5] )
Giải thích: Khí cacbonic CO2 trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những
tia hồng ngoại (tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có
bước sóng từ 50000 đến 100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những
bức xạ nhiệt phát ra ngược lại từ mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO 2
hấp thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất làm cho Trái Đất ấm lên. Theo tính toán
của các nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO 2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi
so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 40C. Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp
CO2 ở trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh của các nhà kính dùng để
trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện tượng làm cho Trái Đất ấm lên bởi
khí CO2 được gọi là hiệu ứng nhà kính.
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề
có ảnh hưởng mang tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được
nguyên nhân và tác hại của hiệu ứng nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường.
Bài 29: Axit cacbonic và muối cacbonat.
Ví dụ 1: Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ với những hình dạng
phong phú đa dạng được hình thành như thế nào ? ( Trích tài liệu [2] )
Giải thích: Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO3. Khi trời
mưa trong không khí có CO2 tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi.
Những giọt mưa rơi xuống sẽ bào mòn đá theo phương trình:
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
Theo thời gian tạo thành các hang động. Khi nước có chứa Ca(HCO 3)2 ở đá thay
đổi về nhiệt độ và áp suất nên khi giọt nước nhỏ từ từ có cân bằng:
Ca(HCO3)2 → CaCO3 + CO2 ↑ + H2O
Như vậy lớp CaCO3 dần dần lưu lại ngày càng nhiều, dày tạo thành những
hình thù đa dạng
14
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Ví dụ 2: Câu tục ngữ: “ Nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa hóa học gì?
( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Thành phần chủ yếu của đá là CaCO 3. Trong không khí có khí
CO2 nên nước hòa tan một phần tạo thành axit H 2CO3. Do đó xảy ra phản ứng hóa
học :
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
Khi nước chảy cuốn theo Ca(HCO 3)2, theo nguyên lí dịch chuyển cân bằng
thì cân bằng sẽ chuyển dịch theo phía phải. Kết quả là sau một thời gian nước đã
làm
cho
đá
bị
bào
mòn
dần.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Bài 30: Silic. Công nghiệp silicat.
Ví dụ 1: Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh ?
Giải thích: Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng
chảy, nhấc ra cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi,
rồi nhỏ dung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chổ lớp sáp bị cào đi :
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H2SO4 đặc và bột CaF2.
Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF2 vào chổ cần khắc, sau đó cho thêm
H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chổ cần khắc. Sau một thời gian, thủy
tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp.
CaF2 + 2H2SO4 → CaSO4 + 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)
Sau đó SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Ví dụ 2: Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ?
Giải thích: Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng
đặc biệt là ăn mòn thủy tinh. Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxit
SiO2 nên khi cho dung dịch HF và thì có phản ứng xảy ra:
SiO2 + 4HF→ SiF4↑ + 2H2O
Áp dụng: Học sinh biết giải thích và vận dụng trong thực tiễn tránh việc
dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF. Giáo viên có thể hỏi học sinh sau khi
dạy xong bài
Chương IV: Hi đrô các bon. Nhiên liêu
Bài 36: Metan.
Ví dụ 1: Vì sao có khí metan thoát ra từ ruộng lúa hoặc các ao (hồ)?
15
Giải thích: Trong ruộng lúa, ao (hồ) thường chứa các vật thể hữu cơ. Khi
các vật thể hữu cơ phân hủy trong điều kiện không có oxi sinh ra khí metan.
Lợi dụng hiện tượng này người ta đã làm các hầm biogas trong chăn nuôi
heo tạo khí metan để sử dụng đun nấu hay chạy máy …
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Bài 37: Etilen.
Ví dụ 1: Làm cách nào để quả mau chín ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Từ lâu người ta đã biết xếp một số quả chín vào giữa sọt quả
xanh thì toàn bộ sọt quả xanh sẽ nhanh chóng chín đều. Bí mật của hiện tượng này
đã được các nhà khoa học phát hiện khi nghiên cứu quá trình chín của trái cây.
Trong quá trình chín trái cây đã thoát ra một lượng nhỏ khí etilen. Khí này sinh ra
có tác dụng xúc tác quá trình hô hấp của tế bào trái cây và làm cho quả mau chín.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. trong phần
ứng dụng của etilen
Bài 38: Axetilen.
Ví dụ 1: Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết ?
Giải thích: Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua CaC2, khi tác dụng
với nước sinh ra khí axetilen và canxi hiđroxit:
CaC2 + 2H2O → C2H2 + Ca(OH)2
Axetilen có thể tác dụng với nước tạo ra anđehit axetic, chính chất này làm
tổn thương đến hoạt động hô hấp của cá vì vậy có thể làm cá chết
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Bài 40: Dầu mỏ và khí thiên nhiên.
Ví dụ 1: Vì sao ngày nay không dùng xăng pha chì ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Xăng pha chì có nghĩa là trong xăng có pha thêm một ít
Tetraetyl chì (C2H5)4Pb, có tác dụng làm tăng khả năng chịu nén của nhiên liệu dẫn
đến tiết kiệm khoảng 30% lượng xăng sử dụng. Nhưng khi cháy trong động cơ thì
chì oxit sinh ra sẽ bám vào các ống xả, thành xilanh, nên thực tế còn trộn vào xăng
chất 1,2 – đibrometan CH2Br – CH2Br để chì oxit chuyển thành muối PbBr2 dễ bay
hơi thoát ra khỏi xilanh, ống xả và thải vào không khí gây ô nhiễm môi trường và
ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người. Từ những điều gây hại trên mà
hiện nay ở nước ta không còn dùng xăng pha chì nữa.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi giảng xăng dầu ở Việt Nam.
Bài 41: Nhiên liệu.
Ví dụ 1: Vì sao đốt xăng, cồn thì cháy hết sạch, còn khi đốt gỗ, than đá
lại còn tro? (Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Bởi vì so với gỗ và than đá thì xăng và cồn là những hợp chất
hữu cơ có độ thuần khiết cao. Khi đốt xăng và cồn chúng sẽ cháy hoàn toàn tạo
thành CO2 và hơi H2O, tất cả chúng đều bay vào không khí. Xăng tuy là hỗn hợp
nhiều hiđrocacbon, nhưng chúng là những chất dễ cháy. Vì vậy cho dù ở trạng
thái hỗn hợp nhưng khi đốt đều cháy hết.
Với than đá và gỗ thì lại khác. Cả hai vật liệu đều có những thành phần
rất phức tạp. Những thành phần của chúng như xenlulozơ, bán xenlulozơ, gỗ,
16
nhựa là những hợp chất hữu cơ dễ cháy và có thể “cháy hết”. Nhưng gỗ thường
dùng còn có các khoáng vật. Những khoáng vật này đều không cháy được. Vì
vậy sau khi đốt cháy gỗ sẽ còn lại và tạo thành tro.
Than đá cũng vậy, trong thành phần than đá ngoài cacbon và các hợp chất
hữu cơ phức tạp còn có các khoáng là các muối silicat. Nên so với gỗ khi đốt
cháy than còn cho nhiều tro hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu vấn đề trên sau khi dạy xong .
Chương V: DẪN XUẤT CỦA HI ĐRÔ CÁC BON. POLIME
Bài 44: Rượu Etylic.
Ví dụ 1: Tại sao rượu giả có thể gây chết người ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Để thu được nhiều rượu (rượu etylic) người ta thêm nước vào
pha loãng ra những vì vậy rượu nhạt đi người uống không thích. Nên họ pha thêm
một ít rượu metylic làm nồng độ rượu tăng lên. Chính rượu metylic gây ngộ độc,
nó tác động vào hệ thần kinh và nhãn cầu, làm rối loạn chức năng đồng hóa của cơ
thể gây nên sự nhiễm độc.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Ví dụ 2: Vì sao cồn có khả năng sát khuẩn ? ( Trích tài liệu [2] )
Giải thích: Cồn là dung dịch rượu etylic (C 2H5OH) có khả năng thẩm thấu
cao, có thể xuyên qua màng tế bào đi sâu vào bên trong gây đông tụ protein làm
cho tế bào chết. Thực tế là cồn 75o có khả năng sát trùng là cao nhất. Nếu cồn lớn
hơn 75o thì nồng độ cồn quá cao làm cho protein trên bề mặt vi khuẩn đông cứng
nhanh hình thành lớp vỏ cứng ngăn không cho cồn thấm vào bên trong nên vi
khuẩn không chết. Nếu nồng độ nhỏ hơn 75o thì hiệu quả sát trùng kém.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài.
Ví dụ 3: Tại sao dụng cụ phân tích rượu có thể phát hiện các lái xe đã
uống rượu ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu
etylic. Đặc tính của rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể
tác dụng với rượu nhưng người chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO 3.
Đây là một chất oxi hóa rất mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màu
vàng da cam. Bột oxit CrO3 khi gặp rượu etylic sẽ bị khử thành oxit Cr 2O3 là
một hợp chất có màu xanh đen.
Các cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có
chứa CrO3. Khi tài xế hà hơi thở vào dụng cụ phân tích trên, nếu trong hơi thở
có chứa hơi rượu thì hơi rượu sẽ tác dụng với CrO 3 và biến thành Cr2O3 có màu
xanh đen. Dựa vào sự biến đổi màu sắc mà dụng cụ phân tích sẽ thông báo cho
cảnh sát biết được mức độ uống rượu của tài xế.
Áp dụng: Tai nạn giao thông luôn là nổi ám ảnh của mọi người. Một
trong những nguyên nhân chính xảy ra tai nạn giao thông chính là rượu. Nhằm
giúp cho học sinh thêm hiểu biết về cách nhận biết rượu trong cơ thể một cách
nhanh và chính xác của cảnh sát giao thông .
Bài 45: Axit axetic
Ví dụ 1: Vì sao ăn sắn hay măng đôi khi bị độc ?(Trích tài liệu [4] )
17
Giải thích: Trong sắn và măng có chứa nhiều xianhiđric (HCN).
Xianhiđric là chất khí có mùi hạnh nhân, có vị đắng và rất độc. Trong tự nhiên
thường gặp ở một số thực vật như hạt đào, hạt mận, củ sắn, măng tươi
Sắn luộc hay măng luộc hoặc xào nấu có vị đắng là chứa nhiều
xianhiđric có nguy cơ bị ngộ độc. Khi luộc sắn cần mở vung để xianhiđric bay
hơi. Sắn đã phơi khô giã thành bột để làm bánh mì thì ăn không bao giờ bị ngộ
độc vì khi phơi khô xianhiđric đã bay hơi hết.
Ví dụ 2: Ngày nay người ta có xu hướng dùng giấy để bảo quản các
loại thực phẩm. Tại sao giấy có khả năng này ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Các nhà nghiên cứu đã phát hiện khi phủ bên trong các hộp
giấy một lớp mỏng dung dịch axit socbic thì thời gian bảo quản thực phẩm tăng
lên rất nhiều. Thí dụ: nếu sữa chua đựng trong hộp này và giữ trong tủ lạnh thì
sau 40 ngày vẫn không thấy men phát hiện đáng kể.
Áp dụng: Giáo viên có thể dùng các hiện tượng này mở rộng về một số
axit hữu cơ.
Bài 47: Chất Béo
Ví dụ 1: Vì sao trong một ngày hoa phù dung có thể đổi màu tới 3 lần ?
Giải thích: Hoa phù dung đổi màu 3 lần trong ngày. Buổi sáng màu
trắng, buổi trưa màu phớt hồng, buổi chiều màu hồng đậm hơn.
Loài hoa, trước sau chỉ biến đổi thay nhau giữa các màu trắng, hồng,
vàng, da cam, đỏ.
Đó là sự thay đổi của chất caroten có trong thực vật. Caroten là một loại
sắc tố thường thấy trong mọi đóa hoa. Trong sữa động vật, trong chất béo cũng
có sắc tố này nhưng nhiều hơn cả là trong của cà rốt ( chất màu vàng da cam).
Caroten là một hiđrocacbon có công thức phân tử C40H56.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thường gặp trong tự nhiên.
Bài 50: Glucozơ.
Ví dụ 1: Vì sao ăn đường glucozơ lại cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh ?
( Trích tài liệu [3] )
Giải thích: Vì glucozơ tạo một dung dịch đường trên lưỡi, sự phân bố các
phân tử đường trong quá trình hòa tan là quá trình thu nhiệt, do đó ta cảm thấy đầu
lưỡi mát lạnh.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố phần tính chất vật lí.
Bài 51: Saccarozo
Ví dụ 1: Các con số ghi trên chai bia như 12 0, 140 có ý nghĩa như thế
nào? Có giống với độ rượu hay không ? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Trên thị trường có bày bán nhiều loại bia đóng chai. Trên
chai có nhãn ghi 120, 140. Có người hiểu đó là số biểu thị hàm lượng rượu tinh
khiết của bia. Thực ra hiểu như vậy là không đúng. Số ghi trên chai bia không
biểu thị lượng rượu tinh khiết ( độ rượu) mà biểu thị độ đường trong bia.
18
Áp dụng: Đây là vấn đề mà mọi người rất thường nhầm giữa độ rượu và
độ đường về những con số ghi trên những chai bia. Giáo viên đặt câu hỏi trên
sau khi dạy xong bài .
Bài 52: Tinh bột và Xenlulozơ.
Vdụ 1: Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt? ( Trích tài liệu [3] )
Giải thích: Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước
bọt của người có các enzim. Khi nhai kỹ trộn đều, tuyến nước bọt làm tăng cơ hội
chuyển hoá một lượng tinh bột theo phản ứng thuỷ phân thành mantozơ, glucozơ
gây ngọt theo sơ đồ:
amilaza. H O
mantaza. H O
→ C12H22O11
→ C6H12O6
(C6H10O5)n
2
2
(Tinh bột)
(Mantozơ)
(Glucozơ)
Áp dụng: Có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố phần phản ứng thủy phân.
Bài 53: Protein.
Ví dụ 1: Giải thích vì sao khi nấu canh cua thì có gạch cua nổi lên? Khi nấu
trứng thì lòng trắng trứng kết tủa lại? ( Trích tài liệu [4] )
Giải thích: Vì trong những trường hợp đó có xảy ra sự kết tủa protit bằng
nhiệt, gọi là sự đông tụ. Một số protit tan trong nước tạo thành dung dịch keo, khi
đun nóng sẽ bị kết tủa.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố phần sự đông tụ.
Bài 54: Polime.
Ví dụ: Vì sao “chảo không dính” khi chiên, rán thức ăn lại không bị dính
chảo?
Giải thích: Nếu dùng chảo bằng gang, nhôm thường để chiên cá, trứng
không khéo sẽ bị dính chảo. Nhưng nếu dùng chảo không dính thì thức ăn sẽ
không dính chảo. Thực ra mặt trong của chảo không dính người ta có trải một
lớp hợp chất cao phân tử. Đó là politetra floetylen được tôn vinh là “vua chất
dẻo” thường gọi là “teflon”. Politetra floetilen chỉ chứa 2 nguyên tố C và F nên
liên kết với nhau rất bền chắc.
Khi cho teflon vào axit vô cơ hay axit H2SO4 đậm đặc, nước cường thủy
(hỗn hợp HCl và HNO3 đặc), vào dung dịch kiềm đun sôi thì teflon không hề
biến chất. Dùng teflon tráng lên đáy chảo khi đun với nước sôi không hề xảy ra
bất kì tác dụng nào.
Một điều chú ý là không nên đốt nóng chảo không trên bếp lửa vì teflon
ở nhiệt độ trên 250C là bắt đầu phân hủy và thoát ra chất độc. Khi rửa chảo
không nên chà xát bằng các đồ vật cứng vì có thể gây tổn hại cho lớp chống
dính.
Áp dụng: “Chảo không dính” hiện nay được các bà nội trợ sử dụng khá
nhiều. Công dụng của chảo đã làm hài lòng tất cả các đầu bếp khó tính. Nhưng ít
ai hiểu được vì sao chảo không dính lại ưu việt đến vậy.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
19
Việc phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết Hóa học lớp 9 đã giúp
học sinh: Hiểu được một số hiện tượng trong đời sống, số học sinh ham thích
môn Hóa học và hiểu bài nhiều hơn.
Học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn, giờ học nhẹ nhàng hơn.
Việc lĩnh hội, giải thích được một số hiện tượng trong đời sống sâu sắc và có cơ
sở chắc chắn hơn,đam mê hơn trong lĩnh vực nghiên cứu Hóa học.
Cần chú ý: Áp dụng các hiện tượng thực tiễn phải biết lựa chọn đúng nội
dung bài, thời gian hợp lí trong giờ học mới cuốn hút sự chú ý, tập trung của học
sinh tạo không khí thoải mái trong tiết học
Khi tôi chưa áp dụng đề tài này thì tỉ lệ học sinh yêu thích bộ môn Hóa
học rất ít, kết quả học tập của học sinh cũng rất thấp. Cụ thể năm học trước
Lớp
Số
Giỏi
Khá
Trung bình Yếu
HS
SL
%
SL
%
SL %
SL
%
9A
23
0
0
7
30.4
9
39.2 7
30.4
9B
28
6
21.4
12
42.9
10
35.7 0
0
Tổng 51
6
11.8
19
37.3
19
37.3 7
13.7
Sau khi tôi áp dụng việc lồng ghép các hiện tượng thực tiễn vào bài
giảng thì tỉ lệ học sinh thích học bộ môn tăng lên rõ rệt thông qua chất lượng học
tập bộ môn này được nâng cao.
Sau đây là số liệu thống kê kết quả đạt được khi thực hiện sáng kiến này.
* Chất lượng đại trà:
Lớp
Số
Giỏi
Khá
Trung bình Yếu
HS
SL
%
SL
%
SL %
SL
%
9A
34
13
38.3
20
58.8
1
2.9
0
0
9B
31
0
0
7
22.6
22
70.9 2
6.5
Tổng 65
13
20
27
41.5
23
35.4 2
3.1
* Chất lượng mũi nhọn: có 02 học sinh đạt giải ba cấp huyện, đồng đội
xếp thứ 14.
III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Trong quá trình dạy học: Người thầy ngoài năng lực, khả năng sư phạm đã
có cần phải luôn tích lũy, rút ra những kinh nghiệm dù rất nhỏ. Phải tìm tòi học hỏi
những kinh nghiệm từ sách báo, tài liệu tham khảo và chính sau những tiết dạy.
Biết vận dụng các kinh nghiệm đã được tích lũy vào quá trình giảng dạy thì
hiệu quả dạy học sẽ không ngừng được nâng lên.
Bản thân cố gắng tích lũy, bổ sung để bài viết này ngày càng hoàn thiện,
phong phú hơn, giúp ích cho bản thân một cách thiết thực trong việc dạy học phù
hợp với đối tượng học sinh của nhà trường.
Vì chưa có điều kiện tìm hiểu môi trường học ở những nơi khác nhau và
nguồn lực có hạn nên đề tài còn nhiều hạn chế. Kính mong hội đồng khoa học
nhà trường và của cấp trên góp ý, bổ sung thêm cho đề tài để những năm tiếp theo
đề tài hoàn thiện và phong phú hơn để được áp dụng rộng rãi trong giảng dạy bộ
môn Hóa học khối 9, để giúp bản thân tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
20
2. Kiến nghị:
– Đối với mỗi giáo viên: Phải luôn có ý thực tự học hỏi, trau dồi kiến thức,
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệp với các đồng
nghiệp để nâng cao hiệu quả giảng dạy.
– Với Nhà trường: Cần khuyến khích động viên mỗi giáo viên nghiên cứu,
thực hiện và áp dụng những sánh kiến hay để đẩy mạnh phong trào nâng cao
chất lượng chuyên môn trong nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn .
XÁC NHẬN CỦA BGH
Hoằng Kim, ngày 25 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
NGƯỜI VIẾT
HIỆU TRƯỞNG
Nguyễn Thị Thanh
TT
Nguyễn Thị Quỳnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
TÊN SÁCH
1
Sách giáo khoa Hóa học 9
2
Sách giáo viên Hóa học 9
3
Thiết kế bài giảng Hóa học 9
4
Chuẩn kiến thức Hóa học THCS
5
Ôn tập theo chuẩn kiến thức cơ bản Hóa học 9
6
Bồi dưỡng Hóa học THCS
7
Tài liệu tập huấn BD HSG Hóa học
8
Tổng hợp kiến thức cơ bản Hóa học 9 THCS
9
10 vạn câu hỏi vì sao
10
250 bài toán Hóa Học chọn lọc của Đào Hữu
Vinh
NHÀ XUẤT
BẢN
NXB Giáo
Dục.
NXB Giáo
Dục.
NXB
Hà Nội
NXB Giáo
Dục.
NXB Giáo
Dục.
NXB Giáo
Dục.
Sở GD& ĐT
Thanh Hóa
NXB
ĐHSP
NXB Lao
động
NXB Giáo
Dục.
GHI
CHÚ
TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
TT
TÊN SÁCH
[1] Bồi dưỡng Hóa học THCS
[2] Tài liệu tập huấn BD HSG Hóa học
NHÀ XUẤT
BẢN
NXB Giáo
Dục.
GHI
CHÚ
Sở GD& ĐT
Thanh Hóa
NXB ĐHSP
[3] Tổng hợp kiến thức cơ bản Hóa học 9 THCS
[4] 10 vạn câu hỏi vì sao
[5] 250 bài toán Hóa học chọn lọc
NXB Lao
động
NXB Giáo
Dục.
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC
HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ
GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI C TRỞ LÊN
Họ và tên: Nguyễn Thị Quỳnh
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Hoằng Kim, Hoằng
Hóa, Thanh Hóa.
ST
T
1
2
3
Tên đề tài SKKN
Phương pháp rèn luyện
kỹ năng thí nghiệm Hóa
Học bậc THCS
Kĩ năng thí nghiệm Hóa
học thực hành đối với
học sinh lớp 8 bậc THCS
Vận dụng thí nghiệm đối
chứng trong giảng dạy
môn Hóa học để phát
huy tính tích cực của hoc
sinh ở trường THCS
Cấp đánh giá
xếp loại
Phòng GD&ĐT
huyện Hoằng
Hóa
Phòng GD&ĐT
huyện Hoằng
Hóa
Phòng GD&ĐT
huyện Hoằng
Hóa
Kết quả
đánh giá xếp
loại
Năm học
đánh giá
xếp loại
B
2009- 2010
B
2012- 2013
Xem thêm: Tầm nhìn bất động sản
B
2014- 2015
22
MỤC LỤC:
TT
Danh mục
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Mục lục
I. Phần mở đầu:
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu
II. Phần nội dung sáng kiến kinh nghiệm
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2. Thực trạng của vấn đề
10
11
12
13
14
15
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
III.Phần kết luận và kiến nghị.
1. Kết luận
2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo.
16
Danh mục các đề tài SKKN được hội đồng cấp huyện
Trang
1
1
2
2
2
3
3
4
4
19
20
20
20
trở lên đánh giá
23
24
vì Hóa học là một môn học mới lạ so với HS ở trung học cơ sở, mà khối lượng kiến thứchọc sinh cần lĩnh hội tương đối nhiều. Phần lớn những bài gồm những khái niệm mới, rất trừu tượng, khô cứng và khó hiểu nên học viên dễ nhàm chán. Những học sinhkhả năng tư duy không cao có xu thế sợ học bộ môn, đặc biệt quan trọng khó khăn vất vả hơn vớihọc sinh của những trường thiếu thốn về cơ sở ứng dụng vào thực tiễn. Do đó, giáoviên cần tìm ra chiêu thức dạy học gây được hứng thú học tập bộ môn giúp cácem dữ thế chủ động lĩnh hội kiến thức và kỹ năng một cách nhẹ nhàng, không gượng ép là điều cầnquan tâm. Đối với đơn vị chức năng trường THCS Hoằng Kim về cơ sở vật chất tương quan đến bộmôn Hóa Học đã được trang bị khá khá đầy đủ ( có phòng Hóa thí nghiệm, máy chiếu, dụng cụ, hóa chất … ) nên là một trong những điều kiện kèm theo thuận tiện để thôi thúc sự yêuthích của học viên, giúp học viên nâng cao hơn về kĩ năng vận dụng kiến thức và kỹ năng trongthực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui và hứng thú trong những em. Kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy Hóa học tôi nhận thấy rằng : Học sinhthấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quy trình dạy và học giáo viên luôncó khuynh hướng liên hệ thực tế giữa những kiến thức và kỹ năng sách giáo khoa với thực tiễn đờisống hàng ngày. Rất nhiều kiến thức và kỹ năng Hóa học hoàn toàn có thể liên hệ được với những hiệntượng tự nhiên xung quanh tất cả chúng ta, từ đó phân phối cho học viên một hệ thốngkiến thức đại trà phổ thông, cơ bản và thiết thực tiên phong về hoá học, là giáo viên bộ mônhoá học thì cần hình thành ở những em học viên một kỹ năng và kiến thức cơ bản, đại trà phổ thông, thóiquen học tập và thao tác khoa học để làm nền tảng cho việc giáo dục xã hội chủnghĩa, tăng trưởng năng lượng nhận thức, năng lượng hành vi. Có những phẩm chất cầnthiết như cẩn trọng, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, đúng mực, yêu chân lí khoa học, có ýthức nghĩa vụ và trách nhiệm với bản thân, mái ấm gia đình và xã hội hoàn toàn có thể hoà hợp với môi trườngthiên nhiên, chuẩn bị sẵn sàng cho học viên học lên cao và đi vào đời sống lao động. Xuất phát từ những thực tế đó và 1 số ít kinh nghiệm tay nghề trong giảng dạy bộmôn Hóa học, tôi thấy để có chất lượng giáo dục bộ môn Hóa học cao tôi chọn đềtài : “ Lồng ghép giải thích những hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn Hóa Họclớp 9 bậc trung học cơ sở ”. 2. Mục đích điều tra và nghiên cứu. Xây dựng mạng lưới hệ thống một số ít hiện tượng Hóa học thực tiễn cho từng bài giảngtrong chương trình Hóa học lớp 9. Vận dụng mạng lưới hệ thống những hiện tượng đã thiết kế xây dựng để dạy học chương trìnhHóa 9 nhằm mục đích giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học viên. 3. Đối tượng, khách thể và khoanh vùng phạm vi số lượng giới hạn đề tài điều tra và nghiên cứu. 3.1. Đối tượng nghiên cứu và điều tra : Quá trình dạy học môn hóa học 9 ở trường THCS.Các giải pháp dạy học tích cực, giải pháp tích hợp môi trường tự nhiên, kĩnăng vận dụng kỹ năng và kiến thức trong học tập và liên hệ thực tiễn của bộ môn Hóa học. 3.2. Khách thể điều tra và nghiên cứu : Học sinh lớp 9A, 9B trường THCS Hoằng Kim. 3.3. Phạm vi số lượng giới hạn đề tài nghiên cứuCác bài dạy trong chương trình Hóa học lớp 9.4. Phương pháp nghiên cứu và điều tra. – Nghiên cứu luật giáo dục về thay đổi chương trình, giải pháp dạy học – Nghiên cứu tại liệu về lí luận dạy học, chiêu thức dạy bộ môn Hóa – Nghiên cứu tình hình dạy Hóa ở trường THCS Hoằng Kim – Liên hệ hiện tượng Hóa học thực tiễn vận dụng ở 1 số ít bài dạy : + Nêu yếu tố dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học viên tự học và thảo luậntheo nhóm học tập. + Giáo viên giải đáp vướng mắc, tổng kết. II. PHẦN NỘI DUNG1. Cơ sở lí luận. Đối với học viên trung học cơ sở những em chưa có nhiều khuynh hướng nghề nghiệp chotương lai nên ý thức học tập những bộ môn chưa cao, những em chỉ thích môn nào mìnhhọc có hiệu quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó. Người giáo viêndạy Hóa học phải biết nắm tâm ý và đặc thù lứa tuổi của học viên, đồng thời lựachọn chiêu thức dạy học tương thích với thực tiễn và đời sống hàng ngày để những emthấy môn Hóa học rất thân thiện với những em. Giáo viên phải tổ chức triển khai những hoạt động giải trí tựlực học tập sau : + Tổ chức hoạt động giải trí hướng dẫn học viên theo hướng tích hợp – Cho học viên thấy được mối qua hệ hữu cơ của những bộ môn khoa học vớinhau như : Hóa, Lý, Sinh, Địa, GDCD. .. từ đó làm tăng năng lực tiếp thu, hiểu biếtkiến thức sâu, rộng hơn. – Khi dạy kỹ năng và kiến thức Hóa bất kể ở đơn vị chức năng kỹ năng và kiến thức nào có tương quan đến mônhọc khác Giáo viên cần đưa ra những câu hỏi dạng mở theo hướng tích hợp để họcsinh dữ thế chủ động khám phá, vấn đáp và thấy được mối quan hệ giữa những môn. Ví dụ : Tại sao càng lên cao không khí càng loãng ? Kiến thức Vật lý : do lực hút của Trái ĐấtKiến thức Hóa Học : Do khí O2 nặng hơn không khí ( d O2 / KK = 32 / 29 ) nên tậpchung ở dưới, càng lên cao thì càng tập chung những khí nhẹ hơn như H2 … – Giáo viên phải biết chọn những yếu tố quan trọng, mấu chốt để lồng ghépcác nội dung khác nhau : bảo vệ thiên nhiên và môi trường, chăm nom và bảo vệ sức khỏe thể chất … Đây là hướng đi mà ngành giáo dục đã và đang liên tục tăng cường ở nhữngnăm gần đây. + Tổ chức hoạt động giải trí hướng dẫn học viên cách thiết lập mối liên hệ những nộidung với thực tiễn – Học sinh thấy hứng thú sẽ thuận tiện tiếp thu ghi nhớ bài học kinh nghiệm nếu giáo viêncó sự liên hệ giữa kỹ năng và kiến thức SGK với thực tiễn + Tổ chức hoạt động giải trí hướng dẫn học viên trải qua trường hợp giả địnhbằng hiện tượng thực tế. Nếu dạy học mà chỉ vận dụng một kiểu dạy sẽ gây nhàm chán. Vậy nên cầnáp dụng nhiều giải pháp lồng ghép với nhau, trong đó giáo dục bằng hình thứcđưa ra những trường hợp giả định và phỏng vấn để giúp học viên chủ độngTrong quy trình dạy học, dựa vào sự hướng dẫn của giáo viên học viên thựchiện những hoạt động giải trí đa phần theo một quá trình sau : Thu thập thông tin : trải qua việc tự làm thí nghiệm hoặc quan sát thínghiệm do giáo viên màn biểu diễn, quan sát hiện tượng tự nhiên, đọc tài liệu, xemtranh ảnh, ôn lại những kiến thức và kỹ năng đã học, học viên sẽ thu được những thông tin cầnthiết về những hiện tượng Hóa học cần học. Xử lí thông tin : trải qua một mạng lưới hệ thống câu hỏi, giáo viên hướng dẫn họcsinh địa thế căn cứ vào thông tin đã tích lũy để rút ra những Kết luận thiết yếu. Vận dụng : Dựa vào Tóm lại đã rút ra từ bài học kinh nghiệm, học viên vận dụng vào thựctiễn để hiểu sâu bài hơn. Tuy nhiên tùy thuộc vào từng bài giảng đơn cử giáo viên hoàn toàn có thể lồng ghépgiải thích những hiện tượng trong thực tế vào bài dạy của mình cho tương thích như : * Lồng ghép vào phần mở bài : Ví dụ : Trước khi vào giảng dạy bài : Sự ăn mòn sắt kẽm kim loại và bảo vệ kim loạikhông bị ăn mòn, giáo viên hoàn toàn có thể nêu yếu tố vào bài với câu hỏi sau : Tại saonhững đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt và từ từ vật phẩm khôngdùng được ? * Lồng ghép trong quy trình giảng dạy : Ví dụ : Khi dạy xong phần đặc thù vật lí của axit sunfuric giáo viên có thểcho học viên vấn đáp thắc mắc : Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ hoàn toàn có thể rót từtừ axit sunfuric đậm đặc vào nước ? Hay : lồng ghép vào đặc thù hóa học, ứng dung, điều chế … những chất. Đồngthời lồng ghép tích hợp vào nội dung bài dạy như : biến hóa khí hậu, ô nhiễm môitrường … * Lồng ghép khi kết thúc bài họcVí dụ : Khi giảng dạy xong bài ; phân bón hóa học giáo viên hoàn toàn có thể cho họcsinh giải thích câu ca dao sau : “ Lúa chiêm lấp ló đầu bờHễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên ” * Liên hệ với địa phương ( nếu có ) để thấy rõ và thân mật hơn2. Thực trạng của yếu tố. Khi sẵn sàng chuẩn bị triển khai đề tài này, học viên còn rất mơ hồ trong việc nắm bắtcác kỹ năng và kiến thức, việc chớp lấy kỹ năng và kiến thức bộ môn Hóa học của những em chỉ ở mức độthấp đó là nắm những khái niệm, định luật … Học sinh chưa biết và vận dụng … chưađi sâu vào quy trình giải thích, xử lý những yếu tố nên học viên hay nhàm chán. Những học viên có năng lực tư duy không cao thì có xu thế sợ học bộ môn này. Đặc biệt là trường chưa có phòng thực hành thực tế bộ môn nên những tiết thực hành chỉdừng lại ở mức độ thí nghiệm màn biểu diễn của giáo viên vì thế không tạo được mụctiêu thôi thúc ý thức học tập cũng như sự yêu quý bộ môn cho học viên. Để vận dụng đề tài vào trong giảng dạy tôi đã thực thi 1 số ít hoạt động giải trí sau : – Điều tra về mức độ, thái độ của học viên về nội dung của đề tài : điều kiệnhọc tập của học viên. Cho học viên mượn tài liệu để photo và hướng dẫn học sinhtìm hiểu. – Xác định tiềm năng, tinh lọc những trường hợp cần nhận ra, xây dựngnguyên tắc vận dụng cho mỗi trường hợp, lựa chọn những câu hỏi thiết yếu liên quanđến từng nội dung bài và Dự kiến những trường hợp hoàn toàn có thể xảy ra khi triển khai. – Sưu tầm tài liệu và trao đổi kinh nghiệm tay nghề với những đồng nghiệp. 3. Giải pháp, giải pháp vận dụng đề tài vào thực tiễn. Trong quy trình triển khai tôi đã lựa chọn những nội dung, hiện tượng trongthực tế có tương quan đến những bài học kinh nghiệm trong chương trình Hóa học 9 và phân bốchúng vào đơn cử từng bài học kinh nghiệm như sau : Chương I : CÁC LOẠI HỢP CHẤT VÔ CƠ. Bài 1 : Tính chất hóa học của Oxit, khái quát về sự phân loại oxit. Ví dụ 1 : “ Hiện tượng mưa axit ” là gì ? Tác hại như thế nào ? ( Trích tàiliệu [ 5 ] ) Giải thích : – Khí thải công nghiệp và khí thải của những động cơ đốt trong ( ôtô, xe máy ) có chứa những khí SO2, NO, NO2, … Các khí này tính năng với oxi O2 vàhơi nước trong không khí nhờ xúc tác là những oxit sắt kẽm kim loại ( có trong khói, bụi nhàmáy ) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3. 2SO2 + O2 + 2H2 O → 2H2 SO42NO + O2 → 2NO24 NO2 + O2 + 2H2 O → 4HNO3 Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Trong đó H2SO4 lànguyên nhân chính gây ra mưa axit. – Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số ít nơi trên quốc tế. Mưaaxit làm mùa màng thất thu và hủy hoại những khu công trình thiết kế xây dựng, những tượng đài làmtừ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến ( những loại đá này thành phần chính là CaCO3 ) : CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2 ↑ + H2OCaCO3 + 2HNO3 → Ca ( NO3 ) 2 + CO2 ↑ + H2OÁp dụng : Nêu yếu tố khi vào học bài mới. Bài 2 : Một số oxit quan trọngVí dụ 1 : Tại sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bốc lên mù mịt, nước vôi như bị sôi lên và nhiệt độ hố vôi rất cao hoàn toàn có thể gây nguy hại cho tínhmạng của người và động vật hoang dã. Do đó cần tránh xa hố đang tôi vôi hoặc sau khi tôivôi tối thiểu 2 ngày ? ( Trích tài liệu [ 1 ] ) Giải thích : Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng tạo thành canxi hiđroxit : CaO + H2O → Ca ( OH ) 2P hản ứng này tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đem theocả những hạt Ca ( OH ) 2 rất nhỏ tạo thành như khói mù trắng. Do nhiệt tỏa ra nhiềunên nhiệt độ của hố vôi rất cao. Do đó người và động vật hoang dã cần tránh xa hố vôiÁp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt yếu tố vào bàiBài 3 : Tính chất hóa học của axit. Ví dụ 1 : Vì sao nước rau muống đang xanh khi vắt chanh vào thì chuyểnsang màu đỏ ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Có 1 số ít chất hóa học gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm chomàu của dung dịch biến hóa khi độ pH của dung dịch biến hóa. Trong rau muống ( và vài loại rau khác ) có chất chỉ thị màu này, trong chanh có 7 % axit xitric. Vắtchanh vào nước rau làm dung dịch có tính axit, do đó làm đổi khác màu của nướcrau. Khi chưa vắt chanh nước rau muống màu xanh là chứa chất kiềm. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần lan rộng ra đặc thù hóahọc của axit khi tính năng với chất chỉ thị màu. Ví dụ 2 : Vì sao khi ăn trái cây không nên đánh răng ngay ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Vì chất chua ( tức axit hữu cơ ) có trong trái cây sẽ phối hợp vớinhững thành phần trong thuốc đánh răng theo bàn chảy sẽ tiến công những kẽ răngvà gây tổn thương cho lợi. Bởi vậy người ta đợi đến khi nước bọt trung hòalượng axit trong trái cây nhất là táo, cam, nho, chanh … Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần lan rộng ra tính chấthóa học của axit khi tính năng với bazơ tạo phản ứng trung hòaBài 4 : Một số axit quan trọng. Ví dụ 1 : Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thểrót từ từ axit sunfuric đậm đặc vào nước ? ( Trích tài liệu [ 1 ] ) Giải thích : Khi axit sunfuric tan vào nước sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn. Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn trong nước. Nếu bạn cho nước vàoaxit, nước sẽ nổi trên mặt phẳng axit. Tại vị trí nước tiếp xúc với axit nhiệt độ cao làmcho nước sôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hại. Một chú ý quan tâm thêm là khi pha loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là “ phảirót từ từ ” axit vào nước và không nên pha trong những bình thủy tinh. Bởi vì thủytinh sẽ dễ vở khi tăng nhiệt độ khi pha. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho học viên vấn đáp về cách phaloãng axit H2SO4 khi dạy phần đặc thù vật lí của axit sunfuric đặc. Bài 7 : Tính chất hóa học của bazơ. Ví dụ 1 : Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ? Giải thích : Do trong nọc của ong, kiến, nhện ( và 1 số ít côn trùng nhỏ khác ) cóaxit hữu cơ tên là axit formic ( HCOOH ). Vôi là chất bazơ nên trung hòa axit làm tađỡ đau. ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần lan rộng ra đặc thù hóahọc của bazơBài 8 : Một số Bazơ quan trọng. Ví dụ 1 : Tại sao khi quét vôi tôi lên tường thì lát sau vôi khô và cứng lại ? Giải thích : Vôi là canxi hiđroxit, là chất tan ít trong nước nên khi chonước vào tạo dung dịch trắng đục, khi tô lên tường thì Ca ( OH ) 2 nhanh chóngkhô và cứng lại vì tính năng với CO2 trong không khí theo phương trình : Ca ( OH ) 2 + CO2 → CaCO3 ↓ + H2O ( Trích tài liệu [ 1 ] ) Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần lan rộng ra đặc thù hóahọc của canxi hiđroxit. Ví dụ 2 : Tại sao ăn trầu phải có đủ cau, trầu và vôi, nhất là không thểthiếu vôi ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Trong lá trầu có chứa tinh dầu, trong hạt cau có chứa một chấtgọi là arecolin, chất này có tính độc. Không có vôi miếng trầu không hề chuyểnsang màu đỏ, vôi là chất kiềm khi tính năng với arecolin làm chất này chuyểnthành arecaidin không độc mà có tính năng gây hưng phấn, ấm cúng làm cho da mặthồng hào, môi đỏ thắm, chống cảm cúm, diệt khuẩn làm sạch miệng, làm chặtchân răng. Áp dụng : Có thể đặt câu hỏi trên cho phần tích hợp bảo vệ sức khỏe thể chất. Bài 9 : Tính chất hóa học của muối. Ví dụ 1 : Tại sao khi nấu nước giếng ở một số ít vùng lại có lớp cặn ở dướiđáy ấm ? Cách tẩy lớp cặn này ? ( Trích tài liệu [ 5 ] ) Giải thích : Trong tự nhiên nước ở 1 số ít vùng là nước cứng trong thời điểm tạm thời, lànước có chứa muối Ca ( HCO3 ) 2, Mg ( HCO3 ) 2. Khi nấu sôi sẽ xảy ra phản ứng hoáhọc : Ca ( HCO3 ) 2 → CaCO3 + CO2 + H2OMg ( HCO3 ) 2 → MgCO3 + CO2 + H2OCaCO3, MgCO3 sinh ra đóng cặn. Cách tẩy cặn ở ấm : Cho vào ấm 1 lượng dấm ( CH3COOH 5 % ) và rượu, đun sôi rồi để nguội qua đêm thì tạo thành 1 lớp cháođặc chỉ hớt ra và lau mạnh là sạch. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học kinh nghiệm. Ví dụ 2 : Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày ? ( Trích tài liệu [ 3 ] ) Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người có nồngđộ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO 3 dùng để chế thuốc đau dạdày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng : NaHCO3 + HClNaCl + H2O + CO2Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học kinh nghiệm. Bài 10 : Một số muối quan trọng. Ví dụ 1 : Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một chút ít muối ăn ( NaCl ) ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Do nhiệt độ sôi của nước ở áp suất 1 at là 100 oC, nếu ta thêmNaCl thì lúc đó làm cho nhiệt độ của nước muối khi sôi ( dung dịch NaCl loãng ) là > 100 oC. Do nhiệt độ sôi của nước muối cao hơn của nước nên rau chín nhanh hơn, thời hạn luộc rau không lâu nên rau ít mất vitamin. Vì vậy khi đó rau muống sẽmềm hơn và xanh hơn. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học kinh nghiệm. Ví dụ 2 : Tại sao phải ăn muối iot ? ( Trích từ tài liệu [ 5 ] ) Giải thích : Trong khung hình con người có sống sót một lượng iot tập trung chuyên sâu ởtuyến giáp trạng. Ở người trưởng thành lượng iot này khoảng chừng 20-50 mg. Hàngngày ta phải bổ trợ lượng iot thiết yếu cho khung hình bằng cách ăn muối iot. Iôt cótrong muối ăn dạng KI và KIO3. Nếu lượng iot không cung ứng đủ thì sẽ dẫn đếntuyến giáp trạng sưng to thành bướu cổ, nặng hơn là đần độn, vô sinh và cácchứng bệnh khác. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi khi kết thúc bài nhằm mục đích giúp cho họcsinh hiểu được ích lợi của việc ăn muối iot và tuyên truyền cho hội đồng. Bài 11 : Phân bón hóa học. Ví dụ 1 : Vì sao người ta dùng tro nhà bếp để bón cho cây ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Trong tro nhà bếp có chứa muối K2CO3, phân phối nguyên tố KÁp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học kinh nghiệm. Ví dụ 2 : Cao dao Nước Ta có câu : “ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên ” Câu này mang hàm ý của khoa học hoá học như thế nào ? ( Trích tài liệu [ 1 ] ) Giải thích : Câu ca dao nhắc nhở người làm lúa : Vụ chiêm khi lúa đang trổ đòng đòng mà có trận mưa rào, kèm theo sấmchớp thì sẽ rất tốt và cho hiệu suất cao sau này. Do trong không khí có ~ 80 % khí N2 và ~ 20 % khí O2, khi có chớp ( tia lửađiện ) sẽ tạo điều kiện kèm theo cho N2 hoạt động giải trí : N2 + O2 Tia lửa điện 2 NOSau đó : 2NO + O22NO2Khí NO2 sẽ tan trong nước mưa : NO2 + H2O + O2HNO3HNO3H + NO3Nhờ hiện tượng này, hàng năm làm tăng 6 − 7 kg N cho mỗi mẫu đất. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học kinh nghiệm. Bài 12 : Mối liên hệ giữa những hợp chất vô cơ. Ví dụ 1 : Tại sao để tái tạo đất ở một số ít ruộng chua người ta thường bónbột vôi ? ( Trích tài liệu [ 5 ] ) Giải thích : Thành phần của bột vôi gồm CaO và Ca ( OH ) 2 và 1 số ít ítCaCO3. Ở ruộng chua có chứa axit, pH < 7, nên sẽ có phản ứng giữa axit với CaO, Ca ( OH ) 2 và một chút ít CaCO3 làm giảm tính axit nên ruộng sẽ hết chua. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học kinh nghiệm. Chương II : KIM LOẠIBài 15 : Tính chất vật lí của sắt kẽm kim loại. Ví dụ 1 : Vì sao nhôm lại được sử dụng làm dây dẫn điện cao thế ? Còn đồnglại được sử dụng làm dây dẫn điện trong nhà ? ( Trích tài liệu [ 5 ] ) Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm ( khối lượng riêng của nhôm là2, 70 g / cm3 ) nhẹ hơn đồng ( khối lượng riêng của đồng là 8,96 g / cm3 ) Do đó, nếu nhưdùng đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây những cột điện sao chochịu được trọng tải của dây điện. Việc làm đó không có lợi về mặt kinh tế tài chính. Còntrong nhà thì việc chịu trọng tải của dây dẫn điện không ảnh hưởng tác động lớn lắm. Vì vậyở trong nhà thì ta dùng dây đẫn điện bằng đồng. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần tính dẫn điện của kimloại. Bài 16 : Tính chất hóa học của sắt kẽm kim loại. Ví dụ 1 : Tại sao khi đánh rơi vỡ nhiệt kế thủy ngân thì không được dùngchổi quét mà nên rắc bột S lên trên ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Thủy ngân ( Hg ) là sắt kẽm kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là mộtchất độc. Vì vậy khi làm rơi vỡ nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thìthủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quy trình bay hơi và làm cho quy trình thugom khó khăn vất vả hơn. Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thểtác dụng với thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi. Hg + SHgSQuá trình thu gom thủy ngân cũng đơn thuần hơn. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học kinh nghiệm. Ví dụ 2 : Vì sao ta hay dùng bạc để “ đánh gió ” khi bị bệnh cảm ? Giải thích : Khi bị bệnh cảm, trong khung hình con người sẽ tích tụ một lượngkhí H2S tương đối cao. Chính lượng H2S sẽ làm cho khung hình stress. Khi ta dùngAg để đánh gió thì Ag sẽ công dụng với khí H 2S. Do đó, lượng H2S trong cơ thểgiảm và dần sẽ hết bệnh. Miếng Ag sau khi đánh gió sẽ có màu đen xám : 4A g + 2H2 S + O2 → 2A g2S ↓ ( đen ) + 2H2 O ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Áp dụng : Hiện tượng “ đánh gió ” đã được ông bà ta sử dụng từ rất xa xưacho đến tận giờ đây để chữa bệnh cảm. Cách làm này rất có cơ sở khoa học màmọi người cần phải biết. Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bàihọcBài 16 : Dãy hoạt động hóa học của Kim loại. Ví dụ 1 : Tại sao không hề dập tắt đám cháy của những sắt kẽm kim loại : K, Na, Mgbằng khí CO2 ? ( Trích tài liệu [ 3 ] ) Giải thích : Do những sắt kẽm kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy đượctrong khí CO2Mg + CO2MgO + CÁp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần thiết kế xây dựng dãy hoạtđộng hóa học. Bài 17 : Sắt. Ví dụ 1 : Tại sao những đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt vàdần dần vật phẩm không dùng được ? ( Trích tài liệu [ 3 ] ) Giải thích : Khi tiếp xúc với không khí ẩm có oxi, hơi nước .... sắt bị oxi hóatheo những phản ứng sau : 2F e + O2 + 2H2 O Không khí ẩm 2F e ( OH ) 24F e ( OH ) 2 + O2 + 2H2 O → 4F e ( OH ) 3F e ( OH ) 3 bị loại nước dần tạo thành Fe2O3 theo thời hạn. Vì gỉ sắtFe2O3. nH2O xốp nên quy trình ăn mòn tiếp nối vào lớp bên trong đến khi toàn bộkhối sắt kẽm kim loại đều gỉ. Gỉ sắt không còn tính cứng, ánh kim, dẻo của sắt mà xốp, giòn nên làm vật phẩm bị hỏng. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt yếu tố vào bài. Bài 18 : Nhôm. Ví dụ 1 : Giải thích hiện tượng : “ Một nồi nhôm mới mua về sáng lấp lánhbạc, chỉ cần dùng nấu nước sôi, bên trong nồi nhôm, chỗ có nước biến thành màuxám đen ? ” ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Mới xem thì có vẻ lạ vì nồi nhôm mới, ngoài nước ra thìkhông tiếp xúc với gì khác, chẳng lẽ nước lại làm cho nồi đen ? Bình thường10trông bên ngoài nước không có yếu tố gì, thực tế trong nước có hòa tan nhiềuchất, thường gặp nhất là những muối canxi, magiê và sắt. Các nguồn nước có thểchứa lượng muối sắt không ít khác nhau, loại nước chứa nhiều sắt “ là thủ phạm ” làm cho nồi nhôm có màu đen. Vì nhôm có tính khử mạnh hơn sắt nên nhôm sẽđẩy sắt ra khỏi muối của nó và sửa chữa thay thế ion sắt, còn ion sắt bị khử sẽ bám vào bềmặt nhôm, nồi nhôm sẽ bị đen : Để triển khai xong được điều trên phải có 3 điềukiện : Lượng muối sắt trong nước phải đủ lớn ; Thời gian đun sôi phải đủ lâu ; Nồinhôm phải là nồi mớiÁp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể nêu hiện tượng trên để dẫn nhập vào bàiVí dụ 2 : Giải thích câu : “ Anh đừng bắc bậc làm caoPhèn chua em đánh nước nào cũng trong ”. Giải thích : K2SO4. Al2 ( SO4 ) 3. 24H2 O. Do khi đánh phèn trong nước phèntan ra tạo kết tủa Al ( OH ) 3, chính kết tủa keo này đã dính kết những hạt đất nhỏ lơlửng trong nước đục thành những hạt đất to hơn, nặng và chìm xuống làm nướctrong. Phèn chua rất có ích cho việc xử lí nước đục ở những vùng lũ để có nướctrong dùng cho tắm, giặc. Vì cục phèn chua trong và sáng cho nên vì thế đông y còngọi là minh phàn ( minh là trong trắng, phàn là phèn ). ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trongBài 20 : Hợp kim sắt Gang, Thép. Ví dụ 1 : Chảo, môi, dao đều được làm từ sắt. Vì sao chảo lại giòn ? môilại dẻo ? còn dao lại sắc ? Giải thích : Chảo xào rau, môi và dao đều làm từ sắt. Thế nhưng loại sắtđể sản xuất chúng lại không giống nhau. Sắt dùng để làm chảo là “ gang ”. Gangcó đặc thù là rất gịn. Trong công nghiệp, người ta nấu chảy lỏng gang để đổvào khuôn, gọi là “ đúc gang ”. Môi múc canh được sản xuất bằng “ thép non ”. Thép non không gịn như gang. Người ta thường dùng búa để rèn, biến thépthành những vật phẩm có hh ́ nh dạng khác nhau. Dao thái rau không sản xuất từ thép nonmà bằng “ thép ”. Thép vừa dẻo vừa dát mỏng được, hoàn toàn có thể rèn, cắt gọt nên rấtsắc. Áp dụng : Vấn đề từ sắt hoàn toàn có thể điều chế những đồ vật có chức năngkhác nhau được sử dụng rất thoáng rộng trong đời sống. Giải thích được điều nàyđòi hỏi học viên phải ghi nhận được đặc thù của sắt cũng như kim loại tổng hợp của nó. Giáoviên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi này vào bài bài bàiVí dụ 2 : Xung quanh những xí nghiệp sản xuất sản xuất gang, thép, phân lân, gạchngói, … cây cối thường ít xanh tươi, nguồn nước bị ô nhiễm. Điều đó giải thíchnhư thế nào ? Giải thích : Việc gây ô nhiễm thiên nhiên và môi trường đất, nước, không khí là donguồn chất thải dưới dạng khí thải, nước thải, chất rắn thải … - Những chất thải này hoàn toàn có thể dưới dạng khí độc như : SO 2, H2S, CO2, CO, HCl, Cl2 … hoàn toàn có thể công dụng trực tiếp hoặc là nguyên do gây mưa axit làm hạicho cây. - Nguồn nước thải có chứa sắt kẽm kim loại nặng, những gốc nitrat, clorua, sunfat … sẽ có hại so với sinh vật sống trong nước và thực vật. 11 - Những chất thải rắn như xỉ than và 1 số ít chất hóa học sẽ làm cho đất bịô nhiễm, không thuận tiện cho sự tăng trưởng của cây. Do đó để bảo vệ môi trườngcác xí nghiệp sản xuất cần được xậy dựng theo quy trình khép kín, bảo vệ khử đượcphần lớn chất ô nhiễm trước khi thải ra môi trường tự nhiên. Áp dụng : giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi này khi dạy xong phần sản xuấtgang, thép để tích hợp bảo vệ thiên nhiên và môi trường, giúp học viên ý thức được việc bảo vệmôi trường. Bài 21 : Ăn mòn sắt kẽm kim loại và bảo vệ sắt kẽm kim loại không bị ăn mòn. Ví dụ1 : Vì sao ở những cơ sở đóng tàu thường gắn một miếng sắt kẽm kim loại KẽmZn ở phía sau đuôi tàu ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Thân tàu biển được sản xuất bằng gang thép. Gang thép là hợpkim của sắt, cacbon và một số nguyên tố khác. Đi lại trên biển, thân tàu tiếp xúcthường xuyên với nước biển là dung dịch chất điện li nên sắt bị ăn mòn, gây hưhỏng. Để bảo vệ thân tàu thường vận dụng giải pháp sơn nhằm mục đích không cho gangthép của thân tàu tiếp xúc trực tiếp với nước biển. Nhưng ở phía đuôi tàu, do tácđộng của chân vịt, nước bị khuấy động mãnh liệt nên giải pháp sơn là chưa đủ. Do đó mà phải gắn tấm kẽm vào đuôi tàu. Khi đó sẽ xảy ra quy trình ăn mònđiện hóa. Kẽm là sắt kẽm kim loại hoạt động giải trí hơn sắt nên bị ăn mòn, còn sắt thì không bịmất mát gì. Sau một thời hạn miếng kẽm bị ăn mòn thì sẽ được sửa chữa thay thế theođịnh kỳ. Việc này vừa đở tốn kém hơn nhiều so với thay thế sửa chữa thân tàu. Áp dụng : giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi này khi dạy Phương pháp chống ănmòn sắt kẽm kim loại. Chương III : PHI KIMBài 25 : Tính chất của phi kim. Ví dụ 1 : “ Ma trơi ” là gì ? Ma trơi thường Open ở đâu ? Giải thích : Trong xương của động vật hoang dã luôn có chứa một hàm lượngphotpho. Khi khung hình động vật hoang dã chết đi, nó sẽ phân hủy một phần thành photphin PH3và lẫn một chút ít điphotphin P2H4. Photphin không tự bốc cháy ở nhiệt độ thường. Khiđun nóng đến 150 oC thì nó mới cháy được. Còn điphotphin P 2H4 thì tự bốc cháytrong không khí và tỏa nhiệt. Chính lượng nhiệt tỏa ra trong quy trình này làm chophotphin bốc cháy : 2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2 OQuá trình trên xảy ra cả ngày lẫn đêm nhưng do ban ngày có những tia sáng củamặt trời nên ta không quan sát rõ như vào đêm hôm. Hiện tượng ma trơi chỉ là một quá tŕnh hóa học xảy ra trong tự nhiên. Thường gặp ma trơi ở những nghĩa trang vào đêm hôm. ( Trích tài liệu [ 5 ] ) Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Bài 26 : Clo. Ví dụ 1 : Tại sao nước máy thường dùng ở những thành phố lại có mùi khíclo ? Giải thích : Trong mạng lưới hệ thống nước máy ở thành phố, người ta cho vào mộtlượng nhỏ khí clo vào để có tính năng diệt khuẩn. Một phần khí clo gây mùi và mộtphần tính năng với nước : Cl2 + H2OHCl + HClO12Axit hipoclorơ ( HClO ) sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh nên có công dụng khửtrùng, sát khuẩn nước. Phản ứng thuận nghịch nên clo rất dễ sinh ra do đó khi ta sửdụngnướcngửiđượcmùiclo. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Bài 27 : Cacbon. Ví dụ 1 : Vì sao than chất thành đống lớn hoàn toàn có thể tự bốc cháy ? Giải thích : Do than tính năng chậm với O2 trong không khí tạo CO2, phảnứng này tỏa nhiệt. Nếu than chất thành đống lớn phản ứng này diễn ra nhiều, nhiệttỏa ra được tích góp dần khi đạt tới nhiệt độ cháy của than thì than sẽ tự bốc cháy. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Ví dụ 2 : Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫuthan củi ? Giải thích : Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ hơi khét của cơmlàm cho cơm đỡ mùi khê. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho phần tính hấp phụ củacacbon. Bài 28 : Các oxit của cacbon. Ví dụ 1 : Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ? Giải thích : Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêmkhí cacbonic CO2. Ở những xí nghiệp sản xuất sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực đè nén lớn đểép CO2 hòa tan vào nước. Sau đó nạp vào bình và đóng kín lạiKhi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO2 lập tức bay vào khôngkhí. Vì vậy những bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi. Về mùa hè người tathường thích uống nước ngọt ướp lạnh. Khi ta uống nước ngọt vào dạ dày, dạ dàyvà ruột không hề hấp thụ khí CO 2. Ở trong dạ dày nhiệt độ cao nên CO 2 nhanhchóng theo đường miệng thoát ra ngoài, nhờ vậy nó mang đi bớt một nhiệt lượngtrong khung hình làm cho người ta có cảm xúc thoáng mát, thoải mái và dễ chịu. Ngoài ra CO2 có tácdụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng cường việc tiết dịch vị, giúp nhiều cho tiêuhóa. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Ví dụ 2 : Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc, khí CO hoặc không cóoxi, để tránh khi xuống giếng bị chết ngạt ? 13G iải thích : Trong những giếng sâu ở một số ít vùng đồng bằng thường có nhiềukhí độc CO và CH4 và thiếu oxi. Vì một lí do nào đó mà ta xuống giếng thì rất nguyhiểm. Đã có rất nhiều trường hợp tử vong do trèo xuống giếng gặp nhiều khí độc vàchết ngạt do thiếu oxi. Điều tốt nhất là tránh phải xuống giếng, nếu có xuống thìnên mang theo bình thở oxi. Trước khi xuống giếng cần thử xem trong giếng cónhiều khí độc hay không bằng cách cột một con vật như gà, vịt rồi thả xuống giếng. Nếu gà, vịt chết thì chứng tỏ dưới giếng có nhiều khí độc. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố phần cacboxit. Ví dụ 3 : “ Hiệu ứng nhà kính ” là gì ? ( Trích tài liệu [ 5 ] ) Giải thích : Khí cacbonic CO2 trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần nhữngtia hồng ngoại ( tức là những bức xạ nhiệt ) của Mặt Trời và để cho những tia cóbước sóng từ 50000 đến 100000 Å đi qua thuận tiện đến mặt đất. Nhưng nhữngbức xạ nhiệt phát ra ngược lại từ mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO 2 hấp thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất làm cho Trái Đất ấm lên. Theo tính toáncủa những nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO 2 trong khí quyển tăng lên gấp đôiso với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 40C. Về mặt hấp thụ bức xạ, lớpCO2 ở trong khí quyển tương tự với lớp thủy tinh của những nhà kính dùng đểtrồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện tượng làm cho Trái Đất ấm lên bởikhí CO2 được gọi là hiệu ứng nhà kính. Áp dụng : Ngày nay hiện tượng “ Hiệu ứng nhà kính ” trở thành một vấn đềcó ảnh hưởng tác động mang tính toàn thế giới. Mục đích yếu tố giúp học viên biết đượcnguyên nhân và tai hại của hiệu ứng nhà kính nhằm mục đích nâng cao ý thức bảo vệ môitrường. Bài 29 : Axit cacbonic và muối cacbonat. Ví dụ 1 : Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ với những hình dạngphong phú phong phú được hình thành như thế nào ? ( Trích tài liệu [ 2 ] ) Giải thích : Ở những vùng núi đá vôi, thành phần hầu hết là CaCO3. Khi trờimưa trong không khí có CO2 tạo thành môi trường tự nhiên axit nên làm tan được đá vôi. Những giọt mưa rơi xuống sẽ bào mòn đá theo phương trình : CaCO3 + CO2 + H2O → Ca ( HCO3 ) 2T heo thời hạn tạo thành những hang động. Khi nước có chứa Ca ( HCO 3 ) 2 ở đá thayđổi về nhiệt độ và áp suất nên khi giọt nước nhỏ từ từ có cân đối : Ca ( HCO3 ) 2 → CaCO3 + CO2 ↑ + H2ONhư vậy lớp CaCO3 từ từ lưu lại ngày càng nhiều, dày tạo thành nhữnghình thù đa dạng14Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Ví dụ 2 : Câu tục ngữ : “ Nước chảy đá mòn ” mang ý nghĩa hóa học gì ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Thành phần đa phần của đá là CaCO 3. Trong không khí có khíCO2 nên nước hòa tan một phần tạo thành axit H 2CO3. Do đó xảy ra phản ứng hóahọc : CaCO3 + CO2 + H2O → Ca ( HCO3 ) 2K hi nước chảy cuốn theo Ca ( HCO 3 ) 2, theo nguyên lí dịch chuyển cân bằngthì cân đối sẽ chuyển dời theo phía phải. Kết quả là sau một thời hạn nước đãlàmchođábịbàomòndần. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Bài 30 : Silic. Công nghiệp silicat. Ví dụ 1 : Làm thế nào hoàn toàn có thể khắc được thủy tinh ? Giải thích : Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóngchảy, nhấc ra cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi nhỏ dung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chổ lớp sáp bị cào đi : SiO2 + 4HF → SiF4 ↑ + 2H2 ONếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H2SO4 đặc và bột CaF2. Làm tương tự như như trên nhưng ta cho bột CaF2 vào chổ cần khắc, sau đó cho thêmH2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chổ cần khắc. Sau một thời hạn, thủytinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp. CaF2 + 2H2 SO4 → CaSO4 + 2HF ↑ ( dùng tấm kính che lại ) Sau đó SiO2 + 4HF → SiF4 ↑ + 2H2 OÁp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Ví dụ 2 : Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ? Giải thích : Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năngđặc biệt là ăn mòn thủy tinh. Do thành phần đa phần của thủy tinh là silic đioxitSiO2 nên khi cho dung dịch HF và thì có phản ứng xảy ra : SiO2 + 4HF → SiF4 ↑ + 2H2 OÁp dụng : Học sinh biết giải thích và vận dụng trong thực tiễn tránh việcdùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF. Giáo viên hoàn toàn có thể hỏi học viên sau khidạy xong bàiChương IV : Hi đrô những bon. Nhiên liêuBài 36 : Metan. Ví dụ 1 : Vì sao có khí metan thoát ra từ ruộng lúa hoặc những ao ( hồ ) ? 15G iải thích : Trong ruộng lúa, ao ( hồ ) thường chứa những vật thể hữu cơ. Khicác vật thể hữu cơ phân hủy trong điều kiện kèm theo không có oxi sinh ra khí metan. Lợi dụng hiện tượng này người ta đã làm những hầm biogas trong chăn nuôiheo tạo khí metan để sử dụng đun nấu hay chạy máy … Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Bài 37 : Etilen. Ví dụ 1 : Làm cách nào để quả mau chín ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Từ lâu người ta đã biết xếp 1 số ít quả chín vào giữa sọt quảxanh thì hàng loạt sọt quả xanh sẽ nhanh gọn chín đều. Bí mật của hiện tượng nàyđã được những nhà khoa học phát hiện khi nghiên cứu và điều tra quy trình chín của trái cây. Trong quy trình chín trái cây đã thoát ra một lượng nhỏ khí etilen. Khí này sinh racó công dụng xúc tác quy trình hô hấp của tế bào trái cây và làm cho quả mau chín. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. trong phầnứng dụng của etilenBài 38 : Axetilen. Ví dụ 1 : Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết ? Giải thích : Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua CaC2, khi tác dụngvới nước sinh ra khí axetilen và canxi hiđroxit : CaC2 + 2H2 O → C2H2 + Ca ( OH ) 2A xetilen hoàn toàn có thể tính năng với nước tạo ra anđehit axetic, chính chất này làmtổn thương đến hoạt động giải trí hô hấp của cá thế cho nên hoàn toàn có thể làm cá chếtÁp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Bài 40 : Dầu mỏ và khí thiên nhiên. Ví dụ 1 : Vì sao ngày này không dùng xăng pha chì ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Xăng pha chì có nghĩa là trong xăng có pha thêm một ítTetraetyl chì ( C2H5 ) 4P b, có công dụng làm tăng năng lực chịu nén của nguyên vật liệu dẫnđến tiết kiệm chi phí khoảng chừng 30 % lượng xăng sử dụng. Nhưng khi cháy trong động cơ thìchì oxit sinh ra sẽ bám vào những ống xả, thành xilanh, nên thực tế còn trộn vào xăngchất 1,2 - đibrometan CH2Br – CH2Br để chì oxit chuyển thành muối PbBr2 dễ bayhơi thoát ra khỏi xilanh, ống xả và thải vào không khí gây ô nhiễm môi trường tự nhiên vàảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe thể chất con người. Từ những điều gây hại trên màhiện nay ở nước ta không còn dùng xăng pha chì nữa. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên khi giảng xăng dầu ở Nước Ta. Bài 41 : Nhiên liệu. Ví dụ 1 : Vì sao đốt xăng, cồn thì cháy hết sạch, còn khi đốt gỗ, than đálại còn tro ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Bởi vì so với gỗ và than đá thì xăng và cồn là những hợp chấthữu cơ có độ thuần khiết cao. Khi đốt xăng và cồn chúng sẽ cháy trọn vẹn tạothành CO2 và hơi H2O, toàn bộ chúng đều bay vào không khí. Xăng tuy là hỗn hợpnhiều hiđrocacbon, nhưng chúng là những chất dễ cháy. Vì vậy mặc dầu ở trạngthái hỗn hợp nhưng khi đốt đều cháy hết. Với than đá và gỗ thì lại khác. Cả hai vật tư đều có những thành phầnrất phức tạp. Những thành phần của chúng như xenlulozơ, bán xenlulozơ, gỗ, 16 nhựa là những hợp chất hữu cơ dễ cháy và hoàn toàn có thể “ cháy hết ”. Nhưng gỗ thườngdùng còn có những khoáng vật. Những khoáng vật này đều không cháy được. Vìvậy sau khi đốt cháy gỗ sẽ còn lại và tạo thành tro. Than đá cũng vậy, trong thành phần than đá ngoài cacbon và những hợp chấthữu cơ phức tạp còn có những khoáng là những muối silicat. Nên so với gỗ khi đốtcháy than còn cho nhiều tro hơn. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể nêu yếu tố trên sau khi dạy xong. Chương V : DẪN XUẤT CỦA HI ĐRÔ CÁC BON. POLIMEBài 44 : Rượu Etylic. Ví dụ 1 : Tại sao rượu giả hoàn toàn có thể gây chết người ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Để thu được nhiều rượu ( rượu etylic ) người ta thêm nước vàopha loãng ra những thế cho nên rượu nhạt đi người uống không thích. Nên họ pha thêmmột ít rượu metylic làm nồng độ rượu tăng lên. Chính rượu metylic gây ngộ độc, nó tác động ảnh hưởng vào hệ thần kinh và nhãn cầu, làm rối loạn công dụng đồng điệu của cơthể gây nên sự nhiễm độc. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Ví dụ 2 : Vì sao cồn có năng lực sát khuẩn ? ( Trích tài liệu [ 2 ] ) Giải thích : Cồn là dung dịch rượu etylic ( C 2H5 OH ) có năng lực thẩm thấucao, hoàn toàn có thể xuyên qua màng tế bào đi sâu vào bên trong gây đông tụ protein làmcho tế bào chết. Thực tế là cồn 75 o có năng lực sát trùng là cao nhất. Nếu cồn lớnhơn 75 o thì nồng độ cồn quá cao làm cho protein trên mặt phẳng vi trùng đông cứngnhanh hình thành lớp vỏ cứng ngăn không cho cồn thấm vào bên trong nên vikhuẩn không chết. Nếu nồng độ nhỏ hơn 75 o thì hiệu suất cao sát trùng kém. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố bài. Ví dụ 3 : Tại sao dụng cụ nghiên cứu và phân tích rượu hoàn toàn có thể phát hiện những lái xe đãuống rượu ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Thành phần chính của những loại nước uống có cồn là rượuetylic. Đặc tính của rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thểtác dụng với rượu nhưng người chọn một chất oxi hóa là crom ( VI ) oxit CrO 3. Đây là một chất oxi hóa rất mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màuvàng da cam. Bột oxit CrO3 khi gặp rượu etylic sẽ bị khử thành oxit Cr 2O3 làmột hợp chất có màu xanh đen. Các công an giao thông vận tải sử dụng những dụng cụ nghiên cứu và phân tích rượu etylic cóchứa CrO3. Khi tài xế hà hơi thở vào dụng cụ nghiên cứu và phân tích trên, nếu trong hơi thởcó chứa hơi rượu thì hơi rượu sẽ tính năng với CrO 3 và biến thành Cr2O3 có màuxanh đen. Dựa vào sự biến hóa sắc tố mà dụng cụ nghiên cứu và phân tích sẽ thông tin chocảnh sát biết được mức độ uống rượu của tài xế. Áp dụng : Tai nạn giao thông vận tải luôn là nổi ám ảnh của mọi người. Mộttrong những nguyên do chính xảy ra tai nạn thương tâm giao thông vận tải chính là rượu. Nhằmgiúp cho học viên thêm hiểu biết về cách nhận ra rượu trong khung hình một cáchnhanh và đúng chuẩn của công an giao thông vận tải. Bài 45 : Axit axeticVí dụ 1 : Vì sao ăn sắn hay măng đôi lúc bị độc ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) 17G iải thích : Trong sắn và măng có chứa nhiều xianhiđric ( HCN ). Xianhiđric là chất khí có mùi hạnh nhân, có vị đắng và rất độc. Trong tự nhiênthường gặp ở 1 số ít thực vật như hạt đào, hạt mận, củ sắn, măng tươiSắn luộc hay măng luộc hoặc xào nấu có vị đắng là chứa nhiềuxianhiđric có rủi ro tiềm ẩn bị ngộ độc. Khi luộc sắn cần mở vung để xianhiđric bayhơi. Sắn đã phơi khô giã thành bột để làm bánh mì thì ăn không khi nào bị ngộđộc vì khi phơi khô xianhiđric đã bay hơi hết. Ví dụ 2 : Ngày nay người ta có xu thế dùng giấy để dữ gìn và bảo vệ cácloại thực phẩm. Tại sao giấy có năng lực này ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Các nhà nghiên cứu đã phát hiện khi phủ bên trong những hộpgiấy một lớp mỏng dính dung dịch axit socbic thì thời hạn dữ gìn và bảo vệ thực phẩm tănglên rất nhiều. Thí dụ : nếu sữa chua đựng trong hộp này và giữ trong tủ lạnh thìsau 40 ngày vẫn không thấy men phát hiện đáng kể. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể dùng những hiện tượng này lan rộng ra về một sốaxit hữu cơ. Bài 47 : Chất BéoVí dụ 1 : Vì sao trong một ngày hoa phù dung hoàn toàn có thể đổi màu tới 3 lần ? Giải thích : Hoa phù dung đổi màu 3 lần trong ngày. Buổi sáng màutrắng, buổi trưa màu phớt hồng, buổi chiều màu hồng đậm hơn. Loài hoa, trước sau chỉ biến hóa thay nhau giữa những màu trắng, hồng, vàng, da cam, đỏ. Đó là sự đổi khác của chất caroten có trong thực vật. Caroten là một loạisắc tố thường thấy trong mọi đóa hoa. Trong sữa động vật hoang dã, trong chất béo cũngcó sắc tố này nhưng nhiều hơn cả là trong của cà rốt ( chất màu vàng da cam ). Caroten là một hiđrocacbon có công thức phân tử C40H56. Áp dụng : Đây là một hiện tượng thường gặp trong tự nhiên. Bài 50 : Glucozơ. Ví dụ 1 : Vì sao ăn đường glucozơ lại cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh ? ( Trích tài liệu [ 3 ] ) Giải thích : Vì glucozơ tạo một dung dịch đường trên lưỡi, sự phân bổ cácphân tử đường trong quy trình hòa tan là quy trình thu nhiệt, do đó ta cảm thấy đầulưỡi mát lạnh. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố phần đặc thù vật lí. Bài 51 : SaccarozoVí dụ 1 : Các số lượng ghi trên chai bia như 12 0, 140 có ý nghĩa như thếnào ? Có giống với độ rượu hay không ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Trên thị trường có bày bán nhiều loại bia đóng chai. Trênchai có nhãn ghi 120, 140. Có người hiểu đó là số biểu lộ hàm lượng rượu tinhkhiết của bia. Thực ra hiểu như vậy là không đúng. Số ghi trên chai bia khôngbiểu thị lượng rượu tinh khiết ( độ rượu ) mà biểu thị độ đường trong bia. 18 Áp dụng : Đây là yếu tố mà mọi người rất thường nhầm giữa độ rượu vàđộ đường về những số lượng ghi trên những chai bia. Giáo viên đặt câu hỏi trênsau khi dạy xong bài. Bài 52 : Tinh bột và Xenlulozơ. Vdụ 1 : Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt ? ( Trích tài liệu [ 3 ] ) Giải thích : Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nướcbọt của người có những enzim. Khi nhai kỹ trộn đều, tuyến nước bọt làm tăng cơ hộichuyển hoá một lượng tinh bột theo phản ứng thuỷ phân thành mantozơ, glucozơgây ngọt theo sơ đồ : amilaza. H Omantaza. H O → C12H22O11 → C6H12O6 ( C6H10O5 ) n ( Tinh bột ) ( Mantozơ ) ( Glucozơ ) Áp dụng : Có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố phần phản ứng thủy phân. Bài 53 : Protein. Ví dụ 1 : Giải thích vì sao khi nấu canh cua thì có gạch cua nổi lên ? Khi nấutrứng thì lòng trắng trứng kết tủa lại ? ( Trích tài liệu [ 4 ] ) Giải thích : Vì trong những trường hợp đó có xảy ra sự kết tủa protit bằngnhiệt, gọi là sự đông tụ. Một số protit tan trong nước tạo thành dung dịch keo, khiđun nóng sẽ bị kết tủa. Áp dụng : Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi trên cho củng cố phần sự đông tụ. Bài 54 : Polime. Ví dụ : Vì sao “ chảo không dính ” khi chiên, rán thức ăn lại không bị dínhchảo ? Giải thích : Nếu dùng chảo bằng gang, nhôm thường để chiên cá, trứngkhông khéo sẽ bị dính chảo. Nhưng nếu dùng chảo không dính thì thức ăn sẽkhông dính chảo. Thực ra mặt trong của chảo không dính người ta có trải mộtlớp hợp chất cao phân tử. Đó là politetra floetylen được tôn vinh là “ vua chấtdẻo ” thường gọi là “ teflon ”. Politetra floetilen chỉ chứa 2 nguyên tố C và F nênliên kết với nhau rất bền chắc. Khi cho teflon vào axit vô cơ hay axit H2SO4 đậm đặc, nước cường thủy ( hỗn hợp HCl và HNO3 đặc ), vào dung dịch kiềm đun sôi thì teflon không hềbiến chất. Dùng teflon tráng lên đáy chảo khi đun với nước sôi không hề xảy rabất kì tính năng nào. Một điều chú ý quan tâm là không nên đốt nóng chảo không trên nhà bếp lửa vì teflonở nhiệt độ trên 250C là khởi đầu phân hủy và thoát ra chất độc. Khi rửa chảokhông nên cọ xát bằng những vật phẩm cứng vì hoàn toàn có thể gây tổn hại cho lớp chốngdính. Áp dụng : “ Chảo không dính ” lúc bấy giờ được những bà nội trợ sử dụng khánhiều. Công dụng của chảo đã làm hài lòng tổng thể những đầu bếp khó chiều chuộng. Nhưng ítai hiểu được vì sao chảo không dính lại ưu việt đến vậy. 4. Hiệu quả của ý tưởng sáng tạo kinh nghiệm tay nghề. 19V iệc phát huy tính tích cực của học viên trong tiết Hóa học lớp 9 đã giúphọc sinh : Hiểu được 1 số ít hiện tượng trong đời sống, số học viên ham thíchmôn Hóa học và hiểu bài nhiều hơn. Học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn, giờ học nhẹ nhàng hơn. Việc lĩnh hội, giải thích được 1 số ít hiện tượng trong đời sống thâm thúy và có cơsở chắc như đinh hơn, đam mê hơn trong nghành nghề dịch vụ điều tra và nghiên cứu Hóa học. Cần chú ý quan tâm : Áp dụng những hiện tượng thực tiễn phải biết lựa chọn đúng nộidung bài, thời hạn hợp lý trong giờ học mới hấp dẫn sự quan tâm, tập trung chuyên sâu của họcsinh tạo không khí tự do trong tiết họcKhi tôi chưa vận dụng đề tài này thì tỉ lệ học viên yêu quý bộ môn Hóahọc rất ít, tác dụng học tập của học viên cũng rất thấp. Cụ thể năm học trướcLớpSốGiỏiKháTrung bình YếuHSSLSLSL % SL9A2330. 439.2 730.49 B2821. 41242.91035.7 0T ổng 5111.81937.31937.3 713.7 Sau khi tôi vận dụng việc lồng ghép những hiện tượng thực tiễn vào bàigiảng thì tỉ lệ học viên thích học bộ môn tăng lên rõ ràng trải qua chất lượng họctập bộ môn này được nâng cao. Sau đây là số liệu thống kê tác dụng đạt được khi triển khai ý tưởng sáng tạo này. * Chất lượng đại trà phổ thông : LớpSốGiỏiKháTrung bình YếuHSSLSLSL % SL9A341338. 32058.82.99 B3122. 62270.9 26.5 Tổng 6513202741.52335.4 23.1 * Chất lượng mũi nhọn : có 02 học viên đạt giải ba cấp huyện, đồng độixếp thứ 14. III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ1. Kết luận : Trong quy trình dạy học : Người thầy ngoài năng lượng, năng lực sư phạm đãcó cần phải luôn tích góp, rút ra những kinh nghiệm tay nghề dù rất nhỏ. Phải tìm tòi học hỏinhững kinh nghiệm tay nghề từ sách báo, tài liệu tìm hiểu thêm và chính sau những tiết dạy. Biết vận dụng những kinh nghiệm tay nghề đã được tích góp vào quy trình giảng dạy thìhiệu quả dạy học sẽ không ngừng được nâng lên. Bản thân nỗ lực tích góp, bổ trợ để bài viết này ngày càng hoàn thành xong, đa dạng và phong phú hơn, giúp ích cho bản thân một cách thiết thực trong việc dạy học phùhợp với đối tượng người dùng học viên của nhà trường. Vì chưa có điều kiện kèm theo khám phá môi trường học ở những nơi khác nhau vànguồn lực hạn chế nên đề tài còn nhiều hạn chế. Kính mong hội đồng khoa họcnhà trường và của cấp trên góp ý, bổ trợ thêm cho đề tài để những năm tiếp theođề tài hoàn thành xong và đa dạng và phong phú hơn để được vận dụng thoáng đãng trong giảng dạy bộmôn Hóa học khối 9, để giúp bản thân tôi triển khai xong tốt trách nhiệm được giao. 202. Kiến nghị : - Đối với mỗi giáo viên : Phải luôn có ý thực tự học hỏi, trau dồi kỹ năng và kiến thức, nâng cao trình độ trình độ nhiệm vụ, trao đổi kinh nghiệp với những đồngnghiệp để nâng cao hiệu suất cao giảng dạy. - Với Nhà trường : Cần khuyến khích động viên mỗi giáo viên điều tra và nghiên cứu, thực thi và vận dụng những sánh kiến hay để tăng cường trào lưu nâng caochất lượng trình độ trong nhà trường. Tôi xin chân thành cảm ơn. XÁC NHẬN CỦA BGHHoằng Kim, ngày 25 tháng 4 năm 2017T ôi xin cam kết đây là SKKN của mìnhviết, không sao chép nội dung của ngườikhác. NGƯỜI VIẾTHIỆU TRƯỞNGNguyễn Thị ThanhTTNguyễn Thị QuỳnhTÀI LIỆU THAM KHẢO : TÊN SÁCHSách giáo khoa Hóa học 9S ách giáo viên Hóa học 9T hiết kế bài giảng Hóa học 9C huẩn kiến thức và kỹ năng Hóa học THCSÔn tập theo chuẩn kỹ năng và kiến thức cơ bản Hóa học 9B ồi dưỡng Hóa học THCSTài liệu tập huấn BD HSG Hóa họcTổng hợp kiến thức và kỹ năng cơ bản Hóa học 9 THCS10 vạn câu hỏi vì sao10250 bài toán Hóa Học tinh lọc của Đào HữuVinhNHÀ XUẤTBẢNNXB GiáoDục. NXB GiáoDục. NXBHà NộiNXB GiáoDục. NXB GiáoDục. NXB GiáoDục. Sở GD và ĐTThanh HóaNXBĐHSPNXB LaođộngNXB GiáoDục. GHICHÚTRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO21TTTÊN SÁCH [ 1 ] Bồi dưỡng Hóa học trung học cơ sở [ 2 ] Tài liệu tập huấn BD HSG Hóa họcNHÀ XUẤTBẢNNXB GiáoDục. GHICHÚSở GD và ĐTThanh HóaNXB ĐHSP [ 3 ] Tổng hợp kiến thức và kỹ năng cơ bản Hóa học 9 THCS [ 4 ] 10 vạn câu hỏi vì sao [ 5 ] 250 bài toán Hóa học chọn lọcNXB LaođộngNXB GiáoDục. DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢCHỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞGD và ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI C TRỞ LÊNHọ và tên : Nguyễn Thị QuỳnhChức vụ và đơn vị chức năng công tác làm việc : Giáo viên trường THCS Hoằng Kim, HoằngHóa, Thanh Hóa. STTên đề tài SKKNPhương pháp rèn luyệnkỹ năng thí nghiệm HóaHọc bậc THCSKĩ năng thí nghiệm Hóahọc thực hành thực tế đối vớihọc sinh lớp 8 bậc THCSVận dụng thí nghiệm đốichứng trong giảng dạymôn Hóa học để pháthuy tính tích cực của hocsinh ở trường THCSCấp đánh giáxếp loạiPhòng GD&ĐT huyện HoằngHóaPhòng GD&ĐT huyện HoằngHóaPhòng GD&ĐT huyện HoằngHóaKết quảđánh giá xếploạiNăm họcđánh giáxếp loại2009 - 20102012 - 20132014 - 201522M ỤC LỤC : TTDanh mụcMục lụcI. Phần mở màn : 1. Lí do chọn đề tài2. Mục đích nghiên cứu3. Đối tượng điều tra và nghiên cứu. 4. Phương pháp nghiên cứuII. Phần nội dung ý tưởng sáng tạo kinh nghiệm1. Cơ sở lí luận của ý tưởng sáng tạo kinh nghiệm tay nghề. 2. Thực trạng của vấn đề1011121314153. Các giải pháp đã sử dụng để xử lý yếu tố. 4. Hiệu quả của ý tưởng sáng tạo kinh nghiệm tay nghề. III.Phần Tóm lại và yêu cầu. 1. Kết luận2. Kiến nghịTài liệu tìm hiểu thêm. 16D anh mục những đề tài SKKN được hội đồng cấp huyệnTrang19202020trở lên đánh giá2324
Source: https://evbn.org
Category: Góc Nhìn














![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


