Bài thu hoạch thực tế Huế Đà Nẵng – Tài liệu text
Bài thu hoạch thực tế Huế Đà Nẵng
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (444.39 KB, 13 trang )
Bạn đang đọc: Bài thu hoạch thực tế Huế Đà Nẵng – Tài liệu text
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ……………………….
***
BÀI THU HOẠCH THỰC TẾ
“CHUYẾN HÀNH TRÌNH ĐẦY Ý NGHĨA”
Năm học 2014
1
5 giờ sáng..chúng tôi lên xe xuất phát cho chuyến đi thực tế vào Huế Đà Nẵng, trong lòng ai ai cũng phấn khởi cho cuộc hành trình đầy ý nghĩa
này. Ai ai cũng chuẩn bị cho mình những hành trang cá nhân đầy đủ và không
quên cây bút, quyển sổ nhỏ để ghi chép cho cuộc hành trình, máy camera,
máy quay để chụp lưu những tư liệu hay những bức ảnh kỷ niệm trong
chuyến đi. Sau nửa ngày đường dài chúng tôi đã đến đất Quảng Bình…xem
lại tờ chương trình, nơi đầu tiên chúng tôi được đặt chân xuống đó là “Ngã
Ba Đồng Lộc”. Ngồi trên xe chúng tôi đều thấp thỏm mong chờ giây phút
được đặt chân lên mảnh đất đã đi vào lịch sử hào hùng nơi đây…
Có lẽ không ai trong chúng ta không ít nhất một lần được nghe đến địa
danh “Ngã ba Ðồng Lộc”, một cái tên đã đi vào lịch sử dân tộc và gắn liền
với những chiến công của các đơn vị Thanh niên xung phong (TNXP) trong
giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Song không phải tất cả chúng ta
đều đã có dịp đến Ngã ba Ðồng Lộc, đã nhìn thấy những gì còn lại trên mảnh
đất này và đã nghe câu chuyện về những con người ở đây trong thời kỳ máu
lửa. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà chúng tôi đã chọn Ngã Ba Ðồng Lộc
làm điểm dừng chân đầu tiên trong chặng đương “Nam Tiến” của mình.
Tháng 3/2014
2
Nhắc đến Ngã ba Đồng Lộc (huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), chúng ta
nghĩ ngay đến tấm gương anh dũng hy sinh của 10 cô gái thanh niên xung
phong khi họ mới mười tám, đôi mươi. Với tinh thần xả thân quên mình hiên
ngang trước mưa bom, bão đạn, các chị chính là biểu tượng của truyền thống
chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hùng.
Về Ngã ba Đồng Lộc vào những ngày giữa tháng 3, ấn tượng đầu tiên
với du khách là màu xanh bạt ngàn trên đồi thông, những cánh đồng lúa đang
thì con gái và vườn cây trái xum xuê. Đâu đó là tiếng cười, nói bi bô của trẻ
thơ như xua tan cái nắng chói chang của miền Trung, khiến không gian yên
bình đến lạ thường. Trong khung cảnh ấy, khó có thể hình dung được 45 năm
trước, nơi này lại được mệnh danh là “tọa độ chết”, là “túi bom” mà đế quốc
Mỹ thả xuống, nhằm ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam. Thật không thể
tin được chính trên mảnh đất này, trung bình mỗi mét vuông đất ở Ngã ba
Đồng Lộc phải gánh chịu tới 3 quả bom tấn. Chỉ tính từ tháng 3 đến tháng
10/1968, không quân địch đã trút xuống nơi này 48.600 quả bom các loại.
Không thể tin được nhưng đó là sự thật mà Ngã Ba Đồng Lộc phải hứng
chịu.
“…Năm 1968 là năm khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh. Sau Tổng tiến
công và nổi dậy Tết Mậu thân, phía chúng ta phải trả giá bằng nhiều tổn thất.
Yêu cầu tăng viện cho chiến trường vũ khí, lương thực, xăng dầu để củng cố
lực lượng, giữ vững địa bàn trở nên vô cùng cấp thiết. Thêm vào đó, từ ném
bom không hạn chế, Mỹ chuyển sang thực hiện kế hoạch ném bon hạn chế,
tập trung toàn bộ sức mạnh không quân, hải quân đánh phá ác liệt 4 tỉnh
thuộc khu 4 (cũ) nhằm ngăn chặn và cắt đứt con đường chi viện cho tiền
tuyến của ta. Ðường Trường Sơn qua sông Lam, sông La đến địa phận Hà
Tĩnh phải phơi mình trống trải khoảng 50km giữa đồng bằng. Ðến ngã ba Bãi
Vọt, đường chia làm hai nhánh. Một nhánh là đường số 1 men theo bờ biển
qua Ðèo Ngang, nằm hoàn toàn trong tầm kiểm soát của máy bay địch, hầu
hết các cầu lớn đều bị phá. Nhánh kia là đường 15 qua Ngã ba Ðồng Lộc lên
3
miền Tây Quảng Bình, vì vậy Ngã Ba Ðồng Lộc trở thành yết hầu của mạch
giao thông nối liền “hậu phương lớn miền Bắc” với “tiền tuyến lớn miền
Nam”. Mỹ biết được điều đó nên đã tập trung toàn lực để cắt đứt con đường
này, chỉ riêng nửa đầu năm 1968, chúng đã trút xuống nơi đây (tập trung ở
1km vuông xung quanh Ngã Ba Ðồng Lộc) 4.200 quả bom và tên lửa các
lọai, không kể bom nổ chậm và mìn sát thương…Người ta đã thống kê rằng,
mỗi mét vuông ở Ngã Ba Ðồng Lộc phải gánh chịu ít nhất 3 quả bom tấn.
Bên địch quyết phá thì bên ta quyết giữ, chúng ta đã tập trung mọi nguồn lực
để giữ bằng được con đường này. Vào lúc cao điểm nhất, chỉ tại ngã ba này
thôi đã tập trung 1,6 vạn người, phần lớn là bộ đội pháo binh và lực lượng
TNXP…”. Ðó là những gì chúng tôi đọc được trong Bảo tàng TNXP đặt ngay
tại Ngã Ba Ðồng Lộc. Thầm hiểu được trong những ngày gian khó đó, với
tinh thần xả thân quên mình “sống bám cầu bám đường, chết kiên cường
dũng cảm”, hơn 16.000 thanh niên xung phong cùng các lực lượng khác như
bộ đội pháo binh, dân quân tự vệ, công an đã ngày đêm phá bom, mở đường
cho xe tiến vào Nam. Sau mỗi lần bom địch đánh phá, hố bom lại nham nhở
mặt đường, rất khó khăn cho xe qua lại.
Khẩu hiệu “máu có thể chảy, tim có thể ngừng nhưng mạch máu giao
thông không bao giờ tắt”, giờ phút “quay về lịch sử” tôi mới biết rằng nhiều
đêm các anh, các chị thanh niên xung phong còn phải mặc áo trắng làm hàng
rào, cọc tiêu dẫn lối cho xe qua an toàn. Mưa bom, bão đạn không làm khuất
phục ý chí anh hùng của lực lượng thanh niên xung phong.
Trong tất cả những người đến đây hôm nay, hơn một nửa còn rất trẻ,
những đứa con sinh ra sau chiến tranh nhưng vẫn muốn đi tìm, vẫn muốn biết
về một thời kỳ oanh liệt mà cha ông chúng ta đã trải qua. Với mỗi lời kể, với
mỗi đoạn phim chúng tôi như được đi vào trong lịch sử, không ai không khỏi
nỗi xúc động đến nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt trước sự hy sinh cao cả
của những người con dân tộc Việt, những con người tuổi đời còn rất trẻ…và
càng căm hờn trước những tội ác của giặc Mỹ…
4
10 cô gái TNXP ở Ngã ba Ðồng Lộc – 10 cô gái đó là những chiến sĩ
thuộc Tiểu đội 4, Ðại đội 2 Tổng đội TNXP 55 của tỉnh Hà Tĩnh do tiểu đội
trưởng Võ Thị Tần chỉ huy. Tuổi đời các cô đều còn rất trẻ, chỉ trên dưới 20,
ngoài tiểu đội trưởng Võ Thị Tần thì chưa ai có người yêu. Người trẻ nhất
tiểu đội là Võ Thị Hà, lúc đôi mắt khép lại Hà mới tròn 17 tuổi. Các cô gái
TNXP này đã có mặt tại Ngã ba Ðồng Lộc vào những ngày ác liệt nhất.
Thường thì mọi hoạt động ở Ngã ba Ðồng Lộc đều diễn ra về đêm, ban ngày
để mặc cho máy bay Mỹ bắn phá. Nhưng đêm ngày 23/7/1968 có lệnh đặc
biệt phải thông đường. Nhận được lệnh của Ðại đội, 10 cô gái TNXP đã ra
ngã ba giữa ban ngày với cuốc xẻng trên vai. Ra ngã ba giữa ban ngày làm
nhiệm vụ, chỉ có mấy chiếc hầm sơ sài ở chân đồi che chở, mạng sống chỉ
hoàn toàn trông chờ vào sự may mắn. Ðúng như dự đoán, sau mấy lần máy
bay trinh sát điện tử A35 rẹt qua, buổi chiều hôm ấy 15 lần các tốp máy bay
lao tới trút bom vào mục tiêu nhỏ xíu phía dưới ngã ba mù mịt vì khói bom, 3
lần tiểu đội các cô bị bom vùi, nhưng sau đó các cô lại rũ đất đứng lên tiếp
tục công việc. Nhưng đến lượt bom thứ 15 ấy, lúc công việc đang dở dang,
một quả bom rơi ngay trước cửa hầm của họ. Một phút trôi qua…rồi năm phút
trôi qua, trên đài quan sát không thấy ai trong số mười cô rũ đất đứng dậy. Cả
trận địa lặng đi rồi òa lên tiếng khóc nức nở của những người đồng đội. Các
cô đã hy sinh rồi!…
Khi nghe kể đến đây, những người có mặt trong viện Bảo tàng đều
rưng rưng nước mắt. Nhưng mọi người thực sự òa lên khóc khi nghe người
hướng dẫn viên kể chuyện về cái chết của tiểu đội phó Hồ Thị Cúc. Sau hơn
hai tiếng đồng hồ, đồng đội đã đào đất tìm được xác chín người, đặt lên 9 cái
cáng xếp hàng ngang, chỉ riêng có Hồ Thị Cúc là vẫn chưa tìm được. Cả mặt
trận quyết tâm phải tìm bằng được Cúc bởi mười cô gái đã cùng chiến đấu
bên nhau, gắn bó thân thiết với nhau như chị em một nhà, nên mọi người
quyết định phải tìm bằng được Cúc rồi mới tổ chức an táng cho các cô.
5
Nhưng 2 tiếng, 3 tiếng…và đến hết ngày hôm đó, đồng đội vẫn chưa tìm được
Cúc. Ðồng đội bật khóc, nhà thơ Yến Thanh đã viết thành một bài thơ:
CÚC ƠI!
(Yến Thanh)
Tiểu đội đã xếp một hàng ngang
Cúc ơi em ở đâu không về tập hợp?
Chín bạn đã quây quần đủ hết
Nhỏ-Xuân-Hà-Hường-Hợi-Rạng-Xuân- Xanh
A trưởng Võ Thị Tần điểm danh
Chỉ thiếu mình em
(Chín bỏ làm mười răng được!)
Bọn anh đã bới tìm vết cuốc
Ðất sâu bao nhiêu bọn anh không cần
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng
Cúc ơi! Em ở đâu?
Ðất nâu lạnh lắm
Da em xanh
Áo em thì mỏng!
Cúc ơi! Em ở đâu?
Về với bọn anh tắm nước sông Ngàn Phố
Xem thêm: Tầm nhìn bất động sản
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng
Chăn trâu cắt cỏ
Bài toán lớp Năm em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn
Ở đâu hỡi Cúc
Đồng đội tìm em
Đũa găm, cơm úp
6
Gọi em
Gào em
Khan cổ cả rồi
Cúc ơi!
Phải chăng hương hồn cô Cúc linh thiêng đã nghe được lời đồng đội.
Ba ngày sau, đồng đội tìm thấy thi thể cô nằm sâu trong lòng đất đá, đầu vẫn
đội nón, vai vác cái cuốc, các đầu ngón tay đều thâm tím. Mọi người bảo rằng
cô đã cố gắng bới đất chui lên nhưng hầm sâu quá…
…Cuối cùng thì các cô cũng lại được quây quần cùng nhau dưới lòng
đất mẹ, khu mộ của các cô đặt dưới một ngọn đồi thoai thoải, cách tượng đài
chiến thắng 200 mét.
Thắp nén tâm nhang, trong mỗi chúng tôi không ai không thấy bồi hồi,
xúc động, tiếc thương cho những người anh dũng kiên trung. Trong khói
hương nghi ngút chúng tôi đã hát vang bài ca “Cô gái mở đường” của nhạc
sĩ: Xuân Giao – ca ngợi chiến công của các chị tại Ngã Ba Đồng Lộc này.
Tiếng hát như vang động núi rừng, những giọt nước mắt nghẹn ngào…tiếc
thương các chị biết bao, chúng tôi mong các chị nghe được tiếng hát của mỗi
chúng tôi, mong các chị thấu được lòng biết ơn vô hạn của mỗi chúng tôi, cầu
7
mong cho các chị được yên nghỉ ngon giấc ngàn thu nơi suối vàng. Tên tuổi
của các chị sẽ mãi mãi sống cùng với Ngã ba Đồng Lộc!
Phải tạm biệt 10 cô gái kiên trung và hàng vạn chiến sĩ anh dũng,
chúng tôi lên đường tiếp tục cuộc hành trình của mình, ngồi trên xe mà chúng
tôi vẫn chưa nguôi ngoai được những cảm xúc khi đứng bên mộ các chị,
đứng bên những tấm bia ghi hàng vạn tên tuổi của những người chiến sĩ đã
hy sinh tại Ngã Ba Đồng Lộc này, thì chúng tôi đã đặt chân tới Thành cổ
Quảng Trị.
Thành cổ Quảng Trị, địa danh nằm giữa trung tâm thị xã Quảng Trị,
cách quốc lộ 1A khoảng 2km về phía Đông, cách bờ sông Thạch Hãn chừng
200m về phía Nam. Đứng soi mình xuống dòng sông Thạch Hãn hiền hòa,
Thành cổ Quảng Trị uy nghi, trầm mặc, sáng ngời biểu tượng chủ nghĩa anh
hùng cách mạng với khát vọng tự do, độc lập. Nơi đây, dưới lớp cỏ non
Thành cổ, lòng đất đã thấm đẫm máu của hàng ngàn chiến sĩ và đồng bào
Quảng Trị.
Chúng tôi được nghe hướng dẫn viên kể lại lịch sử cuộc chiến đấu anh
hùng 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị. Chao ôi! Lòng xúc động,
nghẹn ngào làm sao…mỗi tấc đất nhỏ bé như nơi đây mà phải chịu bao nhiêu
bom đạn và những khối lượng chất nổ khổng lồ của giặc Mỹ. Cuộc hành
quân cực kỳ tàn bạo mà kẻ thù không từ một hành động tội ác nào: Ném đủ
các loại bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiểu bằng la-de; bắn đủ các loại pháo
chụp, pháo khoan; thả chất độc hóa học, hơi độc và hơi ngạt… Số bom đạn
chúng ném xuống đây khoảng 328 nghìn tấn, tương đương với sức công phá
của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma và
Na-ga-sa-ki (Nhật Bản), năm 1945. Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa
hề có một cuộc hành quân nào mà mục tiêu chủ yếu chỉ đánh vào một tòa
Thành cổ, có chu vi 2.080m, rộng chưa đầy 3km2, khiến đối phương có thể
huy động một lực lượng hải, lục, không quân đông và sử dụng một khối
lượng chất nổ khổng lồ như vậy…
8
Chính trong chiến dịch phản kích mang tính hủy diệt đó của kẻ thù,
cuộc chiến tại thành cổ Quảng Trị đi vào lịch sử như những trang bi tráng
nhất, 81 ngày đêm thấm đẫm “máu và hoa” với những ký ức không thể nào
quên. Sự dữ dội, quyết liệt của trận “quyết chiến chiến lược” này đã trở thành
kinh điển khắc khoải, đau nhói: “Mỗi mét vuông đất tại Thành Cổ Quảng Trị
là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày
đêm, từ 28/6 – 16/9/1972, Thành Cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn
bom đạn. Trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng lấy 100 quả bom, 200 quả đạn
pháo. Mỗi ngày có 1 đại đội vượt dòng Thạch Hãn để tiếp viện quân số,
nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sống
sót”.
Ngày 1/5/1972, Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng, đánh dấu mốc
son vẻ vang trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, là biểu tượng
sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng yêu nước và tinh thần bất khuất kiên
cường của quân và dân ta. Những mốc son lịch sử đó sẽ mãi mãi ghi vào lịch
sử trường tồn của dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào của mỗi con người Quảng
Trị nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.
Cuộc chiến đấu anh hùng 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị kết
thúc, ghi dấu sức mạnh kiên cường, ý chí bền bỉ mạnh mẽ của quân và dân ta.
Đây là trận chiến đấu hào hùng oanh liệt nhất làm sáng ngời một chân lý: kẻ
xâm lược có sức mạnh, vũ khí tối tân đã chịu thua những con người có ý chí
thép gang vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Nước mắt tuôn trào, thắp nén tâm nhang, lòng tiếc thương vô hạn cho
các anh, các chị – những người chiến sĩ đã không kể sự sống chết xả thân cứu
nước. Chúng tôi bước đi thật nhẹ nhàng và trong lòng riêng tôi có một nỗi
sợ… không phải sợ giặc Mỹ nữa, cũng không phải sợ những loại bom tấn có
sức phá hủy ác liệt và chất nổ khổng lồ của chúng, mà tôi sợ rằng nếu lỡ chân
bước mạnh trong mỗi bước đi của chúng tôi trên từng viên gạch, lớp cỏ này
sẽ làm các anh đau.. Bước chân lên xe mà chúng tôi ai cũng chùng lại để
9
ngoảnh nhìn lại ngôi Thành cổ tưởng như nhỏ bé mà sao chứa đựng biết bao
sự lớn lao.. Đời đời, con cháu luôn luôn tưởng nhớ một thời máu lửa, một
thời oanh liệt, hào hùng mà cha anh đã làm tất cả để đánh đuổi giặc ngoại
xâm, đem lại cuộc sống hòa bình, tươi đẹp như hôm nay cho nhân loại…
Trên chuyến hành trình này có lẽ điều mang ý nghĩa lớn lao nhất là đây
– chúng tôi được ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc, được đến thăm tận nơi
những chiến trận năm xưa của cha anh, hiểu được sự hy sinh anh dũng của
các chiến sĩ, để giờ đây được sống trong cảnh thanh bình này mỗi chúng tôi
đều cần phải biết giữ gìn và phát huy tinh thần dân tộc, những giá trị truyền
thống, những di sản văn hóa của dân tộc, học tập và làm việc hết mình trong
sự nghiệp, góp phần nhỏ bé của mình cùng xây dựng một xã hội sống trong
yên bình, văn minh, giàu đẹp..
Chặng đường dài vẫn còn phía trước, nhưng trong mỗi chúng tôi không
ai cảm thấy mệt mỏi, mà tinh thần cảm thấy phấn chấn hơn, chúng tôi đã hát
suốt dọc đường tới Huế. Đến đất Huế chúng tôi đã được giao lưu với Học
Viện Âm Nhạc Huế, điều cảm nhận của tôi đầu tiên là sự thân thiện của con
người đất Huế, những giọng nói truyền cảm, những câu hò mênh mang.
Tìm hiểu về âm nhạc Huế, tôi nhận thấy rằng, với bề dày lịch sử và
truyền thống văn hóa, vùng đất sông Hương – núi Ngự là nơi hội tụ nhiều
dòng nhạc mang đậm bản sắc Huế như: dòng nhạc cung đình bác học, dòng
nhạc dân gian, dòng nhạc tín ngưỡng tôn giáo, cùng với nền tảng thơ văn, mỹ
thuật, lễ hội dân gian và làng nghề thủ công truyền thống góp phần làm
phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Huế xưa và nay.
Nhạc Huế mang sắc thái địa phương rõ rệt, nhưng nhạc Huế không
phải là một thứ âm nhạc địa phương, dưới các triều đại phog kiến nhà
Nguyễn. Do hoàn cảnh lịch sử, nhạc Huế – qua thành phần nhạc lễ và cung
đình của nó, đã có một thời gian khá dài đóng vai trò là “quốc nhạc” dưới
thời thuộc Pháp. Nhạc Huế vẫn chinh phục được quần chúng hâm mộ, được
sử dụng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc và Nam. Và ở những nơi này, không
10
phải chỉ có vấn đề về nhạc thưởng thức nhạc Huế như một đặc sản có hương
vị lạ từ nơi khác đem đến, mà người ta còn thấy hiện tượng nhạc Huế thâm
nhập và nhạc Bắc, có ảnh hưởng trở lại và làm giàu thêm cội nguồn miền
Bắc, đồng thời đi sâu vào Nam, nó lại đóng góp những nhân tố quan trọng, từ
đó nảy sinh hình thành cái được xem như là phong cách đặc thù của âm nhạc
miền Nam.
Do hoàn cảnh địa lý, với những bãi biển, với sông Hương, núi Ngự đễ
để con người tức cảnh sinh tình, hay trong cuộc sống lao động và sự sinh tồn,
để giảm bớt những khó khăn vất vả, nhọc nhằn trong lao động sản xuất,
những điệu hò câu ví và các loại hình nghệ thuật dân gian ra đời và ngày càng
trở nên phong phú. Nói cách khác, do những điều kiện kinh tế khắc nghiệt
nhiều hơn là thuần lợi đã buộc con người bằng mọi cách, kể cả cách dùng
phương tiện nghệ thuật, vươn lên chống chọi với thiên nhiên, kiếm tìm cuộc
sống ấm no hơn. Do những dấu giọng đặc thù trong tiếng nói chung dân tộc,
hay là do chính ở đây, nơi tiếp xúc với nền văn hóa nghệ thuật dân tộc Chăm
đã hình thành những âm điệu, giọng điệu, những thể loại mới mẻ so với cái
vốn cổ truyền từ Bắc đem vào, tạo nét đặc trưng riêng – cái thường gọi là
phong cách “Huế”, phong cách “miền Trung”, hay nói gọn là “nhạc Huế”.
Ngày nay dưới con mắt của những người đanng tìm hiểu và nghiên cứu
âm nhạc truyền thống, “nhạc Huế” với tư cách một bộ phận của truyền thống
đó thường được xem như gồm ba thành phần chính yếu:
Xem thêm: Hoàng Duy Hùng – Wikipedia tiếng Việt
1. Nhạc Lễ (bao gồm cả nhạc Cung đình và nhạc Rõi bóng)
2. Dân ca (bao gồm các điệu hò, lý, kể vè…)
3. Ca Huế
Chúng tôi hay bất kỳ du khách nào đến Huế cũng được ngồi trên
thuyền trôi lênh đênh trên dòng sông Hương êm đềm và nghe hò Huế, tôi
phần nào hiểu thêm về hò Huế.. đặc biệt là Hò mái nhì, mái đẩy là điệu hò
trên sông nước, có âm điệu ngân nga, lan tỏa, mang sắc thái những dòng sông
ở Thừa Thiên Huế: êm đềm, phẳng lặng và đầy thơ mộng.
11
Hò mái nhì thường được ưa chuộng từ nông thôn đến thành thị, nhất là
trên dòng sông Hương tình tứ, nên thơ. Điệu hò êm ả, vang vọng, để lại
những dư âm trên mặt nước, trong bầu không khí huyền ảo của trăng, của
mây và sương khói trên sông Hương…
Hò mái đẩy cũng ngân nga vang vọng, nhưng so với hò mái nhì có
phần ngắn và mạnh hơn. Điệu hò này cũng phổ biến khắp Thừa Thiên Huế..
Chúng tôi cũng được giao lưu với các nghệ sĩ trên sông Hương, ngoài
cách điệu hò chúng tôi còn được nghe ca Huế, chầu văn…và đoàn chúng tôi
đã để lại những ấn tượng sâu sắc với các nghệ sĩ trong buổi biểu diễn ca nhạc
trên sông Hương cũng như buổi giao lưu ca nhạc với Học Viện Âm Nhạc
Huế.
Sau khi kết thúc chuyến đi thực tế, trên đường trở về Hà nội, chúng tôi
lại được dừng chân nghỉ lại tại Quảng Bình. Dù đường có xa xôi, có mệt nhọc
nhưng trong lòng ai cũng cảm thấy bồi hồi, xúc động khi quay trở lại nơi đây.
Trong tâm tưởng chúng tôi vẫn hiện lên hình ảnh những người con của Tổ
quốc sáng ngời…đan xen lẫn những nét văn hóa tinh thần đậm đà bản sắc của
dân tộc Việt. Từ quá khứ hào hùng đến hiện tại chúng ta được sống trong yên
bình, để hôm nay được học tập, được giao lưu, được vui vẻ, được đắm mình
trong những tiếng hát trên dòng sông Hương êm đềm, lung linh, huyền ảo nơi
đất Huế – Miền Trung, nơi chứa đựng biết bao điều kỳ diệu…
Là thế hệ tiếp bước cha ông, chúng tôi đã nguyện trong lòng tiếp tục
học tập, rèn luyện, phấn đấu không ngừng để góp phần nhỏ bé của mình vào
xây dựng đất nước. Và việc tuyên truyền và các hoạt động sinh hoạt văn hóa,
văn nghệ là điều kiện tốt nhất trong thời điểm này và âm nhạc là cái mà dễ đi
vào lòng người nhất. Trong chuyến đi và trở về không lúc nào chúng tôi ngơi
tiếng hát ca ngợi về những chiến sĩ anh hùng, ca ngợi về tình yêu, quê hương,
đất nước Việt Nam. Trở về cũng vậy, chúng tôi đã tổ chức và tham gia biểu
diễn sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật…với chủ đề : “ Tuổi trẻ vì ngày mai tươi
sáng”, tuổi trẻ chúng tôi hết mình trong học tập, giờ đây cũng quyết tâm để
12
rèn luyện và tất cả với tinh thần “xung trận”, cống hiến, làm việc trong nhiệt
huyết… như những tấm gương sáng ngời ấy…
Qua đợt thực tế này, chúng tôi đã thu được những kết quả tốt đẹp.
Những kiến thức về lịch sử – được đến tận nơi thăm những chiến tích năm
xưa của các anh hùng liệt sĩ, được giao lưu học hỏi về âm nhạc dân gian và
văn hóa nơi đất Huế, tổ chức tham gia sinh hoạt văn hóa, văn nghệ…chúng
tôi rút ra được những bài học kinh nghiệm để phục vụ tốt trong công tác
giảng dạy của chúng tôi sau này như: công tác tổ chức các hoạt động ngoại
khóa Ôn lại những chặng đường lịch sử, Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh, Noi gương những chiến công bất khuất, v.v…tổ chức đi
thực tế thăm di tích, các hoạt động sinh hoạt văn hóa, văn nghệ… nhằm giáo
dục tinh thần yêu quê hương, đất nước, yêu tất cả những gì vốn có của dân
tộc Việt Nam. Lòng biết ơn sâu nặng với những người đã đổ bao xương máu
cho độc lập dân tộc, cho thế hệ trẻ ngày nay và mai sau biết sống, biết học tập
và làm việc như thế nào để không phụ những người chiến sĩ đã khuất.
13
Nhắc đến Ngã ba Đồng Lộc ( huyện Can Lộc, tỉnh thành phố Hà Tĩnh ), chúng tanghĩ ngay đến tấm gương can đảm quyết tử của 10 cô gái người trẻ tuổi xungphong khi họ mới mười tám, đôi mươi. Với niềm tin lao vào quên mình hiênngang trước mưa bom, bão đạn, những chị chính là hình tượng của truyền thốngchống giặc ngoại xâm của dân tộc bản địa Nước Ta anh hùng. Về Ngã ba Đồng Lộc vào những ngày giữa tháng 3, ấn tượng đầu tiênvới hành khách là màu xanh bạt ngàn trên đồi thông, những cánh đồng lúa đangthì con gái và vườn cây trái rậm rạp. Đâu đó là tiếng cười, nói bi bô của trẻthơ như xua tan cái nắng chói chang của miền Trung, khiến khoảng trống yênbình đến quái đản. Trong khung cảnh ấy, khó hoàn toàn có thể tưởng tượng được 45 nămtrước, nơi này lại được ca tụng là “ tọa độ chết ”, là “ túi bom ” mà đế quốcMỹ thả xuống, nhằm mục đích ngăn ngừa sự chi viện cho miền Nam. Thật không thểtin được chính trên mảnh đất này, trung bình mỗi mét vuông đất ở Ngã baĐồng Lộc phải gánh chịu tới 3 quả bom tấn. Chỉ tính từ tháng 3 đến tháng10 / 1968, không quân địch đã trút xuống nơi này 48.600 quả bom những loại. Không thể tin được nhưng đó là thực sự mà Ngã Ba Đồng Lộc phải hứngchịu. ” … Năm 1968 là năm quyết liệt nhất của cuộc cuộc chiến tranh. Sau Tổng tiếncông và nổi dậy Tết Mậu thân, phía tất cả chúng ta phải trả giá bằng nhiều tổn thất. Yêu cầu tăng viện cho mặt trận vũ khí, lương thực, xăng dầu để củng cốlực lượng, giữ vững địa phận trở nên vô cùng cấp thiết. Thêm vào đó, từ némbom không hạn chế, Mỹ chuyển sang thực thi kế hoạch ném bon hạn chế, tập trung chuyên sâu hàng loạt sức mạnh không quân, thủy quân đánh phá ác liệt 4 tỉnhthuộc khu 4 ( cũ ) nhằm mục đích ngăn ngừa và cắt đứt con đường chi viện cho tiềntuyến của ta. Ðường Trường Sơn qua sông Lam, sông La đến địa phận HàTĩnh phải phơi mình trống trải khoảng chừng 50 km giữa đồng bằng. Ðến ngã ba BãiVọt, đường chia làm hai nhánh. Một nhánh là đường số 1 men theo bờ biểnqua Ðèo Ngang, nằm trọn vẹn trong tầm trấn áp của máy bay địch, hầuhết những cầu lớn đều bị phá. Nhánh kia là đường 15 qua Ngã ba Ðồng Lộc lênmiền Tây Quảng Bình, thế cho nên Ngã Ba Ðồng Lộc trở thành yết hầu của mạchgiao thông nối tiếp ” hậu phương lớn miền Bắc ” với ” tiền tuyến lớn miềnNam “. Mỹ biết được điều đó nên đã tập trung chuyên sâu toàn lực để cắt đứt con đườngnày, chỉ riêng nửa đầu năm 1968, chúng đã trút xuống nơi đây ( tập trung chuyên sâu ở1km vuông xung quanh Ngã Ba Ðồng Lộc ) 4.200 quả bom và tên lửa cáclọai, không kể bom nổ chậm và mìn sát thương … Người ta đã thống kê rằng, mỗi mét vuông ở Ngã Ba Ðồng Lộc phải gánh chịu tối thiểu 3 quả bom tấn. Bên địch quyết phá thì bên ta quyết giữ, tất cả chúng ta đã tập trung chuyên sâu mọi nguồn lựcđể giữ bằng được con đường này. Vào lúc cao điểm nhất, chỉ tại ngã ba nàythôi đã tập trung chuyên sâu 1,6 vạn người, hầu hết là bộ đội pháo binh và lực lượngTNXP … “. Ðó là những gì chúng tôi đọc được trong Bảo tàng TNXP đặt ngaytại Ngã Ba Ðồng Lộc. Thầm hiểu được trong những ngày gian khó đó, vớitinh thần lao vào quên mình “ sống bám cầu bám đường, chết kiên cườngdũng cảm ”, hơn 16.000 người trẻ tuổi xung phong cùng những lực lượng khác nhưbộ đội pháo binh, dân quân tự vệ, công an đã ngày đêm phá bom, mở đườngcho xe tiến vào Nam. Sau mỗi lần bom địch đánh phá, hố bom lại nham nhởmặt đường, rất khó khăn vất vả cho xe qua lại. Khẩu hiệu “ máu hoàn toàn có thể chảy, tim hoàn toàn có thể ngừng nhưng mạch máu giaothông không khi nào tắt ”, giờ phút “ quay về lịch sử vẻ vang ” tôi mới biết rằng nhiềuđêm những anh, những chị người trẻ tuổi xung phong còn phải mặc áo trắng làm hàngrào, cọc tiêu dẫn lối cho xe qua bảo đảm an toàn. Mưa bom, bão đạn không làm khuấtphục ý chí anh hùng của lực lượng người trẻ tuổi xung phong. Trong toàn bộ những người đến đây thời điểm ngày hôm nay, hơn 50% còn rất trẻ, những đứa con sinh ra sau cuộc chiến tranh nhưng vẫn muốn đi tìm, vẫn muốn biếtvề một thời kỳ oanh liệt mà cha ông tất cả chúng ta đã trải qua. Với mỗi lời kể, vớimỗi đoạn phim chúng tôi như được đi vào trong lịch sử vẻ vang, không ai không khỏinỗi xúc động đến nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt trước sự quyết tử cao cảcủa những người con dân tộc bản địa Việt, những con người tuổi đời còn rất trẻ … vàcàng căm hờn trước những tội ác của giặc Mỹ … 10 cô gái TNXP ở Ngã ba Ðồng Lộc – 10 cô gái đó là những chiến sĩthuộc Tiểu đội 4, Ðại đội 2 Tổng đội TNXP 55 của tỉnh TP Hà Tĩnh do tiểu độitrưởng Võ Thị Tần chỉ huy. Tuổi đời những cô đều còn rất trẻ, chỉ xấp xỉ 20, ngoài tiểu đội trưởng Võ Thị Tần thì chưa ai có tình nhân. Người trẻ nhấttiểu đội là Võ Thị Hà, lúc đôi mắt khép lại Hà mới tròn 17 tuổi. Các cô gáiTNXP này đã xuất hiện tại Ngã ba Ðồng Lộc vào những ngày ác liệt nhất. Thường thì mọi hoạt động giải trí ở Ngã ba Ðồng Lộc đều diễn ra về đêm, ban ngàyđể mặc cho máy bay Mỹ bắn phá. Nhưng đêm ngày 23/7/1968 có lệnh đặcbiệt phải thông đường. Nhận được lệnh của Ðại đội, 10 cô gái TNXP đã rangã ba giữa ban ngày với cuốc xẻng trên vai. Ra ngã ba giữa ban ngày làmnhiệm vụ, chỉ có mấy chiếc hầm sơ sài ở chân đồi che chở, mạng sống chỉhoàn toàn trông chờ vào sự như mong muốn. Ðúng như Dự kiến, sau mấy lần máybay thám thính điện tử A35 rẹt qua, buổi chiều hôm ấy 15 lần những tốp máy baylao tới trút bom vào tiềm năng nhỏ bé phía dưới ngã ba mù mịt vì khói bom, 3 lần tiểu đội những cô bị bom vùi, nhưng sau đó những cô lại rũ đất đứng lên tiếptục việc làm. Nhưng đến lượt bom thứ 15 ấy, lúc việc làm đang dở dang, một quả bom rơi ngay trước cửa hầm của họ. Một phút trôi qua … rồi năm phúttrôi qua, trên đài quan sát không thấy ai trong số mười cô rũ đất đứng dậy. Cảtrận địa lặng đi rồi òa lên tiếng khóc nức nở của những người đồng đội. Cáccô đã quyết tử rồi ! … Khi nghe kể đến đây, những người xuất hiện trong viện Bảo tàng đềurưng rưng nước mắt. Nhưng mọi người thực sự òa lên khóc khi nghe ngườihướng dẫn viên kể chuyện về cái chết của tiểu đội phó Hồ Thị Cúc. Sau hơnhai tiếng đồng hồ đeo tay, đồng đội đã đào đất tìm được xác chín người, đặt lên 9 cáicáng xếp hàng ngang, chỉ riêng có Hồ Thị Cúc là vẫn chưa tìm được. Cả mặttrận quyết tâm phải tìm bằng được Cúc bởi mười cô gái đã cùng chiến đấubên nhau, gắn bó thân thiện với nhau như chị em một nhà, nên mọi ngườiquyết định phải tìm bằng được Cúc rồi mới tổ chức triển khai an táng cho những cô. Nhưng 2 tiếng, 3 tiếng … và đến hết ngày hôm đó, đồng đội vẫn chưa tìm đượcCúc. Ðồng đội bật khóc, nhà thơ Yến Thanh đã viết thành một bài thơ : CÚC ƠI ! ( Yến Thanh ) Tiểu đội đã xếp một hàng ngangCúc ơi em ở đâu không về tập hợp ? Chín bạn đã quây quần đủ hếtNhỏ-Xuân-Hà-Hường-Hợi-Rạng-Xuân – XanhA trưởng Võ Thị Tần điểm danhChỉ thiếu mình em ( Chín bỏ làm mười răng được ! ) Bọn anh đã bới tìm vết cuốcÐất sâu bao nhiêu bọn anh không cầnChỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùngCúc ơi ! Em ở đâu ? Ðất nâu lạnh lắmDa em xanhÁo em thì mỏng dính ! Cúc ơi ! Em ở đâu ? Về với bọn anh tắm nước sông Ngàn PhốĂn quýt đỏ Sơn BằngChăn trâu cắt cỏBài toán lớp Năm em còn chưa nhớGối còn thêu dởCơm chiều chưa ănỞ đâu hỡi CúcĐồng đội tìm emĐũa găm, cơm úpGọi emGào emKhan cổ cả rồiCúc ơi ! Phải chăng hương hồn cô Cúc rất thiêng đã nghe được lời đồng đội. Ba ngày sau, đồng đội tìm thấy thi thể cô nằm sâu trong lòng đất đá, đầu vẫnđội nón, vai vác cái cuốc, những đầu ngón tay đều thâm tím. Mọi người bảo rằngcô đã nỗ lực bới đất chui lên nhưng hầm sâu quá … … Cuối cùng thì những cô cũng lại được quây quần cùng nhau dưới lòngđất mẹ, khu mộ của những cô đặt dưới một ngọn đồi thoai thoải, cách tượng đàichiến thắng 200 mét. Thắp nén tâm nhang, trong mỗi chúng tôi không ai không thấy bồi hồi, xúc động, tiếc thương cho những người quả cảm kiên trung. Trong khóihương nghi ngút chúng tôi đã hát vang bài ca “ Cô gái mở đường ” của nhạcsĩ : Xuân Giao – ca tụng chiến công của những chị tại Ngã Ba Đồng Lộc này. Tiếng hát như vang động núi rừng, những giọt nước mắt nghẹn ngào … tiếcthương những chị biết bao, chúng tôi mong những chị nghe được tiếng hát của mỗichúng tôi, mong những chị thấu được lòng biết ơn vô hạn của mỗi chúng tôi, cầumong cho những chị được yên nghỉ yên giấc ngàn thu nơi suối vàng. Tên tuổicủa những chị sẽ mãi mãi sống cùng với Ngã ba Đồng Lộc ! Phải tạm biệt 10 cô gái kiên trung và hàng vạn chiến sỹ gan góc, chúng tôi lên đường liên tục cuộc hành trình dài của mình, ngồi trên xe mà chúngtôi vẫn chưa nguôi ngoai được những cảm hứng khi đứng bên mộ những chị, đứng bên những tấm bia ghi hàng vạn tên tuổi của những người chiến sỹ đãhy sinh tại Ngã Ba Đồng Lộc này, thì chúng tôi đã đặt chân tới Thành cổQuảng Trị. Thành cổ Quảng Trị, địa điểm nằm giữa TT thị xã Quảng Trị, cách quốc lộ 1A khoảng chừng 2 km về phía Đông, cách bờ sông Thạch Hãn chừng200m về phía Nam. Đứng soi mình xuống dòng sông Thạch Hãn hiền hòa, Thành cổ Quảng Trị uy nghi, trầm mặc, sáng ngời hình tượng chủ nghĩa anhhùng cách mạng với khát vọng tự do, độc lập. Nơi đây, dưới lớp cỏ nonThành cổ, lòng đất đã thấm đẫm máu của hàng ngàn chiến sỹ và đồng bàoQuảng Trị. Chúng tôi được nghe hướng dẫn viên du lịch kể lại lịch sử dân tộc cuộc chiến đấu anhhùng 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị. Chao ôi ! Lòng xúc động, nghẹn ngào làm thế nào … mỗi tấc đất nhỏ bé như nơi đây mà phải chịu bao nhiêubom đạn và những khối lượng chất nổ khổng lồ của giặc Mỹ. Cuộc hànhquân cực kỳ tàn tệ mà quân địch không từ một hành vi tội ác nào : Ném đủcác loại bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiểu bằng la-de ; bắn đủ những loại pháochụp, pháo khoan ; thả chất độc hóa học, hơi độc và hơi ngạt … Số bom đạnchúng ném xuống đây khoảng chừng 328 nghìn tấn, tương tự với sức công phácủa 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma vàNa-ga-sa-ki ( Nhật Bản ), năm 1945. Trong lịch sử dân tộc cuộc chiến tranh quốc tế, chưahề có một cuộc hành quân nào mà tiềm năng đa phần chỉ đánh vào một tòaThành cổ, có chu vi 2.080 m, rộng chưa đầy 3 km2, khiến đối phương có thểhuy động một lực lượng hải, lục, không quân đông và sử dụng một khốilượng chất nổ khổng lồ như vậy … Chính trong chiến dịch phản kích mang tính tiêu diệt đó của quân địch, đại chiến tại thành cổ Quảng Trị đi vào lịch sử vẻ vang như những trang bi trángnhất, 81 ngày đêm thấm đẫm ” máu và hoa ” với những ký ức không hề nàoquên. Sự kinh hoàng, kinh khủng của trận ” quyết chiến kế hoạch ” này đã trở thànhkinh điển khắc khoải, đau nhói : “ Mỗi mét vuông đất tại Thành Cổ Quảng Trịlà một mét máu và sự quyết tử của những anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngàyđêm, từ 28/6 – 16/9/1972, Thành Cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấnbom đạn. Trung bình mỗi chiến sỹ phải hứng lấy 100 quả bom, 200 quả đạnpháo. Mỗi ngày có 1 đại đội vượt dòng Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sốngsót ”. Ngày 1/5/1972, Quảng Trị được trọn vẹn giải phóng, ghi lại mốcson vẻ vang trong lịch sử vẻ vang chống giặc ngoại xâm của dân tộc bản địa, là biểu tượngsáng ngời của chủ nghĩa anh hùng yêu nước và ý thức quật cường kiêncường của quân và dân ta. Những mốc son lịch sử dân tộc đó sẽ mãi mãi ghi vào lịchsử vĩnh cửu của dân tộc bản địa Nước Ta, là niềm tự hào của mỗi con người QuảngTrị nói riêng, của dân tộc bản địa Nước Ta nói chung. Cuộc chiến đấu anh hùng 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị kếtthúc, ghi dấu sức mạnh kiên cường, ý chí bền chắc can đảm và mạnh mẽ của quân và dân ta. Đây là trận chiến đấu hào hùng oanh liệt nhất làm sáng ngời một chân lý : kẻxâm lược có sức mạnh, vũ khí tối tân đã chịu thua những con người có ý chíthép gang vì độc lập tự do của Tổ quốc. Nước mắt tuôn trào, thắp nén tâm nhang, lòng tiếc thương vô hạn chocác anh, những chị – những người chiến sỹ đã không kể sự sống chết lao vào cứunước. Chúng tôi bước đi thật nhẹ nhàng và trong lòng riêng tôi có một nỗisợ … không phải sợ giặc Mỹ nữa, cũng không phải sợ những loại bom tấn cósức hủy hoại ác liệt và chất nổ khổng lồ của chúng, mà tôi sợ rằng nếu lỡ chânbước mạnh trong mỗi bước tiến của chúng tôi trên từng viên gạch, lớp cỏ nàysẽ làm những anh đau .. Bước chân lên xe mà chúng tôi ai cũng chùng lại đểngoảnh nhìn lại ngôi Thành cổ tưởng như nhỏ bé mà sao tiềm ẩn biết baosự lớn lao .. Đời đời, con cháu luôn luôn tưởng niệm một thời máu lửa, mộtthời oanh liệt, hào hùng mà cha anh đã làm tổng thể để đánh đuổi giặc ngoạixâm, đem lại đời sống tự do, tươi đẹp như ngày hôm nay cho quả đât … Trên chuyến hành trình dài này có lẽ rằng điều mang ý nghĩa lớn lao nhất là đây – chúng tôi được ôn lại lịch sử vẻ vang hào hùng của dân tộc bản địa, được đến thăm tận nơinhững chiến trận năm xưa của cha anh, hiểu được sự quyết tử can đảm củacác chiến sỹ, để giờ đây được sống trong cảnh thanh thản này mỗi chúng tôiđều cần phải biết giữ gìn và phát huy niềm tin dân tộc bản địa, những giá trị truyềnthống, những di sản văn hóa truyền thống của dân tộc bản địa, học tập và thao tác hết mình trongsự nghiệp, góp thêm phần nhỏ bé của mình cùng thiết kế xây dựng một xã hội sống trongyên bình, văn minh, giàu đẹp .. Chặng đường dài vẫn còn phía trước, nhưng trong mỗi chúng tôi khôngai cảm thấy căng thẳng mệt mỏi, mà ý thức cảm thấy hoan hỉ hơn, chúng tôi đã hátsuốt dọc đường tới Huế. Đến đất Huế chúng tôi đã được giao lưu với HọcViện Âm Nhạc Huế, điều cảm nhận của tôi tiên phong là sự thân thiện của conngười đất Huế, những giọng nói truyền cảm, những câu hò mênh mang. Tìm hiểu về âm nhạc Huế, tôi nhận thấy rằng, với bề dày lịch sử vẻ vang vàtruyền thống văn hóa truyền thống, vùng đất sông Hương – núi Ngự là nơi quy tụ nhiềudòng nhạc mang đậm truyền thống Huế như : dòng nhạc cung đình bác học, dòngnhạc dân gian, dòng nhạc tín ngưỡng tôn giáo, cùng với nền tảng thơ văn, mỹthuật, tiệc tùng dân gian và làng nghề thủ công truyền thống góp thêm phần làmphong phú thêm đời sống văn hóa truyền thống niềm tin của nhân dân Huế xưa và nay. Nhạc Huế mang sắc thái địa phương rõ ràng, nhưng nhạc Huế khôngphải là một thứ âm nhạc địa phương, dưới những triều đại phog kiến nhàNguyễn. Do thực trạng lịch sử vẻ vang, nhạc Huế – qua thành phần nhạc lễ và cungđình của nó, đã có một thời hạn khá dài đóng vai trò là “ quốc nhạc ” dướithời thuộc Pháp. Nhạc Huế vẫn chinh phục được quần chúng hâm mộ, đượcsử dụng thông dụng ở những tỉnh phía Bắc và Nam. Và ở những nơi này, không10phải chỉ có yếu tố về nhạc chiêm ngưỡng và thưởng thức nhạc Huế như một đặc sản nổi tiếng có hươngvị lạ từ nơi khác đem đến, mà người ta còn thấy hiện tượng kỳ lạ nhạc Huế thâmnhập và nhạc Bắc, có tác động ảnh hưởng trở lại và làm giàu thêm cội nguồn miềnBắc, đồng thời đi sâu vào Nam, nó lại góp phần những tác nhân quan trọng, từđó phát sinh hình thành cái được xem như thể phong thái đặc trưng của âm nhạcmiền Nam. Do thực trạng địa lý, với những bãi biển, với sông Hương, núi Ngự đễđể con người tức cảnh sinh tình, hay trong đời sống lao động và sự sống sót, để giảm bớt những khó khăn vất vả khó khăn vất vả, nhọc nhằn trong lao động sản xuất, những điệu hò câu ví và những mô hình thẩm mỹ và nghệ thuật dân gian sinh ra và ngày càngtrở nên đa dạng và phong phú. Nói cách khác, do những điều kiện kèm theo kinh tế tài chính khắc nghiệtnhiều hơn là thuần lợi đã buộc con người bằng mọi cách, kể cả cách dùngphương tiện thẩm mỹ và nghệ thuật, vươn lên chống chọi với vạn vật thiên nhiên, kiếm tìm cuộcsống ấm no hơn. Do những dấu giọng đặc trưng trong tiếng nói chung dân tộc bản địa, hay là do chính ở đây, nơi tiếp xúc với nền văn hóa truyền thống thẩm mỹ và nghệ thuật dân tộc bản địa Chămđã hình thành những âm điệu, giọng điệu, những thể loại mới mẻ và lạ mắt so với cáivốn truyền thống từ Bắc đem vào, tạo nét đặc trưng riêng – cái thường gọi làphong cách “ Huế ”, phong thái “ miền Trung ”, hay nói gọn là “ nhạc Huế ”. Ngày nay dưới con mắt của những người đanng khám phá và nghiên cứuâm nhạc truyền thống lịch sử, “ nhạc Huế ” với tư cách một bộ phận của truyền thốngđó thường được xem như gồm ba thành phần chính yếu : 1. Nhạc Lễ ( gồm có cả nhạc Cung đình và nhạc Rõi bóng ) 2. Dân ca ( gồm có những điệu hò, lý, kể vè … ) 3. Ca HuếChúng tôi hay bất kể hành khách nào đến Huế cũng được ngồi trênthuyền trôi lênh đênh trên dòng sông Hương êm đềm và nghe hò Huế, tôiphần nào hiểu thêm về hò Huế .. đặc biệt quan trọng là Hò mái nhì, mái đẩy là điệu hòtrên sông nước, có âm điệu ngân nga, lan tỏa, mang sắc thái những dòng sôngở Thừa Thiên Huế : êm đềm, yên bình và đầy thơ mộng. 11H ò mái nhì thường được yêu thích từ nông thôn đến thành thị, nhất làtrên dòng sông Hương tình tứ, nên thơ. Điệu hò dịu dàng êm ả, vang vọng, để lạinhững dư âm trên mặt nước, trong bầu không khí huyền ảo của trăng, củamây và sương khói trên sông Hương … Hò mái đẩy cũng ngân nga vang vọng, nhưng so với hò mái nhì cóphần ngắn và mạnh hơn. Điệu hò này cũng phổ cập khắp Thừa Thiên Huế .. Chúng tôi cũng được giao lưu với những nghệ sĩ trên sông Hương, ngoàicách điệu hò chúng tôi còn được nghe ca Huế, chầu văn … và đoàn chúng tôiđã để lại những ấn tượng thâm thúy với những nghệ sĩ trong buổi biểu diễn ca nhạctrên sông Hương cũng như buổi giao lưu ca nhạc với Học Viện Âm NhạcHuế. Sau khi kết thúc chuyến đi thực tế, trên đường quay trở lại Hà nội, chúng tôilại được dừng chân nghỉ lại tại Quảng Bình. Dù đường có xa xôi, có mệt nhọcnhưng trong lòng ai cũng cảm thấy bồi hồi, xúc động khi quay trở lại nơi đây. Trong tâm tưởng chúng tôi vẫn hiện lên hình ảnh những người con của Tổquốc sáng ngời … đan xen lẫn những nét văn hóa truyền thống ý thức đậm đà truyền thống củadân tộc Việt. Từ quá khứ hào hùng đến hiện tại tất cả chúng ta được sống trong yênbình, để ngày hôm nay được học tập, được giao lưu, được vui tươi, được đắm mìnhtrong những tiếng hát trên dòng sông Hương êm đềm, lộng lẫy, huyền ảo nơiđất Huế – Miền Trung, nơi tiềm ẩn biết bao điều kỳ diệu … Là thế hệ tiếp bước cha ông, chúng tôi đã nguyện trong lòng tiếp tụchọc tập, rèn luyện, phấn đấu không ngừng để góp thêm phần nhỏ bé của mình vàoxây dựng quốc gia. Và việc tuyên truyền và những hoạt động giải trí hoạt động và sinh hoạt văn hóa truyền thống, văn nghệ là điều kiện kèm theo tốt nhất trong thời gian này và âm nhạc là cái mà dễ đivào lòng người nhất. Trong chuyến đi và trở về không khi nào chúng tôi ngơitiếng hát ca tụng về những chiến sỹ anh hùng, ca tụng về tình yêu, quê nhà, quốc gia Nước Ta. Trở về cũng vậy, chúng tôi đã tổ chức triển khai và tham gia biểudiễn hoạt động và sinh hoạt văn hóa truyền thống, nghệ thuật và thẩm mỹ … với chủ đề : “ Tuổi trẻ vì ngày mai tươisáng ”, tuổi trẻ chúng tôi hết mình trong học tập, giờ đây cũng quyết tâm để12rèn luyện và toàn bộ với niềm tin “ xung trận ”, góp sức, thao tác trong nhiệthuyết … như những tấm gương sáng ngời ấy … Qua đợt thực tế này, chúng tôi đã thu được những tác dụng tốt đẹp. Những kiến thức và kỹ năng về lịch sử vẻ vang – được đến tận nơi thăm những chiến tích nămxưa của những anh hùng liệt sĩ, được giao lưu học hỏi về âm nhạc dân gian vàvăn hóa nơi đất Huế, tổ chức triển khai tham gia hoạt động và sinh hoạt văn hóa truyền thống, văn nghệ … chúngtôi rút ra được những bài học kinh nghiệm kinh nghiệm tay nghề để ship hàng tốt trong công tácgiảng dạy của chúng tôi sau này như : công tác làm việc tổ chức triển khai những hoạt động giải trí ngoạikhóa Ôn lại những chặng đường lịch sử dân tộc, Học tập và làm theo tấm gương đạođức Hồ Chí Minh, Noi gương những chiến công quật cường, v.v … tổ chức triển khai đithực tế thăm di tích lịch sử, những hoạt động giải trí hoạt động và sinh hoạt văn hóa truyền thống, văn nghệ … nhằm mục đích giáodục ý thức yêu quê nhà, quốc gia, yêu tổng thể những gì vốn có của dântộc Nước Ta. Lòng biết ơn sâu nặng với những người đã đổ bao xương máucho độc lập dân tộc bản địa, cho thế hệ trẻ ngày này và tương lai biết sống, biết học tậpvà thao tác như thế nào để không phụ những người chiến sỹ đã khuất. 13
Source: https://evbn.org
Category: Góc Nhìn


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


