Thực trạng thiết bị dạy học và việc sử dụng thiết bị dạy học ở các trường tiểu – Tài liệu text

Thực trạng thiết bị dạy học và việc sử dụng thiết bị dạy học ở các trường tiểu học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (415.11 KB, 73 trang )

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Th.s Đỗ
Xuân Đức người đã hướng dẫn giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình thực
hiện và hoàn chỉnh đề tài này.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên các
trường Tiểu học: Trường Tiểu học Liên Minh, trường Tiểu học Đống Đa,
trường Tiểu học Ngô Quyền cùng toàn thể các thầy cô giáo, các bạn sinh viên
K34 khoa Gi¸o dôc TiÓu häc đ· khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi
trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài.
MỤC LỤC
A. Mở đầu
B. Nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận
1.1. Một số vấn đề về thiết bị dạy học
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Phân loại
1.1.3. Vị trí, vai trò của thiết bị dạy học trong dạy học
1.1.4. Những yêu cầu khi sử dụng thiết bị dạy học
1.2. Thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu học
1.2.1. Dạy học tiểu học với việc sử dụng các thiết bị dạy học
1.2.1.1. Mối quan hệ giữa thiết bị dạy học với mục đích, nội dung dạy
học ở tiểu học.
1.2.1.2. Mối quan hệ giữa thiết bị dạy học với phương pháp dạy học ở
tiểu học.
1.2.1.3. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học.
2.2. Danh mục các thiết bị dạy học tối thiểu
Chương 2. Thực trạng thiết bị dạy học và việc sử dụng thiết bị dạy học
trong dạy học ở tiểu học.
2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên về thiết bị dạy học và việc sử
dụng thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu học.
2.1.1. Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học.

2.1.2. Nhận thức của giáo viên về thiết bị dạy học.
2.1.3. Nhận thức của Ban giám hiệu và giáo viên về tầm quan trọng
của việc sử dụng thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu học.
2.2. Thực trạng về thiết bị dạy học ë trường tiểu học
2.2.1. Thực trạng về số lượng thiết bị dạy học ở trường tiểu học
2.2.2. Thực trạng về chất lượng thiết bị dạy học ở tiểu học.
2.3. Thực trạng việc sử dụng thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu học
Chương 3. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục
3.1. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục thực trạng thiết bị dạy học
hiện nay.
3.1.1. Nguyên nhân thực trạng
3.1.2. Giải pháp khắc phục thực trạng
3.2. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục thực trạng sử dụng thiết bị
dạy học trong dạy học ở tiểu học hiện nay
3.2.1. Nguyên nhân thực trạng
3.2.2. Giải pháp khắc phục thực trạng
C. Kết luận chung và kiến nghị
1. Kết luận chung
2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI. Mỗi
quốc gia đang chuẩn bị hành trang để tiếp cận với những tiến bộ vượt bậc của
kỷ nguyên mới với sự bùng nổ của tri thức khoa học và công nghệ. Hòa trong
xu thế đổi mới của toàn nhân loại, Việt Nam đang tiến nhanh trên con đường
công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, đưa nước ta từ một nước có nền công
nghiệp lạc hậu tiến kịp với các quốc gia khác, hội nhập với quốc tế, nắm bắt
nhanh, nhạy những tiến bộ của khoa học- kỹ thuật và công nghệ. Trong sự tồn
tại và phát triển của mỗi quốc gia “Giáo dục” đóng vai trò quan trọng được

coi là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, là một trong hai mục tiêu
chiến lược của quốc gia, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”.
Như chúng ta đã biết, hiện nay “giáo dục” là một trong những vấn đề
bức xúc của toàn xã hội. Bên cạnh thành tựu đã đạt được thì giáo dục nước ta
còn rất nhiều hạn chế: “Giáo dục – Đào tạo nước ta còn rất nhiều yếu kém,
bất cập cả về quy mô cơ cấu và nhất là về chất lượng giáo dục và hiệu quả
giáo dục còn thấp, trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành phương pháp tư duy
của học sinh đa số còn yếu, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế còn hạn
chế chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi ngày càng lớn và ngày càng cao về nhân
lực của công cuộc đổi mới kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực
hiện CNH – HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
[1]
.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như: Công tác quản lí
giáo dục còn lỏng lẻo, chưa hợp lý; nội dung chương trình còn lạc hậu xa rời
và phần nhiều chưa gắn bó với thực tế cuộc sống, và còn rất nhiều nguyên
nhân khác nữa. Song ta thấy nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất của thực
trạng trên là phương pháp dạy học chậm đổi mới và đổi mới chưa có hiệu quả
trong đó phải kể đến vấn đề thiết bị dạy học (TBDH) và việc sử dụng TBDH
trong nhà trường còn nhiều bất cập so với mục tiêu giáo dục và đào tạo.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học là bậc học quan trọng
nền tảng đặt nền móng vững chắc, tạo cơ sở cho các bậc học trên. “Mục tiêu
giáo dục tiểu học là nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức trí tuệ, thể chấ,t thẩm mĩ và kỹ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”
[2]
Muốn làm được điều đó cần phải quan tâm giải quyết đồng bộ những
vấn đề của bậc tiểu học trong đó đổi mới phương pháp dạy học là một xu thế
tất yếu để nâng cao chất lượng dạy – học trong xã hội phát triển theo hướng
“tập trung chỉ đạo,cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập ë các ngành

học, cÊp học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập,phát huy tính chủ
động, sáng tạo của người học”
[3]
.
Đổi mới phương pháp dạy học không thể tách rời công tác thiết bị và
đồ dùng dạy học ở tiểu học. Ngày nay với vai trò của mình, TBDH được coi
là một trong sáu thành tố quan trọng của quá trình dạy học (mục tiêu, nội
dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học và kiểm
tra đánh giá) và ngày càng có ảnh hưởng lớn tới chất lượng dạy học: “ đổi
mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải
được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học
theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa Để thực hiện những chủ trương trên,
ngoài việc nâng cao chất lượng người thầy, sách giáo khoa, việc đầu tư cơ sở
vật chất thiết bị trường học không thể thiếu được trong quá trình đào tạo con
người mới ”
[4]
.
Xác định rõ vị trí, vai trò của TBDH trong công cuộc đổi mới giáo dục
phổ thông lần thứ t này Bộ GD&ĐT rất chú ý tới công tác TBDH víi khẩu
hiệu: “Chống dạy chay, học chay” được triển khai trong các nhà trường.
Nhưng trên thực tế công tác thiết bị và đồ dùng dạy học vẫn còn nhiều bất
cập: chất lượng các TBDH chưa đảm bảo, việc sử dụng TBDH ở các trường
tiểu học hiệu quả chưa cao. Vì vậy việc phát hiện những nguyên nhân và đề
xuất những giải pháp cần thiết để khắc phục thực trạng trên là một vÊn đề hết
sức quan trọng. Để làm được điều đó, cần phải thấy rõ thực trạng TBDH và
việc sử dụng TBDH ở các trường tiểu học Cũng chính vì vậy việc tìm hiểu
“Thực trạng thiết bị dạy học và việc sử dụng thiết bị dạy học ở các trường
tiểu học” là cấp thiết.
Bản thân là một sinh viên sư phạm, một giáo viên tiểu học trong tương
lai, nghiên cứu đề tài này em rất mong muốn có những kinh nghiệm trong

hành trang nghề nghiệp của mình và với hy vọng tìm ra một số giải pháp có
hiệu quả để phần nào đẩy mạnh cuộc cách mạng về đổi mới phương pháp dạy
học, về công tác TBDH và việc sử dụng TBDH ở trường tiểu học gãp phÇn
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đây là vấn đề khá mới, TBDH trong nhà trường phổ thông nói chung
và trường tiểu học nói riêng chỉ thực sự ®îc quan tâm vài năm trở lại đây. Vì
thế trên các tạp chí chuyên ngành Giáo dục cũng có xuất hiện một số bài viết,
bài tham luận, xã luận, của một số tác giả, chẳng hạn như: Tiến sĩ Vũ Văn
Dụ: “Vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác quản lý thiết bị dạy học ở
trường phổ thông”; Thạc sĩ Lê Tiến Thành: “ Định hướng sử dụng đồ dùng
dạy học trong đổi mới phương pháp ở trường tiểu học”; Tiến sĩ Nguyễn
Trọng Khanh: “Một số giải pháp về đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lí, sử
dụng thiết bị dạy học ở trường phổ thông”; tác giả Trần Mẫu Minh: “Thực
trạng và hiệu quả của thiết bị dạy học trong đổi mới phương pháp dạy học”
Những bài viết này đã phản ánh hàng loạt các vấn đề có liên quan đến
thực trạng TBDH và việc sử dụng TBDH ở trường phổ thông nói chung.
Nhưng tìm hiểu thực trạng TBDH và việc sử dụng TBDH ở các trường tiểu
học khu vực thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc là vấn đề chưa ai nghiên cứu
và đề cập. Việc nghiên cứu vấn đề này nhằm góp phần nâng cao chất lượng
TBDH và việc sử dụng TBDH ở trường tiểu học nói riêng và hiệu quả giáo
dục nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng TBDH và việc sử dụng các TBDH ở các trường
tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc, nguyên nhân dẫn đến
thực trạng. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để khắc phục thực trạng
nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể
Vấn đề TBDH ở các trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên –

tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
– Thực trạng về TBDH ở các trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh
Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.
– Việc sử dụng các TBDH ở các trường tiểu học, nguyên nhân và giải
pháp của thực trạng.
5. Mức độ, phạm vi nghiên cứu
5.1. Mức độ nghiên cứu
Bước đầu tìm hiểu về thực trạng TBDH và việc sử dụng TBDH ở các
trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc, nguyên nhân
của thực trạng đó và giải pháp cho vấn đề.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian có hạn nên việc tìm hiểu thực trạng chỉ ở một số
trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Giả thiết khoa học
TBDH trong các trường đa dạng, phong phú về chủng loại và được
cung cấp tương đối đầy đủ nhưng chất lượng của các TBDH đó chưa cao và
việc sử dụng TBDH trong quá trình giảng dạy của giáo viên thường xuyên
nhưng chưa thực sự có hiệu quả.
Tìm hiểu thực trạng TBDH và việc sử dụng thiết bị dạy học ở trường
tiểu học để thấy được những nguyên nhân của thực trạng trên và đưa ra một
số giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng của TBDH và việc sử dụng
TBDH ở các trường tiểu học.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài.
– Tìm hiểu thực trạng TBDH ở các trường tiểu học khu vực thành phố
Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.
– Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng các TBDH ở các trường đó.
– Nguyên nhân và đề xuất giải pháp cho thực trạng trên nhằm nâng cao
chất lượng TBDH và việc sử dụng TBDH ở các trường tiểu học.

8. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài
– Phương pháp đọc sách
– Phương pháp điều tra, khảo sat, thống kê, phân tích số liệu.
– Phương pháp trò chuyện, phương pháp quan sát.
9. Kế hoạch nghiên cứu
– Tháng 10 – 11: Nhận đề tài và hoàn thành đề cương
– Tháng 11- 2: Tìm hiểu cơ sở lý luận
– Tháng 02 – 04: Khảo sát thực trạng, đề xuất một số giải pháp cho thực
trạng.
– Tháng 4, 5: Xử lí số liệu, hoàn thành đề tài.
10. Nội dung của đề tài
A. Mở đầu
B. Nội dung
Chương 1. Cơ sở lí luận
1.1. Một số vấn đề về thiết bị dạy học
1.2. Thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu học
Chương 2. Thực trạng TBDH và việc sử dụng THDH trong dạy học ở
tiểu học
2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên về TBDH và việc sử
dụng TBDH trong dạy học ở tiểu học
2.2. Thực trạng về TBDH ë trường tiểu học
2.3. Thực trạng việc sử dụng TBDH trong dạy học ở tiểu học.
Chương 3. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục
3.1. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục thực trạng TBDH hiện
nay
3.2. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục thực trạng sử dụng
TBDH ở tiểu học hiện nay
C. Kết luận chung và kiến nghị
1. Kết luận chung

2. Kiến nghị
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.Mét sè vÊn ®Ò vÒ thiÕt bÞ d¹y häc (TBDH)
1.1.1. Khái niệm
Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học gồm có hoạt động dạy và hoạt
động học, trong đó diễn ra quá trình tái sản xuất những kinh nghiệm xã hội
của nhân loại. Cũng như bất kì một quá trình sản xuất nào, quá trình dạy học
cũng phải sử dụng những phương tiện lao động nhất định. Phương tiện lao
động sư phạm rất đa dạng, gồm những phương tiện vất chất, phương tiện thực
hành, phương tiện trí tuệ. Ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu phương tiện dạy học
vật chất với ý nghĩa là công cụ lao động của người dạy và người học, và được
nói gọn là phương tiện dạy học (thiết bị dạy học). Tuy nhiên khi đề cập đến
các TBDH và cách sử dụng chúng thì phần nào đã nói đến thiết bị thực hành.
Từ cách hiểu TBDH như vậy, có thể đi tới khái niệm sau:
“TBDH là tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng
với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức
của người học, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học”
[5]
PGS.TS KH Trần Doãn Quế cũng đưa ra khái niệm khá cụ thể về
TBDH như sau: “TBDH còn gọi là phương tiện dạy học, đồ dùng dạy học,
tất cả những phương tiện vật chất cần thiết giúp giáo viên và học sinh tổ chức
và tiến hành hợp lí có hiệu quả quá trình giáo dục, giáo dưỡng ở các cấp học,
các môn học, các lĩnh vực để thực hiện được yêu cầu của chương trình giảng
dạy. Ngoài ra thiết bị dạy học còn là nguồn tri thức, là phương tiện chứa
đựng và truyền tải thông tin, là phương tiện làm tăng giá trị lượng tin tức
giúp cho quá trình trao đổi thông tin nhanh, nhiều và hiệu quả hơn”
[6]
.
Trên đây đều là những khái niệm tương đối đầy đủ về TBDH. Tuy

nhiên chúng ta có thể hiểu TBDH một cách đơn giản như sau:
“TBDH là một vật thể hoặc tập hợp những đối tượng vật chất mà
người giáo viên sử dụng với tư cách là công cụ lao động, là phương tiện điều
khiển hoạt động nhận thức của học sinh, đối với học sinh thì đây là nguồn tri
thức, là các phương tiện giúp cho việc lĩnh hội các khái niệm, định luật,
thuyết khoa học, hình thành ở học sinh các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc
giáo dục, phục vụ các mục đích dạy học và giáo dục”
[7]
.
Về mặt bản chất, TBDH là công cụ lao động dành cho loại hình lao
động đặc thù của xã hội, đó là lao động dạy học, là yếu tố quan trọng có vai
trò quyết định năng suất, chất lượng lao động của giáo viên và học sinh.
TBDH còn phản ánh trình độ dạy học và chất lượng đào tạo của nhà trường
trong các thời đại. Các thời đại giáo dục, các trình độ dạy học không phải chỉ
được phân biệt ở chỗ nội dung dạy học, mà còn ở chỗ dạy – học bằng cái gì,
bằng phương pháp nào và bằng những TBDH nào.
1.1.2. Phân loại thiết bị dạy học
a. Căn cứ vào vai trò của TBDH trong quá trình dạy học,ta có thể phân
loại như sau: TBDH truyền thống và TBDH không truyền thống.
+ TBDH truyền thống: tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí
nghiệm,
+ TBDH không truyền thống: các phim khoa học, băng đĩa, máy chiếu,
các phần mềm dạy học,
b. Căn cứ vào đặc trưng của từng TBDH ta có thể phân loại như sau:
+ Các vật (mô hình, tranh ảnh, thô sơ và gần gũi với học sinh).
+ Các TBDH hiện đại: máy chiếu, các phương tiện nghe nhìn, các phần
mềm dạy học, internet,
c. Dựa vào tính chất của TBDH Tiến sĩ Vũ Văn Dụ phân chia TBDH
thành 3 loại như sau: phương tiện dạy học trực quan, dụng cụ thí nghiệm,
phương tiện kỹ thuật dạy học.

+ Phương tiện dạy học trực quan: vật thật, vật thay thế, mô hình,
tranh ảnh,
+ Dụng cụ thí nghiệm: để thực hiện các thí nghiệm theo quy định
trong chương trình. Có dụng cụ thí nghiệm chuyên biệt chỉ dùng
cho một thí nghiệm, có dụng cụ thí nghiệm có thể dùng cho
nhiều bài học khác nhau: đèn cồn, cốc, bình, ống thủy tinh trong
suốt với kích thước khác nhau
+ Phương tiện kỹ thuật dạy học: máy chiếu đa phương tiện, máy
chiếu vật thể, máy projecter, màn ảnh, đầu đĩa catset, vidio, các
phần mềm dạy học (phần mềm microsoft power point để thiết kế
các thí nghiệm ảo, các thí nghiệm mô phỏng bài học trong sách
giáo khoa)
Đây là cách phân loại hợp lí và khoa học nhất phù hợp với tính chất đặc
trưng của các TBDH.
TBDH hiện nay được sản xuất đồng bộ, cung cấp rộng rãi theo tiêu
chuẩn kỹ thuật xác định của thế giới và trong nước. Là các TBDH theo danh
mục TBDH tối thiểu của Bộ GD&ĐT quy định. Ngoài ra còn có đồ dùng dạy
học trực quan do giáo viên và học sinh tự làm, tự sưu tầm. Đáng lưu ý,
phương tiện kỹ thuật dạy học là loại TBDH có tính hiện đại và khả năng sư
phạm cao thường được sử dụng trên lớp học và được trang bị ngày một phổ
biến ở các trường học. Nhờ có phương tiện kỹ thuật một lượng thông tin lớn
của bài học được hình ảnh, mô hình hóa, mang lại cho môn học một không
gian học tập có tính mục đích và hiệu quả cao Chính ưu thế về mặt sư phạm
này mà phương tiện kỹ thuật có tác động to lớn trong việc giúp giáo viên thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường.
1.1.3 Vị trí, vai trò của TBDH trong dạy học
1.1.3.1. Vị trí của TBDH trong dạy học
Quá trình dạy học diễn ra với sáu yếu tố cơ bản là: mục tiêu dạy học,
nội dung dạy học, phương pháp dạy học, giáo viên, học sinh và thiết bị dạy
học.

TBDH là một thành tố không thể thiếu của hệ thống dạy học. Nó tồn
tại, vận động và có mối liên hệ mật thiết với các yếu tố khác trong hệ thống.
1.1.3.2. Vai trò của TBDH trong dạy học
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một trong các điều kiện quyết định
sự thành công của cải cách giáo dục, vì sự thành công của cải cách giáo dục
phụ thuộc ba điều kiện cơ bản sau:
+ Chương trình và sách giáo khoa mới.
+ Bồi dưỡng giáo viên
+ Đổi mới về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học.
Trước đây người ta quan niệm TBDH chỉ là phương tiện minh họa lời
giảng của giáo viên. Ngày nay, người ta coi TBDH chẳng những là phương
tiện minh họa cho lời giảng của giáo viên mà còn là phương tiện giúp giáo
viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, là phương tiện
phát triển tư duy. TBDH giúp học sinh dễ dàng nhận ra những đặc điểm bên
ngoài của sự vật hiện tượng, nhưng TBDH còn có khả năng giúp học sinh
thấy được cả những thuộc tính bên trong, thuộc tính bản chất của sự vật, hiện
tượng. TBDH đã thực sự góp phần phát triển tư duy của học sinh.
TBDH đã thực sự là điều kiện cần và đủ giúp giáo viên thiết kế hoạt
động học tập cho học sinh, để học sinh có cơ hội tự mình phát hiện ra kiến
thức giúp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động
học tập, chủ động nhận thức của người học. Sử dụng thiết bị trong quá trình
dạy học có tác dụng làm giảm sự phụ thuộc của học sinh vào lời giảng của
giáo viên, do đó góp phần đổi mới phương pháp học một cách có hiệu quả.
Đối với quá trình dạy học, TBDH là phương tiện dạy học rất quan trọng
thể hiện trên 3 mặt:
– Phương tiện minh họa kiến thức.
– Phương tiện nâng cao năng lực tư duy.
– Phương tiện rèn luyện năng lực thực hành.
a. Thiết bị dạy học là phương tiện minh họa kiến thức
Tất cả mục tiêu dạy học ở tiểu học nói riêng và mục tiêu dạy học nói

chung đều có thể dễ dàng thực hiện thông qua các công cụ trực quan (thiết bị
dạy học). TBDH với việc trực quan hóa thông tin thuận lợi hơn hẳn so với
dạy học bằng phương pháp thuyết trình giảng giải: chứa nhiều thông tin và tổ
chức thuận lợi các thông tin trong cùng một số lượng chỗ, làm đơn giản các
khái niệm, làm sáng tỏ các chi tiết của một khái niệm dựa trên ngôn ngữ trừu
tượng. Đặc biệt các kết quả nghiên cứu cho thấy tranh, ảnh trực quan và việc
sử dụng TBDH trong quá trình dạy học sẽ làm tăng sự nhớ trong học tập – đây
là một trong những mục tiêu hàng đầu của giáo dục.
b. Thiết bị dạy học là phương tiện nâng cao năng lực tư duy
Những hình ảnh trực quan đảm bảo mối liên hệ thường xuyên giữa tư
duy với hiện tượng hoặc đối tượng nghiên cứu khi cung cấp cho tư duy tài
liệu thông tin cần thiết. Phương tiện trực quan là trợ thủ không thể thay thế
được của người giáo viên ở giai đoạn hình thành tư duy trừu tượng cho học
sinh. Ở giai đoạn này những hình ảnh trực quan cảm tính bao giờ cũng là
thành phần và là tiền đề bắt buộc của tư duy. Tư duy dù đạt đến mức độ cao
như thế nào nhưng ít nhiều nó cũng cần đến trực quan cảm tính, cần đến hình
ảnh.
Các tài liệu trực quan, TBDH chẳng những cung cấp cho học sinh
những kiến thức chính xác mà còn giúp học sinh tiểu học kiểm chứng lại tính
đúng đắn của các kiến thức lý thuyết. Đứng trước vật thật hay các hình ảnh
của chúng học sinh sẽ học tập hứng thú hơn, tăng cường sức chú ý đối với các
hiện tượng để rút ra các kết luận đúng đắn.
c. Thiết bị dạy học là phương tiện rèn luyện năng lực thực hành
Mục tiêu giáo dục đào tạo là đào tạo ra những con người nắm vững các
kiến thức khoa học, giỏi thực hành có bàn tay khéo léo thể hiện những điều
mà bộ óc suy nghĩ.
Khi hoạt động với công cụ, học sinh sẽ lôi kéo các vật vào nhiều hình
thức tác động tương hỗ. Điều đó làm lộ rõ những mối liên hệ nội tại giữa các
vật, làm xuất hiện những bức tranh chân thực về thế giới. Trong quá trình thí
nghiệm, thực hành, quan sát trực quan, các kiến thức lý thuyết mà học sinh

tiếp thu trên lớp thường ở dạng tĩnh cô lập với kiến thức khác sẽ tác động
tương hỗ với nhau làm cho chúng trở nên động, làm lộ rõ bản chất và khả
năng của chúng. Nhờ vậy,học sinh tiểu học sẽ thấy rõ vị trí, vai trò của mỗi
kiến thức trong hoạt động thực tiễn(qua thực hành).
Qua thực hành hứng thú nhận thức của học sinh được kích thích. Khi
tiếp xúc với thực tiễn, tư duy của học sinh luôn luôn được đặt trước tình
huống mới buộc học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi, phát triển trí sáng tạo. Qua
thực hành, đức tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, kỷ luật được rèn luyện, ý
chí và tình yêu lao động sẽ được nảy nở. Đó là những phẩm chất cần thiết đối
với người lao động và phải được hình thành qua một quá trình rèn luyện lâu
dài, bằng những hoạt động thực hành đa dạng.
1.1.4.Yêu cầu khi sử dụng thiết bị dạy học
Các phương tiện trực quan, thiết bị dạy học nếu được chuẩn bị, sử dụng
khéo léo sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp được
hai hệ thống tín hiệu, tạo điều kiện cho người đọc dễ hiểu, nhớ lâu gây hứng
thú học tập, phát triển năng lực quan sát, bồi dưỡng sự say mê, óc tò mò tìm
tòi phát hiện những tri thức mới. Vì thế khi tiến hành sử dụng các TBDH
trong bài dạy cần giúp người học nắm vững, vận dụng tốt nhất những tri thức
cơ bản và biến chúng thành phương tiện để tiếp tục lĩnh hội tri thức ở mức độ
cao hơn. Các TBDH cần được chuẩn bị cẩn thận, đảm bảo các yêu cầu sau
đây:
a. TBDH phải gắn với nội dung của SGK
TBDH nhằm mục đích minh họa kiến thức, rèn luyện kỹ năng thực
hành luyện tập mà bài học yêu cầu. Vì vậy, TBDH phải thống nhất, phù hợp
với nội dung s¸ch gi¸o khoa.
b. Sử dụng TBDH phải đúng mục đích
Mỗi TBDH có chức năng riêng phải được nghiên cứu sử dụng đúng
mục đích và phù hợp với quá trình dạy học. Các thiết bị dạy học là chỗ dựa
trực quan để phát triển tư duy, để dạy các nội dung kiến thức trừu tượng, khái
quát. Sách giáo khoa ở đầu cấp kênh hình nhiều, càng về cuối cấp càng giảm

dần. ở các lớp 1 – 2 – 3, đồ dùng dạy học thường là các vật thật (que tính, )
hình ảnh, mô hình hình học gần gũi với cuộc sống. Ở các lớp trên, chủ yếu là
các mô hình, hình vẽ tượng trưng có mức độ trừu tượng, khái quát nhất định.
c. Các thiết bị dạy học phải sử dụng đúng lúc, đúng chỗ
Nghĩa là TBDH phải được đưa ra lúc học sinh cần nhất, được đặt ở vị
trí thích hợp nhất, lúc mà nội dung bài học và phương pháp dạy học cần đến,
học sinh tiếp nhận được thông tin bằng các giác quan khác nhau với trạng thái
tâm lí phù hợp.
d. Sử dụng TBDH phải đúng mức độ, cường độ
Sử dụng đúng mức độ, cường độ TBDH để tạo được hứng thú học tập
cho học sinh, giúp các em hoạt động một cách chủ động, sáng tạo và tích cực.
Cần chuyển dần, chuyển kịp thời các dạng trực quan từ cụ thể sang trừu tượng
hơn. Cần tránh sử dụng TBDH quá lâu, nhiều lần một loạt TBDH trong một
tiết học. Nếu sử dụng TBDH không đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ sẽ hạn
chế khả năng phát triển tư duy của học sinh, học sinh ngại suy nghĩ, làm việc
máy móc.
e. Phải kết hợp sử dụng các TBDH được trang bị với việc khai thác cơ
sở vật chất, thực tế xung quanh
Môi trường dạy học là nơi diễn ra hoạt động dạy và học, là nơi có các
nguồn thông tin phong phú giúp giáo viên và học sinh khám phá, khai thác và
sử dụng vào mục đích dạy – học. Môi trường dạy học hiểu theo nghĩa hẹp là
những yếu tố vật chất, kỹ thuật của nhà trường, bối cảnh thực tế của lớp học,
là mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh. Việc kết hợp sử dụng TBDH được
trang bị với việc khai thác cơ sở vật chất, môi trường dạy học không những
gây hứng thú cho việc dạy, việc học mà còn tạo dựng được mối quan hệ hợp
tác trong học tập.
Ngoài những yêu cầu trên, khi sử dụng TBDH trong dạy học cần phải l-
u ý: TBDH phải phù hợp với khả năng lĩnh hội tri thức của học sinh, đảm bảo
tính khoa học, phản ánh chính xác bản chất các sự vật, đảm bảo sự quan sát
của tập thể lớp, dễ sử dụng, không chiếm mất nhiều thời gian khi sử dụng,

đảm bảo tính thẩm mĩ, sử dụng đến đâu thì đưa ra đến đó, dùng xong phải cất
đi để không làm phân tán sự chú ý vào bài học của học sinh. Phải chú ý thiết
lập hệ thống câu hỏi định hướng sự quan sát của học sinh
Mỗi TBDH đều có thế mạnh và chỗ yếu. Để sử dụng một cách có hiệu
quả TBDH đòi hỏi giáo viên phải hiểu rõ cấu tạo, nguyên lý hoạt động, tác
dụng của mỗi TBDH. Căn cứ vào mục đích, nội dung bài học, lựa chọn, sử
dụng và phối hợp các TBDH một cách hợp lý sẽ góp phần nâng cao chất
lượng học tập của học sinh.
1.2. Thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu học
1.2.1. Dạy học tiÓu học với việc sử dụng các TBDH
Là một nhân tố của quá trình dạy học thì TBDH phải phù hợp với các
nhân tố khác như mục đích, nội dung, phương pháp, các hình thức tổ chức
dạy học sự phù hợp này biểu hiện ở chỗ TBDH phải là sự vật chất hóa nội
dung và phương pháp dạy học.
1.2.1.1. Mối quan hệ giữa TBDH với mục đích, nội dung dạy học tiÓu
häc.
– Mục đích dạy học ở tiểu học
Điều 23, luật giáo dục 2005 khẳng định:
“Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc
dân, giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và
các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”
Nội dung dạy học là sự cụ thể hóa các mục đích và nhiệm vụ của dạy
học do xã hội đặt ra. Nội dung dạy học được quy định bởi sự tiến bộ của chế
độ xã hội và khoa học công nghệ. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay đã đặt ra cho nhà trường những yêu cầu to
lớn, đòi hỏi phải có sự đổi mới một cách cơ bản về nội dung, phương pháp
dạy học và do đó phải tổ chức lại cơ sở vật chất – kỹ thuật trường học. Để phù
với nội dung dạy học, hệ thống TBDH phải bao gồm nhiều thành phần, các
thành phần này phải tính tới các đặc điểm của nội dung chương trình, phải

thích ứng một cách cụ thể, tỉ mỉ với việc nghiên cứu mọi vấn đề của chương
trình môn học, phải thỏa mãn những yêu cầu về tính khoa học và giúp học
sinh lĩnh hội tốt hơn các khái niệm, định luật, lý thuyết khoa học, đảm bảo sự
thống nhất giữa dạy học và giáo dục, giáo dục kỹ thuật tổng hợp;phải đảm
bảo cho việc tổ chức các giờ nội khóa, ngoại khóa, tự chọn
Mỗi TBDH chứa đựng một nội dung giáo dục nhất định giữa vật chứa
nội dung (TBDH) và bản thân nội dung giáo dục (chứa trong SGK) phải có sự
phù hợp về cấu trúc, về mục đích, về mức độ hiện đại và các mặt khác. Nội
dung chứa đựng trong mỗi thiết bị phải hướng tới những lý thuyết, sự kiện cơ
bản và thực sự quan trọng đối với việc học tập và hoạt động tương lai của học
sinh, phải giúp học sinh nắm vững khoa học hiện đại, góp phần vận dụng sớm
và có hệ thống những kiến thức đã học để nghiên cứu các hiện tượng thực
tiễn. Các thiết bị phải được chế tạo sao cho có thể giới thiệu kiến thức theo
phương pháp quy nạp khi hình thành khái niệm và định luật khoa học, đồng
thời phải góp phần rèn luyện phương pháp suy diễn, làm cho học sinh nắm
vững và vận dụng phương pháp này sớm hơn so với chương trình cũ (Mục
đích của việc đổi mới phương pháp dạy học) thiết bị phải góp phần trang bị
cho học sinh những kiến thức về kỹ thuật tổng hợp, góp phần phát triển năng
lực nhận thức và hứng thú khoa học của học sinh.
Mỗi TBDH phải chứa đựng một nội dung nào đó nằm trong hệ thống
kiến thức và kỹ năng đã học và sẽ học phù hợp với chiều sâu và cấu trúc của
hệ thống kiến thức nghiên cứu trong nhà trường.
1.2.1.2. Quan hệ giữa thiết bị dạy học và phương pháp dạy học ở tiểu
học
Dạy học ngày nay không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức mà
loài người đã tích lũy được và hệ thống hóa lại mà còn phải có nhiệm vụ phát
triển năng lực sáng tạo của thế hệ trẻ và kỹ năng thường xuyên tự hoàn thiện
tri thức của họ. Đặc điểm cơ bản của các phương pháp dạy học mới, thể hiện
ở chỗ biến hoạt động dạy của giáo viên vốn là hoạt động thông báo tri thức
trước đây thành hoạt động tổ chức, điều khiển để học sinh tự lĩnh hội, tìm

kiếm tri thức. Các phương pháp dạy học mới nhằm giải quyết tốt ba vấn đề:
tích cực hóa quá trình nhận thức của học sinh; tăng cường khả năng tự lập và
cá biệt hóa quá trình dạy học. Để phù hợp với các phương pháp dạy học mới,
hệ thống TBDH phải thay đổi về loại hình, cấu trúc và phương pháp sử dụng.
TBDH có quan hệ mật thiết với các yếu tố người dạy và người học.
Việc dạy học “lấy người học làm trung tâm” đang được triển khai rộng rãi,
xu thế đổi mới tích cực này đã dựa trên những thay đổi chủ yếu có quan hệ
mật thiết với TBDH: nâng cao tính tích cực, chủ động hơn khi tham gia vào
quá trình học tập và người học được tổ chức hoạt động, được hoạt động nhiều
hơn, tự chiếm lĩnh kiến thức: để thành công trong dạy và học “lấy người học
làm trung tâm” thì TBDH tốt là một yếu tố không thể thiếu.
1.2.1.3. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học
Tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học có những đặc điểm sau đây:
Nhu cầu nhận thức phát triển khá rõ nét, từ nhu cầu tìm hiểu những sự
vật, hiện tượng riêng lẻ (lớp 1 và lớp 2) đến nhu cầu phát hiện những nguyên
nhân và quy luật các mối liên hệ, quan hệ (lớp 3 – 4 – 5).
Đối tượng gây xúc cảm cho học sinh tiểu học thường là sự vật, hiện
tượng cụ thể. Tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh
cụ thể.
Tư duy của học sinh tiểu học là tư duy lý tính gồm 2 loại: Tư duy cụ
thể và tư duy trừu tượng. Tư duy cụ thể có trước tuổi học vẫn tiếp tục phát
triển ở trình độ cao hơn do nhu cầu của hoạt động học, nội dung bài học là
những tri thức khái quát. Học sinh muốn tiếp thu loại tri thức này phải dựa
vào vật thật, vật tượng trưng là các TBDH. Tư duy trừu tượng bắt đầu được
hình thành (trước 6 tuổi) đã xuất hiện nhưng còn non yếu, phải có sự tổ chức,
điều khiển của giáo viên bởi vì nội dung bài học là khái niệm, là tri thức khái
quát, học sinh muốn tiếp thu được phải có tư duy trừu tượng, tuy nhiên tư duy
trừu tượng phải dựa vào tư duy cụ thể.
Chính vì những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học mà người
giáo viên cần phải có kỹ năng tổ chức, điều khiển hoạt động học, biết căn cứ

vào nội dung bài học để lựa chọn phương tiện trực quan, vật thực, vật tượng
trưng, hình ảnh trực quan Các thiết bị dạy học hướng dẫn học sinh phân
tích hình ảnh trực quan để làm bộc lộ nội dung khái niệm; giáo viên hướng
dẫn học sinh thay thế vật trực quan, bằng ký hiệu để thay thế khái niệm,
chuyển dần khái niệm vào trong đầu.
Có nhà giáo dục cho rằng: trẻ em không sợ học mà chỉ sợ những tiết
học đơn điệu, nhàm chán. Học sinh tiểu học cảm thấy mệt mỏi và chán học
khi chỉ nhìn thấy mãi một hình ảnh giáo viên. Lúc đó, học sinh mong muốn
được nhìn một cái gì khác ngoài giáo viên, để tạo ra cảm giác thoải mái khi
có cái mới để thu nhận kiến thức, thường thường cái mới đó là thiết bị dạy
học.
Việc tìm hiểu những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học giữ vai
trò quan trọng trong quá trình dạy học. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học,
giáo viên cần phải dựa vào những đặc điểm tâm lý, sinh lý, đối tượng để lựa
chọn và xây dựng những phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù
hợp.
1.2.2. Danh mục các thiết bị dạy học tối thiểu dành cho các khối lớp ở
tiểu học do Bộ GD&ĐT ban hành
DANH MỤC THIẾT BỊ DẠY HỌC TỐI THIỂU LỚP 1
( Ban hành kèm theo quyết định 09/2002/QĐ-BGD&ĐT, ngày 21/03/2002)
STT Tên thiết bị Đơn vị tính
Số
lượng
MÔN TIẾNG VIỆT
1 Bộ chữ học vần thực hành Bộ 40
2 Bộ chữ học vần biểu diễn Bộ 1
MÔN TOÁN
1 Bộ đồ dùng học toán thực hành Bộ 40
2 Bộ độ dùng học toán biểu diễn Bộ 1
MÔN ĐẠO ĐỨC

1 Băng đĩa (hình) các bài hát sử dụng để dạy
đạo đức. Cái 1
2 Băng (đĩa) hình hoạt cảnh Cái 4
3 Bộ tranh đạo đức (13 bức) Bộ 1
MÔN NGHỆ THUẬT
1 Băng (đĩa) nhạc ghi các bài hát lớp 1. Cái 1
2 Song loan Cái 5
3 Thanh phách Đôi 11
4 Trống nhỏ Cái 3
5 Bộ tranh mỹ thuật lớp 1 (18 bức) Bộ 1
6 Băng( đĩa) hình hướng dẫn thực hành một số
tiết Cái 5
MÔN THỂ DỤC
1 Bộ tranh thể dục lớp 1(18 bức) Bộ 1
2 Thước cuộn 5m bằng kim loại Cái 1
3 Quả cầu chinh Quả 20
4 Còi Cái 2
5 Bóng nhựa Quả 2
THIẾT BỊ DÙNG CHUNG
1 Băng đĩa hình hướng dẫn phương pháp dạy
học
Cái 8
DANH MỤC THIẾT BỊ DẠY HỌC TỐI THIỂU LỚP 2
(Ban hành kem theo quyết định số: 12/2003/QĐ -BGD&ĐT, ngày 24/03/2003/)
STT Tên thiết bị Đơn vị tính
Số
lượng
MÔN TIẾNG VIỆT
1 Mẫu chữ viết trong trường Bộ 1
2 Bộ chữ dạy tập viêt (40 tờ) Bộ 1

MÔN TOÁN
1 Bộ toán biểu diễn lớp 2 Bộ 1
2 Bộ toán thực hành lớp 2 Bộ 40
3 Thước đo độ dài dạy về mm, cm, dm và m (1
thước 1m và một thước 0,5m)
Bộ 1
4 Cân đĩa 5 kg kèm hộp quả cân Bộ 1
5 Bộ chai và ca lít Bộ 1
MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI
1 Tranh tự nhiên xã hội gồm(tranh vẽ bộ
xương,hệ cơ,hệ tiêu hóa,sự tiêu hóa thức ăn ở
khoang miệng, dạ dày,ruột non,ruột già)hình
câm(4 tờ)
Bộ 1
MÔN KỸ THUẬT
1 Bộ tranh thưởng thức mỹ thuật lớp 2(thiếu nhi)
(20 tờ)
Bộ 1
2 Bộ tranh mỹ thuật lớp 2 gồm:vẽ theo mẫu, vẽ
trang trí,hướng dẫn cách vẽ(18 tờ)
Bộ 1
MÔN ÂM NHẠC
1 Kèn Melodion(Suzuki) Cái 2
2 Băng cassette(đĩa CD) ghi 12 bài hát trong
SGK
Cái 1
3 Nhạc cụ gõ(song loan,phách,mõ,trống) Bộ 2
MÔN THỦ CÔNG
Tranh thủ công gồm:Quy trình gấp, cắt, làm đồ
chơi(15 bức) Bộ 1

MÔN THỂ THAO
1 Tranh thể dục lớp 2(12 tờ) Bộ 1
2 Thước dây 10 m bằng kim loại Cái 1
3 Còi điền kinh Cái 2
4 Quả cầu đá Quả 40
5 Bóng nhỡ bằng da Quả 4
6 Cờ nhỏ Cái 10
7 Vợt đánh cầu chinh Cái 40
DANH MỤC THIẾT BỊ TỐI THIỂU LỚP 3
STT Tên thiết bị Đơn vị tính
Số
lượng
MÔN TIẾNG VIỆT
1 Bộ chữ dạy tập viết Bộ 1
2 Mẫu chữ viết trong trường tiểu học (8 tờ) + 1
nẹp 60 cm Bộ 1
3 Bộ chữ viết mẫu tên riêng (31 tờ) Bộ 1
MÔN ĐẠO ĐỨC
1 Bộ tranh đạo đức lớp 3 (5 tờ) + 1 nẹp 60 cm và
1 nẹp 85 cm Bộ 1
MÔN TOÁN
1 Bộ toán biểu diễn lớp 3 (bộ toán + bảng nỉ +
thước 1m và 0,5 m + compa) Bộ 1
2 Bộ toán thực hành lớp 3 Bộ 40
MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI
1 Bộ tranh tự nhiên xã hội (5 tờ) + 1 nẹp 60 cm Bộ 1
2 Mô hình trái đất quay xung quanh mặt trời, mặt
trăng quay quanh trái đất. Bộ 1
MÔN MĨ THUẬT
1 Bộ tranh mĩ thuật lớp 3 (8 tờ) + 1 nẹp 60 cm Bộ 1

2 Bộ tranh thưởng thức mỹ thuật lớp 3 ( tuyển tập
2.1.2. Nhận thức của giáo viên về thiết bị dạy học. 2.1.3. Nhận thức của Ban giám hiệu và giáo viên về tầm quan trọngcủa việc sử dụng thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu học. 2.2. Thực trạng về thiết bị dạy học ë trường tiểu học2. 2.1. Thực trạng về số lượng thiết bị dạy học ở trường tiểu học2. 2.2. Thực trạng về chất lượng thiết bị dạy học ở tiểu học. 2.3. Thực trạng việc sử dụng thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu họcChương 3. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục3. 1. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình hình thiết bị dạy họchiện nay. 3.1.1. Nguyên nhân thực trạng3. 1.2. Giải pháp khắc phục thực trạng3. 2. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình hình sử dụng thiết bịdạy học trong dạy học ở tiểu học hiện nay3. 2.1. Nguyên nhân thực trạng3. 2.2. Giải pháp khắc phục thực trạngC. Kết luận chung và kiến nghị1. Kết luận chung2. Kiến nghịTài liệu tham khảoA. MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tàiChúng ta đang sống trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI. Mỗiquốc gia đang chuẩn bị sẵn sàng hành trang để tiếp cận với những tân tiến vượt bậc củakỷ nguyên mới với sự bùng nổ của tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến. Hòa trongxu thế thay đổi của toàn quả đât, Nước Ta đang tiến nhanh trên con đườngcông nghiệp hoá-hiện đại hoá quốc gia, đưa nước ta từ một nước có nền côngnghiệp lạc hậu tiến kịp với những vương quốc khác, hội nhập với quốc tế, nắm bắtnhanh, nhạy những văn minh của khoa học – kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Trong sự tồntại và tăng trưởng của mỗi vương quốc “ Giáo dục đào tạo ” đóng vai trò quan trọng đượccoi là động lực thôi thúc sự tăng trưởng của kinh tế tài chính, là một trong hai mục tiêuchiến lược của vương quốc, “ góp vốn đầu tư cho giáo dục là góp vốn đầu tư cho tăng trưởng ”. Như tất cả chúng ta đã biết, lúc bấy giờ “ giáo dục ” là một trong những vấn đềbức xúc của toàn xã hội. Bên cạnh thành tựu đã đạt được thì giáo dục nước tacòn rất nhiều hạn chế : “ Giáo dục đào tạo – Đào tạo nước ta còn rất nhiều yếu kém, chưa ổn cả về quy mô cơ cấu tổ chức và nhất là về chất lượng giáo dục và hiệu quảgiáo dục còn thấp, trình độ kiến thức và kỹ năng, kiến thức và kỹ năng thực hành thực tế giải pháp tư duycủa học viên hầu hết còn yếu, kỹ năng và kiến thức vận dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tiễn còn hạnchế chưa phân phối kịp những yên cầu ngày càng lớn và ngày càng cao về nhânlực của công cuộc thay đổi kinh tế tài chính – xã hội, thiết kế xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thựchiện CNH – HĐH quốc gia theo xu thế xã hội chủ nghĩa ” [ 1 ] Có rất nhiều nguyên do dẫn đến thực trạng trên như : Công tác quản lígiáo dục còn lỏng lẻo, chưa hài hòa và hợp lý ; nội dung chương trình còn lỗi thời xa rờivà đa số chưa gắn bó với trong thực tiễn đời sống, và còn rất nhiều nguyênnhân khác nữa. Song ta thấy nguyên do cơ bản và quan trọng nhất của thựctrạng trên là giải pháp dạy học chậm thay đổi và thay đổi chưa có hiệu quảtrong đó phải kể đến yếu tố thiết bị dạy học ( TBDH ) và việc sử dụng TBDHtrong nhà trường còn nhiều chưa ổn so với tiềm năng giáo dục và giảng dạy. Trong mạng lưới hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học là bậc học quan trọngnền tảng đặt nền móng vững chãi, tạo cơ sở cho những bậc học trên. “ Mục tiêugiáo dục tiểu học là nhằm mục đích giúp học viên hình thành những cơ sở khởi đầu chosự tăng trưởng đúng đắn và lâu bền hơn về đạo đức trí tuệ, thể chấ, t thẩm mĩ và kỹnăng cơ bản để học viên liên tục học trung học cơ sở ” [ 2 ] Muốn làm được điều đó cần phải chăm sóc xử lý đồng điệu nhữngvấn đề của bậc tiểu học trong đó thay đổi chiêu thức dạy học là một xu thếtất yếu để nâng cao chất lượng dạy – học trong xã hội tăng trưởng theo hướng “ tập trung chuyên sâu chỉ huy, nâng cấp cải tiến giải pháp giảng dạy và học tập ë những ngànhhọc, cÊp học theo hướng tích cực hoá hoạt động giải trí học tập, phát huy tính chủđộng, phát minh sáng tạo của người học ” [ 3 ] Đổi mới chiêu thức dạy học không hề tách rời công tác làm việc thiết bị vàđồ dùng dạy học ở tiểu học. Ngày nay với vai trò của mình, TBDH được coilà một trong sáu thành tố quan trọng của quy trình dạy học ( tiềm năng, nộidung, giải pháp, hình thức tổ chức triển khai dạy học, phương tiện đi lại dạy học và kiểmtra nhìn nhận ) và ngày càng có tác động ảnh hưởng lớn tới chất lượng dạy học : “ đổimới nội dung chương trình, sách giáo khoa, giải pháp dạy và học phảiđược triển khai đồng điệu với việc tăng cấp và thay đổi trang thiết bị dạy họctheo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa Để thực thi những chủ trương trên, ngoài việc nâng cao chất lượng người thầy, sách giáo khoa, việc góp vốn đầu tư cơ sởvật chất thiết bị trường học không hề thiếu được trong quy trình giảng dạy conngười mới ” [ 4 ] Xác định rõ vị trí, vai trò của TBDH trong công cuộc thay đổi giáo dụcphổ thông lần thứ t này Bộ GD&ĐT rất quan tâm tới công tác làm việc TBDH víi khẩuhiệu : “ Chống dạy chay, học chay ” được tiến hành trong những nhà trường. Nhưng trên trong thực tiễn công tác làm việc thiết bị và vật dụng dạy học vẫn còn nhiều bấtcập : chất lượng những TBDH chưa bảo vệ, việc sử dụng TBDH ở những trườngtiểu học hiệu quả chưa cao. Vì vậy việc phát hiện những nguyên do và đềxuất những giải pháp thiết yếu để khắc phục tình hình trên là một vÊn đề hếtsức quan trọng. Để làm được điều đó, cần phải thấy rõ tình hình TBDH vàviệc sử dụng TBDH ở những trường tiểu học Cũng chính thế cho nên việc tìm hiểu và khám phá “ Thực trạng thiết bị dạy học và việc sử dụng thiết bị dạy học ở những trườngtiểu học ” là cấp thiết. Bản thân là một sinh viên sư phạm, một giáo viên tiểu học trong tươnglai, điều tra và nghiên cứu đề tài này em rất mong ước có những kinh nghiệm tay nghề tronghành trang nghề nghiệp của mình và với kỳ vọng tìm ra một số ít giải pháp cóhiệu quả để phần nào tăng nhanh cuộc cách mạng về thay đổi chiêu thức dạyhọc, về công tác làm việc TBDH và việc sử dụng TBDH ở trường tiểu học gãp phÇnnâng cao chất lượng và hiệu suất cao giáo dục. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đềĐây là yếu tố khá mới, TBDH trong nhà trường đại trà phổ thông nói chungvà trường tiểu học nói riêng chỉ thực sự ® îc chăm sóc vài năm trở lại đây. Vìthế trên những tạp chí chuyên ngành Giáo dục đào tạo cũng có Open một số ít bài viết, bài tham luận, xã luận, của một số ít tác giả, ví dụ điển hình như : Tiến sĩ Vũ VănDụ : “ Vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác làm việc quản trị thiết bị dạy học ởtrường đại trà phổ thông ” ; Thạc sĩ Lê Tiến Thành : “ Định hướng sử dụng đồ dùngdạy học trong thay đổi chiêu thức ở trường tiểu học ” ; Tiến sĩ NguyễnTrọng Khanh : “ Một số giải pháp về huấn luyện và đào tạo tu dưỡng cán bộ quản lí, sửdụng thiết bị dạy học ở trường đại trà phổ thông ” ; tác giả Trần Mẫu Minh : “ Thựctrạng và hiệu suất cao của thiết bị dạy học trong thay đổi chiêu thức dạy học ” Những bài viết này đã phản ánh hàng loạt những yếu tố có tương quan đếnthực trạng TBDH và việc sử dụng TBDH ở trường đại trà phổ thông nói chung. Nhưng khám phá tình hình TBDH và việc sử dụng TBDH ở những trường tiểuhọc khu vực thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc là yếu tố chưa ai nghiên cứuvà đề cập. Việc điều tra và nghiên cứu yếu tố này nhằm mục đích góp thêm phần nâng cao chất lượngTBDH và việc sử dụng TBDH ở trường tiểu học nói riêng và hiệu suất cao giáodục nói chung. 3. Mục đích nghiên cứuTìm hiểu tình hình TBDH và việc sử dụng những TBDH ở những trườngtiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc, nguyên do dẫn đếnthực trạng. Trên cơ sở đó yêu cầu những giải pháp để khắc phục thực trạngnhằm góp thêm phần nâng cao chất lượng giáo dục, huấn luyện và đào tạo. 4. Khách thể và đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu4. 1. Khách thểVấn đề TBDH ở những trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc. 4.2. Đối tượng điều tra và nghiên cứu – Thực trạng về TBDH ở những trường tiểu học khu vực thành phố VĩnhYên – tỉnh Vĩnh Phúc. – Việc sử dụng những TBDH ở những trường tiểu học, nguyên do và giảipháp của tình hình. 5. Mức độ, khoanh vùng phạm vi nghiên cứu5. 1. Mức độ nghiên cứuBước đầu tìm hiểu và khám phá về tình hình TBDH và việc sử dụng TBDH ở cáctrường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc, nguyên nhâncủa tình hình đó và giải pháp cho yếu tố. 5.2. Phạm vi nghiên cứuDo điều kiện kèm theo thời hạn có hạn nên việc tìm hiểu và khám phá tình hình chỉ ở một sốtrường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc. 6. Giả thiết khoa họcTBDH trong những trường phong phú, phong phú và đa dạng về chủng loại và đượccung cấp tương đối vừa đủ nhưng chất lượng của những TBDH đó chưa cao vàviệc sử dụng TBDH trong quy trình giảng dạy của giáo viên thường xuyênnhưng chưa thực sự có hiệu suất cao. Tìm hiểu tình hình TBDH và việc sử dụng thiết bị dạy học ở trườngtiểu học để thấy được những nguyên do của tình hình trên và đưa ra mộtsố giải pháp thiết yếu để nâng cao chất lượng của TBDH và việc sử dụngTBDH ở những trường tiểu học. 7. Nhiệm vụ nghiên cứu và điều tra – Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài. – Tìm hiểu tình hình TBDH ở những trường tiểu học khu vực thành phốVĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc. – Tìm hiểu tình hình của việc sử dụng những TBDH ở những trường đó. – Nguyên nhân và đề xuất kiến nghị giải pháp cho tình hình trên nhằm mục đích nâng caochất lượng TBDH và việc sử dụng TBDH ở những trường tiểu học. 8. Phương pháp nghiên cứuCác giải pháp được sử dụng trong quy trình nghiên cứu và điều tra đề tài – Phương pháp đọc sách – Phương pháp tìm hiểu, khảo sat, thống kê, phân tích số liệu. – Phương pháp trò chuyện, chiêu thức quan sát. 9. Kế hoạch điều tra và nghiên cứu – Tháng 10 – 11 : Nhận đề tài và hoàn thành xong đề cương – Tháng 11 – 2 : Tìm hiểu cơ sở lý luận – Tháng 02 – 04 : Khảo sát tình hình, yêu cầu một số ít giải pháp cho thựctrạng. – Tháng 4, 5 : Xử lí số liệu, triển khai xong đề tài. 10. Nội dung của đề tàiA. Mở đầuB. Nội dungChương 1. Cơ sở lí luận1. 1. Một số yếu tố về thiết bị dạy học1. 2. Thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu họcChương 2. Thực trạng TBDH và việc sử dụng THDH trong dạy học ởtiểu học2. 1. Thực trạng nhận thức của giáo viên về TBDH và việc sửdụng TBDH trong dạy học ở tiểu học2. 2. Thực trạng về TBDH ë trường tiểu học2. 3. Thực trạng việc sử dụng TBDH trong dạy học ở tiểu học. Chương 3. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục3. 1. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình hình TBDH hiệnnay3. 2. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình hình sử dụngTBDH ở tiểu học hiện nayC. Kết luận chung và kiến nghị1. Kết luận chung2. Kiến nghịB. NỘI DUNGCHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN1. 1. Mét sè vÊn ® Ò vÒ thiÕt bÞ d¹y häc ( TBDH ) 1.1.1. Khái niệmNhư tất cả chúng ta đã biết, quy trình dạy học gồm có hoạt động giải trí dạy và hoạtđộng học, trong đó diễn ra quy trình tái sản xuất những kinh nghiệm tay nghề xã hộicủa quả đât. Cũng như bất kỳ một quy trình sản xuất nào, quy trình dạy họccũng phải sử dụng những phương tiện đi lại lao động nhất định. Phương tiện laođộng sư phạm rất phong phú, gồm những phương tiện đi lại vất chất, phương tiện đi lại thựchành, phương tiện đi lại trí tuệ. Ở đây tất cả chúng ta chỉ điều tra và nghiên cứu phương tiện đi lại dạy họcvật chất với ý nghĩa là công cụ lao động của người dạy và người học, và đượcnói gọn là phương tiện đi lại dạy học ( thiết bị dạy học ). Tuy nhiên khi đề cập đếncác TBDH và cách sử dụng chúng thì phần nào đã nói đến thiết bị thực hành thực tế. Từ cách hiểu TBDH như vậy, hoàn toàn có thể đi tới khái niệm sau : “ TBDH là tập hợp những đối tượng người tiêu dùng vật chất được người dạy sử dụngvới tư cách là những phương tiện đi lại tổ chức triển khai, điều khiển và tinh chỉnh hoạt động giải trí nhận thứccủa người học, trải qua đó mà triển khai những trách nhiệm dạy học ” [ 5 ] PGS.TS KH Trần Doãn Quế cũng đưa ra khái niệm khá đơn cử vềTBDH như sau : “ TBDH còn gọi là phương tiện đi lại dạy học, vật dụng dạy học, toàn bộ những phương tiện đi lại vật chất thiết yếu giúp giáo viên và học viên tổ chứcvà triển khai hợp lý có hiệu suất cao quy trình giáo dục, giáo dưỡng ở những cấp học, những môn học, những nghành nghề dịch vụ để thực thi được nhu yếu của chương trình giảngdạy. Ngoài ra thiết bị dạy học còn là nguồn tri thức, là phương tiện đi lại chứađựng và truyền tải thông tin, là phương tiện đi lại làm tăng giá trị lượng tin tứcgiúp cho quy trình trao đổi thông tin nhanh, nhiều và hiệu suất cao hơn ” [ 6 ] Trên đây đều là những khái niệm tương đối vừa đủ về TBDH. Tuynhiên tất cả chúng ta hoàn toàn có thể hiểu TBDH một cách đơn thuần như sau : “ TBDH là một vật thể hoặc tập hợp những đối tượng người dùng vật chất màngười giáo viên sử dụng với tư cách là công cụ lao động, là phương tiện đi lại điềukhiển hoạt động giải trí nhận thức của học viên, so với học viên thì đây là nguồn trithức, là những phương tiện đi lại giúp cho việc lĩnh hội những khái niệm, định luật, thuyết khoa học, hình thành ở học viên những kỹ năng và kiến thức, kỹ xảo, bảo vệ việcgiáo dục, Giao hàng những mục tiêu dạy học và giáo dục ” [ 7 ] Về mặt thực chất, TBDH là công cụ lao động dành cho mô hình laođộng đặc trưng của xã hội, đó là lao động dạy học, là yếu tố quan trọng có vaitrò quyết định hành động hiệu suất, chất lượng lao động của giáo viên và học viên. TBDH còn phản ánh trình độ dạy học và chất lượng giảng dạy của nhà trườngtrong những thời đại. Các thời đại giáo dục, những trình độ dạy học không phải chỉđược phân biệt ở chỗ nội dung dạy học, mà còn ở chỗ dạy – học bằng cái gì, bằng giải pháp nào và bằng những TBDH nào. 1.1.2. Phân loại thiết bị dạy họca. Căn cứ vào vai trò của TBDH trong quy trình dạy học, ta hoàn toàn có thể phânloại như sau : TBDH truyền thống cuội nguồn và TBDH không truyền thống cuội nguồn. + TBDH truyền thống lịch sử : tranh vẽ, quy mô, vật mẫu, dụng cụ thínghiệm, + TBDH không truyền thống lịch sử : những phim khoa học, băng đĩa, máy chiếu, những ứng dụng dạy học, b. Căn cứ vào đặc trưng của từng TBDH ta hoàn toàn có thể phân loại như sau : + Các vật ( quy mô, tranh vẽ, thô sơ và thân mật với học viên ). + Các TBDH văn minh : máy chiếu, những phương tiện đi lại nghe nhìn, những phầnmềm dạy học, internet, c. Dựa vào đặc thù của TBDH Tiến sĩ Vũ Văn Dụ phân loại TBDHthành 3 loại như sau : phương tiện đi lại dạy học trực quan, dụng cụ thí nghiệm, phương tiện kỹ thuật dạy học. + Phương tiện dạy học trực quan : vật thật, vật sửa chữa thay thế, quy mô, tranh vẽ, + Dụng cụ thí nghiệm : để thực thi những thí nghiệm theo quy địnhtrong chương trình. Có dụng cụ thí nghiệm chuyên biệt chỉ dùngcho một thí nghiệm, có dụng cụ thí nghiệm hoàn toàn có thể dùng chonhiều bài học kinh nghiệm khác nhau : đèn cồn, cốc, bình, ống thủy tinh trongsuốt với size khác nhau + Phương tiện kỹ thuật dạy học : máy chiếu đa phương tiện, máychiếu vật thể, máy projecter, màn ảnh, đầu đĩa catset, vidio, cácphần mềm dạy học ( ứng dụng microsoft power point để thiết kếcác thí nghiệm ảo, những thí nghiệm mô phỏng bài học kinh nghiệm trong sáchgiáo khoa ) Đây là cách phân loại hợp lý và khoa học nhất tương thích với đặc thù đặctrưng của những TBDH.TBDH lúc bấy giờ được sản xuất đồng nhất, phân phối thoáng đãng theo tiêuchuẩn kỹ thuật xác lập của quốc tế và trong nước. Là những TBDH theo danhmục TBDH tối thiểu của Bộ GD&ĐT pháp luật. Ngoài ra còn có vật dụng dạyhọc trực quan do giáo viên và học viên tự làm, tự sưu tầm. Đáng chú ý quan tâm, phương tiện kỹ thuật dạy học là loại TBDH có tính văn minh và năng lực sưphạm cao thường được sử dụng trên lớp học và được trang bị ngày một phổbiến ở những trường học. Nhờ có phương tiện kỹ thuật một lượng thông tin lớncủa bài học kinh nghiệm được hình ảnh, quy mô hóa, mang lại cho môn học một khônggian học tập có tính mục tiêu và hiệu suất cao cao Chính lợi thế về mặt sư phạmnày mà phương tiện kỹ thuật có ảnh hưởng tác động to lớn trong việc giúp giáo viên thựchiện thay đổi giải pháp dạy học ở nhà trường. 1.1.3 Vị trí, vai trò của TBDH trong dạy học1. 1.3.1. Vị trí của TBDH trong dạy họcQuá trình dạy học diễn ra với sáu yếu tố cơ bản là : tiềm năng dạy học, nội dung dạy học, giải pháp dạy học, giáo viên, học viên và thiết bị dạyhọc. TBDH là một thành tố không hề thiếu của mạng lưới hệ thống dạy học. Nó tồntại, hoạt động và có mối liên hệ mật thiết với những yếu tố khác trong mạng lưới hệ thống. 1.1.3. 2. Vai trò của TBDH trong dạy họcCơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một trong những điều kiện kèm theo quyết địnhsự thành công xuất sắc của cải cách giáo dục, vì sự thành công xuất sắc của cải cách giáo dụcphụ thuộc ba điều kiện kèm theo cơ bản sau : + Chương trình và sách giáo khoa mới. + Bồi dưỡng giáo viên + Đổi mới về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học. Trước đây người ta ý niệm TBDH chỉ là phương tiện đi lại minh họa lờigiảng của giáo viên. Ngày nay, người ta coi TBDH chẳng những là phươngtiện minh họa cho lời giảng của giáo viên mà còn là phương tiện đi lại giúp giáoviên tổ chức triển khai và tinh chỉnh và điều khiển hoạt động giải trí nhận thức của học viên, là phương tiệnphát triển tư duy. TBDH giúp học viên thuận tiện nhận ra những đặc thù bênngoài của sự vật hiện tượng kỳ lạ, nhưng TBDH còn có năng lực giúp học sinhthấy được cả những thuộc tính bên trong, thuộc tính thực chất của sự vật, hiệntượng. TBDH đã thực sự góp thêm phần tăng trưởng tư duy của học viên. TBDH đã thực sự là điều kiện kèm theo cần và đủ giúp giáo viên phong cách thiết kế hoạtđộng học tập cho học viên, để học viên có thời cơ tự mình phát hiện ra kiếnthức giúp thay đổi chiêu thức dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt độnghọc tập, dữ thế chủ động nhận thức của người học. Sử dụng thiết bị trong quá trìnhdạy học có công dụng làm giảm sự nhờ vào của học viên vào lời giảng củagiáo viên, do đó góp thêm phần thay đổi phương pháp học một cách có hiệu suất cao. Đối với quy trình dạy học, TBDH là phương tiện đi lại dạy học rất quan trọngthể hiện trên 3 mặt : – Phương tiện minh họa kỹ năng và kiến thức. – Phương tiện nâng cao năng lượng tư duy. – Phương tiện rèn luyện năng lượng thực hành thực tế. a. Thiết bị dạy học là phương tiện đi lại minh họa kiến thứcTất cả tiềm năng dạy học ở tiểu học nói riêng và tiềm năng dạy học nóichung đều hoàn toàn có thể thuận tiện thực thi trải qua những công cụ trực quan ( thiết bịdạy học ). TBDH với việc trực quan hóa thông tin thuận tiện hơn hẳn so vớidạy học bằng chiêu thức thuyết trình giảng giải : chứa nhiều thông tin và tổchức thuận tiện những thông tin trong cùng một số lượng chỗ, làm đơn thuần cáckhái niệm, làm sáng tỏ những cụ thể của một khái niệm dựa trên ngôn từ trừutượng. Đặc biệt những hiệu quả điều tra và nghiên cứu cho thấy tranh, ảnh trực quan và việcsử dụng TBDH trong quy trình dạy học sẽ làm tăng sự nhớ trong học tập – đâylà một trong những tiềm năng số 1 của giáo dục. b. Thiết bị dạy học là phương tiện đi lại nâng cao năng lượng tư duyNhững hình ảnh trực quan bảo vệ mối liên hệ liên tục giữa tưduy với hiện tượng kỳ lạ hoặc đối tượng người tiêu dùng điều tra và nghiên cứu khi phân phối cho tư duy tàiliệu thông tin thiết yếu. Phương tiện trực quan là trợ thủ không hề thay thếđược của người giáo viên ở quy trình tiến độ hình thành tư duy trừu tượng cho họcsinh. Ở quá trình này những hình ảnh trực quan cảm tính khi nào cũng làthành phần và là tiền đề bắt buộc của tư duy. Tư duy dù đạt đến mức độ caonhư thế nào nhưng không ít nó cũng cần đến trực quan cảm tính, cần đến hìnhảnh. Các tài liệu trực quan, TBDH chẳng những cung ứng cho học sinhnhững kiến thức và kỹ năng đúng mực mà còn giúp học viên tiểu học kiểm chứng lại tínhđúng đắn của những kiến thức và kỹ năng kim chỉ nan. Đứng trước vật thật hay những hình ảnhcủa chúng học viên sẽ học tập hứng thú hơn, tăng cường sức chú ý quan tâm so với cáchiện tượng để rút ra những Kết luận đúng đắn. c. Thiết bị dạy học là phương tiện đi lại rèn luyện năng lượng thực hànhMục tiêu giáo dục giảng dạy là giảng dạy ra những con người nắm vững cáckiến thức khoa học, giỏi thực hành thực tế có bàn tay khôn khéo biểu lộ những điềumà bộ óc tâm lý. Khi hoạt động giải trí với công cụ, học viên sẽ lôi kéo những vật vào nhiều hìnhthức tác động ảnh hưởng tương hỗ. Điều đó làm lộ rõ những mối liên hệ nội tại giữa cácvật, làm Open những bức tranh chân thực về quốc tế. Trong quy trình thínghiệm, thực hành thực tế, quan sát trực quan, những kỹ năng và kiến thức triết lý mà học sinhtiếp thu trên lớp thường ở dạng tĩnh cô lập với kỹ năng và kiến thức khác sẽ tác độngtương hỗ với nhau làm cho chúng trở nên động, làm lộ rõ thực chất và khảnăng của chúng. Nhờ vậy, học viên tiểu học sẽ thấy rõ vị trí, vai trò của mỗikiến thức trong hoạt động giải trí thực tiễn ( qua thực hành thực tế ). Qua thực hành thực tế hứng thú nhận thức của học viên được kích thích. Khitiếp xúc với thực tiễn, tư duy của học viên luôn luôn được đặt trước tìnhhuống mới buộc học viên phải tâm lý, tìm tòi, tăng trưởng trí phát minh sáng tạo. Quathực hành, đức tính kiên trì, cẩn trọng, đúng chuẩn, kỷ luật được rèn luyện, ýchí và tình yêu lao động sẽ được nảy nở. Đó là những phẩm chất thiết yếu đốivới người lao động và phải được hình thành qua một quy trình rèn luyện lâudài, bằng những hoạt động giải trí thực hành thực tế phong phú. 1.1.4. Yêu cầu khi sử dụng thiết bị dạy họcCác phương tiện đi lại trực quan, thiết bị dạy học nếu được chuẩn bị sẵn sàng, sử dụngkhéo léo sẽ kêu gọi được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ tích hợp đượchai mạng lưới hệ thống tín hiệu, tạo điều kiện kèm theo cho người đọc dễ hiểu, nhớ lâu gây hứngthú học tập, tăng trưởng năng lượng quan sát, tu dưỡng sự mê hồn, óc tò mò tìmtòi phát hiện những tri thức mới. Vì thế khi thực thi sử dụng những TBDHtrong bài dạy cần giúp người học nắm vững, vận dụng tốt nhất những tri thứccơ bản và biến chúng thành phương tiện đi lại để liên tục lĩnh hội tri thức ở mức độcao hơn. Các TBDH cần được chuẩn bị sẵn sàng cẩn trọng, bảo vệ những nhu yếu sauđây : a. TBDH phải gắn với nội dung của SGKTBDH nhằm mục đích mục tiêu minh họa kỹ năng và kiến thức, rèn luyện kiến thức và kỹ năng thựchành rèn luyện mà bài học kinh nghiệm nhu yếu. Vì vậy, TBDH phải thống nhất, phù hợpvới nội dung s ¸ ch gi ¸ o khoa. b. Sử dụng TBDH phải đúng mục đíchMỗi TBDH có tính năng riêng phải được điều tra và nghiên cứu sử dụng đúngmục đích và tương thích với quy trình dạy học. Các thiết bị dạy học là chỗ dựatrực quan để tăng trưởng tư duy, để dạy những nội dung kỹ năng và kiến thức trừu tượng, kháiquát. Sách giáo khoa ở đầu cấp kênh hình nhiều, càng về cuối cấp càng giảmdần. ở những lớp 1 – 2 – 3, vật dụng dạy học thường là những vật thật ( que tính, ) hình ảnh, quy mô hình học thân mật với đời sống. Ở những lớp trên, hầu hết làcác quy mô, hình vẽ tượng trưng có mức độ trừu tượng, khái quát nhất định. c. Các thiết bị dạy học phải sử dụng đúng lúc, đúng chỗNghĩa là TBDH phải được đưa ra lúc học viên cần nhất, được đặt ở vịtrí thích hợp nhất, lúc mà nội dung bài học kinh nghiệm và giải pháp dạy học cần đến, học viên tiếp đón được thông tin bằng những giác quan khác nhau với trạng tháitâm lí tương thích. d. Sử dụng TBDH phải đúng mức độ, cường độSử dụng đúng mức độ, cường độ TBDH để tạo được hứng thú học tậpcho học viên, giúp những em hoạt động giải trí một cách dữ thế chủ động, phát minh sáng tạo và tích cực. Cần chuyển dần, chuyển kịp thời những dạng trực quan từ đơn cử sang trừu tượnghơn. Cần tránh sử dụng TBDH quá lâu, nhiều lần một loạt TBDH trong mộttiết học. Nếu sử dụng TBDH không đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ sẽ hạnchế năng lực tăng trưởng tư duy của học viên, học viên ngại tâm lý, làm việcmáy móc. e. Phải tích hợp sử dụng những TBDH được trang bị với việc khai thác cơsở vật chất, thực tiễn xung quanhMôi trường dạy học là nơi diễn ra hoạt động giải trí dạy và học, là nơi có cácnguồn thông tin đa dạng và phong phú giúp giáo viên và học viên tò mò, khai thác vàsử dụng vào mục tiêu dạy – học. Môi trường dạy học hiểu theo nghĩa hẹp lànhững yếu tố vật chất, kỹ thuật của nhà trường, toàn cảnh trong thực tiễn của lớp học, là mối quan hệ giữa giáo viên và học viên. Việc tích hợp sử dụng TBDH đượctrang bị với việc khai thác cơ sở vật chất, thiên nhiên và môi trường dạy học không nhữnggây hứng thú cho việc dạy, việc học mà còn tạo dựng được mối quan hệ hợptác trong học tập. Ngoài những nhu yếu trên, khi sử dụng TBDH trong dạy học cần phải l-u ý : TBDH phải tương thích với năng lực lĩnh hội tri thức của học viên, đảm bảotính khoa học, phản ánh đúng chuẩn thực chất những sự vật, bảo vệ sự quan sátcủa tập thể lớp, dễ sử dụng, không chiếm mất nhiều thời hạn khi sử dụng, bảo vệ tính thẩm mĩ, sử dụng đến đâu thì đưa ra đến đó, dùng xong phải cấtđi để không làm phân tán sự chú ý quan tâm vào bài học kinh nghiệm của học viên. Phải quan tâm thiếtlập mạng lưới hệ thống câu hỏi khuynh hướng sự quan sát của học sinhMỗi TBDH đều có thế mạnh và chỗ yếu. Để sử dụng một cách có hiệuquả TBDH yên cầu giáo viên phải hiểu rõ cấu trúc, nguyên tắc hoạt động giải trí, tácdụng của mỗi TBDH. Căn cứ vào mục tiêu, nội dung bài học kinh nghiệm, lựa chọn, sửdụng và phối hợp những TBDH một cách hài hòa và hợp lý sẽ góp thêm phần nâng cao chấtlượng học tập của học viên. 1.2. Thiết bị dạy học trong dạy học ở tiểu học1. 2.1. Dạy học tiÓu học với việc sử dụng những TBDHLà một tác nhân của quy trình dạy học thì TBDH phải tương thích với cácnhân tố khác như mục tiêu, nội dung, chiêu thức, những hình thức tổ chứcdạy học sự tương thích này biểu lộ ở chỗ TBDH phải là sự vật chất hóa nộidung và giải pháp dạy học. 1.2.1. 1. Mối quan hệ giữa TBDH với mục tiêu, nội dung dạy học tiÓuhäc. – Mục đích dạy học ở tiểu họcĐiều 23, luật giáo dục 2005 khẳng định chắc chắn : “ Giáo dục đào tạo tiểu học là bậc học nền tảng của mạng lưới hệ thống giáo dục quốcdân, giáo dục tiểu học nhằm mục đích giúp học viên hình thành những cơ sở ban đầucho sự tăng trưởng đúng đắn và lâu bền hơn về đạo đức, trí tuệ, sức khỏe thể chất, thẩm mĩ vàcác kỹ năng và kiến thức cơ bản để học viên liên tục học trung học cơ sở ” Nội dung dạy học là sự cụ thể hóa những mục tiêu và trách nhiệm của dạyhọc do xã hội đặt ra. Nội dung dạy học được pháp luật bởi sự tân tiến của chếđộ xã hội và khoa học công nghệ tiên tiến. Công cuộc kiến thiết xây dựng chủ nghĩa xã hội vàbảo vệ Tổ quốc ở nước ta lúc bấy giờ đã đặt ra cho nhà trường những nhu yếu tolớn, yên cầu phải có sự thay đổi một cách cơ bản về nội dung, phương phápdạy học và do đó phải tổ chức triển khai lại cơ sở vật chất – kỹ thuật trường học. Để phùvới nội dung dạy học, mạng lưới hệ thống TBDH phải gồm có nhiều thành phần, cácthành phần này phải tính tới những đặc thù của nội dung chương trình, phảithích ứng một cách đơn cử, tỉ mỉ với việc điều tra và nghiên cứu mọi yếu tố của chươngtrình môn học, phải thỏa mãn nhu cầu những nhu yếu về tính khoa học và giúp họcsinh lĩnh hội tốt hơn những khái niệm, định luật, kim chỉ nan khoa học, bảo vệ sựthống nhất giữa dạy học và giáo dục, giáo dục kỹ thuật tổng hợp ; phải đảmbảo cho việc tổ chức triển khai những giờ nội khóa, ngoại khóa, tự chọnMỗi TBDH tiềm ẩn một nội dung giáo dục nhất định giữa vật chứanội dung ( TBDH ) và bản thân nội dung giáo dục ( chứa trong SGK ) phải có sựphù hợp về cấu trúc, về mục tiêu, về mức độ văn minh và những mặt khác. Nộidung tiềm ẩn trong mỗi thiết bị phải hướng tới những triết lý, sự kiện cơbản và thực sự quan trọng so với việc học tập và hoạt động giải trí tương lai của họcsinh, phải giúp học viên nắm vững khoa học văn minh, góp thêm phần vận dụng sớmvà có mạng lưới hệ thống những kiến thức và kỹ năng đã học để điều tra và nghiên cứu những hiện tượng kỳ lạ thựctiễn. Các thiết bị phải được sản xuất sao cho hoàn toàn có thể trình làng kỹ năng và kiến thức theophương pháp quy nạp khi hình thành khái niệm và định luật khoa học, đồngthời phải góp thêm phần rèn luyện giải pháp suy diễn, làm cho học viên nắmvững và vận dụng giải pháp này sớm hơn so với chương trình cũ ( Mụcđích của việc thay đổi giải pháp dạy học ) thiết bị phải góp thêm phần trang bịcho học viên những kỹ năng và kiến thức về kỹ thuật tổng hợp, góp thêm phần tăng trưởng nănglực nhận thức và hứng thú khoa học của học viên. Mỗi TBDH phải tiềm ẩn một nội dung nào đó nằm trong hệ thốngkiến thức và kỹ năng và kiến thức đã học và sẽ học tương thích với chiều sâu và cấu trúc củahệ thống kiến thức và kỹ năng điều tra và nghiên cứu trong nhà trường. 1.2.1. 2. Quan hệ giữa thiết bị dạy học và giải pháp dạy học ở tiểuhọcDạy học thời nay không chỉ trang bị cho học viên những kỹ năng và kiến thức màloài người đã tích góp được và hệ thống hóa lại mà còn phải có trách nhiệm pháttriển năng lượng phát minh sáng tạo của thế hệ trẻ và kỹ năng và kiến thức liên tục tự hoàn thiệntri thức của họ. Đặc điểm cơ bản của những chiêu thức dạy học mới, thể hiệnở chỗ biến hoạt động giải trí dạy của giáo viên vốn là hoạt động giải trí thông tin tri thứctrước đây thành hoạt động giải trí tổ chức triển khai, tinh chỉnh và điều khiển để học viên tự lĩnh hội, tìmkiếm tri thức. Các giải pháp dạy học mới nhằm mục đích xử lý tốt ba yếu tố : tích cực hóa quy trình nhận thức của học viên ; tăng cường năng lực tự lập vàcá biệt hóa quy trình dạy học. Để tương thích với những giải pháp dạy học mới, mạng lưới hệ thống TBDH phải biến hóa về mô hình, cấu trúc và chiêu thức sử dụng. TBDH có quan hệ mật thiết với những yếu tố người dạy và người học. Việc dạy học “ lấy người học làm TT ” đang được tiến hành thoáng rộng, xu thế thay đổi tích cực này đã dựa trên những biến hóa hầu hết có quan hệmật thiết với TBDH : nâng cao tính tích cực, dữ thế chủ động hơn khi tham gia vàoquá trình học tập và người học được tổ chức triển khai hoạt động giải trí, được hoạt động giải trí nhiềuhơn, tự sở hữu kỹ năng và kiến thức : để thành công xuất sắc trong dạy và học “ lấy người họclàm TT ” thì TBDH tốt là một yếu tố không hề thiếu. 1.2.1. 3. Đặc điểm tâm sinh lý học viên tiểu họcTâm sinh lý lứa tuổi học viên tiểu học có những đặc thù sau đây : Nhu cầu nhận thức tăng trưởng khá rõ nét, từ nhu yếu khám phá những sựvật, hiện tượng kỳ lạ riêng không liên quan gì đến nhau ( lớp 1 và lớp 2 ) đến nhu yếu phát hiện những nguyênnhân và quy luật những mối liên hệ, quan hệ ( lớp 3 – 4 – 5 ). Đối tượng gây xúc cảm cho học viên tiểu học thường là sự vật, hiệntượng đơn cử. Tình cảm của những em gắn liền với đặc thù trực quan, hình ảnhcụ thể. Tư duy của học viên tiểu học là tư duy lý tính gồm 2 loại : Tư duy cụthể và tư duy trừu tượng. Tư duy đơn cử có trước tuổi học vẫn liên tục pháttriển ở trình độ cao hơn do nhu yếu của hoạt động học, nội dung bài học kinh nghiệm lànhững tri thức khái quát. Học sinh muốn tiếp thu loại tri thức này phải dựavào vật thật, vật tượng trưng là những TBDH. Tư duy trừu tượng mở màn đượchình thành ( trước 6 tuổi ) đã Open nhưng còn non yếu, phải có sự tổ chức triển khai, tinh chỉnh và điều khiển của giáo viên chính do nội dung bài học kinh nghiệm là khái niệm, là tri thức kháiquát, học viên muốn tiếp thu được phải có tư duy trừu tượng, tuy nhiên tư duytrừu tượng phải dựa vào tư duy đơn cử. Chính vì những đặc điểm tâm sinh lý của học viên tiểu học mà ngườigiáo viên cần phải có kỹ năng và kiến thức tổ chức triển khai, tinh chỉnh và điều khiển hoạt động học, biết căn cứvào nội dung bài học kinh nghiệm để lựa chọn phương tiện đi lại trực quan, vật thực, vật tượngtrưng, hình ảnh trực quan Các thiết bị dạy học hướng dẫn học viên phântích hình ảnh trực quan để làm thể hiện nội dung khái niệm ; giáo viên hướngdẫn học viên sửa chữa thay thế vật trực quan, bằng ký hiệu để sửa chữa thay thế khái niệm, chuyển dần khái niệm vào trong đầu. Có nhà giáo dục cho rằng : trẻ nhỏ không sợ học mà chỉ sợ những tiếthọc đơn điệu, nhàm chán. Học sinh tiểu học cảm thấy căng thẳng mệt mỏi và chán họckhi chỉ nhìn thấy mãi một hình ảnh giáo viên. Lúc đó, học viên mong muốnđược nhìn một cái gì khác ngoài giáo viên, để tạo ra cảm xúc tự do khicó cái mới để thu nhận kỹ năng và kiến thức, thường thường cái mới đó là thiết bị dạyhọc. Việc khám phá những đặc điểm tâm sinh lý của học viên tiểu học giữ vaitrò quan trọng trong quy trình dạy học. Chính vì thế, trong quy trình dạy học, giáo viên cần phải dựa vào những đặc thù tâm ý, sinh lý, đối tượng người dùng để lựachọn và thiết kế xây dựng những chiêu thức, phương tiện đi lại và hình thức dạy học phùhợp. 1.2.2. Danh mục những thiết bị dạy học tối thiểu dành cho những khối lớp ởtiểu học do Bộ GD&ĐT ban hànhDANH MỤC THIẾT BỊ DẠY HỌC TỐI THIỂU LỚP 1 ( Ban hành kèm theo quyết định hành động 09/2002 / QĐ-BGD và ĐT, ngày 21/03/2002 ) STT Tên thiết bị Đơn vị tínhSốlượngMÔN TIẾNG VIỆT1 Bộ chữ học vần thực hành thực tế Bộ 402 Bộ chữ học vần màn biểu diễn Bộ 1M ÔN TOÁN1 Bộ đồ dùng học toán thực hành thực tế Bộ 402 Bộ độ dùng học toán màn biểu diễn Bộ 1M ÔN ĐẠO ĐỨC1 Băng đĩa ( hình ) những bài hát sử dụng để dạyđạo đức. Cái 12 Băng ( đĩa ) hình hoạt cảnh Cái 43 Bộ tranh đạo đức ( 13 bức ) Bộ 1M ÔN NGHỆ THUẬT1 Băng ( đĩa ) nhạc ghi những bài hát lớp 1. Cái 12 Song loan Cái 53 Thanh phách Đôi 114 Trống nhỏ Cái 35 Bộ tranh mỹ thuật lớp 1 ( 18 bức ) Bộ 16 Băng ( đĩa ) hình hướng dẫn thực hành thực tế một sốtiết Cái 5M ÔN THỂ DỤC1 Bộ tranh thể dục lớp 1 ( 18 bức ) Bộ 12 Thước cuộn 5 m bằng sắt kẽm kim loại Cái 13 Quả cầu chinh Quả 204 Còi Cái 25 Bóng nhựa Quả 2THI ẾT BỊ DÙNG CHUNG1 Băng đĩa hình hướng dẫn chiêu thức dạyhọcCái 8DANH MỤC THIẾT BỊ DẠY HỌC TỐI THIỂU LỚP 2 ( Ban hành kem theo quyết định hành động số : 12/2003 / QĐ – BGD&ĐT, ngày 24/03/2003 / ) STT Tên thiết bị Đơn vị tínhSốlượngMÔN TIẾNG VIỆT1 Mẫu chữ viết trong trường Bộ 12 Bộ chữ dạy tập viêt ( 40 tờ ) Bộ 1M ÔN TOÁN1 Bộ toán trình diễn lớp 2 Bộ 12 Bộ toán thực hành thực tế lớp 2 Bộ 403 Thước đo độ dài dạy về mm, cm, dm và m ( 1 thước 1 m và một thước 0,5 m ) Bộ 14 Cân đĩa 5 kg kèm hộp quả cân Bộ 15 Bộ chai và ca lít Bộ 1M ÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI1 Tranh tự nhiên xã hội gồm ( tranh vẽ bộxương, hệ cơ, hệ tiêu hóa, sự tiêu hóa thức ăn ởkhoang miệng, dạ dày, ruột non, ruột già ) hìnhcâm ( 4 tờ ) Bộ 1M ÔN KỸ THUẬT1 Bộ tranh chiêm ngưỡng và thưởng thức mỹ thuật lớp 2 ( mần nin thiếu nhi ) ( 20 tờ ) Bộ 12 Bộ tranh mỹ thuật lớp 2 gồm : vẽ theo mẫu, vẽtrang trí, hướng dẫn cách vẽ ( 18 tờ ) Bộ 1M ÔN ÂM NHẠC1 Kèn Melodion ( Suzuki ) Cái 22 Băng cassette ( đĩa CD ) ghi 12 bài hát trongSGKCái 13 Nhạc cụ gõ ( song loan, phách, mõ, trống ) Bộ 2M ÔN THỦ CÔNGTranh thủ công gồm : Quy trình gấp, cắt, làm đồchơi ( 15 bức ) Bộ 1M ÔN THỂ THAO1 Tranh thể dục lớp 2 ( 12 tờ ) Bộ 12 Thước dây 10 m bằng sắt kẽm kim loại Cái 13 Còi điền kinh Cái 24 Quả cầu đá Quả 405 Bóng nhỡ bằng da Quả 46 Cờ nhỏ Cái 107 Vợt đánh cầu chinh Cái 40DANH MỤC THIẾT BỊ TỐI THIỂU LỚP 3STT Tên thiết bị Đơn vị tínhSốlượngMÔN TIẾNG VIỆT1 Bộ chữ dạy tập viết Bộ 12 Mẫu chữ viết trong trường tiểu học ( 8 tờ ) + 1 nẹp 60 cm Bộ 13 Bộ chữ viết mẫu tên riêng ( 31 tờ ) Bộ 1M ÔN ĐẠO ĐỨC1 Bộ tranh đạo đức lớp 3 ( 5 tờ ) + 1 nẹp 60 cm và1 nẹp 85 cm Bộ 1M ÔN TOÁN1 Bộ toán trình diễn lớp 3 ( bộ toán + bảng nỉ + thước 1 m và 0,5 m + compa ) Bộ 12 Bộ toán thực hành thực tế lớp 3 Bộ 40M ÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI1 Bộ tranh tự nhiên xã hội ( 5 tờ ) + 1 nẹp 60 cm Bộ 12 Mô hình toàn cầu quay xung quanh mặt trời, mặttrăng quay quanh toàn cầu. Bộ 1M ÔN MĨ THUẬT1 Bộ tranh mĩ thuật lớp 3 ( 8 tờ ) + 1 nẹp 60 cm Bộ 12 Bộ tranh chiêm ngưỡng và thưởng thức mỹ thuật lớp 3 ( tuyển tập

Source: https://evbn.org
Category: Giáo Viên