Môn Sử: Liên Xô, các nước Đông Âu và Liên bang Nga
A. Mục tiêu ôn tập
– Trình bày được tình hình Liên Xô từ sau Chiến tranh quốc tế thứ hai đến giữa những năm 70 ( thế kỉ XX ) .
– Trình bày và phân tích được ý nghĩa những thành tựu của Liên Xô trong khôi phục kinh tế và xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Bạn đang đọc: Môn Sử: Liên Xô, các nước Đông Âu và Liên bang Nga
– Tóm tắt được sự sinh ra của các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu và những thành tựu trong công cuộc thiết kế xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước này từ năm 1945 đến nửa đầu những năm 70 của thế kỉ XX .– Trình bày được những nét cơ bản trong mối quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa về kinh tế tài chính, văn hoá, khoa học – kĩ thuật, chính trị – quân sự chiến lược .
B. Nội dung ôn tập
I. Liên Xô từ năm 1945 đến giữa những năm 70 của thế kỉ XX
1. Hoàn cảnh
– Liên Xô ra khỏi cuộc Chiến tranh quốc tế thứ hai với tư thế của người thắng lợi, nhưng cũng bị tổn thất nặng nề ( khoảng chừng 27 triệu người chết, 1.710 thành phố bị phá huỷ, 7 vạn làng mạc, 32.000 nhà máy sản xuất bị phá huỷ ) .– Các nước phương Tây do Mĩ đứng đầu theo đuổi chủ trương chống Liên Xô. Liên Xô phải chăm sóc củng cố quốc phòng và bảo mật an ninh .– Liên Xô có nghĩa vụ và trách nhiệm gúp đỡ các nước Đông Âu Phục hồi kinh tế tài chính, kiến thiết xây dựng chủ nghĩa xã hội ; trợ giúp trào lưu giải phóng dân tộc bản địa trên quốc tế .
2. Thành tựu chủ yếu
– Với ý thức tự lực tự cường, nhân dân Liên Xô đã triển khai xong kế hoạch 5 năm Phục hồi kinh tế tài chính ( 1946 – 1950 ) trước thời hạn 9 tháng. Đến năm 1950, sản lượng công nghiệp tăng 73 %, sản lượng nông nghiệp đạt mức trước cuộc chiến tranh. Năm 1949, Liên Xô sản xuất thành công xuất sắc bom nguyên tử, phá vỡ thế độc quyền vũ khí hạt nhân của Mĩ .– Liên Xô từ năm 1950 đến đầu những năm 1970 : đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc kiến thiết xây dựng chủ nghĩa xã hội với việc hoàn thành xong các kế hoạch kinh tế tài chính – xã hội dài hạn
- Liên Xô trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai thế giới (sau Mĩ), chiếm khoảng 20% tổng sản lượng công nghiệp toàn thế giới; đi đầu trong nhiều ngành công nghiệp quan trọng.
- Liên Xô cũng thu được nhiều thành tựu trong sản xuất nông nghiệp, sản lượng nông phẩm trong những năm 60 (thế kỉ XX) tăng trung bình 16%/năm.
- Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo (1957), phóng tàu vũ trụ Phương Đông đưa nhà du hành vũ trụ I.Gagarin bay vòng quanh Trái Đất (1961), mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người. Liên Xô chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao của khoa học – kĩ thuật thế giới: vật lí, hoá học, điện tử, điều khiển học, khoa học vũ trụ…
– Về đối ngoại, Liên Xô thực thi chủ trương đối ngoại hoà bình và tích cực ủng hộ trào lưu cách mạng quốc tế ; đấu tranh cho hoà bình, bảo mật an ninh quốc tế, nhất quyết chống chủ trương gây chiến của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động ; tích cực trợ giúp các nước xã hội chủ nghĩa trong công cuộc thiết kế xây dựng quốc gia ; ủng hộ các trào lưu đấu tranh vì độc lập dân tộc bản địa, dân chủ và văn minh xã hội .
3. Ý nghĩa
– Trên cơ sở những thành tựu về kinh tế tài chính, khoa học – kĩ thuật, quân sự chiến lược, đời sống vật chất và ý thức của nhân dân Xô – viết không ngừng được cải tổ, Liên Xô có vị trí quan trọng trong việc xử lý những việc làm quốc tế .– Liên Xô đạt thế cân đối sức mạnh quân sự chiến lược nói chung và sức mạnh hạt nhân nói riêng với Mĩ và phương Tây ; trở thành đối trọng của Mĩ trong trật tự quốc tế hai cực, làm đảo lộn kế hoạch toàn thế giới của Mĩ .– Liên Xô có điều kiện kèm theo trợ giúp các nước xã hội chủ nghĩa, ủng hộ trào lưu giải phóng dân tộc bản địa Á – Phi – Mĩ Latinh về vật chất và niềm tin trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Liên Xô là thành trì của cách mạng quốc tế, trụ cột của hoà bình quốc tế .
II. Các nước Đông Âu từ 1945 đến nửa đầu những năm 70 của thế kì XX
– Trong những năm 1944 – 1945, cùng với quy trình Hổng quân Liên Xô truy kích quân đội phát xít Đức, nhân dân Đông Âu đã nổi dậy giành chính quyền sở tại, thành lập các nhà nước dân chủ nhân dân .– Từ năm 1945 – 1949, các nhà nước dân chủ nhân dân Đông Âu hoàn thành xong một số ít trách nhiệm quan trọng :
- Xây dựng bộ máy nhà nước mới, tiến hành cải cách ruộng đất, quốc hữu hoá tài sản của tư bản nước ngoài, ban hành các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân.
- Chính quyền nhân dân được củng cố, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản ngày càng được khẳng định.
– Công cuộc kiến thiết xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Trong những năm 1950 – 1975, các nước Đông Âu đã thực hiện nhiều kế hoạch 5 năm nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tựu to lớn.
- Từ chỗ là những nước nghèo, các nước Đông Âu đã trở thành những quốc gia công – nông nghiệp. Sản lượng công nghiệp tăng lên gấp hàng chục lần, nông nghiệp phát triển nhanh chóng, trình độ khoa học – kĩ thuật được nâng lên rõ rệt.
– Ý nghĩa:
- Làm biến đổi đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các nước, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội
- Làm cho chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới với tiềm lực mọi mặt được tăng cường và có vị thế quan trọng trong quan hệ quốc tế.
III. Quan hệ hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu
1. Quan hệ kinh tế, văn hoá, khoa học – kĩ thuật:
– Ngày 8/1/1949, các nước Liên Xô, Ba Lan, Anbani, Bungary, Hungary, Rumani, Tiệp khắc thành lập Hội đồng tương hỗ kinh tế tài chính ( SEV ), Liên Xô giữ vai trò quyêt định trong khối này. Năm 1950 thêm Cộng hoà dân chủ Đức, 1978 Nước Ta tham gia khối này .– Mục tiêu : tăng cường hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa, thôi thúc sự văn minh khoa học kĩ thuật, thu hẹp sự chênh lệch về trình độ tăng trưởng giữa các nước thành viên .– Thành tựu : Sau hơn 20 năm hoạt động giải trí, đến nửa đầu những năm 70, vận tốc sản xuất công nghiệp các nước trong khối SEV đã tăng 10 %, sản xuất đạt 33 % quốc tế .– Hạn chế : khép kín, không hoà nhập với đời sống kinh tế tài chính quốc tế ; chưa coi trọng không thiếu việc vận dụng những tân tiến của khoa học và công nghệ tiên tiến ; sự hợp tác gặp nhiều trở ngại do chính sách quan liêu, bao cấp .– Do sự sụp đổ của chính sách xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, ngày 28/6/1991, khối SEV ngừng hoạt động giải trí .– Ý nghĩa :
- Thông qua việc hợp tác, tạo cơ sở vật chất – kĩ thuật đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân của các nước thành viên.
- Củng cố và tăng cường sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn, đẩy lùi các âm mưu chống phá của chủ nghĩa tư bản, không ngừng giúp đỡ phong trào cách mạng thế giới và góp phần giữ gìn hoà bình, an ninh thế giới.
2. Quan hệ chính trị – quân sự
– Ngày 14/5/1955, tại cuộc họp ở Vácsava, các nước Anbani, Balan, Bungary, Cộng hoà dân chủ Đức, Hungary, Liên Xô, Rumani và Tiệp khắc kí hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương hỗ, ghi lại sự sinh ra của Tổ chức Hiệp ước Vacsava, một liên minh chính trị – quân sự chiến lược mang đặc thù phòng thủ .– Mục tiêu : chống lại thủ đoạn của Mĩ và phương Tây muốn hủy hoại phe xã hội chủ nghĩa .– Ý nghĩa : có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn hoà bình và bảo mật an ninh ở châu Âu và quốc tế, tạo nên thế cân đối về quân sự chiến lược giữa các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Trở thành một đối trọng với NATO .
IV. Liên bang Nga trong thời gian 1991 – 2000
– Từ sau năm 1991, Liên bang Nga là “ vương quốc kế tục Liên Xô ”, thừa kế vị thế pháp lí của Liên Xô tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cũng như các cơ quan ngoại giao của Liên Xô ở quốc tế .– Trong thập kỉ 90, dưới chính quyền sở tại Tổng thống Enxin, tình hình Liên bang Nga chìm đắm trong khó khăn vất vả và khủng hoảng cục bộ .– Về kinh tế tài chính :
- Trước năm 1996: Việc tư nhân hoá đã làm cho nền kinh tế Nga trở nên rối loạn. Sản xuất công nghiệp năm 1992 giảm xuống còn 20%. Từ năm 1990 đến năm 1995, tốc độ tăng trưởng GDP luôn là số âm.
- Từ năm 1996, nền kinh tế Nga dần dần phục hồi, năm 1997 đạt tăng trưởng kinh tế 0,5%, năm 2000 là 9%.
– Về chính trị :
- Hiến pháp 1993, quy định Liên bang Nga theo chế độ Tổng thống Liên bang.
- Từ năm 1992 – 1999, Tổng thống Enxin, nước Nga đứng trước hai thử thách lớn. Một là tình trạng không ổn định về chính trị, tranh chấp giữa các đảng phái. Hai là những cuộc xung đột sắc tộc (Trecxia…).
- Từ năm 2000, V.Putin làm Tổng thống, nhà nước pháp quyền được củng cố, tình hình xã hội ổn định; nhưng vẫn đứng trước thử thách lớn: xu hướng li khai và nạn khủng bố…
– Về đối ngoại :
- Trong những năm 1992 – 1993, nước Nga theo đuổi chính sách “định hướng Đại Tây Dương” – ngả về phương Tây, hi vọng nhận sự ủng hộ về chính trị và viện trợ về kinh tế. Nhưng sau 2 năm, nước Nga đã không đạt kết quả như mong muốn.
- Từ năm 1994, nước Nga chuyển sang chính sách đối ngoại “định hướng Âu – Á”, trong khi tranh thủ phương Tây, vẫn khôi phục và phát triển mối quan hệ với châu Á (một số nước trong SNG, Trung Quốc, Ấn Độ, các nước ASEAN).
– Từ năm 2000, chính quyền sở tại của Tổng thống V.Putin đã đưa Liên bang Nga dần thoát khỏi khó khăn vất vả và khủng hoảng cục bộ, kinh tế tài chính phục sinh và tăng trưởng ; chính trị, xã hội không thay đổi và vị thế quốc tế được nâng cao để trở lại vị thế một cường quốc Âu – Á .
C. Câu hỏi ôn tập
Câu 1. Nêu những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nửa đầu những năm 70 của thế kỉ XX. Thành tựu đó có ý nghĩa như thế nào?
Câu 2. Mối quan hệ của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu nửa sau thế kỉ XX được biểu lộ như thế nào ? Nêu ý nghĩa của các mối quan hệ đó .Câu 3. Trình bày những nét chính về Liên bang Nga từ năm 1991 đến năm 2000 .
Xem tiếp bài 3: Các nước Á, Phi, Mĩ Latinh (1945 – 2000)
Source: https://evbn.org
Category: Địa Danh


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


