Ngữ âm và chữ viết tiếng Thái Lan.PDF – Tài liệu text
Ngữ âm và chữ viết tiếng Thái Lan.PDF
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (14.99 MB, 177 trang )
Bạn đang đọc: Ngữ âm và chữ viết tiếng Thái Lan.PDF – Tài liệu text
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NH Â N VĂN
NGỮ ÂM VÀ CHỮ VIẾT
TIẾNG THÁI LAN
Công trình khoa học cấp Đại học quốc gia
Mã số: QX. 05 – 08
Chủ trì đề tài: PGS. TS. Nguyễn Tưoiig Lai
(Khoa Đông Phương học)
Đ A I H Ọ C Q U Ố C G IA H À N Ộ I
T RU N G TẨM T H Ô N G TIN THƯ VIỆN
ị ‘-P T / ì? £ C _____
Hà Nội 3-2007
MỤC LỤC
LỜ I NÓI ĐẦ U 1
Chương I. Vị trí của tiếng Thái Lan trong bôi cảnh các ngôn ngữ
Thái ở khu vực 3
I. Người Thái từ đâu đến ? 3
II. Bối cảnh các ngôn ngữ nhóm Thái
6
III. Một số đặc điểm cơ bản của tiếng Thái Lan
17
Chương II. Ngữ âm tiếng Thái Lan 21
I. Hệ thống phụ âm tiếng Thái Lan
21
1. Phân xuất âm vị phụ âm tiếng Thái Lan 21
2. Vị trí của các âm vị phụ âm
24
3. Đặc điểm ngữ âm của các âm vị phụ âm
25
4. Các âm vị phụ âm kép 37
5. Chức năng và khả năng kết hợp của các
âm v ị ph ụ âm 4 4
6. Tiểu kết 49
II. Hệ thống nguyên âm tiếng Thái Lan 49
1. P hân x uấ t âm v ị n g u y ê n âm t iế n g T h á i L an
4 9
2. Vị trí của các âm vị nguyên âm
53
3. Đặc điểm ngữ âm của các âm vị nguyên âm 55
4. Các âm vị nguvên âm đôi 60
5. Các âm vị nguyên âm ngắn
63
6. Chức năng và khả năng kết họp của các
âm vị nguyên âm
43
7. Tiểu k ế t
70
III. Hệ thống thanh điệu tiếng Thái Lan 71
1. Phân xuất âm vị thanh điệu tiếng Thái Lan
71
2. Nhận diện và miêu tả các thanh điệu
của tiếng Thái Lan 73
3. Chức năng và khả năng kết hợp của các thanh điệu
83
4. Tiểu kết 89
IV. Âm tiết tiếng Thái Lan
90
1. Đặc điểm của âm tiết tiếng Thái Lan
90
2. Cấu trúc âm tiết tiếng Thái Lan 93
3. Phân loại âm tiết tiếng Thái Lan
95
4. ước tính số lượng vần và âm tiết tiếng Thái Lan
102
Chương i n. Chữ viết Thái Lan 110
I. Sự hình thành và quá trình phát triển chữ viết Thái Lan
110
II. Đặc điểm của chữ viết Thái Lan hiện đại 125
1. Các con chữ ghi phụ âm
125
2. Các con chữ ghi nguyên âm
129
3. Các con chữ ghi phụ âm cuối 130
4. Các dấu ghi thanh điệu
130
5. Vị trí của các con chữ trong việc biểu thị âm tiết
134
III. Chữ viết Thái Lan với các chữ viết của một số ngôn ngữ
thuộc nhóm Thái ở khu vực 136
1. Chữ Lào với chữ Thái Xiêm 139
2. Chữ San với chữ Thái Xiêm 146
3. Chữ Khửn với chữ Thái Xiêm 150
4. Chữ Tay Không với chữ Thái Xiêm
152
5. Chữ Thái Việt Nam với chữ Thái Xiêm 155
Kết luận 169
Tài liẽu tham khảo. 170
3. Chức năng và khả năng kết hợp của các thanh điệu
83
4. Tiểu kết 89
IV. Âm tiết tiếng Thái Lan
90
1. Đặc điểm của âm tiết tiếng Thái Lan
90
2. Cấu trúc âm tiết tiếng Thái Lan 93
3. Phân loại âm tiết tiếng Thái Lan
95
4. ước tính số lượng vần và âm tiết tiếng Thái Lan
102
Chương III. Chữ viết Thái Lan 110
I. Sự h ìn h thành v à quá trình phát triển c h ữ v iế t T h ái L an
1 10
II. Đặc điểm của chữ viết Thái Lan hiện đại
125
1. Các con chữ ghi phụ âm 125
2. Các con chữ ghi nguyên âm 129
3. Các con chữ ghi phụ âm cuối
130
4. Các dấu ghi thanh điệu 130
5. Vị trí của các con chữ trong việc biểu thị âm tiết
134
III. Chữ viết Thái Lan với các chữ viết của một số ngôn ngữ
thuộc nhóm Thái ở khu vực
136
1. C h ữ L à o vớ i ch ữ T h á i X iêm
1 39
2. Chữ San với chữ Thái Xiêm
146
3. C h ữ K h ửn v ớ i ch ữ T h á i X iê m
1 50
4. C h ữ T a y K h ô n g v ớ i c h ữ T h á i X iê m 15 2
5. Chữ Thái Việt Nam với chữ Thái Xiêm
155
Kết luận 169
Tài liêu tham khảo. 170
Hiện nay việc học tiếng Thái Lan đang ngày càng được mở rộng vì nó ngàv càng đáp
ứng nhu cầu trao đổi văn hoá, kinh tế và giáo dục giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Thái
Lan. Các trường Đại học ở Việt Nam, trong đó có Khoa Đ ỏng Phương học trường Đại học
Khoa học Xã hội và N hân vãn, đã đưa vào chương trình đào tạo của mình đào tạo về tiếng Thái
Lan. Các khoá sinh viên tốt nghiệp được trang bị tiếng Thái Lan đã trở thành những cán bộ làm
việc có hiệu quả trong các cơ quan và công ty liên quan đến sự hợp tác Việt Nam – Thái Lan.
Có thể nói, cho đến nay việc học tiếng Thái Lan chỉ mới có một cuốn giáo trình học
tiếng được chúng tôi biên soạn không chỉ để cho các em sinh viên Khoa Đông Phương học
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn sử dụng mà còn là cuốn giáo trình dành cho các
em sinh viên học tiếng Thái Lan trong cả nước tham khảo trong quá trình học tiếng Thái Lan
của mình. Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả và chất lượng học tiếng Thái Lan, chúng tôi
thực hiện công trình khoa học này nhằm giới thiệu và phân tích các đặc trưng ngữ âm và chữ
viết của tiếng Thái Lan mà trong cuốn giáo trình học tiếng không thể nêu lên hết được. Khi
đọc công trình này các em sinh viên sẽ hiểu tiếng Thái Lan sâu hơn về phương diện phát âm và
chữ viết (Nói và Viết). Các em sẽ có những phương pháp luyện tập cách phát ám một cách
chuẩn hơn, có được những thủ pháp để nhớ tốt hơn về cách sử dụng chữ viết Thái Lan vốn là
thứ chữ viết xa lạ với người Việt Nam và cũng là khó khăn ngay đối với cả những người bản
ngũ’ là người Thái Lan. Ngoài ra công trình cũng là một cứ liệu cần thiết đối với những nhà
ngôn ngữ học nghiên cứu về tiếng Thái Lan cũng như về ngôn ngữ của các nước trong khu vực
trong đó có tiếng Việt.
Về ngữ âm và chữ viết tiếng Thái Lan từ trước đến nay đã được các nhà nghiên cứu lưu
tâm đến khá đầy đủ. Các nhà nghiên cứu Phương Tây đã cho cống bố nhiều cõng trình về ngữ
âm của các tiếng Thái khác nhau mà tiêu biểu là A.G. Haudricourt, P.K. Benedict, Li-Fang-
Kuei, Annik Lévy, Abramson, v.v Riêng về tiếng Thái Lan đã có nhiều nhà ngón ngữ học
người Thái Lan đã cho công bố nhiều công trình hoặc nghiên cứu riêng về một khía cạnh nào
đó của ngữ âm tiếng Thái Lan hoặc về những đặc điếm ngữ âm nói chung của tiếng Thái Lan.
Ngoài ra còn có một số công trình đã đề cập đến các ngôn naữ nhóm Thái trong khu vực và
chữ viết của một số tiếng Thái. T rons số này tiêu biểu có Giáo sư Rương-đệt Pãn-khườn-khật
đã cho công bô 2 cuốn sách:
1. Các ngôn ngữ nlìóm Thái. – Trường Đại học M ahidol xuất bản, Băng Cốc, 1988.
2. Nghiên cứu tiếng Thá i Lan Trường Đại học M ahidol xuất bản, Bãng-cốc, 1998.
LỜI NÓI ĐẦU
1
Riêng về Thanh điệu tiếng Thái Lan đã có một sô’ công trình của các nhà ngôn ngữ học
Phương Tây và Thái Lan nghiên cứu bằng các phương pháp hiện đại, sử dụng các thành tựu tin
học vào việc xác định các đặc tính ngữ âm và âm học của thanh điệu tiếng Thái Lan. Trong đó
phải kể đến Kan-chạ-na Nák-xạ-kun với công trình Hệ thống ngữ ám tiếng Th ái Lan. Khoa
Văn khoa, Đại học Chụ-la-lông-kon xuất bản, Băng-cốc, 1977; và gần đây nhất có một luận
án Tiến sĩ do nhà ngôn ngữ học người Thái Lan Pim-xển Bua-ra-pa bảo vệ thành công tại Việt
Nam với nhan đề: Phân tích tương phản hệ thống thanh điệu tiếng Thái Lan và tiếng Việt – ứng
dụng phân tích /ối và sửa lỗi phát ảm thanh điệu cho người Thái Lan học tiếng Việt; – Luận án
Tiến sĩ Ngữ Văn, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 2005.
Các nhà ngôn ngữ học người Nga thuộc Viện Đông Phương học của Liên Xô cũng đã
từng cho công bố một số công trình viết về tiếng Thái Lan nói chung cũng như về từng khía
cạnh của tiếng Thái Lan trong đó có ngữ âm tiếng Thái Lan. Tuy vậy, về chữ viết Thái Lan thì
vẫn còn rất hãn hữu.
Chúng tôi cũng đã cho công bô’ một số công trình của mình viết về tiếng Thái Lan, về
ngữ âm tiếng Thái Lan và chữ viết Thái Lan đăng rải rác trong các sách và tạp chí kể từ năm
1976 đến nay.
Với những thành quả chung trên đây chúng tôi tiếp tục kế thừa để có được cống trình
này. Hy vọng rằng đây sẽ là một công trình giúp ích cho nhũng người nghiên cứu và học tập về
tiếng Thái Lan tại Việt Nam. Rất mong bạn đọc và Hội đồng nghiệm thu đóng góp ý kiến để
chúng tôi sửa chữa hoàn chỉnh và hy vọng rằng bản thảo sẽ sớm được in thành sách.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, tháng 3 năm 2007
PGS. TS. Nguyễn Tương Lai
2
CHƯƠNG I
VỊ TRÍ CỦA TIẾNG THÁI LAN
TRONG BỐI CẢNH CÁC NGÔN NGỮ THÁI Ở KHU vự c
I. Người Thái từ đâu đến?
Tiếng Thái Lan1 là tiếng nói của người Thái ở miền Trung Thái Lan được
thừa nhận là tiếng phổ thông của Vương quốc Thái Lan. Người Thái nói chung là
tộc người có số lượng người rất đông và địa bàn cư trú rất rộng lớn. Hiện nay địa
bàn cư trú của người Thái trải rộng trên cả thảy 8 quốc gia, đó là Thái Lan, Lào,
Trung Quốc, Ấn Độ, Myanma, Việt Nam, Campuchia và Malayxia. Theo ước
tính (từ năm 1988) thì người Thái có tới 100 triệu người và định cư trên một vùng
đất thuộc lãnh thổ của 8 quốc gia với diện tích khoảng trên 2.147.400 km2.2
Thực trạng của các tộc người Thái và các ngôn ngữ Thái hiện nay là kết
quả của cả một quá trình thiên di rất lâu đời và liên tục của người Thái trong lịch
sử. Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu và bản thân những người Thái thường vẫn day
dứt về một câu hỏi rằng: “Người Thái từ đâu đến?” Câu hỏi này thể hiện niềm
khao khát muốn biết được cội nguồn của dân tộc mình. Một câu trả lời dứt khoát
đến nay vẫn chưa có được bởi lẽ vẫn còn tồn tại những giả thiết khác nhau về
nguồn gốc, hay nói cách khác về cái nôi phát sinh của dân tộc Thái.
Giả thiết của các nhà khoa học thuộc thế hệ trước thường cho rằng người
Thái ban đầu sinh sống tại vùng Altai (thuộc Mông cổ) và có tên tự gọi là “Ai-
lao”, sau đó cách đây khoảng 6.000 năm họ đã di cư về lun vực sông Hoàng Hà
và thành lập nên 2 nhà nước có tên là “Na-khon Pa” và “Na-khon Lung”. Không
dừng lại ở đây, người Thái lại di cư tiếp xuống lưu vực sông Dương Tử và thành
1 Còn có thể gọi là tiếng Thái Xiêm. Người Thái Lan gọi người Thái ở miền Trung Thái Lan là Thay Xạ-giảm;
X ạ -giảm được chú n g ta phát âm ch ệ c h đi thành X iêm. T iếng T hái X iêm đượ c COI là tiếng Thái phổ thống ờ T hái
Lan và trong công trinh này chúng tôi gọi tiếng Thái Xiêm là “tiếng Thái Lan”.
2 Theo: Rương-đệt Păn-khườn-khặt, C ác ngôn ngữ nhóm Thái, Viện nghiên cứu ngốn ngữ và văn hoá nhấm phát
triển nông thôn, Trường Đại học Ma-hị-dôn xuất bản, Băng Cốc. 1988 (Bằng tiếng Thái Lan)
3
lập một nhà nước thứ ba lấy tên là “Na-khon Nghiếu”. Người Trung Quốc sau
này đã đến vùng người Thái định cư và trong quá trình lịch sử họ đã buộc người
Thái phải thiên di dần xuống phía nam mà có được những vùng cư trú như ngày
nay.3
Sau này có giả thiết cho rằng địa bàn cư trú đầu tiên của người Thái là
vùng Nam Trung Quốc. Người Thái đã thành lập nên vương quốc riêng của mình
là Vương quốc Nan-chao mà ta thường gọi là “Nam Chiếu”. Vương quốc Nan-
chao bị người Trung Quốc xâm chiếm làm cho người Thái di cư xuống tiếp phía
nam đến các vùng Át-sam (Ân Độ), Bắc Myanma, Bắc Lào và Bắc Thái Lan ngày
nay.
Các nhà ngôn ngữ học lại cho rằng phải coi vùng đất tổ của người Thái là
vùng Tây Nam Trung quốc nối liền với Bắc Việt Nam. Người Thái từ đây mới
thiên di tới các vùng phía tây vào đất Vân Nam Trung Quốc, đất San ở Bắc
Myanma, bang Át-sam của Ân Độ. Sau đó một số thì tiếp tục thiên di vào đất
Lào, Bắc Myanma và Bắc Thái Lan.
Thế nhưng đến khi các nhà khảo cổ học phát hiện được các bộ xương
người cổ đại kèm theo đồ gốm trên các di chỉ ở Thái Lan nhu’ Bản Chiêng thuộc
tỉnh Ụ-đon-tha-ni và Bản Kàu thuộc tỉnh Kan-chạ-na-bụ-ri có niện đại các-bon
lên tới 4.000 đến 6.000 năm thì họ lại cho rằng Thái Lan chính là cái nôi của
người Thái, sở dĩ các nhà nghiên cứu có dự đoán như vậy bởi lẽ khi nghiên cứu
về các bộ xương người cổ đã phát hiện được thì thấy các đặc tính của nó không
hề khác với các đặc tính của xương người Thái thực thụ hiện nay. Từ đó các nhà
khoa học cho rằng người Thái đã có mặt trên đất Thái Lan từ thời kỳ đồ đá mới.
Đến khi các nhà nhân chủng học thực hiện việc nghiên cứu về nhóm máu
của người Thái Lan với người Indonesia thấy có nhiều đặc điểm giống nhau thì
1 Xin xem : Kh ủ n -w i-ch ịt-m át-tra. Đại cương về Thái Lơn. N x b. R u ỏ m -xả n tái bản lần thứ 6. Bàng C ốc, 1974
(B ảng tiếng Thái Lan)
4
cho rằng người Thái Lan và người Indonesia trước đây cùng chung một nguồn
gốc và cùng ở một khu vực với nhau. Điều này được minh chứng thêm khi nhà
ngôn ngữ học P.K. Benedict cho ra mắt một công trình nghiên cứu nổi tiếng về
các ngôn ngữ Kadai đã chỉ ra rằng có rất nhiều từ Thái giống với từ của
Indonesia.4 Tiếp theo, các nhà nghiên cứu Thái Lan cũng đã dựa vào các đặc
điểm về địa lý học mà cho rằng trước đây khi vùng Biển Đông hiện nay vẫn đang
còn là một vùng lục địa bằng phẳng thì người Thái đã định cư tập trung từ đảo
Hải Nam liền với Phi-líp-pin và Indonesia. Sau này khi có sự biến động về địa
chấn để tạo nên Biển Đông với hàng ngàn hòn đảo như bây giờ thì người Thái
chính là những cư dân đã chạy nạn hồng thuỷ để vào sâu trong đất liền.
Những giả thiết trên đây đều là những giả thiết rất đáng tin cậy bởi lẽ giả
thiết nào cũng có những cơ sơ cứ liệu rất chắc chắn và đáng thuyết phục. Theo
tôi, cũng chưa thể hoàn toàn bác bỏ giả thiết của các nhà sử học truyền thống về
quá trình thiên di của người Thái từ vùng Altai xuống đến các địa bàn cư trú như
ngày nay. Những nhận xét của họ đều dựa trên các cứ liệu lịch sử rất đáng tin cậy
của Trung Quốc và nhiều nước khác. Một điều cần lưu ý rằng các ngôn ngữ
nhóm Thái hiện nay bên cạnh những nét tương đồng còn có nhiều nét khác biệt
mà ta có thể phân chúng thành nhiều loại Thái khác nhau và bản thân người Thái
cũng phân thành nhiều nhóm có những tên gọi khác nhau. Phải chăng có thể nghĩ
rằng cái nôi hình thành của người Thái là khu vực Đông Nam Á và thậm chí là
Đông Nam Á hải đảo, sau này có một bộ phận lớn người Thái tiếp tục thiên di lên
phía bắc đến tận vùng Altai để rồi họ lại bị đẩy dần xuống phía Nam. Quá trình
Nam tiến ấy đã được các nhà sử học truyền thống miêu tả trong các công trình
của mình và quá trình Nam tiến ấy thực chất là quá trình người Thái di cư đã
quay trở lại với đất tổ, với một bộ phận đồng tộc còn ở lại đất tổ của mình? Trên
4 P.K. B e n edict. Thai, Kadai and Indonesian: a new alingmcnt in Southcastrcn Asia, – “A m. A n throp ”, vol 4 4,
1942, tr. 57 6 – 601
5
đường thiên di, người Thái di cư đã xây dựng nên những quốc gia riêng và đã bao
lần tham chiến với người Trung Quốc để rồi lại tiếp tục bị người Trung Quốc dồn
ép dần về phương Nam. Dù sao tất cả cũng mới chỉ là những giả thiết và chúng ta
cần phải tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nữa mới có thể khẳng địng một cách
chắc chắn được. Một trong những cơ sở quan trọng giúp đưa ra câu trả lời cuối
cùng cho câu hỏi: “Người Thái từ đâu tới” đó là việc nghiên cứu thực trạng và
các mối quan hệ của các ngôn ngữ nhóm Thái. Đây chính là đề tài cần được tiếp
tục thực hiện với một quy mô lớn và với một sự hợp tác quốc tế rộng rãi trong
tương lai.
II. Bối cảnh các ngôn ngữ nhóm Thái
Người Thái đông đúc như vậy, lại sống trải rộng trên một vùng với nhũng
địa hình rất khác nhau, cộng thêm việc có cả một quá trình thiên di liên tục trong
lịch sử hàng ngàn năm nên đã tạo ra một bối cảnh ngôn ngữ hết sức đa dạng và
không ít có những đặc điểm khác biệt bên cạnh những đặc điểm chung còn giữ
lại. Theo X.E. Jakhontov thì thời kỳ mà người Thái sử dụng chung một tiếng Thái
thống nhất đã kết thúc kể từ thế kỷ VI tới IV trước Công nguyên.5 Có nghĩa là
vào thời kỳ này người Thái đã có những cuộc thiên di khác nhau trên khắp các
vùng lãnh thổ của Trung Quốc và Đông Nam Á làm cho họ sống tách biệt nhau,
đồng thời chịu ảnh hưởng văn hoá của các cư dán khác trên chặng đường thiên di
nên ngôn ngữ mà họ đang sử dụng cũng có những thay đổi nhất định không hoàn
toàn giữ được cái ngôn ngữ Thái thống nhất như ban đầu. Nguyên nhân này đã
dẫn đến một bối cảnh ngôn ngữ Thái rất đa dạng như ngày nav.
1. A.G. Haudricourt đã gọi tiếng Thái thống nhất trước đây được sử dụng
chung trong tộc người Thái là “tiếng Thái chung” (Thai commun). Bóns dáng xa
5 X .E. Jakh ontov; Glot/okhronolữgija i kitayxko – tibctxkaja. – Trong: “Ja Jazưkov, M oskv a, 1 96 4. tr. 6-7
6
xưa của tiếng Thái chung này đã được A.G. Haudricourt khôi phục lại.6 Ngày
nay những “con cháu” của nó phát triển thành nhiều ngôn ngữ của người Thái
trải rộng một vùng bao gồm Đông Bắc Ấn Độ, Nam Trung Quốc và hầu hết vùng
Đông Nam Á lục địa. Với một địa bàn rộng lớn như vậy, các tiếng Thái không
tránh khỏi những tình trạng phát triển độc lập với “họ hàng” của mình để rồi tạo
ra một dáng vẻ riêng và một hình thức tồn tại riêng cho mình. Thế nhưng những
đ iều k iện ấy k h ô n g h o à n toàn là m tách hẳn cá c tiến g T h ái v ớ i nh a u đến n ỗi
không còn lại một quan hệ nào biểu hiện chúng là cùng một nguồn gốc. Các
tiếng Thái còn giữ lại khá nhiều nét chung bên cạnh những nét khác biệt; và ngay
trong những nét khác biệt ấy người ta cũng vấn nhận ra được mối quan hệ họ
hàng giữa chúng nhờ sự khác biệt có tính quy luật rất đều đặn. Mối quan hệ giữa
tiếng Thái Lan với các tiếng Thái khác cũng không ngoài những đặc điểm nói
trên. Đã có một số công trình của các nhà nghiên cứu được công bố với nội dung
hoặc so sánh các tiếng Thái với nhau, hoặc phục nguyên một ngôn ngữ Thái cổ
dựa trên các văn bản thư tịch cũ. Tất cả đều nhằm mục đích chứng minh cho sự
gần gũi về mặt nguồn gốc của các tiếng Thái, phục vụ cho việc phân loại các hệ
ngôn ngữ ở Đông Nam Á và cũng nhằm mục đích dựng lại một hệ thống âm vị
cổ của một ngôn ngữ Thái nguyên sơ để thấy được tình hình biến đổi trong một
quá trình dài lâu của các tiếng Thái hiện nay.7
Với những tư liệu mà chúng tôi đã có cộng với kết quả phục nguyên tiếng
Thái chung của A.G. Haudricourt và một vài tư liệu của P.K. Benedict, chúng tôi
đã so sánh một số tiếng Thái với nhau và thấy một số hiện tượng biến đổi của
chúng như sau:8
6 Xin xem: A.G. Haudricourt. Les phonèmes et vocabulaire dư thai commun. – JA. vol. CCXXXVI, 1948, tr. 197-
238
7 A.G. Haudricourt. Lcs ph onèm es.. đã dẫn; P.K. Benedict. Thai, Kadai and ỉndonesian:, đã dẫn: H.
M aspero. Contribution a 1’étnde du système phonâliqưe des langues thai, – B E F E O, voi. X I, 1911
* Các dẫn chứng cụ thể xin xem thêm: Quế Lai. Xu hướng biến đổi ngữ ám cùa các ngôn ngữ nhóm Thái và những
biểu liiện cùa nó trong các phương ngữ Tày Nùng. Tạp chí Nghiên cứu Đóng Nam Á, số 1, 1992
7
1- Hiện tượng đơn giản hoá các nhóm phụ âm của tiếng Thái chung thể
hiện rõ trong các tiếng Thái hiện nay. Những nhóm phụ âm này đã bị lược bỏ
một thành tố nào đó trong nhóm hoặc hoàn toàn được thay thế bằng một phụ âm
khác. Tuy nhiên, chúng vẫn được giữ lại ở một số từ của một số tiếng Thái.
Tiếng Thái Lan còn giữ lại âm cổ [ pl ]
[ p ’j ]
[ p’ ]
[p ]
[f ]
Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ p’ ]
[ bj ]
[ mj ]
[ d ]
[ 1]
Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ d ]
*[ m l ]
8
Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ 1 ]
*[ dr ]
Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ s ]
*[ k’r ]
Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ k’ ]
^ n ]
Tiếng Thái Lan vẫn giữ âm cổ [ kl ]
2- Âm môi, vô thanh, bật hơi [ p’ ] có xu hướng bị mất đi trong các tiếng
Thái. Âm môi răng [ f ] đã thay thế cho âm này. Có một số phương ngữ Thái
Trắng và Thái Đen thì thay thế hoàn toàn dẫn đến hệ thống phụ âm của chúng
không có âm [ p’ ].9 Trong khi đó những tiếng Thái khác bên cạnh việc giữ lại
âm [ p’ ] đã có một số từ được thay bằng âm [ f ]. Nhưng tiến2 Thái Lan thì vẫn
còn giữ nguyên vẹn âm cổ [ p’ ] này.
3- Âm runơ lưỡi [ r ] đang bị mất dần tong các tiếng Thái hiện nay. Cũng
như âm [ p’ ], âm [ r ] được giữ lại ở tiếng Thái Lan, tuy nhiên hiện nav trong
tiếng Thái Lan đã có sự lẫn lộn giữa [ r ] và [ 1 ] trong khẩu ngữ. Ví dụ nhũng từ
sau có thể phát âm theo hai âm: [ rău ] / [ lău ] “ta, chúng ta”; [ rắk ] / [lắk ]
9 Xin xem thêm: Nguyễn Khắc Toàn. Vé hệ thống ngữ ảm tiếng Thủi ở miền Bắc Việt Nam, Trong: “Tìm hiểu
ngôn n gữ các dân tộc thiểu số ờ V iệt N am ”, tập 1, V iện N gô n ngữ h ọc xuất bản, H à N ội. 1972, tr. 5 0 – 53
9
“yêu”; Âm [ r ] hoàn toàn không có trong các tiếng Thái ở Việt Nam,10 hầu
như không phổ biến ở tiếng Lào, và còn lại rất ít ở tiếng Tày Nùng.
4- Hiện tượng vô thanh hoá xảy ra trong các loại âm ồn. Đó là:
Trong tiếng Thái Lan, âm [ b ] đã được vô thanh hoá bằng một âm vô
thanh bật hơi [ p’ ].
Trong tiếng Thái Lan, âm [ V ] đã được vô thanh hoá bằng âm vô thanh, xát
5- Các nguyên âm của tiếng Thái chung vẫn được giữ nguyên vẹn và thống
nhất trong các tiếng Thái. Hiện nay ta chỉ thấy có sự khác nhau về trường độ giữa
các nguyên âm hoặc khác nhau về nguyên âm đôi cổ chuyển thành nguyên âm
đơn mà ở đây tiếng Thái Lan có xu hướng vẫn giữ lại tính chất cổ hơn so với các
tiếng Thái khác. Tuy vậy, những điểm khác nhau này chỉ xảy ra ở một số ít từ.
Về cơ bản hệ thống nguyên âm vẫn không thav đổi nhiều như hệ thống phụ âm.
2. Các nhà ngôn ngữ học đã tiến hành phân loại các tiếng Thái thành các
nhánh và các nhóm khác nhau chủ yếu dựa trên 2 cơ sở; đó là cơ sở địa lý và cơ
sở ngôn ngữ. Sau đây chúng tôi xin nêu lên những cách phân loại tiêu biểu.
2.1. Phân loại trên cơ sở địa lý:
2.1.1. Các nhà nghiên cứu Đông Phương học Nga đã chia các tiếng Thái
thành 3 nhánh sau:11
10 N gu y ễn K hắc T oàn, v ề hệ thống ngữ á m, đã dẫn
” X em : Jn. Ja. Plain. I. N. M orev, M. F. Fom icheva. Tayxkiy jazưk. M o skva, 1961, tr. 9
[p ]
[f]
* [ V ]
[p ]
[f].
10
– Nhánh Tây Bắc gồm các tiếng Thái ở Át-sam Ân Độ và Bắc Myanma như
tiếng Thái A-hổm, tiếng Thái Khăm-tì và tiếng San.
– Nhánh Đông Bắc gồm các tiếng Thái ở Việt Nam và Lào như tiếng Thái
Đen, Thái Trắng, Tày, Nùng; các tiếng Thái ở Nam Trung Quốc như Đồng, sủi,
Mao-nan và tiếng Lê ở đảo Hải Nam tỉnh Quảng Đông Trung Quốc.
– Nhánh Nam gồm tiếng Xiêm (Thái Lan), tiếng Lào ở Lào và Thái Lan,
tiếng Lự và khửn ở một phần phía bắc Thái Lan và dọc sông Mê-cồng.
2.1.2. Nhà ngôn ngữ học người Thái Lan Phra-gia A-nụ-man Rát-cha-thôn
đã lấy tiếng Thái Lan làm tiếng Thái trung tâm mà chia các tiếng Thái thành 4
nhóm như sau:12
– Nhóm 1: Thái Trung tâm (Thái Lan)
– Nhóm 2, Thái ở Trung Quốc: Pa-dí, Thái Lai, Thái Lung, Thái Giói,
Thái Chung, Thái Thổ, Thái Nùng, Thái Lê
– Nhóm 3, Thái phía Tây: Thái Giày, Thái Khỏn, Thái A-hổm, v.v
– Nhóm 4, Thái phía Đông: Thái Thổ, Thái Nùng, Phu-thay, Lào
2.1.3. Nhà ngôn ngữ học người Thái Lan Rương-đệt Păn-khườn-khặt đã
chia các tiếng Thái thành 6 nhóm như sau:13
1- Nhóm phía Tây: Là các tiếng Thái phần lớn ở Bắc Myanma và Bang Át-
sam của Ấn Độ, đó là Tiếng Thái A-hổm, Tiếng Thái Khăm-tì, Tiếng San Trung
Quốc, Tiếng San Myanma, Tiếng Thái Rông, Tiếng Thái Nô-ra, Tiếng Thái Ai-
tôn, Tiếng Thái Pha-kê.
2- Nhóm phía Nam: Là tiếng Thái Xiêm ở miền Truns Thái Lan và tiếng
Thái miền Nam Thái Lan.
12 T heo: R ươ n g-đ ệt Pãn-k h ườn -khặt. Các ngôn ngữ nhóm Thái đã dẫn. tr. 61
11 T heo: Rư ơ n g-đột Pãn-khườn-khặt. Các ngôn ngữ nhóm Thái đã dẫn, tr. 42 – 60
1 1
3- Nhóm sông Mê-công khúc giữa: Là các tiếng Thái ở thung lũng sông
Mê-công đoạn từ Myanma kéo xuống vùng Bắc Lào, đó là Tiếng Thái Nơ, Tiếng
Lự, Tiếng Thái Khửn, Tiếng Thái Lán Na, Tiếng Lào.
4- Nhóm vùng cao nguyên của sông Mê-công khúc giữa: Là các tiếng Thái
ở vùng rừng núi của Lào và Việt Nam, đó là Tiếng Thái Đen, Tiếng Thái Trắng,
Tiếng Thái Đỏ, Tiếng Thái Sầm Nưa, Tiếng Thái Phuôn, Tiếng Phu-thay, Tiếng
Thái Kạ-lơơng, Tiếng Thái Gió, Tiếng Thái Dối, Tiếng Thái Sẹk.
5- Nhóm phía Đông: Là các tiếng Thái ở Nam Trung Quốc và Việt Nam,
đó là Tiếng Thái Giói, Tiếng Choang, Tiếng Thái Kăm, Tiếng Thái Thổ (Tiếng
Tày), Tiếng Thái Choong-kia, Tiếng Nùng, Tiếng Nhắng (hoặc Giáy), Tiếng Thù
Lao, Tiếng Pa Dí.
6- Nhóm Thái – Kadai: Là các tiếng Thái ở vùng đảo Hải Nam của Trung
Quốc, đó là Tiếng Lê, Tiếng Kơ-lao, Tiếng La-quả, Tiếng La-chí.
2.2. Phân loại trên cơ sở ngôn ngữ:
2.2.1. Đầu tiên là nhà ngôn ngữ học Lý Phương Quế đã dựa vào kết quả so
sánh về mặt ngữ âm và từ vựng giữa các tiếng Thái mà chia các tiếng Thái thành
3 nhánh sau đây:14
14 Li-Fang-Kuei. Diagramatic class/ication o f Tai Dialects “/4 tentative ò classificơtioiì fìf Thai Dialecl
ReprezentcdỊrom cullure in history cssays in bonor of daitl Radin” N. Y. ed. s. Siameds. 1960 (Dẫn theo: Annik
Lévy. Les angucsThai, ASEMI. 1972, vol. III. N” ], tr. 89-113)
THÁI
■Nhánh Tây Nam
Nhánh Trung
Nhánh Bắc
— Xiêm (Thái Lan)
~
__
Lào
— Thái Đen
“ Lự
L-Thái Trắng
San
— A-hổm
— Tày
Thổ
Nùng
_Lung-chow
Tien-pao
Yung-ch’un
Wu-ming
‘Ch’ien-chiang
Ts’e-heng
Ling-yun
Hsi-lin
T ’ien-chow
Po-ai
13
2.2.2. John F. Hartmann đã tiếp tục chia các tiếng Thái nhánh Tây Nam
của Lý Phương Quế thành các nhóm nhỏ hơn dựa trên cơ sở của việc chia thanh
điệu theo các lớp của phụ âm. Đó là các tiếng Thái mà các phụ âm được chia
thành 3 lớp là lớp Cao, lớp Trung, lớp Thấp. Các tiếng Thái này được gọi là “Thái
Nam nhánh Tây Nam”, bao gồm Thái Xiêm, Lào và tiếng Thái ở Nam Thái Lan.
Còn những tiếng Thái nào mà các phụ âm chỉ được chia thành 2 lớp là lớp Cao và
lớp Thấp thì được xếp vào một nhóm riêng. Trong nhóm riêng này nếu tiếng Thái
nào có các phụ âm lớp Cao là sự gộp các phụ âm cùng loại với các phụ âm lớp
Cao và lớp Trung của nhóm “Thái Nam nhánh Tây Nam” thì được gọi là “Thái
Bắc nhánh Tây Nam”; đó là tiếng Thái Giày, tiếng Lự, tiếng Thái Đen, tiếng Thái
Trắng, tiếng Thái Đỏ, tiếng Nùng, tiếng Thái Lung-chao, tiếng Thái Ning-ming,
tiếng Thái Wu-ming, tiếng Pa-dí, tiếng Choang. Còn nếu tiếng Thái nào có các
phụ âm lớp Cao là sự gộp các phụ âm cùng loại với các phụ âm lớp Cao và một
số các phụ âm lớp Trung của nhóm “Thái Nam nhánh Tây Nam” và các phụ âm
lớp Thấp là sự gộp các phụ âm cùng loại với các phụ âm lớp Thấp và một số các
phụ âm lớp Trung còn lại của nhóm “Thái Nam nhánh Tây Nam” thì được gọi là
“Thái Trung nhánh Tây Nam”; đó là tiếng Thái Khửn, tiếng San, tiếng Lự ở
Myanma, tiếng Thái Lán Na.
2.2.3. Dựa vào hiện tượng vô thanh hoá các phụ âm tắc hữu thanh mà
James R. Chamberlain đã chia các tiếng Thái nhánh Tây Nam thành 2 nhóm :
1- Nhóm có các phụ âm tắc, bật hơi hữu thanh chuvển thành các phụ âm
tắc không bật hơi vô thanh. Đó là tiếng Thái Đen, tiếng Thái Trắng, tiếng Thái
Đỏ, tiếng Lự, tiếng San, tiếng Thái Duôn, tiếng Thái A-hổm, tiếns Thái Giàv,
tiếng Thái Thổ.
2- Nhóm có các phụ âm tắc, hữu thanh chuyển thành các phụ âm tắc, vô
thanh, bật hơi. Đó là tiếng Thái Xiêm, tiếng Thái Phu-thay, tiếng Thái Nở, tiếng
Thái Phuôn, tiếng Lào, tiếng Thái vùng Nam Thái Lan.
14
2.2.4. Nhà ngôn ngữ học người Pháp A.G. Haudricourt đã không đồng tinh
với cách chia của Lý Phương Quế. Theo ông, không thể liệt Choang vào các tiếng
Thái khác vì về mặt ngôn ngữ chúng có nhiều nét rất khác nhau. Đó là nội bộ các
tiếng Thái (trừ Choang), mà cụ thể ở đây là Tày – Thái có sự tương ứng hoàn toàn
về nguyên âm, trái lại giữa Tày – Thái và Choang thì không có sự tương ứns như
thế. Ngoài ra, trong nội bộ các từ Tày – Thái có sự khác nhau rất lớn về ngữ âm
nhưng bao giờ cũng có quy tắc, trái lại, giữa các tiếng Thái với Choang thì sự
khác nhau không theo một quy tắc nào và không thể giải thích được. Nhu’ vậy chỉ
có thể phân thành 2 nhánh lớn, trong đó nhánh Tây Nam và nhánh Trung của Lý
Phương Quế là một, còn nhánh Bắc của Lý Phương Quế (tức nhánh Choang)
thuộc một nhánh khác. Ngoài ra còn có nhánh trung gian giữ vai trò là nhánh bản
lề, bởi vì hệ thống phụ âm của nó gần với Tày Nùng, trong khi đó tính không đều
đặn của hệ thống nguyên âm lại làm cho nó gần với nhánh Choang. Sơ đồ phân
nhánh của A.G. Haudricourt như sau:15
Nhánh Choang
Nhánh bản lề
Pu-dí
Choang
Cao Lan
Nùng An
Nhánh Thái thực thụ
Tày
Thái
c
Tày
Nùng
f— A-hổm
Khăm-tì
San
Lự
Xiêm (Thái Lan)
Lào
Thái Trắng
L Thái Đcn
15 A.G. Haudricourt. La langnc Lakkia, – BSLP 62 (1), 1968 (Dẫn theo: Annik Lévv. Lcs angues Tluii. Đã dẫn).
Quan điểm này vẫn còn được ông nhắc lại trong buổi loạ đàm tại Việt Nam, tháng 4 nãm 1973.
15
2.3. Các cách phân loại tiếng Thái thuần tuý dựa trên cơ sở địa lv chỉ nói
lên được sự bố cục của các tiếng Thái trên một lãnh thổ rộng lớn của các cư dân
thuộc nhóm Thái hiện nay. Còn các cách phán loại dựa trên cơ sở ngôn nsữ thì
đúng đắn hơn bởi lẽ nó là kết quả của sự phân loại được xác định nhò’ sự phân
tích các đặc trưng ngôn ngữ và các mối quan hệ qua lại của các tiếng Thái.
Cách phân loại của A.G. Haudricourt dễ dàng được chấp nhận hơn so với
cách phân loại của Lý Phương Quế. Nếu ta chú ý cách phân loại của Lý Phương
Quế thì thấy các tiếng Thái như Thái Xiêm (Thái Lan), Lào, Thái Đen, Thái
Trắng bị tách biệt hẳn nhau; Thái Xiêm và Lào tạo thành một nhóm tách biệt với
Thái Đen, trong khi đó Thái Đen cùng với Thái Xiêm, Lào tạo thành một nhóm
tách biệt với Thái Trắng. Thực tế ngốn ngữ không cho phép ta chấp nhận điểu đó.
Các tiếng Thái Xiêm, Lào, Thái Đen, Thái Trắng có những quan hệ chồng chéo
nhau về mặt ngôn ngữ tưởng như không thể có một cơ sở nào để phân chia trong
chúng. Thế nhưng trong quan hệ đó vẫn nổi lên 2 đặc điểm mà ta có thể lấy làm
cơ sở cho việc phân loại các tiếng này. Kết quả đưa lại cũng không trùng với cách
phân loại của Lý Phương Quế, nhưng lại là sự chi tiết thêm các tiếng Thái trong
nhóm Thái thuộc nhánh Thái thực thụ của A.G. Haudricourt.
Đặc điểm thứ nhất đó là việc giữ lại hay mất đi hệ thống các nhóm phụ âm
đứng đầu âm tiết. Trong 4 tiếng này chỉ có tiếng Thái Xiêm là duy nhất còn phổ
biến hệ thống nhóm phụ âm đẩu đó. Còn lại các tiếng Lào, Thái Đen, Thái Trắng
đã nhất loạt đơn giản hoá các nhóm phụ âm đầu để trỏ’ thành phụ âm đơn.
Đặc điểm thứ hai là việc có hay không có phụ âm rung [ r ] trone hệ thống
phụ âm của mình, ơ đâv tiếng Thái Xiêm cũ nơ là tiếng duv nhất trong số đó có
phụ âm rung [ r ] trong hệ thống phụ âm. Các tiếng Lào, Thái Đen, Thái Trắng
hoàn toàn không có phụ âm rung [ r ] mà chỉ có phụ âm [ h ] tương ứng với âm
rung [ r ] của Thái Xiêm mà thôi.
16
Với 2 đặc điểm này ta có thể chia nhỏ các tiếng Thái Xiêm, Lào, Thái
Đen, Thái Trắng trong nhóm Thái thành 2 nhóm nhỏ mà ở đó một bên là tiếng
Thái Xiêm, một bên là các tiếng Lào, Thái Đen, Thái Trắng. Hai đặc điểm trên
đây vẫn là 2 cơ sở để phân nhóm cho các tiếng Thái khác như A-hổm, San,
Khăm-tì, Lự khi có đủ tư liệu về chúng.
Tóm lại, với những cách phân loại như trên, tiếng Thái Lan đã được đặt
vào trong một bối cảnh và mối quan hệ rộng lớn với các tiếng Thái khác. Ớ đây
ngoài những đặc điểm chung của tiếng Thái Lan với các tiếng Thái khác trong
nhánh Thái Thực thụ đối lập với nhánh Choang, chúng ta còn thấy tiếng Thái Lan
có những nét khác hẳn với ngay chính một số tiếng Thái trong cùng một nhóm
với nó. Đó là những nét người ta thường thấy phổ biến trong tiếng Thái Chung
mà A.G. Haudricourt đã từng dụng lại.
III. Một sỏ đặc điểm cơ bản của tiếng Thái Lan
1. Cũng như tiếng Việt, tiếng Thái Lan là ngôn ngữ thuộc loại hình đơn
lập, không biến đổi hình thái như trong các ngôn ngữ biến hình. Các thành tố
trong chuỗi lời nói là những âm tiết tách biệt. Ví dụ người Thái Lan đã nói như
sau:
ImnSLỈin luunSTm “Dưới sông có cá, trên đồng có lúa”
[ nay nám mi pla nay na mi khaoA ]16
16 Đ ể tiện cho việc ấn lo át, trong côn g trình n ày chúng tôi dùng chữ Q u ốc n gữ để phiên các âm của tiếng Thái
Lan. N g oà i cá c âm m à tiếng V iệt và tiếng T hái Lan tương tư nhau, sẽ c ó những âm của tiếng T hái Lan không
tư ơng tự với âm nào của tiến g V iệt. T rong những trường hợp này chún g tôi tạm p h iên như sau:
– A m lấc. m ôi m ô i. vô thanh, bật hơi được biểu thị bằng các c on c h ữ w w /1 được ghi bằng p h’
– Â m tác. m ặt lư ỡi, ngạc cứng, bật hơi đư ợc biểu thị bằng các con chữ UI n 0, được g h i bàng c h ’
– Â m tắc, hầu, vô thanh dược biểu thị bằng các con chữ 0 l đươc g h i bằng kí hiệu ?
– Các ng u y ên âm ngắn m à tiền g V iệ t k hô n g c ó sẽ được phiên bằng c o n ch ữ n e u y ên âm tươne ứ n e. nhưng
c ó g ạ c h dưới, ví dụ: N gu y ê n âm ê ngán được phiên là é; nguyên âm i ngắn được phiên là i. v .v C ác ng u y ên ám
ngắn di với phụ âm cuối là c ác phụ âm tắc. p t k ? nếu có thanh tư ơ ng tư như thanh s ắ c của tiếng Việt thì được
đánh dâu s ắ c nlur trong liê ng V iệt, nếu c ó thanh tương tự như thanh N ặn g cùa tiến g V iệt thì được đánh dấu Nặng
như trong tiếng V iệt hoặc khổn g đánh dấu gì. C ác nguyên ám ngán và dài k h ác mà tiến g V iệt c ó thì phiên như
trong tiến g V iệt, ví dụ ò ngán trong ỏ n g. o dài trong Đong, ơ ngắn trong á n. a ngán trong a n h. ac h. ay. au. v.v
– Các thanh đ iệu được ph iên bàn g các dấu thanh như của tiếng V iệt. R iêng thanh Lén – Xu ốn g (Thanh
“T h ỏ ” ) của tiếng Thái Lan m à tiếng V iệt kh ôn g có sẽ được phiên bàng kí hiệu A đặt sau âm tiết.
17
ĐAI HOC QUỐC GIA HA NÒI
TRUNG TÁM THÒNG TIN THU VIỆN
2. Tiếng Thái Lan cũng là một ngồn ngữ có thanh điệu và thanh điệu có
vai trò khu biệt nghĩa. Hệ thống thanh điệu của tiếng Thái Lan có tất cả 5 thanh
mà người Thái Lan đặt tên cho từng thanh là: “Xiểng Xả-mãn”, “Xiểng Êệk”,
“Xiểng Thô”, “Xiểng Tri”, “Xiểng Chặt-ta-va”. Nếu so với tiếng Việt thì “Xiểng
Xả-măn” của tiếng Thái Lan tương tự như Thanh Bằng của tiếng Việt, “Xiểng
Êệk” tương tự như Thanh Huyền, “Xiểng Tri” tương tự như Thanh sắc, “Xiểng
Chặt-ta-va” tương tự như Thanh Hỏi.
3. Âm tiết của tiếng Thái Lan được tạo thành bởi các phụ âm và nguyên
âm kèm theo thanh điệu. Các nguyên âm đóng vai trò chính và không thể vắng
mặt, còn các phụ âm thì vừa đứng ở vị trí đầu lại vừa có một số có thể đứng ở vị
trí cuối âm tiết. Những âm tiết có phụ âm cuối là các phụ âm tắc [ p t k ? ] được
gọi là “Khăm Tai” (Tiếng Chết), còn những âm tiết có các phụ âm cuối là các âm
Mũi [ m n ng ] và các bán nguyên âm [ i u ] thì được gọi là “Khăm Pên”
(Tiếng Sống). “Khăm Pên” có được hết tất cả 5 thanh điệu, còn “Khăm Tai” thì
chỉ có hạn chế một số thanh điệu mà thôi. Phụ âm cuối tắc hđu [ ? ] rất phổ biến
trong tiếng Thái Lan; đó là những âm tiết kiểu như:
[ lé? ], [ chạ? ], [ má? ], [ lá? ], [ prạ? ], [ tạ? ], [ rá? ], v.v
4. Tiếng Thái Lan có cả một hệ thống các phụ âm kép. Đặc điếm này rất ít
gặp trong các ngôn nsữ thuộc nhóm Thái. Đó là các phụ âm kép như sau:
[ kl kr khl khr pl pr ph’l ph’r tr ]
Các phụ âm kép này chỉ đứng đẩu âm tiết mà thôi.
5. Tiếng Thái Lan có đầy đủ các cặp nguyên âm ngắn dài. Hệ thống
nguyên âm đon tiếng Thái Lan có tất cả 9 nguyên âm dài và 9 nguyên âm ngắn
tương ứng; tức là có đầy đủ cả thảy 9 cặp nguyên âm ngắn – dài.
6. Kho từ vựng tiếng Thái Lan vẫn còn giữ lại rất nhiều từ cơ bản cùnơ một
nguồn gốc với các từ của các tiếng Thái khác, ví dụ những từ kiểu như: via
18
[ph’oA] “bố”, uaj [ meA ] “mẹ”, ÍN [ ph’iA ] “anh, chị”, U0-3 [ noóng ] “em”, Vỉénu
[lản] “cháu”, en [ ta ] “mắt”, Sa [ mư ] “tay”, uuu [ khẻn ] “cánh tay”, un [ khả ]
“chân”, èh [ tua ] “mình”, U0U [ non ] “ngủ”, nu [ kin ] “ăn”, *liJ [ pay ] “đi”, UI
[ ma ] “đến”, VI aj [ mủ ] “lợn”, Vì ỉn [ mả ] “chó”, [ pêt ] “vịt”, Iri [ kày ] “gà”,
v.v Nhờ đặc điểm này mà người Thái Lan khi gặp những người Thái ở các
quốc gia khác như người Thái ở Việt Nam chẳng hạn thì họ vẫn có thể trao đổi,
thăm hỏi nhau không khó khăn lắm.
7. Từ vựng của Tiếng Thái Lan đa số là mượn từ các tiếng Pali, Sanskrit
vốn là các ngông ngữ thuộc loại biến hình và một số là từ của Khơ-me vốn là
ngôn ngữ đa âm tiết. Chính vì vậy tiếng Thái Lan đã có một số đặc điểm về ngữ
âm và từ khác với các tiếng Thái khác cũng như các ngôn ngữ đơn lập khác.
8. Kho từ vựng tiếng Thái Lan được chia thành 3 lớp từ rất rõ ràng, đó là:
Lớp từ cung đình, lớp từ Phật giáo và lớp từ dân gian. Các lớp từ này được người
Thái Lan sử dụng trong các văn cảnh khác nhau, các điều kiện và hoàn cảnh khác
nhau cũng như giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội.
9. Tính từ hoặc các thành phần bổ nghĩa thường đứng sau danh từ, ví dụ
những trường họp như sau:
Danh từ m [ ph’aA ] “vải” đi với tính từ m i [ khảo ] “trắng” thì sẽ thành
u n [ ph’aA khảo ] “vải trắng”. Nếu đi với các thành phần bổ nghĩa thi sẽ thành
HiiiviTHulrim [ ph’aA ph’re ph’ửn xỉ khảo ] “tấm vải lụa mầu trắng”.
J0. Các động từ có thể chuyển đổi thành danh từ bằng phươns thức danh từ
hoá động từ. Ví dụ:
19
?n [rắc] “yêu” + ÍITIU [khoam] “sự, việc” = M1UTÍ1 [khoam rắc] “tình yêu”
a-3YVU [lông thun] “đầu tư” + niĩ [kan] “sự,việc” = rmm nu [kan lông thun]
“sự đầu tư”
11. Cấu trúc câu của tiếng Thái Lan hầu hết có dạng: Chủ nsữ – Vị ngữ –
Tân ngữ. Mỗi thành phần của câu còn có thể được mở rộng tuỳ theo yêu cầu
trong giao tiếp.
12. Để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp, tiếng Thái Lan thường sử dụng trật
tự các thành tố hoặc các từ, các hư từ. Chẳng hạn trật tự các thành tố trong các từ
ghép mà khác nhau thì sẽ có nghĩa khác nhau: “Ua [ chay đi ] “tốt bụng, hiền
lành” – ^lĩ) [ đi chay ] “mừng”. Trật tự các từ trong câu mà khác nhau thì câu sẽ
có những nghĩa khác nhau: uỉnnuiJ6n [ meo kin pla ] “mèo ăn cá” – ìlsnnuuin
[pla kịn meo] “cá ăn mèo”. Để biểu thị thời quá khứ người ta dùng từ 1.0 [ đaiA ]
“được”, ví dụ: l^lil [ đaiA pay ] “đã đi”, T,Ànu [ đaiA kin ] “đã ăn”; để biểu thị thời
tương lai người ta sử dụng từ Tít [ chạ? ] “sẽ”, ví dụ: íisIlI [ chạ? pay ] “sẽ đi”,
íisrm [ chạ? kịn ] “sẽ ăn”; để biểu thị thời hiện tại người ta dùng từ rìna-a [ kăm
lăng] “đang”, ví dụ: màVhl [kăm lăng pay] “đanơ đi”, TĨiR-anu [kăm lăng kin]
“đang ăn”.
2 0
CHƯƠNG II
NGỮ ÂM TIẾNG THÁI LAN
I. Hệ thông phụ âm tiếng Thái Lan
1. Phàn xuất âm vị phụ âm tiếng Thái Lan
Để biết tiếng Thái Lan có những âm vị phụ âm nào chúng ta cần phải thực
hiện các thao tác phân xuất âm vị phụ âm như sau:
1.1. Các âm vị phụ âm khác nhau về bộ vị cấu âm
* Nhóm 1:
[ pin ] “trèo” [ pặt ] “phủi”
=> / p / và / t /
=> / p / và / ch /
[ tin ] “chân”
[ pạk ] “mồm”
[ tặt ] “cắt”
[ pay ] “đi”
[ chạk ] “từ”
[ tằw ] “rùa”
[ chay ] “lòng”
[ ta ] “mắt”
[ kằw ] “cũ”
[ ?ôt ] “nhịn”
[ ka ] “quạ”
[ ?ặt ] “nén”
[ tôt ] “đánh rắm” [tặt ] “cắt”
* Nhóm 2:
[ ph’ê ] “sụp đổ” [ ph’a ] “dẫn, dắt”
[ thê ] “đổ”
[ ph‘u ] “múi”
[ tha ] “bôi, quét’’
[ ph‘a ] “dẫn, dắt”
[ ch’u ] “giơ lên”
[ thiA ] “chỗ”
[ch’a] “trà”
[ tha ] “bôi, quét”
=> / 1 / và / k /
=> / ? / và / 1 /
=> / ph’ / và / th /
=> / ph’ / và / ch’ /
=> /th/và/kh/
[ khiA ] “cứt” [ kha ] “mắc, dính”
21
254. Các âm vị phụ âm kép 375. Chức năng và năng lực phối hợp của cácâm v ị ph ụ âm 4 46. Tiểu kết 49II. Hệ thống nguyên âm tiếng Thái Lan 491. P hân x uấ t âm v ị n g u y ê n âm t iế n g T h á i L an4 92. Vị trí của những âm vị nguyên âm533. Đặc điểm ngữ âm của những âm vị nguyên âm 554. Các âm vị nguvên âm đôi 605. Các âm vị nguyên âm ngắn636. Chức năng và năng lực kết họp của cácâm vị nguyên âm437. Tiểu k ế t70III. Hệ thống thanh điệu tiếng Thái Lan 711. Phân xuất âm vị thanh điệu tiếng Thái Lan712. Nhận diện và miêu tả những thanh điệucủa tiếng Thái Lan 733. Chức năng và năng lực phối hợp của những thanh điệu834. Tiểu kết 89IV. Âm tiết tiếng Thái Lan901. Đặc điểm của âm tiết tiếng Thái Lan902. Cấu trúc âm tiết tiếng Thái Lan 933. Phân loại âm tiết tiếng Thái Lan954. ước tính số lượng vần và âm tiết tiếng Thái Lan102Chương i n. Chữ viết Thái Lan 110I. Sự hình thành và quy trình tăng trưởng chữ viết Thái Lan110II. Đặc điểm của chữ viết Thái Lan văn minh 1251. Các con chữ ghi phụ âm1252. Các con chữ ghi nguyên âm1293. Các con chữ ghi phụ âm cuối 1304. Các dấu ghi thanh điệu1305. Vị trí của những con chữ trong việc biểu lộ âm tiết134III. Chữ viết Thái Lan với những chữ viết của một số ít ngôn ngữthuộc nhóm Thái ở khu vực 1361. Chữ Lào với chữ Thái Xiêm 1392. Chữ San với chữ Thái Xiêm 1463. Chữ Khửn với chữ Thái Xiêm 1504. Chữ Tay Không với chữ Thái Xiêm1525. Chữ Thái Nước Ta với chữ Thái Xiêm 155K ết luận 169T ài liẽu tìm hiểu thêm. 1703. Chức năng và năng lực phối hợp của những thanh điệu834. Tiểu kết 89IV. Âm tiết tiếng Thái Lan901. Đặc điểm của âm tiết tiếng Thái Lan902. Cấu trúc âm tiết tiếng Thái Lan 933. Phân loại âm tiết tiếng Thái Lan954. ước tính số lượng vần và âm tiết tiếng Thái Lan102Chương III. Chữ viết Thái Lan 110I. Sự h ìn h thành v à quy trình tăng trưởng c h ữ v iế t T h ái L an1 10II. Đặc điểm của chữ viết Thái Lan hiện đại1251. Các con chữ ghi phụ âm 1252. Các con chữ ghi nguyên âm 1293. Các con chữ ghi phụ âm cuối1304. Các dấu ghi thanh điệu 1305. Vị trí của những con chữ trong việc bộc lộ âm tiết134III. Chữ viết Thái Lan với những chữ viết của một số ít ngôn ngữthuộc nhóm Thái ở khu vực1361. C h ữ L à o vớ i ch ữ T h á i X iêm1 392. Chữ San với chữ Thái Xiêm1463. C h ữ K h ửn v ớ i ch ữ T h á i X iê m1 504. C h ữ T a y K h ô n g v ớ i c h ữ T h á i X iê m 15 25. Chữ Thái Nước Ta với chữ Thái Xiêm155Kết luận 169T ài liêu tìm hiểu thêm. 170H iện nay việc học tiếng Thái Lan đang ngày càng được lan rộng ra vì nó ngàv càng đápứng nhu yếu trao đổi văn hoá, kinh tế tài chính và giáo dục giữa nhân dân hai nước Nước Ta – TháiLan. Các trường Đại học ở Nước Ta, trong đó có Khoa Đ ỏng Phương học trường Đại họcKhoa học Xã hội và N hân vãn, đã đưa vào chương trình huấn luyện và đào tạo của mình huấn luyện và đào tạo về tiếng TháiLan. Các khoá sinh viên tốt nghiệp được trang bị tiếng Thái Lan đã trở thành những cán bộ làmviệc có hiệu suất cao trong những cơ quan và công ty tương quan đến sự hợp tác Nước Ta – Thái Lan. Có thể nói, cho đến nay việc học tiếng Thái Lan chỉ mới có một cuốn giáo trình họctiếng được chúng tôi biên soạn không chỉ để cho những em sinh viên Khoa Đông Phương họcTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn sử dụng mà còn là cuốn giáo trình dành cho cácem sinh viên học tiếng Thái Lan trong cả nước tìm hiểu thêm trong quy trình học tiếng Thái Lancủa mình. Để góp thêm phần nâng cao hơn nữa hiệu suất cao và chất lượng học tiếng Thái Lan, chúng tôithực hiện khu công trình khoa học này nhằm mục đích trình làng và nghiên cứu và phân tích những đặc trưng ngữ âm và chữviết của tiếng Thái Lan mà trong cuốn giáo trình học tiếng không hề nêu lên hết được. Khiđọc khu công trình này những em sinh viên sẽ hiểu tiếng Thái Lan sâu hơn về phương diện phát âm vàchữ viết ( Nói và Viết ). Các em sẽ có những chiêu thức rèn luyện cách phát ám một cáchchuẩn hơn, có được những thủ pháp để nhớ tốt hơn về cách sử dụng chữ viết Thái Lan vốn làthứ chữ viết lạ lẫm với người Nước Ta và cũng là khó khăn vất vả ngay so với cả những người bảnngũ ‘ là người Thái Lan. Ngoài ra khu công trình cũng là một cứ liệu thiết yếu so với những nhàngôn ngữ học nghiên cứu và điều tra về tiếng Thái Lan cũng như về ngôn từ của những nước trong khu vựctrong đó có tiếng Việt. Về ngữ âm và chữ viết tiếng Thái Lan từ trước đến nay đã được những nhà nghiên cứu lưutâm đến khá vừa đủ. Các nhà nghiên cứu Phương Tây đã cho cống bố nhiều cõng trình về ngữâm của những tiếng Thái khác nhau mà tiêu biểu vượt trội là A.G. Haudricourt, P.K. Benedict, Li-Fang-Kuei, Annik Lévy, Abramson, v.v Riêng về tiếng Thái Lan đã có nhiều nhà ngón ngữ họcngười Thái Lan đã cho công bố nhiều khu công trình hoặc nghiên cứu và điều tra riêng về một góc nhìn nàođó của ngữ âm tiếng Thái Lan hoặc về những đặc điếm ngữ âm nói chung của tiếng Thái Lan. Ngoài ra còn có 1 số ít khu công trình đã đề cập đến những ngôn naữ nhóm Thái trong khu vực vàchữ viết của 1 số ít tiếng Thái. T rons số này tiêu biểu vượt trội có Giáo sư Rương-đệt Pãn-khườn-khậtđã cho công bô 2 cuốn sách : 1. Các ngôn từ nlìóm Thái. – Trường Đại học M ahidol xuất bản, Băng Cốc, 1988.2. Nghiên cứu tiếng Thá i Lan Trường Đại học M ahidol xuất bản, Bãng-cốc, 1998. LỜI NÓI ĐẦURiêng về Thanh điệu tiếng Thái Lan đã có một sô ‘ khu công trình của những nhà ngôn từ họcPhương Tây và Thái Lan nghiên cứu và điều tra bằng những giải pháp văn minh, sử dụng những thành tựu tinhọc vào việc xác lập những đặc tính ngữ âm và âm học của thanh điệu tiếng Thái Lan. Trong đóphải kể đến Kan-chạ-na Nák-xạ-kun với khu công trình Hệ thống ngữ ám tiếng Th ái Lan. KhoaVăn khoa, Đại học Chụ-la-lông-kon xuất bản, Băng-cốc, 1977 ; và gần đây nhất có một luậnán Tiến sĩ do nhà ngôn ngữ học người Thái Lan Pim-xển Bua-ra-pa bảo vệ thành công xuất sắc tại ViệtNam với nhan đề : Phân tích tương phản mạng lưới hệ thống thanh điệu tiếng Thái Lan và tiếng Việt – ứngdụng nghiên cứu và phân tích / ối và sửa lỗi phát ảm thanh điệu cho người Thái Lan học tiếng Việt ; – Luận ánTiến sĩ Ngữ Văn, Viện Ngôn ngữ học, Thành Phố Hà Nội, 2005. Các nhà ngôn ngữ học người Nga thuộc Viện Đông Phương học của Liên Xô cũng đãtừng cho công bố một số ít khu công trình viết về tiếng Thái Lan nói chung cũng như về từng khíacạnh của tiếng Thái Lan trong đó có ngữ âm tiếng Thái Lan. Tuy vậy, về chữ viết Thái Lan thìvẫn còn rất hãn hữu. Chúng tôi cũng đã cho công bô ‘ một số ít khu công trình của mình viết về tiếng Thái Lan, vềngữ âm tiếng Thái Lan và chữ viết Thái Lan đăng rải rác trong những sách và tạp chí kể từ năm1976 đến nay. Với những thành quả chung trên đây chúng tôi liên tục thừa kế để có được cống trìnhnày. Hy vọng rằng đây sẽ là một khu công trình giúp ích cho nhũng người điều tra và nghiên cứu và học tập vềtiếng Thái Lan tại Nước Ta. Rất mong bạn đọc và Hội đồng nghiệm thu sát hoạch góp phần quan điểm đểchúng tôi thay thế sửa chữa hoàn hảo và kỳ vọng rằng bản thảo sẽ sớm được in thành sách. Xin chân thành cảm ơn. TP.HN, tháng 3 năm 2007PGS. TS. Nguyễn Tương LaiCHƯƠNG IVỊ TRÍ CỦA TIẾNG THÁI LANTRONG BỐI CẢNH CÁC NGÔN NGỮ THÁI Ở KHU vự cI. Người Thái từ đâu đến ? Tiếng Thái Lan1 là lời nói của người Thái ở miền Trung Thái Lan đượcthừa nhận là tiếng phổ thông của Vương quốc Thái Lan. Người Thái nói chung làtộc người có số lượng người rất đông và địa phận cư trú rất to lớn. Hiện nay địabàn cư trú của người Thái trải rộng trên cả thảy 8 vương quốc, đó là Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Ấn Độ, Myanma, Nước Ta, Campuchia và Malayxia. Theo ướctính ( từ năm 1988 ) thì người Thái có tới 100 triệu người và định cư trên một vùngđất thuộc chủ quyền lãnh thổ của 8 vương quốc với diện tích quy hoạnh khoảng chừng trên 2.147.400 km2. 2T hực trạng của những tộc người Thái và những ngôn từ Thái lúc bấy giờ là kếtquả của cả một quy trình thiên di rất truyền kiếp và liên tục của người Thái trong lịchsử. Đã từ lâu, những nhà nghiên cứu và bản thân những người Thái thường vẫn daydứt về một câu hỏi rằng : “ Người Thái từ đâu đến ? ” Câu hỏi này bộc lộ niềmkhao khát muốn biết được cội nguồn của dân tộc bản địa mình. Một câu vấn đáp dứt khoátđến nay vẫn chưa có được bởi lẽ vẫn còn sống sót những giả thiết khác nhau vềnguồn gốc, hay nói cách khác về cái nôi phát sinh của dân tộc bản địa Thái. Giả thiết của những nhà khoa học thuộc thế hệ trước thường cho rằng ngườiThái bắt đầu sinh sống tại vùng Altai ( thuộc Mông cổ ) và có tên tự gọi là “ Ai-lao ”, sau đó cách đây khoảng chừng 6.000 năm họ đã di cư về lun vực sông Hoàng Hàvà xây dựng nên 2 nhà nước có tên là “ Na-khon Pa ” và “ Na-khon Lung ”. Khôngdừng lại ở đây, người Thái lại di cư tiếp xuống lưu vực sông Dương Tử và thành1 Còn hoàn toàn có thể gọi là tiếng Thái Xiêm. Người Thái Lan gọi người Thái ở miền Trung Thái Lan là Thay Xạ-giảm ; X ạ – giảm được chú n g ta phát âm ch ệ c h đi thành X iêm. T iếng T hái X iêm đượ c COI là tiếng Thái phổ thống ờ T háiLan và trong công trinh này chúng tôi gọi tiếng Thái Xiêm là “ tiếng Thái Lan ”. 2 Theo : Rương-đệt Păn-khườn-khặt, C ác ngôn ngữ nhóm Thái, Viện nghiên cứu và điều tra ngốn ngữ và văn hoá nhấm pháttriển nông thôn, Trường Đại học Ma-hị-dôn xuất bản, Băng Cốc. 1988 ( Bằng tiếng Thái Lan ) lập một nhà nước thứ ba lấy tên là “ Na-khon Nghiếu ”. Người Trung Quốc saunày đã đến vùng người Thái định cư và trong quy trình lịch sử dân tộc họ đã buộc ngườiThái phải thiên di dần xuống phía nam mà có được những vùng cư trú như ngàynay. 3S au này có giả thiết cho rằng địa phận cư trú tiên phong của người Thái làvùng Nam Trung Quốc. Người Thái đã xây dựng nên vương quốc riêng của mìnhlà Vương quốc Nan-chao mà ta thường gọi là “ Nam Chiếu ”. Vương quốc Nan-chao bị người Trung Quốc lấn chiếm làm cho người Thái di cư xuống tiếp phíanam đến những vùng Át-sam ( Ân Độ ), Bắc Myanma, Bắc Lào và Bắc Thái Lan ngàynay. Các nhà ngôn ngữ học lại cho rằng phải coi vùng đất tổ của người Thái làvùng Tây Nam Trung quốc thông suốt với Bắc Nước Ta. Người Thái từ đây mớithiên di tới những vùng phía tây vào đất Vân Nam Trung Quốc, đất San ở BắcMyanma, bang Át-sam của Ân Độ. Sau đó 1 số ít thì liên tục thiên di vào đấtLào, Bắc Myanma và Bắc Thái Lan. Thế nhưng đến khi những nhà khảo cổ học phát hiện được những bộ xươngngười cổ đại kèm theo đồ gốm trên những di chỉ ở Thái Lan nhu ‘ Bản Chiêng thuộctỉnh Ụ-đon-tha-ni và Bản Kàu thuộc tỉnh Kan-chạ-na-bụ-ri có niện đại các-bonlên tới 4.000 đến 6.000 năm thì họ lại cho rằng Thái Lan chính là cái nôi củangười Thái, sở dĩ những nhà nghiên cứu có Dự kiến như vậy bởi lẽ khi nghiên cứuvề những bộ xương người cổ đã phát hiện được thì thấy những đặc tính của nó khônghề khác với những đặc tính của xương người Thái thực thụ lúc bấy giờ. Từ đó những nhàkhoa học cho rằng người Thái đã xuất hiện trên đất Thái Lan từ thời kỳ đồ đá mới. Đến khi những nhà nhân chủng học triển khai việc điều tra và nghiên cứu về nhóm máucủa người Thái Lan với người Indonesia thấy có nhiều đặc thù giống nhau thì1 Xin xem : Kh ủ n – w i-ch ịt-m át-tra. Đại cương về Thái Lơn. N x b. R u ỏ m – xả n tái bản lần thứ 6. Bàng C ốc, 1974 ( B ảng tiếng Thái Lan ) cho rằng người Thái Lan và người Indonesia trước đây cùng chung một nguồngốc và cùng ở một khu vực với nhau. Điều này được dẫn chứng thêm khi nhàngôn ngữ học P.K. Benedict cho ra đời một khu công trình nghiên cứu và điều tra nổi tiếng vềcác ngôn từ Kadai đã chỉ ra rằng có rất nhiều từ Thái giống với từ củaIndonesia. 4 Tiếp theo, những nhà nghiên cứu Thái Lan cũng đã dựa vào những đặcđiểm về địa lý học mà cho rằng trước kia khi vùng Biển Đông lúc bấy giờ vẫn đangcòn là một vùng lục địa phẳng phiu thì người Thái đã định cư tập trung chuyên sâu từ đảoHải Nam liền với Phi-líp-pin và Indonesia. Sau này khi có sự dịch chuyển về địachấn để tạo nên Biển Đông với hàng ngàn hòn hòn đảo như giờ đây thì người Tháichính là những dân cư đã chạy nạn hồng thuỷ để vào sâu trong đất liền. Những giả thiết trên đây đều là những giả thiết rất đáng đáng tin cậy bởi lẽ giảthiết nào cũng có những cơ sơ cứ liệu rất chắc như đinh và đáng thuyết phục. Theotôi, cũng chưa thể trọn vẹn bác bỏ giả thiết của những nhà sử học truyền thống lịch sử vềquá trình thiên di của người Thái từ vùng Altai xuống đến những địa phận cư trú nhưngày nay. Những nhận xét của họ đều dựa trên những cứ liệu lịch sử dân tộc rất đáng tin cậycủa Trung Quốc và nhiều nước khác. Một điều cần chú ý quan tâm rằng những ngôn ngữnhóm Thái lúc bấy giờ bên cạnh những nét tương đương còn có nhiều nét khác biệtmà ta hoàn toàn có thể phân chúng thành nhiều loại Thái khác nhau và bản thân người Tháicũng phân thành nhiều nhóm có những tên gọi khác nhau. Phải chăng hoàn toàn có thể nghĩrằng cái nôi hình thành của người Thái là khu vực Khu vực Đông Nam Á và thậm chí còn làĐông Nam Á hải đảo, sau này có một bộ phận lớn người Thái liên tục thiên di lênphía bắc đến tận vùng Altai để rồi họ lại bị đẩy dần xuống phía Nam. Quá trìnhNam tiến ấy đã được những nhà sử học truyền thống cuội nguồn miêu tả trong những công trìnhcủa mình và quy trình Nam tiến ấy thực ra là quy trình người Thái di cư đãquay trở lại với đất tổ, với một bộ phận đồng tộc còn ở lại đất tổ của mình ? Trên4 P.K. B e n edict. Thai, Kadai and Indonesian : a new alingmcnt in Southcastrcn Asia, – “ A m. A n throp ”, vol 4 4,1942, tr. 57 6 – 601 đường thiên di, người Thái di cư đã kiến thiết xây dựng nên những vương quốc riêng và đã baolần tham chiến với người Trung Quốc để rồi lại liên tục bị người Trung Quốc dồnép dần về phương Nam. Dù sao tổng thể cũng mới chỉ là những giả thiết và chúng tacần phải liên tục nghiên cứu và điều tra kỹ lưỡng hơn nữa mới hoàn toàn có thể khẳng địng một cáchchắc chắn được. Một trong những cơ sở quan trọng giúp đưa ra câu vấn đáp cuốicùng cho câu hỏi : “ Người Thái từ đâu tới ” đó là việc điều tra và nghiên cứu tình hình vàcác mối quan hệ của những ngôn từ nhóm Thái. Đây chính là đề tài cần được tiếptục triển khai với một quy mô lớn và với một sự hợp tác quốc tế thoáng rộng trongtương lai. II. Bối cảnh những ngôn từ nhóm TháiNgười Thái đông đúc như vậy, lại sống trải rộng trên một vùng với nhũngđịa hình rất khác nhau, cộng thêm việc có cả một quy trình thiên di liên tục tronglịch sử hàng ngàn năm nên đã tạo ra một toàn cảnh ngôn từ rất là phong phú vàkhông ít có những đặc thù độc lạ bên cạnh những đặc thù chung còn giữlại. Theo X.E. Jakhontov thì thời kỳ mà người Thái sử dụng chung một tiếng Tháithống nhất đã kết thúc kể từ thế kỷ VI tới IV trước Công nguyên. 5 Có nghĩa làvào thời kỳ này người Thái đã có những cuộc thiên di khác nhau trên khắp cácvùng chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc và Khu vực Đông Nam Á làm cho họ sống tách biệt nhau, đồng thời chịu tác động ảnh hưởng văn hoá của những cư dán khác trên chặng đường thiên dinên ngôn từ mà họ đang sử dụng cũng có những biến hóa nhất định không hoàntoàn giữ được cái ngôn từ Thái thống nhất như khởi đầu. Nguyên nhân này đãdẫn đến một toàn cảnh ngôn từ Thái rất phong phú như ngày nav. 1. A.G. Haudricourt đã gọi tiếng Thái thống nhất trước đây được sử dụngchung trong tộc người Thái là “ tiếng Thái chung ” ( Thai commun ). Bóns dáng xa5 X. E. Jakh ontov ; Glot / okhronolữgija i kitayxko – tibctxkaja. – Trong : “ Ja Jazưkov, M oskv a, 1 96 4. tr. 6-7 xưa của tiếng Thái chung này đã được A.G. Haudricourt Phục hồi lại. 6 Ngàynay những “ con cháu ” của nó tăng trưởng thành nhiều ngôn từ của người Tháitrải rộng một vùng gồm có Đông Bắc Ấn Độ, Nam Trung Quốc và hầu hết vùngĐông Nam Á lục địa. Với một địa phận to lớn như vậy, những tiếng Thái khôngtránh khỏi những thực trạng tăng trưởng độc lập với “ họ hàng ” của mình để rồi tạora một hình dáng riêng và một hình thức sống sót riêng cho mình. Thế nhưng nhữngđ iều k iện ấy k h ô n g h o à n toàn là m tách hẳn cá c tiến g T h ái v ớ i nh a u đến n ỗikhông còn lại một quan hệ nào bộc lộ chúng là cùng một nguồn gốc. Cáctiếng Thái còn giữ lại khá nhiều nét chung bên cạnh những nét độc lạ ; và ngaytrong những nét độc lạ ấy người ta cũng vấn nhận ra được mối quan hệ họhàng giữa chúng nhờ sự độc lạ có tính quy luật rất đều đặn. Mối quan hệ giữatiếng Thái Lan với những tiếng Thái khác cũng không ngoài những đặc thù nóitrên. Đã có 1 số ít khu công trình của những nhà nghiên cứu được công bố với nội dunghoặc so sánh những tiếng Thái với nhau, hoặc phục nguyên một ngôn từ Thái cổdựa trên những văn bản thư tịch cũ. Tất cả đều nhằm mục đích mục tiêu chứng tỏ cho sựgần gũi về mặt nguồn gốc của những tiếng Thái, ship hàng cho việc phân loại những hệngôn ngữ ở Khu vực Đông Nam Á và cũng nhằm mục đích mục tiêu dựng lại một mạng lưới hệ thống âm vịcổ của một ngôn từ Thái nguyên sơ để thấy được tình hình đổi khác trong mộtquá trình vĩnh viễn của những tiếng Thái lúc bấy giờ. 7V ới những tư liệu mà chúng tôi đã có cộng với hiệu quả phục nguyên tiếngThái chung của A.G. Haudricourt và một vài tư liệu của P.K. Benedict, chúng tôiđã so sánh một số ít tiếng Thái với nhau và thấy một số ít hiện tượng kỳ lạ đổi khác củachúng như sau : 86 Xin xem : A.G. Haudricourt. Les phonèmes et vocabulaire dư thai commun. – JA. vol. CCXXXVI, 1948, tr. 197 – 2387 A.G. Haudricourt. Lcs ph onèm es. . đã dẫn ; P.K. Benedict. Thai, Kadai and ỉndonesian :, đã dẫn : H.M aspero. Contribution a 1 ‘ étnde du système phonâliqưe des langues thai, – B E F E O, voi. X I, 1911 * Các dẫn chứng đơn cử xin xem thêm : Quế Lai. Xu hướng biến hóa ngữ ám cùa những ngôn từ nhóm Thái và nhữngbiểu liiện cùa nó trong những phương ngữ Tày Nùng. Tạp chí Nghiên cứu Đóng Nam Á, số 1, 19921 – Hiện tượng đơn giản hoá những nhóm phụ âm của tiếng Thái chung thểhiện rõ trong những tiếng Thái lúc bấy giờ. Những nhóm phụ âm này đã bị lược bỏmột thành tố nào đó trong nhóm hoặc trọn vẹn được sửa chữa thay thế bằng một phụ âmkhác. Tuy nhiên, chúng vẫn được giữ lại ở 1 số ít từ của một số ít tiếng Thái. Tiếng Thái Lan còn giữ lại âm cổ [ pl ] [ p ’ j ] [ p ’ ] [ p ] [ f ] Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ p ’ ] [ bj ] [ mj ] [ d ] [ 1 ] Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ d ] * [ m l ] Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ 1 ] * [ dr ] Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ s ] * [ k’r ] Tiếng Thái Lan đã chuyển thành âm [ k ’ ] ^ n ] Tiếng Thái Lan vẫn giữ âm cổ [ kl ] 2 – Âm môi, vô thanh, bật hơi [ p ’ ] có xu thế bị mất đi trong những tiếngThái. Âm môi răng [ f ] đã thay thế sửa chữa cho âm này. Có 1 số ít phương ngữ TháiTrắng và Thái Đen thì sửa chữa thay thế trọn vẹn dẫn đến mạng lưới hệ thống phụ âm của chúngkhông có âm [ p ’ ]. 9 Trong khi đó những tiếng Thái khác bên cạnh việc giữ lạiâm [ p ’ ] đã có 1 số ít từ được thay bằng âm [ f ]. Nhưng tiến2 Thái Lan thì vẫncòn giữ nguyên vẹn âm cổ [ p ’ ] này. 3 – Âm runơ lưỡi [ r ] đang bị mất dần tong những tiếng Thái lúc bấy giờ. Cũngnhư âm [ p ’ ], âm [ r ] được giữ lại ở tiếng Thái Lan, tuy nhiên hiện nav trongtiếng Thái Lan đã có sự lẫn lộn giữa [ r ] và [ 1 ] trong khẩu ngữ. Ví dụ nhũng từsau hoàn toàn có thể phát âm theo hai âm : [ rău ] / [ lău ] “ ta, tất cả chúng ta ” ; [ rắk ] / [ lắk ] 9 Xin xem thêm : Nguyễn Khắc Toàn. Vé mạng lưới hệ thống ngữ ảm tiếng Thủi ở miền Bắc Nước Ta, Trong : “ Tìm hiểungôn n gữ những dân tộc thiểu số ờ V iệt N am ”, tập 1, V iện N gô n ngữ h ọc xuất bản, H à N ội. 1972, tr. 5 0 – 53 “ yêu ” ; Âm [ r ] trọn vẹn không có trong những tiếng Thái ở Nước Ta, 10 hầunhư không phổ cập ở tiếng Lào, và còn lại rất ít ở tiếng Tày Nùng. 4 – Hiện tượng vô thanh hoá xảy ra trong những loại âm ồn. Đó là : Trong tiếng Thái Lan, âm [ b ] đã được vô thanh hoá bằng một âm vôthanh bật hơi [ p ’ ]. Trong tiếng Thái Lan, âm [ V ] đã được vô thanh hoá bằng âm vô thanh, xát5 – Các nguyên âm của tiếng Thái chung vẫn được giữ nguyên vẹn và thốngnhất trong những tiếng Thái. Hiện nay ta chỉ thấy có sự khác nhau về trường độ giữacác nguyên âm hoặc khác nhau về nguyên âm đôi cổ chuyển thành nguyên âmđơn mà ở đây tiếng Thái Lan có khuynh hướng vẫn giữ lại đặc thù cổ hơn so với cáctiếng Thái khác. Tuy vậy, những điểm khác nhau này chỉ xảy ra ở một số ít ít từ. Về cơ bản mạng lưới hệ thống nguyên âm vẫn không thav đổi nhiều như mạng lưới hệ thống phụ âm. 2. Các nhà ngôn ngữ học đã thực thi phân loại những tiếng Thái thành cácnhánh và những nhóm khác nhau đa phần dựa trên 2 cơ sở ; đó là cơ sở địa lý và cơsở ngôn từ. Sau đây chúng tôi xin nêu lên những cách phân loại tiêu biểu vượt trội. 2.1. Phân loại trên cơ sở địa lý : 2.1.1. Các nhà nghiên cứu Đông Phương học Nga đã chia những tiếng Tháithành 3 nhánh sau : 1110 N gu y ễn K hắc T oàn, v ề mạng lưới hệ thống ngữ á m, đã dẫn ” X em : Jn. Ja. Plain. I. N. M orev, M. F. Fom icheva. Tayxkiy jazưk. M o skva, 1961, tr. 9 [ p ] [ f ] * [ V ] [ p ] [ f ]. 10 – Nhánh Tây Bắc gồm những tiếng Thái ở Át-sam Ân Độ và Bắc Myanma nhưtiếng Thái A-hổm, tiếng Thái Khăm-tì và tiếng San. – Nhánh Đông Bắc gồm những tiếng Thái ở Nước Ta và Lào như tiếng TháiĐen, Thái Trắng, Tày, Nùng ; những tiếng Thái ở Nam Trung Quốc như Đồng, sủi, Mao-nan và tiếng Lê ở hòn đảo Hải Nam tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. – Nhánh Nam gồm tiếng Xiêm ( Thái Lan ), tiếng Lào ở Lào và Thái Lan, tiếng Lự và khửn ở một phần phía bắc Thái Lan và dọc sông Mê-cồng. 2.1.2. Nhà ngôn ngữ học người Thái Lan Phra-gia A-nụ-man Rát-cha-thônđã lấy tiếng Thái Lan làm tiếng Thái TT mà chia những tiếng Thái thành 4 nhóm như sau : 12 – Nhóm 1 : Thái Trung tâm ( Thái Lan ) – Nhóm 2, Thái ở Trung Quốc : Pa-dí, Thái Lai, Thái Lung, Thái Giói, Thái Chung, Thái Thổ, Thái Nùng, Thái Lê – Nhóm 3, Thái phía Tây : Thái Giày, Thái Khỏn, Thái A-hổm, v.v – Nhóm 4, Thái phía Đông : Thái Thổ, Thái Nùng, Phu-thay, Lào2. 1.3. Nhà ngôn ngữ học người Thái Lan Rương-đệt Păn-khườn-khặt đãchia những tiếng Thái thành 6 nhóm như sau : 131 – Nhóm phía Tây : Là những tiếng Thái phần nhiều ở Bắc Myanma và Bang Át-sam của Ấn Độ, đó là Tiếng Thái A-hổm, Tiếng Thái Khăm-tì, Tiếng San TrungQuốc, Tiếng San Myanma, Tiếng Thái Rông, Tiếng Thái Nô-ra, Tiếng Thái Ai-tôn, Tiếng Thái Pha-kê. 2 – Nhóm phía Nam : Là tiếng Thái Xiêm ở miền Truns Thái Lan và tiếngThái miền Nam Thái Lan. 12 T heo : R ươ n g-đ ệt Pãn-k h ườn – khặt. Các ngôn từ nhóm Thái đã dẫn. tr. 6111 T heo : Rư ơ n g-đột Pãn-khườn-khặt. Các ngôn từ nhóm Thái đã dẫn, tr. 42 – 601 13 – Nhóm sông Mê-công khúc giữa : Là những tiếng Thái ở thung lũng sôngMê-công đoạn từ Myanma kéo xuống vùng Bắc Lào, đó là Tiếng Thái Nơ, TiếngLự, Tiếng Thái Khửn, Tiếng Thái Lán Na, Tiếng Lào. 4 – Nhóm vùng cao nguyên của sông Mê-công khúc giữa : Là những tiếng Tháiở vùng rừng núi của Lào và Nước Ta, đó là Tiếng Thái Đen, Tiếng Thái Trắng, Tiếng Thái Đỏ, Tiếng Thái Sầm Nưa, Tiếng Thái Phuôn, Tiếng Phu-thay, TiếngThái Kạ-lơơng, Tiếng Thái Gió, Tiếng Thái Dối, Tiếng Thái Sẹk. 5 – Nhóm phía Đông : Là những tiếng Thái ở Nam Trung Quốc và Nước Ta, đó là Tiếng Thái Giói, Tiếng Choang, Tiếng Thái Kăm, Tiếng Thái Thổ ( TiếngTày ), Tiếng Thái Choong-kia, Tiếng Nùng, Tiếng Nhắng ( hoặc Giáy ), Tiếng ThùLao, Tiếng Pa Dí. 6 – Nhóm Thái – Kadai : Là những tiếng Thái ở vùng hòn đảo Hải Nam của TrungQuốc, đó là Tiếng Lê, Tiếng Kơ-lao, Tiếng La-quả, Tiếng La-chí. 2.2. Phân loại trên cơ sở ngôn từ : 2.2.1. Đầu tiên là nhà ngôn ngữ học Lý Phương Quế đã dựa vào tác dụng sosánh về mặt ngữ âm và từ vựng giữa những tiếng Thái mà chia những tiếng Thái thành3 nhánh sau đây : 1414 Li-Fang-Kuei. Diagramatic class / ication o f Tai Dialects “ / 4 tentative ò classificơtioiì fìf Thai DialeclReprezentcdỊrom cullure in history cssays in bonor of daitl Radin ” N. Y. ed. s. Siameds. 1960 ( Dẫn theo : AnnikLévy. Les angucsThai, ASEMI. 1972, vol. III. N ” ], tr. 89-113 ) THÁI ■ Nhánh Tây NamNhánh TrungNhánh Bắc — Xiêm ( Thái Lan ) __Lào — Thái Đen “ LựL-Thái TrắngSan — A-hổm — TàyThổNùng_Lung-chowTien-paoYung-ch ’ unWu-ming ‘ Ch’ien – chiangTs’e – hengLing-yunHsi-linT ’ ien-chowPo-ai132. 2.2. John F. Hartmann đã liên tục chia những tiếng Thái nhánh Tây Namcủa Lý Phương Quế thành những nhóm nhỏ hơn dựa trên cơ sở của việc chia thanhđiệu theo những lớp của phụ âm. Đó là những tiếng Thái mà những phụ âm được chiathành 3 lớp là lớp Cao, lớp Trung, lớp Thấp. Các tiếng Thái này được gọi là “ TháiNam nhánh Tây Nam ”, gồm có Thái Xiêm, Lào và tiếng Thái ở Nam Thái Lan. Còn những tiếng Thái nào mà những phụ âm chỉ được chia thành 2 lớp là lớp Cao vàlớp Thấp thì được xếp vào một nhóm riêng. Trong nhóm riêng này nếu tiếng Tháinào có những phụ âm lớp Cao là sự gộp những phụ âm cùng loại với những phụ âm lớpCao và lớp Trung của nhóm “ Thái Nam nhánh Tây Nam ” thì được gọi là “ TháiBắc nhánh Tây Nam ” ; đó là tiếng Thái Giày, tiếng Lự, tiếng Thái Đen, tiếng TháiTrắng, tiếng Thái Đỏ, tiếng Nùng, tiếng Thái Lung-chao, tiếng Thái Ning-ming, tiếng Thái Wu-ming, tiếng Pa-dí, tiếng Choang. Còn nếu tiếng Thái nào có cácphụ âm lớp Cao là sự gộp những phụ âm cùng loại với những phụ âm lớp Cao và mộtsố những phụ âm lớp Trung của nhóm “ Thái Nam nhánh Tây Nam ” và những phụ âmlớp Thấp là sự gộp những phụ âm cùng loại với những phụ âm lớp Thấp và một số ít cácphụ âm lớp Trung còn lại của nhóm “ Thái Nam nhánh Tây Nam ” thì được gọi là “ Thái Trung nhánh Tây Nam ” ; đó là tiếng Thái Khửn, tiếng San, tiếng Lự ởMyanma, tiếng Thái Lán Na. 2.2.3. Dựa vào hiện tượng kỳ lạ vô thanh hoá những phụ âm tắc hữu thanh màJames R. Chamberlain đã chia những tiếng Thái nhánh Tây Nam thành 2 nhóm : 1 – Nhóm có những phụ âm tắc, bật hơi hữu thanh chuvển thành những phụ âmtắc không bật hơi vô thanh. Đó là tiếng Thái Đen, tiếng Thái Trắng, tiếng TháiĐỏ, tiếng Lự, tiếng San, tiếng Thái Duôn, tiếng Thái A-hổm, tiếns Thái Giàv, tiếng Thái Thổ. 2 – Nhóm có những phụ âm tắc, hữu thanh chuyển thành những phụ âm tắc, vôthanh, bật hơi. Đó là tiếng Thái Xiêm, tiếng Thái Phu-thay, tiếng Thái Nở, tiếngThái Phuôn, tiếng Lào, tiếng Thái vùng Nam Thái Lan. 142.2.4. Nhà ngôn ngữ học người Pháp A.G. Haudricourt đã không đồng tinhvới cách chia của Lý Phương Quế. Theo ông, không hề liệt Choang vào những tiếngThái khác vì về mặt ngôn từ chúng có nhiều nét rất khác nhau. Đó là nội bộ cáctiếng Thái ( trừ Choang ), mà đơn cử ở đây là Tày – Thái có sự tương ứng hoàn toànvề nguyên âm, trái lại giữa Tày – Thái và Choang thì không có sự tương ứns nhưthế. Ngoài ra, trong nội bộ những từ Tày – Thái có sự khác nhau rất lớn về ngữ âmnhưng khi nào cũng có quy tắc, trái lại, giữa những tiếng Thái với Choang thì sựkhác nhau không theo một quy tắc nào và không hề lý giải được. Nhu ‘ vậy chỉcó thể phân thành 2 nhánh lớn, trong đó nhánh Tây Nam và nhánh Trung của LýPhương Quế là một, còn nhánh Bắc của Lý Phương Quế ( tức nhánh Choang ) thuộc một nhánh khác. Ngoài ra còn có nhánh trung gian giữ vai trò là nhánh bảnlề, do tại mạng lưới hệ thống phụ âm của nó gần với Tày Nùng, trong khi đó tính không đềuđặn của mạng lưới hệ thống nguyên âm lại làm cho nó gần với nhánh Choang. Sơ đồ phânnhánh của A.G. Haudricourt như sau : 15N hánh ChoangNhánh bản lềPu-díChoangCao LanNùng AnNhánh Thái thực thụTàyTháiTàyNùngf — A-hổmKhăm-tìSanLựXiêm ( Thái Lan ) LàoThái TrắngL Thái Đcn15 A.G. Haudricourt. La langnc Lakkia, – BSLP 62 ( 1 ), 1968 ( Dẫn theo : Annik Lévv. Lcs angues Tluii. Đã dẫn ). Quan điểm này vẫn còn được ông nhắc lại trong buổi loạ đàm tại Nước Ta, tháng 4 nãm 1973.152.3. Các cách phân loại tiếng Thái thuần tuý dựa trên cơ sở địa lv chỉ nóilên được sự bố cục tổng quan của những tiếng Thái trên một chủ quyền lãnh thổ to lớn của những cư dânthuộc nhóm Thái lúc bấy giờ. Còn những cách phán loại dựa trên cơ sở ngôn nsữ thìđúng đắn hơn bởi lẽ nó là hiệu quả của sự phân loại được xác lập nhò ‘ sự phântích những đặc trưng ngôn từ và những mối quan hệ qua lại của những tiếng Thái. Cách phân loại của A.G. Haudricourt thuận tiện được gật đầu hơn so vớicách phân loại của Lý Phương Quế. Nếu ta chú ý quan tâm cách phân loại của Lý PhươngQuế thì thấy những tiếng Thái như Thái Xiêm ( Thái Lan ), Lào, Thái Đen, TháiTrắng bị tách biệt hẳn nhau ; Thái Xiêm và Lào tạo thành một nhóm tách biệt vớiThái Đen, trong khi đó Thái Đen cùng với Thái Xiêm, Lào tạo thành một nhómtách biệt với Thái Trắng. Thực tế ngốn ngữ không được cho phép ta gật đầu điểu đó. Các tiếng Thái Xiêm, Lào, Thái Đen, Thái Trắng có những quan hệ chồng chéonhau về mặt ngôn từ tưởng như không hề có một cơ sở nào để phân loại trongchúng. Thế nhưng trong quan hệ đó vẫn nổi lên 2 đặc thù mà ta hoàn toàn có thể lấy làmcơ sở cho việc phân loại những tiếng này. Kết quả đưa lại cũng không trùng với cáchphân loại của Lý Phương Quế, nhưng lại là sự chi tiết cụ thể thêm những tiếng Thái trongnhóm Thái thuộc nhánh Thái thực thụ của A.G. Haudricourt. Đặc điểm thứ nhất đó là việc giữ lại hay mất đi mạng lưới hệ thống những nhóm phụ âmđứng đầu âm tiết. Trong 4 tiếng này chỉ có tiếng Thái Xiêm là duy nhất còn phổbiến mạng lưới hệ thống nhóm phụ âm đẩu đó. Còn lại những tiếng Lào, Thái Đen, Thái Trắngđã nhất loạt đơn giản hoá những nhóm phụ âm đầu để trỏ ‘ thành phụ âm đơn. Đặc điểm thứ hai là việc có hay không có phụ âm rung [ r ] trone hệ thốngphụ âm của mình, ơ đâv tiếng Thái Xiêm cũ nơ là tiếng duv nhất trong số đó cóphụ âm rung [ r ] trong mạng lưới hệ thống phụ âm. Các tiếng Lào, Thái Đen, Thái Trắnghoàn toàn không có phụ âm rung [ r ] mà chỉ có phụ âm [ h ] tương ứng với âmrung [ r ] của Thái Xiêm mà thôi. 16V ới 2 đặc thù này ta hoàn toàn có thể chia nhỏ những tiếng Thái Xiêm, Lào, TháiĐen, Thái Trắng trong nhóm Thái thành 2 nhóm nhỏ mà ở đó một bên là tiếngThái Xiêm, một bên là những tiếng Lào, Thái Đen, Thái Trắng. Hai đặc thù trênđây vẫn là 2 cơ sở để phân nhóm cho những tiếng Thái khác như A-hổm, San, Khăm-tì, Lự khi có đủ tư liệu về chúng. Tóm lại, với những cách phân loại như trên, tiếng Thái Lan đã được đặtvào trong một toàn cảnh và mối quan hệ to lớn với những tiếng Thái khác. Ớ đâyngoài những đặc thù chung của tiếng Thái Lan với những tiếng Thái khác trongnhánh Thái Thực thụ trái chiều với nhánh Choang, tất cả chúng ta còn thấy tiếng Thái Lancó những nét khác hẳn với ngay chính 1 số ít tiếng Thái trong cùng một nhómvới nó. Đó là những nét người ta thường thấy phổ cập trong tiếng Thái Chungmà A.G. Haudricourt đã từng dụng lại. III. Một sỏ đặc thù cơ bản của tiếng Thái Lan1. Cũng như tiếng Việt, tiếng Thái Lan là ngôn từ thuộc mô hình đơnlập, không biến hóa hình thái như trong những ngôn từ biến hình. Các thành tốtrong chuỗi lời nói là những âm tiết tách biệt. Ví dụ người Thái Lan đã nói nhưsau : ImnSLỈin luunSTm “ Dưới sông có cá, trên đồng có lúa ” [ nay nám mi pla nay na mi khaoA ] 1616 Đ ể tiện cho việc ấn lo át, trong côn g trình n ày chúng tôi dùng chữ Q u ốc n gữ để phiên những âm của tiếng TháiLan. N g oà i cá c âm m à tiếng V iệt và tiếng T hái Lan tương tư nhau, sẽ c ó những âm của tiếng T hái Lan khôngtư ơng tự với âm nào của tiến g V iệt. T rong những trường hợp này chún g tôi tạm p h iên như sau : – A m lấc. m ôi m ô i. vô thanh, bật hơi được bộc lộ bằng những c on c h ữ w w / 1 được ghi bằng p h ‘ –  m tác. m ặt lư ỡi, ngạc cứng, bật hơi đư ợc biểu lộ bằng những con chữ UI n 0, được g h i bàng c h ’ –  m tắc, hầu, vô thanh dược biểu lộ bằng những con chữ 0 l đươc g h i bằng kí hiệu ? – Các ng u y ên âm ngắn m à tiền g V iệ t k hô n g c ó sẽ được phiên bằng c o n ch ữ n e u y ên âm tươne ứ n e. nhưngc ó g ạ c h dưới, ví dụ : N gu y ê n âm ê ngán được phiên là é ; nguyên âm i ngắn được phiên là i. v. v C ác ng u y ên ámngắn di với phụ âm cuối là c ác phụ âm tắc. p t k ? nếu có thanh tư ơ ng tư như thanh s ắ c của tiếng Việt thì đượcđánh dâu s ắ c nlur trong liê ng V iệt, nếu c ó thanh tương tự như thanh N ặn g cùa tiến g V iệt thì được ghi lại Nặngnhư trong tiếng V iệt hoặc khổn g lưu lại gì. C ác nguyên ám ngán và dài k h ác mà tiến g V iệt c ó thì phiên nhưtrong tiến g V iệt, ví dụ ò ngán trong ỏ n g. o dài trong Đong, ơ ngắn trong á n. a ngán trong a n h. ac h. ay. au. v.v – Các thanh đ iệu được ph iên bàn g những dấu thanh như của tiếng V iệt. R iêng thanh Lén – Xu ốn g ( Thanh “ T h ỏ ” ) của tiếng Thái Lan m à tiếng V iệt kh ôn g có sẽ được phiên bàng kí hiệu A đặt sau âm tiết. 17 ĐAI HOC QUỐC GIA HA NÒITRUNG TÁM THÒNG TIN THU VIỆN2. Tiếng Thái Lan cũng là một ngồn ngữ có thanh điệu và thanh điệu cóvai trò khu biệt nghĩa. Hệ thống thanh điệu của tiếng Thái Lan có tổng thể 5 thanhmà người Thái Lan đặt tên cho từng thanh là : “ Xiểng Xả-mãn ”, “ Xiểng Êệk ”, “ Xiểng Thô ”, “ Xiểng Tri ”, “ Xiểng Chặt-ta-va ”. Nếu so với tiếng Việt thì “ XiểngXả-măn ” của tiếng Thái Lan tựa như như Thanh Bằng của tiếng Việt, “ XiểngÊệk ” tương tự như như Thanh Huyền, “ Xiểng Tri ” tựa như như Thanh sắc, “ XiểngChặt-ta-va ” tựa như như Thanh Hỏi. 3. Âm tiết của tiếng Thái Lan được tạo thành bởi những phụ âm và nguyênâm kèm theo thanh điệu. Các nguyên âm đóng vai trò chính và không hề vắngmặt, còn những phụ âm thì vừa đứng ở vị trí đầu lại vừa có một số ít hoàn toàn có thể đứng ở vịtrí cuối âm tiết. Những âm tiết có phụ âm cuối là những phụ âm tắc [ p t k ? ] đượcgọi là “ Khăm Tai ” ( Tiếng Chết ), còn những âm tiết có những phụ âm cuối là những âmMũi [ m n ng ] và những bán nguyên âm [ i u ] thì được gọi là “ Khăm Pên ” ( Tiếng Sống ). “ Khăm Pên ” có được hết toàn bộ 5 thanh điệu, còn “ Khăm Tai ” thìchỉ có hạn chế một số ít thanh điệu mà thôi. Phụ âm cuối tắc hđu [ ? ] rất phổ biếntrong tiếng Thái Lan ; đó là những âm tiết kiểu như : [ lé ? ], [ chạ ? ], [ má ? ], [ lá ? ], [ prạ ? ], [ tạ ? ], [ rá ? ], v.v 4. Tiếng Thái Lan có cả một mạng lưới hệ thống những phụ âm kép. Đặc điếm này rất ítgặp trong những ngôn nsữ thuộc nhóm Thái. Đó là những phụ âm kép như sau : [ kl kr khl khr pl pr ph’l ph’r tr ] Các phụ âm kép này chỉ đứng đẩu âm tiết mà thôi. 5. Tiếng Thái Lan có rất đầy đủ những cặp nguyên âm ngắn dài. Hệ thốngnguyên âm đon tiếng Thái Lan có toàn bộ 9 nguyên âm dài và 9 nguyên âm ngắntương ứng ; tức là có rất đầy đủ cả thảy 9 cặp nguyên âm ngắn – dài. 6. Kho từ vựng tiếng Thái Lan vẫn còn giữ lại rất nhiều từ cơ bản cùnơ mộtnguồn gốc với những từ của những tiếng Thái khác, ví dụ những từ kiểu như : via18 [ ph’oA ] “ bố ”, uaj [ meA ] “ mẹ ”, ÍN [ ph’iA ] “ anh, chị ”, U0-3 [ noóng ] “ em ”, Vỉénu [ lản ] “ cháu ”, en [ ta ] “ mắt ”, Sa [ mư ] “ tay ”, uuu [ khẻn ] “ cánh tay ”, un [ khả ] “ chân ”, èh [ tua ] “ mình ”, U0U [ non ] “ ngủ ”, nu [ kin ] “ ăn ”, * liJ [ pay ] “ đi ”, UI [ ma ] “ đến ”, VI aj [ mủ ] “ lợn ”, Vì ỉn [ mả ] “ chó ”, [ pêt ] “ vịt ”, Iri [ kày ] “ gà ”, v.v Nhờ đặc thù này mà người Thái Lan khi gặp những người Thái ở cácquốc gia khác như người Thái ở Nước Ta ví dụ điển hình thì họ vẫn hoàn toàn có thể trao đổi, thăm hỏi động viên nhau không khó khăn vất vả lắm. 7. Từ vựng của Tiếng Thái Lan hầu hết là mượn từ những tiếng Pali, Sanskritvốn là những ngông ngữ thuộc loại biến hình và một số ít là từ của Khơ-me vốn làngôn ngữ đa âm tiết. Chính vì thế tiếng Thái Lan đã có 1 số ít đặc thù về ngữâm và từ khác với những tiếng Thái khác cũng như những ngôn từ đơn lập khác. 8. Kho từ vựng tiếng Thái Lan được chia thành 3 lớp từ rất rõ ràng, đó là : Lớp từ cung đình, lớp từ Phật giáo và lớp từ dân gian. Các lớp từ này được ngườiThái Lan sử dụng trong những văn cảnh khác nhau, những điều kiện kèm theo và thực trạng khácnhau cũng như giữa những những tầng lớp khác nhau trong xã hội. 9. Tính từ hoặc những thành phần bổ nghĩa thường đứng sau danh từ, ví dụnhững trường họp như sau : Danh từ m [ ph’aA ] “ vải ” đi với tính từ m i [ khảo ] “ trắng ” thì sẽ thànhu n [ ph’aA khảo ] “ vải trắng ”. Nếu đi với những thành phần bổ nghĩa thi sẽ thànhHiiiviTHulrim [ ph’aA ph’re ph’ửn xỉ khảo ] “ tấm vải lụa mầu trắng ”. J0. Các động từ hoàn toàn có thể quy đổi thành danh từ bằng phươns thức danh từhoá động từ. Ví dụ : 19 ? n [ rắc ] “ yêu ” + ÍITIU [ khoam ] “ sự, việc ” = M1UTÍ1 [ khoam rắc ] “ tình yêu ” a-3YVU [ lông thun ] “ góp vốn đầu tư ” + niĩ [ kan ] “ sự, việc ” = rmm nu [ kan lông thun ] “ sự góp vốn đầu tư ” 11. Cấu trúc câu của tiếng Thái Lan hầu hết có dạng : Chủ nsữ – Vị ngữ – Tân ngữ. Mỗi thành phần của câu còn hoàn toàn có thể được lan rộng ra tuỳ theo yêu cầutrong tiếp xúc. 12. Để bộc lộ những ý nghĩa ngữ pháp, tiếng Thái Lan thường sử dụng trậttự những thành tố hoặc những từ, những hư từ. Chẳng hạn trật tự những thành tố trong những từghép mà khác nhau thì sẽ có nghĩa khác nhau : ” Ua [ chay đi ] “ tốt bụng, hiềnlành ” – ^ lĩ ) [ đi chay ] “ mừng ”. Trật tự những từ trong câu mà khác nhau thì câu sẽcó những nghĩa khác nhau : uỉnnuiJ6n [ meo kin pla ] “ mèo ăn cá ” – ìlsnnuuin [ pla kịn meo ] “ cá ăn mèo ”. Để biểu lộ thời quá khứ người ta dùng từ 1.0 [ đaiA ] “ được ”, ví dụ : l ^ lil [ đaiA pay ] “ đã đi ”, T, Ànu [ đaiA kin ] “ đã ăn ” ; để bộc lộ thờitương lai người ta sử dụng từ Tít [ chạ ? ] “ sẽ ”, ví dụ : íisIlI [ chạ ? pay ] “ sẽ đi ”, íisrm [ chạ ? kịn ] “ sẽ ăn ” ; để biểu lộ thời hiện tại người ta dùng từ rìna-a [ kămlăng ] “ đang ”, ví dụ : màVhl [ kăm lăng pay ] “ đanơ đi ”, TĨiR-anu [ kăm lăng kin ] “ đang ăn ”. 2 0CH ƯƠNG IINGỮ ÂM TIẾNG THÁI LANI. Hệ thông phụ âm tiếng Thái Lan1. Phàn xuất âm vị phụ âm tiếng Thái LanĐể biết tiếng Thái Lan có những âm vị phụ âm nào tất cả chúng ta cần phải thựchiện những thao tác phân xuất âm vị phụ âm như sau : 1.1. Các âm vị phụ âm khác nhau về bộ vị cấu âm * Nhóm 1 : [ pin ] “ trèo ” [ pặt ] “ phủi ” => / p / và / t / => / p / và / ch / [ tin ] “ chân ” [ pạk ] “ mồm ” [ tặt ] “ cắt ” [ pay ] “ đi ” [ chạk ] “ từ ” [ tằw ] “ rùa ” [ chay ] “ lòng ” [ ta ] “ mắt ” [ kằw ] “ cũ ” [ ? ôt ] “ nhịn ” [ ka ] “ quạ ” [ ? ặt ] “ nén ” [ tôt ] “ đánh rắm ” [ tặt ] “ cắt ” * Nhóm 2 : [ ph’ê ] “ sụp đổ ” [ ph’a ] “ dẫn, dắt ” [ thê ] “ đổ ” [ ph ‘ u ] “ múi ” [ tha ] “ bôi, quét ’ ’ [ ph ‘ a ] “ dẫn, dắt ” [ ch’u ] “ giơ lên ” [ thiA ] “ chỗ ” [ ch’a ] “ trà ” [ tha ] “ bôi, quét ” => / 1 / và / k / => / ? / và / 1 / => / ph ‘ / và / th / => / ph ‘ / và / ch ’ / => / th / và / kh / [ khiA ] “ cứt ” [ kha ] “ mắc, dính ” 21
Source: https://evbn.org
Category: blog Leading


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


