[Lý thuyết] Hành vi học: Quan điểm của B. F. Skinner
Burrhus Frederic Skinner sinh ngày 20 tháng 3 năm 1904 tại một phố nhỏ tên Susquehanna của tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ. Bố của ông là 1 luật sư còn mẹ ông thì ở nhà làm nội trợ, chăm sóc Skinner và người em của ông. Ông miêu tả gia đình của mình là “ấm áp và ổn định”. Khi lên hai tuổi rưỡi, em trai ông là Edward đã ra đời. Skinner (hay Fred như người trong nhà gọi) cảm thấy em trai mình được đối xử khoan dung hơn, được yêu thương hơn. Tuy nhiên ông không cảm thấy rằng mình không được yêu thương mà đơn giản chỉ là ông độc lập hơn và không gắn bó tình cảm nhiều với bố mẹ. Khi Skinner đang học năm nhất đại học xa nhà tại New York thì em trai ông mất vì xuất huyết não, từ đó bố mẹ muốn ông trở thành “family boy” và không muốn để ông rời xa họ. Bố mẹ ông đã tạo dưng nên một sự ràng buộc về kinh tế với Skinner thậm chí đến cả năm ông 42 tuổi và đang là chủ nhiệm khoa Tâm lý học ở trường đại học Indiana, họ vẫn bỏ tiền ra mua cho ông và gia đình một căn nhà (Feist, J. & Feist, G. J., 1997) .
Phần lớn tuổi thơ của ông gắn liền với việc xây dựng các mô hình, vật dụng như là 1 chiếc xe đẩy đi lùi (do nhầm lẫn), một chiếc máy chuyển động vĩnh viễn (perpetual motion machine), cái thứ 2 làm thì không hoạt động. Những dự án khác thì có phần thành công hơn. Ông cùng một người họ xây một cabin trong rừng. Ông tạo ra chiếc máy phân những quả dâu (elderberries) chín và quả chưa chín (Biography Information).
Ở thời cấp 3, ông học môn Anh Văn từ 1 giáo viên tên là Graves người mà sau này ông đã viết tặng quyển sách “The Technology of Teaching”. Dựa vào lời nhận xét của cha mình, một ngày nọ, ông đã buột miệng nói rằng Shakespeare đã không viết “As You Like It”, mà là Frances Bacon. Khi giáo viên của ông nói với ông rằng ông không biết ông đang nói gì, ông đã đến thư viện và đọc khá nhiều công trình của Bacon. Sự ủng hộ của Bacon đối với phương pháp quy nạp trong khoa học giúp ích cho Skinner sau này (Feist, J. & Feist, G. J., 1997)
Sau khi ông có bằng cử nhân Anh Văn tại trường đại học Hamilton, ông muốn trở thành một nhà văn. Ông quay trở về nhà và tập trung vào viết lách. Tuy nhiên thành quả của ông chỉ là một vài bài báo ngắn, vài mô hình tàu thuyền do ông được nói là có lối viết hay xong lại không có tư liệu, nội dung gì để viết. Đây có thể coi là một giai đoạn khủng hoảng danh tính (identity crisis) đối với Skinner khi đam mê cả đời của ông là viết xong lại không thành công với đam mê đó. Sau 18 tháng (mà sau này ông gọi là “Dark year”), ông chuyển đến New York, làm nhân viên bán hàng cho một tiệm sách. Tại đây ông đã đọc những cuốn sách của Ivan P. Pavlov và John B. Watson về “hành vi học” và tìm thấy niềm yêu thích mới cho bản thân. Năm 1928, ở tuổi 24, ông vào học ngành Tâm lý học tại Đại học Havard.
Tại Harvard, B.F. Skinner đã tìm kiếm một cách khách quan hơn và đo lường được để nghiên cứu hành vi. Ông đã phát triển những gì ông gọi là một bộ máy điều hành hoạt động để làm điều này, mà về sau được biết đến với tên gọi là hộp Skinner (Skinner box). Ông thử nghiệm đầu tiên trên chuột và đưa ra kết luận rằng con chuột bấm nút để lấy thức ăn vì nó biết sau khi bấm nút nó sẽ nhận được thức ăn chứ đây không phải là một phản xạ có điều kiện như quan điểm của Pavlov hay Watson (tức là không phụ thuộc vào kích thích trước đó). Skinner gọi đây là hành vi tạo tác (operant conditioning) : một hành vi được tạo ra bởi chính hiệu quả, kết quả của hành vi đó. Vào năm 1931, sau khi nhận bằng Tiến sĩ, ông nhận được học bổng nghiên cứu từ National Research Council để tiếp tục thực nghiệm của mình ở Harvard. Trong 5 năm tiếp theo, với số tiền tài trợ, ông nghiên cứu những hậu quả theo sau và lịch củng cố hành vi, cũng như làm thế nào để các kích thích trước có thể kiểm soát mối quan hệ hành vi-kết quả đã được ghép với nhau. Những nghiên cứu này xuất hiện trong cuốn sách đầu tiên của ông “The behavior of organisms” (1938).

Tâm lý học hành vi theo quan điểm của B. F. Skinner
Các nhà tâm lý học hành vi mới, đại diện là E.C.Tolman và K.L.Hull đã cố gắng khắc phục điểm hạn chế của thuyết hành vi cổ điển bằng cách phát triển và làm phong phú thêm khái niệm hành vi. Họ cho nhấn mạnh tính đa từ của hành vi, từ đó, đã đưa biến “trung gian” O vào giữa “S” và “R” để thành công thức S->O, O->R, nhưng O (điều kiện môi trường và trạng thái, nhu cầu cơ thể) lại phụ thuộc chủ yếu vào môi trường bên ngoài, do vậy, quan niệm về hành vi của Tâm lý học hành vi mới vẫn không vượt ra khỏi quỹ đạo của công thức S->R của J. Watson.
Theo B.F.Skinner, cả động vật và người có ba dạng hành vi: hành vi không điều kiện (có cơ sở phản xạ bẩm sinh), hành vi có điều kiện (phản xạ có điều kiện cổ điển) và hành vi tạo tác (phản xạ có điều kiện tạo tác), gắn với tên tuổi những người phát hiện ra chúng: R. Descarte, I.Pavlov và B.F.Skinner.
Kế thừa quan điểm của J.Watson (tâm lý học hành vi cổ điển), B.F.Skinner cho rằng hành vi là cái “cơ thể làm ra, hay chính xác hơn là cái mà do một cơ thể làm ra và được một cơ thể quan sát được”. Tuy nhiên, Skinner quan niệm trong hệ thống hành vi, có một loại hành vi tạo tác, kết luận này của ông được rút ra từ các thực nghiệm truyền thống được tiến hành trên chim bồ câu hoặc chuột.
Nhà thực nghiệm cho con vật vào trong lồng (lồng skinner) và nó bị tước mất thức ăn, tuy nhiên được tạo mọi điều kiện tìm hiểu hộp. Chúng có thể thực hiện các phản xạ đã được bố trí trước, theo ý đồ của nhà nghiên cứu và các kết quả phản xạ được kiểm soát bằng quan sát khách quan (chẳng hạn phản xạ được thiết kế cho chuột là chiếc đòn bẩy nhỏ, còn đối với chim bồ câu thì đó là phản xạ mổ vào đĩa ở bên hông của lồng, những thức này được nối với các thiết bị kỹ thuật cho phép có thể tự động đo sự vận động của các con vật thực nghiệm) khi con vật chim, chuột được thả vào lồng, lúc đầu chưa biết nhấc chiếc đòn bẩy hay mổ vào đĩa. Trong trường hợp này, người làm thực nghiệm vứt các viên thức ăn cho chuột, mỗi khi nó di chuyển tới gần đòn bẩy. Sau đó chỉ vứt thức ăn khi con chuột chạm vào đòn bẩy (tức là phản xạ mà nhà nghiên cứu muốn hình thành ở chuột). Sự củng cố (vứt thức ăn) được tăng lên theo chiều hướng đến mức con chuột tự phát nhấn đòn bẩy mỗi khi nó có nhu cầu ăn. Trong loại phản xạ này yếu tố củng cố (phần thưởng củng cố hay hình phạt là tác nhân quan trọng, giúp con vật chủ động tạo ra cá phản ứng tức là các phản xạ). Điều Skinner lưu ý mọi người là trong các hành vi của động vật thực nghiệm (ấn đòn bẩy của chuột mổ vào đĩa của chim bồ câu) có tác động đến môi trường xung quanh là công cụ lấy thức ăn. Trong thực nghiệm này biến độc lập (biến thực nghiệm) là kích thích củng cố, còn biến phụ thuộc là tần số xuất hiện, tốc độ và cường độ phản ứng.
B.F.Skinner cho rằng, sự khác biệt đầu tiên giữa hành vi có điều kiện với hành vi tạo tác là hành vi có điều kiện xuất hiện nhằm tiếp nhận một kích thích củng cổ, còn hành vi tạo tác nhằm tạo ra kích thích củng cố. Như vậy về cơ chế sinh học, cả hành vi có điều kiện cổ điển lẫn hành vi tạo tác đều có cơ sở là phản xạ có điều kiện, nhưng chúng khác nhau về tính chủ động của hành vi cơ thể đối với kích thích môi trường. Về nguyên tắc, cả hai đều là sơ đồ trực tiếp S → R. Điều khác cơ bản là trong sơ đồ cổ điển S → R, các kích thích (S) đóng vai trò tín hiệu, còn trong sơ đồ tạo tác, vai trò tín hiệu này được chuyển vào trong hành vi củng cố. Nói cách khác, trong sơ đồ hành vi tạo tác, hành vi củng cố (do con vật tạo ra) có vai trò kích thích là (S) trong sơ đồ S → R. Vì vậy, có thể diễn đạt mối quan hệ này trong công thức S-r-s-R. Mặc dù bản chất trực tiếp kích thích phản ứng là hiển nhiên trong cả hai sơ đồ. Nhưng rõ ràng, trong sơ đồ hành vi tạo tác, tính chất chủ động và tự do tác động của cá thể đối với môi trường là lớn hơn rất nhiều so với sơ đồ cổ điển.
Điều này đã dẫn B.F.Skinner đến kết luận, hành vi tạo tác đặc trưng cho việc học tập hàng ngày vì thông thường hành vi mang tính tạo tác, nên cách tiếp cận có hiệu quả nhất đối với khoa học về hành vi là nghiên cứu điều kiện hóa và sự tắt dần của hành vi tạo tác. Quan niệm về hành vi tạo tác của Skinner chỉ đúng khi con người sống trong môi trường điều kiện hóa, trong môi trường này, những hành vi mà chúng ta mong muốn ở người khác có điều kiện hình thành, củng cố và phát triển. Còn khi con người ra khỏi môi trường đó, hành vi của họ không diễn ra như quan niệm của Skinner, thậm chí những hành vi đã được huấn luyện có thể không còn, nó “bị rơi rụng”, “bị vứt bỏ”.
Nguồn: sưu tầm
Bạn đang đọc: [Lý thuyết] Hành vi học: Quan điểm của B. F. Skinner
Source: https://evbn.org
Category: Góc Nhìn


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


