Một số giải pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạy hóa học – Tài liệu text

Một số giải pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạy hóa học lớp 9 ở trường THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (133.61 KB, 20 trang )

1. Mở đầu
1.1.

Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang đặt ra cho ngành giáo dục phải đào tạo cho được nguồn
nhân lực dồi dào có đủ trình độ, năng lực, lao động sáng tạo, tay nghề cao, biết
ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, phải giỏi về lý thuyết và thạo về
thực hành. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông là đào tạo
những con người có kiến thức khoa học, có ý thức tự chủ, giàu lòng nhân ái…
Để làm được điều đó bản thân mỗi thầy cô giáo phải thường xuyên đổi mới
phương pháp giảng dạy, nhằm đào tạo ra nhiều học sinh thực sự có năng lực, đáp
ứng yêu cầu của giáo dục hiện đại.
Tâm lý con người nói chung, học sinh nói riêng đều thích khám phá cái
mới hơn những điều mình đã biết, do đó dạy học có hiệu quả phải biết phát triển
tư duy sáng tạo và hứng thú cho học sinh. Để phát triển mạnh mẽ giáo dục và
đào tạo trong nhà trường, dòi hỏi mỗi giáo viên phải có phương pháp giảng dạy
phù hợp với môn học, phù hợp với trình độ học sinh.
Để thực hiện tốt các yêu cầu, mục tiêu giáo dục hiện nay ở các nhà trường
phổ thông đã thấy ngày càng nhiều tiết dạy học tốt của nhiều giáo viên, theo
hướng tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực tự lực chiếm lĩnh chi thức mới.
Hóa học là một môn học mới lạ đối với học sinh trung học cơ sở mà khối
lượng kiến thức học sinh cần lĩnh hội tương đối nhiều. Chương trình hóa học
trung học cơ sở là trang bị cho học sinh kiến thức phổ thông cơ bản và thiết thực
đầu tiên về hóa học, làm cơ sở cho việc xây dựng thế giới quan khoa học, hình
thành ở các em một số kĩ năng cơ bản và thói quen học tập, làm việc khoa học.
Bản thân là một giáo viên THCS giảng dạy bộ môn vừa mới vừa khó này, với
thực trạng dạy học ở nhà trường THCS hiện nay, phương tiện, dụng cụ, hóa
chất…còn rất hạn chế. Do đó ngoài việc sử dụng sách giáo khoa, khai thác kiến
thức từ các kênh thông tin khác thì việc liên hệ một số hiện tượng thực tế vào
giảng dạy hóa học cũng rất cần thiết, có tác dụng nâng cao hiệu quả trong giảng

dạy, việc liên hệ giải thích hiện tượng thực tế trong dạy học hóa học là yếu tố
thành công cho bài dạy.
1

Khi tiến hành dạy học theo bất kì phương pháp nào giáo viên cũng đều
cần tạo cho học sinh sự hứng thú và niềm yêu thích đối với môn học.
Đam mê hóa học sẽ thấy được hóa học và ứng dụng của nó có sự hấp dẫn.
Để khơi dậy niềm đam mê đó cho học sinh, đó là nhiệm vụ hàng đầu của
người giáo viên dạy hóa. Để làm được điều đó với nội dung sáng kiến kinh
nghiệm này tôi muốn trình bày những thu hoạch của mình về “Một số giải pháp
liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạy hóa học lớp 9 ở trường
THCS”. Đây là một vấn đề rất thiết thực, không mới, nhưng để vận dụng có
hiệu quả, có sáng tạo thì rất khó và bản thân giáo viên cũng tốn không ít công
sức.
1.2.

Mục đích nghiên cứu

Giúp học sinh hoạt động tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới, khơi dậy
niềm đam mê học bộ môn hóa học cho học sinh đồng thời hình thành ở các em
một số kĩ năng cơ bản và thói quen học tập và làm việc có tư duy logic và khoa
học.
1.3.

Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạy hóa
học lớp 9.
1.4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
– Phương pháp phỏng vấn
– Phương pháp quan sát
– Phương pháp chuyên gia
– Các phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu thực tiễn

2

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
Hóa học là bộ môn khoa học, nghiên cứu các chất, sự biến đổi và ứng
dụng của chúng. Là môn học có nhiều ứng dụng rộng rãi và rất quan trọng trong
cuộc sống, có khối lượng lớn kiến thức về thực nghiệm lẫn lí thuyết, vừa có
công nghệ cao lại vừa có ứng dụng cụ thể và thiết thực. Vì vậy việc liên hệ các
hiện tượng thực tế trong giảng dạy giúp học sinh phân tích được các hiện tượng,
sự kiện có trong cuộc sống.
Một điều trở thành hiển nhiên trong thời đại khoa học, kĩ thuật phát triển
như vũ bão này là: Bất cứ một học trò nào, học xong bậc trung học phổ thông
đều phải có hành trang tri thức về lí thuyết cũng như thực hành, thực nghiệm
phải không xa vời với thực tiễn, ứng dụng.
Muốn học tốt môn học này trước hết phải có sự đam mê và tình yêu đối
với môn hóa học. Với tư duy logic, trí nhớ tốt cộng thêm sự cần cù, chăm chỉ,
sáng tạo thì nhất định sẽ thành công.
Các bài tập hóa học, chỉ mang tính chất học thuộc lòng hay chỉ sử dụng
các thuật toán làm cho bộ môn trở nên khô cứng. Chính những bài tập lí thuyết
thực nghiệm, vận dụng ứng dụng thực tế đã làm tăng thêm lí thú cho hóa học.
Vì vậy khi giảng dạy ngoài những lí thuyết, việc liên hệ để giải thích
những hiện tượng tự nhiên xảy ra hàng ngày, xung quanh học sinh sẽ giúp học
sinh tiếp cận với thế giới khoa học một cách khoa học, một cách chân thực hơn.

Làm cho những kiến thức hàm lâm trở nên gần gũi thiết thực hơn, làm phong
phú sinh đông hơn cho bài học, dễ gây chú ý ở học sinh và làm cho học sinh nhớ
lâu hơn.
2.2. Thực trạng của việc dạy và học hóa học ở trường THCS
Qua thực tế giảng dạy ở trường THCS với nhiều đối tượng học sinh khác
nhau bản thân tôi nhận thấy khả năng tư duy của nhiều học sinh còn hạn chế
cũng bởi nhiều lí do như:
– Thời gian dành cho bộ môn còn ít.

3

– Học sinh được học muộn hơn so với các môn học khác. Học tới lớp 8
các em mới chính thức được tìm hiểu về bộ môn.
– Lượng kiến thức cho học sinh lớp 9 vừa nhiều vừa đa dạng.
– Nhiều nơi, phòng học, thiết bị, hóa chất còn thiếu. Đặc biệt là phòng học
thực hành đúng chức năng thì hầu như chưa có.
Môn hóa là môn học đối với học sinh THCS là môn học vừa mới, vừa
khó. Nhiều thuật ngữ, khái niệm, định nghĩa đối với nhiều học sinh còn rất trừu
tượng, khó hiểu, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức hời hợt, dễ đi đến nhàm chán,
bế tắc. Từ việc không rõ bản chất, tính chất, dẫn tới các em thường gặp không ít
khó khăn khi giải bài tập.
– Bản thân giáo viên cũng gặp không ít khó khăn, chưa có đủ điều kiện
để thường xuyên tiếp cận được với các phương pháp mới, việc vận dụng các
phương pháp đó cho học sinh cũng còn phụ thuộc vào đối tượng mà mình đang
trực tiếp giảng dạy.
Thực tế đã cho thấy lượng kiết thức cần cung cấp cho các em học sinh lớp
9 rất nhiều mà kinh nghiệm tiếp thu và trí nhớ của các em còn rất hạn chế, nên
giáo viên phải biết dùng các phương tiện trực quan như hình vẽ, sơ đồ, thí
nghiệm…kết hợp với ứng dụng của hóa học vào thực tiễn để giúp học sinh luôn

ở trạng thái hoạt động tích cực, tham gia nhiệt tình vào việc dạy của thầy.
Sự kết hợp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong dạy học hóa học
với các phương thức dạy học khác giúp học sinh phát huy tối đa khả năng tư
duy. Nhờ đó giáo viên cũng thực hiện được nhiệm vụ dạy hoc, gắn liền khoa học
với thực tiễn cuộc sống, làm rõ mối quan hệ qua lại giữa khoa học hóa học và
ứng dụng của nó vào đời sống. Học sinh cũng nhận thức được vai trò của hóa
học trong nền kinh tế quốc dân, từ đó tự hào về những hiểu biết thực tiễn của
bản thân và ngày càng yêu thích bộ môn hóa học hơn.

4

2.3. Một số giải pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạy
hóa học lớp 9 ở trường THCS.
2.3.1. Đặt tình huống có vấn đề
Thực tiễn daỵ học cho thấy có nhiều hình thức để tạo ra tình huống có vấn
đề trong dạy học hóa học, có thể tạo nên tình huống có vấn đề bằng cách cho
học sinh phân tích sự kiện, hiện tượng được biết trong đời sống. Việc giải quyết
vấn đề đó sẽ giúp học sinh lĩnh hội tri thức.
Đặt tình huống có vấn đề dựa vào các hiện tượng thực tế có thể thực hiện
khi vào bài mới, khi tìm hiểu tính chất hóa học của chất, khi giải bài tập…
* Sử dụng hiện tượng thực tế, để tạo tình huống vào bài mới:
Đối với mỗi kiểu bài lên lớp, mỗi bài học, mỗi nội dung cụ thể có những
hình thức mở đầu khác nhau, không có kiểu mở bài nào là tốt nhất, bí quyết
thành công là ở sự đa dạng và sáng tạo. Giáo viên có thể sử dụng các hiện tượng
thực tế để tạo ra tình huống vào bài. Cách làm này sẽ tạo ra sự bất ngờ khiến học
sinh phải ngạc nhiên, phải chú ý và đó là con đường hướng tới sự khám phá, tìm
hiểu. Có thể là một câu chuyện, hay một ví dụ thực tế xung quanh ta, từ đó giáo
viên dẫn dắt học sinh vào bài, tạo được không khí hứng khởi cho các em khi bắt
đầu vào bài học mới.

Ví dụ: Ở bài – Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại không bị ăn mòn.
Giáo viên có thể vào bài bằng cách cho học sinh quan sát một số hiện tượng
thực tế như:
– Tranh ảnh ( tranh giấy vẽ, hoặc trình chiếu…)vỏ tàu thủy bị ăn mòn.
– Một số đồ dùng, vật dụng bị gỉ sắt…
Sau khi học sinh quan sát giáo viên đặt câu hỏi, nêu mục tiêu của bài học.
Bằng cách dẫn dắt như thế sẽ làm tăng sự húng thú tìm hiểu tri thức của học
sinh. Việc giải quyết được nguyên nhân vì sao có hiện tượng như vậy? cần phải
làm gì để phòng tránh hiện tượng đó xảy ra? Sẽ giúp học sinh lĩnh hội được tri
thức.

5

Bài – Polime. Trước khi tìm hiểu nội dung về chất dẻo giáo viên cho học
sinh quan sát một số đồ dùng vật dụng làm bằng chất dẻo. Từ đó giáo viên dẫn
dắt học sinh tìm hiểu về thành phần của chất dẻo và các ứng dụng của nó.
Bài 26- Clo. Giáo viên có thể cho học sinh biết, trong thực tế sinh hoạt
khi mở vòi nước máy, nếu chú ý ta sẽ thấy có mùi lạ? Tại sao lại có mùi đó, đó
là chất gì? Bài học hôm nay sẽ giúp các em trả lời được câu hỏi đó…
*

Sử dụng hiện tượng thực tế để tạo tình huống vấn đề, tìm hiểu tính

chất của chất.
Ví dụ: Bài 2- Một số oxit quan trọng. Trước khi tìm hiểu về tính chất của
CaO học sinh đã được biết về tính chất hóa học chung của oxit bazơ, nếu giáo
viên không có phương pháp tốt dễ gây sự nhàm chán trong bài học tìm hiểu về
tính chất của CaO, vì vậy có thể đưa ra một số tình huống thực tiễn để kích thích
tạo sự hứng thú tìm tòi. Một số câu hỏi có thể đặt ra như sau:

– Tại sao khi tôi vôi, ta thấy khói bốc lên mù mịt? Nước sôi lên và cần tránh xa
hố vôi đang tôi hoặc sau khi tôi ít nhất 2 ngày ?
– Tại sao vôi bột được dùng khử chua đất trồng trọt, sử lí nước thải của các nhà
máy hóa chất?
– Tại sao trong tự nhiên không tồn tại CaO tự do? Tại sao CaO để lâu ngoài
không khí bị giảm chất lượng?
– Hiện tượng vôi chết là gì? Tại sao có hiện tượng vôi chết?
Việc tìm hiểu tính chất của CaO sẽ giúp học sinh hoàn thiện được các câu hỏi
thực tế đó.
Trả lời: – Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng của CaO với H 2O tạo ra Ca(OH)2, phản
ứng tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên, nước bốc hơi cuốn theo những hạt
Ca(OH)2 rất nhỏ tạo thành như mù. Do nhiệt tỏa ra rất nhiều nên nhiệt độ hố vôi
rất cao, do đó cần phải tránh xa hố vôi để tránh bị xa xuống hố gây nguy hiểm.
– Vôi bột gồm CaO, Ca(OH)2 và một ít CaCO3. Ruộng chua có chứa hàm
lượng axit cao, Khi cho vôi bột vào ruộng sẽ có phản ứng hóa học với các chất
trên vì thế sẽ làm giảm nồng độ axit, vì thế đất sẽ hết chua.

6

– Khi để CaO ngoài không khí CaO tác dụng với hơi nước tạo ra Ca(OH) 2,
với khí CO2, tạo ra CaCO3, Ca(OH)2 tác dụng với CO2 cũng tạo ra CaCO3…có
nhiều phản ứng hóa xảy ra, nên nếu để lâu CaO ngoài không khí CaO sẽ giảm
chất lượng sẽ có hiện tượng hóa đá trở lại.
Bài 8- Một số bazơ quan trọng. Học sinh tìm hiểu về Ca(OH) 2 sau khi đã
biết tính chất hóa học chung của bazơ. Để tạo nên sự hấp dẫn cho học sinh, tránh
sự nhàm chán, vì đến bài học này thì Ca(OH) 2 là một trong những chất không
còn mới lạ, giáo viên có thể sử dụng một số hiện tượng thực tế để tạo ra các tính
huống có vấn đề như:
Tại sao trên bề mặt hố vôi, thường thấy có lớp váng? Sau khi quét vôi thì

thấy tường khô lại, lâu ngày nếu lớp vôi bong ra đó là chất rắn?…
Đứng trước tình huống như vậy, não bộ của các em mới thực sự được kích
thích mạnh mẽ, và việc tìm kiếm lời giải đáp là tìm hiểu bài mới.
Bài 52- Tinh bột và xenlulozơ- Trước khi tìm hiểu tính chất hóa học giáo
viên nêu hiện tượng thực tế. Khi ăn cơm nhai kĩ ta thấy ngọt. Vì sao có hiện
tượng như vậy?
Đó là sự chuyển hóa tinh bột trong thức ăn, là một hiện tượng tự nhiên
quen thuộc đối với mỗi chúng ta. Tìm hiểu tính chất hóa học của tinh bột sẽ cho
ta rõ câu trả lời.
2.3.2. Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã biết để giải thích một số hiện
tượng thực tế, ứng dụng vào thực tiễn.
Khi nghiên cứu về một chất cụ thể, một trong những yêu cầu cần đạt được
là học sinh cần biết những ứng dụng của chúng, trong đời sống sản xuất. Hàng
ngày quanh ta xảy ra nhiều hiện tượng, những hiện tượng có tạo thành chất mới
gọi là hiện tượng hóa học. Do đó chúng ta thường gặp hai loại bài tập giải thích
hoặc dự báo hiện tượng hóa học xảy ra.
* Ví dụ: Sau khi tìm hiểu tính chất hóa học của clo giáo viên cho học sinh
trả lời câu hỏi: Tại sao nước máy lại có mùi clo? Vì sao không dùng nước máy
để tưới cây cảnh?

7

Giải thích: Khi sục vào nước lượng nhỏ khí Clo thì có phương trình hóa
học của phản ứng xảy ra như sau:

Cl2 + H2O → HCl + HClO

HClO là axit yếu không bền, có tính oxi hóa mạnh nên nước có khả năng diệt
khuẩn. Trong nước vẫn còn lượng nhỏ clo nên nước máy có mùi clo.

Khi dùng nước máy tưới cây cảnh thì trên lá cây xuất hiện những đốm
trắng và làm rụng lá vì chất diệp lục trên lá bị oxi hóa bởi lượng HClO trong
nước máy. Do vậy không dùng nước máy trực tiếp, để tưới cây, hoa cảnh.
* Sau khi học bài tính chất hóa học của kim loại, giáo viên cũng có thể mở
rộng thêm hiểu biết thực tế của các em bằng câu hỏi sau: Tại sao khi vỡ nhiệt kế
thủy ngân thì không được dùng chổi để quét mà nên rắc bột S lên trên sau đó
mới hót đi?
Giải thích: Thủy ngân là một kim loại dạng lỏng, dễ bay hơi và thủy ngân
rất độc. Vì vậy nếu chẳng may nhiệt kế thủy ngân bị vỡ, thủy ngân chảy ra, nếu
ta dùng chổi quét thì thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi và
làm quá trình thu gom khó hơn. Khi ta dùng bột S rắc lên những chỗ có thủy
ngân thì xảy ra phản ứng:

Hg + S → HgS↓

Vì thế hạn chế được sự bay hơi của Hg vào không khí và quá trình thu gom cũng
dễ dàng hơn.
* Ví dụ: Sau khi tìm hiểu tính chất của cacbonoxit (Bài các oxit của
cacbon) giáo viên cho học sinh trả lời câu hỏi- Vì sao hiện tương ngộ độc khí
than thường xảy ra vào mùa đông?
Về mùa đông nhiều gia đình có thói quen đốt than để sưởi ấm, khi đốt lên
than cháy tạo thành nhiều chất khác nhau như CO, CO 2, các sản phẩm khác của
nitơ, lưu huỳnh…Trong các chất đó thì CO là chất chính gây ra hiện tượng ngộ
độc khí than. CO là chất khí không màu không mùi nên rất khó phất hiện nó. Vì
sao khí than lại làm người ta bị độc? Đó là do CO dễ kết hợp với hemoglobin có
mặt trong hồng cầu của máu, khi vào máu CO bám chặt lấy hồng cầu làm mất
khả năng kết hợp giữa hồng cầu với oxi, làm giảm khả năng vận chuyển oxi tới
các tế bào. Nếu quá trình hít thở phải khí CO kéo dài thì có thể gây thiếu oxi, có
thể gây tử vong. CO là một khí độc!
8

Hiện tượng ngộ độc tại sao thường xảy ra vào mùa đông? Quá trình hình
thanh khí than là do trong quá trình đốt than lượng cacbon trong than không
đựơc cung cấp đủ oxi (2C + O2→ 2CO) Nếu được cung cấp đủ oxi thì cácbon
trong than chuyển hóa thành CO2 không độc. Vào mùa đông nhiều nhà thường
đóng kín cửa và việc sử dụng than để nấu, để sưởi thường nhiều hơn, vì thế ngộ
độc khí than cũng nhiều hơn các mùa khác.
Làm thế nào để tránh được hiện tượng ngộ độc khí than?
Có người cho rằng đặt một chậu nước ở gần, phía trên bếp than có thể khử
độc được. Liệu điều này có đúng không? Điều đó là không có cơ sở vì CO là
chất khí rất ít tan trong nước, nước không thể hấp thụ được khí CO. Muốn tránh
bị ngộ độc khí than, khi sử dụng bếp than cần mở ống thoát ở trên, của lò bên
dưới để đảm bảo cung cấp đủ oxi và phải đảm bảo trong nhà luôn thoáng gió.
Tuyệt đối không dùng bếp than để sưởi và ủ bếp trong phòng kín.
Trong nội dung kiến thức này giáo viên cũng có thể cho học sinh biết
thêm về hiện tượng người chết khi xuống giếng sâu, nhất là những giếng bỏ
hoang lâu ngày.
Giếng sâu ở một số vùng thường có nhiều khí độc, trong số các khí đó là
CO, CH4 và thiếu oxi, giếng để hoang lâu ngày thì lượng khí độc càng nhiều, khi
xuống giếng có thể bị chết ngạt do thiếu dưỡng khí, vì vậy vì một lí do nào đó
phải xuống giếng hoặc hầm hố sâu, trước khi xuống cần thử xem trong đó có
nhiều khí độc hay không, nếu có thì phải tìm cách để giảm lượng khí độc, sau đó
mới được xuống.
* Sau khi học bài 21- Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại không bị ăn mòn.
Giáo viên đặt câu hỏi- Sau một ngày lao động, công nhân phải lau chùi
các thiết bị máy móc…, nông dân phải rửa dụng cụ lao động. Việc làm này
nhằm mục đích gì?
Giải thích: Việc làm này nhằm mục đích làm sạch bề mặt của kim loại,
không cho kim loại tiếp xúc với các axit, muối có trong bùn, đất, bụi …

Để vận dụng kiến thức sự ăn mòn kim loại trong tự nhiên phụ thuộc vào
thành phần của kim loại. Giáo viên cho học sinh trả lời bài tập sau:
9

Dây thép phơi quần áo bị đứt, người thì bảo nối bằng đoạn dây đồng,
người thì bảo nên nối lại bằng sợi dây thép. Theo em nên nối lại bằng đoạn dây
kim loại nào để chỗ nối được bền vững hơn? Giải thích cho câu trả lời.
Trả lời: Nên nối lại bằng sợi dây kim loại cùng chất, ở đây nên dùng đoạn
dây thép. Việc làm này nhằm tạo ra kim loại tinh khiết, hạn chế được tốc độ ăn
mòn của kim loại.
* Câu hỏi sau có thể dùng khi học sinh khi tìm hiểu bài 53- Protein.
Tại sao không nên dùng nước nóng để giặt quần áo bị dính vết máu?
Giải thích: Trong máu thành phần chính là huyết tương, trong huyết tương
ngoài nước và muối ra thành phần chủ yếu còn lại là protein. Nếu dùng nước
nóng để giặt sẽ khiến cho protein đông kết lại, trở thành chất không thể hòa tan
trong nước, đồng thời bám chặt vào bề mặt sợi vải không dễ gì tẩy sạch được. Vì
vậy nếu quần áo bị dính máu nên dùng nước lạnh để giặt, thì vết máu nhanh
chóng sẽ bị loại bỏ.
2.3.3. Sử dụng kiến thức thực tế để chuẩn bị bài mới.
Đối với học sinh khi đã được làm quen ví bộ môn, phần lớn các giáo
viên thường thiết lập sự quan hệ giữa bài cũ và bài mới thông qua việc kiểm tra
bài cũ. Tuy nhiên để chuẩn bị tốt cho bài học mới, giáo viên cũng có thể cho học
sinh tìm hiểu các hiện tượng thực tế ở địa phương hoặc các hiện tượng được biết
qua các thông tin khác.
Ví dụ: Trước khi học bài Axitcacbonic và muối cacbonat. Giáo viên cho
học sinh tìm hiểu về một số nội dung. Vì sao ấm nấu nước nhiều gia đình, ở
nhiều nơi thường có lớp cặn ở đáy ấm? Để làm mất lớp cặn này người ta thường
phải làm gì? Đây là mẹo vặt các em có thể đã biết, việc giải thích vì sao làm như
vậy sẽ được biết khi tìm hiểu về muối cacbonat.

Giáo viên cũng có thể yêu cầu học sinh tìm hiểu về hiện tượng tạo thành
thạch nhũ trong các hang động, bằng cách cho các em quan sát cảnh đẹp trong
một hang động nào đó(dùng máy chiếu hoặc tranh ảnh) yêu cầu đặt ra là tìm
hiểu nguyên nhân tạo ra các cảnh đẹp kì thú đó.

10

Trong quá trình tìm hiểu học sinh biết được đây là hiện tượng thường gặp
trong các hang động, núi đá vôi. Quá trình hình thành nên những hình dạng, kì
thú đó là do thiên nhiên kiến tạo dựa trên các quá trình biến đổi hóa học.
Đó là kết quả lâu dài của sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai muối
Ca(HCO3)2 và CaCO3. Thành phần chính của đá vôi là CaCO 3. Khi gặp nước
mưa và khí CO2 trong không khí CaCO3 chuyển hóa thành Ca(HCO3)2 tan trong
nước, chảy qua khe đá vào trong hang động. Dần dần Ca(HCO 3)2 lại chuyển hóa
thành CaCO3 rắn, không tan. Quá trình này xảy ra liên tục, lâu dài tạo nên thạch
nhũ với những hình thù khác nhau.
CaCO3 + H2O + CO2 → Ca(HCO3)2
Ca(HCO3)2 → CaCO3 + H2O + CO2
Đầu giờ học giáo viên cho học sinh báo cáo lại kết quả kết quả tìm hiểu,
nhận xét và đáp án chính xác của câu trả lời chúng ta sẽ được biết trong bài học
ngày hôm nay. Bằng cách đó giáo viên đã tạo được sự háo hức vào bài mới tìm
hiểu kiến thức mới cho học trò.
Việc giao nhiệm vụ tìm hiểu trước nội đung bài học như thế sẽ tạo được ý
thức tự giác, chủ động hơn cho học sinh so với việc chúng ta chỉ giao nhiệm vụ,
các em về nhà đọc trước bài…Việc học sinh có chuẩn bị trước bài mới ở nhà, sẽ
thuận lợi hơn rất nhiều cho giáo viên khi chúng ta thực hiện giảng bài mới cho
học sinh.
* Trước khi học bài rượu etylic. Giáo viên cũng có thể cho học sinh chuẩn
bị bài ở nhà bằng cách tìm hiểu một số nội dung sau:

– Ở địa phương em người ta thường nấu rượu bằng nguyên liệu gì? Em
thử tìm hiểu qui trình nấu rượu.
– Trên nhãn mác của các chai rượu thường có ghi các số 35o, 45o…Ý nghĩa
của các con số đó là gì ?
* Chuẩn bị cho bài phân bón hóa học, giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị
một số nội dung sau:
– Các loại bón thường dùng là những loại phân nào?
– Tìm hiểu ứng dụng của các loại phân bón đó?
11

* Bài protein có thể cho học sinh chuẩn bị nội dung sau:
– Khi nấu canh cua, lúc nước bắt đầu sôi em thấy có hiện tượng gì? Khi
nấu canh trứng thì lòng trắng trứng có bị kết tủa lại không?
Để tìm hiểu hiện tượng này học sinh có thể làm thí nghiệm trước ở nhà.
2.3.4. Sử dụng kiến thức thực tế để củng cố, kiểm tra kiến thức.
Giáo viên đánh gía sự tiếp thu kiến thức của học sinh thông thường dựa
vào các câu hỏi, bài tập cụ thể, đặt câu hỏi lúc này là kĩ năng quan trọng đối với
mỗi giáo viên, câu hỏi đặt ra phù hợp cũng sẽ giúp học sinh tự kiểm tra được
kiến thức của mình, tự đánh giá mức độ hiểu bài. Việc trả lời các câu hỏi có liên
hệ thực tế không những giúp học sinh kịp thời bổ sung kiến thức còn thiếu mà
còn giúp các em hiểu sâu sắc hơn về nội dung kiến thức đó, nắm được bản chất
của vấn đề hơn và việc ghi nhớ cũng dễ dàng hơn.
* Khi học xong bài – Nhiên liệu. Giáo viên có thể đặt câu hỏi.
Vì sao khi đốt xăng, dầu thì cháy hết sạch, còn khi đốt gỗ, than đá lại còn tro?
Đây là hiện tượng rất quen thuộc đối với mỗi học sinh, nhưng để giải
thích được thì không phải dễ, bắt buộc học sinh phải tư duy lại những kiến thức
đã học về thành phần của các chất trên và sự cháy của chúng.
Giải thích: Bởi vì so với gỗ và than đá thì xăng và dầu có độ thuần khiết
cao hơn. Khi đốt xăng và cồn chúng sẽ cháy hoàn toàn tạo thành CO 2 và hơi

nước, tất cả sẽ bay vào không khí. Xăng, dầu tuy là hỗn hợp của nhiều
hidrocacbon, nhưng chúng đều là những chất dễ cháy.Vì vậy mặc dù ở trạng thái
hỗn hợp thì chúng cũng cháy hết.
Với than đá và gỗ thì lại khác. Thành phần chính của than là cacbon, của
gỗ là xenlulozơ, ngoài các thành phần chính cả hai vật liệu đều còn có những
thành phần rất phức tạp, than và gỗ thường dùng còn có các khoáng vật. Các
hợp chất hữu cơ dễ cháy và có thể cháy hết, các khoáng vật không cháy được. Vì
vậy khi sau khi đốt cháy sẽ còn lại và tạo thành tro.
Cũng ở bài nhiên liệu giáo viên cũng có thể kiểm tra kiến thức về nội
dung sử dụng nhiên liệu như thế nào cho hiệu quả bằng câu hỏi – Vì sao các viên

12

than tổ ong được chế tạo nhiều hàng lỗ xuyên dọc viên than? Khi nhóm bếp than
vì sao người ta thường úp thêm một ống khói cao trên miệng lò?
Giải thích: – Các viên than tổ ong được chế tạo nhiều hàng lỗ xuyên dọc viên
than nhằm làm tăng diện tiếp xúc giữa than với oxi tạo điều kiện cho sự cháy
diễn ra hoàn toàn, tiết kiệm được nhiên liệu.
– Ứng dụng hiện tượng đối lưu, nhằm mục đích hút không khí vào lò làm tăng
nồng độ oxi, đồng thời đẩy khói ra, nhờ đó quá trình cháy cũng diễn ra tốt hơn.
* Sau bài 54 – Polime giáo viên cho học sinh quan sát một nắm đất sét ẩm
có độ dẻo có thể nặn và yêu cầu học sinh nhận xét, trả lời câu hỏi:
Đất sét có phải là chất dẻo hay không?
Nếu chưa hiểu kĩ về chất dẻo, học sinh sẽ lúng túng trước câu trả lời này,
có nhiều em còn nhận định sai cho rằng chất có tính dẻo là chất dẻo. Vì thế tuy
là một bài tập vận dụng nhỏ, nhưng khắc sâu được cho học sinh hiểu rằng:
Không phải vật liệu nào có tính dẻo cũng được gọi là chất dẻo. Thành phần của
chất dẻo là polime. Tuy đất sét ẩm có tính dẻo song nó không phải là polime, vì
vậy không phải là chất dẻo.

* Sau khi tìm hiểu tính chất hóa học axit axetic giáo viên có thể yêu cầu
học sinh làm bài tập sau: Khi có vài giọt giấm ăn rơi vào mặt bàn bằng đá có
hiện tượng gì xảy ra? Nếu mặt bàn làm bằng thạch cao có hiện tượng gì xảy ra?
Trước hết giáo viên yêu cầu học sinh cho biết mặt bàn bằng đá và mặt bàn bằng
thạch cao có thành phần chính là chất nào. Dựa vào tính chất của axit axetic để
dự đoán các hiện tượng hóa học có thể xảy ra. Giải thích các hiện tượng đó.
Trả lời: – Giấm ăn có chứa axit axetic, mặt bàn bằng đá có CaCO 3. Khi có vài
giọt giấm rơi vào mặt bàn, xảy ra phản ứng:
CaCO3 +2 CH3COOH → (CH3COO)2Ca + CO2↑ + H2O
tại chỗ tiếp xúc có khí CO2 thoát ra làm sủi bọt.
– Thạch cao là CaSO4 hay ở dạng ngậm nước là CaSO 4.2H2O khi tiếp xúc với
axit axetic không có phản ứng hóa học nên không có hiện tượng gì xảy ra.

13

* Để khắc sâu kiến thức về tính háo nước của axit sunfuric đặc. Giáo viên
cho học sinh giải thích hiện tượng sau: Tại sao khi mở nắp đậy của bình đựng
axit sunfuric đặc, dung dịch trong bình lại dâng lên?
Đây là một câu hỏi tương đối khó đối với nhiều học sinh lớp 9. Giáo viên
có thể gợi mở cho học sinh nhớ lại một số kiến thức có liên quan. Câu hỏi gợi
mở có thể là: Tại sao muốn pha loãng axitsunfuric đặc, ta phải rót từ từ axit đặc
vào bình đựng sẵn nước rồi khuấy đều. Làm ngược lại sẽ gây nguy hiểm? Sau
khi trả lời câu hỏi này học sinh sẽ dễ dàng trả lời được câu hỏi ban đầu.
Giải thích: Axit sunfuric đặc là dung dịch rất nguy hiểm, nếu đổ một ít nước vào
bình đựng H2SO4 đặc thì lập tức nước sẽ bắn tung tóe quanh miệng bình.
Nếu mở nắp bình chứa H2SO4 đặc, nó sẽ không ngừng hút hơi nước trong
không khí vì thế thể tích dung dịch tăng lên.
Do H2SO4 đặc có tính hút nước mạnh mẽ như vậy nên H2SO4 đặc thường
được dùng làm chất hút ẩm, loại bỏ hơi nước trong các khí.

Axit H2SO4 đặc không những dễ “ nổi nóng” mà nó còn luôn trong tình trạng “
khát nước” nó không chỉ hút nước trong không khí mà còn hút lấy nguyên tử H
và nguyên tử O trong các hợp chất chứa nước, cacbon như đường gỗ ,vải, tế bào
sống…Nếu chẳng may để H2SO4 đặc bắn lên da sẽ gây cho da bị bỏng, đây cũng
là do H2SO4 đặc có tính hút nước mạnh. Không những thế khi dây vào quần áo
nó sẽ làm ăn mòn vải, dây lên gỗ làm cháy gỗ.
Vì vậy, khi sử dụng H2SO4 đặc chúng ta phải hết sức cẩn thận!
– Nếu chẳng may bị H2SO4 đặc tiếp xúc vào da thì phải làm gì?
Cần phải lau sạch chỗ da bị dính axit, rồi sau đó dùng dung dịch nước
xôđa loãng để rửa, vì xođa có thể trung hòa được axit. Nếu không có dung dịch
chất này thì cần dùng nhiều nước sạch để xối vào chỗ da bị bỏng.
2.3.5. Liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong những bài dạy về sản
xuất hóa học.
Trong những nội dung kiến thức về sản xuất hóa học, việc kết hợp các
phương tiện trực quan như sơ đồ, tranh vẽ với các tư liệu thực tế là hết sức quan
trọng, sự kết hợp như vậy sẽ làm rõ hơn các nguyên tắc chung của nền sản xuất
14

hóa học, các biện pháp kĩ thuật được thực hiện, để làm tăng nhiệt độ, hiệu suất
của các phản ứng hóa học, trong các giai đoạn của quá trình sản xuất cụ thể.
Thực tế ở các nhà trường phổ thông không có các điều kiện để tổ chức các
hoạt động ngoại khóa, tham quan các cơ sở sản xuất, tham gia sản xuất, để tìm
hiểu về sản xuất hóa học vì vậy các tư liệu thực tế bằng hình ảnh, sơ đồ, máy
chiếu là phổ biến và quan trong, ở đây là giáo viên phải làm thế nào đó, thu thập
được nhiều tư liệu, có thể khai thác, vận dụng và chuyển tải tới học sinh giúp
học sinh nắm được những yêu cầu cơ bản của sản xuất hóa học.
Hiện nay việc khai thác các tư liệu có thể dựa trên các kênh thông tin, đặc
biệt là khai thác qua mạng internet đã và đang phổ biến cho mỗi giáo viên. Để
thành công trong tiết dạy về sản xuất hóa học cần có sự liên hệ giữa tính chất

các chất cần sản xuất với kiến thức về kĩ thuật, giúp học sinh hiểu được ý nghĩa
của các biện pháp kĩ thuật được áp dụng trong ngành sản xuất đó.
Viêc kết hợp giữa liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong những bài
dạy về sản xuất hóa học với sơ đồ, mô hình, hình vẽ, máy chiếu… không những
giúp giáo viên chuyển tải được kiến thức một cách dễ dàng thuận lợi mà nó còn
kích thích học sinh phát huy được khả năng tư duy.
Để làm phong phú hơn cho các bài học nội dung này, giáo viên cũng nên
thường xuyên cho các em biết thêm về tư liệu khai thác các mỏ trong tự nhiên,
việc an toàn trong sản xuất từ đó tạo được những hiểu biết cơ bản trong thực tế
sản xuất.
2.3.6. Sử dụng kiến thức thực tế để lồng ghép, tích hợp giáo dục môi
trường trong dạy học hóa học.
Vấn đề môi trường ô nhiễm, cách khắc phục hiện tượng này, đã và đang
được con người quan tâm rất nhiều. Trong cuộc sống hàng ngày các hiện tượng
thường xuyên bắt gặp như: Nước thải của một ao cá, của khu chăn nuôi, khu
công nghiệp, bệnh viện…tất cả những hoạt động sống của con người đã làm tác
động tới môi trường. Dạy học hóa học là một trong những bộ môn cần phải
thường xuyên lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục môi trường vào dạy
học. Việc tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp, khắc phục ô nhiễm môi
15

trường dựa trên cả kiến thức khoa học lẫn thực tế. Có rất nhiều bài học về chất,
sự biến đổi chất, ứng dụng và sản xuất có liên quan đến nội dung này, việc sử
dụng kiến thức thực tế để lồng ghép, tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học
hóa học, mang lại những kết quả khả quan giúp học sinh hiểu rõ bản chất của
vấn đề và có ý thức tốt về bảo vệ môi trường, lên án những đơn vị sản xuất, nhà
máy, công trình… thải chất độc hại vào môi trường. Cần có biện pháp giải quyết
nạn ô nhiễm không khí, bắt buộc phải xử lí rác thải, khí thải sản sinh trong quá
trình sản xuất, trước khí thải loại vào môi trường.

Ví dụ: Sau khi học về tính chất của SO2 học sinh biết được SO2 là một trong
những chất chủ yếu gây ô nhiễm môi trường, nó được sinh ra do sự đốt cháy
nhiên liệu ( than, dầu, khí đốt…) thoát vào khí quyển. SO 2 cũng là một trong
những khí gây mưa axit. Không khí có SO2 gây hại cho sức khỏe con người.
Các nội dung của bài học về sản xuất hóa học như sản xuất vôi, sản xuất
axit H2SO4, sản xuất gang, thép…Bằng những dẫn chứng cụ thể giáo viên cho
học sinh được biết thêm thông tin về SO2, thấy rõ được nguyên nhân hình thành
SO2 và tác hại nghiêm trọng của nó. Cùng với quá trình phát triển không ngừng
của các ngành công nghiệp, hiện tượng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng.
Quá trình vận hành của động cơ, quá trình đốt cháy nhiên liệu xăng và dầu là
nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm không khí.
Qua bài nhiên liệu, sử dụng nhiên liệu hợp lí giáo viên cần cung cấp thêm
tư liệu về xăng có chì và tác hại của nó, thấy được việc sử dụng xăng không chì
và cải tiến động cơ đã làm giảm đáng kể số lượng và hàm lượng các độc tố có
trong khí thải của xe máy, xe hơi. Vì thế hiện nay việc sử dụng xăng không chì
đã được quan tâm và thực hiện. Than đá, dầu mỏ, khí tự nhiên là những nguồn
nhiên liệu thiết yếu. Tuy nhiên các nhiên liệu trên luôn có lẫn hợp chất chứa S
hoặc N, vì vậy khi cháy ngoài tạo ra CO 2 thường có lẫn các khí khác như SO 2,
NO2,, CO…gây ô nhiễm môi trường. Mặt khác các nguồn nhiên liệu trên đang
gần cạn kiệt, vì vậy, người ta đang nghiên cứu tìm nguyên liệu thay thế.

16

Một trong những hướng nghiên cứu đó là dùng khí H2 làm nhiên liệu. Ưu
điểm của khí H2 là khi cháy tạo ra nước nên không gây ô nhiễm môi trường. Tuy
nhiên việc điều chế và bảo quản hidro hiện nay còn gặp nhiều khó khăn.
* Sau khi học bài phân bón hóa học, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi:
Nếu dùng quá nhiều phân đam, lân, kali… so với nhu cầu của cây sẽ gây ảnh
hưởng đến môi trường như thế nào?

Trả lời: Gây ô nhiễm nặng nề nguồn nước sông hồ, nguồn nước ngầm. Hiểu
được điều đó bản thân học sinh biết vận dụng vào thực tế, phố biến mọi người,
cần sử dụng phân bón đúng cách, tránh được lãng phí và gây hại tới môi trường.
Đối với mỗi học sinh bằng nhưng việc làm cụ thể nào để góp phần bảo vệ
môi trường? Sau mỗi bài học có sử dụng đến hóa chất giáo viên cần tạo cho học
sinh có thói quen xử lí hóa chất, xử lí chất thải đúng cách. Đó cũng là góp phần
bảo vệ môi trường. Bằng những kiến thức đã biết qua các bài học cụ thể, phải
căn cứ vào vào tính chất hóa học của mỗi chất để xử lí cho phù hợp.
Sau đây là một bài tập nhỏ về cách sử lí khí SO2 trong phòng thí nghiệm:
SO2 là khí độc hại, gây ho, tránh hít thở không khí có SO2. Làm thế nào để có thể
hạn chế sự lan tỏa khí SO 2 trong quá trình làm thí nghiệm. Trả lời: Hấp thụ SO2
dư vào dung dịch kiềm (NaOH, Ca(OH)2…).Vì SO2 là một oxit axit tác dụng dễ
dàng với kiềm tạo muối.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Với hoạt động giáo dục
Sau khi sử dụng các phương pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế
trong dạy học hóa học tôi nhận thấy cách làm này, có hiệu quả rõ rệt.
Trong lớp các em học sinh sôi nổi, hăng say, luôn tạo ra tình huống gây sự
tò mò, muốn tìm hiểu, khám phá vì vậy lôi cuốn học sinh vào hoạt động học.
Nhiều học sinh tỏ ra yêu thích môn học và luôn hoàn thành tốt nội dung mà giáo
viên đưa ra.
Giáo viên tổ chức hoạt động trên lớp rất nhẹ nhàng, liên hệ được nhiều
kiến thức thực tế vào bài học từ đó nâng cao kiến thức cho học sinh khá, giỏi.
2.4.2. Đối với bản thân
17

Đầu tiên là sự thay đổi mạnh mẽ trong công tác chuẩn bị, đối với mỗi bài
dạy, việc soạn bài, chuẩn bị giáo án cho đến khâu tổ chức tiết dạy. Nhất là khâu

sưu tầm các tư liệu thực tế, đã được nâng lên một bước.
Việc nghiên cứu và áp dụng thành công đề tài trong quá trình giảng dạy,
bản thân tôi trưởng thành hơn về mặt tư duy cũng như phương pháp dạy đồng
thời có cái nhìn sâu sắc hơn về những khó khăn, vướng mắc của học sinh trong
quá trình học tập. Từ đó, giúp bản thân nâng cao trình độ chuyên môn cũng như
năng lực sư phạm, bồi đắp thêm kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy bộ môn.
Trong năm học vừa qua, bản thân khi sử dụng các phương pháp liên hệ
giải thích hiện tượng thực tế trong dạy học hóa học 9, qua kết quả thống kê cho
thấy chất lượng môn hóa đã có sự tiến bộ rõ rệt.
Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm như sau:
Tỷ lệ
Lớp
9A
9B

Sĩ số

Giỏi

SL
45
14
40
10
Kết quả khảo sát

Khá

%
31

25
cho

Trung bình
Yếu- Kém
SL
%
SL
%
SL
%
16
35,6
12
26,7
3
6,7
7
17,5
18
45
5
12,5
thấy chất lượng còn thấp, chưa đáp ứng được yêu

cấu của trường chất lượng cao, vẫn còn học sinh yếu kém.
Kết quả khảo sát chất lượng học kì như sau:
Tỷ lệ
Lớp
9A

9B

Trung bình
Yếu- Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
45
20
44,4
17
37,8
8
17,8
40
15
37,5
12
30
13
32,5
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ học sinh khá, giỏi cao hơn. Không còn học
Sĩ số

Giỏi

Khá

sinh yếu kém.
2.4.3. Đối với đồng nghiệp và nhà trường
Tôi hy vọng đề tài này sẽ là một tài liệu hữu ích cho các đồng nghiệp
trong quá trình giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học trong
nhà trường.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận

18

Sử dụng các phương pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong dạy
học hóa học là một phương hướng dạy học tích cực, giáo viên cần tăng cường sử
dụng bài tập, giúp học sinh vận dụng kiến thức hóa học để giải quyết những vấn
đề thực tiễn có liên quan.
Tiện ích của liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạy hóa
học là:
– Làm cho người dạy dễ truyền đạt kiến thức và người học dễ tiếp thu hơn.
– Có triển vọng mở rộng và phù hợp với bộ môn, góp phần nâng cao trình
độ cho học sinh.
– Làm cho học sinh yêu thích môn học, do thấy được mức độ quan trọng
của hóa học trong thực tiễn, đời sống hàng ngày.
Sử dụng các phương pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong dạy
học hóa học, có hiệu quả thì giáo viên cần phải lựa chọn các nội dung thích hợp
với hiểu biết của học sinh thì mới gây được hứng thú mong muốn.
3.2. Kiến nghị
– Để sử dụng các phương pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong

dạy học hóa học đạt hiệu quả, mỗi giáo viên ngoài việc nghiên cứu các tài liệu,
tư liệu tham khảo, cần phải thường xuyên tiếp cận với các lĩnh vực ứng dụng
của hóa học trong thực tế. Muốn có được nguồn tư liệu phong phú giáo viên
phải được thường xuyên tham quan,tìm hiểu các khu công nghiệp,sản xuất, chế
biến..
– Nhà trường cần trang thiết bị đầy đủ cho dạy học, nên trang bị mỗi phòng
học có một máy chiếu, màn hình…và những thiết bị có liên quan.
Những kinh nghiệm trên xuất phát từ thực tiễn dạy học, từ việc thường
xuyên vận dụng trong các bài học cụ thể ở các lớp do tôi đảm nhận, tuy nhiên
vẫn cần phải có sự nghiên cứu sâu hơn nữa về vấn đề này.Trong quá trình vận
dụng bản thân tôi cũng đã gặp không ít khó khăn, chắc chắn không tránh khỏi
thiếu sót. Rất mong được các bạn đồng nghiệp bổ sung để đề tài này có thể được
áp dụng thực tế tốt hơn.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Trường Thi, ngày 02 tháng 4 năm
2020
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết
Trần Thị Hiển

19

20

dạy, việc liên hệ giải thích hiện tượng thực tế trong dạy học hóa học là yếu tốthành công cho bài dạy. Khi thực thi dạy học theo bất kể chiêu thức nào giáo viên cũng đềucần tạo cho học viên sự hứng thú và niềm thương mến so với môn học. Đam mê hóa học sẽ thấy được hóa học và ứng dụng của nó có sự mê hoặc. Để khơi dậy niềm đam mê đó cho học viên, đó là trách nhiệm số 1 củangười giáo viên dạy hóa. Để làm được điều đó với nội dung ý tưởng sáng tạo kinhnghiệm này tôi muốn trình diễn những thu hoạch của mình về “ Một số giải phápliên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạy hóa học lớp 9 ở trườngTHCS ”. Đây là một yếu tố rất thiết thực, không mới, nhưng để vận dụng cóhiệu quả, có phát minh sáng tạo thì rất khó và bản thân giáo viên cũng tốn không ít côngsức. 1.2. Mục đích nghiên cứuGiúp học viên hoạt động giải trí tích cực, tự lực sở hữu tri thức mới, khơi dậyniềm đam mê học bộ môn hóa học cho học viên đồng thời hình thành ở các emmột số kĩ năng cơ bản và thói quen học tập và thao tác có tư duy logic và khoahọc. 1.3. Đối tượng nghiên cứuPhương pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạy hóahọc lớp 9.1.4. Phương pháp nghiên cứu và điều tra – Phương pháp tìm hiểu bằng phiếu hỏi. – Phương pháp phỏng vấn – Phương pháp quan sát – Phương pháp chuyên viên – Các chiêu thức giải quyết và xử lý hiệu quả điều tra và nghiên cứu thực tiễn2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM2. 1. Cơ sở lí luậnHóa học là bộ môn khoa học, nghiên cứu và điều tra các chất, sự đổi khác và ứngdụng của chúng. Là môn học có nhiều ứng dụng thoáng rộng và rất quan trọng trongcuộc sống, có khối lượng lớn kỹ năng và kiến thức về thực nghiệm lẫn lí thuyết, vừa cócông nghệ cao lại vừa có ứng dụng đơn cử và thiết thực. Vì vậy việc liên hệ cáchiện tượng thực tế trong giảng dạy giúp học viên nghiên cứu và phân tích được các hiện tượng, sự kiện có trong đời sống. Một điều trở thành hiển nhiên trong thời đại khoa học, kĩ thuật phát triểnnhư vũ bão này là : Bất cứ một học trò nào, học xong bậc trung học phổ thôngđều phải có hành trang tri thức về lí thuyết cũng như thực hành thực tế, thực nghiệmphải không xa vời với thực tiễn, ứng dụng. Muốn học tốt môn học này trước hết phải có sự đam mê và tình yêu đốivới môn hóa học. Với tư duy logic, trí nhớ tốt cộng thêm sự chịu khó, cần mẫn, phát minh sáng tạo thì nhất định sẽ thành công xuất sắc. Các bài tập hóa học, chỉ mang đặc thù học thuộc lòng hay chỉ sử dụngcác thuật toán làm cho bộ môn trở nên khô cứng. Chính những bài tập lí thuyếtthực nghiệm, vận dụng ứng dụng thực tế đã làm tăng thêm lí thú cho hóa học. Vì vậy khi giảng dạy ngoài những lí thuyết, việc liên hệ để giải thíchnhững hiện tượng tự nhiên xảy ra hàng ngày, xung quanh học viên sẽ giúp họcsinh tiếp cận với quốc tế khoa học một cách khoa học, một cách chân thực hơn. Làm cho những kiến thức và kỹ năng hàm lâm trở nên thân thiện thiết thực hơn, làm phongphú sinh đông hơn cho bài học kinh nghiệm, dễ gây chú ý quan tâm ở học viên và làm cho học viên nhớlâu hơn. 2.2. Thực trạng của việc dạy và học hóa học ở trường THCSQua thực tế giảng dạy ở trường trung học cơ sở với nhiều đối tượng người tiêu dùng học viên khácnhau bản thân tôi nhận thấy năng lực tư duy của nhiều học viên còn hạn chếcũng bởi nhiều lí do như : – Thời gian dành cho bộ môn còn ít. – Học sinh được học muộn hơn so với các môn học khác. Học tới lớp 8 các em mới chính thức được tìm hiểu và khám phá về bộ môn. – Lượng kỹ năng và kiến thức cho học viên lớp 9 vừa nhiều vừa phong phú. – Nhiều nơi, phòng học, thiết bị, hóa chất còn thiếu. Đặc biệt là phòng họcthực hành đúng tính năng thì hầu hết chưa có. Môn hóa là môn học so với học viên trung học cơ sở là môn học vừa mới, vừakhó. Nhiều thuật ngữ, khái niệm, định nghĩa so với nhiều học viên còn rất trừutượng, khó hiểu, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng hời hợt, dễ đi đến nhàm chán, bế tắc. Từ việc không rõ thực chất, đặc thù, dẫn tới các em thường gặp không ítkhó khăn khi giải bài tập. – Bản thân giáo viên cũng gặp không ít khó khăn vất vả, chưa có đủ điều kiệnđể liên tục tiếp cận được với các chiêu thức mới, việc vận dụng cácphương pháp đó cho học viên cũng còn phụ thuộc vào vào đối tượng người dùng mà mình đangtrực tiếp giảng dạy. Thực tế đã cho thấy lượng kiết thức cần phân phối cho các em học viên lớp9 rất nhiều mà kinh nghiệm tay nghề tiếp thu và trí nhớ của các em còn rất hạn chế, nêngiáo viên phải biết dùng các phương tiện đi lại trực quan như hình vẽ, sơ đồ, thínghiệm … phối hợp với ứng dụng của hóa học vào thực tiễn để giúp học viên luônở trạng thái hoạt động giải trí tích cực, tham gia nhiệt tình vào việc dạy của thầy. Sự tích hợp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong dạy học hóa họcvới các phương pháp dạy học khác giúp học viên phát huy tối đa năng lực tưduy. Nhờ đó giáo viên cũng thực thi được trách nhiệm dạy hoc, gắn liền khoa họcvới thực tiễn đời sống, làm rõ mối quan hệ qua lại giữa khoa học hóa học vàứng dụng của nó vào đời sống. Học sinh cũng nhận thức được vai trò của hóahọc trong nền kinh tế tài chính quốc dân, từ đó tự hào về những hiểu biết thực tiễn củabản thân và ngày càng yêu dấu bộ môn hóa học hơn. 2.3. Một số giải pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạyhóa học lớp 9 ở trường THCS. 2.3.1. Đặt trường hợp có vấn đềThực tiễn daỵ học cho thấy có nhiều hình thức để tạo ra trường hợp có vấnđề trong dạy học hóa học, hoàn toàn có thể tạo nên trường hợp có yếu tố bằng cách chohọc sinh nghiên cứu và phân tích sự kiện, hiện tượng được biết trong đời sống. Việc giải quyếtvấn đề đó sẽ giúp học viên lĩnh hội tri thức. Đặt trường hợp có yếu tố dựa vào các hiện tượng thực tế hoàn toàn có thể thực hiệnkhi vào bài mới, khi tìm hiểu và khám phá đặc thù hóa học của chất, khi giải bài tập … * Sử dụng hiện tượng thực tế, để tạo trường hợp vào bài mới : Đối với mỗi kiểu bài lên lớp, mỗi bài học kinh nghiệm, mỗi nội dung đơn cử có nhữnghình thức khởi đầu khác nhau, không có kiểu mở bài nào là tốt nhất, bí quyếtthành công là ở sự phong phú và phát minh sáng tạo. Giáo viên hoàn toàn có thể sử dụng các hiện tượngthực tế để tạo ra trường hợp vào bài. Cách làm này sẽ tạo ra sự giật mình khiến họcsinh phải quá bất ngờ, phải chú ý quan tâm và đó là con đường hướng tới sự mày mò, tìmhiểu. Có thể là một câu truyện, hay một ví dụ thực tế xung quanh ta, từ đó giáoviên dẫn dắt học viên vào bài, tạo được không khí hứng khởi cho các em khi bắtđầu vào bài học kinh nghiệm mới. Ví dụ : Ở bài – Sự ăn mòn sắt kẽm kim loại và bảo vệ sắt kẽm kim loại không bị ăn mòn. Giáo viên hoàn toàn có thể vào bài bằng cách cho học viên quan sát một số ít hiện tượngthực tế như : – Tranh ảnh ( tranh giấy vẽ, hoặc trình chiếu … ) vỏ tàu thủy bị ăn mòn. – Một số vật dụng, đồ vật bị gỉ sắt … Sau khi học viên quan sát giáo viên đặt câu hỏi, nêu tiềm năng của bài học kinh nghiệm. Bằng cách dẫn dắt như thế sẽ làm tăng sự húng thú tìm hiểu và khám phá tri thức của họcsinh. Việc xử lý được nguyên do vì sao có hiện tượng như vậy ? cần phảilàm gì để phòng tránh hiện tượng đó xảy ra ? Sẽ giúp học viên lĩnh hội được trithức. Bài – Polime. Trước khi khám phá nội dung về chất dẻo giáo viên cho họcsinh quan sát một số ít vật dụng đồ vật làm bằng chất dẻo. Từ đó giáo viên dẫndắt học viên khám phá về thành phần của chất dẻo và các ứng dụng của nó. Bài 26 – Clo. Giáo viên hoàn toàn có thể cho học viên biết, trong thực tế sinh hoạtkhi mở vòi nước máy, nếu quan tâm ta sẽ thấy có mùi lạ ? Tại sao lại có mùi đó, đólà chất gì ? Bài học ngày hôm nay sẽ giúp các em vấn đáp được câu hỏi đó … Sử dụng hiện tượng thực tế để tạo trường hợp yếu tố, khám phá tínhchất của chất. Ví dụ : Bài 2 – Một số oxit quan trọng. Trước khi khám phá về đặc thù củaCaO học viên đã được biết về đặc thù hóa học chung của oxit bazơ, nếu giáoviên không có giải pháp tốt dễ gây sự nhàm chán trong bài học kinh nghiệm tìm hiểu và khám phá vềtính chất của CaO, thế cho nên hoàn toàn có thể đưa ra một số ít trường hợp thực tiễn để kích thíchtạo sự hứng thú tìm tòi. Một số câu hỏi hoàn toàn có thể đặt ra như sau : – Tại sao khi tôi vôi, ta thấy khói bốc lên mù mịt ? Nước sôi lên và cần tránh xahố vôi đang tôi hoặc sau khi tôi tối thiểu 2 ngày ? – Tại sao vôi bột được dùng khử chua đất trồng trọt, sử lí nước thải của các nhàmáy hóa chất ? – Tại sao trong tự nhiên không sống sót CaO tự do ? Tại sao CaO để lâu ngoàikhông khí bị giảm chất lượng ? – Hiện tượng vôi chết là gì ? Tại sao có hiện tượng vôi chết ? Việc khám phá đặc thù của CaO sẽ giúp học viên triển khai xong được các câu hỏithực tế đó. Trả lời : – Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng của CaO với H 2O tạo ra Ca ( OH ) 2, phảnứng tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên, nước bốc hơi cuốn theo những hạtCa ( OH ) 2 rất nhỏ tạo thành như mù. Do nhiệt tỏa ra rất nhiều nên nhiệt độ hố vôirất cao, do đó cần phải tránh xa hố vôi để tránh bị xa xuống hố gây nguy hại. – Vôi bột gồm CaO, Ca ( OH ) 2 và một chút ít CaCO3. Ruộng chua có chứa hàmlượng axit cao, Khi cho vôi bột vào ruộng sẽ có phản ứng hóa học với các chấttrên cho nên vì thế sẽ làm giảm nồng độ axit, vì vậy đất sẽ hết chua. – Khi để CaO ngoài không khí CaO tính năng với hơi nước tạo ra Ca ( OH ) 2, với khí CO2, tạo ra CaCO3, Ca ( OH ) 2 tính năng với CO2 cũng tạo ra CaCO3 … cónhiều phản ứng hóa xảy ra, nên nếu để lâu CaO ngoài không khí CaO sẽ giảmchất lượng sẽ có hiện tượng hóa đá trở lại. Bài 8 – Một số bazơ quan trọng. Học sinh khám phá về Ca ( OH ) 2 sau khi đãbiết đặc thù hóa học chung của bazơ. Để tạo nên sự mê hoặc cho học viên, tránhsự nhàm chán, vì đến bài học kinh nghiệm này thì Ca ( OH ) 2 là một trong những chất khôngcòn mới lạ, giáo viên hoàn toàn có thể sử dụng 1 số ít hiện tượng thực tế để tạo ra các tínhhuống có yếu tố như : Tại sao trên mặt phẳng hố vôi, thường thấy có lớp váng ? Sau khi quét vôi thìthấy tường khô lại, lâu ngày nếu lớp vôi bong ra đó là chất rắn ? … Đứng trước trường hợp như vậy, não bộ của các em mới thực sự được kíchthích can đảm và mạnh mẽ, và việc tìm kiếm lời giải đáp là khám phá bài mới. Bài 52 – Tinh bột và xenlulozơ – Trước khi khám phá đặc thù hóa học giáoviên nêu hiện tượng thực tế. Khi ăn cơm nhai kĩ ta thấy ngọt. Vì sao có hiệntượng như vậy ? Đó là sự chuyển hóa tinh bột trong thức ăn, là một hiện tượng tự nhiênquen thuộc so với mỗi tất cả chúng ta. Tìm hiểu đặc thù hóa học của tinh bột sẽ chota rõ câu vấn đáp. 2.3.2. Vận dụng kỹ năng và kiến thức, kĩ năng đã biết để giải thích một số ít hiệntượng thực tế, ứng dụng vào thực tiễn. Khi nghiên cứu và điều tra về một chất đơn cử, một trong những nhu yếu cần đạt đượclà học viên cần biết những ứng dụng của chúng, trong đời sống sản xuất. Hàngngày quanh ta xảy ra nhiều hiện tượng, những hiện tượng có tạo thành chất mớigọi là hiện tượng hóa học. Do đó tất cả chúng ta thường gặp hai loại bài tập giải thíchhoặc dự báo hiện tượng hóa học xảy ra. * Ví dụ : Sau khi khám phá đặc thù hóa học của clo giáo viên cho học sinhtrả lời câu hỏi : Tại sao nước máy lại có mùi clo ? Vì sao không dùng nước máyđể tưới hoa lá cây cảnh ? Giải thích : Khi sục vào nước lượng nhỏ khí Clo thì có phương trình hóahọc của phản ứng xảy ra như sau : Cl2 + H2O → HCl + HClOHClO là axit yếu không bền, có tính oxi hóa mạnh nên nước có năng lực diệtkhuẩn. Trong nước vẫn còn lượng nhỏ clo nên nước máy có mùi clo. Khi dùng nước máy tưới hoa lá cây cảnh thì trên lá cây Open những đốmtrắng và làm rụng lá vì chất diệp lục trên lá bị oxi hóa bởi lượng HClO trongnước máy. Do vậy không dùng nước máy trực tiếp, để tưới cây, hoa cảnh. * Sau khi học bài đặc thù hóa học của sắt kẽm kim loại, giáo viên cũng hoàn toàn có thể mởrộng thêm hiểu biết thực tế của các em bằng câu hỏi sau : Tại sao khi vỡ nhiệt kếthủy ngân thì không được dùng chổi để quét mà nên rắc bột S lên trên sau đómới hót đi ? Giải thích : Thủy ngân là một sắt kẽm kim loại dạng lỏng, dễ bay hơi và thủy ngânrất độc. Vì vậy nếu chẳng may nhiệt kế thủy ngân bị vỡ, thủy ngân chảy ra, nếuta dùng chổi quét thì thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quy trình bay hơi vàlàm quy trình thu gom khó hơn. Khi ta dùng bột S rắc lên những chỗ có thủyngân thì xảy ra phản ứng : Hg + S → HgS ↓ Vì thế hạn chế được sự bay hơi của Hg vào không khí và quy trình thu gom cũngdễ dàng hơn. * Ví dụ : Sau khi tìm hiểu và khám phá đặc thù của cacbonoxit ( Bài các oxit củacacbon ) giáo viên cho học viên vấn đáp thắc mắc – Vì sao hiện tương ngộ độc khíthan thường xảy ra vào mùa đông ? Về mùa đông nhiều mái ấm gia đình có thói quen đốt than để sưởi ấm, khi đốt lênthan cháy tạo thành nhiều chất khác nhau như CO, CO 2, các mẫu sản phẩm khác củanitơ, lưu huỳnh … Trong các chất đó thì CO là chất chính gây ra hiện tượng ngộđộc khí than. CO là chất khí không màu không mùi nên rất khó phất hiện nó. Vìsao khí than lại làm người ta bị độc ? Đó là do CO dễ phối hợp với hemoglobin cómặt trong hồng cầu của máu, khi vào máu CO bám chặt lấy hồng cầu làm mấtkhả năng phối hợp giữa hồng cầu với oxi, làm giảm năng lực luân chuyển oxi tớicác tế bào. Nếu quy trình hít thở phải khí CO kéo dài thì hoàn toàn có thể gây thiếu oxi, cóthể gây tử trận. CO là một khí độc ! Hiện tượng ngộ độc tại sao thường xảy ra vào mùa đông ? Quá trình hìnhthanh khí than là do trong quy trình đốt than lượng cacbon trong than khôngđựơc phân phối đủ oxi ( 2C + O2 → 2CO ) Nếu được cung ứng đủ oxi thì cácbontrong than chuyển hóa thành CO2 không độc. Vào mùa đông nhiều nhà thườngđóng kín cửa và việc sử dụng than để nấu, để sưởi thường nhiều hơn, vì vậy ngộđộc khí than cũng nhiều hơn các mùa khác. Làm thế nào để tránh được hiện tượng ngộ độc khí than ? Có người cho rằng đặt một chậu nước ở gần, phía trên nhà bếp than hoàn toàn có thể khửđộc được. Liệu điều này có đúng không ? Điều đó là không có cơ sở vì CO làchất khí rất ít tan trong nước, nước không hề hấp thụ được khí CO. Muốn tránhbị ngộ độc khí than, khi sử dụng nhà bếp than cần mở ống thoát ở trên, của lò bêndưới để bảo vệ phân phối đủ oxi và phải bảo vệ trong nhà luôn thoáng gió. Tuyệt đối không dùng nhà bếp than để sưởi và ủ nhà bếp trong phòng kín. Trong nội dung kỹ năng và kiến thức này giáo viên cũng hoàn toàn có thể cho học viên biếtthêm về hiện tượng người chết khi xuống giếng sâu, nhất là những giếng bỏhoang lâu ngày. Giếng sâu ở một số ít vùng thường có nhiều khí độc, trong số các khí đó làCO, CH4 và thiếu oxi, giếng để hoang lâu ngày thì lượng khí độc càng nhiều, khixuống giếng hoàn toàn có thể bị chết ngạt do thiếu dưỡng khí, thế cho nên vì một lí do nào đóphải xuống giếng hoặc hoành tráng sâu, trước khi xuống cần thử xem trong đó cónhiều khí độc hay không, nếu có thì phải tìm cách để giảm lượng khí độc, sau đómới được xuống. * Sau khi học bài 21 – Sự ăn mòn sắt kẽm kim loại và bảo vệ sắt kẽm kim loại không bị ăn mòn. Giáo viên đặt câu hỏi – Sau một ngày lao động, công nhân phải lau chùicác thiết bị máy móc …, nông dân phải rửa dụng cụ lao động. Việc làm nàynhằm mục tiêu gì ? Giải thích : Việc làm này nhằm mục đích mục tiêu làm sạch mặt phẳng của sắt kẽm kim loại, không cho sắt kẽm kim loại tiếp xúc với các axit, muối có trong bùn, đất, bụi … Để vận dụng kỹ năng và kiến thức sự ăn mòn sắt kẽm kim loại trong tự nhiên phụ thuộc vào vàothành phần của sắt kẽm kim loại. Giáo viên cho học viên vấn đáp bài tập sau : Dây thép phơi quần áo bị đứt, người thì bảo nối bằng đoạn dây đồng, người thì bảo nên nối lại bằng sợi dây thép. Theo em nên nối lại bằng đoạn dâykim loại nào để chỗ nối được vững chắc hơn ? Giải thích cho câu vấn đáp. Trả lời : Nên nối lại bằng sợi dây sắt kẽm kim loại cùng chất, ở đây nên dùng đoạndây thép. Việc làm này nhằm mục đích tạo ra sắt kẽm kim loại tinh khiết, hạn chế được vận tốc ănmòn của sắt kẽm kim loại. * Câu hỏi sau hoàn toàn có thể dùng khi học viên khi tìm hiểu và khám phá bài 53 – Protein. Tại sao không nên dùng nước nóng để giặt quần áo bị dính vết máu ? Giải thích : Trong máu thành phần chính là huyết tương, trong huyết tươngngoài nước và muối ra thành phần đa phần còn lại là protein. Nếu dùng nướcnóng để giặt sẽ khiến cho protein đông kết lại, trở thành chất không hề hòa tantrong nước, đồng thời bám chặt vào mặt phẳng sợi vải không dễ gì tẩy sạch được. Vìvậy nếu quần áo bị dính máu nên dùng nước lạnh để giặt, thì vết máu nhanhchóng sẽ bị vô hiệu. 2.3.3. Sử dụng kỹ năng và kiến thức thực tế để chuẩn bị sẵn sàng bài mới. Đối với học viên khi đã được làm quen ví bộ môn, hầu hết các giáoviên thường thiết lập sự quan hệ giữa bài cũ và bài mới trải qua việc kiểm trabài cũ. Tuy nhiên để chuẩn bị sẵn sàng tốt cho bài học kinh nghiệm mới, giáo viên cũng hoàn toàn có thể cho họcsinh tìm hiểu và khám phá các hiện tượng thực tế ở địa phương hoặc các hiện tượng được biếtqua các thông tin khác. Ví dụ : Trước khi học bài Axitcacbonic và muối cacbonat. Giáo viên chohọc sinh tìm hiểu và khám phá về một số ít nội dung. Vì sao ấm nấu nước nhiều mái ấm gia đình, ởnhiều nơi thường có lớp cặn ở đáy ấm ? Để làm mất lớp cặn này người ta thườngphải làm gì ? Đây là mẹo vặt các em hoàn toàn có thể đã biết, việc giải thích vì sao làm nhưvậy sẽ được biết khi khám phá về muối cacbonat. Giáo viên cũng hoàn toàn có thể nhu yếu học viên tìm hiểu và khám phá về hiện tượng tạo thànhthạch nhũ trong các hang động, bằng cách cho các em quan sát cảnh đẹp trongmột hang động nào đó ( dùng máy chiếu hoặc tranh vẽ ) nhu yếu đặt ra là tìmhiểu nguyên do tạo ra các cảnh đẹp kì thú đó. 10T rong quy trình khám phá học viên biết được đây là hiện tượng thường gặptrong các hang động, núi đá vôi. Quá trình hình thành nên những hình dạng, kìthú đó là do vạn vật thiên nhiên xây đắp dựa trên các quy trình đổi khác hóa học. Đó là tác dụng lâu bền hơn của sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai muốiCa ( HCO3 ) 2 và CaCO3. Thành phần chính của đá vôi là CaCO 3. Khi gặp nướcmưa và khí CO2 trong không khí CaCO3 chuyển hóa thành Ca ( HCO3 ) 2 tan trongnước, chảy qua khe đá vào trong hang động. Dần dần Ca ( HCO 3 ) 2 lại chuyển hóathành CaCO3 rắn, không tan. Quá trình này xảy ra liên tục, lâu dài hơn tạo nên thạchnhũ với những hình thù khác nhau. CaCO3 + H2O + CO2 → Ca ( HCO3 ) 2C a ( HCO3 ) 2 → CaCO3 + H2O + CO2Đầu giờ học giáo viên cho học viên báo cáo giải trình lại hiệu quả hiệu quả khám phá, nhận xét và đáp án đúng chuẩn của câu vấn đáp tất cả chúng ta sẽ được biết trong bài họcngày thời điểm ngày hôm nay. Bằng cách đó giáo viên đã tạo được sự háo hức vào bài mới tìmhiểu kiến thức và kỹ năng mới cho học trò. Việc giao trách nhiệm tìm hiểu và khám phá trước nội đung bài học kinh nghiệm như vậy sẽ tạo được ýthức tự giác, dữ thế chủ động hơn cho học viên so với việc tất cả chúng ta chỉ giao trách nhiệm, các em về nhà đọc trước bài … Việc học viên có chuẩn bị sẵn sàng trước bài mới ở nhà, sẽthuận lợi hơn rất nhiều cho giáo viên khi tất cả chúng ta thực thi giảng bài mới chohọc sinh. * Trước khi học bài rượu etylic. Giáo viên cũng hoàn toàn có thể cho học viên chuẩnbị bài ở nhà bằng cách khám phá một số ít nội dung sau : – Ở địa phương em người ta thường nấu rượu bằng nguyên vật liệu gì ? Emthử tìm hiểu và khám phá qui trình nấu rượu. – Trên nhãn mác của các chai rượu thường có ghi các số 35 o, 45 o … Ý nghĩacủa các số lượng đó là gì ? * Chuẩn bị cho bài phân bón hóa học, giáo viên nhu yếu học viên chuẩn bịmột số nội dung sau : – Các loại bón thường dùng là những loại phân nào ? – Tìm hiểu ứng dụng của các loại phân bón đó ? 11 * Bài protein hoàn toàn có thể cho học viên chuẩn bị sẵn sàng nội dung sau : – Khi nấu canh cua, lúc nước mở màn sôi em thấy có hiện tượng gì ? Khinấu canh trứng thì lòng trắng trứng có bị kết tủa lại không ? Để khám phá hiện tượng này học viên hoàn toàn có thể làm thí nghiệm trước ở nhà. 2.3.4. Sử dụng kỹ năng và kiến thức thực tế để củng cố, kiểm tra kỹ năng và kiến thức. Giáo viên đánh gía sự tiếp thu kiến thức và kỹ năng của học viên thường thì dựavào các câu hỏi, bài tập đơn cử, đặt câu hỏi lúc này là kĩ năng quan trọng đối vớimỗi giáo viên, câu hỏi đặt ra tương thích cũng sẽ giúp học viên tự kiểm tra đượckiến thức của mình, tự nhìn nhận mức độ hiểu bài. Việc vấn đáp các câu hỏi có liênhệ thực tế không những giúp học viên kịp thời bổ trợ kỹ năng và kiến thức còn thiếu màcòn giúp các em hiểu thâm thúy hơn về nội dung kiến thức và kỹ năng đó, nắm được bản chấtcủa yếu tố hơn và việc ghi nhớ cũng thuận tiện hơn. * Khi học xong bài – Nhiên liệu. Giáo viên hoàn toàn có thể đặt câu hỏi. Vì sao khi đốt xăng, dầu thì cháy hết sạch, còn khi đốt gỗ, than đá lại còn tro ? Đây là hiện tượng rất quen thuộc so với mỗi học viên, nhưng để giảithích được thì không phải dễ, bắt buộc học viên phải tư duy lại những kiến thứcđã học về thành phần của các chất trên và sự cháy của chúng. Giải thích : Bởi vì so với gỗ và than đá thì xăng và dầu có độ thuần khiếtcao hơn. Khi đốt xăng và cồn chúng sẽ cháy trọn vẹn tạo thành CO 2 và hơinước, tổng thể sẽ bay vào không khí. Xăng, dầu tuy là hỗn hợp của nhiềuhidrocacbon, nhưng chúng đều là những chất dễ cháy. Vì vậy mặc dầu ở trạng tháihỗn hợp thì chúng cũng cháy hết. Với than đá và gỗ thì lại khác. Thành phần chính của than là cacbon, củagỗ là xenlulozơ, ngoài các thành phần chính cả hai vật tư đều còn có nhữngthành phần rất phức tạp, than và gỗ thường dùng còn có các khoáng vật. Cáchợp chất hữu cơ dễ cháy và hoàn toàn có thể cháy hết, các khoáng vật không cháy được. Vìvậy khi sau khi đốt cháy sẽ còn lại và tạo thành tro. Cũng ở bài nguyên vật liệu giáo viên cũng hoàn toàn có thể kiểm tra kiến thức và kỹ năng về nộidung sử dụng nguyên vật liệu như thế nào cho hiệu suất cao bằng câu hỏi – Vì sao các viên12than tổ ong được sản xuất nhiều hàng lỗ xuyên dọc viên than ? Khi nhóm bếp thanvì sao người ta thường úp thêm một ống khói cao trên miệng lò ? Giải thích : – Các viên than tổ ong được sản xuất nhiều hàng lỗ xuyên dọc viênthan nhằm mục đích làm tăng diện tiếp xúc giữa than với oxi tạo điều kiện kèm theo cho sự cháydiễn ra trọn vẹn, tiết kiệm chi phí được nguyên vật liệu. – Ứng dụng hiện tượng đối lưu, nhằm mục đích mục tiêu hút không khí vào lò làm tăngnồng độ oxi, đồng thời đẩy khói ra, nhờ đó quy trình cháy cũng diễn ra tốt hơn. * Sau bài 54 – Polime giáo viên cho học viên quan sát một nắm đất sét ẩmcó độ dẻo hoàn toàn có thể nặn và nhu yếu học viên nhận xét, vấn đáp thắc mắc : Đất sét có phải là chất dẻo hay không ? Nếu chưa hiểu kĩ về chất dẻo, học viên sẽ lúng túng trước câu vấn đáp này, có nhiều em còn nhận định và đánh giá sai cho rằng chất có tính dẻo là chất dẻo. Vì thế tuylà một bài tập vận dụng nhỏ, nhưng khắc sâu được cho học viên hiểu rằng : Không phải vật tư nào có tính dẻo cũng được gọi là chất dẻo. Thành phần củachất dẻo là polime. Tuy đất sét ẩm có tính dẻo tuy nhiên nó không phải là polime, vìvậy không phải là chất dẻo. * Sau khi khám phá đặc thù hóa học axit axetic giáo viên hoàn toàn có thể yêu cầuhọc sinh làm bài tập sau : Khi có vài giọt giấm ăn rơi vào mặt bàn bằng đá cóhiện tượng gì xảy ra ? Nếu mặt bàn làm bằng thạch cao có hiện tượng gì xảy ra ? Trước hết giáo viên nhu yếu học viên cho biết thêm mặt bàn bằng đá và mặt bàn bằngthạch cao có thành phần chính là chất nào. Dựa vào đặc thù của axit axetic đểdự đoán các hiện tượng hóa học hoàn toàn có thể xảy ra. Giải thích các hiện tượng đó. Trả lời : – Giấm ăn có chứa axit axetic, mặt bàn bằng đá có CaCO 3. Khi có vàigiọt giấm rơi vào mặt bàn, xảy ra phản ứng : CaCO3 + 2 CH3COOH → ( CH3COO ) 2C a + CO2 ↑ + H2Otại chỗ tiếp xúc có khí CO2 thoát ra làm sủi bọt. – Thạch cao là CaSO4 hay ở dạng ngậm nước là CaSO 4.2 H2O khi tiếp xúc vớiaxit axetic không có phản ứng hóa học nên không có hiện tượng gì xảy ra. 13 * Để khắc sâu kỹ năng và kiến thức về tính háo nước của axit sunfuric đặc. Giáo viêncho học viên giải thích hiện tượng sau : Tại sao khi mở nắp đậy của bình đựngaxit sunfuric đặc, dung dịch trong bình lại dâng lên ? Đây là một câu hỏi tương đối khó so với nhiều học viên lớp 9. Giáo viêncó thể gợi mở cho học viên nhớ lại một số ít kỹ năng và kiến thức có tương quan. Câu hỏi gợimở hoàn toàn có thể là : Tại sao muốn pha loãng axitsunfuric đặc, ta phải rót từ từ axit đặcvào bình đựng sẵn nước rồi khuấy đều. Làm ngược lại sẽ gây nguy khốn ? Saukhi vấn đáp thắc mắc này học viên sẽ thuận tiện vấn đáp được câu hỏi bắt đầu. Giải thích : Axit sunfuric đặc là dung dịch rất nguy khốn, nếu đổ một chút ít nước vàobình đựng H2SO4 đặc thì lập tức nước sẽ bắn tung tóe quanh miệng bình. Nếu mở nắp bình chứa H2SO4 đặc, nó sẽ không ngừng hút hơi nước trongkhông khí vì vậy thể tích dung dịch tăng lên. Do H2SO4 đặc có tính hút nước can đảm và mạnh mẽ như vậy nên H2SO4 đặc thườngđược dùng làm chất hút ẩm, vô hiệu hơi nước trong các khí. Axit H2SO4 đặc không những dễ “ nổi nóng ” mà nó còn luôn trong thực trạng “ khát nước ” nó không chỉ hút nước trong không khí mà còn hút lấy nguyên tử Hvà nguyên tử O trong các hợp chất chứa nước, cacbon như đường gỗ, vải, tế bàosống … Nếu chẳng may để H2SO4 đặc bắn lên da sẽ gây cho da bị bỏng, đây cũnglà do H2SO4 đặc có tính hút nước mạnh. Không những thế khi dây vào quần áonó sẽ làm ăn mòn vải, dây lên gỗ làm cháy gỗ. Vì vậy, khi sử dụng H2SO4 đặc tất cả chúng ta phải rất là cẩn trọng ! – Nếu chẳng may bị H2SO4 đặc tiếp xúc vào da thì phải làm gì ? Cần phải lau sạch chỗ da bị dính axit, rồi sau đó dùng dung dịch nướcxôđa loãng để rửa, vì xođa hoàn toàn có thể trung hòa được axit. Nếu không có dung dịchchất này thì cần dùng nhiều nước sạch để xối vào chỗ da bị bỏng. 2.3.5. Liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong những bài dạy về sảnxuất hóa học. Trong những nội dung kiến thức và kỹ năng về sản xuất hóa học, việc tích hợp cácphương tiện trực quan như sơ đồ, tranh vẽ với các tư liệu thực tế là rất là quantrọng, sự tích hợp như vậy sẽ làm rõ hơn các nguyên tắc chung của nền sản xuất14hóa học, các giải pháp kĩ thuật được triển khai, để làm tăng nhiệt độ, hiệu suấtcủa các phản ứng hóa học, trong các quá trình của quy trình sản xuất đơn cử. Thực tế ở các nhà trường đại trà phổ thông không có các điều kiện kèm theo để tổ chức triển khai cáchoạt động ngoại khóa, du lịch thăm quan các cơ sở sản xuất, tham gia sản xuất, để tìmhiểu về sản xuất hóa học thế cho nên các tư liệu thực tế bằng hình ảnh, sơ đồ, máychiếu là phổ cập và quan trong, ở đây là giáo viên phải làm thế nào đó, thu thậpđược nhiều tư liệu, hoàn toàn có thể khai thác, vận dụng và chuyển tải tới học viên giúphọc sinh nắm được những nhu yếu cơ bản của sản xuất hóa học. Hiện nay việc khai thác các tư liệu hoàn toàn có thể dựa trên các kênh thông tin, đặcbiệt là khai thác qua mạng internet đã và đang thông dụng cho mỗi giáo viên. Đểthành công trong tiết dạy về sản xuất hóa học cần có sự liên hệ giữa tính chấtcác chất cần sản xuất với kiến thức và kỹ năng về kĩ thuật, giúp học viên hiểu được ý nghĩacủa các giải pháp kĩ thuật được vận dụng trong ngành sản xuất đó. Viêc phối hợp giữa liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong những bàidạy về sản xuất hóa học với sơ đồ, quy mô, hình vẽ, máy chiếu … không nhữnggiúp giáo viên chuyển tải được kiến thức và kỹ năng một cách thuận tiện thuận tiện mà nó cònkích thích học viên phát huy được năng lực tư duy. Để làm đa dạng và phong phú hơn cho các bài học kinh nghiệm nội dung này, giáo viên cũng nênthường xuyên cho các em biết thêm về tư liệu khai thác các mỏ trong tự nhiên, việc bảo đảm an toàn trong sản xuất từ đó tạo được những hiểu biết cơ bản trong thực tếsản xuất. 2.3.6. Sử dụng kiến thức và kỹ năng thực tế để lồng ghép, tích hợp giáo dục môitrường trong dạy học hóa học. Vấn đề môi trường tự nhiên ô nhiễm, cách khắc phục hiện tượng này, đã và đangđược con người chăm sóc rất nhiều. Trong đời sống hàng ngày các hiện tượngthường xuyên phát hiện như : Nước thải của một ao cá, của khu chăn nuôi, khucông nghiệp, bệnh viện … toàn bộ những hoạt động giải trí sống của con người đã làm tácđộng tới môi trường tự nhiên. Dạy học hóa học là một trong những bộ môn cần phảithường xuyên lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục môi trường tự nhiên vào dạyhọc. Việc khám phá nguyên do và các giải pháp, khắc phục ô nhiễm môi15trường dựa trên cả kỹ năng và kiến thức khoa học lẫn thực tế. Có rất nhiều bài học kinh nghiệm về chất, sự đổi khác chất, ứng dụng và sản xuất có tương quan đến nội dung này, việc sửdụng kiến thức và kỹ năng thực tế để lồng ghép, tích hợp giáo dục môi trường tự nhiên trong dạy họchóa học, mang lại những hiệu quả khả quan giúp học viên hiểu rõ thực chất củavấn đề và có ý thức tốt về bảo vệ thiên nhiên và môi trường, lên án những đơn vị chức năng sản xuất, nhàmáy, khu công trình … thải chất ô nhiễm vào thiên nhiên và môi trường. Cần có giải pháp giải quyếtnạn ô nhiễm không khí, bắt buộc phải xử lí rác thải, khí thải sản sinh trong quátrình sản xuất, trước khí thải loại vào môi trường tự nhiên. Ví dụ : Sau khi học về đặc thù của SO2 học viên biết được SO2 là một trongnhững chất đa phần gây ô nhiễm môi trường tự nhiên, nó được sinh ra do sự đốt cháynhiên liệu ( than, dầu, khí đốt … ) thoát vào khí quyển. SO 2 cũng là một trongnhững khí gây mưa axit. Không khí có SO2 gây hại cho sức khỏe thể chất con người. Các nội dung của bài học kinh nghiệm về sản xuất hóa học như sản xuất vôi, sản xuấtaxit H2SO4, sản xuất gang, thép … Bằng những dẫn chứng đơn cử giáo viên chohọc sinh được biết thêm thông tin về SO2, thấy rõ được nguyên nhân hình thànhSO2 và mối đe dọa nghiêm trọng của nó. Cùng với quy trình tăng trưởng không ngừngcủa các ngành công nghiệp, hiện tượng ô nhiễm môi trường tự nhiên ngày càng ngày càng tăng. Quá trình quản lý và vận hành của động cơ, quy trình đốt cháy nguyên vật liệu xăng và dầu lànguyên nhân hầu hết gây ra ô nhiễm không khí. Qua bài nguyên vật liệu, sử dụng nguyên vật liệu phải chăng giáo viên cần cung ứng thêmtư liệu về xăng có chì và mối đe dọa của nó, thấy được việc sử dụng xăng không chìvà cải tiến động cơ đã làm giảm đáng kể số lượng và hàm lượng các độc tố cótrong khí thải của xe máy, xe hơi. Vì thế lúc bấy giờ việc sử dụng xăng không chìđã được chăm sóc và triển khai. Than đá, dầu mỏ, khí tự nhiên là những nguồnnhiên liệu thiết yếu. Tuy nhiên các nguyên vật liệu trên luôn có lẫn hợp chất chứa Shoặc N, vì thế khi cháy ngoài tạo ra CO 2 thường có lẫn các khí khác như SO 2, NO2, , CO … gây ô nhiễm môi trường tự nhiên. Mặt khác các nguồn nguyên vật liệu trên đanggần hết sạch, vì thế, người ta đang nghiên cứu và điều tra tìm nguyên vật liệu sửa chữa thay thế. 16M ột trong những hướng nghiên cứu và điều tra đó là dùng khí H2 làm nguyên vật liệu. Ưuđiểm của khí H2 là khi cháy tạo ra nước nên không gây ô nhiễm thiên nhiên và môi trường. Tuynhiên việc điều chế và dữ gìn và bảo vệ hidro lúc bấy giờ còn gặp nhiều khó khăn vất vả. * Sau khi học bài phân bón hóa học, giáo viên nhu yếu học viên vấn đáp thắc mắc : Nếu dùng quá nhiều phân đam, lân, kali … so với nhu yếu của cây sẽ gây ảnhhưởng đến thiên nhiên và môi trường như thế nào ? Trả lời : Gây ô nhiễm nặng nề nguồn nước sông hồ, nguồn nước ngầm. Hiểuđược điều đó bản thân học viên biết vận dụng vào thực tế, phố biến mọi người, cần sử dụng phân bón đúng cách, tránh được tiêu tốn lãng phí và gây hại tới môi trường tự nhiên. Đối với mỗi học viên bằng nhưng việc làm đơn cử nào để góp thêm phần bảo vệmôi trường ? Sau mỗi bài học kinh nghiệm có sử dụng đến hóa chất giáo viên cần tạo cho họcsinh có thói quen xử lí hóa chất, xử lí chất thải đúng cách. Đó cũng là góp phầnbảo vệ thiên nhiên và môi trường. Bằng những kỹ năng và kiến thức đã biết qua các bài học cụ thể, phảicăn cứ vào vào đặc thù hóa học của mỗi chất để xử lí cho tương thích. Sau đây là một bài tập nhỏ về cách sử lí khí SO2 trong phòng thí nghiệm : SO2 là khí ô nhiễm, gây ho, tránh hít thở không khí có SO2. Làm thế nào để có thểhạn chế sự lan tỏa khí SO 2 trong quy trình làm thí nghiệm. Trả lời : Hấp thụ SO2dư vào dung dịch kiềm ( NaOH, Ca ( OH ) 2 … ). Vì SO2 là một oxit axit tính năng dễdàng với kiềm tạo muối. 2.4. Hiệu quả của ý tưởng sáng tạo kinh nghiệm tay nghề so với hoạt động giải trí giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường. 2.4.1. Với hoạt động giải trí giáo dụcSau khi sử dụng các giải pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tếtrong dạy học hóa học tôi nhận thấy cách làm này, có hiệu suất cao rõ ràng. Trong lớp các em học viên sôi sục, hăng say, luôn tạo ra trường hợp gây sựtò mò, muốn khám phá, tò mò thế cho nên hấp dẫn học viên vào hoạt động học. Nhiều học viên tỏ ra yêu dấu môn học và luôn hoàn thành xong tốt nội dung mà giáoviên đưa ra. Giáo viên tổ chức triển khai hoạt động giải trí trên lớp rất nhẹ nhàng, liên hệ được nhiềukiến thức thực tế vào bài học kinh nghiệm từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng cho học viên khá, giỏi. 2.4.2. Đối với bản thân17Đầu tiên là sự đổi khác can đảm và mạnh mẽ trong công tác làm việc sẵn sàng chuẩn bị, so với mỗi bàidạy, việc soạn bài, sẵn sàng chuẩn bị giáo án cho đến khâu tổ chức triển khai tiết dạy. Nhất là khâusưu tầm các tư liệu thực tế, đã được nâng lên một bước. Việc nghiên cứu và điều tra và vận dụng thành công xuất sắc đề tài trong quy trình giảng dạy, bản thân tôi trưởng thành hơn về mặt tư duy cũng như chiêu thức dạy đồngthời có cái nhìn thâm thúy hơn về những khó khăn vất vả, vướng mắc của học viên trongquá trình học tập. Từ đó, giúp bản thân nâng cao trình độ trình độ cũng nhưnăng lực sư phạm, bồi đắp thêm kinh nghiệm tay nghề trong quy trình giảng dạy bộ môn. Trong năm học vừa mới qua, bản thân khi sử dụng các giải pháp liên hệgiải thích hiện tượng thực tế trong dạy học hóa học 9, qua tác dụng thống kê chothấy chất lượng môn hóa đã có sự tân tiến rõ ràng. Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm như sau : Tỷ lệLớp9A9BSĩ sốGiỏiSL45144010Kết quả khảo sátKhá3125choTrung bìnhYếu – KémSLSLSL1635, 61226,76,717,5184512,5 thấy chất lượng còn thấp, chưa cung ứng được yêucấu của trường chất lượng cao, vẫn còn học viên yếu kém. Kết quả khảo sát chất lượng học kì như sau : Tỷ lệLớp9A9BTrung bìnhYếu – KémSLSLSLSL452044, 41737,817,8401537,512301332,5 Kết quả khảo sát cho thấy tỷ suất học viên khá, giỏi cao hơn. Không còn họcSĩ sốGiỏiKhásinh yếu kém. 2.4.3. Đối với đồng nghiệp và nhà trườngTôi kỳ vọng đề tài này sẽ là một tài liệu có ích cho các đồng nghiệptrong quy trình giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học trongnhà trường. 3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ3. 1. Kết luận18Sử dụng các giải pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong dạyhọc hóa học là một phương hướng dạy học tích cực, giáo viên cần tăng cường sửdụng bài tập, giúp học viên vận dụng kiến thức hóa học để xử lý những vấnđề thực tiễn có tương quan. Tiện ích của liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong giảng dạy hóahọc là : – Làm cho người dạy dễ truyền đạt kiến thức và kỹ năng và người học dễ tiếp thu hơn. – Có triển vọng lan rộng ra và tương thích với bộ môn, góp thêm phần nâng cao trìnhđộ cho học viên. – Làm cho học viên thương mến môn học, do thấy được mức độ quan trọngcủa hóa học trong thực tiễn, đời sống hàng ngày. Sử dụng các chiêu thức liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trong dạyhọc hóa học, có hiệu suất cao thì giáo viên cần phải lựa chọn các nội dung thích hợpvới hiểu biết của học viên thì mới gây được hứng thú mong ước. 3.2. Kiến nghị – Để sử dụng các giải pháp liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế trongdạy học hóa học đạt hiệu suất cao, mỗi giáo viên ngoài việc nghiên cứu và điều tra các tài liệu, tư liệu tìm hiểu thêm, cần phải liên tục tiếp cận với các nghành ứng dụngcủa hóa học trong thực tế. Muốn có được nguồn tư liệu đa dạng và phong phú giáo viênphải được tiếp tục du lịch thăm quan, tìm hiểu và khám phá các khu công nghiệp, sản xuất, chếbiến .. – Nhà trường cần trang thiết bị khá đầy đủ cho dạy học, nên trang bị mỗi phònghọc có một máy chiếu, màn hình hiển thị … và những thiết bị có tương quan. Những kinh nghiệm tay nghề trên xuất phát từ thực tiễn dạy học, từ việc thườngxuyên vận dụng trong các bài học cụ thể ở các lớp do tôi tiếp đón, tuy nhiênvẫn cần phải có sự điều tra và nghiên cứu sâu hơn nữa về yếu tố này. Trong quy trình vậndụng bản thân tôi cũng đã gặp không ít khó khăn vất vả, chắc như đinh không tránh khỏithiếu sót. Rất mong được các bạn đồng nghiệp bổ trợ để đề tài này hoàn toàn có thể đượcáp dụng thực tế tốt hơn. Xác nhận của thủ trưởng đơn vịTrường Thi, ngày 02 tháng 4 năm2020Tôi xin cam kết đây là SKKN củamình viết, không sao chép nội dungcủa người khác. Người viếtTrần Thị Hiển1920

Source: https://evbn.org
Category: Góc Nhìn