Kinh tế Việt Nam năm 2018: “Bứt tốc thần kỳ”

Ảnh minh họa. Nguồn : Internet .

Kinh tế Việt Nam năm 2018: “Bứt tốc thần kỳ”

Cải thiện tích cực chất lượng tăng trưởng và hiệu quả kinh tế

Với mức tăng trưởng kinh tế đạt 7,08% trong năm 2018 cho thấy, hình thái chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam tiếp tục đúng hướng và không có biến động mạnh. Tăng trưởng kinh tế dần chuyển dịch theo chiều sâu, tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp trong tăng trưởng GDP năm 2018 đạt 43,5% (bình quân giai đoạn 2016-2018 đạt 43,3%), cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,6% của giai đoạn 2011-2015. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện/GDP năm 2018 đạt 33,5%, đảm bảo mục tiêu Quốc hội đề ra từ 33-34%. Bên cạnh đó, năng suất lao động của Việt Nam cũng có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng đều qua các năm và trở thành quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN. Năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD), tăng 346 USD so với năm 2017. Tính theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017 (bình quân giai đoạn 2016-2018, năng suất lao động tăng 5,75%/năm), cao hơn mức tăng 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015.

Hiệu quả sử dụng vốn góp vốn đầu tư bộc lộ qua chỉ số ICOR từng bước được cải tổ, từ mức 6,42 năm năm nay giảm xuống còn 6,11 năm 2017 và ước tính năm 2018 là 5,97 ( trung bình quy trình tiến độ năm nay – 2018, thông số ICOR ở mức 6,17, thấp hơn mức 6,25 của tiến trình 2011 – năm ngoái ). Quy mô nền kinh tế tài chính ngày càng được lan rộng ra nhờ duy trì vận tốc tăng trưởng khá. GDP theo giá hiện hành năm 2018 đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng, gấp 2 lần so với quy mô GDP năm 2011. GDP trung bình đầu người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng ( tương tự 2.587 USD ), tăng 198 USD so với năm 2017 .
Năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy hải sản chiếm tỷ trọng 14,57 % GDP ; khu vực công nghiệp và thiết kế xây dựng chiếm 34,28 % ; khu vực dịch vụ chiếm 41,17 % ; thuế mẫu sản phẩm trừ trợ cấp loại sản phẩm chiếm 9,98 %. Cụ thể, sự chuyển biến can đảm và mạnh mẽ trong cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính là điểm nhấn tích cực trong năm 2018, góp phần 0,65 điểm Phần Trăm vào giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế tài chính ( nông nghiệp và thủy hải sản lần lượt góp phần 0,37 và 0,23 điểm Tỷ Lệ ), qua đó, góp thêm phần tăng hiệu suất lao động và rút ngắn khoảng cách hiệu suất với khu vực công nghiệp. Các yếu tố chính tạo nên sự tăng trưởng này là nhờ vào hiệu ứng từ sự chuyển dời cơ cấu tổ chức ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị ngày càng tăng, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến và lan rộng ra thị trường xuất khẩu .
Kinh tế Việt Nam năm 2018: "Bứt tốc thần kỳ" - Ảnh 1
Ở khu vực công nghiệp, động lực tăng trưởng chính là ngành Chế biến, sản xuất liên tục trở thành điểm sáng với mức tăng trưởng 12,9 %, góp phần 2,55 điểm Phần Trăm vào vận tốc tăng trưởng GDP cả nước .
Năm 2018, thặng dư thương mại của Việt Nam đạt 7,2 tỷ USD, điều này cho thấy, năng lượng tận dụng thời cơ từ hội nhập khá tốt và góp thêm phần đưa xuất khẩu trở thành động lực quan trọng trong tăng trưởng GDP. Cụ thể, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu cao gấp gần 2 lần GDP cả nước, trong đó, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm & hàng hóa ước đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8 % so với năm 2017. Xuất khẩu của khu vực có vốn góp vốn đầu tư trực tiếp quốc tế ( FDI ) ( kể cả dầu thô ) đạt 175,5 tỷ USD, chiếm 71,7 % tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 14 % so với năm 2017 .
Cơ cấu mẫu sản phẩm và thị trường xuất khẩu về cơ bản không có nhiều biến hóa. Tuy nhiên, sự tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu của các loại sản phẩm chế biến, sản xuất thuộc nhóm công nghệ tiên tiến như : Điện thoại và linh phụ kiện ( 46,1 tỷ USD ), điện tử, máy tính và linh phụ kiện ( 27 tỷ USD ), máy móc thiết bị phụ tùng ( 15,1 tỷ USD ) cũng như tăng trưởng xuất khẩu cao của một số ít hàng nông sản truyền thống lịch sử là tín hiệu tốt, năng lực cạnh tranh đối đầu xuất khẩu liên tục được giữ vững và không còn nhờ vào vào xuất khẩu tài nguyên, nhất là dầu thô ( chỉ đạt 2,1 tỷ USD ). Trong năm 2018, các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam vẫn là Hoa Kỳ ( 43,7 tỷ USD ), Liên minh châu Âu – EU ( 38,2 tỷ USD ), Trung Quốc ( 38,1 tỷ USD ), ASEAN ( 22,3 tỷ USD ), Nhật Bản ( 17,1 tỷ USD ) và Nước Hàn ( 16,9 tỷ USD ). Việt Nam liên tục nhập siêu từ các nước trong khu vực Đông Á và duy trì xuất siêu so với thị trường Hoa Kỳ và EU .
Tăng trưởng các ngành đã góp thêm phần đẩy nhanh chuyển dời cơ cấu tổ chức lao động, trong đó lao động khu vực nông lâm, thủy hải sản giảm còn 38,5 %, tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp – thiết kế xây dựng đạt 26 % và khu vực dịch vụ là 35,3 %. Tỷ lệ thất nghiệp còn 2,2 %, giảm nhẹ so với năm 2017, khu vực thành thị tỷ suất này là 3,09 %, khu vực nông thôn là 1,75 % .
Trong cơ cấu tổ chức góp vốn đầu tư, khu vực ngoài nhà nước chiếm 42,5 %, khu vực FDI chiếm 23,9 % và khu vực nhà nước là 33,6 %. Số doanh nghiệp ( Doanh Nghiệp ) ĐK xây dựng mới năm 2018, đa phần là Doanh Nghiệp ngoài nhà nước với 131,3 nghìn Doanh Nghiệp, tổng vốn đạt 1.478,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5 % về số lượng và 14,1 % về số vốn ĐK so với năm 2017. Vốn ĐK trung bình, trung bình đạt 11,3 tỷ đồng / DN. Đầu tư của khu vực ngoài nhà nước có chuyển biến tích cực theo hướng tăng trưởng dài hạn, bộc lộ qua việc nhiều Doanh Nghiệp tư nhân quy mô lớn thực thi kế hoạch góp vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp và dịch vụ tập trung chuyên sâu vốn và công nghệ tiên tiến, nông nghiệp công nghệ cao. Khu vực này ngày càng thích nghi với môi trường tự nhiên kinh doanh thương mại chưa thực sự thuận tiện cho ứng dụng công nghệ tiên tiến và thay đổi .
Thu hút FDI năm 2018 đạt trên 35,46 tỷ USD. Với gần 50% vốn tăng thêm, góp vốn, mua CP đã biểu lộ các nhà đầu tư có kế hoạch kinh doanh thương mại dài hạn hơn, tin cậy vào tương lai, một mặt đến từ môi trường tự nhiên góp vốn đầu tư có nhiều cải tổ, mặt khác nhờ các cam kết hội nhập của Việt Nam. Vốn FDI triển khai năm 2018 đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1 % so với cùng kỳ năm 2017, nguồn vốn này đã góp phần trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế tài chính .
Về cơ cấu tổ chức lôi cuốn FDI, công nghiệp chế biến, sản xuất vẫn đứng vị trí số 1 với tổng số vốn ĐK mới đạt 16,58 tỷ USD, chiếm 46,7 % tổng vốn FDI ĐK mới. Lĩnh vực kinh doanh thương mại bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn góp vốn đầu tư đạt gần 6,6 tỷ USD, chiếm tới 18,6 %. Về đối tác chiến lược góp vốn đầu tư, Nhật Bản đứng thứ nhất với tổng vốn ĐK là 8,6 tỷ USD ( chiếm 36 % ) ; Nước Hàn đứng thứ hai với 7,2 tỷ USD ( chiếm 28,9 % ) ; Nước Singapore với 5 tỷ USD ( chiếm 18,7 % ) ; Trung Quốc đạt gần 1 tỷ USD. ..
Kinh tế Việt Nam năm 2018: "Bứt tốc thần kỳ" - Ảnh 2
Mặc dù, tại 1 số ít thời gian Open quan ngại về rủi ro đáng tiếc lạm phát kinh tế nhưng trung bình cả năm lạm phát kinh tế chỉ tăng 3,54 %, dưới tiềm năng Quốc hội đề ra. Kết quả này đạt được là nhờ quản lý chủ trương tài khóa liên tục linh động, thận trọng, có sự phối hợp ngặt nghèo với chủ trương tiền tệ để bảo vệ không thay đổi kinh tế tài chính vĩ mô và tiềm năng tăng trưởng .
Kinh tế Việt Nam năm 2018: "Bứt tốc thần kỳ" - Ảnh 3

Những hạn chế của nền kinh tế

Bức tranh kinh tế tài chính Việt Nam năm 2018 có nhiều điểm sáng, hầu hết chỉ tiêu đặt ra cơ bản đã đạt được, nền kinh tế tài chính đang hội nhập tốt và tận dụng được nhiều thời cơ cho tăng trưởng nhưng vẫn còn một số ít yếu tố cần chăm sóc, đó là :
Trước hết, động lực tăng trưởng kinh tế tài chính đa phần là từ khu vực chế biến, sản xuất, tập trung chuyên sâu ở một số ít ngành lợi thế thuộc khu vực FDI, giá trị ngày càng tăng còn thấp, điều này cho thấy, chất lượng tăng trưởng có cải tổ nhưng còn chậm. Chuyển dịch cơ cấu tổ chức giữa các ngành và trong nội ngành vẫn chậm, các ngành mới, ứng dụng công nghệ 4.0 đã Open nhưng chưa đủ mạnh để tạo nên sự đổi khác về cơ cấu tổ chức mẫu sản phẩm và cơ cấu tổ chức ngành .
Hoạt động thương mại liên tục lan rộng ra nhưng xuất khẩu cả về cơ cấu tổ chức giá trị lẫn loại sản phẩm và thị trường chưa có nhiều chuyển biến. Xuất khẩu tăng nhưng trên 70 % vẫn đến từ khu vực FDI, mẫu sản phẩm xuất khẩu nòng cốt vẫn là những loại sản phẩm truyền thống lịch sử. Việt Nam chưa khai thác được tiềm năng từ thị trường ASEAN và Trung Quốc .

Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện mạnh mẽ và triển vọng thị trường là những động lực chính thúc đẩy số DN đăng ký mới trong năm 2018 tiếp tục tăng, nhưng trên 40% số DN đăng ký mới hoạt động thương mại, chủ yếu là bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy. Các ngành có số DN đăng ký tăng nhanh là kinh doanh bất động sản (tăng 42%), trong khi các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ quan trọng như chế biến, chế tạo tăng chậm (tăng 0,6%); khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn (tăng 6,6%), giáo dục và đào tạo (tăng 12%); thậm chí một số lĩnh vực còn giảm như thông tin truyền thông (giảm 3,7%) và nông, lâm, thủy sản (giảm 5,5%). 

Theo thông tin tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2018, trong số 140 nền kinh tế tài chính thì vận tốc tăng trưởng các Doanh Nghiệp phát minh sáng tạo của Việt Nam còn thấp. Điều này phần nào phản ánh môi trường tự nhiên kinh doanh thương mại hiện tại chưa tạo động lực cho khởi nghiệp và ngành công nghệ tiên tiến số : Hạ tầng thông tin xếp thứ 95, kiến thức và kỹ năng của người đã qua giảng dạy chỉ xếp thứ 128, sự thuận tiện trong tìm kiếm lao động có kỹ năng và kiến thức xếp thứ 104, chất lượng giảng dạy nghề xếp thứ 115, quyền sở hữu trí tuệ ( 105 ), pháp luật về chuẩn báo cáo giải trình và truy thuế kiểm toán ( 128 ) .
Báo cáo năng lượng cạnh tranh đối đầu toàn thế giới năm 2018 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới nhìn nhận, các chỉ số đóng vai trò quyết định hành động đến năng lượng cạnh tranh đối đầu của nền kinh tế tài chính trong toàn cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam đạt thấp : Năng lực thay đổi phát minh sáng tạo đạt 33/100 điểm ; thị trường lao động đạt 56/100 điểm ; thể chế đạt 50/100 điểm ; năng lực tiếp cận công nghệ tiên tiến đạt 43/100 điểm ; kiến thức và kỹ năng lao động đạt 54/100 điểm ; hạ tầng đạt 65/100 điểm ; mạng lưới hệ thống kinh tế tài chính đạt 62/100 điểm ; năng động của Doanh Nghiệp đạt 54/100 điểm ; thị trường mẫu sản phẩm đạt 52/100 điểm .
Những hạn chế nội tại của nền kinh tế tài chính đã tác động ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch và chất lượng kinh doanh thương mại của khu vực Doanh Nghiệp trong nước, ảnh hưởng tác động nhất định đến vận tốc tăng trưởng của kinh tế tài chính .
Kinh tế Việt Nam năm 2018: "Bứt tốc thần kỳ" - Ảnh 4

Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2019

Kinh tế quốc tế năm 2019 được dự báo sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro đáng tiếc, khuynh hướng hạn chế thương mại, leo thang căng thẳng mệt mỏi thương mại giữa các nền kinh tế tài chính lớn, thông thường hóa chủ trương tiền tệ ở các nước lớn đã và sẽ làm giảm đáng kể tổng cầu nói chung và nhu yếu thương mại sản phẩm & hàng hóa … Trên cơ sở đó, Quỹ Tiền tệ quốc tế ( IMF ) đã kiểm soát và điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế tài chính toàn thế giới năm 2019 xuống còn 3,7 % .
Mặc dù vậy, các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam được dự báo vẫn tăng trưởng khá trong năm 2019, các thị trường lớn như : Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, ASEAN liên tục mang lại tín hiệu tích cực cho Việt Nam. Hội nhập kinh tế tài chính quốc tế của Việt Nam chuyển sang quá trình mới, kết nối ngặt nghèo với nền kinh tế tài chính khu vực và toàn thế giới, lưu lại thời gian nước ta triển khai xong lộ trình cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và cắt giảm thuế quan theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN, mở màn thực thi các cam kết Hiệp định thương mại tự do ( FTA ) với mức độ cắt giảm sâu rộng. Những thỏa thuận hợp tác FTA này tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế tài chính Việt Nam với độ mở cao của nền kinh tế tài chính, đồng thời tăng cường thời cơ lôi cuốn và tận dụng dòng vốn FDI trong năm 2019 và những năm tiếp theo .
Kinh tế tư nhân tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ sẽ là nền tảng quan trọng góp phần rất lớn cho kinh tế tài chính Việt Nam. Làn sóng khởi nghiệp hình thành đã kêu gọi được nguồn vốn cho nền kinh tế tài chính. Năm 2018 có hơn 131 nghìn Doanh Nghiệp xây dựng mới, nếu tính chung cả vốn ĐK mới và vốn ĐK tăng thêm thì ước tính các Doanh Nghiệp bổ trợ cho nền kinh tế tài chính gần 3,9 triệu tỷ đồng .
Chuyển đổi cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính không riêng gì diễn ra giữa các ngành kinh tế tài chính mà còn có xu thế quy đổi tích cực trong nội bộ ngành sẽ góp thêm phần thôi thúc tăng trưởng kinh tế tài chính cả về vận tốc và chất lượng trong thời hạn tới. Dự kiến, năm 2019, bên cạnh hơn 3 triệu mét vuông sàn kiến thiết xây dựng nhà ở và TT thương mại, nhiều dự án Bất Động Sản, khu công trình lớn sẽ đi vào sản xuất kinh doanh thương mại như : Tổ hợp Nhà máy Vinfast tại Hải Phòng Đất Cảng với hiệu suất 250 nghìn xe / năm ; Dự án góp vốn đầu tư khu công trình Nhà máy điện sông Hậu tỉnh Hậu Giang có hiệu suất 1200 MW ; Dự án BOT Bắc Giang – Thành Phố Lạng Sơn với chiều dài 63,9 km ; khu công trình đường cao tốc La Sơn – Túy Loan tại Thừa Thiên – Huế với chiều dài 78 km …
nhà nước cũng đang thiết kế xây dựng Chiến lược vương quốc về Cách mạng công nghiệp 4.0 đến năm 2020, tầm nhìn 2030, trong đó hướng tới thiết kế xây dựng hệ sinh thái thay đổi phát minh sáng tạo, huấn luyện và đào tạo nhân lực, thiết kế xây dựng hạ tầng số tạo thuận tiện cho khởi nghiệp, ứng dụng và thay đổi công nghệ tiên tiến của khu vực Doanh Nghiệp trong nước, bảo vệ bảo đảm an toàn mạng, khuyến khích các quy mô kinh doanh thương mại mới …
Với toàn cảnh như vậy, dự báo năm 2019, triển vọng kinh tế tài chính Việt Nam liên tục có những chuyển biến tích cực. Tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã trải qua Nghị quyết tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội năm 2019 với các chỉ tiêu : Tốc độ tăng GDP từ 6,6 – 6,8 %, lạm phát kinh tế ở mức 4 %, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 7 – 8 % và tỷ suất nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3 % .
Ngân hàng Thế giới dự báo, tăng trưởng kinh tế tài chính của Việt Nam năm 2019 và 2020 sẽ đạt mức lần lượt là 6,6 % và 6,5 %, lạm phát kinh tế duy trì ở mức 4 %, trong khi đó vào tháng 10/2018, IMF dự báo, Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng GDP 6,5 % trong năm 2019 .
Để đạt được các chỉ tiêu này yên cầu sự quyết tâm và nỗ lực triển khai xong thể chế, tăng cường tái cơ cấu tổ chức nền kinh tế tài chính gắn với thay đổi quy mô tăng trưởng, cải tổ thiên nhiên và môi trường góp vốn đầu tư và kinh doanh thương mại và thực thi các cam kết hội nhập của nhà nước, cũng như liên tục đàm phán / phê chuẩn 1 số ít FTA mới như : Hiệp định Đối tác tổng lực khu vực, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU, qua đó tạo dựng lòng tin và lôi cuốn sự chăm sóc nhiều hơn nữa của các nhà đầu tư trong và ngoài nước .

Tài liệu tham khảo:

1. Quỹ Tiền tệ quốc tế – IMF ( tháng 10/2018 ) : Dự báo kinh tế tài chính toàn thế giới 2018 và triển vọng 2019 ;

2. Tổng cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội 12 tháng năm 2018;

3. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê các năm năm nay – 2017 ;
4. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế tài chính Trung ương : Báo cáo kinh tế tài chính vĩ mô quý III / 2018, Chương trình tương hỗ Austrialia về tương hỗ cải cách kinh tế tài chính Việt Nam ;
5. World Bank : World Bank East Asia and Pacific Economic Update, October 2018 : Navigating Uncertainty .

Source: https://evbn.org
Category: Địa Danh