Chùa Bổ Đà – Wikipedia tiếng Việt
Chùa Bổ Đà, còn được gọi là chùa Bổ, chùa Tam Giáo[1], chùa có tên chữ là Tứ Ân tự (四恩寺). Chùa toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), bờ tả dòng sông Cầu, thuộc địa phận thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (thời phong kiến là xã Tiên Lát, tổng Tiên Lát, huyện Yên Việt, phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc xưa). Chùa nằm cách trung tâm thị trấn Bích Động khoảng 10 km về phía Tây, Chùa Bổ Đà là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất vùng đất Kinh Bắc, là trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Chùa đã được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2016 và bộ kinh phật khắc trên gỗ thị lưu giữ trong chùa được đánh giá là cổ nhất của dòng thiền Lâm Tế,…
Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống cuội nguồn Việt cổ. Chùa có kiến trúc độc lạ và độc lạ so với những ngôi chùa truyền thống lịch sử ở miền Bắc Nước Ta, vườn tháp đẹp và lớn nhất Nước Ta, nhiều cổ vật có giá trị và kho tàng di sản Hán – Nôm nhiều mẫu mã. Đây cũng là nơi sơn thủy giao hòa, nhìn sông tựa núi, cảnh sắc, khoảng trống nhuốm màu lịch sử một thời, xung quanh là đồi núi xóm làng bảo phủ. Chùa thờ Tam giáo, trong đó có Quán Thế Âm Bồ Tát, Trúc Lâm Tam tổ ( gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang ), Khổng Tử … Các cuốn sách bằng tre, đá để lại vẫn lưu truyền đào tạo và giảng dạy những người gia nhập phái Lâm Tế ( Sơn Môn Bồ Đà ) theo phong tục cũ. Quần thể chùa Bổ Đà là một tập hợp di tích gồm : chùa cổ có tên là Bổ Đà sơn ( gọi tắt là chùa Bổ Đà, chùa Bổ ; còn gọi là chùa Quán Âm ), chùa chính Tứ Ân, Am Tam Đức ( thiết kế xây dựng sau, vào thời Hậu Lê ). Ngoài ra trên núi Bổ Đà còn có đền thờ Thạch tướng quân ( tức Thạch Tướng Đại Vương – có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm ). [ 2 ] [ 3 ] [ 4 ] [ 5 ]
Trụ trì hiện nay của nhà chùa là Đại đức Thích Tục Vinh (thế danh: Trương Lý Vinh), Ủy viên Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bắc Giang nhiệm kỳ V (2017-2022).[6][7]
Mục Lục
Sự tích về ông tiều phu[sửa|sửa mã nguồn]
Câu chuyện truyền thuyết về sự ra đời của chùa Bổ Đà mang nhiều huyền bí. Tương truyền, vào khoảng thế kỷ thứ XI, dưới chân núi có một gia đình tiều phu tuy nghèo nhưng rất tốt bụng, chăm chỉ hiền lành, dân trong làng ai cũng quý mến. Hiềm một nỗi đã ngoài 40 tuổi mà họ vẫn chưa có con. Một hôm người chồng vác búa cắp rìu lên núi kiếm củi bỗng gặp một gốc cây thông già, mỗi nhát bổ ông lại niệm: “Quan thế âm Phật”. Sau đó được 32 đồng tiền ở gốc cây, tự lấy làm lạ bèn đến vị cao tăng hỏi thì cao tăng bảo rằng: “Đức phật quan âm có 32 điều ứng”. Người tiều phu khấn cầu rằng: “Nhược bằng đức Phật quan âm phù hộ cho tôi sinh con trai, tôi xin dựng chùa thờ”. Quả nhiên sau đó người tiều phu có con trai thực, rồi dành dụm được ít tiền bèn dựng một ngôi chùa ngay gốc cây thông già, lợp gianh và tô một pho tượng Quan âm Tống Tử để hương khói phụng thờ. Sau dần dần nhiều người qua lại lễ bái, cầu việc gì cũng đều biến ứng, bèn trở nên nơi danh lam thắng cảnh, vì thế gọi tên là chùa ông Bổ. Vì là chùa thờ vị Phật Đà (Bụt Đà, có nguồn gốc từ chữ Buddha) đã ứng hiện giúp ông tiều phu (ông bổ củi) nên gọi là chùa Bổ Đà. Cũng có cách giải thích khác rằng, Bổ Đà là cách gọi chệch từ Phổ Đà – có nguồn gốc từ chữ Phật Đà. Đây là nơi đức Quán Âm Bồ Tát ứng hiện cứu đời nên còn được gọi là chùa Quán Âm. Sau này,chùa bao gồm cả chùa Tứ Ân, nên nó còn có tên Tứ Ân tự (tên gọi của chùa chính được gọi cho cả quần thể chùa bao gồm chùa Tứ Ân, chùa Quán Âm, chùa Cao…).[5][8]
Bạn đang đọc: Chùa Bổ Đà – Wikipedia tiếng Việt
Các di tích Phật giáo[sửa|sửa mã nguồn]
Các di tích dân gian địa phương[sửa|sửa mã nguồn]
| Tên gọi | Tên khác | Xây dựng | Trùng tu | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| Đền Thượng | Đền thờ Thạch tướng quân | Đền được xây trên đỉnh núi là nơi Thạch tướng quân hóa về trời sau khi giúp vua đánh giặc. Đền là một trong hai đền thờ Thạch tướng quân trên núi Bổ Đà (một đền khác là đền Trung ở lưng chừng núi).[9] | ||
| Ao Miếu | Là nơi sinh ra Thạch tướng quân từ hòn đá mẹ trong ao. Di tích này gồm miếu thờ Thạch tướng quân, đền Hạ thờ thần đá (đá mẹ và Thạch tướng quân), nhà mẫu thờ cha mẹ nuôi của Thạch tướng.[9] |
Sách Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí có ghi: Núi Bổ Đà là ngọn núi bậc nhất của huyện Việt Yên. Bắt đầu từ Thái Nguyên qua Yên Thế mà lại. Nhiều ngọn liên tiếp quây quần, bỗng nổi lên núi Bổ Đà, vừa cao vừa to. Trong đó lại gọi riêng ngọn núi cao nhất là núi Phượng Hoàng. Những ngọn thấp hơn một chút là núi Yên Ngự, núi Kim Quy. Núi có chùa Tam Giáo, có miếu Thạch tướng quân.[1]
Dấu vết vật chất và thư tịch còn lại ở chùa cho biết Chùa có từ thời nhà Lý thế kỷ 11 và được thiết kế xây dựng lại vào thời Lê Trung hưng, dưới triều vua Lê Dụ Tông ( 1705 – 1728 ) .
Di sản điển hình nổi bật[sửa|sửa mã nguồn]
Chùa Bổ Đà là một trong những TT Phật giáo lớn của dòng thiền phái Trúc Lâm, là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống cuội nguồn Việt cổ. Hiện chùa Bổ Đà còn nhiều tài liệu, hiện vật, cổ vật quý có giá trị lớn về mặt văn hóa truyền thống, lịch sử dân tộc, kiến trúc và mỹ thuật. Đặc biệt là Mộc bản kinh Phật cổ nhất Nước Ta được khắc trên gỗ thị. Gần đây người ta phát hiện thấy một di vật rất mê hoặc của nhà văn Nguyên Hồng tại chùa, đó là một bản chép tay những quy định của nhà chùa hồi ông trốn đời đi tu .
Trung tâm Phật giáo lớn của thiền phái Trúc Lâm[sửa|sửa mã nguồn]
Chùa Bổ Đà là một trong những TT Phật giáo lớn của dòng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm là thiền tông thứ tư ở Nước Ta do Điều Ngự giác hoàng Trần Nhân Tông ( 1279 – 1293 ) lập ra ( thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng thiền Nước Ta của thế kỉ thứ 12 – đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa-lưu-chi ) có đặc thù độc lập phát minh sáng tạo của Phật giáo ở Nước Ta. Điều Ngự giác hoàng Trần Nhân Tông được coi là tổ đệ nhất. Tổ đệ nhị là Kim Cương Pháp Loa và tổ đệ tam là Huyền Quang ( gọi chung là Trúc Lâm Tam tổ ). Cả ba vị tổ đều có tượng thờ ở nhà tổ của chùa. Sau này, vào thế kỷ 18 – 19, thiền phái Trúc Lâm hòa vào Lâm Tế tông và chùa Bổ Đà cũng được coi là một trong những TT Phật giáo lớn của dòng thiền Lâm Tế. Đây là nơi kế truyền những vị tổ sư khai trường thuyết pháp huấn luyện và đào tạo những tăng ni. Hàng năm kết hạ định cư có những vị tăng ni Fan Hâm mộ tham thiền học đạo khá đông. [ 4 ] [ 8 ]
Nét kiến trúc truyền thống cuội nguồn Việt cổ[sửa|sửa mã nguồn]
Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống cuội nguồn Việt cổ. Chùa có kiến trúc độc lạ và độc lạ so với những ngôi chùa truyền thống lịch sử ở miền Bắc Nước Ta, đó là lối kiến trúc ” nội thông ngoại bế ” tạo vẻ u tịch, thanh vắng, rất thiêng. Với mạng lưới hệ thống bố cục tổng quan kiến trúc hài hòa được kiến thiết xây dựng bằng những vật tư : gạch nung, ngói, tiểu sành, tường bao được làm bằng đất rất độc lạ. Các bức tường, cổng và một số ít khu công trình khác được kiến thiết xây dựng trọn vẹn bằng đất nện theo lối chình tường. Cổng vào chùa nền lát đá muối có kích cỡ to nhỏ khác nhau, xây theo kiến trúc thời Nguyễn mang dáng dấp gác chuông. Điểm đặc biệt quan trọng ở đây là nhiều bức tường được xây bằng tiểu sành giống như làng Thổ Hà, nơi chuyên sản xuất chum vại, tiểu sành cách đó vài cây số, tạo vẻ rất trầm mặc, thân mật với vùng thôn quê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Toàn bộ chùa chính có diện tích quy hoạnh khoảng chừng 51.784 m² được phân ra làm ba khu rõ ràng. Khu vườn : 31.000 m², khu nội tự chùa 13.000 m² và khu vườn tháp rộng : 7.784 m² .
- Khu vườn tháp tăng cổ kính: Một trong những nét đặc sắc của chùa Bổ mà du khách cũng không thể bỏ qua là khu vườn tháp tăng. Khu vườn tháp là một bãi đất nằm nghiêng theo độ cao của núi Bổ Đà trên diện tích gần 8.000 m² là nơi tàng lưu xá lị, tro cốt nhục thân của các vị hòa thượng dòng thiền Lâm Tế. Nhà chùa đã dùng đá núi, gạch chỉ và đất thó xây dựng một bức thành dài bao quanh vườn tháp, khiến khu vườn luôn ở trong sự thanh tịch sâu lắng.[15]
- Với khoảng 100 ngôi tháp, vườn tháp chùa Bổ Đà được đánh giá là đẹp và lớn nhất trong số những ngôi cổ tự ở Việt Nam.[15] Đây là nơi yên nghỉ của hơn 1.000 vị cao tăng đã từng tu hành tại chùa qua các thời kì lịch sử.[15] Mỗi cây tháp an táng từ 4 thi hài đến 26 thi hài; đa số tháp trong vườn là tháp 3 – 4 tầng với độ cao 3 – 5 m, những ngôi tháp sư tổ còn cao rộng hơn nữa.[15]
- Các ngôi tháp mộ xếp hàng hàng, lớp lớp và được xây dựng theo những quy định riêng và rất chặt chẽ của thiền môn.[3] Trong số 3 cuốn gia phả bằng chữ Hán ghi rất rõ ràng: “Chỉ những người trong phái Sơn Môn mới được an táng tại vườn tháp, tháp của tăng trên đỉnh có hình bình cam lộ đặt trên tòa sen, tháp của ni trên đỉnh có búp sen.[2][16]
- Khu vườn chùa: được trồng các loại cây ăn quả truyền thống và các loại hoa màu theo thời vụ. Xung quanh được đào hào (rộng 2 m x sâu 1,5 m) vừa để thoát nước vừa để ngăn cách bảo vệ. Ngoài giá trị vật chất của di tích, từ xưa khu vườn chùa Bổ Đà đã là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân.
- Khu nội tự (chùa Tứ Ân): Chùa chính Tứ Ân xây dựng vào thời Hậu Lê, được thiết kế theo kiểu kiến trúc Nội công ngoại quốc (một nét đặc trưng của chùa Việt Nam) bố trí tám cửa ra vào tượng trưng cho tám quái của vũ trụ (bát quái), đường đi thiết kế theo kiểu chữ Lục (六), trời mưa đi từ nhà nọ sang nhà kia không bị ướt.[11] Kiểu kiến trúc này giống với chùa Phật Tích ở Bắc Ninh. Toàn bộ khu chùa hiện nay gồm 16 toà nhà lớn nhỏ với tổng số 92 gian. Bao gồm: nhà bếp, nhà tạo soạn, nhà tổ ly, nhà tổ, nhà tiền tế, nhà in kinh, nhà trai, nhà hành lang hình thước thợ, nhà pháp, nhà khách, nhà ga, toà tam bảo. Toà tam bảo kiến trúc theo kiểu chữ đinh (丁). Phần hậu cung dài 12 m x 7,7 m gồm 5 gian. Toà tiền đường dài 21 m x 11 m có 7 gian, tường gạch, lợp ngói, nền lát gạch vuông, nền nhà cao 0,90 m có 3 bậc. Bậc thềm được lát bằng những phiến đá xanh có kích thước to nhỏ khác nhau. Phía trên là 5 bộ cửa bức bàn.
Dấu vết kiến trúc còn lại cho thấy những khu công trình được thiết kế xây dựng vào thời Lê – Nguyễn. Từ khi khởi dựng đến nay nó vẫn ở nguyên vị trí bắt đầu. [ 8 ]
Hệ thống cổ vật[sửa|sửa mã nguồn]
Hiện chùa Bổ Đà còn nhiều tài liệu, hiện vật, cổ vật quý có giá trị lớn về mặt văn hóa truyền thống, lịch sử dân tộc, kiến trúc và mỹ thuật .
Hệ thống tượng Phật thời Lê[sửa|sửa mã nguồn]
Trong chùa còn lưu giữ hệ thống tượng Phật thời Lê bằng gỗ khá đầy đủ. Tượng Phật chùa Bổ Đà không chỉ có giá trị lịch sử về sự phát triển của đạo Phật, của thiền phái Trúc Lâm, nó còn là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc phong phú. Trong đó có toà Cửu Long. Ở đây còn cây đèn thời Lê bằng gỗ. Mỗi cây cao 0,60 m; 1 choé cao 0,60 m; 1 lọ độc bình, 1 quả chuông đồng cao 1 m, đường kính 0,60 m có niên hiệu Tự Đức. Hai án thư ở nhà tam bảo sơn son thiếp vàng chạm khắc tinh xảo. Các bức đại tự, hoành phi, câu đối được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Chùa còn 1 chiếc mõ cá dài 0,60 m.
Mộc bản kinh Phật thiền phái Lâm Tế[sửa|sửa mã nguồn]
Chùa Bổ Đà lúc bấy giờ còn lưu giữ được nhiều tài liệu quý và hiếm có ý nghĩa cho việc nghiên cứu và điều tra khoa học. Ở đây còn lưu giữ một kho tàng di sản Hán Nôm phong phú và đa dạng về số lượng, phong phú về mô hình, ngoài những tấm bia đá, chuông đồng còn có hàng trăm cuốn kinh sách, luật giới nhà Phật. Đặc biệt trong chùa còn lưu giữ bộ ván kinh Phật là một trong những bộ Kinh khắc gỗ cổ nhất Nước Ta được khắc vào khoảng chừng năm 1741 [ 15 ] khi những vị tổ sư kiến thiết xây dựng chùa Tứ Ân .
Bộ Kinh này được khắc không lâu so với bộ kinh Pháp Hoa tại chùa Phật Quang ( đường Trần Quang Khải, phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận ) được khắc trong 28 năm ( từ năm 1706 đến năm 1734 ), đã được đưa vào sách kỷ lục Nước Ta ngày 2 tháng 1 năm 2006. Cả hai bộ Kinh được cho là cổ nhất Nước Ta này có điểm chung là đều khắc trên gỗ thị. [ 24 ]Bộ kinh tại chùa Bổ Đà được hình thành xuất phát từ sáng tạo độc đáo của những vị tổ sư, đồng thời cũng là những người thiết kế xây dựng ra ngôi chùa muốn có một bộ kinh để truyền dạy đạo Phật, đó là những di vật Phật học đặc biệt quan trọng quý giá để lại cho đời sau. Bộ kinh mang những tư tưởng của hai dòng Phật giáo lớn nhất Châu Á Thái Bình Dương xưa là Ấn Độ và Trung Hoa. Trong đó, có hơn 2000 mộc bản của những bộ kinh như : Lăng nghiêm chính mạch, Yết ma hội bản, Nam hải ký quy … [ 15 ] Bộ kinh được xếp trên 8 giá, mỗi giá có 4 tập sách kinh gồm 240 tấm ván gỗ hợp thành, toàn bộ có khoảng chừng gần 2000 tấm. Mỗi tấm gỗ dùng để khắc kinh dài trung bình 50 cm, rộng 25 cm và dày khoảng chừng 2,5 cm. Nếu muốn xem hàng loạt hàng loạt kho kinh cổ ở đây thì phải có khoảng chừng đất rộng 250 – 300 m² để rải những tấm ván kinh ra. Bộ kinh được khắc trên gỗ thị, một loại cây gỗ mọc thông dụng ở vùng rừng núi này. Gỗ thị không những bền mà còn rất nhẹ, đây cũng là một đặc thù thuận tiện để khắc cũng như luân chuyển kinh. [ 15 ]Trải qua gần 300 năm, bộ kinh lúc bấy giờ vẫn còn khá nguyên vẹn. Đặc biệt là những tấm gỗ thị dùng để khắc kinh đều rất bền, đẹp, không bị mối mọt, dù không dùng một loại thuốc dữ gìn và bảo vệ nào. Kinh được khắc nổi bằng chữ Hán, nét chữ tinh xảo, đến nay vẫn còn rất sắc, rõ nét. Đặc biệt, bộ kinh gỗ này có nói đến những đặc trưng của Phật giáo Nước Trung Hoa khi được truyền vào Nước Ta với 3 tông phái ( Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông ). Trọng tâm của bộ kinh nói đến nỗi khổ của con người và sự giải thoát. Trong đó tiêu biểu vượt trội nhất là Tứ Diệu Đế – 4 chân lý kỳ diệu của đạo Phật – gồm : Khổ Đế, Nhân Đế, Diệt Đế và Đạo Đế. [ 15 ] Bộ kinh còn nói đến cõi niết bàn, những vòng luân hồi chuyển kiếp của một đời người, lý giải thế nào là sự tu nhân tích đức, cõi vô vi … Bộ kinh cũng bộc lộ những tư tưởng của Phật giáo Nước Ta, đặc biệt quan trọng là sự ảnh hưởng tác động của dòng Phật giáo thiền phái Trúc Lâm Tam tổ. [ 8 ]Khác với mộc bản kinh Phật tại chùa Vĩnh Nghiêm ( vừa vượt qua vòng xét xử sơ thẩm của UNESCO để trở thành di sản văn hóa truyền thống của trái đất ), mộc bản chùa Bổ Đà được nhìn nhận là độc lạ và chiếm hữu nhiều bản có niên đại sớm hơn so với mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. Vì vậy, mộc bản chùa Bổ Đà trọn vẹn có đủ điều kiện kèm theo để đệ trình lên Tổ chức Giáo dục đào tạo, Khoa học, Văn hóa của Liên Hiệp Quốc xem xét công nhận là di sản tư liệu của Thế giới. Những bộ sách Hán Nôm này 1 số ít đã được dịch và in ra chữ quốc ngữ. Sự độc lạ của bộ kinh đặc biệt quan trọng này đã lôi cuốn hàng nghìn khách thập phương về đây du lịch thăm quan, tế lễ mỗi năm .
Lễ hội Bổ Đà[sửa|sửa mã nguồn]
Theo Hồ sơ tư liệu, Cục Di sản văn hóa truyền thống : liên hoan Bổ Đà diễn ra 2 lần trong năm, 16 – 18 tháng Hai và 12 tháng Chín. [ 26 ]
Ngoài ra, ngày 8 tháng 4 Phật đản làm lễ dâng hương ở chùa, ngày 15 tháng 7 lễ tán hạ .
- Chùa Bổ Đà là một trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng và được coi là một trong hai ngôi chùa lớn nhất tỉnh Bắc Giang.
“Bắc Phổ Đà (Bổ Đà), Nam Hương Tích” là một cách để định danh cho những nét đặc trưng của chùa chiền Bắc bộ.[27]
Xem thêm: Pompeii – Wikipedia tiếng Việt
- Người Bắc Giang có câu:
-
- “Thứ nhất là chùa Đức La,
- Thứ nhì chùa Bổ, thứ ba chùa Tràng”
- Người xưa đã mượn câu thơ trong truyện thơ Quan Âm Thị Kính (truyện thơ mà có giả thuyết cho rằng đã ra đời tại vùng Kinh Bắc) để ví cảnh sắc tại chùa Bổ Đà:
-
- “Bốn bề phong cảnh lạ thay
- Bồng lai kia cũng thế này mà thôi”.[8]
Chỉ dẫn du lịch[sửa|sửa mã nguồn]
Những năm gần đây hành khách thập phương trong cả nước khá chăm sóc tới du lịch chùa Bổ .
- Từ Hà Nội, để đi tới chùa Bổ ta đến thành phố Bắc Ninh tiếp tục đi qua cầu Đáp Cầu rẽ trái men theo đường đê tả Cầu và sườn núi 3 km là tới. Hoặc tới Thổ Hà đi tiếp theo hướng Bắc tới làng Lát rẽ phải, từ Thổ Hà tới Chùa Bổ là 3 km.
- Với các địa phương ở xa phải di chuyển bằng đường hàng không, từ sân bay Nội Bài, ta đi theo tuyến cao tốc Nội Bài – Móng Cái (quốc lộ 18) đến thành phố Bắc Ninh sau đó tiếp tục đi sang địa phận Bắc Giang và đến chùa Bổ theo chỉ dẫn ở trên.
Ngoài ra, khi hành khách đến thăm chùa Bổ hoàn toàn có thể đồng thời đến thăm hai khu vực du lịch nổi tiếng nữa của đất Bắc Giang, đó là làng nghề Thổ Hà và đền Bà Chúa Kho ( Việt Yên ). Các khu vực này chỉ cách nhau từ 3 đến 5 km .
Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]
Báo điện tử[sửa|sửa mã nguồn]
Source: https://evbn.org
Category: Địa Danh


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


