Sách tiếng Việt 1 – công nghệ giáo dục: Nên để cuộc sống thẩm định?

Mâu thuẫn giữa đánh giá của Bộ GD-ĐT và hội đồng thẩm định?

Đánh giá mới nhất của Bộ GD-ĐT trong năm 2019 về dạy học theo tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục ( TV1-CGD ) nêu rõ, nhìn chung việc tiến hành tài liệu TV1-CGD tại các địa phương đã đạt được những tác dụng đáng ghi nhận : nhiều địa phương đã nhân rộng và có nhiều vận dụng linh động trong quy trình tiến hành, giáo viên ( GV ) nắm chắc nội dung, giải pháp, kỹ thuật dạy học theo khuynh hướng mới, học viên ( HS ) đọc thông viết thạo, nắm chắc ngữ âm, kỹ năng và kiến thức đọc và nghe – viết chính tả tốt .
Đáng quan tâm, về hiệu quả học tập của HS, nhìn nhận của Bộ ở từng nội dung đều cho thấy những ưu điểm mà chương trình giáo dục phổ thông mới đang hướng đến .
Cụ thể, Bộ GD-ĐT nhìn nhận : về kỹ năng và kiến thức, đa phần HS nắm chắc cấu trúc ngữ âm tiếng Việt nên đều đọc được và đọc tốt ; nắm chắc các quy tắc chính tả, học đến đâu chắc đến đó, không bị nhầm lẫn khi viết chính tả ; đặc biệt quan trọng, HS được rèn nền nếp học tập ngay từ những ngày đầu vào lớp 1. Về kiến thức và kỹ năng, HS thành thạo các thao tác ; hiểu và thực thi tương đối tốt các lệnh trong quy trình học ; được tham gia tích cực vào các hoạt động giải trí học tập, HS có kiến thức và kỹ năng đọc và nghe – viết chính tả tốt. Về thái độ, HS hứng thú học, yêu quý môn học. Về năng lượng, phẩm chất, HS dữ thế chủ động, tự tin tham gia các hoạt động giải trí học tập ; trải qua việc làm, các thao tác học, tự tìm ra và sở hữu tri thức, được phát huy năng lực tư duy và năng lượng tối ưu của bản thân một cách nhẹ nhàng, hứng thú .

Sách tiếng Việt 1 - công nghệ giáo dục: Nên để cuộc sống thẩm định?

Sách tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục trải qua 40 năm nhưng mới đây Hội đồng thẩm định sách giáo khoa chương trình mới đã đánh giá “không đạt”

Ảnh : Ngọc Dương

GS Mai Ngọc Chừ, thành viên Hội đồng thẩm định và đánh giá môn tiếng Việt, cho rằng : “ Dạy sách CGD thì các GV phải thao tác như một cái máy đúng theo “ công nghệ ”, cực kỳ stress, rập khuôn và không thấy sự phát minh sáng tạo … Một số GV san sẻ với chúng tôi, để dạy tốt được, việc làm của họ phải tăng rất nhiều. Ban ngày dạy ở trường nhưng đêm hôm phải bổ trợ kỹ năng và kiến thức của sách giáo khoa ( SGK ) hiện hành, tăng thêm giờ thao tác 2 – 3 lần ” …
Tuy nhiên, báo cáo giải trình nhìn nhận của Bộ GD-ĐT lại chứng minh và khẳng định : “ Đa số GV đảm nhiệm chương trình giảng dạy theo tài liệu TV1-CGD một cách tích cực, dữ thế chủ động. Việc dạy học tiếng Việt 1 theo tài liệu này hoàn toàn có thể phát huy được năng lực tư duy của HS, HS tự làm ra mẫu sản phẩm giáo dục, tạo hứng thú cho HS trong học tập .
Bộ GD-ĐT cũng chỉ ra khó khăn vất vả khi trình độ GV chưa đồng đều, GV mới ra trường còn “ ôm đồm ” kiến thức và kỹ năng khi giảng dạy ; một số ít GV đã quen với chiêu thức cũ, ngại thay đổi. Tài liệu TV1-CGD cần kiểm soát và điều chỉnh, thay thế sửa chữa một số ít ngữ liệu chưa tương thích so với HS ( từ ngữ không thông dụng, từ Hán – Việt, từ mang nghĩa không tương thích với HS tiểu học, 1 số ít bài đọc chưa hay … ) ; kiểm soát và điều chỉnh giảm dung tích một số ít bài đọc và bài viết chính tả cho tương thích hơn ; đưa câu hỏi tìm hiểu và khám phá nội dung dưới mỗi bài đọc, chú trọng luyện kiến thức và kỹ năng nói cho HS. …

“Nó đã là một phần của cuộc sống”

Tại hội thảo “Thực nghiệm – 40 năm một chặng đường” nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Trường Thực nghiệm, nơi áp dụng công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại, bà Lê Mai Hương, Phó hiệu trưởng phụ trách trường này, khẳng định: Sau 40 năm, các thế hệ HS ra trường đã có nhiều em trưởng thành, giữ những vị trí cao trong chuyên môn và công tác. Có em đã trở thành những giáo sư, bác sĩ, chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực. Điều quan trọng nhất là các em giữ được cho mình những nét đặc trưng của HS thực nghiệm: sống có trách nhiệm, biết tôn trọng người khác và tôn trọng bản thân mình, có tư duy phản biện, tự tin thể hiện khả năng của bản thân.

\ n
Một nhà khoa học, cũng là HS cũ của trường này, bày tỏ : “ Sách của thầy Đại đã có 40 năm, cả triệu trẻ dùng nó để học chữ. Nó đã là một phần của đời sống rồi. Đúng là quản trị nhà nước thì cần có thẩm định và đánh giá, có chuẩn … nhưng đem đời sống ra đánh giá và thẩm định thì cũng buồn cười nhỉ ? ” .
Bộ sách đã có “ thâm niên ” 40 năm, sóng gió cũng không ít lần khiến nó “ trớ trêu ” nhưng rồi mỗi lần lại “ hồi sinh ” mãnh liệt hơn .
Năm 1978, tài liệu TV1-CGD được khuyến khích các địa phương sử dụng, coi như một giải pháp để dạy học tiếng Việt. GS Đại cũng nói sách của ông tối thiểu có 2 lần vào cuộc “ chữa cháy ” cho Bộ GD-ĐT. Lần 1 năm 1985, cải cách giáo dục có hơn 65.000 HS lớp 1 lưu ban và giải pháp công nghệ của ông đã bảo vệ trẻ nhỏ sinh ra ở bất kể nơi nào, có đi học mẫu giáo hay không, đến 6 tuổi vào lớp 1 thì hết năm học sẽ đọc thông viết thạo, viết đúng chính tả và không tái mù chữ … Đầu những năm 2000, khi chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được vận dụng, thì với chủ trương 1 chương trình và 1 bộ SGK duy nhất, tài liệu này không được lan rộng ra nữa mà chỉ được thử nghiệm trong khoanh vùng phạm vi rất hẹp. Năm 2006, hiện tượng kỳ lạ HS “ ngồi nhầm lớp ” trở thành vấn nạn khi HS ở vùng sâu, vùng xa thậm chí còn lên trung học cơ sở mà chưa đọc thông viết thạo, sách TV1-CGD lại được tiến hành trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ là nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho HS dân tộc thiểu số và 2 năm sau đó được thử nghiệm trong khoảng chừng 20 tỉnh …
Đến năm 2012, Bộ quyết bỏ thử nghiệm, lan rộng ra khoanh vùng phạm vi vận dụng và “ hồi sinh ” can đảm và mạnh mẽ trong năm năm ngoái, năm nay. Năm 2017 và 2018, bộ sách này đã được thẩm định và đánh giá lại tới 2 lần và cũng chịu rất nhiều luồng quan điểm trái chiều từ dư luận. Thế nhưng, 3 năm gần đây, số nhà trường, HS đều tăng theo từng năm, năm nay có hơn 930.000 HS lớp 1 học theo sách tiếng Việt của GS Đại .
Một chỉ huy đảm nhiệm tiểu học của Sở GD-ĐT Tỉnh Lào Cai, cho hay với HS dân tộc thiểu số thì việc học tiếng Việt gần như là học ngôn từ thứ hai. Thực tế này khiến cho việc dạy tiếng Việt rất khó khăn vất vả nếu dạy theo cách đại trà phổ thông. Trong khi đó, khi thử nghiệm vận dụng TV1-CGD thì các em nắm rất chắc về ngữ âm, học đến đâu chắc đến đó, rất hiếm khi HS sai lỗi chính tả. Tỉnh Lào Cai vận dụng TV1-CGD với gần như 100 % vì thực tiễn cho thấy đó là chiêu thức tương thích với HS của mình. Tuy nhiên, những TP lớn như TP. Hà Nội thì không sử dụng chiêu thức này vì thấy việc thực thi SGK tiếng Việt đại trà phổ thông HS được luyện nhiều kiến thức và kỹ năng hơn …

Trả lời Thanh Niên khi mới bắt đầu thẩm định SGK mới, ông Thái Văn Tài, quyền Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học (Bộ GD-ĐT) từng chia sẻ: “Có một sự tuyển lựa có thể khắt khe hơn rất nhiều quy trình thẩm định của các Hội đồng quốc gia thẩm định SGK, đó là sự tuyển lựa của thực tiễn dạy học ở các cơ sở giáo dục, điều kiện thực tiễn tại các địa phương. Chính sự tuyển lựa này sẽ bảo đảm cho uy tín và vị thế lâu dài của những SGK được biên soạn với chất lượng cao nhất”.

Phát biểu của ông Tài có vẻ như như đang rất đúng khi nhìn vào sức sống của sách TV1-CGD lúc bấy giờ. Còn tương lai, có vẻ như như TV1-CGD của GS Hồ Ngọc Đại đang “ bị ” thử thách một lần nữa !

Nếu các nhà trường vẫn muốn chọn thì sao?

Ông Thái Văn Tài nói rằng về mặt nguyên tắc, chương trình và SGK mới luôn có tính kế thừa tài liệu và phương pháp dạy học hiện hành. Khi thực hiện chương trình, SGK mới, có thể tài liệu dạy học hiện hành có thể dừng “sứ mệnh” của mình nhưng phương pháp dạy học của tài liệu ấy sẽ không bao giờ mất khi nó đã trở thành kỹ năng sư phạm của nhà trường, của GV. Đó mới chính là cái kế thừa quan trọng của chương trình giáo dục phổ thông mới.

Còn GS Trần Đình Sử, Chủ tịch Hội đồng thẩm định SGK tiếng Việt lớp 1 mới, thì cho rằng: Không phủ nhận sách tiếng Việt lớp 1 của GS Đại 40 năm vẫn có kết quả tốt, cũng giống như sách tiếng Việt của chương trình hiện hành vẫn đang thực hiện rất tốt. Thế nhưng, khi chúng ta có một chương trình giáo dục phổ thông mới thì SGK, tài liệu dạy học phải bám sát vào chương trình đó.

GS Trần Đình Sử cho hay tới đây hơn 1,9 triệu HS đang sử dụng SGK đại trà hiện hành cũng phải sử dụng sách mới. Vì vậy, các HS đang học sách của GS Đại cũng phải thay đổi tương tự như vậy.

Source: https://evbn.org
Category: Đào Tạo