CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ MARKETING VÀ VAI TRÒ CỦA MARKETING ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG – Tài liệu text

CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ MARKETING VÀ VAI TRÒ CỦA MARKETING ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.61 KB, 35 trang )

CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ MARKETING VÀ VAI TRÒ CỦA
MARKETING ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I. CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ MARKETING VÀ VAI TRÒ CỦA
MARKETING ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP
1. Định nghĩa Marketing
Hoạt động marketing xuất hiện ở những nước công nghiệp hoá nghĩa là xuất
hiện ở những nước phát triển khi một nền kinh tế chấp nhận kinh tế thị trường thì
những hiểu biết về marketing được coi là bức xúc. Hiện nay có rất nhiều định
nghĩa về marketing mỗi một định nghĩa có những ưu điểm khác nhau người ta
không có một định nghĩa thống nhất.
– Định nghĩa của hiệp hội marketing Mỹ: Marketing (quản trị marketing)
là một quá trình lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch đó đánh giá xúc tiến về kế hoạch
đó.
– Định nghĩa của hiệp hội marketing Anh: Marketing là một quá trình
quản lý nhằm nhận biết dự đoán và thoả mãn nhu cầu khách hàng hoặc tổ chức một
cách hiệu quả và có lợi.
– Định nghĩa của GS.TS Philip kotler: Marketing là một quá trình quản lý
mang tính chất xã hội nhờ đó mà các cá nhân và tổ chức có được những gì mà họ
mong muốn thông qua việc chào đón và trao đổi sản phẩm có giá trị với người
khác.
2. Các khái niệm cơ bản của Marketing
Marketing là một khái niệm rộng lớn được xây dựng trên cơ sở hàng loạt
các khái niệm cơ bản khác, bao gồm:
2.1. Nhu cầu tự nhiên, ước muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán
Nhu cầu là một thuật ngữ mà nội dung của nó hàm chứa ba mức độ: nhu cầu
tự nhiên, ước muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán.
Nhu cầu là nguồn gốc của tư duy Marketing nó được định nghĩa là cảm giác
thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được và muốn được thoả mãn. Nhu
cầu có tính khách quan nó có tính đa dạng, nó là cái vốn có cái tự thân trong mỗi

con người vì thế marketing không tạo ra được nhu cầu.
Ước muốn là nhu cầu được biểu hiện dưới một hình thái cụ thể. Khi nhu cầu
tồn tại dưới một hình thái cụ thể thì đó là ước muốn. Ước muốn mang tính khách
quan, mang tính xã hội và lịch sử. Ước muốn có tính cá biệt vì nó mang dấu ấn của
văn hoá và đặc tính cá nhân. Ước muốn không ngường biến đổi và đa dạng.
Marketing hoàn toàn có khả năng tạo ra ước muốn.
Cầu là ước muốn nhưng được hậu thuẫn bởi sức mua. Có hai yếu tố quyết
định cầu:
– Sự quan tâm.
– Khả năng thanh toán, khả năng tiếp cận.
Cầu hoàn toàn có thể định lượng được vì thế những người làm công tác kinh
doanh phải định lượng được cầu để điều chỉnh cung. Marketing hoàn toàn có thể
làm thay đổi được cầu về quy mô và cơ cấu.
Người làm công tác sản xuất khinh doanh muốn thành công trên thương
trường, muốn đi đầu trong việc làm thoả mãn và khai thác nhu cầu thị trường,
muốn khỏi rơi vào thế đối phó bị động, thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và xác định
đúng nhu cầu là một hoạt động tất yếu phải được thực hiện thường xuyên và chủ
động bởi một bộ phận chuyên môn – bộ phận marketing.
2.2. Sản phẩm
Sản phẩm là bất cứ thứ gì đem trào bán tạo ra được sự chú ý quan tâm, ưa
chuộng, tiêu thụ, tiêu dùng nó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó. Từ khái niệm
này cho thấy sản phẩm không chỉ giới hạn chỉ ở hữu hình mà cả ở vô hình.
Marketing sử dụng sản phẩm để chỉ hàng hoá vật chất, dịch vụ, địa điểm, con
người, ý tưởng, tổ chức. Với marketing sản phẩm trước hết phải là phương tiện
thoả mãn nhu cầu, chính vì vậy mà ý nghĩa quan trọng nhất của sản phẩm lại
không phải là vấn đề sở hữu chúng mà là khả năng thoả mãn nhu cầu do sản phẩm
đó mang lại. Cho nên, các doanh nghiệp muốn thành công phải hiểu được bản chất
đặc thù của nó và phải luôn luôn hàng động theo triết lý “Bán cái mà khách hàng
cần chứ không phải bán cái mà doanh nghiệp có”.
2.3. Giá trị, chi phí, sự thoả mãn

Giá trị là sự đánh giá của người tiêu dùng về khả năng chung và sản phẩm
cho việc thoả mãn nhu cầu đó là toàn bộ những lợi ích mà con người nhận được
khi sử dụng để thoả mãn nhu cầu. Lĩnh vực Marketing quan niệm giá trị gồm
những bộ phận cơ bản sau:
– Giá trị sản phẩm
– Giá trị dịch vụ
– Nhân sự
– Giá trị danh tiếng (danh tiếng mà sản phẩm mang lại)
Để tiến dần tới quyết định mua hàng hoá khách hàng thường quan tâm tới
chi phí đối với nó.
– Chi phí: Hàng hoá không phải là thứ cho không cho nên muốn sử dụng
hàng hóa người sở hữu phải chi phí. Chi phí là toàn bộ những hao tổn mà người
mua phải chịu để có được và sử dụng chúng.
CHI PHI được coi là vật cản đối với quyết định mua nhưng giá trị quyết
định mua khi phân tích kết hợp giá trị và chi phí ta hiểu là phương thức kết hợp
cách chọn mua sản phẩm.
– Sự thoả mãn là mức độ của trạng thái cảm giác của con người bắt nguồn
từ việc so sánh mức độ thoả mãn của thực tế tiêu dùng sản phẩm đó đem lại với
những kì vọng của người đó trong việc thoả mãn nhu cầu của sản phẩm.
2.4. Trao đổi, giao dịch, quan hệ
Marketing xuất hiện khi người ta quyết định thoả mãn nhu cầu và mong
muốn thông qua trao đổi.
Trao đổi là hoạt động tiếp nhận cái mình muốn từ người khác bằng cách trao
cho người đó cái mà họ muốn. Có 5 điều kiện để tạo ra tiềm năng của trao đổi:
– ít nhất phải có hai bên.
– Mỗi bên phải có cái gì đó có giá trị đối với bên kia.
– Mỗi bên đều phải có khả năng giao dịch và chuyển giao hàng hoá.
– Mỗi bên đều phải được quyền tự do trao đổi.
– Mỗi bên đều nhận thấy được muốn tham gia trao đổi và nhận được lợi ích
từ trao đổi.

Một trao đổi tiềm năng chỉ trở thành hiện thực nó còn phụ thuộc vào các bên
tham gia trao đổi.
Khi hai bên thiết lập được trao đổi thì tiến hành trao đổi, khi đạt được thoả
thuận một giao dịch được thực hiện như vậy giao dịch chính là một thương vụ một
vụ mua bán giữa hai bên.
Quan hệ trao đổi là một quá trình tạo ra giá trị quá trình này chỉ được thực
hiện tốt khi nó được dựa trên mối quan hệ lượng trước cho nhau, người làm
marketing phải tiến hành giao dịch đa dạng điều đó có nghĩa là marketing giao dịch
chỉ là ý lớn của bộ phận lớn hơn marketing quan hệ. Marketing quan hệ là xây
dựng một quan hệ lâu dài tin cậy cùng có lợi với những khách hàng lớn, người
phân phối, đại lý người cung ứng nó được thể hiện bằng cam kết trong hoạt động
của tất cả giao dịch và cả những mối ràng buộc chặt chẽ về cả kinh tế kỹ thuật giáo
dục của các bên đối tác.
2.5. Thị trường và vai trò của thị trường đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
2.5.1. Khái niệm và phân đoạn thị trường
a. Khái niệm thị trường
Thị trường là quan hệ trọng tâm của hoạt động Marketing.
Theo nghĩa đen thì thị trường là một địa điểm của hoạt động trao đổi.
Theo quan niệm kinh tế học thì thị trường là tập hợp những người mua và
bán giao dịch với nhau về sản phẩm.
Nhìn từ góc độ marketing thì thị trường bao gồm tất cả những khách hàng
tiềm ẩn có cùng nhu cầu và ước muốn sẵn sàng có khả năng tham gia trao đổi để
thoả mãn nhu cầu và ước muốn đó.
Như vậy khác với khái niệm trên ở đây thị trường là những khách hàng, quy
mô của thị trường là quy mô hội tụ:
– Có cùng nhu cầu và ước muốn.
– Sẵn sàng tham gia trao đổi
– Có khả năng trao đổi (khả năng thanh toán, khả năng tiệp cận).
Mối quan hệ giữa thị trường và ngành gọi là hệ thống marketing, hệ thống

marketing thực chất là trao đổi.
Hàng hoá, dịch vụ
Người mua (KH) Tiền Người cung ứng (NB)
Thuật ngữ thị trường thường được dùng để ám chỉ một nhóm khách hàng có
nhu cầu và mong muốn nhất định, do đó được thoả mãn bằng 1 loại sản phẩm cụ
thể. Họ có đặc điểm giới tính hay tâm sinh lý nhất định, độ tuổi nhất định và sinh
sống ở 1 vùng cụ thể.
b. Phân đoạn thị trường
Phân đoạn thị trường lựa chọn thị trường mục tiêu là một trong những nội
dung quan trọng nhất của lý thuyết marketing và là một khâu không thể thiếu được
của tiến trình hoạch định các chiến lược marketing.
Có rất nhiều lý do khiến các công ty phải tiến hành phân đoạn thị trường:
– Không có một công ty nào có khả năng có thể thoả mãn được mọi nhu cầu
và ước muốn của thị trường.
– Mỗi một công ty chỉ có một thế mạnh trên một phương diện nào đó trong
cạnh tranh.
– Hoạt động cạnh tranh có quá nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm vì vậy
muốn cho khách hàng lựa chọn nhãn hiệu sản phẩm của công ty thì họ phải tạo
được sự tín nhiệm trong tâm trí khách hàng và nhãn hiệu khác biệt với đối thủ cạnh
tranh.
Thực chất của phân đoạn thị trường là công ty xác định được đúng thị
trường để tập trung lỗ lực marketing xây dựng được một hình ảnh riêng mạnh mẽ,
nhất quán và có khả năng cạnh tranh. Phân đoạn thị trường là hoạt động marketing
nhằm chia thị trường cụ thể quy mô lớn phức tạp thành đoạn thị trường có quy mô
nhỏ hơn có tính đồng nhất về nhu cầu ước muốn hoặc là phản ứng kích thích
marketing. Để phân đoạn thị trường một cách hiệu quả nó phải đảm bảo được 4
yêu cầu sau:
– Có thể đo lường được quy mô sức mua và đánh giá được hiệu quả của
hoạt động marketing mà chúng ta áp dụng.
– Nó có khả năng tiếp cận được tức là phân đoạn này giúp ta có thể tiếp

cận được thị trường.
– Nó phải tạo được thị trường với quy mô đủ lớn đảm bảo kinh doanh có
hiệu quả.
– Công ty phải đủ khẳ năng tổ chức hoạt động marketing.
Để phân chia thị trường người ta dựa vào 4 cơ sở chính:
– Địa lý: Dựa voà cơ sở này người ta chia thị trường theo tiêu thức:
+ Thị trường thế giới là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá giữa
các quốc gia với nhau.
+ Thị trường quốc gia là hoạt động mua bán của những người trong cùng
một quốc gia.
+ Thị trường khu vực.
+ Thị trường đơn vị hành chính như thành phố, nông thôn.
Đây là cơ sở phổ biến, địa lý được coi là cơ sở số một để tạo ra sự khác biệt
về ước muốn và cầu nó thường được nhận biết rõ ràng đặc điểm hành vi.
– Dân số và xã hội: dựa vào cơ sở này thị trường tổng thể có thể được chia
theo tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính cũng là cơ sở rất phổ biến để phân đoạn thị
trường. Nó tạo ra sự khác biệt rất rõ nét về cầu.
– Phân đoạn thi trường theo tân lý: Nhu cầu, ước muốn có thể quan niệm giá trị nó
mang nặng tâm lý vì vậy sự khác biệt về cầu khác biệt trên hình thức phân chia thị
trường bao gồm thái độ động cơ quan điểm sống.
– Phân chia thi trường theo hành vi dựa vào cơ sở này thị trường được chia
theo ưu điểm về hành vi lựa chọn và tiêu dùng sản phẩm, lý do mua lợi ích tìm
kiếm số lượng và tỷ lệ tiêu dùng mức độ trung thành nhãn hiệu, mức độ trung
thành mua.
– Phân đoạn thị trường người mua là các tổ chức: việc phân đoạn thi
trườngtheo cách này cũng có đặc điểm riêng những tiêu thức để phân đoan dựa
theo địa lý đây cũng là tiêu thức quan trọng vì nó cũng gắn liền quy mô mua.
– Ngoài ra người ta có thể phân đoạn thị trường theo mức mua trung bình
điều quan trọng hơn để phân đoạn thị trường là tiến trình hai bước đó là phân
đoạn thị trường vĩ mô và vi mô.

+ Vĩ mô, người ta chia thị trường theo các loại: thị trương người sản xuất, thị
trường bán buôn bán lẻ thị trường tài chính.
+ Vi mô ở bước này người ta tìm kiếm tiêu thức mô phỏng rõ ràng khách
hàng mà ta phân chia ở vĩ mô.
c. Chọn thị trường mục tiêu
Sau khi tiến hành phân đoạn thị trường bước tiếp theo các công ty phải đưa
ra được các quyết định về số lượng đoạn thị trường được lựa chọn và đoạn thị
trường hấp dẫn nhất. Để có các quyết định xác đáng nhất về các đoạn thị trường
được lựa chọn cần thiết phải thực hiện một tiến trình các công việc chủ yếu sau:
Thứ nhất, đánh giá các đoạn thị trường. Thứ hai, lựa chọn đoạn thị trường chiếm
lĩnh hay đoạn thị trường mục tiêu.
Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu
hoặc mong muốn mà công ty có khả năng đáp ứng đồng thời có khả năng tạo ra ưu
thế hơn so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu đã định.
Các căn cứ để chọn thị trường mục tiêu đây cũng chính là tính chất cơ bản
để đánh giá đúng mục đích thị trường.
– Quy mô và sự tăng trưởng: Đây là tài sản số 1 được sử dụng để đánh giá
mức độ của đoạn thị trường vì nó cho phép công ty xá định những đoạn thị trường
có quy mô hiệu quả và có khả năng kinh doanh lâu dài.
– Sức ép hay sự đe doạ đối với những đoạn thị trường: bất kỳ ở những đoạn
thị trường nào thì công ty cũng phải chịu những áp lực khác nhau chính những áp
lực ấy nó làm cho hấp dẫn hoặc kém hấp dẫn.
2.5.2. Chức năng của thị trường
Thị trường gắn liền với hoạt động trao đổi hàng hoá. Hoạt động của các chủ
thể kinh tế trên thị trường là quá trình thực hiện các chức năng khác nhau tác động
đến đời sống xã hội. Thị trường có một số chức năng cơ bản sau:
Chức năng thừa nhận: Hàng hoá của doanh nghiệp có bán được hay không
phải thông qua chức năng thừa nhận của thị trường. Để được thị trường chấp nhận
thì hàng hoá và dịch vụ phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng và phải có sự phù
hợp về chất lượng, giá cả, quy cách, chủng loạ, màu sắc.

Chức năng thực hiện: Thị trường thực hiện hành vi trao đổi hàng hoá, thực
hiện tổng cung và tổng cầu trên thị trường, thực hiện cân bằng cung cầu từng loại
hàng hoá, thực hiện giá trị thông qua giá cả, thực hiện việc trao đổi giá trị .v.v.
Chức năng điều tiết, kích thích: Qua hành vi trao đổi hàng hoá trên thị
trường, thị trường điều tiết và kích thích sản xuất kinh doanh phát triển hoặc ngược
lại. Chức năng này luôn điều tiết doanh nghiệp nên gia nhập hay rút khỏi ngành
sản xuất kinh doanh. Nó khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh có lợi, các
mặt hàng mới, chất lượng cao, có khả năng bán được khối lượng lớn…
Chức năng thông tin: Trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất hàng
hoá, chỉ có thị trường mới có chức năng thông tin. Đó là những thông tin kinh tế
quan trọng đối với mọi nhà sản xuất, kinh doanh, cả người mua và người bán, cả
người cung ứng và người tiêu dùng, cả người quản lý và những người nghiên cứu
sáng tạo. Có thể nói đó là những thông tin được sự quan tâm của toàn xã hội.
Những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau trên thị trường có thể giúp cho các nhà
kinh doanh đề ra chính sách, chiến lược phù hợp cho doanh nghiệp mình nhằm mở
rộng thị trường như chính sách sản phẩm, công nghệ, chiến lược quảng cáo.
Bốn chức năng trên của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ta
không nên quan niệm chức năng nào quan trọng hơn chức năng nào. Song cũng
cần thấy rằng chỉ khi chức năng thừa nhận được thực hiện thì các chức năng khác
mới phát huy tác dụng.
2.5.3. Vai trò của thị trường đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế
trong quá trình tái sản xuất, thị trường lằm trong khâu lưu thông do vậy thị trường
là một khâu tất yếu của sản xuất hàng hoá. Thị trường chỉ mất đi khi sản
xuất hàng hoá không còn. Thị trường là chiếc “cầu nối” giữa sản xuất và tiêu dùng.
Thị trường không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán, nó còn thể
hiện các mối quan hệ hàng hoá – tiền tệ. Do đó thị trường được coi là môi trường
kinh doanh.
Thị trường là khách quan, mỗi doanh nghiệp không có khả năng làm thay

đổi thị trường mà ngược lại họ phải tiếp cận để thích ứng với thị trường. Do vậy,
thị trường được coi là “sự sống” của các doanh nghiệp.
Thị trường bảo đảm điều kiện cho sản xuất phát triển liên tục với quy mô
ngày càng mở rộng và bảo đảm hàng hoá cho người tiêu dùng phù hợp với thị hiếu
và sự tự do lựa chọn một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi.
Nó thúc đẩy và gợi mở nhu cầu, đưa đến cho người sản xuất và người tiêu
dùng những sản phẩm mới có chất lượng cao.Thị trường chính là nời hình thành và
xử lý các mối quan hệ giữa doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác, giữa các
doanh nghiệp với nhà nước.
Thị trường hướng dẫn các nhà sản xuất kinh doanh qua sự biểu hiện về cung
cầu, giá cả trên thị trường. Nghiên cứu nó để xác định nhu cầu của khách hàng
nhằm giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của mình: sản xuất cái gì? sản xuất như
thế nào? và sản xuất cho ai?
Trong quản lý kinh tế, thị trường vừa là đối tượng, vừa là căn cứ của kế
hoạch hoá, nó là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của
Nhà nước. Thị trường là nơi mà thông qua đó Nhà nước tác động vào quá trình
kinh tế của các doanh nghiệp. Đồng thời, thị trường sẽ kiểm nghiệm tính chất đúng
đắn của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ban hành.
Qua đây ta thấy rằng tầm quan trọng của vai trò thị trường đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh là không thể phủ nhận.
Như vậy, rõ ràng là không có sự hiểu biết đầy đủ về khái niệm nhu cầu, sản
phẩm, giá trị chi phí, sự thoả mãn, trao đổi, giao dịch, thị trường thì chúng ta
không thể hiểu đúng đắn và đầy đủ khái niệm về marketing.
3. Nội dung hoạt động Marketing
3.1. Nghiên cứu thị trường và phương pháp nghiên cứu thị trường
3.1.1. Nghiên cứu thị trường
Khi doanh nghiệp kinh doanh theo quan điểm marketing có nghĩa là doanh
nghiệp sẽ theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận nhờ việc đáp ứng tối đa hoá nhu
cầu khách hàng bằng phương thức tối ưu muốn vậy họ phải nghiên cứu marketing
nghiên cứu thị trường và khách hàng tiềm năng để thấy được những phản ứng của

họ trước những quyết định marketing. Vì thị trường rất rộng lớn và không đồng
nhất vì vậy phải tiến hành nghiên cứu để có những quyết định phù hợp khi nguồn
lực và khả năng có hạn. Nhu cầu và mong muốn của con người là rất phức tạp do
đó cần có những nghiên cứu chi tiết thì mới có thể xác định đúng đắn nhu cầu và
cách thức để đáp ứng nhu cầu đó.
a. Nghiên cứu khái quát thị trường
Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu khái quát thị trường khi doanh nghiệp
định thâm nhập vào một thị trường mới hoặc khi doanh nghiệp định kỳ đánh giá lại
hoặc xem xét lại toàn bộ chính sách marketing của mình trong thời gian dài đối với
một thị trường xác định.
Nội dung chủ yếu của phần này là phải giải đáp một số vấn đề quan trọng
sau:
– Đâu là sản phẩm quan trọng nhất trong các sản phẩm của doanh nghiệp hay
là lĩnh vực nào là phù hợp nhất với những hoạt động của doanh nghiệp?
– Khả năng bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đó là bao nhiêu?
– Doanh nghiệp cần có những chính sách như thế nào để tăng cường khả
năng bán hàng?
Để tìm ra được câu trả lời thì việc nghiên cứu khái quát thị trường phải đi
sâu phân tích các vấn đề sau:
+ Quy mô, cơ cấu và sự vận động của thị trường.
+ Các nhân tố của môi trường kinh doanh: dân cư, kinh tế, văn hoá xã hội,
chính trị pháp luật, khoa học công nghệ…
b. Nghiên cứu chi tiết thị trường
Nghiên cứu về tập tính hiện thực và thói quen của người tiêu dùng nhằm trả
lời các câu hỏi: Ai là khách hàng của doanh nghiệp? ở lứa tuổi nào, ở các tầng lớp
xã hội nào? Khách hàng cần số lượng là bao nhiêu, mua ở đâu, khi nào và hình
thức thanh toán. Trên cơ sở đó giúp cho doanh nghiệp định hướng được chính sách
phân phối đúng đắn.
3.1.2. Phương pháp nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường thực chất là thu thập thông tin và xử lý thông tin,

thông qua đó doanh nghiệp đưa ra những quyết định xây dựng chiến lược thị
trường. Sau đây là nội dung của các phương pháp nghiên cứu thị trường:
a. Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin về loại hàng hoá, về khối lượng, phương thức kinh doanh
trên thị trường là bước đầu tiên, có tính chất quyết định, chi phối các bước tiếp
theo. Nếu thông tin về thị trường không đầy đủ, thiếu chính xác thì việc xử lý
thông tin và ra quyết dịnh dễ bị sai lệch, thông thường các doanh nghiệp sử dụng
hai phương pháp thu thập thông tin sau:
* Thu thập thông tin qua tài liệu: là dựa vào nguồn tài liệu công khai để thu
thập thông tin. Đây là phương pháp khá thông dụng, ít tốn kém, thích nghi với các
doanh nghiệp giai đoạn đầu bước vào thị trường. Nhưng có nhược điểm là độ tin
cậy không cao và không kịp thời.
* Phương pháp nghiên cứu hiện trường: phương pháp này chủ yếu thu thập
thông tin từ trực quan và các quan hệ giao tiếp với thương nhân và người tiêu
dùng. Nó có ưu điểm là xử lý thông tin kịp thời và chính xác, nhưng lại tốn kém và
phức tạp. Phương pháp này bao gồm các hình thức sau: Phương pháp quan sát,
phương pháp thực nghiệm, phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra chuyên
sâu.
b. Phương pháp sử lý thông tin
Sau khi thu thập thông tin, nhà kinh doanh phải tiến hành xử lý thông tin.
Xử lý thông tin kịp thời, chính xác giúp cho doanh nghiệp luôn nắm bắt được tình
hình thị trường để xây dựng kế hoạch, chiến lược thị trường hợp lý. Nội dung chủ
yếu của việc xử lý thông tin bao gồm:
con người cho nên vì thế marketing không tạo ra được nhu yếu. Ước muốn là nhu yếu được bộc lộ dưới một hình thái đơn cử. Khi nhu cầutồn tại dưới một hình thái đơn cử thì đó là mong ước. Ước muốn mang tính kháchquan, mang tính xã hội và lịch sử dân tộc. Ước muốn có tính riêng biệt vì nó mang dấu ấn củavăn hoá và đặc tính cá thể. Ước muốn không ngường biến hóa và phong phú. Marketing trọn vẹn có năng lực tạo ra mong ước. Cầu là mong ước nhưng được hậu thuẫn bởi nhu cầu mua sắm. Có hai yếu tố quyếtđịnh cầu : – Sự chăm sóc. – Khả năng thanh toán giao dịch, năng lực tiếp cận. Cầu trọn vẹn hoàn toàn có thể định lượng được do đó những người làm công tác làm việc kinhdoanh phải định lượng được cầu để kiểm soát và điều chỉnh cung. Marketing trọn vẹn có thểlàm đổi khác được cầu về quy mô và cơ cấu tổ chức. Người làm công tác làm việc sản xuất khinh doanh muốn thành công xuất sắc trên thươngtrường, muốn đi đầu trong việc làm thoả mãn và khai thác nhu yếu thị trường, muốn khỏi rơi vào thế đối phó bị động, thì việc điều tra và nghiên cứu, khám phá và xác địnhđúng nhu yếu là một hoạt động giải trí tất yếu phải được thực thi tiếp tục và chủđộng bởi một bộ phận trình độ – bộ phận marketing. 2.2. Sản phẩmSản phẩm là bất kể thứ gì đem trào bán tạo ra được sự chú ý quan tâm chăm sóc, ưachuộng, tiêu thụ, tiêu dùng nó hoàn toàn có thể thoả mãn một nhu yếu nào đó. Từ khái niệmnày cho thấy loại sản phẩm không chỉ số lượng giới hạn chỉ ở hữu hình mà cả ở vô hình dung. Marketing sử dụng mẫu sản phẩm để chỉ hàng hoá vật chất, dịch vụ, khu vực, conngười, sáng tạo độc đáo, tổ chức triển khai. Với marketing loại sản phẩm trước hết phải là phương tiệnthoả mãn nhu yếu, chính vì thế mà ý nghĩa quan trọng nhất của loại sản phẩm lạikhông phải là yếu tố chiếm hữu chúng mà là năng lực thoả mãn nhu yếu do sản phẩmđó mang lại. Cho nên, các doanh nghiệp muốn thành công xuất sắc phải hiểu được bản chấtđặc thù của nó và phải luôn luôn hàng động theo triết lý “ Bán cái mà khách hàngcần chứ không phải bán cái mà doanh nghiệp có ”. 2.3. Giá trị, ngân sách, sự thoả mãnGiá trị là sự nhìn nhận của người tiêu dùng về năng lực chung và sản phẩmcho việc thoả mãn nhu yếu đó là hàng loạt những quyền lợi mà con người nhận đượckhi sử dụng để thoả mãn nhu yếu. Lĩnh vực Marketing ý niệm giá trị gồmnhững bộ phận cơ bản sau : – Giá trị loại sản phẩm – Giá trị dịch vụ – Nhân sự – Giá trị nổi tiếng ( nổi tiếng mà mẫu sản phẩm mang lại ) Để tiến dần tới quyết định hành động mua hàng hoá người mua thường chăm sóc tớichi phí so với nó. – giá thành : Hàng hoá không phải là thứ cho không do đó muốn sử dụnghàng hóa người chiếm hữu phải ngân sách. Ngân sách chi tiêu là hàng loạt những hao tổn mà ngườimua phải chịu để có được và sử dụng chúng. CHI PHI được coi là vật cản so với quyết định hành động mua nhưng giá trị quyếtđịnh mua khi nghiên cứu và phân tích phối hợp giá trị và ngân sách ta hiểu là phương pháp kết hợpcách chọn mua mẫu sản phẩm. – Sự thoả mãn là mức độ của trạng thái cảm xúc của con người bắt nguồntừ việc so sánh mức độ thoả mãn của thực tế tiêu dùng loại sản phẩm đó đem lại vớinhững kì vọng của người đó trong việc thoả mãn nhu yếu của mẫu sản phẩm. 2.4. Trao đổi, thanh toán giao dịch, quan hệMarketing Open khi người ta quyết định hành động thoả mãn nhu yếu và mongmuốn trải qua trao đổi. Trao đổi là hoạt động giải trí tiếp đón cái mình muốn từ người khác bằng cách traocho người đó cái mà họ muốn. Có 5 điều kiện kèm theo để tạo ra tiềm năng của trao đổi : – tối thiểu phải có hai bên. – Mỗi bên phải có cái gì đó có giá trị so với bên kia. – Mỗi bên đều phải có năng lực thanh toán giao dịch và chuyển giao hàng hoá. – Mỗi bên đều phải được quyền tự do trao đổi. – Mỗi bên đều nhận thấy được muốn tham gia trao đổi và nhận được lợi íchtừ trao đổi. Một trao đổi tiềm năng chỉ trở thành hiện thực nó còn phụ thuộc vào vào các bêntham gia trao đổi. Khi hai bên thiết lập được trao đổi thì thực thi trao đổi, khi đạt được thoảthuận một thanh toán giao dịch được thực thi như vậy thanh toán giao dịch chính là một thương vụ làm ăn mộtvụ mua và bán giữa hai bên. Quan hệ trao đổi là một quy trình tạo ra giá trị quy trình này chỉ được thựchiện tốt khi nó được dựa trên mối quan hệ lượng trước cho nhau, người làmmarketing phải triển khai thanh toán giao dịch phong phú điều đó có nghĩa là marketing giao dịchchỉ là ý lớn của bộ phận lớn hơn marketing quan hệ. Marketing quan hệ là xâydựng một quan hệ vĩnh viễn đáng tin cậy cùng có lợi với những người mua lớn, ngườiphân phối, đại lý người đáp ứng nó được bộc lộ bằng cam kết trong hoạt độngcủa toàn bộ thanh toán giao dịch và cả những mối ràng buộc ngặt nghèo về cả kinh tế tài chính kỹ thuật giáodục của các bên đối tác chiến lược. 2.5. Thị trường và vai trò của thị trường so với hoạt động giải trí sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp2. 5.1. Khái niệm và phân đoạn thị trườnga. Khái niệm thị trườngThị trường là quan hệ trọng tâm của hoạt động giải trí Marketing. Theo nghĩa đen thì thị trường là một khu vực của hoạt động giải trí trao đổi. Theo ý niệm kinh tế tài chính học thì thị trường là tập hợp những người mua vàbán thanh toán giao dịch với nhau về mẫu sản phẩm. Nhìn từ góc nhìn marketing thì thị trường gồm có tổng thể những khách hàngtiềm ẩn có cùng nhu yếu và mong ước chuẩn bị sẵn sàng có năng lực tham gia trao đổi đểthoả mãn nhu yếu và mong ước đó. Như vậy khác với khái niệm trên ở đây thị trường là những người mua, quymô của thị trường là quy mô quy tụ : – Có cùng nhu yếu và mong ước. – Sẵn sàng tham gia trao đổi – Có năng lực trao đổi ( năng lực giao dịch thanh toán, năng lực tiệp cận ). Mối quan hệ giữa thị trường và ngành gọi là mạng lưới hệ thống marketing, hệ thốngmarketing thực ra là trao đổi. Hàng hoá, dịch vụNgười mua ( KH ) Tiền Người đáp ứng ( NB ) Thuật ngữ thị trường thường được dùng để ám chỉ một nhóm người mua cónhu cầu và mong ước nhất định, do đó được thoả mãn bằng 1 loại loại sản phẩm cụthể. Họ có đặc thù giới tính hay tâm sinh lý nhất định, độ tuổi nhất định và sinhsống ở 1 vùng đơn cử. b. Phân đoạn thị trườngPhân đoạn thị trường lựa chọn thị trường tiềm năng là một trong những nộidung quan trọng nhất của kim chỉ nan marketing và là một khâu không hề thiếu đượccủa tiến trình hoạch định các kế hoạch marketing. Có rất nhiều nguyên do khiến các công ty phải triển khai phân đoạn thị trường : – Không có một công ty nào có năng lực hoàn toàn có thể thoả mãn được mọi nhu cầuvà mong ước của thị trường. – Mỗi một công ty chỉ có một thế mạnh trên một phương diện nào đó trongcạnh tranh. – Hoạt động cạnh tranh đối đầu có quá nhiều thời cơ để lựa chọn mẫu sản phẩm vì vậymuốn cho người mua lựa chọn thương hiệu loại sản phẩm của công ty thì họ phải tạođược sự tin tưởng trong tâm lý người mua và thương hiệu độc lạ với đối thủ cạnh tranh cạnhtranh. Thực chất của phân đoạn thị trường là công ty xác lập được đúng thịtrường để tập trung chuyên sâu lỗ lực marketing kiến thiết xây dựng được một hình ảnh riêng can đảm và mạnh mẽ, đồng điệu và có năng lực cạnh tranh đối đầu. Phân đoạn thị trường là hoạt động giải trí marketingnhằm chia thị trường đơn cử quy mô lớn phức tạp thành đoạn thị trường có quy mônhỏ hơn có tính như nhau về nhu yếu mong ước hoặc là phản ứng kích thíchmarketing. Để phân đoạn thị trường một cách hiệu suất cao nó phải bảo vệ được 4 nhu yếu sau : – Có thể thống kê giám sát được quy mô nhu cầu mua sắm và nhìn nhận được hiệu suất cao củahoạt động marketing mà tất cả chúng ta vận dụng. – Nó có năng lực tiếp cận được tức là phân đoạn này giúp ta hoàn toàn có thể tiếpcận được thị trường. – Nó phải tạo được thị trường với quy mô đủ lớn bảo vệ kinh doanh thương mại cóhiệu quả. – Công ty phải đủ khẳ năng tổ chức triển khai hoạt động giải trí marketing. Để phân loại thị trường người ta dựa vào 4 cơ sở chính : – Địa lý : Dựa voà cơ sở này người ta chia thị trường theo tiêu thức : + Thị trường quốc tế là nơi diễn ra các hoạt động giải trí mua và bán hàng hoá giữacác vương quốc với nhau. + Thị trường vương quốc là hoạt động giải trí mua và bán của những người trong cùngmột vương quốc. + Thị trường khu vực. + Thị trường đơn vị chức năng hành chính như thành phố, nông thôn. Đây là cơ sở phổ cập, địa lý được coi là cơ sở số một để tạo ra sự khác biệtvề mong ước và cầu nó thường được nhận ra rõ ràng đặc thù hành vi. – Dân số và xã hội : dựa vào cơ sở này thị trường tổng thể và toàn diện hoàn toàn có thể được chiatheo tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính cũng là cơ sở rất phổ cập để phân đoạn thịtrường. Nó tạo ra sự độc lạ rất rõ nét về cầu. – Phân đoạn thi trường theo tân lý : Nhu cầu, mong ước hoàn toàn có thể ý niệm giá trị nómang nặng tâm ý thế cho nên sự độc lạ về cầu độc lạ trên hình thức phân loại thịtrường gồm có thái độ động cơ quan điểm sống. – Phân chia thi trường theo hành vi dựa vào cơ sở này thị trường được chiatheo ưu điểm về hành vi lựa chọn và tiêu dùng mẫu sản phẩm, nguyên do mua quyền lợi tìmkiếm số lượng và tỷ suất tiêu dùng mức độ trung thành với chủ thương hiệu, mức độ trungthành mua. – Phân đoạn thị trường người mua là các tổ chức triển khai : việc phân đoạn thitrườngtheo cách này cũng có đặc thù riêng những tiêu thức để phân đoan dựatheo địa lý đây cũng là tiêu thức quan trọng vì nó cũng gắn liền quy mô mua. – Ngoài ra người ta hoàn toàn có thể phân đoạn thị trường theo mức mua trung bìnhđiều quan trọng hơn để phân đoạn thị trường là tiến trình hai bước đó là phânđoạn thị trường vĩ mô và vi mô. + Vĩ mô, người ta chia thị trường theo các loại : thị trương người sản xuất, thịtrường bán buôn bán lẻ thị trường kinh tế tài chính. + Vi mô ở bước này người ta tìm kiếm tiêu thức mô phỏng rõ ràng kháchhàng mà ta phân loại ở vĩ mô. c. Chọn thị trường mục tiêuSau khi triển khai phân đoạn thị trường bước tiếp theo các công ty phải đưara được các quyết định hành động về số lượng đoạn thị trường được lựa chọn và đoạn thịtrường mê hoặc nhất. Để có các quyết định hành động xác đáng nhất về các đoạn thị trườngđược lựa chọn thiết yếu phải triển khai một tiến trình các việc làm hầu hết sau : Thứ nhất, nhìn nhận các đoạn thị trường. Thứ hai, lựa chọn đoạn thị trường chiếmlĩnh hay đoạn thị trường tiềm năng. Thị trường tiềm năng là thị trường gồm có các người mua có cùng nhu cầuhoặc mong ước mà công ty có năng lực cung ứng đồng thời có năng lực tạo ra ưuthế hơn so với đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu và đạt được các tiềm năng đã định. Các địa thế căn cứ để chọn thị trường tiềm năng đây cũng chính là đặc thù cơ bảnđể nhìn nhận đúng mục tiêu thị trường. – Quy mô và sự tăng trưởng : Đây là gia tài số 1 được sử dụng để đánh giámức độ của đoạn thị trường vì nó cho phép công ty xá định những đoạn thị trườngcó quy mô hiệu suất cao và có năng lực kinh doanh thương mại lâu bền hơn. – Sức ép hay sự đe doạ so với những đoạn thị trường : bất kể ở những đoạnthị trường nào thì công ty cũng phải chịu những áp lực đè nén khác nhau chính những áplực ấy nó làm cho mê hoặc hoặc kém mê hoặc. 2.5.2. Chức năng của thị trườngThị trường gắn liền với hoạt động giải trí trao đổi hàng hoá. Hoạt động của các chủthể kinh tế tài chính trên thị trường là quy trình triển khai các tính năng khác nhau tác độngđến đời sống xã hội. Thị trường có 1 số ít tính năng cơ bản sau : Chức năng thừa nhận : Hàng hoá của doanh nghiệp có bán được hay khôngphải trải qua tính năng thừa nhận của thị trường. Để được thị trường chấp nhậnthì hàng hoá và dịch vụ phải cung ứng nhu yếu của người mua và phải có sự phùhợp về chất lượng, Ngân sách chi tiêu, quy cách, chủng loạ, sắc tố. Chức năng triển khai : thị trường triển khai hành vi trao đổi hàng hoá, thựchiện tổng cung và tổng cầu trên thị trường, thực thi cân đối cung và cầu từng loạihàng hoá, triển khai giá trị trải qua Chi tiêu, triển khai việc trao đổi giá trị. v.v. Chức năng điều tiết, kích thích : Qua hành vi trao đổi hàng hoá trên thịtrường, thị trường điều tiết và kích thích sản xuất kinh doanh thương mại tăng trưởng hoặc ngượclại. Chức năng này luôn điều tiết doanh nghiệp nên gia nhập hay rút khỏi ngànhsản xuất kinh doanh thương mại. Nó khuyến khích góp vốn đầu tư vào nghành kinh doanh thương mại có lợi, cácmặt hàng mới, chất lượng cao, có năng lực bán được khối lượng lớn … Chức năng thông tin : Trong toàn bộ các khâu của quy trình tái sản xuất hànghoá, chỉ có thị trường mới có công dụng thông tin. Đó là những thông tin kinh tếquan trọng so với mọi đơn vị sản xuất, kinh doanh thương mại, cả người mua và người bán, cảngười đáp ứng và người tiêu dùng, cả người quản trị và những người nghiên cứusáng tạo. Có thể nói đó là những thông tin được sự chăm sóc của toàn xã hội. Những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau trên thị trường hoàn toàn có thể giúp cho các nhàkinh doanh đề ra chủ trương, kế hoạch tương thích cho doanh nghiệp mình nhằm mục đích mởrộng thị trường như chủ trương loại sản phẩm, công nghệ tiên tiến, kế hoạch quảng cáo. Bốn tính năng trên của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Takhông nên ý niệm công dụng nào quan trọng hơn tính năng nào. Song cũngcần thấy rằng chỉ khi tính năng thừa nhận được triển khai thì các tính năng khácmới phát huy công dụng. 2.5.3. Vai trò của thị trường so với hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại củadoanh nghiệpThị trường có vai trò quan trọng so với sản xuất kinh doanh thương mại và quản trị kinh tếtrong quy trình tái sản xuất, thị trường lằm trong khâu lưu thông do vậy thị trườnglà một khâu tất yếu của sản xuất hàng hoá. Thị trường chỉ mất đi khi sảnxuất hàng hoá không còn. Thị trường là chiếc “ cầu nối ” giữa sản xuất và tiêu dùng. Thị trường không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động giải trí mua và bán, nó còn thểhiện các mối quan hệ hàng hoá – tiền tệ. Do đó thị trường được coi là môi trườngkinh doanh. Thị trường là khách quan, mỗi doanh nghiệp không có năng lực làm thayđổi thị trường mà ngược lại họ phải tiếp cận để thích ứng với thị trường. Do vậy, thị trường được coi là “ sự sống ” của các doanh nghiệp. Thị trường bảo vệ điều kiện kèm theo cho sản xuất tăng trưởng liên tục với quy môngày càng lan rộng ra và bảo vệ hàng hoá cho người tiêu dùng tương thích với thị hiếuvà sự tự do lựa chọn một cách không thiếu, kịp thời, thuận tiện. Nó thôi thúc và gợi mở nhu yếu, đưa đến cho người sản xuất và người tiêudùng những mẫu sản phẩm mới có chất lượng cao. Thị trường chính là nời hình thành vàxử lý các mối quan hệ giữa doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác, giữa cácdoanh nghiệp với nhà nước. Thị trường hướng dẫn các đơn vị sản xuất kinh doanh thương mại qua sự biểu lộ về cungcầu, Chi tiêu trên thị trường. Nghiên cứu nó để xác lập nhu yếu của khách hàngnhằm xử lý ba yếu tố kinh tế tài chính cơ bản của mình : sản xuất cái gì ? sản xuất nhưthế nào ? và sản xuất cho ai ? Trong quản trị kinh tế tài chính, thị trường vừa là đối tượng người dùng, vừa là địa thế căn cứ của kếhoạch hoá, nó là công cụ bổ trợ cho các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế tài chính củaNhà nước. Thị trường là nơi mà trải qua đó Nhà nước ảnh hưởng tác động vào quá trìnhkinh tế của các doanh nghiệp. Đồng thời, thị trường sẽ kiểm nghiệm đặc thù đúngđắn của các chủ trương, chủ trương của Đảng và Nhà nước phát hành. Qua đây ta thấy rằng tầm quan trọng của vai trò thị trường so với hoạt độngsản xuất kinh doanh thương mại là không hề phủ nhận. Như vậy, rõ ràng là không có sự hiểu biết vừa đủ về khái niệm nhu yếu, sảnphẩm, giá trị ngân sách, sự thoả mãn, trao đổi, thanh toán giao dịch, thị trường thì chúng takhông thể hiểu đúng đắn và không thiếu khái niệm về marketing. 3. Nội dung hoạt động giải trí Marketing3. 1. Nghiên cứu thị trường và chiêu thức điều tra và nghiên cứu thị trường3. 1.1. Nghiên cứu thị trườngKhi doanh nghiệp kinh doanh thương mại theo quan điểm marketing có nghĩa là doanhnghiệp sẽ theo đuổi tiềm năng tối đa hoá doanh thu nhờ việc cung ứng tối đa hoá nhucầu người mua bằng phương pháp tối ưu muốn vậy họ phải nghiên cứu và điều tra marketingnghiên cứu thị trường và người mua tiềm năng để thấy được những phản ứng củahọ trước những quyết định hành động marketing. Vì thị trường rất to lớn và không đồngnhất thế cho nên phải triển khai điều tra và nghiên cứu để có những quyết định hành động tương thích khi nguồnlực và năng lực hạn chế. Nhu cầu và mong ước của con người là rất phức tạp dođó cần có những điều tra và nghiên cứu cụ thể thì mới hoàn toàn có thể xác lập đúng đắn nhu yếu vàcách thức để cung ứng nhu yếu đó. a. Nghiên cứu khái quát thị trườngDoanh nghiệp cần phải điều tra và nghiên cứu khái quát thị trường khi doanh nghiệpđịnh xâm nhập vào một thị trường mới hoặc khi doanh nghiệp định kỳ nhìn nhận lạihoặc xem xét lại hàng loạt chủ trương marketing của mình trong thời hạn dài đối vớimột thị trường xác lập. Nội dung đa phần của phần này là phải giải đáp 1 số ít yếu tố quan trọngsau : – Đâu là mẫu sản phẩm quan trọng nhất trong các loại sản phẩm của doanh nghiệp haylà nghành nào là tương thích nhất với những hoạt động giải trí của doanh nghiệp ? – Khả năng bán mẫu sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đó là bao nhiêu ? – Doanh nghiệp cần có những chủ trương như thế nào để tăng cường khảnăng bán hàng ? Để tìm ra được câu vấn đáp thì việc nghiên cứu và điều tra khái quát thị trường phải đisâu nghiên cứu và phân tích các yếu tố sau : + Quy mô, cơ cấu tổ chức và sự hoạt động của thị trường. + Các tác nhân của môi trường tự nhiên kinh doanh thương mại : dân cư, kinh tế tài chính, văn hoá xã hội, chính trị pháp lý, khoa học công nghệ tiên tiến … b. Nghiên cứu chi tiết cụ thể thị trườngNghiên cứu về tập tính hiện thực và thói quen của người tiêu dùng nhằm mục đích trảlời các câu hỏi : Ai là người mua của doanh nghiệp ? ở lứa tuổi nào, ở các tầng lớpxã hội nào ? Khách hàng cần số lượng là bao nhiêu, mua ở đâu, khi nào và hìnhthức thanh toán giao dịch. Trên cơ sở đó giúp cho doanh nghiệp xu thế được chính sáchphân phối đúng đắn. 3.1.2. Phương pháp nghiên cứu và điều tra thị trườngNghiên cứu thị trường thực ra là tích lũy thông tin và giải quyết và xử lý thông tin, trải qua đó doanh nghiệp đưa ra những quyết định hành động thiết kế xây dựng kế hoạch thịtrường. Sau đây là nội dung của các giải pháp nghiên cứu và điều tra thị trường : a. Phương pháp tích lũy thông tinThu thập thông tin về loại hàng hoá, về khối lượng, phương pháp kinh doanhtrên thị trường là bước tiên phong, có đặc thù quyết định hành động, chi phối các bước tiếptheo. Nếu thông tin về thị trường không rất đầy đủ, thiếu đúng chuẩn thì việc xử lýthông tin và ra quyết dịnh dễ bị xô lệch, thường thì các doanh nghiệp sử dụnghai chiêu thức tích lũy thông tin sau : * Thu thập thông tin qua tài liệu : là dựa vào nguồn tài liệu công khai minh bạch để thuthập thông tin. Đây là chiêu thức khá thông dụng, ít tốn kém, thích nghi với cácdoanh nghiệp quy trình tiến độ đầu bước vào thị trường. Nhưng có điểm yếu kém là độ tincậy không cao và không kịp thời. * Phương pháp điều tra và nghiên cứu hiện trường : chiêu thức này đa phần thu thậpthông tin từ trực quan và các quan hệ tiếp xúc với thương nhân và người tiêudùng. Nó có ưu điểm là giải quyết và xử lý thông tin kịp thời và đúng mực, nhưng lại tốn kém vàphức tạp. Phương pháp này gồm có các hình thức sau : Phương pháp quan sát, chiêu thức thực nghiệm, giải pháp phỏng vấn, chiêu thức tìm hiểu chuyênsâu. b. Phương pháp sử lý thông tinSau khi tích lũy thông tin, nhà kinh doanh phải triển khai giải quyết và xử lý thông tin. Xử lý thông tin kịp thời, đúng chuẩn giúp cho doanh nghiệp luôn chớp lấy được tìnhhình thị trường để kiến thiết xây dựng kế hoạch, kế hoạch thị trường hợp lý. Nội dung chủyếu của việc giải quyết và xử lý thông tin gồm có :

Source: https://evbn.org
Category: Góc Nhìn