III. BỘ MÁY QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản không thiếu của tài liệu tại đây ( 1.31 MB, 168 trang )

cấp cơ sở có bộ máy quản lý của các trường học.

. Cơ cấu tổ chức của từng cơ quan là cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý giáo dục

ở từng cấp quản lý hoặc ở từng bộ phận quản lý giáo dục. Ví dụ, Bộ GD&ĐT có cơ

cấu 13 vụ công lác và 3 đơn vị: Văn Phòng, Thanh tra và Cục Khảo thí.

Khi xác định cơ cấu tổ chức bộ máy sẽ xuất hiện thuật ngữ cấp quản lý. Trong

cấp quản lý còn chia nhỏ tới các bộ phận (đơn vị hoặc cá nhân) tham gia trong cấp

quản lý đó.

Cấp quản lý là sự liên kết thống nhất tất cả cán bộ phận quản lý ở cùng một cấp

bậc trong hệ thống quản lý. Cấp quản lý chỉ rõ thứ bậc phục tùng của các cơ quan quản

lý từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất.

Như vậy, cơ cấu tố chức quản lý là hình thức thể hiện sự phân công lao động

giữa các đơn vị, bộ phận quản lý.

Giữa các bộ phận cấu thành một tổ chức bao giờ cũng hình thành mối quan hệ

phụ thuộc và mối quan hệ phối hợp:

. Mối quan hệ phụ thuộc hay mối quan hệ lãnh đạo – phục tùng là mối quan hệ cơ

bản, trực liếp gắn chặt các bộ phận cấu thành với nhau.

. Mối quan hệ phối hợp là mối quan hệ hiệp thương trong công tác, thường thấy

giữa các bộ phận ngang cấp nhau trong tổ chức.

Tóm lại, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý GD&ĐT là tập hợp các bộ phận (đơn vị

hay cá nhân) có mối quan hệ phụ thuộc và phối hợp, được chuyên môn hoá, có chức

năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định, được bố trí theo nhưng cấp hoặc các bộ phận

khác nhau nhằm thực hiện các chức năng quản lý và mục tiêu chung đã được xác định.

+ Cấu trúc tổ chức bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo.

Cấu trúc tổ chức là lược đồ mô tả các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của các bộ

phận (đơn vị hoặc cá nhân) trong bộ máy quản lý GD&ĐT nhằm thực hiện có hiệu lực,

hiệu quả trong quản lý.

Theo nghĩa đơn giản nhất: Cấu trúc tổ chức là cách thức mà các bộ phận của

một tổng thể được sắp xếp trong mối quan hệ lẫn nhau: tuỳ theo các đặc điểm của hoạt

động, của tình hình nhân sự, của qui mô quản lý mà có được các loại hình tổ chức bộ

máy quản lý khác nhau.

(+) Các mô hình cấu trúc tổ chức:

Căn tứ vào phương thức vận hành là các mối quan hệ quản lý, có thể phân biệt

ra các kiểu cấu trúc khác nhau trong quản lý:

46

. Kiểu cấu trúc trực tuyến.

Cấu trúc trực tuyến chỉ rõ mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới được quy định

theo nguyên tắc trực tuyến (đường thẳng). Người thủ trưởng thực hiện tất cả các chức

năng quản lý và chịu trách nhiệm trực tiếp trước mọi hoạt động của cấp dưới. Người

thừa hành (bộ phận hay cá nhân) chỉ nhận nhiệm vụ và chịu trách nhiệm với một cấp

trên trực tiếp.

+ Nguyên tắc tính đẳng cấu hay nguyên tắc tính phù hợp giữa cơ cấu tổ chức

của cơ quan quản lý với tính phức tạp của chức năng, nhiệm vụ quản lý, tính đa dạng

của các mục tiêu quản lý, quy mô và độ phức tạp của đối tượng quản lý cũng như với

các điều kiện quản lý

+ Nguyên tắc bảo đảm khả năng quản lý được hay nguyên tắc đảm bảo khối

lượng có thể kiểm tra được.

Một người lãnh đạo này một cơ quan quản lý chỉ có thể quản lý có hiệu quả với

một số lượng tối ưu các đối tượng quản lý (số người, số cặp, số bộ phận dưới quyền).

Nếu vượt quá giới hạn thì hiệu quả quản lý bị giảm sút.

+ Nguyên tắc nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm phải được qui định rõ ràng và

tương xứng với nhau.

Nhiệm vụ và quyền hạn giao cho từng người, từng bộ phận, từng cấp phải rõ

ràng, hợp lý không có sự chồng chéo, quyền hạn phải đi đôi tương xứng với trách

nhiệm. Nếu chỉ giao nhiệm vụ mà không giao quyền hạn là không đảm bảo điều kiện

tối thiểu cho việc hoàn thành nhiệm vụ. Ngược lại, giao quyền hạn mà không xác định

rõ trách nhiệm hay không tương xứng với trách nhiệm sẽ sinh ra lạm quyền.

+ Nguyên tắc đảm bảo tính linh hoạt.

Cơ cấu tổ chức quản lí phải linh động và dễ thích nghi nghĩa là dễ có khả năng

cải tiến và biến đổi tuỳ theo mục đích chung và riêng của quản lý, tuỳ theo chất lượng

của các thành tố trong hệ quản lý và những điều kiện của quản lý để đáp ứng những

yêu cầu mới của tình hình thực tế, đồng thời cũng có khả năng tự hoàn thiện khi đã có

nhiều kinh nghiệm tích luỹ.

– Phương pháp xây dựng bộ máy quản lý

Xây dựng bộ máy quản lý, người ta thường sử dụng các phương pháp chủ yếu

sau:

+ Phương pháp xây dựng theo mẫu.

Dựa trên các mô hình cơ cấu tổ chức quản lý tương tự có sẵn trong thực tế, ở đó

các nhiệm vụ quản lý được thực hiện một cách trôi chảy, có chất lượng cao (kể cả

trong nước hoặc ngoài nước), từ đó đưa ra một mô hình cơ cáu tổ chút lý tưởng, trên

cơ sở phân tích cơ cấu tổ chức hiện tại, các điều kiện quản lý cụ thể của cơ quan quản

47

lý, tôi so sánh với mô hình lý tưởng xác định tính đồng nhất của chức năng, nhiệm vụ

quản lý, của kết quả cuối cùng (sản phẩm), tính tương tự của các đặc điểm về con

người, xã hội, lãnh thổ… từ đó điều chỉnh cải tiến cho sát gần với mô hình lý tưởng vả

mô hình của đơn vị mình sao cho phù hợp và khả thi.

+ Phương pháp thử nghiệm và loại suy.

Làm thực nghiệm theo mô hình dự kiến ở một sổ vùng điển hình (thành phố,

đồng bằng, trung du, miền núi…).

. Từ kết quả thực nghiệm chọn ra một số mô hình hợp lí

. Vận dụng các mô hình đó theo đặc điểm của từng vùng.

+ Phương pháp phân tích – tổng hợp.

. Căn cứ vào các văn bản pháp quy, từ chức năng, nhiệm vụ chung của cơ quan

quản lí phân tích, liệt kê tất cả các nhiệm vụ của đối tượng quản lý.

. Sắp xếp các công việc thành các nhóm nhiệm ăn phải quản lý.

. Từ các nhóm nhiệm vụ mà xác định các bộ phận, thiết kế cơ cấu các tầng bậc

của cơ quan quản lý

+ Phương pháp kết cấu hoá các mục tiêu quản lý.

Phương pháp này dựa vào việc biệt lập một hệ thống các mục tiêu quản lý. Cơ

cấu được xây dựng trên quan điểm hệ thống, bao quát tất cả các hoạt động của cơ

quan. Đồng thời sử dụng cách mô tả cơ cấu bằng biểu đồ cho các phương án thành lập

và hoạt động của bộ máy quản lý.

IV. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ GD&ĐT

Các văn bản pháp lý liên quan tới tổ chức bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo

bao gồm các văn bản chủ yếu sau:

1. Hiến pháp nứơc cộng hoà xã hội chủ nghĩa biệt Nam.

Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung

năm 2001. Trong Hiến pháp có các điều 35 điều 36, điều 39 là những căn cứ cho việc

tổ chức bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo

2. Luật Tổ chức Chính phủ.

Luật Tổ chức Chính phủ được Chủ tịch nước công bố ngày 7 tháng 01 năm 2002.

Trong Luật Tổ chức Chính phủ có các điều 1, điều 22, điều 23, điều 26, điều 27 điều

28 liên quan tới việc tổ chức bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo.

3. Luật Giáo dục.

Luật Giáo dục được Chủ tịch nước công bố ngày 11 tháng 12 năm 1998. Trong

Luật Giáo dục có các 9 chương, 110 điều liên quan tới việc tổ chức bộ máy quản lý

giáo dục và đào tạo. Đặc biệt các điều 86 và điều 87 quy định rõ nội dung và cơ quan

48

quản lý nhà nước về GD&DDT.

4. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.

Ngày l0-l2-2003 Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký lệnh công bố Luật Tổ

chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân. Trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân

và ủy ban nhân dân có các điều 102, điều 114 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của

UBND trong việc quản lý lĩnh vực GD&ĐT. Các điều 128, điều 128, điều 130 qui

định chung về tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn (Sở và Phòng GD&ĐT)

giúp UBNĐ quản lý nhà nước về giáo dục ở địa phương.

5. Nghị định của Chính phủ qui định chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Chính phủ có 2 Nghị định: Nghị định số 86/2002/NĐ – CP, ngày 05/11/2002, qui

định chức năng nhiệm vụ là cơ cấu tổ chức của cơ quan ngang Bộ: Nghị định số

85/2003/NĐ – CP, ngày 18/7/2003, qui định chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

của Bộ GD&ĐT.

6. Thông tư liên tịch số 21/2004/TTLT BGD&ĐT-BNV.

Thông tư liên tịch số 21/2004/TTLT của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội Vụ, ngày

23/7/2004, quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan

chuyên môn (Sở GD&ĐT và Phòng GD&ĐT) giúp UBND quản lý nhà nước về

GD&ĐT ở địa phương.

7. Nghị định số 166/2004/NĐ-CP

Nghị định số 166/2004 NĐ-CP, ngày 16/9/2004, quy định trách nhiệm QLNN về

giáo dục

V. BỘ MÁY QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo

+Vị trí và chức năng

Theo Hiến pháp và Luật tổ chức Chính phủ Bộ là bộ phận cấu thành Chính phủ.

Theo cách phân loại chung, có hai loại bộ: một là, bộ quản lý lĩnh vực cơ bản như: kế

hoạch, tài chính, lao động, ngoại giao, tổ chức … ; hai là, bộ quản lý ngành. Bộ giáo

dục và đào tạo thuộc nhóm bộ quản lý ngành như kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, xã hội ….

Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN

về GD&ĐT trên phạm vi cả nước bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,

giáo dục trung học chuyên nghiệp, giáo dục đại học, sau đại học và giáo dục không

chính quy quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc các lĩnh vực quản lý của Bộ:

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT là thành viên Chính phủ, là người đứng đầu và lãnh đạo

bộ: chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lý nhà nước

vế GD&ĐT trong phạm vi cả nước.

49

Source: https://evbn.org
Category: Đào Tạo