sử dụng và bảo quản thiết bị đồ dùng môn vật lí – Tài liệu text

sử dụng và bảo quản thiết bị đồ dùng môn vật lí

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (186.99 KB, 10 trang )

Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
A. Đặt vấn đề
Đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Với mục tiêu sớm đưa nước ta trở thành một
nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, ngành Giáo dục đã và đang đứng
trước yêu cầu mới: cần phải đào tạo con người mới năng động, có kiến thức, có năng
lực tư duy, có kĩ năng cơ bản cần thiết đáp ứng cho yêu cầu đổi mới đất nước. Để đạt
mục tiêu đó, nhiệm vụ quan trọng là phải đổi mới phương pháp giáo dục trong hệ
thống giáo dục phổ thông thông qua đổi mới sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy
học ở tất cả các môn học – trong đó có môn Vật lí.
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm cung cấp những kiến thức vật lí phổ
thông cơ bản, có hệ thống và tương đối toàn diện. Theo yêu cầu đổi mới, mỗi giáo
viên phải suy nghĩ làm thế nào để qua mỗi tiết học, mỗi kiến thức mới các em học
sinh được xây dựng trên cơ sở các thao tác thí nghiệm để tìm ra nguyên nhân, tìm
ra cách xử lí các tình huống, các thông tin, ghi nhớ kiến thức và vận dụng vào thực
tế. Có như vậy tiết học mới phong phú và chất lượng. Qua đó rèn luyện khả năng tư
duy chính xác, rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo, tính cần cù và phương pháp
làm việc khoa học cho lớp người làm chủ tương lai.
Vấn đề đặt ra là: mỗi giáo viên dạy Vật lí phải bố trí phòng học như thế nào
cho khoa học? Phải sử dụng thiết bị dạy học sao cho hiệu quả nhất? Phải bảo quản
thiết bị ra sao để chất lượng đồ dùng không bị sa sút? Đó là vấn đề tôi đã và đang quan
tâm trong quá trình dạy học. Xin trình bày để các bạn đồng nghiệp cùng traođổi, góp
ý, xây dựng ý tưởng vận dụng cho các phòng học Vật lí.
b. Nội dung
I. Thực trạng vấn đề
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, nơi có rất nhiều các dân tộc sinh sống.
Được sự quan tâm, ưu đãi của Đảng và nhà nước với giáo dục miền núi, ngày nay giáo
dục Thái Nguyên đã có sự phát triển và có những thành tựu đáng kể. Cơ sở vật chất
trường lớp đã được nâng cấp, xoá dần các phòng học tranh tre nứa lá. Các thiết bị, đồ
dùng dạy học được cấp phát tương đối đầy đủ. Đội ngũ giáo viên được chuẩn hoá, có
trình độ chuyên môn, say mê và gắn bó với nghề. Số học sinh yêu thích môn Vật lí

(1)
Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
ngày càng nhiều hơn, nhiều em đạt được các giải cao trong các kì thi học sinh giỏi bộ
môn.
Song, có một thực tế tồn tại là: hầu hết đội ngũ giáo viên có trình độ, tâm
huyết với nghề nhưng kinh nghiệm còn hạn chế dẫn đến giải quyết các vấn đề bài học
chưa linh hoạt; đồ dùng được cấp phát tương đối đầy đủ song chất lượng còn chưa đáp
ứng được yêu cầu của bài học. Nhiều trường chưa có phòng học dành riêng cho bộ
môn nên việc sử dụng gặp phải khó khăn; trong quá trình sử dụng thiết bị bị hư hỏng
và mất mát do ý thức học sinh chưa cao. Thiết bị vận chuyển từ kho đến lớp học có thể
xảy ra sự cố. Thiết bị hư hỏng không được bổ sung kịp thời sẽ ảnh hưởng đến chất
lượng tiết học của những năm học sau.
Qua 3 năm làm nhiệm vụ giảng dạy và phụ trách phòng Vật lí, tôi nhận thấy
rằng học sinh rất yêu thích các giờ học thực hành. Qua các thao tác thực hành, học
sinh khắc sâu và ghi nhớ kiến thức tốt hơn. Để có một tiết thực hành hiệu quả thì giáo
viên phải mất rất nhiều thời gian chuẩn bị đồ dùng, làm các thí nghiệm để kiểm tra
mức độ thành công trước khi cho học sinh tiến hành. Song có trường hợp lúc thực
hành thử thì thành công nhưng lúc thực hành trong giờ dạy lại thất bại. Thí nghiệm
thành công gây hứng thú cho học sinh phát huy được khả năng tìm tòi sáng tạo của các
em. Thí nghiệm không thành công sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các
em vì kiến thức đưa ra không có cơ sở khoa học dẫn tới sự chán nảảntong học sinh khi
tiếp thu kiến thức.
Trong thực tế, tôi còn thấy đồ dùng dạy học môn Vật lí đã được trang bị cho
cả cấp học song chất lượng một số đồ dùng rất kém, một số lại không phù hợp. Ví dụ :
– Thiết bị cho thí nghiệm về lực điện từ không thực hiện được.
– Máy biến thế thực hành không đúng điện áp thứ cấp ghi trên máy.
– Các nhiệt kế đặt trong phòng nhiệt độ ban đầu không như nhau trong cùng
một điều kiện.
– Các kim nam châm không chỉ đúng hướng Bắc – Nam khi để ở trạng thái tự do.
– Bề mặt một số gương phẳng, gương cầu bị mờ không quan sát và so sánh

ảnh được ảnh v. v. v
(2)
Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
Làm thế nào giải quyết thực trạng trên? Qua thực tế giảng dạy và phụ trách
phòng học Vật lí, tôi xin đưa ra một số giải pháp thực hiện cho phòng học bộ môn để
các bạn tham khảo.
II. Một số giải pháp
Để sử dụng thiết bị dạy học hiệu quả thì từ việc sắp xếp, bố trí phòng thí
nghiệm đến việc hướng dẫn học sinh thực hành và bảo quản đồ dùng sau mỗi tiết học
đều đóng vai trò quan trọng.
1. Tổ chức, sắp xếp phòng học.
Trường THCS Đồng Tiến được công nhận là Trường chuẩn quốc gia năm
2004. Từ năm 2004 đến nay, việc dạy và học Vật lí tại phòng chức năng được duy trì
và có nề nếp tương đối ổn định. Để tập trung sự chú ý của học sinh vào công việc học
tập, yếu tố đầu tiên cần quan tâm là khâu tổ chức bố trí phòng học sao cho khoa học.
Phòng học môn Vật lí có diện tích 47,5m
2
> Phòng được trang bị 12 bộ bàn
ghế học sinh, 8 đèn chiếu sáng và hai quạt trần. Phòng học được chia làm ba dãy, với
mỗi dãy chia làm hai nhóm cho học sinh hoạt động nhóm và làm thí nghiệm. Hệ
thống điện lắp đặt phù hợp và an toàn dành cho học sinh lớp 7 và lớp 9 khi nghiên cứu
phân môn điện học. Các cửa kính có treo rèm nhung vừa có thể mở hệ thống cửa cho
thoáng lớp học, vừa tạo điều kiện về ánh sáng cho học sinh học phần Quang học lớp
7và lớp 9.
Thiết bị dạy học đặt trong tủ kính nhiều ngăn ở cuối phòng học.
Theo tôi, thiết bị được chia thành nhóm đặt ở các vị trí nhất định từ trái sang
phải khi nhìn từ trên xuống gồm có :
* Nhóm thiết bị dùng chung như giá đỡ, đèn, biến thế thực hành, tranh. Và các
dụng cụ sửa chữa đồ dùng khi hư hỏng như kìm, tua vít, bút thử điện…
* Nhóm thiết bị Cơ học

* Nhóm thiết bị Nhiệt học.
* Nhóm thiết bị Quang học.
* Nhóm thiết bị Điện học.
* Nhóm thiết bị Điện từ học.
(3)
Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
* Nhóm thiết bị Âm học
Ngoài ra, trong quá trình làm thí nghiệm, do chất lượng thiết bị và do sử dụng
nhiều lần nên một số linh kiện nhỏ như ốc, vít, chốt nối dây …. bị rơi ra đều được thu
gom đặt chung trong một chiếc hộp nhỏ để cùng nhóm thiết bị dùng chung tiện lợi
cho việc sửa chữa thiết bị hư hỏng.
Việc sắp xếp này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên dễ dàng chuẩn bị và lựa
chọn đồ dùng tốt nhất cho tiết học, vừa dễ kiểm tra về số lượng, và thuận lợi cho việc
cất giữ, bảo quản. Bên cạnh đó, việc sắp xếp này còn góp phần làm cho khung cảnh
phòng học trở lên rộng rãi, ngăn nắp.
2. Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học.
Có người nói: “ Dạy học là nghệ thuật giúp học sinh tìm ra chân lí”. Vì vậy,
mỗi giờ học với sự chuẩn bị chu đáo của giáo viên, với sự tích cực, chủ động của học
sinh cùng với việc sử dụng linh hoạt các thiết bị dạy học, kiến thức học sinh thu được
có tính thuyết phục cao như tìm ra chân lí vậy. Để sử dụng đồ dùng đạt hiệu quả, các
giáo viên phải chuẩn bị chu đáo cho tiết học, phải dành thời gian cho việc lắp ráp, tiến
hành, nghiên cứu hiện tượng xảy ra, các tình huống có thể nảy sinh. Hoàn thành tốt
điều này, giáo viên phải nghiêm túc thực hiện nội qui phòng học :
* Đăng kí tiết dạy, bài dạy, lớp dạy tại phòng học.
(Ghi vào sổ báo giảng của phòng học bộ môn theo các cột)
Tuần:…….Từ ngày…tháng… năm….đến ngày….tháng….năm… ).
Thứ, ngày,
tháng,năm
Tiết 1 Tiết 2 Tiết 3 Tiết 4 Tiết 5
• Đăng kí mượn đồ dùng vào sổ theo dõi sử dụng thiết bị :

Họ và tên giáo viên: …………………………….Tổ :………………….
Ngày
mượn
Tên đồ
dùng
Số
lượng
Dạy tiết
Theo
PPCT
Lớp
dạy
Kí tên Ngày trả Chất
lượng đồ
dùng khi
(4)
Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
trả
Sau khi mượn đồ dùng, giáo viên lắp ráp và tiến hành thí nghiệm. Thí nghiệm
nào không thành công phải tìm ra nguyên nhân như:
– Do chất lượng đồ dùng.
– Do trình tự thực hiện chưa đúng.
– Do thời tiết.
Khi đã tìm được nguyên nhân, giáo viên sẽ tìm ra hướng khắc phục: Do chất
lượng đồ dùng phải tìm cách thay thế. Do trình tự chưa đúng thì tháo ra thực hiện lại
các thao tác. Do tiếp xúc kém thì phải xiết lại các ốc vít. Biến thế không đúng điện áp
đầu ra phải quấn lại, kiểm tra cách điện an toàn. Dưới đây là một số ví dụ tôi đã gặp :
*Ví dụ 1: Khi dạy bài Lực điện – lớp 9, với bộ đồ dùng cấp phát, thí nghiệm
không thành công, tôi thay thế thanh AB bằng thanh đồng kích thước lớn hơn gia công
nhờ một thợ cơ khí, có mài vị trí buộc hai dây đồng mảnh nối vào mạch điện. Kết quả

thu được thí nghiệm rất thành công và vận dụng kiểm tra chiều lực điện từ xác định
theo quy tắc bàn tay trái ứng với chiều chuyển động của dây dẫn AB có dòng điện
chạy qua đặt trong từ trường của nam châm.
*Ví dụ 2: Bài “ Động cơ điện một chiều”. Khi vận hành, có dòng điện chạy
qua song rô to không quay. Nguyên nhân: Do hai thanh quét tì không đúng vị trí, mạch
điện tiếp xúc kém. Tôi đã xử lí bằng cách xác định đúng vị trí của thanh quét tiếp xúc
với vành khuyên và kiểm tra tiếp xúc của mạch điện
Để các đồ dùng được sử dụng với các thao tác thành thạo cho từng bài, nhóm
giáo viên Toán- Lí đã thực hiện chuyên đề sử dụng thiết bị, đồ dùng Vật lí cho hiệu
quả cao nhất, phân công dạy thể nghiệm áp dụng chuyên đề theo các ý kiến thống
nhất. Có ý kiến cho rằng chúng ta nên phân loại bài học theo nhóm để đạt hiệu quả
cao. ý tưỏng này được xây dựng và vận dụng vào dạy giờ thao giảng đạt kết quả
đáng ghi nhận. Cụ thể là chúng ta có thể chia bài ra theo :
* Nhóm các bài sử dụng dụng cụ đo.
(5)
Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
* Nhóm bài sử dụng thiết bị để phát hiện kiến thức mới.
* Nhóm bài sử dụng thí nghiệm chứng minh kiến thức…
Làm thật tốt từng loại bài ngay từ tiết học đầu tiên thì các bài học thuộc các
nhóm đó sẽ đạt hiệu quả và tạo cho học sinh trình tự làm thí nghiệm cho từng kiểu
bài tương tự. Sau đây là một số ví dụ :
+) Ví dụ 1. Bài 1- 2 “ Đo độ dài”- Vật lí 6.
GV: Chuẩn bị các loại thước đo chiều dài (thước thẳng, thước dây, thước cuộn).
GV : Phát phiếu học tập : Cô giáo có một số thước
-Thước thẳng GHĐ 30cm, ĐCNN 0,5cm
-Thước dây GHĐ 1,5m, ĐCNN 0,5cm.
-Thước cuộn GHĐ 5m, ĐCNN 1cm
Em chọn thước nào đo : Chiều dài sân trường, chiều dài cuốn sách Vật lí, chiều dài
bàn học sinh?
GV đặt hệ thống các câu hỏi như : Tại sao em chọn thước này? Muốn chọn thước

phù hợp thì phải làm gì? Tại sao phải xác định GHĐ và ĐCNN của thước đo? Đặt
mắt như thế nào để đọc kết quả đo? Ghi kết quả như thế nào?
Học sinh trả lời từng câu hỏi, giáo viên chốt lại từng nội dung trong quy tăc đo chiều
dài. Cho học sinh vận dụng quy tắc đo vừa nêu để đo chiều dài bàn học, chiều dài cuốn
sách Vật lí để khắc sâu quy tắc đo .
GV đặt vấn đề : Thước là một dụng cụ đo chiều dài, khi sử dụng phải tuân theo đúng
quy tắ đo chiều dài. Mở rộng ra khi sử dụng một dụng cụ đo bất kì đều phải tuân theo
một quy tắc đo. Cụ thể là:
* ước lượng giá trị cần đo ( Để chọn dụng cụ đo)
* Chọn dụng cụ đo có GHĐ và ĐCNN thích hợp (để tránh làm hỏng dụng cụ đo vàkết
quả đo chính xác nhất)
*Cách đặt dụng cụ đo như thế nào?
*Cách đặt mắt như thế nào?
*Cách đọc và ghi kết quả ra sao?
(6)
Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
Từ bài đo độ dài trở đi, những bài học có liên quan đến sử dụng dụng cụ đo,
học sinh dễ dàng vận dụng quy tắc linh hoạt cho từng dụng cụ và những chú ý cần
thiết khi sử dụng ( Như Vôn kế, Ampe kế, Lực kế mà học sinh sẽ sử dụng sau
này )
+) Ví dụ 2 : Bài “Lực đẩy Acsimét”- Vật lí 8.
Đây là loại bài sử dụng thiết bị thí nghiệm phát hiện kiến thức mới. Vì vậy phải
chuẩn bị theo một lô gíc khác hẳn. Theo tôi, chúng ta cũng nên đưa về một trình tự lô
gíc chung cho tiến trình bài học. Cụ thể là :
* Từ kinh nghiệm, quan sát thực tế đưa ra hiện tượng cần giải thích( hoặc từ một thí
nghiệm mở đầu -> Cho học sinh quan sát -> Nêu hiện tượng xảy ra)
* Cho học sinh dự đoán kiến thức mới .
* Lập kế hoạch thí nghiệm kiểm tra dự đoán.
* Thống nhất phương án và tiến hành thí nghiệm theo nhóm (đây là khâu rất quan
trọng đòi hỏi sự chuẩn bị kĩ lưỡng của giáo viên. HS phải xác định được mục đích của

thí nghiệm, phải nhận dạng, biết tên đồ dùng trong thí nghiệm, công dụng của từng
đồ dùng, cách lắp ghép ra sao, chú ý an toàn khi làm thí nghiệm, )
* Rút ra kết luận từ thí nghiệm và so sánh kết quả với dự đoán .
áp dụng cho bài “Lực đẩy Acsimé”- mục II. Độ lớn của lực đẩy Acsimét
GV : Thả quả cam vào cốc nước đầy cho HS quan sát
GV :- Em quan sát thấy hiện tượng gì? ( có một phần nước tràn ra ngoài)
– Tại sao nước lại tràn ra ngoài ? (vì quả cam chiếm chỗ nước trong bình)
GV: – Gọi lực đẩy của chất lỏng lên vật là F
A
, trọng lượng phần nước bị vật chiếm
chỗ là P. Em hãy dự đoán về độ lớn của F
A
so với P ( HS có thể dự đoán: F
A
=P hoặc
F
A
>P hoặc F
A
< P )
– Acsimét dự đoán như thế nào? (HS nghiên cứu SGK và trả lời F
A
=P ). Để
kiểm tra dự đoán chúng ta cùng làm thí nghiệm .
HS hoạt động nhóm nêu mục đích thí nghiệm, nhận biết đồ dùng và công dụng
của nó, thảo luận phương án thí nghiệm, (chú ý : Tránh làm vỡ cốc, đổ nước vào bình
(7)
Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
tràn cho nước chảy ra ngoài cho đến khi ngừng chảy thì mặt nước ngang miệng vòi kết
quả mơí chính xác, trước khi nhúng chìm vật vào bình tràn cần lau khô cốc nhỏ B để

cốc chứa đúng lượng nước tràn ra ). Thống nhất phương án thí nghiệm trước lớp
rồi tiến hành theo phương án đề ra, rút ra kết luận và so sánh với dự đoán. Từ đó xây
dựng công thức tính F
A
– Mục 3 phần II.
Với nhóm bài học này yêu cầu giáo viên phải chẩn bị chu đáo thí nghiệm kết
hợp với phương pháp hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng một cách linh hoạt mới thu
được kết quả mong muốn. Từ đó vận dụng trình tự bài học phát hiện kiến thức mới
cho các bài học sau .
3. Vấn đề bảo quản thiết bị, đồ dùng dạy học :
Nếu chỉ chú ý đến việc sử dụng đồ dùng cho thành công của tiết học mà
không có ý thức bảo quản và tu bổ thì dụng cụ sẽ bị mai một đi, đến năm học sau
không đủ thiết bị cho dạy-học nữa. Nếu chỉ bằng cách mua mới để thay thế thì điều
này còn phụ thuộc ngân sách của trường và không có địa chỉ mua đồ đúng quy cách,
chủng loại. Do đó việc bảo quản thiết bị phục vụ cho dạy – học rất cần thiết. Yêu cầu
mỗi giáo viên dạy học Vật lí phải có ý thức sửa chữa, bổ sung những thiết bị hư hỏng.
Nên chăng cùng đề ra các quy định chung cho các giáo viên dạy học Vật lí tại phòng
bộ môn như : Sau tiết học của lớp cuối cùng trong khối, giáo viên phải:
– Tháo dụng cụ, lau khô, đặt về đúng vị trí như lúc lấy ra.
– Báo cáo số lượng dụng cụ hư hỏng gãy, vỡ …. một cách trung thực vào sổ
theo dõi thiết bị và đề xuất phương án bổ sung.
– Giáo viên phụ trách phải thường xuyên làm vệ sinh phòng học, hút bụi trong
tủ đựng thiết bị để giảm tác hại do thời tiết gây hoen rỉ thiết bị.
Về phía học sinh, sử dụng thiết bị trong giờ học không những giúp các em
phát hiện, khắc sâu và ghi nhớ kiến thức mà còn qua đó giáo dục các em tính cẩn thận,
chịu khó, ý thức tự lập và tác phong làm việc khoa học. Vì vậy, mỗi tiết học giáo viên
phải rèn luyện các em ý thức giữ gìn cẩn thận, không tranh giành đồ dùng khi làm thí
nghiệm, không tự ý tháo lắp nếu không được phép. Trường hợp nào vi phạm, tuỳ theo
mức độ có hình thức xử lí thích đáng. Đây cũng là vấn đề đưa vào nội quy phòng học.
(8)

Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
Giáo viên và học sinh cùng thực hiện tốt nội quy phòng học thì hiệu quả dạy và học tại
phòng học bộ môn sẽ cao hơn.
C. Kết luận
Trên đây là những công việc tôi và các đồng nghiệp đã thực hiện trong
quá trình giảng dạy phần thực hành môn Vật lí tại trường THCS Đồng Tiến. Giờ
đây, thiết bị dạy học thực sự trở thành cánh tay đắc lực cho sự thành công của
mỗi tiết học thực hành Vật lí. Kết quả được ghi nhận :
* Về phía giáo viên:
– Đã hình thành kĩ năng chuẩn bị và thực hiện thành thạo các thao tác thí nghiệm
– Có ý thức giữ gìn, bảo quản thiết bị.
– Có ý thức tu sửa thiết bị hư hỏng, sắp xếp đồ dùng thực sự khoa học.
*Về phía học sinh:
– Học sinh học tại phòng học đi vào nề nếp, có ý thúc giữ gìn, bảo quản trang
thiết bị trong phòng học.
– Số học sinh giỏi Vật lí tăng cao. Chỉ tính năm học 2007-2008, có 5 học sinh
dự thi HSG môn Vật lí cấp huyện thì ba em đạt giải ba; có 2 học sinh dự thi cấp tỉnh
thì cả hai em đều đạt giải nhì. Cùng năm đó, em Nguyễn Thuỳ Dương – học sinh giỏi
môn Vật lí đã đạt 9,5 điểm khi thi vào lớp chuyên Vật lí trong kì thi tuyển sinh của
Trường THPT chuyên tỉnh Thái Nguyên.
Qua thực tế, tôi cũng rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích:
– Để sử dụng hiệu quả thiết bị trong phòng học Vật lí thì mỗi giáo viên phải
hiểu rõ được tầm quan trọng của thiết bị dạy học.
– Giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo cho thí nghiệm vì có như vậy giáo
viên sẽ truyền thụ kiến thức tốt hơn, bài học thu được kết quả cao hơn.
– Giáo viên và học sinh cần nâng cao ý thức giữ gìn, bảo quản thiết bị như tài
sản của chính mình đồ dùng được sử dụng bền hơn.
– Với học sinh, nên tạo sự chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức, tạo thói
quen thực hiện nghiêm túc nội quy, bảo vệ của công, không tự ý vào phòng thiết bị.
(9)

Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng –
Làm được những việc trên đây phòng học Vật lí sẽ đạt được kết quả cao hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm được đúc rút từ việc quản lí và giảng dạy
tại phòng học Vật lí. Trong quá trình thực hiện, bản thân tôi không tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn
đòng nghiệp để việc tổ chức, sử dụng và bảo quản thiết bị trong dạy học Vật lí đạt
hiệu quả cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn. !
Đồng Tiến, ngày 24 tháng 11 năm 2008
Người viết
Lê Thị Minh Phượng
(10)
( 1 ) Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng – ngày càng nhiều hơn, nhiều em đạt được những giải cao trong những kì thi học viên giỏi bộmôn. Song, có một trong thực tiễn sống sót là : hầu hết đội ngũ giáo viên có trình độ, tâmhuyết với nghề nhưng kinh nghiệm tay nghề còn hạn chế dẫn đến xử lý những yếu tố bài họcchưa linh động ; vật dụng được cấp phép tương đối vừa đủ tuy nhiên chất lượng còn chưa đápứng được nhu yếu của bài học kinh nghiệm. Nhiều trường chưa có phòng học dành riêng cho bộmôn nên việc sử dụng gặp phải khó khăn vất vả ; trong quy trình sử dụng thiết bị bị hư hỏngvà mất mát do ý thức học viên chưa cao. Thiết bị luân chuyển từ kho đến lớp học có thểxảy ra sự cố. Thiết bị hư hỏng không được bổ trợ kịp thời sẽ ảnh hưởng tác động đến chấtlượng tiết học của những năm học sau. Qua 3 năm làm trách nhiệm giảng dạy và đảm nhiệm phòng Vật lí, tôi nhận thấyrằng học viên rất yêu dấu những giờ học thực hành thực tế. Qua những thao tác thực hành thực tế, họcsinh khắc sâu và ghi nhớ kiến thức và kỹ năng tốt hơn. Để có một tiết thực hành hiệu suất cao thì giáoviên phải mất rất nhiều thời hạn sẵn sàng chuẩn bị vật dụng, làm những thí nghiệm để kiểm tramức độ thành công xuất sắc trước khi cho học viên thực thi. Song có trường hợp lúc thựchành thử thì thành công xuất sắc nhưng lúc thực hành thực tế trong giờ dạy lại thất bại. Thí nghiệmthành công gây hứng thú cho học viên phát huy được năng lực tìm tòi phát minh sáng tạo của cácem. Thí nghiệm không thành công xuất sắc sẽ ảnh hưởng tác động rất lớn đến tác dụng học tập của cácem vì kiến thức và kỹ năng đưa ra không có cơ sở khoa học dẫn tới sự chán nảảntong học viên khitiếp thu kiến thức và kỹ năng. Trong trong thực tiễn, tôi còn thấy vật dụng dạy học môn Vật lí đã được trang bị chocả cấp học tuy nhiên chất lượng một số ít vật dụng rất kém, một số ít lại không tương thích. Ví dụ : – Thiết bị cho thí nghiệm về lực điện từ không triển khai được. – Máy biến thế thực hành thực tế không đúng điện áp thứ cấp ghi trên máy. – Các nhiệt kế đặt trong phòng nhiệt độ khởi đầu không như nhau trong cùngmột điều kiện kèm theo. – Các kim nam châm từ không chỉ đúng hướng Bắc – Nam khi để ở trạng thái tự do. – Bề mặt 1 số ít gương phẳng, gương cầu bị mờ không quan sát và so sánhảnh được ảnh v. v. v ( 2 ) Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng – Làm thế nào xử lý tình hình trên ? Qua thực tiễn giảng dạy và phụ tráchphòng học Vật lí, tôi xin đưa ra một số ít giải pháp triển khai cho phòng học bộ môn đểcác bạn tìm hiểu thêm. II. Một số giải phápĐể sử dụng thiết bị dạy học hiệu suất cao thì từ việc sắp xếp, sắp xếp phòng thínghiệm đến việc hướng dẫn học viên thực hành thực tế và bảo quản vật dụng sau mỗi tiết họcđều đóng vai trò quan trọng. 1. Tổ chức, sắp xếp phòng học. Trường trung học cơ sở Đồng Tiến được công nhận là Trường chuẩn vương quốc năm2004. Từ năm 2004 đến nay, việc dạy và học Vật lí tại phòng tính năng được duy trìvà có nề nếp tương đối không thay đổi. Để tập trung chuyên sâu sự quan tâm của học viên vào việc làm họctập, yếu tố tiên phong cần chăm sóc là khâu tổ chức triển khai sắp xếp phòng học sao cho khoa học. Phòng học môn Vật lí có diện tích quy hoạnh 47,5 m > Phòng được trang bị 12 bộ bànghế học viên, 8 đèn chiếu sáng và hai quạt trần trên nhà. Phòng học được chia làm ba dãy, vớimỗi dãy chia làm hai nhóm cho học viên hoạt động giải trí nhóm và làm thí nghiệm. Hệthống điện lắp ráp tương thích và bảo đảm an toàn dành cho học viên lớp 7 và lớp 9 khi nghiên cứuphân môn điện học. Các cửa kính có treo rèm nhung vừa hoàn toàn có thể mở mạng lưới hệ thống cửa chothoáng lớp học, vừa tạo điều kiện kèm theo về ánh sáng cho học viên học phần Quang học lớp7và lớp 9. Thiết bị dạy học đặt trong tủ kính nhiều ngăn ở cuối phòng học. Theo tôi, thiết bị được chia thành nhóm đặt ở những vị trí nhất định từ trái sangphải khi nhìn từ trên xuống gồm có : * Nhóm thiết bị dùng chung như giá đỡ, đèn, biến thế thực hành thực tế, tranh. Và cácdụng cụ thay thế sửa chữa vật dụng khi hư hỏng như kìm, tua vít, bút thử điện … * Nhóm thiết bị Cơ học * Nhóm thiết bị Nhiệt học. * Nhóm thiết bị Quang học. * Nhóm thiết bị Điện học. * Nhóm thiết bị Điện từ học. ( 3 ) Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng – * Nhóm thiết bị Âm họcNgoài ra, trong quy trình làm thí nghiệm, do chất lượng thiết bị và do sử dụngnhiều lần nên một số ít linh phụ kiện nhỏ như ốc, vít, chốt nối dây …. bị rơi ra đều được thugom đặt chung trong một chiếc hộp nhỏ để cùng nhóm thiết bị dùng chung tiện lợicho việc sửa chữa thay thế thiết bị hư hỏng. Việc sắp xếp này tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho giáo viên thuận tiện sẵn sàng chuẩn bị và lựachọn vật dụng tốt nhất cho tiết học, vừa dễ kiểm tra về số lượng, và thuận tiện cho việccất giữ, bảo quản. Bên cạnh đó, việc sắp xếp này còn góp thêm phần làm cho khung cảnhphòng học trở lên thoáng rộng, ngăn nắp. 2. Sử dụng thiết bị, vật dụng dạy học. Có người nói : “ Dạy học là nghệ thuật và thẩm mỹ giúp học viên tìm ra chân lí ”. Vì vậy, mỗi giờ học với sự chuẩn bị sẵn sàng chu đáo của giáo viên, với sự tích cực, dữ thế chủ động của họcsinh cùng với việc sử dụng linh động những thiết bị dạy học, kỹ năng và kiến thức học viên thu đượccó tính thuyết phục cao như tìm ra chân lí vậy. Để sử dụng vật dụng đạt hiệu suất cao, cácgiáo viên phải sẵn sàng chuẩn bị chu đáo cho tiết học, phải dành thời hạn cho việc lắp ráp, tiếnhành, nghiên cứu và điều tra hiện tượng kỳ lạ xảy ra, những trường hợp hoàn toàn có thể phát sinh. Hoàn thành tốtđiều này, giáo viên phải trang nghiêm thực thi nội qui phòng học : * Đăng kí tiết dạy, bài dạy, lớp dạy tại phòng học. ( Ghi vào sổ báo giảng của phòng học bộ môn theo những cột ) Tuần : … …. Từ ngày … tháng … năm …. đến ngày …. tháng …. năm … ). Thứ, ngày, tháng, nămTiết 1 Tiết 2 Tiết 3 Tiết 4 Tiết 5 • Đăng kí mượn vật dụng vào sổ theo dõi sử dụng thiết bị : Họ và tên giáo viên : … … … … … … … … … … …. Tổ : … … … … … … …. NgàymượnTên đồdùngSốlượngDạy tiếtTheoPPCTLớpdạyKí tên Ngày trả Chấtlượng đồdùng khi ( 4 ) Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng – trảSau khi mượn vật dụng, giáo viên lắp ráp và triển khai thí nghiệm. Thí nghiệmnào không thành công xuất sắc phải tìm ra nguyên do như : – Do chất lượng vật dụng. – Do trình tự triển khai chưa đúng. – Do thời tiết. Khi đã tìm được nguyên do, giáo viên sẽ tìm ra hướng khắc phục : Do chấtlượng vật dụng phải tìm cách thay thế sửa chữa. Do trình tự chưa đúng thì tháo ra thực thi lạicác thao tác. Do tiếp xúc kém thì phải xiết lại những ốc vít. Biến thế không đúng điện ápđầu ra phải quấn lại, kiểm tra cách điện bảo đảm an toàn. Dưới đây là một số ít ví dụ tôi đã gặp : * Ví dụ 1 : Khi dạy bài Lực điện – lớp 9, với bộ đồ dùng cấp phép, thí nghiệmkhông thành công xuất sắc, tôi sửa chữa thay thế thanh AB bằng thanh đồng kích cỡ lớn hơn gia côngnhờ một thợ cơ khí, có mài vị trí buộc hai dây đồng mảnh nối vào mạch điện. Kết quảthu được thí nghiệm rất thành công xuất sắc và vận dụng kiểm tra chiều lực điện từ xác địnhtheo quy tắc bàn tay trái ứng với chiều hoạt động của dây dẫn AB có dòng điệnchạy qua đặt trong từ trường của nam châm hút. * Ví dụ 2 : Bài “ Động cơ điện một chiều ”. Khi quản lý và vận hành, có dòng điện chạyqua tuy nhiên rô to không quay. Nguyên nhân : Do hai thanh quét tì không đúng vị trí, mạchđiện tiếp xúc kém. Tôi đã xử lí bằng cách xác lập đúng vị trí của thanh quét tiếp xúcvới vành khuyên và kiểm tra tiếp xúc của mạch điệnĐể những vật dụng được sử dụng với những thao tác thành thạo cho từng bài, nhómgiáo viên Toán – Lí đã triển khai chuyên đề sử dụng thiết bị, vật dụng Vật lí cho hiệuquả cao nhất, phân công dạy thể nghiệm vận dụng chuyên đề theo những quan điểm thốngnhất. Có quan điểm cho rằng tất cả chúng ta nên phân loại bài học kinh nghiệm theo nhóm để đạt hiệu quảcao. ý tưỏng này được thiết kế xây dựng và vận dụng vào dạy giờ thao giảng đạt kết quảđáng ghi nhận. Cụ thể là tất cả chúng ta hoàn toàn có thể chia bài ra theo : * Nhóm những bài sử dụng dụng cụ đo. ( 5 ) Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng – * Nhóm bài sử dụng thiết bị để phát hiện kiến thức và kỹ năng mới. * Nhóm bài sử dụng thí nghiệm chứng tỏ kiến thức và kỹ năng … Làm thật tốt từng loại bài ngay từ tiết học tiên phong thì những bài học kinh nghiệm thuộc cácnhóm đó sẽ đạt hiệu suất cao và tạo cho học viên trình tự làm thí nghiệm cho từng kiểubài tựa như. Sau đây là 1 số ít ví dụ : + ) Ví dụ 1. Bài 1 – 2 “ Đo độ dài ” – Vật lí 6. GV : Chuẩn bị những loại thước đo chiều dài ( thước thẳng, thước dây, thước cuộn ). GV : Phát phiếu học tập : Cô giáo có một số ít thước-Thước thẳng GHĐ 30 cm, ĐCNN 0,5 cm – Thước dây GHĐ 1,5 m, ĐCNN 0,5 cm. – Thước cuộn GHĐ 5 m, ĐCNN 1 cmEm chọn thước nào đo : Chiều dài sân trường, chiều dài cuốn sách Vật lí, chiều dàibàn học viên ? GV đặt mạng lưới hệ thống những câu hỏi như : Tại sao em chọn thước này ? Muốn chọn thướcphù hợp thì phải làm gì ? Tại sao phải xác lập GHĐ và ĐCNN của thước đo ? Đặtmắt như thế nào để đọc tác dụng đo ? Ghi tác dụng như thế nào ? Học sinh vấn đáp từng câu hỏi, giáo viên chốt lại từng nội dung trong quy tăc đo chiềudài. Cho học viên vận dụng quy tắc đo vừa nêu để đo chiều dài bàn học, chiều dài cuốnsách Vật lí để khắc sâu quy tắc đo. GV đặt yếu tố : Thước là một dụng cụ đo chiều dài, khi sử dụng phải tuân theo đúngquy tắ đo chiều dài. Mở rộng ra khi sử dụng một dụng cụ đo bất kể đều phải tuân theomột quy tắc đo. Cụ thể là : * ước đạt giá trị cần đo ( Để chọn dụng cụ đo ) * Chọn dụng cụ đo có GHĐ và ĐCNN thích hợp ( để tránh làm hỏng dụng cụ đo vàkếtquả đo đúng chuẩn nhất ) * Cách đặt dụng cụ đo như thế nào ? * Cách đặt mắt như thế nào ? * Cách đọc và ghi tác dụng ra làm sao ? ( 6 ) Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng – Từ bài đo độ dài trở đi, những bài học kinh nghiệm có tương quan đến sử dụng dụng cụ đo, học viên thuận tiện vận dụng quy tắc linh động cho từng dụng cụ và những chú ý quan tâm cầnthiết khi sử dụng ( Như Vôn kế, Ampe kế, Lực kế mà học viên sẽ sử dụng saunày ) + ) Ví dụ 2 : Bài “ Lực đẩy Acsimét ” – Vật lí 8. Đây là loại bài sử dụng thiết bị thí nghiệm phát hiện kỹ năng và kiến thức mới. Vì vậy phảichuẩn bị theo một lô gíc khác hẳn. Theo tôi, tất cả chúng ta cũng nên đưa về một trình tự lôgíc chung cho tiến trình bài học kinh nghiệm. Cụ thể là : * Từ kinh nghiệm tay nghề, quan sát thực tiễn đưa ra hiện tượng kỳ lạ cần lý giải ( hoặc từ một thínghiệm khởi đầu -> Cho học viên quan sát -> Nêu hiện tượng kỳ lạ xảy ra ) * Cho học viên Dự kiến kiến thức và kỹ năng mới. * Lập kế hoạch thí nghiệm kiểm tra Dự kiến. * Thống nhất giải pháp và thực thi thí nghiệm theo nhóm ( đây là khâu rất quantrọng yên cầu sự chuẩn bị sẵn sàng kĩ lưỡng của giáo viên. HS phải xác lập được mục tiêu củathí nghiệm, phải nhận dạng, biết tên vật dụng trong thí nghiệm, tác dụng của từngđồ dùng, cách lắp ghép ra sao, chú ý quan tâm bảo đảm an toàn khi làm thí nghiệm, ) * Rút ra Tóm lại từ thí nghiệm và so sánh tác dụng với Dự kiến. vận dụng cho bài “ Lực đẩy Acsimé ” – mục II. Độ lớn của lực đẩy AcsimétGV : Thả quả cam vào cốc nước đầy cho HS quan sátGV : – Em quan sát thấy hiện tượng kỳ lạ gì ? ( có một phần nước tràn ra ngoài ) – Tại sao nước lại tràn ra ngoài ? ( vì quả cam chiếm chỗ nước trong bình ) GV : – Gọi lực đẩy của chất lỏng lên vật là F, khối lượng phần nước bị vật chiếmchỗ là P. Em hãy Dự kiến về độ lớn của Fso với P. ( HS hoàn toàn có thể Dự kiến : F = P hoặc > P hoặc F < P ) - Acsimét Dự kiến như thế nào ? ( HS nghiên cứu và điều tra SGK và vấn đáp F = P ). Đểkiểm tra Dự kiến tất cả chúng ta cùng làm thí nghiệm. HS hoạt động giải trí nhóm nêu mục tiêu thí nghiệm, nhận ra vật dụng và công dụngcủa nó, đàm đạo giải pháp thí nghiệm, ( chú ý quan tâm : Tránh làm vỡ cốc, đổ nước vào bình ( 7 ) Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng - tràn cho nước chảy ra ngoài cho đến khi ngừng chảy thì mặt nước ngang miệng vòi kếtquả mơí đúng chuẩn, trước khi nhúng chìm vật vào bình tràn cần lau khô cốc nhỏ B đểcốc chứa đúng lượng nước tràn ra ). Thống nhất giải pháp thí nghiệm trước lớprồi thực thi theo giải pháp đề ra, rút ra Kết luận và so sánh với Dự kiến. Từ đó xâydựng công thức tính F - Mục 3 phần II.Với nhóm bài học kinh nghiệm này nhu yếu giáo viên phải chẩn bị chu đáo thí nghiệm kếthợp với chiêu thức hướng dẫn học viên sử dụng vật dụng một cách linh động mới thuđược tác dụng mong ước. Từ đó vận dụng trình tự bài học kinh nghiệm phát hiện kiến thức và kỹ năng mớicho những bài học kinh nghiệm sau. 3. Vấn đề bảo quản thiết bị, vật dụng dạy học : Nếu chỉ chú ý quan tâm đến việc sử dụng vật dụng cho thành công xuất sắc của tiết học màkhông có ý thức bảo quản và trùng tu thì dụng cụ sẽ bị mai một đi, đến năm học saukhông đủ thiết bị cho dạy-học nữa. Nếu chỉ bằng cách mua mới để sửa chữa thay thế thì điềunày còn phụ thuộc vào ngân sách của trường và không có địa chỉ mua đồ đúng quy cách, chủng loại. Do đó việc bảo quản thiết bị ship hàng cho dạy - học rất thiết yếu. Yêu cầumỗi giáo viên dạy học Vật lí phải có ý thức thay thế sửa chữa, bổ trợ những thiết bị hư hỏng. Nên chăng cùng đề ra những lao lý chung cho những giáo viên dạy học Vật lí tại phòngbộ môn như : Sau tiết học của lớp ở đầu cuối trong khối, giáo viên phải : - Tháo dụng cụ, lau khô, đặt về đúng vị trí như lúc lấy ra. - Báo cáo số lượng dụng cụ hư hỏng gãy, vỡ …. một cách trung thực vào sổtheo dõi thiết bị và yêu cầu giải pháp bổ trợ. - Giáo viên đảm nhiệm phải tiếp tục làm vệ sinh phòng học, hút bụi trongtủ đựng thiết bị để giảm tai hại do thời tiết gây hoen rỉ thiết bị. Về phía học viên, sử dụng thiết bị trong giờ học không những giúp những emphát hiện, khắc sâu và ghi nhớ kỹ năng và kiến thức mà còn qua đó giáo dục những em tính cẩn trọng, chịu khó, ý thức tự lập và tác phong thao tác khoa học. Vì vậy, mỗi tiết học giáo viênphải rèn luyện những em ý thức giữ gìn cẩn trọng, không tranh giành vật dụng khi làm thínghiệm, không tự ý tháo lắp nếu không được phép. Trường hợp nào vi phạm, tuỳ theomức độ có hình thức xử lí thích đáng. Đây cũng là yếu tố đưa vào nội quy phòng học. ( 8 ) Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng - Giáo viên và học viên cùng thực thi tốt nội quy phòng học thì hiệu suất cao dạy và học tạiphòng học bộ môn sẽ cao hơn. C. Kết luậnTrên đây là những việc làm tôi và những đồng nghiệp đã thực thi trongquá trình giảng dạy phần thực hành thực tế môn Vật lí tại trường trung học cơ sở Đồng Tiến. Giờđây, thiết bị dạy học thực sự trở thành cánh tay đắc lực cho sự thành công xuất sắc củamỗi tiết học thực hành thực tế Vật lí. Kết quả được ghi nhận : * Về phía giáo viên : - Đã hình thành kĩ năng sẵn sàng chuẩn bị và thực thi thành thạo những thao tác thí nghiệm - Có ý thức giữ gìn, bảo quản thiết bị. - Có ý thức tu sửa thiết bị hư hỏng, sắp xếp vật dụng thực sự khoa học. * Về phía học viên : - Học sinh học tại phòng học đi vào nề nếp, có ý thúc giữ gìn, bảo quản trangthiết bị trong phòng học. - Số học sinh giỏi Vật lí tăng cao. Chỉ tính năm học 2007 - 2008, có 5 học sinhdự thi HSG môn Vật lí cấp huyện thì ba em đạt giải ba ; có 2 học viên dự thi cấp tỉnhthì cả hai em đều đạt giải nhì. Cùng năm đó, em Nguyễn Thuỳ Dương – học viên giỏimôn Vật lí đã đạt 9,5 điểm khi thi vào lớp chuyên Vật lí trong kì thi tuyển sinh củaTrường trung học phổ thông chuyên tỉnh Thái Nguyên. Qua trong thực tiễn, tôi cũng rút ra những bài học kinh nghiệm kinh nghiệm tay nghề hữu dụng : - Để sử dụng hiệu suất cao thiết bị trong phòng học Vật lí thì mỗi giáo viên phảihiểu rõ được tầm quan trọng của thiết bị dạy học. - Giáo viên phải có sự sẵn sàng chuẩn bị chu đáo cho thí nghiệm vì có như vậy giáoviên sẽ truyền thụ kỹ năng và kiến thức tốt hơn, bài học kinh nghiệm thu được hiệu quả cao hơn. - Giáo viên và học viên cần nâng cao ý thức giữ gìn, bảo quản thiết bị như tàisản của chính mình vật dụng được sử dụng bền hơn. - Với học viên, nên tạo sự dữ thế chủ động trong việc lĩnh hội kỹ năng và kiến thức, tạo thóiquen thực thi trang nghiêm nội quy, bảo vệ của công, không tự ý vào phòng thiết bị. ( 9 ) Sử dụng và bảo quản TBDH môn Vật lí Lê Thị Minh Phượng - Làm được những việc trên đây phòng học Vật lí sẽ đạt được tác dụng cao hơn. Trên đây là 1 số ít kinh nghiệm tay nghề được đúc rút từ việc quản lí và giảng dạytại phòng học Vật lí. Trong quy trình thực thi, bản thân tôi không tránh khỏinhững thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được sự góp phần quan điểm của những bạnđòng nghiệp để việc tổ chức triển khai, sử dụng và bảo quản thiết bị trong dạy học Vật lí đạthiệu quả cao hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn. ! Đồng Tiến, ngày 24 tháng 11 năm 2008N gười viếtLê Thị Minh Phượng ( 10 )

Source: https://evbn.org
Category: Giáo Viên