Chảy máu ồ ạt – Huyết học và ung thư học – Cẩm nang MSD – Phiên bản dành cho chuyên gia
Hầu hết các bệnh nhân cần làm xét nghiệm đánh giá (xem bảng Các xét nghiệm đánh giá các giai đoạn cầm máu) Các xét nghiệm đánh giá cầm máu theo giai đoạn (phase)
Các xét nghiệm ban đầu là Các xét nghiệm ban đầu là
-
Tổng phân tích tế bào toàn phần
- Phết máu ngoại biên
- Thời gian Prothrombin ( PT ) và thời hạn thromboplastin một phần ( PTT )
Các xét nghiệm sàng lọc đánh giá các thành phần của cầm máu, bao gồm số lượng tiểu cầu và con đường đông máu Con đường đông máu.
huyết tương. Các xét nghiệm sàng lọc phổ biến nhất cho rối loạn chảy máu là số lượng tiểu cầu, PT, và PTT. Nếu kết quả là bất thường, cần làm thêm các xét nghiệm đặc hiệu khác. Xác định nồng độ các sản phẩm giáng hóa fibrin, những sản phẩm hoạt hóa tiêu fibrin trên thực nghiệm (thường là do đông máu quá mức thứ phát trong DIC Đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC) ).
Thời gian prothrombin (PT) sàng lọc cho các bất thường trong con đường đông máu ngoại sinh và con đường chung (các yếu tố huyết tương VII, X, V, prothrombin II, và fibrinogen). PT được báo cáo bằng tỉ số bình thường quốc tế (INR), phản ánh tỷ lệ PT của bệnh nhân với giá trị chứng của phòng thí nghiệm; INR kiểm soát sự khác nhau về thuốc thử giữa các phòng thí nghiệm khác nhau. Do các thuốc thử thương mại và thiết bị đo rất khác nhau, mỗi phòng thí nghiệm xác định phạm vi bình thường của PT và PTT; một phạm vi bình thường điển hình cho PT là từ 10 đến 13 giây. INR > 1,5 hoặc PT ≥ 3 giây dài hơn chứng của phòng thí nghiệm thường là bất thường và cần phải đánh giá thêm. INR có giá trị trong sàng lọc bất thường đông máu mắc phải (ví dụ thiếu vitamin K Thiếu vitamin K , bệnh gan, DIC). Nó cũng được sử dụng để theo dõi điều trị bằng chất kháng vitamin K đường uống, warfarin.
Kéo dài PT hoặc PTT có thể phản ánh
- Thiếu yếu tố đông máu
- Sự hiện hữu của chất ức chế một thành phần của con đường đông máu ( gồm có sự hiện hữu trong tuần hoàn của thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp ức chế thrombin hoặc yếu tố Xa )
PT và PTT không lê dài cho đến khi một hoặc nhiều yếu tố đông máu thiếu ở mức khoảng chừng 70 %. Để xác nguyên do do thiếu vắng yếu tố đông máu hay do lưu hành chất ức chế ( kháng đông ), xét nghiệm sẽ được lặp lại sau khi trộn huyết tương với huyết tương thông thường với tỷ suất 1 : 1. Vì hỗn hợp này chứa tối thiểu 50 % mức thông thường của toàn bộ những yếu tố đông máu, nên nếu hiệu quả không cải tổ nghĩa là có chất ức chế đông máu lưu hành .Xét nghiệm thời hạn chảy máu không đủ năng lực tái tạo để hoàn toàn có thể an toàn và đáng tin cậy được cho việc ra quyết định hành động lâm sàng. Bảng
Kết quả bình thường trên các xét nghiệm ban đầu loại trừ nhiều rối loạn chảy máu. Các trường hợp ngoại lệ chính là bệnh Von Willebrand (VWD) Bệnh Von Willebrand và giãn tĩnh mạch xuất huyết di truyền. Giãn mạch xuất huyết di truyền
VWD tồn tại khá phổ biến, trong đó sự thiếu hụt yếu tố VIII phối hợp thường không đủ để kéo dài PTT. Các bệnh nhân có kết quả xét nghiệm ban đầu bình thường cùng với các triệu chứng hoặc dấu hiệu chảy máu và tiền sử gia đình cần kiểm tra VWD bằng cách đo kháng nguyên yếu tố von Wilebrand (VWF), hoạt động của đồng yếu tố ristocetin (một xét nghiệm gián tiếp của VWF multimer lớn), VWF multimer, và nồng độ yếu tố VIII.
PTT kéo dài với tiểu cầu và PT bình thường gợi ý bệnh hemophilia A hoặc B Hemophilia . Cần định lượng yếu tố VIII và IX. Các chất ức chế gây kéo dài PTT bao gồm tự kháng thể chống lại yếu tố VIII và các kháng thể chống lại các phức hợp protein-phospholipid (kháng đông lupus). Cần nghi ngờ có chất ức chế khi PTT không cải thiện khi trộn thêm với huyết tương bình thường với tỷ lệ 1:1.
PT kéo dài với tiểu cầu và PTT bình thường cho thấy thiếu hụt yếu tố VII. Thiếu yếu tố VII bẩm sinh rất hiếm; tuy nhiên, thời gian bán thải ngắn của yếu tố VII trong huyết tương làm cho yếu tố VII giảm xuống mức thấp nhanh hơn các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K khác ở những bệnh nhân bắt đầu điều trị chống đông warfarin hoặc ở những bệnh nhân mới mắc bệnh. Các vị trí chính của sản xuất protein đông máu bao gồm các tế bào nội mô, bao gồm cả các tế bào trong xoang gan. Các tế bào nội mô xoang agn thường bị tổn thương trong các bệnh lý gan khác nhau.
PT hoặc PTT kéo dài với số lượng tiểu cầu bình thường xảy ra với bệnh gan hoặc thiếu vitamin K Thiếu vitamin K hoặc trong điều trị chống đông với warfarin, heparin không phân đoạn, hoặc chất ức chế thrombin hoặc chất Xa đường uống. Nghĩ tới bệnh gan khi có bệnh sử và chẩn đoán xác định khi có ALT, bilirubin; tăng, cần làm xét nghiệm các virus viêm gan.
Chẩn đoán hình ảnh thường được yêu cầu để phát hiện chảy máu kín đáo ở bệnh nhân có rối loạn chảy máu. Ví dụ, CT sọ não nên được thực hiện ở những bệnh nhân đau đầu nặng, chấn thương đầu, hoặc suy giảm ý thức. CT bụng là cần thiết ở những bệnh nhân đau bụng hoặc những phát hiện khác tương ứng với xuất huyết trong ổ bụng hoặc sau phúc mạc.
Source: https://evbn.org
Category: Ảnh Chế


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


