Đề tài việc làm của sinh viên khi ra trường – Tài liệu text
Đề tài việc làm của sinh viên khi ra trường
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (109.92 KB, 10 trang )
Mục lục
Trang 1
I.
Thực trạng việc làm sinh viên ra trường
Ngày nay vấn đề việc làm đang là nhu cầu bức thiết của nhiều quốc gia, đặc biệt là
những quốc gia đang phát triển, nơi mà có nguồn nhân lực dồi dào trong khi nền kinh tế
phát triển chưa cao do đó sẽ không có sự tương xứng về cung – cầu lao động trong phạm
vi một nước. Vấn đề việc làm luôn được quan tâm cho mọi nguồn nhân lực đặc biệt chú
trọng nhất là nguồn nhân lực có trình độ Đại học – Cao đẳng. Hiện nay hầu hết SV khi ra
trường, nhất là các SV học tại các thành phố lớn như Hà Nội hay TP.HCM, Cần Thơ sau
tốt nghiệp đều tất bật kiếm một công việc tạm thời để làm kiếm tiền ở lại thành phố rồi
xin việc ổn định sau. Vì cuộc sống hiện tại, họ chấp nhận làm những việc mà không cần
bằng cấp như bưng bê tại các quán café, quán ăn hay làm nhân viên trực nghe điện thoại,
đi gia sư…Tình trạng ấy không chỉ xảy ra với các sinh viên có bằng loại khá, trung bìnhkhá mà thậm chí cả những sinh viên ra trường với tấm bằng loại giỏi vẫn loay hoay
không biết phải đi đâu, về đâu trong tình trạng ở các công ty lúc nào cũng chồng đống
những xấp hồ sơ xin việc. Do đó có không ít bạn sinh viên sau khi học xong Cao đẳng
hay Đại học đã chọn giải pháp là học tiếp, học liên thông hay học văn bằng hai với hi
vọng sẽ kiếm được công việc tốt hơn. Tuy nhiên cũng có nhiều sinh viên ra trường đã tìm
được việc làm sau một vài tháng đầu vật lộn nhưng không nhiều trong số đó tìm được
việc đúng chuyên ngành đã học.
Theo điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì trong năm 2011, cả nước có 63% SV tốt
nghiệp đại học cao đẳng trong cả nước ra trường không có việc làm. Chỉ 37% có việc làm
nhưng nhiều người làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại. Cũng theo thống kê của Bộ
GD&ĐT, tỷ lệ SV có việc làm đúng chuyên ngành của khối tự nhiên là khoảng 60%, còn
các trường thuộc khối xã hội thấp hơn nhiều. Điều này được lý giải là do SV chưa định
hướng đúng mức về nghề nghiệp – việc làm, chọn ngành học chưa phù hợp với năng lực
bản thân. Mặt khác các doanh nghiệp, cơ quan muốn tuyển chọn những sinh viên tốt
nghiệp tốt về kỹ năng mềm và trình độ ngoại ngữ trong khi sinh viên ngồi trên ghế nhà
trường ít khi chủ động trang bị cho mình những kỹ năng đó. Phân tích kết quả khảo sát
SV với số lượng trên 5000 sinh viên trong năm 2010 – 2011 trên địa bàn TP.HCM, cho
thấy những vấn đề về kỹ năng mềm được sinh viên nhận thức đối với thị trường lao động
có những điều chưa rõ nét. Theo nhiều doanh nghiệp, những ứng viên với các bằng cấp
trường lớp và kinh nghiệm cần thiết thì có nhiều nhưng để tìm được một ứng viên lý
tưởng với kỹ năng mềm hoàn hảo – đặc biệt cho các vị trí nhân sự cao cấp thì khó như
mò kim đáy biển. Mặc dù không nhiều các nhà tuyển dụng đòi hỏi thẳng kỹ năng mềm
Trang 2
của ứng viên trong các thông báo tuyển dụng của mình, nhưng đây thực sự là những gì họ
đang tìm kiếm ở ứng viên – nhất là khi tìm người cho những vị trí cao cấp, quan trọng
trong đơn vị. như vậy chưa có một sự kết nối chặt chẽ giữa chương trình đào tạo của nhà
trường với doanh nghiệp và nhận thức của sinh viên về yêu cầu việc làm còn nhiều hạn
chế. Tình trạng thừa thầy thiếu thợ vẫn xảy ra trong xã hội hiện nayTheo kết quả khảo sát
về tình hình việc làm của cử nhân ra trường trong năm 2009–2010 trên 2.948 sinh viên
tại ĐHQG HN, ĐHQG TP.HCM và ĐH Huế, có khoảng 73,8% sinh viên tìm được việc
làm, 26,2% không tìm được việc làm. Đa số cử nhân chưa có việc làm cho biết, khó khăn
lớn nhất khi đi xin việc là… không biết xin việc ở đâu, một lượng sinh viên khác không
đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, thậm chí có 18% sinh viên không tìm được
việc vì các nhà tuyển dụng đã không thể hiểu được những cử nhân này được đào tạo về…
cái gì!
Những sinh viên may mắn đã có việc thì có tới 70,8% không thỏa mãn với công việc
của mình và đang có ý định thay đổi chỗ làm trong thời gian sắp tới. Điều mà các nhà
hoạch định chính sách nhân lực khá lo ngại là có tới 27% số sinh viên không tìm được
việc làm cho biết không xin được việc vì ngành học của mình không phù hợp với thị
trường. Nhiều cán bộ quản lý giáo dục lâu năm cũng bày tỏ sự lo lắng khi sinh viên theo
học những ngành học xã hội và nghệ thuật ra trường ngày càng khó tìm việc dẫn đến sự
sút giảm đáng kể số lượng thí sinh thi vào ngành này khiến một số ngành học phải tuyển
sinh cách năm hoặc đóng cửa. Không chỉ vậy, một số ngành hiện đang rất cần cho chiến
lược phát triển kinh tế trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, môi
trường lại khó tuyển được thí sinh. Sự mất cân đối đáng báo động trong đào tạo nhân lực
dẫn đến tình trạng nhiều ngành thừa nhân lực nhưng cũng có ngành nghề không thể tuyển
được người làm.
II.
Những nguyên nhân gây khó khăn về việc làm cho sinh viên ra trường
1. Nguyên nhân từ phía bản thân
Nguyên nhân đầu tiên chính là việc hướng nghiệp không phù hợp, dẫn đến xác định
sai ngành học. Ở Việt Nam, việc chọn nghề phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của các
bậc phụ huynh. Với tâm lý luôn muốn che chở, bao bọc con, các bậc cha mẹ thường
thiên về những ngành “an toàn”, mang lại danh tiếng, như kỹ sư, bác sĩ,…Mặt khác, xu
hướng thị trường cũng là một điều đáng nói. Một số bạn trẻ còn có xu hướng chạy theo
các nghề “hot” để theo kịp bạn bè, chứ không thực sự vì đam mê và đúng sở trường.
Trang 3
Chính vì chọn ngành không phù hợp, các bạn sinh viên dễ rơi vào tình trạng thụ động,
lười tìm kiếm thêm thông tin. Học thụ động là cách học lỗi thời, chờ đợi kiến thức từ giáo
viên đưa xuống, không chuẩn bị cho môn học, và dĩ nhiên, lười áp dụng bài học vào cuộc
sống. Với cách học này, sinh viên không những không nắm được kiến thức, mà còn quen
với tính cách lười nhác, thiếu chủ động trong tất cả các công việc sau này. Mà rõ ràng, sẽ
không có nhà tuyển dụng nào lại muốn bỏ tiền ra để mời một nhân viên máy móc, lười
nhác, và không có tinh thần cầu tiến về làm việc.
Một trong các lý do tạo nên làn sóng “cử nhân thất nghiệp” chính là vấn đề tiếng Anh.
Chúng ta đều biết tiếng Anh được xem như là tấm vé thông hành trong tất cả mọi ngành
nghề trong thời kỳ hiện đại. Thực ra, hầu hết sinh viên ở các trường đại học đều được học
tiếng Anh, nhưng chính thái độ học thụ động, không áp dụng thực tế thì khi ra trường, kỹ
năng ngoại ngữ chỉ là con số 0. Chỉ có được động lực học, cách học phù hợp, khoa học,
áp dụng vào môi trường thực tế mới có thể nâng cao trình độ tiếng Anh, đáp ứng được
nhu cầu của nhà tuyển dụng.
Một trong những yêu cầu quan trọng mà nhà tuyển dụng cực kỳ quan tâm, đó chính là
kỹ năng mềm. Trong suốt 4 năm ở trường đại học, rất nhiều sinh viên quan niệm rằng chỉ
cần vào lớp nghe giảng, học những gì được dạy trên giảng đường là đủ rồi. Hầu hết thời
gian còn lại các bạn dành cho các trò giải trí vô bổ như nhậu nhẹt, game online… Các bạn
không biết rằng, trong môi trường công việc đầy cạnh tranh và năng động, trang bị tốt
cho mình các kỹ năng Giao tiếp, Đàm phán, Thuyết trình, Quản lý thời gian,… mới thực
sự là yếu tố quyết định giúp bạn khác biệt và làm việc hiệu quả.
Với 4 lý do trên, xác định được mục tiêu và công việc yêu thích sẽ là bước quyết định
quan trọng giúp bạn chọn được đúng chuyên ngành cần học, chọn được đúng trường có
thể giúp bạn phát huy khả năng cũng như trau dồi các kỹ năng cần thiết cho yêu cầu công
việc sau này.
2. Nguyên nhân từ phía nhà trường
Về phía đào tạo tình trạng sinh viên ra trường không có việc làm một phần cũng có
nguyên nhân ở phía đào tạo. Nhiều chương trình đào tạo quá cũ kỹ, lạc hậu từ nội dung
đến phương pháp giảng dậy. Đôi khi được học là học chạy còn vào thực tiễn thì như mới
hoàn toàn vì học nhưng không có thực hành trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dậy,
học tập thì không có vì vậy không phát huy được khả năng sáng tạo của sinh viên. Tại
một số nước nền giáo dục hiện đại thì sinh viên sau khi học hết năm thứ 3 thì có thể làm
Trang 4
việc được tại một cơ quan theo một ngành nghề đã được đào tạo. Phần đông ngoài các
chương trình đào tạo ở trường đại học họ còn phải học thêm các khoá học ở ngoài như
ngoại ngữ tin học để có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc. Cơ cấu đào tạo Có thể
nói cơ cấu đào tạo của nước ta còn quá lạc hậu và chưa bám sát thực tế. Trong khi một
đất nước đang phát triển như Việt Nam rất cần đến đội ngũ kỹ sư về kỹ thuật, công nghệ,
xây dựng cơ bản thì nguồn cung cấp nhân lực từ phía đào tạo lại chưa đáp ứng được hết
nhu cầu. Trong khi đó sinh viên trong khối kinh tế thì đang quá dư thừa “ 90 % sinh viên
khối kinh tế ra trường không có việc làm ” là một phần do bên đào tạo nắm được nhu cầu
thực tế về nguồn nhân lực, chưa thông tin đầy đủ cho sinh viên về việc chọn nhóm ngành
học, nhiều sinh viên chọn trường chỉ theo cảm tính chứ không tính đến mục đích phục vụ
tương lai và khả năng xin việc làm sau này.
Chất lượng đào tạo hiện nay chất lượng đào tạo và thực tế còn có khoảng cách quá xa.
Những gì sinh viên được học phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Nguyên nhân một phần là do học không đi đôi với hành, thiếu cơ sở vật chất, trang thiết
bị phục vụ cho việc giảng dậy và học tập hoặc nếu có thì quá xa so với thực tế công việc.
Phần khác là do xã hội ngày càng phát triển với tốc độ cao và vì vậy sản xuất cũng thay
đổi theo. Phương thức sản xuất thay đổi trong khi đó đào tạo không bắt kịp được những
thay đổi này vì vậy nó thường bị tụt hậu. Khi không có sự cân bằng, đồng bộ giữa đào tạo
và thực tế công việc đã làm cho sinh viên sau khi ra trường không đủ khả năng phục vụ
cho công việc. Họ cảm thấy rất lúng túng trước những yêu cầu của đơn vị sử dụng lao
động. Chính vì sự phát triển của khoa học – kỹ thuật ngày càng cao nên công việc cũng
đòi hỏi đội ngũ người lao động phải có trình độ, năng lực. Điều này đòi hỏi ngành GD –
ĐT phải phương pháp đào tạo mới, cải thiện chất lượng đào tạo để có thể bắt kịp được sự
phát triển của thời đại.
3. Nguyên nhân từ phía nhà tuyển dụng
Bên cạnh những sinh viên có đủ những yêu cầu mà nhà tuyển dụng đòi hỏi hoặc
những người có người thân, xin việc hộ thì số còn lại phải chật vật chạy đi chạy lại với
các trung tâm giới thiệu việc làm. Cũng phải nói thêm rằng chính dựa vào sự khan hiếm
việc làm này mà nhiều trung tâm giới thiệu việc làm “ ma ” mọc lên vài ba bữa để thu
tiền lệ phí, tiền môi giới việc làm rồi biến mất. Hoặc một số sinh viên ra trường chấp
nhận làm trái nghề hoặc bất cứ nghề gì miễn là có thu nhập. Đó là về phía sinh viên, còn
về phía nhà tuyển dụng thì họ vẫn ‘ than’ là thiếu lao động mà theo họ là thiếu những
người có kinh nghiệm và khả năng làm việc độc lập cũng như một số yêu cầu khác. Từ
Trang 5
khi nhà nước có chính sách mở cửa kinh tế nhà nước chuyển sang kinh tế thị trường, các
doanh nghiệp phải tự lo cho mình, tự tính toán “ lời ăn, lỗ chịu” không có sự bao cấp của
nhà nước thì vấn đề việc làm thực sự trở nên bức bách. Cũng từ đây cơ cấu bộ máy trong
các cơ quan gọn nhẹ hơn nhiều do số lao động tuyển vào được cân nhắc kỹ lưỡng theo
khối lượng và mức độ đòi hỏi của công việc.
III.
Giải pháp nhằm giải quyết khó khăn về việc làm cho sinh viên ra
trường
1. Về phía bản thân sinh viên
Bạn phải sẵn sàng để khởi nghiệp
Cụm từ “khởi nghiệp” được xem là tiêu chí hàng đầu của sinh viên các nước phát triển
trên thế giới. Mới đây nhất, nền kinh tế mới nổi Trung Quốc mỗi ngày có khoảng 4.000
công ty mới được thành lập, chính phủ đầu tư 336 tỷ USD tính riêng trong năm 2015 cho
những dự án khởi nghiệp của những người trẻ. Tại sao chúng ta không tự chủ động lấy
việc làm? Ngay từ giảng đường, bạn cần phải trau dồi kiến thức và kỹ năng, luôn phải sẵn
sàng cho ngày ra trường và bắt đầu với dự án khởi nghiệp. Rất nhiều sinh viên ra trường
không có kiến thức chuyên môn hoặc nắm lí thuyết chứ không vận dụng được, vậy ngay
bây giờ bạn cần vừa học – vừa làm.
Giảng đường là nơi định hướng cho nghề nghiệp chứ không phải là nơi cho bạn việc
làm. Một sinh viên cầm tấm bằng cử nhân trong tay, đi khắp nơi nhưng không nhà tuyển
dụng nào nhận, có khi nào bạn đặt ra câu hỏi nguyên nhân vì sao chưa? Vì bạn chưa sẵn
sàng cho công việc. Thường mỗi sinh viên sẽ phải mất vài năm để xin được một công
việc ổn định, bởi vì ra trường là bạn coi như bắt đầu lại. Chỉ nắm lí thuyết, không có kỹ
năng nghiệp vụ, kém cỏi trong khâu phỏng vấn và chưa sẵn sàng tâm lí cho công việc.
Nếu bạn đã sẵn sàng, các dự án đầu tư khởi nghiệp trẻ của Việt Nam luôn cần bạn, phải
chủ động công việc của bản thân trước khi nghĩ đến việc nộp đơn xin việc làm.
Khắc phục sự kém cỏi về chuyên môn, nghiệp vụ… và tiếng Anh
Cô Phan Thị Ngà – Phó khoa ngoại ngữ – tin học Trường ĐH Thể dục thể thao Đà
Nẵng cho biết: “Các sinh viên ở trường còn kém chuyên môn về ngoại ngữ, thống kê
Trang 6
chung cho thấy đa số các em chỉ đạt ở mức trung bình mặc dù yêu cầu về ngoại ngữ ở
trường không phải quá khắt khe. Dù đã có nhiều biện pháp được đưa ra song hiệu quả
mang lại vẫn còn hạn chế.” Đó là tình trạng chung của sinh viên trên cả nước.
Trước nền kinh tế hội nhập và mới nhất là hiệp định TPP, Việt Nam đứng trước nhiều
thách thức lớn mà trong đó, thách thức về nguồn nhân lực đáp ứng được chuyên môn là
“bài toán khó” cho nền giáo dục. Ngành Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành khát nhân
lực nhất, nhưng cử nhân CNTT ở nước ta lại không thiếu. Vậy lí do tại sao? Các nhà
tuyển dụng cần nhân lực có trình độ chứ không phải nhân lực “có bằng cấp”. Một yêu cầu
nữa là… kỹ năng. Rất nhiều cử nhân, thạc sĩ đi phỏng vấn nhưng đều khiến nhà tuyển
dụng “lắc đầu”, kỹ năng viết CV hầu như không có, kỹ năng giao tiếp còn rụt rè và yêu
cầu nghiệp vụ là điều rất hiếm thấy. Đó là những nguyên nhân dẫn đến việc thiếu nhân
lực nhưng vẫn phải “lắc đầu” của các nhà tuyển dụng.
Đừng tự mình từ chối công việc
Không ít sinh viên “hão huyền” về tấm bằng cử nhân của mình, đặc biệt ở các trường
đại học lớn. Tâm lí của những cử nhân là phải làm việc theo đúng trình độ của bằng cấp,
tốt nghiệp đại học thì “không thể” đi làm nhân viên được. Tự “hão huyền” về tấm bằng
của mình và từ chối những cơ hội kiếm việc làm. Bạn phải biết rằng, ta buộc phải xuất
phát từ “con số 0”, nếu bạn có năng lực thực sự bạn sẽ có cơ hội phát triển công việc của
mình. Một lí do nữa đó là tâm lí “phải học đại học” của không chỉ sinh viên mà còn là áp
lực từ gia đình. Một sinh viên ĐH Bách khoa Đà Nẵng chia sẻ: ” Thực sự mình muốn
khởi nghiệp với việc kinh doanh chứ không phải là một kỹ sư như ngành nghề mà mình
đang theo học. Nếu tốt nghiệp kỹ sư mà phải đi làm công nhân thì tệ quá, còn nếu mình
chuyển sang kinh doanh thì khá phí 5 năm học đại học không theo chuyên ngành. Nhưng
mà xu thế bây giờ phải học đại học, còn sau này thì để tính sau.” Chúng ta đang đứng
trước thực trạng “thừa thầy thiếu thợ” vì tâm lí “phải học đại học” và phải làm việc đúng
với “bằng cấp”. Yêu cầu “quá cao” của những sinh viên là lí do mà bạn vẫn mãi thất
nghiệp.
Đừng luôn than trách và đổ lỗi
Đó là điều mà sinh viên vẫn “thường làm” để che đậy sự lười nhác của bản thân. Luôn
đổ lỗi cho “không có chỉ tiêu” rồi ” đào tạo nhưng không đảm bảo đầu ra”. Tốt nghiệp và
Trang 7
“ngồi chờ” nhà tuyển dụng. Luôn than trách không có việc làm, đó là điều càng khiến
sinh viên vùi mình sâu hơn vào nguy cơ thất nghiệp. Đổ lỗi cho không có cơ hội việc
làm, đổlỗi cho chất lượng đào tạo của giáo dục… mà chưa thấy ai đổ lỗi cho bản thân
mình cả. Tốt nghiệp với tấm bằng trên giấy chứ không phải là tấm bằng “kiến thức” trong
đầu. Chờ đợi các công việc theo kiểu “việc nhẹ lương cao” và luôn muốn làm “nhà nước”
để ổn định, nhưng ít ai biết rằng đó là tự mình làm hại mình. Thực trạng chung bây giờ là
Thất nghiệp – Than trách, bỏ bê học hành – và tất nhiên hậu quả sau này là lại thất
nghiệp, có thể con số thất nghiệp mới ngày một tăng.
2. Về phía nhà trường
Để tạo điều kiện cho sinh viên sau khi ra trường tìm kiếm việc làm một cách dễ dàng
hơn thì việc đào tạo sinh viên cần sâu hơn vào phần thực hành, chỉ có như thế, sau khi ra
trường sinh viên có thể bắt kịp ngay với môi trường làm việc công sở, nắm bắt vận dụng
ngay được công việc,
Có chương trình môn học thiết thực và chuyên sâu hơn về chuyên ngành đào tạo. Tìm
hiểu thực tế về việc làm sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường.
Tạo cho sinh viên nhiều cơ hội để giao lưu, làm việc với các công ty doanh nghiệp.
Nhà trường cần tổ chức cho sinh viên những buổi giao lưu, gặp gỡ giữa sinh viên các
khoa, các khóa để học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, để rèn luyện them kĩ năng giao tiếp.
3. Về phía nhà nước
Thực hiện hiệu quả dự án hỗ trợ đào tạo giảng viên; xây dựng cơ chế xác định chỉ tiêu
tuyển sinh đào tạo trung cấp, đào tạo cao đẳng, đại học hàng năm trên cơ sở nhu cầu của
TTLĐ, năng lực đào tạo và tỷ lệ người học tốt nghiệp có việc làm của cơ sở đào tạo; chỉ
đạo các cơ sở đào tạo đầu tư nâng cao điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, hợp tác với
đơn vị sử dụng lao động để xây dựng chương trình đào tạo cân đối giữa lý thuyết và thực
hành, xây dựng chuẩn đầu ra, hỗ trợ SV thực tập và đánh giá SV tốt nghiệp theo yêu cầu
của TTLĐ.
Thiết lập cơ chế phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào và người học trong
việc nắm bắt nhu cầu sử dụng, đặt hàng đào tạo cung ứng cho người sử dụng lao động,
Trang 8
trước mắt áp dụng thí điểm cơ chế này tại các khu công nghiệp, khu kinh tế lớn, sau đó sẽ
áp dụng đồng bộ tại các ngành, địa phương trong phạm vi cả nước…
Chỉ đạo thống nhất việc quản lý nhà nước đối với GDĐH và giáo dục nghề nghiệp từ
trung ương đến địa phương để làm cơ sở cho việc quy hoạch lại mạng lưới GDĐH gắn
với mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, với nhu cầu đào tạo nhân lực phục vụ phát triển
kinh tế xã hội của từng vùng, từng địa phương và quốc gia.
Tiếp tục xây dựng Đề án giải quyết việc làm cho SV tốt nghiệp ở trong và ngoài nước
trên cơ sở điều chỉnh lại cơ quan chủ trì, phối hợp theo chức năng quản lý nhà nước của
từng cơ quan…
Xây dựng hệ thống và tăng cường cung cấp thông tin về TTLĐ theo địa phương,
vùng, ngành và kết nối thành thông tin TTLĐ quốc gia; thực hiện các giải pháp hữu hiệu
để thu hút lao động đã qua đào tạo từ nơi dư thừa (các thành phố lớn, vùng đã phát triển)
đến làm việc ở nơi có nhu cầu.
Xây dựng cơ chế, chính sách cho vay vốn ưu đãi đối với người tốt nghiệp trình độ
ĐH, CĐ có nhu cầu vay vốn khởi nghiệp nhằm tạo cơ hội và khuyến khích SV chủ động
tự tạo việc làm cho bản thân và những người lao động khác qua các dự án, ý tưởng sản
xuất, kinh doanh, giúp người mới tốt nghiệp tiếp cận, thụ hưởng nguồn vốn cho vay ưu
đãi để tạo việc làm.
Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về Đổi mới cơ chế
hoạt động đối với cơ sở giáo dục đại học công lập; thực hiện việc phân tầng, xếp hạng,
ban hành và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với cơ sở GDĐH…
IV.
Khuyến nghị của nhóm
1. Đối với khoa – Bộ môn
Cần điều chỉnh hoàn thiện mục tiêu, chương trình đào tạo và các môn học chuyên
ngành quản lí giáo dục, tâm lí giáo dục.
Điều chỉnh chương trình đào tạo với khối kiến thức chuyên ngành cần chuyên sâu,
đặc biệt chú trọng tới những kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên.
Trang 9
Khoa liên kết với nhiều doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động tang cường tổ chức
buổi giao lưu giữa sinh viên của khoa với doanh nghiệp.
Thường xuyên thu thập thông tin đánh giá từ các cơ sở sử dụng lao động. tìm hiểu yêu
cầu về nguồn lực( số lượng, chất lượng, cơ cấu).
Tổ chức các buổi hướng nghiệp cho sinh viên
2. Đối với nhà trường
Ủng hộ và tạo điều kiện để khoa có thể thay đổi những nội dung, phương pháp và
hình thức và tổ chức dạy học theo hướng nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu của xã
hội tạo cơ hội cho sinh viên ra trường tìm việc dễ dàng.
Tạo điều kiện cho sinh viên học tập nghiên cứu khoa học.
Trang 10
bản thân. Mặt khác những doanh nghiệp, cơ quan muốn tuyển chọn những sinh viên tốtnghiệp tốt về kiến thức và kỹ năng mềm và trình độ ngoại ngữ trong khi sinh viên ngồi trên ghế nhàtrường ít khi dữ thế chủ động trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng đó. Phân tích tác dụng khảo sátSV với số lượng trên 5000 sinh viên trong năm 2010 – 2011 trên địa phận TP. Hồ Chí Minh, chothấy những vấn đề về kỹ năng và kiến thức mềm được sinh viên nhận thức so với thị trường lao độngcó những điều chưa rõ nét. Theo nhiều doanh nghiệp, những ứng viên với những bằng cấptrường lớp và kinh nghiệm tay nghề thiết yếu thì có nhiều nhưng để tìm được một ứng viên lýtưởng với kiến thức và kỹ năng mềm tuyệt vời và hoàn hảo nhất – đặc biệt quan trọng cho những vị trí nhân sự hạng sang thì khó nhưmò kim đáy biển. Mặc dù không nhiều những nhà tuyển dụng yên cầu thẳng kỹ năng và kiến thức mềmTrang 2 của ứng viên trong những thông tin tuyển dụng của mình, nhưng đây thực sự là những gì họđang tìm kiếm ở ứng viên – nhất là khi tìm người cho những vị trí hạng sang, quan trọngtrong đơn vị chức năng. như vậy chưa có một sự liên kết ngặt nghèo giữa chương trình đào tạo và giảng dạy của nhàtrường với doanh nghiệp và nhận thức của sinh viên về nhu yếu việc làm còn nhiều hạnchế. Tình trạng thừa thầy thiếu thợ vẫn xảy ra trong xã hội hiện nayTheo hiệu quả khảo sátvề tình hình việc làm của cử nhân ra trường trong năm 2009 – 2010 trên 2.948 sinh viêntại ĐHQG HN, ĐHQG TP Hồ Chí Minh và ĐH Huế, có khoảng chừng 73,8 % sinh viên tìm được việclàm, 26,2 % không tìm được việc làm. Đa số cử nhân chưa có việc làm cho biết, khó khănlớn nhất khi đi xin việc là … không biết xin việc ở đâu, một lượng sinh viên khác khôngđáp ứng được nhu yếu của nhà tuyển dụng, thậm chí còn có 18 % sinh viên không tìm đượcviệc vì những nhà tuyển dụng đã không hề hiểu được những cử nhân này được giảng dạy về … cái gì ! Những sinh viên suôn sẻ đã có việc thì có tới 70,8 % không thỏa mãn nhu cầu với công việccủa mình và đang có dự tính biến hóa chỗ làm trong thời hạn sắp tới. Điều mà những nhàhoạch định chủ trương nhân lực khá lo lắng là có tới 27 % số sinh viên không tìm đượcviệc làm cho biết không xin được việc vì ngành học của mình không tương thích với thịtrường. Nhiều cán bộ quản trị giáo dục lâu năm cũng bày tỏ sự lo ngại khi sinh viên theohọc những ngành học xã hội và thẩm mỹ và nghệ thuật ra trường ngày càng khó tìm việc dẫn đến sựsút giảm đáng kể số lượng thí sinh thi vào ngành này khiến 1 số ít ngành học phải tuyểnsinh cách năm hoặc đóng cửa. Không chỉ vậy, 1 số ít ngành hiện đang rất cần cho chiếnlược tăng trưởng kinh tế tài chính trong những nghành nghề dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, môitrường lại khó tuyển được thí sinh. Sự mất cân đối đáng báo động trong giảng dạy nhân lựcdẫn đến thực trạng nhiều ngành thừa nhân lực nhưng cũng có ngành nghề không hề tuyểnđược người làm. II.Những nguyên do gây khó khăn vất vả về việc làm cho sinh viên ra trường1. Nguyên nhân từ phía bản thânNguyên nhân tiên phong chính là việc hướng nghiệp không tương thích, dẫn đến xác địnhsai ngành học. Ở Nước Ta, việc chọn nghề phụ thuộc vào rất nhiều vào quyết định hành động của cácbậc cha mẹ. Với tâm ý luôn muốn che chở, bảo phủ con, những bậc cha mẹ thườngthiên về những ngành “ bảo đảm an toàn ”, mang lại nổi tiếng, như kỹ sư, bác sĩ, … Mặt khác, xuhướng thị trường cũng là một điều đáng nói. Một số bạn trẻ còn có khuynh hướng chạy theocác nghề “ hot ” để theo kịp bè bạn, chứ không thực sự vì đam mê và đúng sở trường. Trang 3C hính vì chọn ngành không tương thích, những bạn sinh viên dễ rơi vào thực trạng thụ động, lười tìm kiếm thêm thông tin. Học thụ động là cách học lỗi thời, chờ đón kiến thức và kỹ năng từ giáoviên đưa xuống, không chuẩn bị sẵn sàng cho môn học, và đương nhiên, lười vận dụng bài học kinh nghiệm vào cuộcsống. Với cách học này, sinh viên không những không nắm được kỹ năng và kiến thức, mà còn quenvới tính cách lười nhác, thiếu dữ thế chủ động trong tổng thể những việc làm sau này. Mà rõ ràng, sẽkhông có nhà tuyển dụng nào lại muốn bỏ tiền ra để mời một nhân viên cấp dưới máy móc, lườinhác, và không có niềm tin cầu tiến về thao tác. Một trong những nguyên do tạo nên làn sóng “ cử nhân thất nghiệp ” chính là vấn đề tiếng Anh. Chúng ta đều biết tiếng Anh được xem như là tấm vé thông hành trong toàn bộ mọi ngànhnghề trong thời kỳ tân tiến. Thực ra, hầu hết sinh viên ở những trường ĐH đều được họctiếng Anh, nhưng chính thái độ học thụ động, không vận dụng trong thực tiễn thì khi ra trường, kỹnăng ngoại ngữ chỉ là số lượng 0. Chỉ có được động lực học, cách học tương thích, khoa học, vận dụng vào môi trường tự nhiên trong thực tiễn mới hoàn toàn có thể nâng cao trình độ tiếng Anh, cung ứng đượcnhu cầu của nhà tuyển dụng. Một trong những nhu yếu quan trọng mà nhà tuyển dụng cực kỳ chăm sóc, đó chính làkỹ năng mềm. Trong suốt 4 năm ở trường ĐH, rất nhiều sinh viên ý niệm rằng chỉcần vào lớp nghe giảng, học những gì được dạy trên giảng đường là đủ rồi. Hầu hết thờigian còn lại những bạn dành cho những trò vui chơi vô bổ như nhậu nhẹt, game trực tuyến … Các bạnkhông biết rằng, trong môi trường tự nhiên việc làm đầy cạnh tranh đối đầu và năng động, trang bị tốtcho mình những kiến thức và kỹ năng Giao tiếp, Đàm phán, Thuyết trình, Quản lý thời hạn, … mới thựcsự là yếu tố quyết định hành động giúp bạn độc lạ và thao tác hiệu suất cao. Với 4 nguyên do trên, xác lập được tiềm năng và việc làm thương mến sẽ là bước quyết địnhquan trọng giúp bạn chọn được đúng chuyên ngành cần học, chọn được đúng trường cóthể giúp bạn phát huy năng lực cũng như trau dồi những kỹ năng và kiến thức thiết yếu cho nhu yếu côngviệc sau này. 2. Nguyên nhân từ phía nhà trườngVề phía huấn luyện và đào tạo thực trạng sinh viên ra trường không có việc làm một phần cũng cónguyên nhân ở phía huấn luyện và đào tạo. Nhiều chương trình giảng dạy quá cũ kỹ, lỗi thời từ nội dungđến chiêu thức giảng dậy. Đôi khi được học là học chạy còn vào thực tiễn thì như mớihoàn toàn vì học nhưng không có thực hành trang thiết bị ship hàng cho việc giảng dậy, học tập thì không có thế cho nên không phát huy được năng lực phát minh sáng tạo của sinh viên. Tạimột số nước nền giáo dục văn minh thì sinh viên sau khi học hết năm thứ 3 thì hoàn toàn có thể làmTrang 4 việc được tại một cơ quan theo một ngành nghề đã được giảng dạy. Phần đông ngoài cácchương trình huấn luyện và đào tạo ở trường ĐH họ còn phải học thêm những khoá học ở ngoài nhưngoại ngữ tin học để hoàn toàn có thể cung ứng được nhu yếu của việc làm. Cơ cấu huấn luyện và đào tạo Có thểnói cơ cấu tổ chức huấn luyện và đào tạo của nước ta còn quá lỗi thời và chưa bám sát trong thực tiễn. Trong khi mộtđất nước đang tăng trưởng như Nước Ta rất cần đến đội ngũ kỹ sư về kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, thiết kế xây dựng cơ bản thì nguồn cung ứng nhân lực từ phía giảng dạy lại chưa cung ứng được hếtnhu cầu. Trong khi đó sinh viên trong khối kinh tế tài chính thì đang quá dư thừa “ 90 % sinh viênkhối kinh tế tài chính ra trường không có việc làm ” là một phần do bên đào tạo và giảng dạy nắm được nhu cầuthực tế về nguồn nhân lực, chưa thông tin rất đầy đủ cho sinh viên về việc chọn nhóm ngànhhọc, nhiều sinh viên chọn trường chỉ theo cảm tính chứ không tính đến mục tiêu phục vụtương lai và năng lực xin việc làm sau này. Chất lượng giảng dạy lúc bấy giờ chất lượng đào tạo và giảng dạy và thực tiễn còn có khoảng cách quá xa. Những gì sinh viên được học phần lớn chưa phân phối được nhu yếu của việc làm. Nguyên nhân một phần là do học không song song với hành, thiếu cơ sở vật chất, trang thiếtbị Giao hàng cho việc giảng dậy và học tập hoặc nếu có thì quá xa so với trong thực tiễn việc làm. Phần khác là do xã hội ngày càng tăng trưởng với vận tốc cao và vì thế sản xuất cũng thayđổi theo. Phương thức sản xuất đổi khác trong khi đó đào tạo và giảng dạy không bắt kịp được nhữngthay đổi này thế cho nên nó thường bị tụt hậu. Khi không có sự cân đối, đồng điệu giữa đào tạovà thực tiễn việc làm đã làm cho sinh viên sau khi ra trường không đủ năng lực phục vụcho việc làm. Họ cảm thấy rất lúng túng trước những nhu yếu của đơn vị chức năng sử dụng laođộng. Chính vì sự tăng trưởng của khoa học – kỹ thuật ngày càng cao nên việc làm cũngđòi hỏi đội ngũ người lao động phải có trình độ, năng lượng. Điều này yên cầu ngành GD – ĐT phải chiêu thức huấn luyện và đào tạo mới, cải tổ chất lượng đào tạo và giảng dạy để hoàn toàn có thể bắt kịp được sựphát triển của thời đại. 3. Nguyên nhân từ phía nhà tuyển dụngBên cạnh những sinh viên có đủ những nhu yếu mà nhà tuyển dụng yên cầu hoặcnhững người có người thân trong gia đình, xin việc hộ thì số còn lại phải chật vật chạy đi chạy lại vớicác TT ra mắt việc làm. Cũng phải nói thêm rằng chính dựa vào sự khan hiếmviệc làm này mà nhiều TT ra mắt việc làm “ ma ” mọc lên vài ba bữa để thutiền lệ phí, tiền môi giới việc làm rồi biến mất. Hoặc 1 số ít sinh viên ra trường chấpnhận làm trái nghề hoặc bất kỳ nghề gì miễn là có thu nhập. Đó là về phía sinh viên, cònvề phía nhà tuyển dụng thì họ vẫn ‘ than ’ là thiếu lao động mà theo họ là thiếu nhữngngười có kinh nghiệm tay nghề và năng lực thao tác độc lập cũng như một số ít nhu yếu khác. TừTrang 5 khi nhà nước có chủ trương Open kinh tế tài chính nhà nước chuyển sang kinh tế thị trường, cácdoanh nghiệp phải tự lo cho mình, tự thống kê giám sát “ lời ăn, lỗ chịu ” không có sự bao cấp củanhà nước thì vấn đề việc làm thực sự trở nên bức bách. Cũng từ đây cơ cấu tổ chức cỗ máy trongcác cơ quan gọn nhẹ hơn nhiều do số lao động tuyển vào được xem xét kỹ lưỡng theokhối lượng và mức độ yên cầu của việc làm. III.Giải pháp nhằm mục đích xử lý khó khăn vất vả về việc làm cho sinh viên ratrường1. Về phía bản thân sinh viênBạn phải sẵn sàng chuẩn bị để khởi nghiệpCụm từ ” khởi nghiệp ” được xem là tiêu chuẩn số 1 của sinh viên những nước phát triểntrên quốc tế. Mới đây nhất, nền kinh tế tài chính mới nổi Trung Quốc mỗi ngày có khoảng chừng 4.000 công ty mới được xây dựng, cơ quan chính phủ góp vốn đầu tư 336 tỷ USD tính riêng trong năm năm ngoái chonhững dự án Bất Động Sản khởi nghiệp của những người trẻ. Tại sao tất cả chúng ta không tự chủ động lấyviệc làm ? Ngay từ giảng đường, bạn cần phải trau dồi kiến thức và kỹ năng và kiến thức và kỹ năng, luôn phải sẵnsàng cho ngày ra trường và mở màn với dự án Bất Động Sản khởi nghiệp. Rất nhiều sinh viên ra trườngkhông có kỹ năng và kiến thức trình độ hoặc nắm lí thuyết chứ không vận dụng được, vậy ngaybây giờ bạn cần vừa học – vừa làm. Giảng đường là nơi xu thế cho nghề nghiệp chứ không phải là nơi cho bạn việclàm. Một sinh viên cầm tấm bằng cử nhân trong tay, đi khắp nơi nhưng không nhà tuyểndụng nào nhận, có khi nào bạn đặt ra câu hỏi nguyên do vì sao chưa ? Vì bạn chưa sẵnsàng cho việc làm. Thường mỗi sinh viên sẽ phải mất vài năm để xin được một côngviệc không thay đổi, do tại ra trường là bạn coi như khởi đầu lại. Chỉ nắm lí thuyết, không có kỹnăng nhiệm vụ, kém cỏi trong khâu phỏng vấn và chưa chuẩn bị sẵn sàng tâm lí cho việc làm. Nếu bạn đã sẵn sàng chuẩn bị, những dự án Bất Động Sản góp vốn đầu tư khởi nghiệp trẻ của Nước Ta luôn cần bạn, phảichủ động việc làm của bản thân trước khi nghĩ đến việc nộp đơn xin việc làm. Khắc phục sự kém cỏi về trình độ, nhiệm vụ … và tiếng AnhCô Phan Thị Ngà – Phó khoa ngoại ngữ – tin học Trường ĐH Thể dục thể thao ĐàNẵng cho biết : ” Các sinh viên ở trường còn kém trình độ về ngoại ngữ, thống kêTrang 6 chung cho thấy hầu hết những em chỉ đạt ở mức trung bình mặc dầu nhu yếu về ngoại ngữ ởtrường không phải quá khắc nghiệt. Dù đã có nhiều giải pháp được đưa ra tuy nhiên hiệu quảmang lại vẫn còn hạn chế. ” Đó là thực trạng chung của sinh viên trên cả nước. Trước nền kinh tế tài chính hội nhập và mới nhất là hiệp định TPP, Nước Ta đứng trước nhiềuthách thức lớn mà trong đó, thử thách về nguồn nhân lực phân phối được trình độ là ” bài toán khó ” cho nền giáo dục. Ngành Công nghệ thông tin ( CNTT ) là ngành khát nhânlực nhất, nhưng cử nhân CNTT ở nước ta lại không thiếu. Vậy lí do tại sao ? Các nhàtuyển dụng cần nhân lực có trình độ chứ không phải nhân lực ” có bằng cấp “. Một yêu cầunữa là … kiến thức và kỹ năng. Rất nhiều cử nhân, thạc sĩ đi phỏng vấn nhưng đều khiến nhà tuyểndụng ” phủ nhận “, kiến thức và kỹ năng viết CV hầu hết không có, kiến thức và kỹ năng tiếp xúc còn ngần ngại và yêucầu nhiệm vụ là điều rất hiếm thấy. Đó là những nguyên do dẫn đến việc thiếu nhânlực nhưng vẫn phải ” khước từ ” của những nhà tuyển dụng. Đừng tự mình phủ nhận công việcKhông ít sinh viên ” hão huyền ” về tấm bằng cử nhân của mình, đặc biệt quan trọng ở những trườngđại học lớn. Tâm lí của những cử nhân là phải thao tác theo đúng trình độ của bằng cấp, tốt nghiệp ĐH thì ” không hề ” đi làm nhân viên cấp dưới được. Tự ” hão huyền ” về tấm bằngcủa mình và khước từ những thời cơ kiếm việc làm. Bạn phải biết rằng, ta buộc phải xuấtphát từ ” số lượng 0 “, nếu bạn có năng lượng thực sự bạn sẽ có thời cơ tăng trưởng việc làm củamình. Một lí do nữa đó là tâm lí ” phải học ĐH ” của không chỉ sinh viên mà còn là áplực từ mái ấm gia đình. Một sinh viên ĐH Bách khoa Thành Phố Đà Nẵng san sẻ : ” Thực sự mình muốnkhởi nghiệp với việc kinh doanh thương mại chứ không phải là một kỹ sư như ngành nghề mà mìnhđang theo học. Nếu tốt nghiệp kỹ sư mà phải đi làm công nhân thì tệ quá, còn nếu mìnhchuyển sang kinh doanh thương mại thì khá phí 5 năm học ĐH không theo chuyên ngành. Nhưngmà xu thế giờ đây phải học ĐH, còn sau này thì để tính sau. ” Chúng ta đang đứngtrước tình hình ” thừa thầy thiếu thợ ” vì tâm lí ” phải học ĐH ” và phải thao tác đúngvới ” bằng cấp “. Yêu cầu ” quá cao ” của những sinh viên là lí do mà bạn vẫn mãi thấtnghiệp. Đừng luôn than trách và đổ lỗiĐó là điều mà sinh viên vẫn ” thường làm ” để che đậy sự lười nhác của bản thân. Luônđổ lỗi cho ” không có chỉ tiêu ” rồi ” giảng dạy nhưng không bảo vệ đầu ra “. Tốt nghiệp vàTrang 7 ” ngồi chờ ” nhà tuyển dụng. Luôn than trách không có việc làm, đó là điều càng khiếnsinh viên vùi mình sâu hơn vào rủi ro tiềm ẩn thất nghiệp. Đổ lỗi cho không có thời cơ việclàm, đổlỗi cho chất lượng đào tạo và giảng dạy của giáo dục … mà chưa thấy ai đổ lỗi cho bản thânmình cả. Tốt nghiệp với tấm bằng trên giấy chứ không phải là tấm bằng ” kiến thức và kỹ năng ” trongđầu. Chờ đợi những việc làm theo kiểu ” việc nhẹ lương cao ” và luôn muốn làm ” nhà nước ” để không thay đổi, nhưng ít ai biết rằng đó là tự mình làm hại mình. Thực trạng chung giờ đây làThất nghiệp – Than trách, bỏ bê học tập – và tất nhiên hậu quả sau này là lại thấtnghiệp, hoàn toàn có thể số lượng thất nghiệp mới ngày một tăng. 2. Về phía nhà trườngĐể tạo điều kiện kèm theo cho sinh viên sau khi ra trường tìm kiếm việc làm một cách dễ dànghơn thì việc huấn luyện và đào tạo sinh viên cần sâu hơn vào phần thực hành thực tế, chỉ có như vậy, sau khi ratrường sinh viên hoàn toàn có thể bắt kịp ngay với thiên nhiên và môi trường thao tác văn phòng, chớp lấy vận dụngngay được việc làm, Có chương trình môn học thiết thực và sâu xa hơn về chuyên ngành đào tạo và giảng dạy. Tìmhiểu thực tiễn về việc làm sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Tạo cho sinh viên nhiều thời cơ để giao lưu, thao tác với những công ty doanh nghiệp. Nhà trường cần tổ chức triển khai cho sinh viên những buổi giao lưu, gặp gỡ giữa sinh viên cáckhoa, những khóa để học hỏi kinh nghiệm tay nghề lẫn nhau, để rèn luyện them kĩ năng tiếp xúc. 3. Về phía nhà nướcThực hiện hiệu suất cao dự án Bất Động Sản tương hỗ huấn luyện và đào tạo giảng viên ; kiến thiết xây dựng chính sách xác lập chỉ tiêutuyển sinh huấn luyện và đào tạo tầm trung, giảng dạy cao đẳng, ĐH hàng năm trên cơ sở nhu yếu củaTTLĐ, năng lượng giảng dạy và tỷ suất người học tốt nghiệp có việc làm của cơ sở huấn luyện và đào tạo ; chỉđạo những cơ sở đào tạo và giảng dạy góp vốn đầu tư nâng cao điều kiện kèm theo bảo vệ chất lượng đào tạo và giảng dạy, hợp tác vớiđơn vị sử dụng lao động để thiết kế xây dựng chương trình giảng dạy cân đối giữa triết lý và thựchành, kiến thiết xây dựng chuẩn đầu ra, tương hỗ SV thực tập và nhìn nhận SV tốt nghiệp theo yêu cầucủa TTLĐ.Thiết lập chính sách phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào và người học trongviệc chớp lấy nhu yếu sử dụng, đặt hàng giảng dạy đáp ứng cho người sử dụng lao động, Trang 8 trước mắt vận dụng thử nghiệm chính sách này tại những khu công nghiệp, khu kinh tế tài chính lớn, sau đó sẽáp dụng đồng điệu tại những ngành, địa phương trong khoanh vùng phạm vi cả nước … Chỉ đạo thống nhất việc quản trị nhà nước so với GDĐH và giáo dục nghề nghiệp từtrung ương đến địa phương để làm cơ sở cho việc quy hoạch lại mạng lưới GDĐH gắnvới mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, với nhu yếu giảng dạy nhân lực ship hàng phát triểnkinh tế xã hội của từng vùng, từng địa phương và vương quốc. Tiếp tục kiến thiết xây dựng Đề án xử lý việc làm cho SV tốt nghiệp ở trong và ngoài nướctrên cơ sở kiểm soát và điều chỉnh lại cơ quan chủ trì, phối hợp theo tính năng quản trị nhà nước củatừng cơ quan … Xây dựng mạng lưới hệ thống và tăng cường phân phối thông tin về TTLĐ theo địa phương, vùng, ngành và liên kết thành thông tin TTLĐ vương quốc ; triển khai những giải pháp hữu hiệuđể lôi cuốn lao động đã qua huấn luyện và đào tạo từ nơi dư thừa ( những thành phố lớn, vùng đã tăng trưởng ) đến thao tác ở nơi có nhu yếu. Xây dựng chính sách, chủ trương cho vay vốn khuyến mại so với người tốt nghiệp trình độĐH, CĐ có nhu yếu vay vốn khởi nghiệp nhằm mục đích tạo thời cơ và khuyến khích SV chủ độngtự tạo việc làm cho bản thân và những người lao động khác qua những dự án Bất Động Sản, ý tưởng sáng tạo sảnxuất, kinh doanh thương mại, giúp người mới tốt nghiệp tiếp cận, thụ hưởng nguồn vốn cho vay ưuđãi để tạo việc làm. Đẩy mạnh việc triển khai Nghị quyết 77 / NQ-CP ngày 24/10/2014 về Đổi mới cơ chếhoạt động so với cơ sở giáo dục ĐH công lập ; thực thi việc phân tầng, xếp hạng, phát hành và công nhận đạt chuẩn vương quốc so với cơ sở GDĐH … IV.Khuyến nghị của nhóm1. Đối với khoa – Bộ mônCần kiểm soát và điều chỉnh triển khai xong tiềm năng, chương trình giảng dạy và những môn học chuyênngành quản lí giáo dục, tâm lí giáo dục. Điều chỉnh chương trình giảng dạy với khối kiến thức và kỹ năng chuyên ngành cần nâng cao, đặc biệt quan trọng chú trọng tới những kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên. Trang 9K hoa link với nhiều doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động tang cường tổ chứcbuổi giao lưu giữa sinh viên của khoa với doanh nghiệp. Thường xuyên tích lũy thông tin nhìn nhận từ những cơ sở sử dụng lao động. khám phá yêucầu về nguồn lực ( số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức ). Tổ chức những buổi hướng nghiệp cho sinh viên2. Đối với nhà trườngỦng hộ và tạo điều kiện kèm theo để khoa hoàn toàn có thể biến hóa những nội dung, chiêu thức vàhình thức và tổ chức triển khai dạy học theo hướng nâng cao chất lượng, cung ứng nhu yếu của xãhội tạo thời cơ cho sinh viên ra trường tìm việc thuận tiện. Tạo điều kiện kèm theo cho sinh viên học tập nghiên cứu và điều tra khoa học. Trang 10
Source: https://evbn.org
Category: Học Sinh


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


