Vấn đề Do Thái | Phan Khôi

PHAN KHÔI: TÁC PHẨM
ĐĂNG BÁO 1928

 


Hiện tình người Do Thái
 

 

                                                                                                             
                                                                                                                                                      

Trong số báo vừa rồi, nơi
bài nói về việc ông Loewenstein đi máy bay sẩy tay rơi xuống biển
Manche, chúng tôi có nói mấy lời đến người Do Thái, vì ông ấy là
người DoThái (Juif).

Do Thái là một dân tộc mất
nước đã hai ngàn năm nay, hiện bây giờ họ không có một miếng đất cắm
dùi, đi ở đậu hầu khắp các nước trên trái đất; thế mà họ có thế lực
lớn lắm, cho đến người Âu Mỹ cũng phải lấy cái thế lực họ làm đáng
lo. Như thế, há chẳng là một sự lạ mà người An Nam ta nên biết lắm
ư?

Đã lâu nay, chúng tôi có ý
muốn đem cái dân tộc có vẻ thần bí khó hiểu ấy mà giới thiệu cùng
độc giả, tiếc vì chưa có thì giờ mà nghiên cứu cho tường tất được.
Nay nhơn trong bài nói sự ông Loewenstein trót đã nói đến, vậy chúng
tôi cũng ước lược mà nói luôn cái hiện tình của người Do Thái cho
đồng bào ta nghe qua. Chúng tôi không dám tự phụ là khảo cứu đã kỹ
càng, chỉ biết được chừng nào thì chúng tôi nói chừng nấy.

Số người Do Thái ở các
nước

Người Do Thái ở tản lạc khắp
các nước thế gian, số người họ tính hết được bao nhiêu, thật không
có sổ thống kê cho rành rẽ. Cứ theo sách Almanach de Gotha,
năm 1900, số người họ ở Âu châu được 7.650.000 người. Đến năm 1914,
cứ như hội Thống kê số dân Do Thái báo cáo thì đã lên đến
11.000.000 người. Mới đây Do Thái niên giám kể số người Do
Thái ở toàn cầu là 16.000.000 người, thế là đã tăng lên nhiều lắm!

Thế nhưng, cái sổ mục ấy
chưa chắc đã là đúng. Bởi vì, dân Do Thái ở các nước, có nhiều nhà ở
nơi hẻo lánh, xa chốn thành thị và nhà thờ của họ cho nên không có
thể làm sổ nhơn khẩu cho phân minh được. Vậy nếu bây giờ điều tra
cho thật kỹ ra thì có lẽ dân số họ còn nhiều hơn nữa, không những
như trên kia mà thôi.

Có nhà làm sử đã nói rằng:
Người Do Thái hiện nay cầm cả quyền kinh tế của thế gian trong tay
họ; vả lại họ chỉ có túi vàng mà thôi, trong cuộc đại chiến tranh
mới rồi, ai mất chi thì mất, chết mấy thì chết, còn họ không bị hại
gì cả, mà cái túi vàng của họ nhơn đó càng nặng thêm. Nhơn vì không
bị tổn hao và sự sanh hoạt được sung túc, cho nên người họ sanh sản
ra đông lắm và mau lắm.

Nhà sử gia ấy nói như vậy
rồi kết luận rằng số dân Do Thái hiện thời đây có lẽ lên đến hơn hai
mươi triệu chớ chẳng chơi. Như vậy là suýt soát với số dân An Nam ta
rồi.

Vì sao dân Do Thái lan ở
các nước

Trong đoạn nầy chúng tôi
không dám nhận làm một đoạn nghiên cứu lịch sử Do Thái, chỉ nói qua
cho biết mà thôi.

Dân tộc Do Thái vốn ở đất
Palestine, về miền Tiểu Á Tế Á (*), đất ấy sau cơn chiến tranh
1914-1918 thuộc về nước Anh cai trị.

Theo sách Cựu ước (Ancien
Testament
) thì dân Do Thái là “tuyển dân” của Đức Chúa Trời
(peuple élu) nghĩa là một dân tộc được Chúa Trời lựa chọn.

Nguyên hồi đầu dân tộc ấy
mới phát sanh ra, họ đã thờ phượng một mình Đức Chúa Trời mà thôi,
tức gọi là Nhứt thần giáo (Monothéisme). Bởi vậy, phàm sự gì thuộc
về vận mạng của dân tộc họ, họ đều tin cậy ở ý chỉ Đức Chúa Trời.

Dân Do Thái đầu hết ở đất
Mésopotamie, sau dời đến Palestine, rồi lại lưu ngụ ở nước Ai Cập. Ở
đó, họ bị người Ai Cập ngược đãi đến ba bốn trăm năm. Vào khoảng
trước giáng sanh 1320 năm, giữa họ nổi lên một bậc thánh triết gọi
là ông Moise, tự xưng là vâng lịnh Đức Chúa Trời, đem hết thảy dân
Do Thái ở Ai Cập trở về đất Palestine.

Từ đó, người Do Thái chinh
phục các dân tộc khác ở chung quanh mình và tự lập thành một nước.
Trong nước họ bấy giờ không lập vua, công cử lên một vị gọi là Thầy
tế lễ cả để cai trị, cầm cả quyền chánh trị và tôn giáo. Sự cai trị
thì lại cứ tuân theo giới mạng và luật pháp của Đức Chúa Trời mà đã
do ông Moise truyền lại cho.

Đến năm trước giáng sanh
1055, người Do Thái mới bắt đầu lập vua. Có ông vua danh tiếng nhứt
là vua David, bắt đầu đóng đô tại Jérusalem. Song đến con là vua
Salomon nối ngôi thì lại xa xỉ và chuyên chế quá, làm cho dân không
chịu nổi. Trước giáng sanh 953 năm, vua Salomon thăng hà thì trong
nước nổ loạn, chia ra làm hai nước: phía nam gọi là Do Thái,(1) phía
bắc gọi là Israel.

Từ đó về sau, dân tộc Do
Thái càng ngày càng yếu, cho đến năm trước giáng sanh 722 và 588 tức
là thời kỳ La Mã đương hưng thạnh, thì Do Thái và Israel nối nhau bị
La Mã chinh phục và mất nước.

Phần nhiều dân Do Thái bị
ngược đãi trong xứ ở mình thì bỏ mà đi ra ở ngoại quốc từ lúc đó cho
đến bây giờ. Trong đất Palestine hiện ngày nay, chỉ còn một số ít
người Do Thái còn ở lại đó mà thôi.

Cũng thì là dân mất nước,
song dân Do Thái có một điều đặc biệt hơn các dân mất nước khác. Sự
ấy chúng ta cần nên biết, vì nó đã làm cho cái lịch sử vong quốc của
họ trở nên vẻ vang. ấy là từ đó đến giờ, mỗi năm nhằm ngày kỷ niệm
mất nước của họ thì bao nhiêu người Do Thái còn ở lại trong đất
Palestine, bất luận già trẻ trai gái, đều về cả tại thành Jérusalem,
ôm lấy tường thành mà khóc.

Theo sách Cựu ước thì
những sự dời chỗ ở, lập vua, mất nước, tản ở ngoại quốc của dân Do
Thái vừa kể trên kia đều do ở ý chỉ tiền định của Đức Chúa Trời.

Muốn rõ cả mọi điều đó thì
phải đọc cả bộ Cựu ước. Ở đây chúng tôi chỉ nói sơ một điều
quan hệ mà thôi.

Các đấng tiên tri trong dân
Do Thái, ở trước Jésus Christ một vài ngàn năm hoặc năm ba trăm năm,
đều có nói tiên tri và chép những lời mình vào sách mà rằng: “Sau
nầy Đức Chúa Trời sẽ sai xuống cho dân Do Thái một đấng gọi là
Messie (tức Christ, nghĩa là cứu thế), song dân Do Thái không tin
theo, thì Chúa sẽ phạt cho, làm cho bị dân khác chinh phục mà mất
nước, và phải tan lạc đi ở đậu các nước trong thế giới.”

Đến chừng Jésus Christ
(người Do Thái dòng vua David) ra đời, xưng mình là đấng Messie bởi
Đức Chúa Trời sai xuống, song phần nhiều dân Do Thái không tin theo
người. Trong lúc ấy chính là lúc dân Do Thái bị ngược đãi và bắt đầu
lưu tán, cho nên người ta nói rằng lời tiên tri ấy đã được ứng
nghiệm. Dầu vậy mặc lòng, cho đến ngày nay, phần đông người Do Thái
cũng không chịu tin theo Jesus Christ mà vẫn cứ còn đợi đấng Messie.

Nhơn đó cũng nên nói qua về
tôn giáo của dân Do Thái. Tôn giáo của họ gọi là “Do Thái giáo”
(Israélisme), theo luật pháp ông Moise tin một Đức Chúa Trời, mà
không tin Jésus Christ; nhận sách Cựu ước điển mà không nhận
sách Tân ước của môn đồ Jésus Christ làm kinh viết ra.

Cái đặc tánh của người Do
Thái

Trong bài trước đã nói người
Do Thái là “tuyển dân” (peuple élu) của Đức Chúa Trời và tôn giáo
của họ ra làm sao, vì vậy mà họ có những tánh chất đặc biệt không
giống như các dân tộc khác.

Họ có những tánh tín ngưỡng,
tự phụ, đoàn kết, và nhẫn nại.

Thật không có dân tộc nào
trong thế gian nầy có cái đức tin cho mạnh bằng người Do Thái. Hiện
bây giờ người họ ở khắp các nước, mà ở nước nào thì nhập tịch nước
ấy song chẳng hề chịu ảnh hưởng của văn hóa nước ấy chút nào. Bao
nhiêu những sự thuộc về tôn giáo, chánh trị, pháp luật, vệ sanh, cả
đến những của gì đáng ăn, của gì không đáng ăn nữa, họ cũng đều tuân
theo lời trong sách Cựu ước mà Đức Chúa Trời đã phán truyền
cho họ.

Vì trong Cựu ước
nói tiên tri rằng dầu Đức Chúa Trời phạt dân Do Thái mà ghét bỏ họ
trong một thời lâu, song về sau ngài sẽ đoái thương đến họ, dắt đem
trở về đất cũ, hầu để lập quốc lại và trở nên vẻ vang hơn các dân
tộc khác; cho nên người Do Thái tin đó mà sanh ra lòng tự phụ kiêu
căng. Họ nhận Đức Chúa Trời là chúa riêng của mình, còn mình là con
riêng Đức Chúa Trời, mỗi khi nhớ đến ông Abraham, ông Isaac, ông
Jacob ngày xưa(2) đã nhờ ơn Chúa thế nào, thì lại tin rằng lời hứa
ấy rồi đây sẽ ứng nghiệm trong kỳ nó. Bởi vậy, người Do Thái dầu
ngày nay đương ở trong cái cảnh lưu ly cực nhục, song chẳng những
không nguội lòng thì chớ, mà lại còn sanh ra cái dã tâm muốn thống
nhứt thế giới nữa kia. Thử xem một đoạn trong sách Tư tưởng chiến
thắng và người Do Thái
của ông bác sĩ Penthatull, người Do Thái,
xuất bản năm 1923 tại nước Autriche, thì đủ biết cái lòng tự phụ của
họ là thế nào. Đoạn ấy như vầy:

“Người Do Thái chúng tôi
không có thành kiến chút nào; đối với mọi sự vật trên đất, chúng
tôi xem xét rất rõ ràng; chúng tôi thường dám có cái tinh thần
mà người khác không dám có.

“Bởi có cái tinh thần
ấy, cho nên, dầu ở trong các nước Âu Mỹ, không tấn tới được mấy
chút, song giá ở trong một hòn cù lao nào thì chẳng qua trong 50
năm, chúng tôi sẽ làm chủ nhơn trong cù lao ấy. Trong thế giới
không cứ việc gì cũng phải cần đến chúng tôi(**), vì mọi nơi
dưới biển trên bờ đều có dấu chơn con nhà Do Thái. Con nhà Do
Thái chúng tôi đã lanh lẹ lại siêng năng, cái chỗ mục đích kia
một ngày chưa đạt đến thì chúng tôi còn chưa biết mỏi mệt…”

Nói về cái tánh đoàn kết của
họ thì thật không có dân tộc nào bì được. Những dân tộc có lãnh thổ,
có chánh phủ đã thành ra quốc gia rồi mà biết đoàn kết với nhau thì
có lạ gì. Cái nầy người Do Thái bị tan lạc, bị xua đuổi, ở không yên
ổn, rày đó mai đây, mà giữa họ nghiễm nhiên có một cái đoàn thể bền
chặt và thiêng liêng, như vậy mới là đáng quý.

Kể từ năm trước giáng sanh
70 năm, thành Jérusalem bị hủy phá, cho đến năm 135, khoảng đó là
khoảng người Do Thái bị tan lạc. Bấy giờ một mớ thì chạy về các nước
phương Tây như I-ta-ly, Y-pha-nho; một mớ thì chạy về các nước
phương Đông như Syrie, Perse; còn một số ít người ở lại trong đất
Palestine thì đổi họ và không dám ra mặt.

Trong lúc ấy những người Do
Thái chạy sang phương Tây còn được phục tùng một vị chủ giáo của
mình, song cũng phải tùy theo hoàng đế La Mã, khi nới cho thì được,
khi cấm đi thì thôi. Cái cơ quan khi chùng khi sáng ấy tồn tại được
hơn 400 năm, về sau phải tiêu diệt và trên lịch sử không thấy nói
đến vị chủ giáo của dân Do Thái nữa.

Những người Do Thái chạy
sang phương Đông thì tôn dòng dõi vua David nối nhau làm vua mình,
gọi là “vua trốn” ở tại thành Ba-bi-lon. Các ông vua trốn đó cũng
còn được cai trị dân mình và liên lạc cùng vị chủ giáo phương Tây
nữa. Đến năm 1005, giáo chủ đạo Hồi Hồi coi người Do Thái là cừu
địch cầm tù vua trốn là Ezéctias và giết đi lại đuổi hết thảy người
Do Thái phải dời đi nơi khác, từ đó về sau họ không có chánh phủ ở
ngoại quốc nữa.

Cũng từ đó người Do Thái tan
lạc càng rộng ra, lần lần xuống á châu, sang Mỹ châu, không những ở
Âu châu mà thôi, cho đến bây giờ thì khắp trên mặt đất đâu đâu cũng
có họ.

ở tan tác như vậy thì làm
thế nào mà đoàn kết với nhau? Người ta nói rằng người Do Thái có một
thứ chánh phủ kín. Có người đã tìm ra hai bức thơ của họ gởi cho
nhau về hồi thế kỷ thứ 15 mà đoán rằng họ phải có cái cơ quan bí mật
ấy.

Muốn cho thứ chánh phủ kín
ấy tồn tại luôn, khỏi bị người phát giác ra, thì phải dùng những cái
thủ đoạn rất thần bí rất cẩn thận mới được. Lại muốn cho cái chánh
phủ ấy không tỏ ra, đối với đoàn thể Do Thái không có sự liên thuộc
về giai cấp, như vậy mà lại giữ cho đoàn thể được vững bền, chủng
tộc được thuần khiết, sự tín ngưỡng được chuyên nhứt, khỏi bị đồng
hóa với người ngoài, thiệt là khó thay, e chỉ có một mình dân tộc Do
Thái mới có cái ý chí lạ lùng như vậy.

Đến thế kỷ thứ 19 và sau,
nghĩa là từ hồi Pháp quốc Cách mạng phát biểu lời “Nhân quyền tuyên
ngôn”, người Do Thái mới bắt đầu được giải phóng. Năm 1860 ông
Adolphe Crémieux lập ra một hội gọi là “Hội liên hiệp người Do Thái
trong thế giới”, từ đó giữa đoàn thể Do Thái mới có được một cơ quan
chánh thức, rồi các cơ quan khác càng thành lập nhiều thêm cho đến
ngày nay.

Xem cả lịch sử người Do Thái
từ hồi mất nước đến giờ, bị giết hại bị xua đuổi không biết mấy nơi,
không biết mấy lần, mà chẳng hề nao núng, tấn thủ lại càng hăng như
vậy thì biết cái tánh nhẫn nại của họ là dường nào. Cái tánh ấy, mà
cả đến cái tánh khác của họ nữa cũng đều bởi nơi tôn giáo của họ mà
ra.

Số tới, chúng tôi sẽ nói
tiếp thế lực hiện thời của người Do Thái ở các nước và các nước đối
với họ ra làm sao.

Thế lực người Do Thái
trong thế giới

Trong mấy đoạn trước đã nói
rằng người DoThái ở khắp các nước trong thế gian, bởi vậy, nếu họ
không có thế lực gì thì thôi, bằng đã có, thì cái thế lực ấy thật là
bao la cả trên mặt đất.

Một điều lạ nữa, là trong
sách Cựu ước có nói tiên tri rằng người Do Thái về sau sẽ bị tan
lạc, song được giàu có, thì quả như vậy, dân Do Thái bây giờ giàu
hơn hết cả các dân khác. Cái thế lực của họ là ở đó.

Như ông Loewenstein mới rồi
chết vì té máy bay mà bổn báo đã nói đến hôm nọ, là một người giàu
nhứt trong ba nhà triệu phú ở thế gian.

Họ có nhiều tiền rồi, lại có
người nữa. Nhơn tài của Do Thái không mặt nào là không có. Về kinh
tế, về chánh trị, về văn học, về kỹ nghệ, bất kỳ phương diện nào,
trong dân Do Thái cũng đều có người nổi tiếng về phương diện ấy.

Bởi vậy, bao nhiêu những
ngân hàng lớn ở các nước phần nhiều là tiền của người Do Thái bỏ ra,
cái đó đã đành rồi, mà cho đến các chức vụ trọng yếu trong ngân hàng
cũng về tay họ nữa.

Họ đã cầm cả quyền tài chánh
của thế giới vào trong tay, rồi thì các cuộc thiệt nghiệp(***) lớn,
như là mỏ sắt, mỏ dầu, cũng đều có người họ làm giám đốc. Rồi đến
quyền ngôn luận, là như các nhà báo lớn, các sở thông tin, họ cũng
xen vào. Thậm chí như ông Jaurès ở nước Pháp lập ra báo L’humanité,
là báo binh vực cho công lý nhân đạo, có tiếng ở thế giới ngày nay,
mà người ta nói rằng, lúc mới sáng lập ra, cũng có một vài nhà tư
bổn Do Thái bỏ tiền vào giúp. Lại như các giáo viên trong các trường
đại học bên nước Pháp hiện bây giờ, cũng có một phần đông là người
Do Thái, điều đó đã có nhiều người Pháp lấy làm khó chịu.

Cái thế lực Do Thái ở nước
Pháp đã là mấy, ở nước Mỹ mới ghê cho. Nước Mỹ có tiếng là một nước
rất giàu, song cũng có thể nói rằng cái giàu ấy là của người Do
Thái, vì các cơ quan về tiền bạc, phần nhiều bị họ chiếm hết. Coi
như hồi cuối thế kỷ thứ 17, chánh phủ New York có một lần ra lịnh
đuổi người Do Thái ở đó đi, rồi có những người Do Thái giàu, có
nhiều phần hùn trong các công ty thực dân, rập nhau nổi lên phản
đối, làm cho chánh phủ phải tiêu hủy cái lịnh ấy. Hồi đó mà họ đã có
thế lực như vậy rồi, huống chi là bây giờ; ở nước Mỹ mà còn như vậy,
huống chi là các nước khác.

Nói đến nước Tàu, các đô
thành lớn của nước ấy mà có dấu chơn người Do Thái chỉ độ trong
khoảng vài trăm năm nay, song cái thế lực ngầm ngấm của họ cũng
chẳng vừa. Một người Tàu làm sách có nói rằng: “Nước Trung Hoa mỗi
một năm mất cho ngoại quốc phỏng độ 12 triệu đồng bạc (nghĩa là tiền
trả lời các món công trái), trong một số tiền lớn ấy, các nước khác
chỉ hưởng được phần ít, còn người Do Thái thì hưởng được phần
nhiều.”

Tóm lại, cái thế lực của
người Do Thái đáng ghê nhứt là cái thế lực ở trong các ngân hàng.
Cái thế lực trong ngân hàng có thể chỉ huy được các chánh phủ của
các nước. Giả như một nước nào muốn vay một món tiền to của ngân
hàng lớn nào đó, thì cái quyền muốn hỏi vay về làm chi và cho vay
hay không, cũng lại ở trong tay “quân Giu-dêu” nầy. Xem bề ngoài thì
cái thế lực ấy tưởng không lấy gì làm quan hệ lắm, song xét kỹ ra
thì thật là đáng khiếp. Bởi vì, như người ta nói, có tiền thì tiên
hay múa, nếu họ đem lòng hiểm độc bắt ngặt các chánh phủ rồi xoay
qua đường khác để làm lợi cho họ, lại không có thể được hay sao? Cho
đến đảng Cách mạng nào, đảng Cộng sản nào mà đã túng tiền phải vay
của họ thì tất nhiên là khó mà thoát ra ngoài vòng thế lực của họ
được.

Nhờ tiền bạc, nhơn tài, và
tấm lòng đoàn kết của người Do Thái, nên hiện nay dầu họ chưa khôi
phục hẳn được tổ quốc mình, song sự ấy cũng đã rõ manh mối ra một
ít. Vì mấy lần Vạn quốc hội nghị vừa rồi, nhơn người Do Thái thỉnh
cầu, đều có đem việc ấy ra bàn, và nghe như trong đất Palestine ngày
nay, tuy về người Anh đại lý, song đã có một bộ phận thuộc về quyền
người Do Thái ở đó.

Có điều nầy ta nên biết, là
về phần người Do Thái, họ tin ở lời hứa trong Cựu ước, cho
nên họ quyết rằng thế nào rồi họ cũng sẽ về mà lập quốc lại trong
đất Palestine. 

Các nước đối với người Do
Thái – “Họa Do Thái “

Người Do Thái đã có cái thế
lực lớn như đã nói trên kia, thì có khó gì mà chẳng vận động cho
mình trở về cố quốc, chi đến nỗi ở gởi nằm nhờ đất người ta lâu như
vậy? Đó là một vấn đề rất phiền phức về quốc tế, chúng tôi không đủ
học thức mà giải minh được, chỉ nói đại lược mà thôi.

Có lẽ cũng vì cái thế lực
của Do Thái to quá, làm cho các nước lấy làm lo mà còn dùng dằng
chưa dám cho họ trở về cố hương. Vì nghĩ rằng trong khi họ vong gia
thất thổ mà còn lừng lẫy thế này, huống chi là khi đã có một miếng
đất làm nơi căn cứ.

Trong một đoạn trước đã nói
rằng người Do Thái có cái dã tâm muốn thống nhứt thế giới, mà cái dã
tâm ấy là sanh ra bởi tôn giáo của họ. Thật thế, đã lâu nay người Do
Thái rắp toan cậy cái thế lực của mình mà thiệt hành mọi việc để cho
ứng nghiệm những lời đã hứa trong Cựu ước, tức là “sẽ được trở về
đất cũ và trở nên một dân làm chủ các dân”. Bởi tôn giáo họ xui cho
họ có lòng hy vọng lớn lao, có tánh kiêu căng lạ thường, cho nên bây
giờ, cái chữ “Do Thái giáo”, người ta không coi là tôn giáo nữa, mà
coi như là một chủ nghĩa: khi nói đến chữ “Israélisme”, tức là có
bao hàm cái nghĩa xâm lược, áp bách ở trong, cũng gần gần như khi
nói đến chữ “Impérialisme” là “đế quốc chủ nghĩa” vậy.

Vì vậy, các nước bên Âu-Mỹ,
bất luận nước lớn hay nhỏ, đối với người Do Thái đều có một tâm lý
như nhau: một đường thì ghét dơ, một đường thì lo ngại. Cách hơn
trăm năm về trước, người Do Thái đến đâu thì bị xua đuổi đến đó, vả
lại còn bị người ta khinh rẻ đến điều, ba chữ “người Do Thái ” đã
thành ra một câu dùng để mắng trong các nước. (Tức như trong tiếng
Pháp khi nào mắng ai mà dùng đến tiếng “C’est un Juif” thế là mắng
độc lắm, còn hơn ta nói “đồ Mọi đồ Hời” nữa.) Mà sở dĩ người ta ghét
dơ quá như vậy, lại là vì họ cho người Do Thái là tham lam, gian ác
và nhứt là hay cho vay ăn lời.

Cái lòng ghét dơ ấy bây giờ
lại đổi ra lo ngại. Lo ngại vì cái thế lực và cái dã tâm của Do
Thái. Đã lâu nay mấy chữ “Cái vấn đề Do Thái” (Le problème Juif)
thường thấy ra trong báo chương sách vở của các nước luôn luôn, hình
như họ muốn hiệp cả trí khôn của loài người lại để giải quyết vấn đề
ấy mà đến nay cũng còn chưa có phương giải quyết.

Trong khi chưa có phương
pháp nào giải quyết được vấn đề Do Thái đó, thì người ta bất giác
hốt hoảng kêu lên rằng: “Họa Do Thái! Họa Do Thái!” (Péril Juif).

“Họa Do Thái!” tiếng kêu ấy
cũng như tiếng kêu “Họa da vàng!” (Péril jaune), nghĩa là sợ người
Do Thái hoặc giả rồi đây sẽ cậy thế lực kim tiền mà thống nhứt thế
giới được chăng, cũng như người ta lo cho Nhựt Bổn hoặc Tàu là giống
da vàng, rồi đây hoặc sẽ đứng phắt dậy mà làm lôi thôi cho giống da
trắng vậy.

Thật vậy, giống Do Thái là
giống rất nguy hiểm; người ta sợ rằng hoặc giả rồi đây họ sẽ hiệp
hết thảy đồng bào tan lạc lại cùng nhau choán cả tiền bạc trong thế
giới, nhơn đó mà mở buộc quyền tài chánh của các nước, làm quân sư
cho đám thợ thuyền các nước, rồi có thể xoay cái quyền Vạn quốc hội
nghị vào trong tay mình, như thế há chẳng nguy cho các dân tộc khác
hay sao? ấy vậy, hiện nay liệt cường đương lo mà giải quyết cái vấn
đề Do Thái là phải lắm, vì nó là cần kíp lắm.

Có nhiều người biết chuyện
nghĩ đến hiện tình thế giới mà bật cười. Số là hết thảy các dân tộc
bị áp bách ngày nay, số người phỏng là 200 triệu rưỡi, trong số ấy
người Do Thái chiếm hết một phần mười hai (1/12); thế mà một phần
mười hai số người bị áp bách ấy trở lại làm cho các dân tộc áp bách
phải lo ngay ngáy như có cái tai vạ gì lớn hầu đến cho mình mà không
biết khi nào. Rút lại, ta chỉ có thể đoán ước chừng rằng nếu trong
vũ trụ này mà quả có Đức Chúa Trời, và nếu Đức Chúa Trời quả là chúa
riêng của dân Do Thái, thì cái vấn đề Do Thái thật cũng khó lòng lấy
trí lực loài người mà giải quyết được vậy.

Ấy
thế mà, hiện thời nay, trừ An Nam ta ra không kể, còn các nước,
không nước nào là không kiếm cách để ngăn ngừa cái họa Do Thái về
sau; cho đến nước Tàu, có người đã lo đến rằng phải gấp gấp thiệt
hành cái chủ nghĩa Tam dân để có chống cự lại với chủ nghĩa Do Thái,
tức là chủ nghĩa Đế quốc mà biến hình ra vậy.


                                                                                          
                                      C.D.


                                                                                          
Đông Pháp thời báo
,
Sài Gòn,    

                          
                              
   s.756 (14.8.1928), s.757 (18.8.1928), s.761 (28.8.1928)

—————-

(1) Chữ “Do Thái” nầy là tên
nước, theo tiếng Pháp là Juda, khác với chữ “người Do Thái”, theo
tiếng Pháp là Juifs và trong sách đạo hay gọi là “quân Giu-dêu”
(nguyên chú của PK);

(2) Abraham, Isaac, Jacob:
ba ông nầy là tổ tiên người Do Thái (nguyên chú của PK).

* Á-tế-á (âm Hán-Việt) =
Asia =(châu) Á;

**theo diễn đạt ngày nay, ý
khẳng định này lẽ ra được viết là “…bất cứ việc gì cũng phải cần đến
chúng tôi… “

***
thiệt nghiệp: như « thực nghiệp ».

 

 Trở
về mục lục Trang Phan Khôi