tiểu luận về văn hóa việt nam thời bắc thuộc – Tài liệu text
tiểu luận về văn hóa việt nam thời bắc thuộc
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (972.88 KB, 17 trang )
Văn hóa Việt Nam thời
Bắc thuộc
Trong khoảng mười thế kỷ đầu công nguyên, trên lãnh
thổ Việt Nam hiện nay đã từng tồn tại ba nền văn hoá:
văn hoá của cộng đồng cư dân châu thổ Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ, văn hoá Chăm Pa ở ven biển miền Trung, và
văn hoá Óc Eo ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu
Long. Ba nền văn hoá này có những nét chung do có
chung cơ tầng văn hoá Đông Nam Á như đã nói ở trên,
nhưng cũng lại có những nét riêng do từng vùng có
những đặc điểm và số phận lịch sử khác nhau. Bài viết
này trình bày đặc điểm văn hoá của cư dân châu thổ bắc
Bộ với tư cách đại diện, điển hình.
1. Về mặt thời gian
Năm 207 tr.CN (sử liệu khác: 179) sau khi đánh chiếm Âu
Lạc, Triệu Đà lập ra nước Nam Việt. Năm 111 trước công
nguyên, nước Nam Việt bị thôn tính vào đế quốc Hán, nước
Âu Lạc lúc ấy thuộc nước Nam Việt cũng bị thôn tính theo.
Từ đó nước ta rơi vào ách đô hộ của PKPB trong suốt hơn
1000 năm. Giai đoạn đau thương này kết thúc khi Ngô Quyền
với chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm
938 mở ra thời kì độc lập tự chủ cho dân tộc.
2. Về mặt không gian, lịch sử
Nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc chia thành
quận, huyện. Địa bàn trải rộng từ biên giới Việt Trung ngày
nay đến bắc Trung bộ (Quảng Bình).
3. Đặc điểm VH thời kì này
Lịch sử các cộng đồng dân tộc Việt Nam trong suốt thời kỳ
Bắc thuộc là lịch sử của một cuộc đấu tranh đề kháng dai
dẳng, bền bỉ để bảo tồn giống nòi, bảo vệ nền văn hoá dân
tộc và giải phóng đất nước. Cuộc đấu tranh chống ách đô hộ
của phong kiến phương Bắc thành công nên mới tồn tại nền
văn hoá Việt Nam hiện nay.
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Trong hơn mười thế kỷ Bắc thuộc, các triều vua Trung Quốc
từ Hán đến Đường, thông qua chính quyền đô hộ nước ta khi
ấy, đã kế tiếp nhau thi hành chính sách cai trị tàn bạo, chính
sách đồng hoá, Hán hoá đối với người Việt và văn hoá Việt
trên mọi phương diện, nhằm vĩnh viễn thôn tính nước ta vào
đế quốc phong kiến phương Bắc.
Đặc trưng cơ bản của văn hoá lịch sử giai đoạn này là:
a. Ý thức đối kháng kiên trì, bất khuất trước nguy cơ
xâm lăng của phong kiến phương Bắc. Quốc hiệu Nam
Việt đã có từ trước CN nằm trong ý thức phân biệt rõ phương
Nam-phương Bắc của ông cha ta. Những cuộc kháng chiến
liên tiếp qua các thế kỉ như Hai Bà Trưng (40-43), Bà Triệu
(248): “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ,
chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại
giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì
thiếp cho người!”, Lí Bí (544-548),Triệu Quang Phục (548-
571), Mai Thúc Loan (772), Phùng Hưng (791), cha con họ
Khúc (906-923), Dương Diên Nghệ (931-937) và đỉnh cao là
cuộc đại thắng của Ngô Quyền năm 938.
“Dưới ách Bắc thuộc, bọn thống trị Trung Quốc ra sức thực
hiện chính sách Hán hóa. Chúng cho di thực mô hình tổ chức
chính trị và sinh hoạt xã hội Trung Hoa sang đất Việt. chúng
xóa bỏ chính quyền trung ương của vua Thục và chia nhỏ
miền đất nước ta thành các đơn vị hành chính địa phương các
cấp theo hệ thống hành chính địa phương ở Trung Quốc là
châu, quận, huyện, hương, xã và đến thời Đường bao trùm
lên các châu ở miền đất nước ta chúng đặt thành một phủ (An
Nam đô hộ phủ). Từ một quốc gia độc lập, nước ta trở thành
một địa phương của Trung Quốc.
Chúng thiết lập bộ máy quan lại, xây dựng hệ thống quân đội
và áp đặt hệ thống pháp luật để thống trị nhân dân ta, tiến
hành cống phẩm, bắt lao dịch và bóc lột về kinh tế. Trên
phương diện văn hóa, chúng đã sử dụng văn hóa Hán như
một công cụ xâm lược quan trọng. chúng bắt nhân dân Âu
Lạc phải làm ruộng theo lối Hán, ăn mặc kiểu người Hán, nói
tiếng Hán, học chữ Hán, ứng xử theo phong tục Hán. Trên
lĩnh vực tư tưởng và tôn giáo, chúng cho du nhập Nho giáo
và Đạo giáo sang để khống chế về tinh thần và nhất thể hóa
tư tưởng của nhân dân ta, nhằm tạo thành cái lõi trung tâm để
đi đến nhất thể hóa cấu trúc văn hóa giữa chính quốc và
thuộc địa. Để thúc đẩy quá trình đồng hóa văn hóa, giai cấp
thống trị Hán đã cho di cư ồ ạt người Hán sang đất Việt, gồm
quan lại và người nghèo Hán. Chúng khuyến khích nhóm
người này lấy vợ Việt, sinh con trên đất Việt và hình thành
một bộ phận “dân Mã lưu” ở nước ta nhằm thực hiện chủ
trương thực dân theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen” (Huỳnh
Công Bá, Cơ sở văn hóa Việt Nam).
Có thể nói, dưới ách Bắc thuộc, nhân dân Âu Lạc đã phải
chấp nhận một cuộc giao lưu cưỡng bức vô cùng nghiệt ngã
với nền văn hóa Hán, một nền văn hóa có khả năng đồng hóa
rất cao, đã từng đồng hóa một cộng dồng Bách Việt rộng lớn
từ phía Nam sông Dương Tử trải dài về nam cho đến núi Ngũ
Lĩnh.
b. Giữ gìn, bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc, bản sắc
văn hoá
Để tồn tại, nhân dân Âu Lạc đã phải liên tục tiến hành các
cuộc đấu tranh vũ trang giành độc lập và ra sức bảo tồn phát
triển văn hóa dân tộc. Từ trong các xóm làng Việt cổ, mà bọn
đô hộ phương Bắc không thể nào với tay tới được, cư dân Âu
Lạc đã ra sức bảo tồn và phát huy vốn liếng văn hóa bản địa
đã tích lũy được qua hàng nghìn năm trước, đặc biệt là tiếng
nói, tín ngưỡng, phong tục, nền văn học dân gian.
c. VH chống Bắc thuộc mở đầu cho quá trình giao lưu-
tiếp nhận VH Trung Hoa và khu vực: VH Trung Hoa áp
đặt (kẻ xâm lược) nên chưa có chỗ đứng nhất là Nho giáo.
VH Ấn Độ (Phật giáo) được tiếp nhận một cách tự giác bằng
con đường hòa bình. Cho nên cùng với việc chống Bắc thuộc
về chính trị còn có xu hướng chống Hán hóa về mặt VH. Hơn
thế nữa, cha ông ta đã Việt hóa các ảnh hưởng của Trung
Hoa.
4. Thành tựu văn hóa chính
Do hoàn cảnh lịch sử, VH thời kì này thành tựu không lớn.
Tuy nhiên có thể nêu một số thành tựu cơ bản sau:
a. Bảo tồn và phát triển VH dân tộc: Trong suốt hơn một
ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân ta đã phải liên tục tiến hành
các cuộc đấu tranh vũ trang để giành độc lập và đồng thời ra
sức bảo tồn phát triển văn hóa dân tộc, chống lại âm mưu
đồng hóa dân tộc của bọn phong kiến phương Bắc. Trong các
cuộc đấu tranh đó thì cơ cấu tổ chức các xóm làng Việt cổ là
thành lũy vững chắc mà bọn đô hộ phương Bắc không thể
nào với tay tới được.
-Thành tựu quan trọng của cư dân Âu Lạc là đã bảo tồn được
tiếng nói của dân tộc, làm thất bại ý đồ nham hiểm của bọn
xâm lược. Tất nhiên, dưới ách thống trị lâu ngày của bọn xâm
lược, cùng với sự phát triển của cuộc sống, tiếng Việt cũng
cần có những biến đổi. Nó đã hấp thụ được nhiều yếu tố của
ngôn ngữ Hán về mặt ngữ âm và thanh điệu, tiếp thu nhiều từ
ngữ gốc Hán. Nhưng người Âu Lạc đã hấp thụ ảnh hưởng
ngôn ngữ Hán một cách độc đáo, sáng tạo, đã Việt hóa những
từ ngữ ấy theo cách dùng, cách đọc của người Việt, tạo thành
một lớp từ mới gọi là từ Hán-Việt. Như vậy là Tiếng Việt
không bị mất đi mà lại còn được giàu có và hoàn thiện về mặt
âm tiết. Chữ viết của người Hán cũng được ông cha ta tiếp
thu và xây dựng thành chữ Nôm, một thứ chữ viết của người
Việt Nam dựa trên cấu liệu chữ Hàn để ghi âm tiếng Việt.
-Trong tín ngưỡng và phong tục, người Việt vẫn một lòng tôn
kính và biết ơn với cha mẹ, tổ tiên, tôn trọng phụ nữ, sống
chan hòa, cộng đồng trong các làng chạ, thờ cúng các thiên
thần, nhiên thần và nhân thần, các biểu tượng về khát vọng
dân tộc. Các tục lệ như búi tóc, xăm mình, nhuộm răng, ăn
trầu vẫn được giữ gìn.
-Nền văn học dân gian tiếp tục phát triển.
b. Tiếp thu và “Việt hóa” ảnh hưởng của văn hóa Hán và
văn hóa Ấn Độ:
Tranh thủ sự giao thương dưới thời Bắc thuộc, nhân dân Âu
Lạc đã trao đổi và trang bị rộng rãi các công cụ bằng sắt cho
ngành nông nghiệp. Họ đã tiếp thu kĩ thuật bón phân Bắc của
người Trung Quốc, phát triển giống cây trồng nhằm đa canh
hóa và mở rộng lúa hai vụ.
Kết hợp giữa kinh nghiệm cổ truyền với kinh nghiệm học tập
của Trung Quốc, cư dân Âu Lạc đã sản xuất được loại gốm
tráng men nửa sành nửa sứ. Hơn thế nữa, họ còn biết phát
triển sáng tạo những kĩ thuật tiếp thu được của người Trung
Quốc như sản xuất xành hai quai, ống nhổ, bình con tiện có
đầu voi, bình gốm nạm đá ở cổ, sản xuất được loại giấy trầm
hương v.v…Đó là những sản phẩm mà người Trung Quốc
không có và chất lượng tốt hơn của người Trung Quốc.
Trong nghề dệt, nhân dân Âu Lạc đã sản xuất được lụa, vải
bông, vải cát bá, vải tơ chuối, vải bạch diệp…và người Trung
Quốc đã phải mua của ta.
Trong lĩnh vực âm nhạc, trong thời Bắc thuộc người Việt đã
tiếp thu một số nhạc cụ của người Trung Quốc như chuông,
khánh, của Ấn Độ như trống cơm, của Trung Á là Hồ cầm.
Trong kiến trúc và điêu khắc là kĩ thuật kiến trúc lối vòm
cuốn sử dụng gạch múi bưởi của người Trung Quốc, tượng
tròn bằng đồng có nguồn gốc Nam Á-Ấn Độ.
Trên lĩnh vực chính trị, mô hình tổ chức nhà nước của Trung
Quốc đã bước đầu được Lý Nam Đế tiếp thu trong việc xây
dựng chính quyền tự chủ thời Vạn Xuân.
c. Về tín ngưỡng, trong xu hướng giao lưu tự nguyện lúc bấy
giờ, cha ông ta đã tiếp nhận hai nguồn văn hóa Ấn Độ, truyền
vào nước ta theo con đường hòa bình, đó là văn hóa Phật giáo
thâm nhập vào miền Bắc, Bà la môn đi vào miền Trung bộ
tạo dựng nên vương quốc Chămpa.
Những đóng góp của Phật giáo trung hòa các ảnh hưởng đến
từ Trung Hoa, khiến cho văn hóa Âu Lạc tuy bị Hoa hóa
nhưng vẫn khác với Văn hóa Trung Hoa. Trong ảnh hưởng
của hệ tư tưởng Phật giáo ở nước ta lúc bấy giờ thì tư tưởng
thiền tông với chủ trương “Phật tại tâm” chiếm vai trò chủ
đạo, tạo điều kiện cho xu hướng nhập thế của Phật giáo ở
Việt Nam.
Kiến trúc chùa Một Cột
5. Kết luận
Với cuộc đấu tranh chống Hán hóa một cách tích cực đó, khi
bước ra khỏi ách Bắc thuộc, nền văn hóa của người Việt
“như một tòa nhà chỉ thay đổi ở mặt tiền và vẫn giữ được cấu
trúc ở bên trong”.
Như vậy, nhìn tổng thể có thể kết luận rằng, đã diễn ra hai
khuynh hướng đối lập của tiến trình văn hoá Việt Nam thời
Bắc thuộc:
-Khuynh hướng Hán hoá là mưu đồ có ý thức của bọn đô hộ
và tay sai.
-Khuynh hướng Việt hoá nhằm gìn giữ và phát huy những
tinh hoa văn hoá cổ truyền từ đã có từ thời Văn Lang – Âu
Lạc, mặt khác còn tiếp thu, hội nhập những yếu tố văn hoá
bên ngoài để làm phong phú văn hoá Việt; sắp xếp, cấu trúc
lại nền tảng văn hoá Việt. Khuynh hướng này là chủ đạo. Đối
lập lại chủ nghĩa “bình thiên hạ” của kẻ thù, nhân dân ta đã
phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập tự chủ,
tinh thần tự lập tự cường. Đối lập với bộ máy nhà nước đế
chế và tổ chức chính quyền đô hộ theo cơ cấu quận huyện,
nhân dân ta lo củng cố và giữ gìn cộng đồng xóm làng. Từ
làng, người Việt vươn ra giành lại nước. Đối lập với sức
mạnh của một đế chế lớn mạnh, nhân dân ta tạo lập nên một
sức mạnh đoàn kết toàn dân. Khởi nghĩa chống Bắc thuộc là
khởi nghĩa nhân dân, có tính quần chúng rộng rãi, mau chóng
phát triển thành chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc, và
cuối cùng với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử do Ngô Quyền
lãnh đạo, cuộc đấu tranh bền bỉ của nhân dân ta đã giành
được thắng lợi vẻ vang.
Nguyễn Duy Xuân (biên tập)
Tài liệu tham khảo và trích dẫn:
1. Cơ sở văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, NXBGD, 1999
2. Cơ sở văn hóa Việt Nam, Đặng Đức Siêu, NXBĐHSP,
2004
3. Cơ sở Văn hoá Việt Nam, Trần Quốc Vượng, 1997
4. Cơ sở văn hóa Việt Nam, Huỳnh Công Bá
5. Hồ Chí Minh về văn hoá, Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản,
Hà Nội 1997
6. Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hoá, tác giả Hà
Văn Thùy
7. Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại,
Nguyễn Đình Đầu, NXB Trẻ, Tp.Hồ Chí minh, 1999
Nước ta bị những triều đại phong kiến phương Bắc chia thànhquận, huyện. Địa bàn trải rộng từ biên giới Việt Trung ngàynay đến bắc Trung bộ ( Quảng Bình ). 3. Đặc điểm VH thời kì nàyLịch sử những hội đồng dân tộc bản địa Việt Nam trong suốt thời kỳBắc thuộc là lịch sử vẻ vang của một cuộc đấu tranh đề kháng daidẳng, bền chắc để bảo tồn giống nòi, bảo vệ nền văn hoá dântộc và giải phóng quốc gia. Cuộc đấu tranh chống ách đô hộcủa phong kiến phương Bắc thành công nên mới sống sót nềnvăn hoá Việt Nam lúc bấy giờ. Khởi nghĩa Hai Bà TrưngTrong hơn mười thế kỷ Bắc thuộc, những triều vua Trung Quốctừ Hán đến Đường, trải qua chính quyền sở tại đô hộ nước ta khiấy, đã tiếp nối nhau thi hành chủ trương quản lý tàn khốc, chínhsách đồng hoá, Hán hoá so với người Việt và văn hoá Việttrên mọi phương diện, nhằm mục đích vĩnh viễn thôn tính nước ta vàođế quốc phong kiến phương Bắc. Đặc trưng cơ bản của văn hoá lịch sử dân tộc tiến trình này là : a. Ý thức đối kháng kiên trì, quật cường trước nguy cơxâm lăng của phong kiến phương Bắc. Quốc hiệu NamViệt đã có từ trước CN nằm trong ý thức phân biệt rõ phươngNam-phương Bắc của ông cha ta. Những cuộc kháng chiếnliên tiếp qua những thế kỉ như Hai Bà Trưng ( 40-43 ), Bà Triệu ( 248 ) : “ Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lạigiang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom sống lưng làm tìthiếp cho người ! ”, Lí Bí ( 544 – 548 ), Triệu Quang Phục ( 548 – 571 ), Mai Thúc Loan ( 772 ), Phùng Hưng ( 791 ), cha con họKhúc ( 906 – 923 ), Dương Diên Nghệ ( 931 – 937 ) và đỉnh điểm làcuộc đại thắng của Ngô Quyền năm 938. “ Dưới ách Bắc thuộc, bọn thống trị Trung Quốc ra sức thựchiện chủ trương Hán hóa. Chúng cho di thực quy mô tổ chứcchính trị và hoạt động và sinh hoạt xã hội Nước Trung Hoa sang đất Việt. chúngxóa bỏ chính quyền sở tại TW của vua Thục và chia nhỏmiền quốc gia ta thành những đơn vị chức năng hành chính địa phương cáccấp theo mạng lưới hệ thống hành chính địa phương ở Trung Quốc làchâu, Q., huyện, hương, xã và đến thời Đường bao trùmlên những châu ở miền quốc gia ta chúng đặt thành một phủ ( AnNam đô hộ phủ ). Từ một vương quốc độc lập, nước ta trở thànhmột địa phương của Trung Quốc. Chúng thiết lập cỗ máy quan lại, kiến thiết xây dựng mạng lưới hệ thống quân độivà áp đặt mạng lưới hệ thống pháp lý để thống trị nhân dân ta, tiếnhành cống phẩm, bắt lao dịch và bóc lột về kinh tế tài chính. Trênphương diện văn hóa, chúng đã sử dụng văn hóa Hán nhưmột công cụ xâm lược quan trọng. chúng bắt nhân dân ÂuLạc phải làm ruộng theo lối Hán, ăn mặc kiểu người Hán, nóitiếng Hán, học chữ Hán, ứng xử theo phong tục Hán. Trênlĩnh vực tư tưởng và tôn giáo, chúng cho gia nhập Nho giáovà Đạo giáo sang để khống chế về ý thức và nhất thể hóatư tưởng của nhân dân ta, nhằm mục đích tạo thành cái lõi TT đểđi đến nhất thể hóa cấu trúc văn hóa giữa chính quốc vàthuộc địa. Để thôi thúc quy trình đồng nhất văn hóa, giai cấpthống trị Hán đã cho di cư ồ ạt người Hán sang đất Việt, gồmquan lại và người nghèo Hán. Chúng khuyến khích nhómngười này lấy vợ Việt, sinh con trên đất Việt và hình thànhmột bộ phận “ dân Mã lưu ” ở nước ta nhằm mục đích triển khai chủtrương thực dân theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen ” ( HuỳnhCông Bá, Cơ sở văn hóa Việt Nam ). Có thể nói, dưới ách Bắc thuộc, nhân dân Âu Lạc đã phảichấp nhận một cuộc giao lưu cưỡng bức vô cùng nghiệt ngãvới nền văn hóa Hán, một nền văn hóa có năng lực đồng hóarất cao, đã từng đồng điệu một cộng dồng Bách Việt rộng lớntừ phía Nam sông Dương Tử trải dài về nam cho đến núi NgũLĩnh. b. Giữ gìn, bảo tồn và tăng trưởng truyền thống dân tộc bản địa, bản sắcvăn hoáĐể sống sót, nhân dân Âu Lạc đã phải liên tục triển khai cáccuộc đấu tranh vũ trang giành độc lập và ra sức bảo tồn pháttriển văn hóa dân tộc bản địa. Từ trong những xóm làng Việt cổ, mà bọnđô hộ phương Bắc không thể nào với tay tới được, dân cư ÂuLạc đã ra sức bảo tồn và phát huy vốn liếng văn hóa bản địađã tích góp được qua hàng nghìn năm trước, đặc biệt quan trọng là tiếngnói, tín ngưỡng, phong tục, nền văn học dân gian. c. VH chống Bắc thuộc mở màn cho quy trình giao lưu-tiếp nhận VH Trung Quốc và khu vực : VH Trung Hoa ápđặt ( kẻ xâm lược ) nên chưa có chỗ đứng nhất là Nho giáo. VH Ấn Độ ( Phật giáo ) được tiếp đón một cách tự giác bằngcon đường độc lập. Cho nên cùng với việc chống Bắc thuộcvề chính trị còn có khuynh hướng chống Hán hóa về mặt VH. Hơnthế nữa, cha ông ta đã Việt hóa những ảnh hưởng tác động của TrungHoa. 4. Thành tựu văn hóa chínhDo thực trạng lịch sử vẻ vang, VH thời kì này thành tựu không lớn. Tuy nhiên hoàn toàn có thể nêu 1 số ít thành tựu cơ bản sau : a. Bảo tồn và tăng trưởng VH dân tộc bản địa : Trong suốt hơn mộtngàn năm Bắc thuộc, nhân dân ta đã phải liên tục tiến hànhcác cuộc đấu tranh vũ trang để giành độc lập và đồng thời rasức bảo tồn tăng trưởng văn hóa dân tộc bản địa, chống lại âm mưuđồng hóa dân tộc bản địa của bọn phong kiến phương Bắc. Trong cáccuộc đấu tranh đó thì cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai những xóm làng Việt cổ làthành lũy vững chãi mà bọn đô hộ phương Bắc không thểnào với tay tới được. – Thành tựu quan trọng của dân cư Âu Lạc là đã bảo tồn đượctiếng nói của dân tộc bản địa, làm thất bại ý đồ nham hiểm của bọnxâm lược. Tất nhiên, dưới ách thống trị lâu ngày của bọn xâmlược, cùng với sự tăng trưởng của đời sống, tiếng Việt cũngcần có những đổi khác. Nó đã hấp thụ được nhiều yếu tố củangôn ngữ Hán về mặt ngữ âm và thanh điệu, tiếp thu nhiều từngữ gốc Hán. Nhưng người Âu Lạc đã hấp thụ ảnh hưởngngôn ngữ Hán một cách độc lạ, phát minh sáng tạo, đã Việt hóa nhữngtừ ngữ ấy theo cách dùng, cách đọc của người Việt, tạo thànhmột lớp từ mới gọi là từ Hán-Việt. Như vậy là Tiếng Việtkhông bị mất đi mà lại còn được phong phú và hoàn thành xong về mặtâm tiết. Chữ viết của người Hán cũng được ông cha ta tiếpthu và thiết kế xây dựng thành chữ Nôm, một thứ chữ viết của ngườiViệt Nam dựa trên cấu liệu chữ Hàn để ghi âm tiếng Việt. – Trong tín ngưỡng và phong tục, người Việt vẫn một lòng tônkính và biết ơn với cha mẹ, tổ tiên, tôn trọng phụ nữ, sốngchan hòa, hội đồng trong những làng chạ, thờ cúng những thiênthần, nhiên thần và nhân thần, những hình tượng về khát vọngdân tộc. Các tục lệ như búi tóc, xăm mình, nhuộm răng, ăntrầu vẫn được giữ gìn. – Nền văn học dân gian liên tục tăng trưởng. b. Tiếp thu và “ Việt hóa ” ảnh hưởng tác động của văn hóa Hán vàvăn hóa Ấn Độ : Tranh thủ sự giao thương mua bán dưới thời Bắc thuộc, nhân dân ÂuLạc đã trao đổi và trang bị thoáng rộng những công cụ bằng sắt chongành nông nghiệp. Họ đã tiếp thu kĩ thuật bón phân Bắc củangười Trung Quốc, tăng trưởng giống cây cối nhằm mục đích đa canhhóa và lan rộng ra lúa hai vụ. Kết hợp giữa kinh nghiệm tay nghề truyền thống với kinh nghiệm tay nghề học tậpcủa Trung Quốc, dân cư Âu Lạc đã sản xuất được loại gốmtráng men nửa sành nửa sứ. Hơn thế nữa, họ còn biết pháttriển phát minh sáng tạo những kĩ thuật tiếp thu được của người TrungQuốc như sản xuất xành hai quai, ống nhổ, bình con tiện cóđầu voi, bình gốm nạm đá ở cổ, sản xuất được loại giấy trầmhương v.v … Đó là những loại sản phẩm mà người Trung Quốckhông có và chất lượng tốt hơn của người Trung Quốc. Trong nghề dệt, nhân dân Âu Lạc đã sản xuất được lụa, vảibông, vải cát bá, vải tơ chuối, vải bạch diệp … và người TrungQuốc đã phải mua của ta. Trong nghành nghề dịch vụ âm nhạc, trong thời Bắc thuộc người Việt đãtiếp thu một số ít nhạc cụ của người Trung Quốc như chuông, khánh, của Ấn Độ như trống cơm, của Trung Á là Hồ cầm. Trong kiến trúc và điêu khắc là kĩ thuật kiến trúc lối vòmcuốn sử dụng gạch múi bưởi của người Trung Quốc, tượngtròn bằng đồng có nguồn gốc Nam Á-Ấn Độ. Trên nghành nghề dịch vụ chính trị, quy mô tổ chức triển khai nhà nước của TrungQuốc đã trong bước đầu được Lý Nam Đế tiếp thu trong việc xâydựng chính quyền sở tại tự chủ thời Vạn Xuân. c. Về tín ngưỡng, trong khuynh hướng giao lưu tự nguyện lúc bấygiờ, cha ông ta đã đảm nhiệm hai nguồn văn hóa Ấn Độ, truyềnvào nước ta theo con đường độc lập, đó là văn hóa Phật giáothâm nhập vào miền Bắc, Bà la môn đi vào miền Trung bộtạo dựng nên vương quốc Chămpa. Những góp phần của Phật giáo trung hòa những tác động ảnh hưởng đếntừ Nước Trung Hoa, khiến cho văn hóa Âu Lạc tuy bị Hoa hóanhưng vẫn khác với Văn hóa Trung Hoa. Trong ảnh hưởngcủa hệ tư tưởng Phật giáo ở nước ta lúc bấy giờ thì tư tưởngthiền tông với chủ trương “ Phật tại tâm ” chiếm vai trò chủđạo, tạo điều kiện kèm theo cho xu thế nhập thế của Phật giáo ởViệt Nam. Kiến trúc chùa Một Cột5. Kết luậnVới cuộc đấu tranh chống Hán hóa một cách tích cực đó, khibước ra khỏi ách Bắc thuộc, nền văn hóa của người Việt “ như một tòa nhà chỉ biến hóa ở mặt tiền và vẫn giữ được cấutrúc ở bên trong ”. Như vậy, nhìn tổng thể và toàn diện hoàn toàn có thể Kết luận rằng, đã diễn ra haikhuynh hướng trái chiều của tiến trình văn hoá Việt Nam thờiBắc thuộc : – Khuynh hướng Hán hoá là mưu đồ có ý thức của bọn đô hộvà tay sai. – Khuynh hướng Việt hoá nhằm mục đích gìn giữ và phát huy nhữngtinh hoa văn hoá truyền thống từ đã có từ thời Văn Lang – ÂuLạc, mặt khác còn tiếp thu, hội nhập những yếu tố văn hoábên ngoài để làm đa dạng và phong phú văn hoá Việt ; sắp xếp, cấu trúclại nền tảng văn hoá Việt. Khuynh hướng này là chủ yếu. Đốilập lại chủ nghĩa “ bình thiên hạ ” của quân địch, nhân dân ta đãphát huy can đảm và mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập tự chủ, niềm tin tự lập tự cường. Đối lập với cỗ máy nhà nước đếchế và tổ chức triển khai chính quyền sở tại đô hộ theo cơ cấu tổ chức quận huyện, nhân dân ta lo củng cố và giữ gìn hội đồng xóm làng. Từlàng, người Việt vươn ra giành lại nước. Đối lập với sứcmạnh của một đế chế vững mạnh, nhân dân ta tạo lập nên mộtsức mạnh đoàn kết toàn dân. Khởi nghĩa chống Bắc thuộc làkhởi nghĩa nhân dân, có tính quần chúng thoáng đãng, mau chóngphát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc bản địa, vàcuối cùng với thắng lợi Bạch Đằng lịch sử vẻ vang do Ngô Quyềnlãnh đạo, cuộc đấu tranh bền chắc của nhân dân ta đã giànhđược thắng lợi vẻ vang. Nguyễn Duy Xuân ( chỉnh sửa và biên tập ) Tài liệu tìm hiểu thêm và trích dẫn : 1. Cơ sở văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, NXBGD, 19992. Cơ sở văn hóa Việt Nam, Đặng Đức Siêu, NXBĐHSP, 20043. Cơ sở Văn hoá Việt Nam, Trần Quốc Vượng, 19974. Cơ sở văn hóa Việt Nam, Huỳnh Công Bá5. Hồ Chí Minh về văn hoá, Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, TP. Hà Nội 19976. Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hoá, tác giả HàVăn Thùy7. Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua những thời đại, Nguyễn Đình Đầu, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí minh, 1999
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


