Tiểu Luận Xây dựng văn hóa kinh doanh Công ty VINAMILK – Tài liệu text

Tiểu Luận Xây dựng văn hóa kinh doanh Công ty VINAMILK

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.84 KB, 21 trang )

MỤC LỤC

1

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, khái niệm văn hoá kinh doanh đã và đang được nhắc
đến như một tiêu chí khi bàn về doanh nghiệp. Văn hoá kinh doanh chính là tài sản vô
hình của mỗi doanh nghiệp. Xây dựng, phát triển văn hoá kinh doanh của nước ta hiện
nay có tác dụng rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của
doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, hội nhập kinh tế và hội nhập
kinh tế quốc tế. Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk là một trong những doanh
nghiệp Việt Nam đã sớm xây dựng cho mình văn hoá kinh doanh ngay từ những buổi
đầu mới thành lập. Bằng tất cả sự tâm huyết, hết lòng vì khách hàng và trên hết là trên
cơ sở hệ thống văn hoá kinh doanh chuyên nghiệp và lâu năm, tập thể công ty
Vinamilk đã lần lượt cho ra đời những dòng sản phẩm có chất lượng và phù hợp với
mọi khách hàng, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe nhất của hội đồng chất lượng
sản phẩm quốc tế.
PHẦN 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ DOANH NGHIỆP
I.

Khái quát chung về văn hoá kinh doanh
1. Khái niệm văn hoá kinh doanh
Càng ngày con người càng nhận thấy rằng văn hoá tham gia vào mọi quá trình hoạt
động của con người và sự tham gia đóngày càng được thể hiện rõ nét và tạo thành
các lĩnh vực văn hoá đặc thù như văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá giáo
dục,… và văn hoá kinh doanh.
Kinh doanh là một hoặt động cơ bản của con người, xuất hiện cùng với hàng hoá và
thị trường. Mục đích của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh do
đó bản chất của kinh doanh là để kiếm lời. Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh

là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công
lao động xã hội tạo ra. Còn việc kinh doanh như thế nào, kinh doanh đem lại lợi ích
và giá trị cho ai thì đó chính là vấn đề của văn hoá kinh doanh.
Trong kinh doanh, những sắc thái văn hoá có mặt trong toàn bộ quá trình tổ chức và
hoạt động của hoạt động kinh doanh, được thể hiện từ cách chọn và cách bố trí máy
móc và dây chuyền công nghệ. Hoạt động kinh doanh cố nhiên không lấy các giá trị
của văn hoá làm mục đích trực tiếp, song nghệ thuật kinh doanh, từ việc tạo vốn ban
đầu, tìm địa bàn kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, cách tổ chức thực hiện chiến
lược kinh doanh,…được “thăng hoa” lên với những biểu hiện và giá trị tốt đẹp
thìkinh doanh cuãng là biểu hiện sinh động văn hoá của con người.
Do đó, bản chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái
đúng, cái tốt và cái đẹp.
2

Từ những điều trên đây khái niệm văn hoá kinh doanh được hình thành như sau:
“Văn hoá kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hoá được chủ thể kinh doanh chọn
lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh
doanh của chủ thể đó.”
2. Các nhân tố cấu thành văn hoá kinh doanh

Văn hoá kinh doanh là một phương diện của văn hoá trong xã hội và là văn hoá
trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh. Văn hoá kinh doanh bao gồm toàn bộ những
giá trị vật chất và tinh thần, những phương thức và kết quả hoạt động của con người
được tạo ra và sử dụng trong quá trình kinh doanh. Các nhân tố cấu thành nên hệ
thống văn hoá kinh doanh là triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hoá doanh
nhân và các hình thức văn hoá khác.
2.1. Triết lý kinh doanh

Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông

qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hoá của các chủ thể kinh doanh và
chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh.
Đó là một hệ thống bao gồm những giá trị cốt lõi có tính pháp lý và đạo lý tạo nên
phong thái đặc thù của chủ thể kinh doanh và phương thức phát triển bền vững của
hoạt động này. Đôi khi triết lý kinh doanh còn là cơ sở để các nhà quản trị đưa ra
các quyết định quản lý có tính chiến lược quan trọng trong những trong những tình
huống mà sự phân tích lỗ lãi không thể giải quyết. Đồng thời triết lý kinh doanh còn
là phương tiện để giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh.
Hình thức thể hiện của triết lý kinh doanh cũng rất khác nhau với mỗi một chủ thể
kinh doanh cụ thể. Nhưng dù dưới bất kì hình thức nào thì triết lý kinh doanh luôn
trở thành ý thức thường trực trong mỗi chủ thể kinh doanh, chỉ đạo những hành vi
của họ.
Kết cấu nội dung của triết lý kinh doanh thường gồm những bộ phận sau:
– Sứ mệnh và các mục tiêu kinh doanh cơ bản.
– Các phương thức hành động để hoàn thành được những sứ mệnh và mục tiêu- nhằm cụ

thể hoá hơn cách diễn đạt được những sứ mệnh và mục tiêu.
– Các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp và hoạt động kinh doanh đặc

thù của doanh nghiệp.
2.2. Đạo đức kinh doanh

Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều
chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh.
Đây là hệ thống các quy tắc xử sự, các chuẩn mực đạo đức, các quy chế, nội quy…
có vai trò điều tiết các hoạt động của quá trình kinh doanh nhằm hướng đến triết lý
3

đã định. Đạo đức kinh doanh góp phần phát triển mối quan hệ với người lao động,

với chính quyền, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà cung cấp và với
cộng đồng xã hội, từ đó góp phần tạo nên môi trường kinh doanh ổn định.
2.3. Văn hoá doanh nhân

Văn hoá doanh nhân là toàn bộ các nhân tố văn hoá mà các doanh nhân chọn lọc,
tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh của mình.
Tài năng, đạo đức và phong cách của nhà kinh doanh có vai trò quyết định trong
việc hình thành văn hoá kinh doanh của chủ thể kinh doanh.
Kinh doanh là một nghề phức tạp, đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải vừa có đức vừa
có tài, trong đó đức là cơ sở của tài. Hay nói cách khác thì đạo đức, tài năng, phong
cách của chủ thể kinh doanh có vai trò quyết định trong việc hình thành văn hoá
kinh doanh. Doanh nhân không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ
kinh doanh mà cònlà người sáng tạo ra các biểu tượng, các ý thức hệ, ngôn ngữ,
niềm tin,… Do đó, trong quá trình xây dựng và phát triển kinh doanh, văn hoá của
doanh nhân sẽ được phản chiều lên văn hoá kinh doanh.
Phong cách doanh nhân chính là sự tổng hợp các yếu tố diện mạo, ngôn ngữ, cách
cư xử và cách hành động của doanh nhân. Phong cách của doanh nhân thường được
thống nhấy với phong các kinh doanh của họ vì nhà kinh doanh thường dành phần
lớn thời gian và cuộc sống của họ cho công việc.
Đạo đức của doanh nhân trong quá trình hoạt động là một thành tố quan trọng tạo
nên văn hoá của doanh nhân. Một số tiêu chuẩn không thể thiếu đối với đạo đức của
các doanh nhân:
– Tính trung thực
– Tôn trọng con người
– Vươn tới sự hoàn hảo
– Đương đầu với thử thách
– Coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội

Đạo đức, tài năng và phong cách của doanh nhân là những thành tố quan trọng hình
thành nên văn hoá doanh nhân nói riêng và văn hoá kinh doanh nói chung.

2.4. Các hình thức văn hoá khác

Các hình thức văn hoá khác bao gồm những giá trị của văn hoá kinh doanh được thể
hiện bằng tất cả những giá trị trực quan hay phi trực quan điển hình.
Một số hình thức thể hiện khác của văn hoá kinh doanh như:
– Giá trị sử dụng, hình thức, mẫu mã sản phẩm
– Kiến trúc nội và ngoại thất
4

– Nghi lễ kinh doanh
– Giai thoại và truyền thuyết
– Biểu tượng
– Ngôn ngữ, khẩu hiệu
– Ấn phẩm điển hình
– Lịch sử phát triển và truyền thống văn hoá
3. Các đặc trưng của văn hoá kinh doanh
3.1. Tính tập quán

Hệ thống các giá trị của văn hoá kinh doanh sẽ quy định những hành vi được chấp
nhân hay không được chấp nhận trong một hoạt động hay môi trường kinh doanh cụ
thể. Có những tập quán kinh doanh đẹp tồn tại như một sự khảng định những nét
độc đáo, nhưng có những tập quán không dễ gì cảm thông ngay được.
3.2. Tính cộng đồng

Kinh doanh bao gồm một hệ thống các hoạt động có tính chất đặc trưng với mục
tiêu là lợi nhuận của chủ và các nhu cầu được đáp ứng của khách, kinh doanh không
thể tồn tại do chính bản than nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và
củng cố của mọi thành viên tham gia trong quá trình hoạt động.
3.3. Tính dân tộc

Tính dân tộc là một đặc trưng tất yếu của văn hoá kinh doanh vì bản thân văn hoá
kinh doanh là một tiểu văn hoá nằm trong văn hoá dân tộc và mỗi chủ thể kinh
doanh đều thuộc về một dân tộc cụ thể với một phần nhân cách tuân theo các giá trị
của văn hoá dân tộc.
3.4. Tính chủ quan

Văn hoá kinh doanh là sự thể hiện quan điểm, phương hướng, chiến lược và cách
thức tiến hành kinh doanh của một chủ thể kinh doanh cụ thể. Tính chủ quan của
văn hoá kinh doanh được thể hiện thông qua việc các chủ thể khác nhau sẽ có
những suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc và hiện tượng kinh doanh.
3.5. Tính khách quan

Mặc dù văn hoá kinh doanh là sự thể hiện quan điểm chủ quan của từng chủ thể
kinh doanh, nhưng do được hình thành trong cả một quá trình với sự tác động của
rất nhiều nhân tố bên ngoài như xã hội, lịch sử, hội nhập,… nên văn hoá kinh doanh
tồn tại khách quan ngay cả với chủ thể kinh doanh.
3.6. Tính kế thừa

Cũng giống như văn hoá, văn hoá kinh doanh là sự tích tụ của tất cả các hoàn cảnh.
Trong quá trình kinh doanh, mỗi thế hệ sẽ cộng thêm các đặc trưng riêng biệt của
mình vào hệ thống văn hoá kinh doanh trước khi truyền lại cho thế hệ sau.
5

3.7. Tính học hỏi

Có những giá trị của văn hoá kinh doanh không thuộc về văn hoá dân tộc hay văn
hoá xã hội và cũng không phải do các nhà lãnh đạo sáng lập ra. Những giá trị đó có
thể được hình thành từ những kinh nghiệm khi xử lí các vấn đề, từ kết quả của quá

trình nghiên cứu thị trường, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh,…Tất cả các giá trị ấy
được tạo nên là bởi tính học hỏi của văn hoá kinh doanh.
3.8. Tính tiến hoá

Kinh doanh rất sôi động và luôn luôn thay đổi, do đó, văn hoá kinh doanh với tư
cách là bản sắc của chủ thể kinh doanh cũng luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với
trình độ kinh doanh và tình hình mới. Đặc biệt trong thời kì hội nhập, việc giao thoa
với các sắc thái kinh doanh của các chủ thể khác nhằm trao đổi và tiếp thu các giá
trị tiến bộ là điều tất yếu.
3.9. Hai đặc trưng riêng biệt của văn hoá kinh doanh

Thứ nhất, văn hoá kinh doanh xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thị trường. Văn
hoá kinh doanh chỉ ra đời khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến mức: kinh doanh
trở thành một hoạt động phổ biến và chính thức trở thành một nghề, lúc đó xã hội sẽ
ra đời một tầng lớp mới, đó là các doanh nhân. Văn hoá kinh doanh được hình
thành như một hệ thống những giá trị, những cách cư xử đặc trưng cho các thành
viên trong lĩnh vưcj kinh doanh.
Thứ hai, văn hoá kinh doanh phải phù hợp với trình độ kinh doanh của chủ thể kinh
doanh. Văn hoá kinh doanh là sự thể hiện tài nằng, phong cách và thói quen của các
nhà kinh doanh, vì vậy nó phải phù hợp với trình độ kinh doanh của nhà kinh
doanh đó.
4. Các nhân tố tác động đến văn hoá kinh doanh
4.1. Nền văn hoá xã hội

Văn hoá kinh doanh là một bộ phận của văn hoá dân tộc, văn hoá xã hội. Vì vậy sự
phản chiếu của văn hoá dân tộc, văn hoá xã hội lên nền văn hoá kinh doanh là một
điều tất yếu. Hoạt động kinh doanh luôn tồn tại trong một môi trường xã hội nhất
định nên nhất thiết nó phải chịu ảnh hưởng của văn hoá xã hội.
4.2. Thể chế xã hội

Thể chế xã hội bao gồm thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế hành chính, thể
chế văn hoá, các chính sách của chính phủ,.là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
môi trường kinh doanh và qua đó ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành và phát
triển văn hoá kinh doanh.

6

Chính sách của chính phủ và hệ thống pháp chế có ảnh hưởng rất lớn đến chiến
lược kinh doanh và các mối quan hệ bên trong của chủ thể kinh doanh.
4.3. Sự khác biệt và sự giao lưu văn hoá

Giữa các quốc gia, các chủ thể kinh doanh và các cá nhân trong đơn vị kinh doanh
không bao giờ có cùng một kiểu văn hoá thuần nhất.
Trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay, các chủ thể kinh doanh không thể
duy trì văn hoá của mình như một lãnh địa đóng kín mà phải mở cửa và giao lưu về
văn hoá. Sự giao lưu văn hoá tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh học tập, lựa
chọn những khía cạnh tốt về văn hoá của các chủ thể khác nhằm phát triển mạnh
nền văn hoá của doanh nghiệp mình.
4.4. Quá trình toàn cầu hoá

Tiến trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế đã góp phần làm cho hoạt động
kinh doanh phát triển mạnh mẽ. Quá trình này mở cửa cho các nền kinh tế hoà nhập
cùng nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho các doanh nhân có cơ hội phát huy hết
khả năng của mình, nâng cao trình độ kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị
trường.
Hoạt động kinh doanh ngày càng mang tính toàn cầu, khả năng cạnh tranh quốc tế
ngày càng gay gắt nên đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải khai thác các thế mạnh
trong đó văn hoá là một điển hình. Nền kinh tế toàn cầu làm cho môi trường kinh
doanh biến đổi nhanh hơn và nâng các chuẩn mực văn hoá lên cao, điều đó đòi hỏi

các chủ thể phải xây dựng được nền văn hoá có tính thích nghi, có sự tin cậy cao độ
để cạnh tranh thành công. Nếu không họ sẽ không thể tồn tại.
4.5. Khách hàng

Các chủ thể kinh doanh tồn tại và phát triển không vì lợi nhuận trước mắt mà phải
vì một lợi nhuận lâu dài và bền vững. Với vai trò là người tạo ra doanh thu, khách
hàng cũng đóng góp một phần rất quan trọng vào việc tạo ra lợi nhuận lâu dài và
bền vững cho chủ thể kinh doanh. Nhất là trong xã hội hiện đại, khách hàng không
mua những sản phẩm thuần tuý, họ mua các giá trị, họ đưa ra các quyết định dựa
trên bối cảnh văn hoá chứ không đơn thuần là những quyết định có tính chất thiệt
hơn. Do đó, nhu cầu, thẩm mỹ, trình độ dân trí về kinh tế của khách hàng tác động
trực tiếp tới văn hoá kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.
II.

Khái quát chung về công ty cổ phần sữa Việt Nam- Vinamilk
1. Khái quát chung về hoạt động của Công ty
Tính theo doanh số và sản lượng, Vinamilk là nhà sản suất sữa hàng đầu tại Việt
Nam. Danh mục sản phẩm của Vinamilk bao gồm: sản phẩm chủ lực là sữa nước và
sữa bột; sản phẩm có giá trị cộng thêm như sữa đặc, yoghurt ăn và yoghurt uống,
7

kem và phô mai. Vinamilk cung cấp cho thị trường một những danh mục các sản
phẩm, hương vị và qui cách bao bì có nhiều lựa chọn nhất.
Theo Euromonitor, Vinamilk là nhà sản xuất sữa hàng đầu tại Việt Nam. Từ khi bắt
đầu đi vào hoạt động năm 1976, Công ty đã xây dựng hệ thống phân phối rộng nhất
tại Việt Nam và đã làm đòn bẩy để giới thiệu các sản phẩm mới như nước ép, sữa
đậu nành, nước uống đóng chai và café cho thị trường.
Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương
hiệu“Vinamilk”, thương hiệu này được bình chọn là một “Thương hiệu Nổi tiếng”

và là một trong nhóm 100 thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn
năm 2006. Vinamilk cũng được bình chọn trong nhóm “Top 10 Hàng Việt Nam
chất lượng cao” từ năm 1995 đến năm 2007.
Hiện tại Công ty tập trung các hoạt động kinh doanh vào thị trường đang tăng
trưởng mạnh tại Việt Nam mà theo Euromonitor là tăng trưởng bình quân 7.85% từ
năm 1997 đến 2007. Đa phần sản phẩm được sản xuất tại chín nhà máy với tổng
công suất khoảng 570.406 tấn sữa mỗi năm. Công ty sở hữu một mạng lưới phân
phối rộng lớn trên cả nước, đó là điều kiện thuận lợi để chúng tôi đưa sản phẩm đến
số lượng lớn người tiêu dùng.
Sản phẩm Công ty chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam và cũng xuất khẩu
sang các thị trường nước ngoài như Úc, Campuchia, Irắc, Philipines và Mỹ.

Giá trị cốt lõi của công ty:
Chính trực: liêm chính, trung thực trong ứng xử và trong tất cả các giao dịch.
Tôn trọng: tôn trọng bản thân, tôn trọng đồng nghiệp, tôn trọng công ty, tôn trọng
đối tác, hợp tác trong sự tôn trọng
Công bằng: Công bằng với nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và các bên liên
quan khác
Tuân thủ:Tuân thủ Luật pháp, bộ Quy tắc ứng xử và các quy chế, chính sách quy
định của công ty.
Đạo đức: Tôn trọng các tiêu chuẩn đã được thiết lập và hành động một cách đạo
đức.
2. Tầm nhìn:

“Trở thành biểu tượng niềm tin số một Việt Nam về sản phẩm dinh dưỡng và sức
khỏe phục vụ cuộc sống con người “

3. Triết lý kinh doanh:

8

“Vinamilk mong muốn trở thành sản phẩm được
yêu thích nhất ở mọi khu vực, lãnh thổ. Vì thế công ty
tâm niệm rằng chất lượng và sáng tạo là người bạn đồng hành của Vinamilk.
Vinamilk xem khách hàng là trung tâm và cam kết đáp ứng mọi nhu cầu của khách
hàng.”
4. Sứ mệnh:
“Vinamilk cam kết mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chất lượng
nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm cao của mình với cuộc sống
con người và xã hội”
Nội dung của bản tuyên bô sứ mệnh:
Đối tượng khách hàng: bà mẹ, trẻ em, con người.
Sản phẩm, dịch vụ: các loại sữa.
Thị trường: phủ khắp các tỉnh thành trong cả nước.
Mức độ quan tâm đến công nghệ: rất cao, đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh
thực phẩm cao nhất.
5- Mức độ quan tâm đến hình ảnh của tổ chức ở công chúng: xây dựng thương hiệu
chất lượng, uy tín.
6- Chính sách nhân sự: môi trường làm việc là ngôi nhà thứ hai của nhân viên.
1234-

5. Mục tiêu của Công ty:




Tối đa hóa giá trị của cổ đông và theo đuổi chiến lược phát triển kinh doanh dựa
trên những yếu tố chủ lực sau:
Phát triển thương hiệu Vinamilk thành thương hiệu dinh dưỡng có uy tín khoa học
và đáng tin cậy nhất với mọi người dân Việt Nam thông qua
Củng cố hệ thống và chất lượng phân phối nhằm giành thêm thị phần tại các thị
trường mà Vinamilk có thị phần chưa cao, đặc biệt là tại các vùng nông thôn và các
đô thị nhỏ;
Tiếp tục mở rộng và phát triển hệ thống phân phối chủ động, vững mạnh và hiệu
quả.
Phát triển nguồn nguyên liệu để đảm bảo nguồn cung sữa tươi ổn định, chất lượng
cao với giá cạnh tranh và đáng tin cậy
Mở rộng thị phần tại các thị trường hiện tại và thị trường mới
9

Phát triển các dòng sản phẩm mới nhằm thỏa mãn nhiều thị hiếu tiêu dùng khác
nhau
6. Phân tích SWOT của Công ty:
 Điểm mạnh (S):
 Quy mô kinh doanh đang dẫn đầu thị trường sữa Việt Nam.
 Thương hiệu Vinamilk là thương hiệu quen thuộc và được người Việt
Nam tin dùng hơn 30 năm qua.
 Hệ thống phân phối mở rộng ra cả nước và liên tục được mở rộng qua
các năm giúp đưa sản phầm của công ty nhanh chóng đến tay người tiêu
dùng.
 Sản phẩm đạt chất lượng tốt và được người tiêu dùng yêu thích.
 Chuỗi các nhà máy đc bố trí dọc Việt nam giúp giảm chi phí vận chuyển,
được đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, được nâng cấp và mở rộng mỗi
năm, sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế.

 Mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp trong và ngoài nước giúp cho
công ty có nguồn cung cấp nguồn hàng hợp lý và giá cả ổn định. Hiện
nay, công ty đang thu mua 60% sữa tươi sản xuất tại Việt Nam.
 Ban lãnh đạo giàu kinh nghiệm trong việc kinh doanh và sản xuất sữa.
hệ thống nội bộ minh bạch, các quy trình cụ thể và chặt chẽ. Ý thức tự
thay đổi để nâng cao chất lượng hoạt động được xuyên suốt từ cấp quản
lý đến cấp nhân viên.
 Điểm yếu (W):
 Khâu Marketing còn yếu nên chưa tạo được thông điệp hiệu quả để
quảng bá đến người tiêu dùng điểm mạnh của công ty. Công ty có các
sản phẩm có 70-99% sữa tươi nhưng chưa có cách quảng bá nói lên sự
khác biệt đó.
 Công ty có nhiều loại sản phẩm dành cho các đối tượng khác nhau
nhưng quy cách đóng gói chưa tạo được sự khác biệt để giúp cho khách
hàng nhận biết nhanh nhất.
 Thu mua nguyên liệu chưa tận dụng hết nguồn cung từ hộ nông dân.
 Đầu tư vào một số nhà máy sữa chưa hiệu quả.
 Thị trường xuất khẩu còn hạn chế và chưa ổn định.
 Cơ hội (O)
 Điều tiết giá nhất định khi thu mua sữa tươi.
 Có nguồn nguyên liệu tập trung hơn, giảm chi phí nhập khẩu nguyên liệu
nhờ thừa hưởng chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa từ chính phủ.
 Phát triển và tiêu thụ mạnh thêm được dòng sản phầm mới về kiểu cách
mẫu mã và chất lượng.
 Thu nhập của người dân ngày càng tăng cao, nhu cấu sản phẩm càng cao
và họ quan tâm đến nhiều sản phẩm chăm sóc sức khoẻ hơn.
 Nguy cơ (T):
 Thị trường sữa bột trong nước đang có cạnh tranh gay gắt từ các sản
phẩm nhập ngoại.
 Đối thủ luôn luôn có những sản phẩm mới và cách Marketing tốt hơn.

10

 Các đối thủ nước ngoài có cách thâm nhập thị trường và Marketing tốt

hơn.
PHẦN 2
XÂY DỰNG VĂN HOÁ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
I. Xây dựng các nguyên tắc và chuẩn mực.
1. Đạo đức kinh doanh

Nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh:
Tính trung thực: Vinamilk cam kết: “Chúng ta sẽ cung cấp những sản phẩm
và dịch vụ đã dạng với chất lượng đạt tiêu chuẩn cao nhất, g nghiệía cả
cạnh tranh và trung thực trong mọi giao dịch
 Tôn trọng con người: Hướng tới mọi đối tượng người tiêu dùng, nhân viên,
đối tác, nhà cung cấp. Vinamilk đều xây dựng bộ quy tắc ứng xử riêng.
 Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội:
Vinamilk luôn nhìn nhận khách hàng như là một đối tác kinh doanh dựa trên
cơ sở đôi bên cùng có lợi. Vinamilk sẽ có những hành động thiết thực như
hoạch định, điều khiển khoản hợp tác, hỗ trợ,… về hệ thống khách hàng của
mình.
Lợi nhuận phải gắn với trách nhiệm xã hội: Vinamilk làm công tác xã hội
không chỉ trong mấy năm gần đây mà suốt từ khhi thành lập công ty. Công
ty luôn nâng cao ý thức trách nhiệm về cộng đồng, ý thức chia sẻ đối với
cộng đồng. Đó là ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp.
2. Trách nhiệm xã hội
2.1.

Khía cạnh kinh tế:
 Đối với Nhà nước:

Vinamilk cam kết: “Chúng ta luôn phải tuân thủ luật pháp của Nhà nước và luật
pháp của bất kì nơi nào mà chúng ta hoạt động”.
 Đối với người tiêu dùng:

“Chúng ta sẽ cung cấp những sản phẩm và dịch vụ đã dạng với chất lượng đạt
tiêu chuẩn cao nhất, giá cả cạnh tranh và trung thực trong mọi giao dịch”.
 Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp:

“Chúng ta sẽ nỗ lực để mang lại lợi ích vượt trội cho các cổ đông trên cơ sở sử
dụng hiệu quả và bảo vệ nguồn tài nguyên của Vinamilk trong sự tuân thủ tiêu
chuẩn cao nhất về ứng xử đạo đức và pháp luật trong kinh doanh”.
 Đối với nhân viên:

11

“Chúng ta sẽ đối xử tôn trọng và công bằng với mọi nhân viên. Chúng ta tạo
dựng những cơ hội phát triển bình đẳng, xây dựng và duy trì môi trường làm
việc an toàn, than thiện, cởi mở”.
 Đối với đối tác, nhà cung ứng:

Cam kết: tôn trọng và giao dịch bình đẳng với các nhà cung cấp và đối tác.
Vinamilk luôn trân trọng mối quan hệ hợp tác lâu dài trên cơ sở trung thực,
minh bạch và hài hoà lợi ích.
Khía cạnh pháp lý:

2.2.

Gồm 5 khía cạnh cơ bản:





2.3.

Điều tiết cạnh tranh
Bảo vệ người tiêu dùng
Bảo vệ môi trường
An toàn và bình đẳng
Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
Khía cạnh đạo đức

Nghĩa vụ đạo đức của Vinamilk được thể hiện rõ thông qua những nguyên tắc và
giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược phát triển
của công ty.
 Sứ mệnh của công ty:

“Vinamilk cam kết mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chất
lượng nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm của mình vơi cuộc
sống con người và xã hội”. Có thể nói, kể từ khi thành lập cho tới nay, công ty đã
thực sự rất vất vả để có thể khẳng định được sứ mệnh nêu trên của mình- một bản
“Tuyên ngôn” thể hiện rất rõ nghĩa vụ đạo đức mà công ty theo đuổi: hướng về
cộng đồng, hướng về mục tiêu phát triển chung của xã hội thông qua nỗ lực cung
cấp nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho con người bằng các sản phẩm của mình.
 Chiến lược của công ty:

Xuất phát từ nội dung của bản chiến lược phát triển của Vinamilk, chúng ta có thể
nhận thấy rằng: bên cạnh những mục tiêu cơ bản của một doanh nghiệp hoạt động
kinh tế như: doanh thu, lợi nhuận,… Vinamilk cũng thực sự rất quan tâm tới những
mục tiêu về các giá trị đạo đức mà công ty đã xây dựng. Và những mục tiêu này đã
chi phối rất lớn tới chiến lược phát triển chung của công ty.
2.4.

Khía cạnh nhân văn

Phương châm của Vinamilk là hướng đến sự phát triển bền vững và lợi ích của
cộng đồng. Vinamilk tự cho rằng: “thước đo giấ trị mà Vinamilk- một thương hiệu
12

đã có những bước phát triển bền vững và luôn khẳng định được vị thế trên thương
trường- sử dụng chính là giá trị đạo đức, là sự tin tưởng, và hợp tác của người tiêu
dùng, khách hàng, đối tác, cổ đông và cả cộng đồng”.
Các phương diện thể hiện:
– Nâng cao chất lượng cuộc sống
– San sẻ bớt gánh nặng cho Chính phủ
– Nâng cao năng lực lãnh đạo cho nhân viên
– Phát triển nhân cách đạo đức cho người lao động
II.
Xây dựng hệ thống các nguyên tắc, quy định trong tổ chức
1. Xây dựng quy định trong quản trị nguồn nhân lực
1.1.
Chính sách tuyển dụng

Mục tiêu của Vinamilk là hướng tới một tập đoàn đa ngành, một thương hiệu toàn

cầu với đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, nhiệt huyết, đầy năng lực, cùng chí hướng
phát triển sự nghiệp lâu dài, gắn với Vinamilk.
Chính sách tuyển dụng của Công ty luôn hướng tới việc đa dạng hoá nguồn ứng
viên đối với cấp lãnh đạo, cấp quản trị và nhân viên. Từ các ứng cử viên có khả
năng thích hợp với kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao, phù hợp với công việc
cho đến các bạn sinh viên có thành tích tốt.
Công tác tuyển dụng này được xem xét trên qua điểm không phân biệt chủng tộc,
tôn giáo, giới tính và tuổi tác.
Mục tiêu tuyển chọn nhân viên là tìm ra được người có đủ năng lực làm việc, phẩm
chất làm việc thông qua quá trình tuyển chon công bằng, khách quan.
Các chương trình tuyển dụng của Vinamilk như chương trình tập sự viên kinh
doanh. Chương trình tập sự viên kinh doanh là một trong các chương trình tuyển
dụng của Vinamilk hướng đến đội ngủ sinh viên mới ra trường năng động, nhiệt
huyết, sẵn sàng cống hiến và yêu thích công việc bán hàng. Chương trình là cơ hội
lớn cho các ứng cử viên tiềm năng trẻ trên khắp Việt Nam được tham gia và phát
triển cùng đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp và vững mạnh của Vinamilk. Các bạn
sinh viên sẽ được đào tạo, huấn luyện các kỹ năng cần thiết song song với kinh
nghiệm làm việc thực tế giúp các bạn chính thức trở thành các giám sát mại vụ của
công ty sau ba tháng và được hưởng thu nhập cùng các chế độ đãi ngộ xứng đáng.
Chương trình tuyển dụng tại các trường đại học: hàng năm, công ty Vinamilk đều
tổ chức các chương trình tuyển dụng tại các trường đại học lớn trên toàn quốc. Đây
không chỉ là cơ hội cho các bạn sinh viên ứng tuyển mà còn là dịp để các bạn sinh
viên tìm hiểu, trao đổi về Vinamilk qua đó định hướng nghề nghiệp của mình.
Ngoài ra còn có các chương trình thực tập. Không chỉ tuyển dụng các tài năng cho
công ty, công ty còn quan tâm đến việc đóng góp lợi ích cho xã hội ở nhiều khía
13

cạnh. Chương trình thực tập ở Vinamilk phần nào giải quyết được nhu cầu cọ sát
thực tế của các bạn sinh viên trong các trường đại học.

Đào tạo, huấn luyện

1.2.

Từ sứ mệnh và mục tiêu chiến lược của tổ chức thì bộ phận quản lý đã xác định
mục tiêu của nguồn nhân lực đó là đầu tư đào tạo nguồn nhân lực tri thức cao. Với
chiến lược phát triển của ngành sữa hiện nay, Công ty Vinamilk đẫ xác định yếu tố
“con người” sẽ quyết định đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Công ty đặt mục tiêu đầu tư đào tạo nguồn nhân lực trí thức. Một số hoạt động đào
tạo Công ty đã và đang thực hiện:
Công ty đã và đang chuẩn bị cho nguồn nhân lực trình độ cao trong tương
lai bằng cách gửi con em cán bộ, công nhân viên sang học ở các ngành công
nghệ sữa và các sản phẩm từ sữa, tự động hoá quy trình công nghệ và sản
xuất, máy móc thiết bị sản xuất thực phẩm, quản lý trong ngành sữa.
• Công ty tuyển sinh viên tốt nghiệp loại giỏi ở các trường đại học trong cả
nước và đưa đi du học nước ngoài.
• Những cán bộ công nhân viên có yêu cầu học tập cũng đc Công ty hộ trợ
50% chi phí cho các khoá học nâng cao trình độ và nghiệp vụ.
• Ngoài ra còn có các chương trình đào tạo ngắn hạn nhằm nâng cao trình độ
và nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
1.3.
Chính sách đãi ngộ

Với chiến lược phát triển hiện nay, Vinamilk xác định yếu tố con người là quan
trọng nhất, sẽ quyết định sự thành công hay thất bại cho công ty. Nêm công ty đã
có các chính sách đãi ngộ đối với người lao động như sau:
Đảm bảo công việc đầy đủ cho người lao động, thu nhập của ngừoi lao động
ngày càng cải thiện. Ngoài thu nhập từ lương, người lao động còn có thêm
thu nhập từ lợi nhuận được chia theo tỷ lệ sở hữu của họ trong Công ty nếu

Công ty làm ăn có lãi.
• Thực hiện đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ đối với người lao động theo đúng
quy định của pháp luật.
• Có chính sách khen thưởng kịp thời đối với cá nhân và tập thể có công lao
đóng góp cho Công ty, có biện pháp kỉ luật đối với những cá nhân có hành
động ảnh hưởng xấu đến quyền lợi và uy tín của Công ty.
• Đào tạo và sắp xếp nguồn nhân lực phù hợp với tình hình phát triển Công ty
nhằm gia tăng chất lượng công việc.
2. Xây dựng quy định trong hoạt động Marketing
2.1.
Tại sao phải có chiến lược Marketing?

“Tất cả mọi chiến lược marketing được vạch ra không phải chỉ nhằm tạo ra doanh
số, mà nhằm để tạo ra lợi nhuận”.
14

Bởi lẽ doanh nghiệp cần phải biết làm thế nào để xác định và phân khúc thị trườn,
xây dựng giải pháp hấp dẫn để chào đón khách hàng và xây dựng thương hiệu với
định vị mạnh. Họ phải biết làm thế nào để làm giá cho giải pháp của mình một
cách hấp dẫn và hợp lí, và làm thế nào để chọn và quản trị kênh phân phối để đưa
sản phẩm của mình đến người tiêu dùng một cách có hiệu quả. Họ cần phải biết
làm thế nào để quảng cáo và giới thiệu sản phẩm của mình, để khách hàng biết và
mua. Không chỉ thế, họ cần phải biết áp dụng chiến lược thị trường và phương
pháp quản trị phù hợp với thực tế thị trường đầy kỹ thuật mới trong xu hướng toàn
cầu hoá.
2.2.
Các chiến lược Marketing của Công ty Vinamilk
2.2.1. Quảng bá thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, PR mạnh mẽ,

tài trợ cho các cuộc thi và các chương trình học bổng.
Ngoài việc sản xuất kinh doanh, Vinamilk là một trong những đơn vị hàng đầu
trong việc hướng về cộng đồng. Công ty đầu tư xây dựng các trường mẫu giáo, góp
kinh phí trong việc phụng dưỡng suốt đời các Mẹ Việt Nam anh hùng ở huyện
Giồng Trôm và thực hiện nhiều chương trình hướng về cộng đồng như: sữa học
đường, Vinamilk ươm mầm tài năng trẻ, cùng Vinamilk vươn tới trời cao,…
Ngoài việc mở rộng thị trường ra nước ngoài, Vinamilk còn chú trọng đến việc tổ
chức lại hệ thống tiêu thụ trong nước, các chương trình chăm sóc khách hàng, tập
trung quảng bá thương hiệu đến người tiêu dùng.
Để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tốt nhất, Vinamilk đã xây dựng
kế hoạch sản xuất gắn liền với thị trường tiêu thụ, kiểm soát chặt chẽ chất lượng
sản phẩm, sản xuất một số sản phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
của người tiêu dùng.
2.2.2. Đột phá về công nghệ

Vinamilk đã mạnh dạn nhập máy móc hiện đại nhất để sản xuất sữa tươi tiệt trùng
và thu mua sữa của nông dân với giá cao hơn nguyên liệu sữa nhập khẩu.
Công ty đã khôi phục thành công Nhà máy sữa bột Dielac bằng trí tuệ các nhà khoa
học trong nước, các thiết bị trong nước với kinh phí 200.000 USD thay vì phải sử
dụng chuyên gia nước ngoài và nhập khẩu thiết bị với giá 3 triệu USD.
Tổng Giám đốc công ty đã nhạn định rằng: công ty luôn kết hợp chặt chẽ với các
nhà khoa học trong nước, chủ động về kỹ thuật chứ không vội vàng đi mua thiết bị
từ các nước hay phải liên doanh liên kết với nước ngoài để chuyển giao công
nghệ”.
Vinamilk đã triển khai các đợt đánh giá trình độ công nghệ của sản xuất. Việc tổ
chức đánh giá trình độ công nghệ nhằm mục tiêu nhận biết xuất phát điểm của từng
15

thời kì, mà ở đó, có thể so sánh trình độ công nghệ của công ty so với trình độ công
nghệ của thế giới. Sau mỗi đợt đánh giá trình độ công nghệ, Vinamilk lại điều
chỉnh hoạt động đầu tư chuyển đổi công nghệ.
2.2.3. Tổ chức Marketing Mix

Trong chiến lược xúc tiến hỗn hợp, Quảng cáo được đánh giá là một phương sách
có tính chiến lược để đạt được hoặc duy trì một lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Hiểu được tầm quan trọng của quảng cáo trong chiến lược xúc tiến hỗn hợp của
mình Vinamilk đã quảng bá sản phẩm rộng rãi tới người tiêu dùng qua các phương
tiên thông tin đại chúng: tivi, tạp chí, internet, poster… Thường xuyên thay đổi các
nội dung, hình thức quảng cáo mới lôi kéo sự chú ý và quan tâm của người tiêu
dùng.
Chiến dihcj tiếp thị truyền thông đa phương tiện nhằm giúp người tiêu dùng hiểu rõ
lợi ích “tươi, thuần khiết, đến trực tiếp từ thiên nhiên”, đội ngũ PR rất tốt và giàu
kinh nghiệm.
2.2.4. Tìm hiểu thị trường

Vinamilk luôn luôn tăng cường khả năng thấu hiểu khách hàng, các kênh phân phối
và đối thủ cạnh tranh của mình thông qua các cuộc nghiên cứu Marketing
2.2.5.

Nghiên cứu sản phẩm mới
Nhu cầu người tiêu dùng luôn thay đổi vì vậy công việc của người đưa ra chiến
lược marketing là nghiên cứu và tìm ra sự thay đổi đó. Hiện công ty vinamilk đã
đưa ra một số sản phẩm mới rất hiệu quả. Trong đó phải kể đến 3 sản phẩm là sữa
giảm cân, bia, café moment.
 Sữa giảm cân
Hiện nay trẻ em béo phì ở Viêt Nam đang tăng cao điều nay đã tạo động lực cho
Vinamilk đưa ra thị trường sữa giảm cân và ngay lập tức nhận được sự ủng hộ của
người tiêu dùng.

Qua nghiên cứu thực tế từ kết quả sơ bộ cuộc điều tra về tình hình thừa cân, béo
phì ở nước ta do Viện dinh dưỡng thực hiện gần đây, đã có 16,8% người từ 25-64
tuổi, trẻ em dưới 15 tuổi là 20,3% thừa cân, béo phì theo tiêu chuẩn châu Á. Xuất
phát từ thực tế tỉ lệ người béo phì và thừa cân ở Việt Nam ngày càng gia tăng nhất
là ở trẻ em.Đồng thời qua nghiên cứu thị trường sữa giảm cân Vinamilk nhận thấy
có ít đối thủ tham gia vào thị trường này .Vinamilk đã hình thành ý tưởng và cho
ra sản phẩm”Vinamilk Sữa Giảm Cân”.Sữa giảm cân giúp người thừa cân, béo phì
kiểm soát cân nặng thông qua chế độ ăn kiêng, giảm ngưỡng no và hoàn toàn duy
trì dinh dưỡng cho sinh hoạt hàng ngày.
Khác các sản phẩm trên thị trường, Vinamilk sữa giảm cân được xây dựng với
công thức hiệu quả và chế độ điều trị khoa học theo từng giai đoạn, hỗ trợ người
16

thừa cân kiểm soát cân nặng một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo duy trì được mọi
sinh hoạt, công việc hằng ngày.
Trước khi đưa sản phẩm ra thị trường Vinamilk đã thử nghiệm sản phẩm trên các
đối tượng thừa cân, kết quả cho thấy sau 6 tuần sử dụng, người uống giảm được
khoảng 5,9% trọng lượng cơ thể (khoảng 3,9 kg), vòng bụng giảm 5 cm, tỷ lệ mỡ
cơ thể giảm 2%. Ngoài ra, kết quả phỏng vấn sâu cho thấy sản phẩm đạt tiêu
chuẩn về mùi vị, dễ uống, tiện dụng và người dùng vẫn duy trì mọi hoạt động sinh
hoạt, làm việc bình thường. Với mục tiêu nghiên cứu và đưa ra giải pháp giảm cân
hiệu quả, an toàn phù hợp với thể trạng người Việt Nam, sản phẩm Vinamilk sữa
giảm cân là một bước đột phá mới giúp đem lại lợi ích thiết thực cho người tiêu
dùng. Một cân nặng như ý cùng cơ thể khỏe mạnh là điều hoàn toàn có thể đạt
được.
 Bia
Hiện nay, bia là một loại thức uống rất phổ biến tại Việt Nam, được minh chứng
qua sản lượng bia sản xuất và tiêu thụ ngày càng tăng trong vài năm qua. Nhận
thấy xu hướng này, Vinamilk đã ngay lập tức nhảy vào thì trường sôi động này

bằng việc liên doanh với SAB Miller (công ty sản xuất bia lớn thứ nhì thế giới về
sản lượng bia) để sản xuất bia Zorok với tổng vốn đầu tư 27 triệu USD. Vinamilk
đã góp khoảng 50% vốn trong liên doanh này. Lượng bia sản xuất trong nước năm
2003 là 1,3 tỷ lít, tăng lên 1,4 tỷ lít trong năm 2004 và có thể sẽ đạt 2,5 tỷ lít vào
năm 2010. Bia Zorok được đưa ra thị trường vào đầu năm 2007 và đã nhanh chóng
thu hút sự chú ý của khách hàng.
 Café moment:
Nền kinh tế đang ngày càng hội nhập, áp lực công việc cũng theo đó tăng nên.
Điều này đòi hỏi mọi người phải luôn tỉnh táo trong công việc, giải pháp lựa chọn
nhiều nhất của họ là uống café. Vì thế thị trường café đã nóng lên trông thấy.
Ngay sau đó, năm 2005 vinamilk đã có mặt trên thị trường với sản phẩm café
moment do mới tham gia thị trường lại bị cạnh tranh gay gắt lên vinamilk không
gây được tiếng vang lớn. Không chịu khuất phục và với lợi thế chi cho marketing
rất cao(lên đến 2 triệu usd) Vinamilk đã đưa ra hàng loat chiến lược để chiếm lĩnh
thị trường. Một trong số chiến lược có hiệu quả nhất là thuê Câu lạc bộ bóng đá
Arsenal (Câu lạc bộ bóng đá Arsenal là một trong những đội bóng thành công nhất
trong lịch sử bóng đá Anh ) sang Việt Nam để quảng bá sản phẩm và nhãn hiệu
Cafe Moment của Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk. Ông Nguyễn Tuấn
Anh, Giám đốc Marketing của Vinamilk vừa cho biết, việc ký kết này sẽ diễn ra
vào giữa tháng 5/2008. Vơi chiến lược này vinamilk đã rất thành công trong việc
dựa vào uy tín của đội bong Arsennal để mở rộng thương hiệu sản phẩm café
moment. Theo đó sẽ làm gia tăng thị phần và đẩy mạnh xuất khẩu nhãn hiệu này.
Vinamilk đang đặt kỳ vong lớn cho sự trở lại của café moment. Hướng tới mục
tiêu trở thành nhãn hiệu café hòa tan và café rang xay hang đầu Việt Nam, theo đó,
café moment sẽ chiếm khoảng 5% thị phần vào 2008, 15 % thị phần vào 2009 và
17

30% thị phần vào 2010 tại thị trường Việt Nam. Sau khi chiếm thị phần ổn định
trong nước thì vinamilk có xu hướng phát triển café moment ra bên ngoài.

3. Xây dựng quy định trong hoạt động tài chính
3.1.
Nâng cao năng lực thanh toán của Công ty
Năng lực thanh toán của công ty là năng lực trả được nợ đáo hạn của các loại tiền
nợ của công ty, không thanh toán được các khoản nợ đến hạn có thể dẫn đến phá
sản.
3.2.

Nâng cao năng lực cân đối vốn

Năng lực cân đối vốn chính là khả năng tự chủ về mặt tài chính của công ty. Điều
này không quan trọng đối với doanh nghiệp nhưng nó là mối quan tâm hàng đầu
đối với nhà đầu tư, nhà cung cấp, ngân hàng cho vay… Nếu khả năng tài chính của
công ty lớn mạnh sẽ tạo được niềm tin của các đối tác.
3.3.

Nâng cao năng lực kinh doanh của công ty

Năng lực kinh doanh của công ty là năng lực tuần hoàn của vốn công tý, đây là mặt
quan trọng đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Sự tuần hoàn vốn là sự
vận động thống nhất của vốn tiền tệ, vốn tài sản, vốn hàng hoá- dịch vụ, trong đó
sự vận động của hàng hoá dịch vụ là vô cùng quan trọng. Vì hàng hoá, dịch vụ có
được tiêu dùng thì mới thực hiện được giá trị, thu hồi vốn và hoàn thành vòng tuần
hoàn của vốn.

PHẦN 3
XÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NHÂN CỦA DOANH NGHIỆP
Năng lực doanh nhân

I.

Bà Mai Kiều Liên sinh ở Pháp. Sau năm năm du học chuyên ngành chế biến sữa ở
Nga, năm 1976, bà trở về Việt Nam, làm việc cho Xí nghiệp liên hiệp sữa cà phê
miền Nam- tiền thân của Vinamilk.
Với tư chất thông minh, ham học hỏi, bà đã biết áp dụng hiệu quả những kiến htức
đã học cùng sự sáng tạo của bản than. Từ vị trí một kỹ sư, bà dần được phân công
làm Trưởng ca, rồi Phó Giám đốc kỹ thuật, Phó Tổng Giám đốc và Chủ tịch Hội
đồng quản trị sau khi doanh nghiệp nhà nước này được cổ phần hoá. Ở vị trí người
đứng đầu, bà Mai Kiều Liên đã đưa Vinamilk từ một đơn vị gặp nhiều khó khăn trở
thành doanh nghiệp có doanh số hàng năm gần 1 tỷ USD.

18

Đứng đầu doanh nghiệp rất nhiều năm và cũng nằm trong tay nhiều quyền lực, có
những lúc gặp khó khăn nhưng bà chia sẻ: “Tôi giữ chức TGĐ đến tháng 12 năm
nay là đúng 20 năm. Tôi có đặc điểm càng khó thì càng cố làm cho bằng được chứ
không buông xuôi, vì như vậy sẽ không có Vinamilk như ngày nay”.
Để vươn lên làm chủ khoa học- công nghệ trên lĩnh vực chế biến sữa, bà Mai Kiều
Liên còn tổ chức liên kết, cộng tác với các viện nghiên cứu, các nhà khoa học trong
nước, sử dụng các phát minh sáng chế của các nhà khoa học Việt Nam.
Bà luôn quan niệm làm sao chọn đúng được ngừoi tài, xây dựng tất cả thành 1
khối, 1 hướng thì mới có thể đưa đọn vị đi lên, phát triển mạnh hơn được, vì vậy
Vinamilk mới thành công được như ngày hôm nay.
II.

Tố chất của doanh nhân

Bà Mai Kiều Liên chia sẻ: “Yếu tố hàng đầu mang lại thành công cho Vinamilk
cũng như cá nhân tôi là chúng tôi làm việc hết sức mình. Thêm một yếu tố hết sức

quan trọng là sự sáng tạo. Tức là không theo lối mòn, không theo xu hướng đám
đông. Nhiều khi mình đi ngược lại xu thế, nhưng vẫn làm khi thấy chắc chắn là
mình làm đúng và hiệu quả. Tôi vẫn thường nói với các anh em quản lý ở Vinamilk
về trường hợp Steve Jobs của Apple. Chính vì sáng tạo nên ông ta mới thành công
như ngày hôm nay”.
III.

Đạo đức của doanh nhân

Bà Mai Kiều Liên chia sẻ: “Ở Vinamilk, dưới tôi có các giám đốc điều hành, phụ
trách từng mảng theo phân công và những người đó chịu trách nhiệm trước tôi về
mảng đó. Dưới nữa có hàng ngũ giám đốc, an hem chia sẻ, uỷ quyền cho nhau để
thực hiện. Nhưng tôi vẫn là người chịu trách nhiệm chính. Uỷ quyền gì đi nữa
nhưng khi có việc gì thì mình vẫn là người chịu trách nhiệm”. Điều này cho thấy
bà là một người rất có trách nhiệm với công việc.
Đối với người lao động, bà không muốn đuổi những người trình độ kém, ngược lại
sẵn sàng đào tạo họ cho tới khi họ trở nên lành nghề.
Bà chủ trương Vinamilk chia sẻ khó khăn với người dân nuôi bò sữa bằng cách
luôn mua sữa giá cao hơn so với các công ty của Mỹ, Úc, New Zealand. Cho nên,
lợi nhuận của mặt hàng sữa tươi 100% không cao bằng các sản phẩm khác, nhưng
vẫn chấp nhận để chia sẻ với bà con nông dân.
IV.

Phong cách doanh nhân

Đối với tinh thần làm việc, bà Mai Kiều Loan luôn chu đáo trong mọi công việc, bà
sát sao trong từng công việc để kịp thời nhắc nhở đến đội ngũ nhân viên, luôn thực
hiện đến cùng mục đích của công việc.
19

Bà đưa ra bộ quy tắc ứng xử và truyền tải đến toàn bộ nhân viên để tạo ra một đội
ngũ nhân viên làm việc hiệu quả, gắn kết các nhân viên với nhau, nâng cao chất
lượng công việc.
Luôn ở đúng vị trí chức danh của mình và hướng mọi người đi vào những cơ hội
mới, đưa công ty ngày càng phát triển.
PHẦN 4
GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI HỆ THỐNG CHUẨN MỰC
VĂN HOÁ KINH DOANH
1. Đôn đốc, lãnh đạo

Các ban lãnh đạo là những người đi đầu trong việc thực hiện các chuẩn mực văn
hoá kinh doanh của doanh nghiệp. Để các nhân viên của doanh nghiệp có thể đi
theo một hướng tích cực giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển thì cần phải có sự
lãnh đạo đúng hướng của cấp trên. Bạn Giám đốc cần phải theo dõi sát sao và đôn
đốc nhân viên thực hiện đúng, chuẩn những quy tắc mà doanh nghiệp đưa ra.
Những chuẩn mực văn hoá này chỉ có tác dụng khi mà nó được mọi người thực
hiện và được thực hiện một cách khoa học, chính xác.
2. Hướng dẫn

Công tác tổ chức hướng dẫn nhân viên ngay từ bước đầu là vô cùng quan trọng.
Việc hướng dẫn chính là bước đầu đưa nhân viên đi vào việc thực hiện các chuẩn
mực trong văn hoá kinh doanh. Nhân viên sẽ đi vào khuôn khổ và hiểu rõ mục
đích, hiệu quả của những chuẩn mực văn hoá kinh doanh. Nhận được sự hướng dẫn
sẽ cho nhân viên thấy môi trường làm việc chuyên nghiệp hơn, nhanh chóng hoà
nhập và thực hiện công việc.
3. Kiểm tra

Việc theo dõi và đôn đốc nhân viên là chưa đủ mà kèm theo đó cần phải có sự
kiểm tra định kỳ. Những buổi kiểm tra chính là những căn cứ đê nhận ra những

người có năng lực, tố chất và cũng nhờ đó doanh nghiệp tìm ra được nhưng sai sót,
khuyết điểm, tồn tại của doanh nghiệp để khắc phục kịp thời
KẾT LUẬN
Văn hoá kinh doanh là thực tiễn khách quan và là nhân tố quan trọng cho sự
phát triển bền vững của các chủ thể kinh doanh. Đặc biệt trong quá trình xây dựng
và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
kết hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc có văn hoá kinh doanh để khai
thác những nhân tố tích cực, hạn chế các nhân tố tiêu cực, phát huy được những cái
20

riêng, cái bản sắc trong kinh doanh sẽ lại càng có nghĩa lớn hơn với sự tồn tại và
phát triển của hoạt động kinh doanh.

21

là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu yếu tăng trưởng của xã hội, do sự phân cônglao động xã hội tạo ra. Còn việc kinh doanh như thế nào, kinh doanh đem lại lợi íchvà giá trị cho ai thì đó chính là yếu tố của văn hoá kinh doanh. Trong kinh doanh, những sắc thái văn hoá xuất hiện trong hàng loạt quy trình tổ chức triển khai vàhoạt động của hoạt động giải trí kinh doanh, được biểu lộ từ cách chọn và cách sắp xếp máymóc và dây chuyền sản xuất công nghệ tiên tiến. Hoạt động kinh doanh cố nhiên không lấy những giá trịcủa văn hoá làm mục tiêu trực tiếp, tuy nhiên nghệ thuật và thẩm mỹ kinh doanh, từ việc tạo vốn banđầu, tìm địa phận kinh doanh, mẫu sản phẩm kinh doanh, cách tổ chức triển khai triển khai chiếnlược kinh doanh, … được “ thăng hoa ” lên với những bộc lộ và giá trị tốt đẹpthìkinh doanh cuãng là biểu lộ sinh động văn hoá của con người. Do đó, thực chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó ngặt nghèo với cáiđúng, cái tốt và cái đẹp. Từ những điều trên đây khái niệm văn hoá kinh doanh được hình thành như sau : “ Văn hoá kinh doanh là hàng loạt những tác nhân văn hoá được chủ thể kinh doanh chọnlọc, tạo ra, sử dụng và biểu lộ trong hoạt động giải trí kinh doanh tạo nên truyền thống kinhdoanh của chủ thể đó. ” 2. Các tác nhân cấu thành văn hoá kinh doanhVăn hoá kinh doanh là một phương diện của văn hoá trong xã hội và là văn hoátrong nghành hoạt động giải trí kinh doanh. Văn hoá kinh doanh gồm có hàng loạt nhữnggiá trị vật chất và niềm tin, những phương pháp và tác dụng hoạt động giải trí của con ngườiđược tạo ra và sử dụng trong quy trình kinh doanh. Các tác nhân cấu thành nên hệthống văn hoá kinh doanh là triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hoá doanhnhân và những hình thức văn hoá khác. 2.1. Triết lý kinh doanhTriết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thôngqua con đường thưởng thức, suy ngẫm, khái quát hoá của những chủ thể kinh doanh vàchỉ dẫn cho hoạt động giải trí kinh doanh. Đó là một mạng lưới hệ thống gồm có những giá trị cốt lõi có tính pháp lý và đạo lý tạo nênphong thái đặc trưng của chủ thể kinh doanh và phương pháp tăng trưởng bền vững và kiên cố củahoạt động này. Đôi khi triết lý kinh doanh còn là cơ sở để những nhà quản trị đưa racác quyết định hành động quản trị có tính kế hoạch quan trọng trong những trong những tìnhhuống mà sự nghiên cứu và phân tích lỗ lãi không hề xử lý. Đồng thời triết lý kinh doanh cònlà phương tiện đi lại để giáo dục và tăng trưởng nguồn nhân lực cho hoạt động giải trí kinh doanh. Hình thức bộc lộ của triết lý kinh doanh cũng rất khác nhau với mỗi một chủ thểkinh doanh đơn cử. Nhưng dù dưới bất kể hình thức nào thì triết lý kinh doanh luôntrở thành ý thức thường trực trong mỗi chủ thể kinh doanh, chỉ huy những hành vicủa họ. Kết cấu nội dung của triết lý kinh doanh thường gồm những bộ phận sau : – Sứ mệnh và những tiềm năng kinh doanh cơ bản. – Các phương pháp hành vi để hoàn thành xong được những thiên chức và tiềm năng – nhằm mục đích cụthể hoá hơn cách diễn đạt được những thiên chức và tiềm năng. – Các nguyên tắc tạo ra một phong thái ứng xử, tiếp xúc và hoạt động giải trí kinh doanh đặcthù của doanh nghiệp. 2.2. Đạo đức kinh doanhĐạo đức kinh doanh là một tập hợp những nguyên tắc, chuẩn mực có công dụng điềuchỉnh, nhìn nhận, hướng dẫn và trấn áp hành vi của những chủ thể kinh doanh. Đây là mạng lưới hệ thống những quy tắc xử sự, những chuẩn mực đạo đức, những quy định, nội quy … có vai trò điều tiết những hoạt động giải trí của quy trình kinh doanh nhằm mục đích hướng đến triết lýđã định. Đạo đức kinh doanh góp thêm phần tăng trưởng mối quan hệ với người lao động, với chính quyền sở tại, với người mua, với đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu, với nhà cung ứng và vớicộng đồng xã hội, từ đó góp thêm phần tạo nên môi trường tự nhiên kinh doanh không thay đổi. 2.3. Văn hoá doanh nhânVăn hoá người kinh doanh là hàng loạt những tác nhân văn hoá mà những người kinh doanh tinh lọc, tạo ra, sử dụng và bộc lộ trong hoạt động giải trí kinh doanh của mình. Tài năng, đạo đức và phong thái của nhà kinh doanh có vai trò quyết định hành động trongviệc hình thành văn hoá kinh doanh của chủ thể kinh doanh. Kinh doanh là một nghề phức tạp, yên cầu chủ thể kinh doanh phải vừa có đức vừacó tài, trong đó đức là cơ sở của tài. Hay nói cách khác thì đạo đức, kĩ năng, phongcách của chủ thể kinh doanh có vai trò quyết định hành động trong việc hình thành văn hoákinh doanh. Doanh nhân không chỉ là người quyết định hành động cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai và công nghệkinh doanh mà cònlà người phát minh sáng tạo ra những hình tượng, những ý thức hệ, ngôn từ, niềm tin, … Do đó, trong quy trình thiết kế xây dựng và tăng trưởng kinh doanh, văn hoá củadoanh nhân sẽ được phản chiều lên văn hoá kinh doanh. Phong cách người kinh doanh chính là sự tổng hợp những yếu tố diện mạo, ngôn từ, cáchcư xử và cách hành vi của người kinh doanh. Phong cách của người kinh doanh thường đượcthống nhấy với phong những kinh doanh của họ vì nhà kinh doanh thường dành phầnlớn thời hạn và đời sống của họ cho việc làm. Đạo đức của người kinh doanh trong quy trình hoạt động giải trí là một thành tố quan trọng tạonên văn hoá của người kinh doanh. Một số tiêu chuẩn không hề thiếu so với đạo đức củacác người kinh doanh : – Tính trung thực – Tôn trọng con người – Vươn tới sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất – Đương đầu với thử thách – Coi trọng hiệu suất cao gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm xã hộiĐạo đức, kĩ năng và phong thái của người kinh doanh là những thành tố quan trọng hìnhthành nên văn hoá người kinh doanh nói riêng và văn hoá kinh doanh nói chung. 2.4. Các hình thức văn hoá khácCác hình thức văn hoá khác gồm có những giá trị của văn hoá kinh doanh được thểhiện bằng toàn bộ những giá trị trực quan hay phi trực quan nổi bật. Một số hình thức biểu lộ khác của văn hoá kinh doanh như : – Giá trị sử dụng, hình thức, mẫu mã mẫu sản phẩm – Kiến trúc nội và thiết kế bên ngoài – Nghi lễ kinh doanh – Giai thoại và truyền thuyết thần thoại – Biểu tượng – Ngôn ngữ, khẩu hiệu – Ấn phẩm nổi bật – Lịch sử tăng trưởng và truyền thống lịch sử văn hoá3. Các đặc trưng của văn hoá kinh doanh3. 1. Tính tập quánHệ thống những giá trị của văn hoá kinh doanh sẽ pháp luật những hành vi được chấpnhân hay không được gật đầu trong một hoạt động giải trí hay thiên nhiên và môi trường kinh doanh cụthể. Có những tập quán kinh doanh đẹp sống sót như một sự khảng định những nétđộc đáo, nhưng có những tập quán không dễ gì cảm thông ngay được. 3.2. Tính cộng đồngKinh doanh gồm có một mạng lưới hệ thống những hoạt động giải trí có đặc thù đặc trưng với mụctiêu là doanh thu của chủ và những nhu yếu được cung ứng của khách, kinh doanh khôngthể sống sót do chính bản than nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, ảnh hưởng tác động qua lại vàcủng cố của mọi thành viên tham gia trong quy trình hoạt động giải trí. 3.3. Tính dân tộcTính dân tộc bản địa là một đặc trưng tất yếu của văn hoá kinh doanh vì bản thân văn hoákinh doanh là một tiểu văn hoá nằm trong văn hoá dân tộc bản địa và mỗi chủ thể kinhdoanh đều thuộc về một dân tộc bản địa đơn cử với một phần nhân cách tuân theo những giá trịcủa văn hoá dân tộc bản địa. 3.4. Tính chủ quanVăn hoá kinh doanh là sự bộc lộ quan điểm, phương hướng, kế hoạch và cáchthức tiến hành kinh doanh của một chủ thể kinh doanh đơn cử. Tính chủ quan củavăn hoá kinh doanh được biểu lộ trải qua việc những chủ thể khác nhau sẽ cónhững tâm lý, nhìn nhận khác nhau về cùng một vấn đề và hiện tượng kỳ lạ kinh doanh. 3.5. Tính khách quanMặc dù văn hoá kinh doanh là sự biểu lộ quan điểm chủ quan của từng chủ thểkinh doanh, nhưng do được hình thành trong cả một quy trình với sự tác động ảnh hưởng củarất nhiều tác nhân bên ngoài như xã hội, lịch sử dân tộc, hội nhập, … nên văn hoá kinh doanhtồn tại khách quan ngay cả với chủ thể kinh doanh. 3.6. Tính kế thừaCũng giống như văn hoá, văn hoá kinh doanh là sự tích tụ của tổng thể những thực trạng. Trong quy trình kinh doanh, mỗi thế hệ sẽ cộng thêm những đặc trưng riêng không liên quan gì đến nhau củamình vào mạng lưới hệ thống văn hoá kinh doanh trước khi truyền lại cho thế hệ sau. 3.7. Tính học hỏiCó những giá trị của văn hoá kinh doanh không thuộc về văn hoá dân tộc bản địa hay vănhoá xã hội và cũng không phải do những nhà chỉ huy sáng lập ra. Những giá trị đó cóthể được hình thành từ những kinh nghiệm tay nghề khi xử lí những yếu tố, từ tác dụng của quátrình điều tra và nghiên cứu thị trường, nghiên cứu và điều tra đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu, … Tất cả những giá trị ấyđược tạo nên là bởi tính học hỏi của văn hoá kinh doanh. 3.8. Tính tiến hoáKinh doanh rất sôi động và luôn luôn biến hóa, do đó, văn hoá kinh doanh với tưcách là truyền thống của chủ thể kinh doanh cũng luôn tự kiểm soát và điều chỉnh cho tương thích vớitrình độ kinh doanh và tình hình mới. Đặc biệt trong thời kì hội nhập, việc giao thoavới những sắc thái kinh doanh của những chủ thể khác nhằm mục đích trao đổi và tiếp thu những giátrị văn minh là điều tất yếu. 3.9. Hai đặc trưng riêng không liên quan gì đến nhau của văn hoá kinh doanhThứ nhất, văn hoá kinh doanh Open cùng với sự Open của thị trường. Vănhoá kinh doanh chỉ sinh ra khi nền sản xuất hàng hoá tăng trưởng đến mức : kinh doanhtrở thành một hoạt động giải trí phổ cập và chính thức trở thành một nghề, lúc đó xã hội sẽra đời một những tầng lớp mới, đó là những người kinh doanh. Văn hoá kinh doanh được hìnhthành như một mạng lưới hệ thống những giá trị, những cách cư xử đặc trưng cho những thànhviên trong lĩnh vưcj kinh doanh. Thứ hai, văn hoá kinh doanh phải tương thích với trình độ kinh doanh của chủ thể kinhdoanh. Văn hoá kinh doanh là sự biểu lộ tài nằng, phong thái và thói quen của cácnhà kinh doanh, vì thế nó phải tương thích với trình độ kinh doanh của nhà kinhdoanh đó. 4. Các tác nhân tác động ảnh hưởng đến văn hoá kinh doanh4. 1. Nền văn hoá xã hộiVăn hoá kinh doanh là một bộ phận của văn hoá dân tộc bản địa, văn hoá xã hội. Vì vậy sựphản chiếu của văn hoá dân tộc bản địa, văn hoá xã hội lên nền văn hoá kinh doanh là mộtđiều tất yếu. Hoạt động kinh doanh luôn sống sót trong một môi trường tự nhiên xã hội nhấtđịnh nên nhất thiết nó phải chịu tác động ảnh hưởng của văn hoá xã hội. 4.2. Thể chế xã hộiThể chế xã hội gồm có thể chế chính trị, thể chế kinh tế tài chính, thể chế hành chính, thểchế văn hoá, những chủ trương của chính phủ nước nhà ,. là những yếu tố tác động ảnh hưởng trực tiếp đếnmôi trường kinh doanh và qua đó tác động ảnh hưởng thâm thúy đến việc hình thành và pháttriển văn hoá kinh doanh. Chính sách của cơ quan chính phủ và mạng lưới hệ thống pháp chế có tác động ảnh hưởng rất lớn đến chiếnlược kinh doanh và những mối quan hệ bên trong của chủ thể kinh doanh. 4.3. Sự độc lạ và sự giao lưu văn hoáGiữa những vương quốc, những chủ thể kinh doanh và những cá thể trong đơn vị chức năng kinh doanhkhông khi nào có cùng một kiểu văn hoá thuần nhất. Trong thiên nhiên và môi trường kinh doanh quốc tế lúc bấy giờ, những chủ thể kinh doanh không thểduy trì văn hoá của mình như một lãnh địa đóng kín mà phải Open và giao lưu vềvăn hoá. Sự giao lưu văn hoá tạo điều kiện kèm theo cho những chủ thể kinh doanh học tập, lựachọn những góc nhìn tốt về văn hoá của những chủ thể khác nhằm mục đích tăng trưởng mạnhnền văn hoá của doanh nghiệp mình. 4.4. Quá trình toàn thế giới hoáTiến trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế tài chính đã góp thêm phần làm cho hoạt độngkinh doanh tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ. Quá trình này Open cho những nền kinh tế tài chính hoà nhậpcùng nền kinh tế tài chính quốc tế, tạo điều kiện kèm theo cho những người kinh doanh có thời cơ phát huy hếtkhả năng của mình, nâng cao trình độ kinh doanh cho tương thích với nhu yếu của thịtrường. Hoạt động kinh doanh ngày càng mang tính toàn thế giới, năng lực cạnh tranh đối đầu quốc tếngày càng nóng bức nên yên cầu những chủ thể kinh doanh phải khai thác những thế mạnhtrong đó văn hoá là một nổi bật. Nền kinh tế tài chính toàn thế giới làm cho môi trường tự nhiên kinhdoanh đổi khác nhanh hơn và nâng những chuẩn mực văn hoá lên cao, điều đó đòi hỏicác chủ thể phải thiết kế xây dựng được nền văn hoá có tính thích nghi, có sự đáng tin cậy cao độđể cạnh tranh đối đầu thành công xuất sắc. Nếu không họ sẽ không hề sống sót. 4.5. Khách hàngCác chủ thể kinh doanh sống sót và tăng trưởng không vì doanh thu trước mắt mà phảivì một doanh thu lâu bền hơn và vững chắc. Với vai trò là người tạo ra lệch giá, kháchhàng cũng góp phần một phần rất quan trọng vào việc tạo ra doanh thu lâu dài hơn vàbền vững cho chủ thể kinh doanh. Nhất là trong xã hội văn minh, người mua khôngmua những mẫu sản phẩm thuần tuý, họ mua những giá trị, họ đưa ra những quyết định hành động dựatrên toàn cảnh văn hoá chứ không đơn thuần là những quyết định hành động có đặc thù thiệthơn. Do đó, nhu yếu, nghệ thuật và thẩm mỹ, trình độ dân trí về kinh tế tài chính của người mua tác độngtrực tiếp tới văn hoá kinh doanh của những chủ thể kinh doanh. II.Khái quát chung về công ty CP sữa Nước Ta – Vinamilk1. Khái quát chung về hoạt động giải trí của Công tyTính theo doanh thu và sản lượng, Vinamilk là nhà sản suất sữa số 1 tại ViệtNam. Danh mục loại sản phẩm của Vinamilk gồm có : loại sản phẩm nòng cốt là sữa nước vàsữa bột ; mẫu sản phẩm có giá trị cộng thêm như sữa đặc, yoghurt ăn và yoghurt uống, kem và phô mai. Vinamilk phân phối cho thị trường một những hạng mục những sảnphẩm, mùi vị và qui cách vỏ hộp có nhiều lựa chọn nhất. Theo Euromonitor, Vinamilk là đơn vị sản xuất sữa số 1 tại Nước Ta. Từ khi bắtđầu đi vào hoạt động giải trí năm 1976, Công ty đã thiết kế xây dựng mạng lưới hệ thống phân phối rộng nhấttại Nước Ta và đã làm đòn kích bẩy để ra mắt những mẫu sản phẩm mới như nước ép, sữađậu nành, nước uống đóng chai và café cho thị trường. Phần lớn loại sản phẩm của Công ty cung ứng cho thị trường dưới thươnghiệu “ Vinamilk ”, tên thương hiệu này được bầu chọn là một “ Thương hiệu Nổi tiếng ” và là một trong nhóm 100 tên thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọnnăm 2006. Vinamilk cũng được bầu chọn trong nhóm “ Top 10 Hàng Việt Namchất lượng cao ” từ năm 1995 đến năm 2007. Hiện tại Công ty tập trung chuyên sâu những hoạt động giải trí kinh doanh vào thị trường đang tăngtrưởng mạnh tại Nước Ta mà theo Euromonitor là tăng trưởng trung bình 7.85 % từnăm 1997 đến 2007. Đa phần mẫu sản phẩm được sản xuất tại chín xí nghiệp sản xuất với tổngcông suất khoảng chừng 570.406 tấn sữa mỗi năm. Công ty chiếm hữu một mạng lưới phânphối to lớn trên cả nước, đó là điều kiện kèm theo thuận tiện để chúng tôi đưa mẫu sản phẩm đếnsố lượng lớn người tiêu dùng. Sản phẩm Công ty đa phần được tiêu thụ tại thị trường Nước Ta và cũng xuất khẩusang những thị trường quốc tế như Úc, Campuchia, Irắc, Philipines và Mỹ. Giá trị cốt lõi của công ty : Chính trực : liêm chính, trung thực trong ứng xử và trong toàn bộ những thanh toán giao dịch. Tôn trọng : tôn trọng bản thân, tôn trọng đồng nghiệp, tôn trọng công ty, tôn trọngđối tác, hợp tác trong sự tôn trọngCông bằng : Công bằng với nhân viên cấp dưới, người mua, nhà cung ứng và những bên liênquan khácTuân thủ : Tuân thủ Luật pháp, bộ Quy tắc ứng xử và những quy định, chủ trương quyđịnh của công ty. Đạo đức : Tôn trọng những tiêu chuẩn đã được thiết lập và hành vi một cách đạođức. 2. Tầm nhìn : “ Trở thành hình tượng niềm tin số một Nước Ta về mẫu sản phẩm dinh dưỡng và sứckhỏe Giao hàng đời sống con người “ 3. Triết lý kinh doanh : “ Vinamilk mong ước trở thành mẫu sản phẩm đượcyêu thích nhất ở mọi khu vực, chủ quyền lãnh thổ. Vì thế công tytâm niệm rằng chất lượng và phát minh sáng tạo là người bạn sát cánh của Vinamilk. Vinamilk xem người mua là TT và cam kết phân phối mọi nhu yếu của kháchhàng. ” 4. Sứ mệnh : “ Vinamilk cam kết mang đến cho hội đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chất lượngnhất bằng chính vì sự trân trọng, tình yêu và nghĩa vụ và trách nhiệm cao của mình với cuộc sốngcon người và xã hội ” Nội dung của bản tuyên bô thiên chức : Đối tượng người mua : bà mẹ, trẻ nhỏ, con người. Sản phẩm, dịch vụ : những loại sữa. Thị trường : phủ khắp những tỉnh thành trong cả nước. Mức độ chăm sóc đến công nghệ tiên tiến : rất cao, bảo vệ chất lượng và bảo đảm an toàn vệ sinhthực phẩm cao nhất. 5 – Mức độ chăm sóc đến hình ảnh của tổ chức triển khai ở công chúng : thiết kế xây dựng thương hiệuchất lượng, uy tín. 6 – Chính sách nhân sự : thiên nhiên và môi trường thao tác là ngôi nhà thứ hai của nhân viên cấp dưới. 1234 – 5. Mục tiêu của Công ty : Tối đa hóa giá trị của cổ đông và theo đuổi kế hoạch tăng trưởng kinh doanh dựatrên những yếu tố nòng cốt sau : Phát triển tên thương hiệu Vinamilk thành thương hiệu dinh dưỡng có uy tín khoa họcvà đáng đáng tin cậy nhất với mọi dân cư Nước Ta thông quaCủng cố mạng lưới hệ thống và chất lượng phân phối nhằm mục đích giành thêm thị trường tại những thịtrường mà Vinamilk có thị trường chưa cao, đặc biệt quan trọng là tại những vùng nông thôn và cácđô thị nhỏ ; Tiếp tục lan rộng ra và tăng trưởng mạng lưới hệ thống phân phối dữ thế chủ động, vững mạnh và hiệuquả. Phát triển nguồn nguyên vật liệu để bảo vệ nguồn cung sữa tươi không thay đổi, chất lượngcao với giá cạnh tranh đối đầu và đáng tin cậyMở rộng thị trường tại những thị trường hiện tại và thị trường mớiPhát triển những dòng mẫu sản phẩm mới nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nhiều thị hiếu tiêu dùng khácnhau6. Phân tích SWOT của Công ty :  Điểm mạnh ( S ) :  Quy mô kinh doanh đang đứng vị trí số 1 thị trường sữa Nước Ta.  Thương hiệu Vinamilk là tên thương hiệu quen thuộc và được người ViệtNam tin dùng hơn 30 năm qua.  Hệ thống phân phối lan rộng ra ra cả nước và liên tục được lan rộng ra quacác năm giúp đưa sản phầm của công ty nhanh gọn đến tay người tiêudùng.  Sản phẩm đạt chất lượng tốt và được người tiêu dùng thương mến.  Chuỗi những nhà máy sản xuất đc sắp xếp dọc Việt nam giúp giảm ngân sách luân chuyển, được góp vốn đầu tư máy móc thiết bị văn minh, được tăng cấp và lan rộng ra mỗinăm, loại sản phẩm bảo vệ tiêu chuẩn quốc tế.  Mối quan hệ lâu bền hơn với những nhà sản xuất trong và ngoài nước giúp chocông ty có nguồn phân phối nguồn hàng hài hòa và hợp lý và giá thành không thay đổi. Hiệnnay, công ty đang thu mua 60 % sữa tươi sản xuất tại Nước Ta.  Ban chỉ huy giàu kinh nghiệm tay nghề trong việc kinh doanh và sản xuất sữa. mạng lưới hệ thống nội bộ minh bạch, những quy trình tiến độ đơn cử và ngặt nghèo. Ý thức tựthay đổi để nâng cao chất lượng hoạt động giải trí được xuyên suốt từ cấp quảnlý đến cấp nhân viên cấp dưới.  Điểm yếu ( W ) :  Khâu Marketing còn yếu nên chưa tạo được thông điệp hiệu suất cao đểquảng bá đến người tiêu dùng điểm mạnh của công ty. Công ty có cácsản phẩm có 70-99 % sữa tươi nhưng chưa có cách tiếp thị nói lên sựkhác biệt đó.  Công ty có nhiều loại mẫu sản phẩm dành cho những đối tượng người tiêu dùng khác nhaunhưng quy cách đóng gói chưa tạo được sự độc lạ để giúp cho kháchhàng nhận ra nhanh nhất.  Thu mua nguyên vật liệu chưa tận dụng hết nguồn cung từ hộ nông dân.  Đầu tư vào 1 số ít xí nghiệp sản xuất sữa chưa hiệu suất cao.  Thị trường xuất khẩu còn hạn chế và chưa không thay đổi.  Cơ hội ( O )  Điều tiết giá nhất định khi thu mua sữa tươi.  Có nguồn nguyên vật liệu tập trung chuyên sâu hơn, giảm ngân sách nhập khẩu nguyên liệunhờ thừa kế chủ trương tăng trưởng chăn nuôi bò sữa từ chính phủ nước nhà.  Phát triển và tiêu thụ mạnh thêm được dòng sản phầm mới về kiểu cáchmẫu mã và chất lượng.  Thu nhập của dân cư ngày càng tăng cao, nhu cấu loại sản phẩm càng caovà họ chăm sóc đến nhiều mẫu sản phẩm chăm nom sức khoẻ hơn.  Nguy cơ ( T ) :  Thị trường sữa bột trong nước đang có cạnh tranh đối đầu nóng bức từ những sảnphẩm nhập ngoại.  Đối thủ luôn luôn có những mẫu sản phẩm mới và cách Marketing tốt hơn. 10  Các đối thủ cạnh tranh quốc tế có cách xâm nhập thị trường và Marketing tốthơn. PHẦN 2X ÂY DỰNG VĂN HOÁ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆPI. Xây dựng những nguyên tắc và chuẩn mực. 1. Đạo đức kinh doanhNguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh : Tính trung thực : Vinamilk cam kết : “ Chúng ta sẽ phân phối những sản phẩmvà dịch vụ đã dạng với chất lượng đạt tiêu chuẩn cao nhất, g nghiệía cảcạnh tranh và trung thực trong mọi thanh toán giao dịch  Tôn trọng con người : Hướng tới mọi đối tượng người tiêu dùng người tiêu dùng, nhân viên cấp dưới, đối tác chiến lược, nhà cung ứng. Vinamilk đều thiết kế xây dựng bộ quy tắc ứng xử riêng.  Gắn quyền lợi của doanh nghiệp với quyền lợi của người mua và xã hội : Vinamilk luôn nhìn nhận người mua như thể một đối tác chiến lược kinh doanh dựa trêncơ sở đôi bên cùng có lợi. Vinamilk sẽ có những hành vi thiết thực nhưhoạch định, điều khiển và tinh chỉnh khoản hợp tác, tương hỗ, … về mạng lưới hệ thống người mua củamình. Lợi nhuận phải gắn với nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội : Vinamilk làm công tác làm việc xã hộikhông chỉ trong mấy năm gần đây mà suốt từ khhi xây dựng công ty. Côngty luôn nâng cao ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm về hội đồng, ý thức san sẻ đối vớicộng đồng. Đó là ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp. 2. Trách nhiệm xã hội2. 1. Khía cạnh kinh tế tài chính :  Đối với Nhà nước : Vinamilk cam kết : “ Chúng ta luôn phải tuân thủ lao lý của Nhà nước và luậtpháp của bất kể nơi nào mà tất cả chúng ta hoạt động giải trí ”.  Đối với người tiêu dùng : “ Chúng ta sẽ phân phối những loại sản phẩm và dịch vụ đã dạng với chất lượng đạttiêu chuẩn cao nhất, Ngân sách chi tiêu cạnh tranh đối đầu và trung thực trong mọi thanh toán giao dịch ”.  Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp : “ Chúng ta sẽ nỗ lực để mang lại quyền lợi tiêu biểu vượt trội cho những cổ đông trên cơ sở sửdụng hiệu suất cao và bảo vệ nguồn tài nguyên của Vinamilk trong sự tuân thủ tiêuchuẩn cao nhất về ứng xử đạo đức và pháp lý trong kinh doanh ”.  Đối với nhân viên cấp dưới : 11 “ Chúng ta sẽ đối xử tôn trọng và công minh với mọi nhân viên cấp dưới. Chúng ta tạodựng những thời cơ tăng trưởng bình đẳng, thiết kế xây dựng và duy trì môi trường tự nhiên làmviệc bảo đảm an toàn, than thiện, cởi mở ”.  Đối với đối tác chiến lược, nhà đáp ứng : Cam kết : tôn trọng và thanh toán giao dịch bình đẳng với những nhà sản xuất và đối tác chiến lược. Vinamilk luôn trân trọng mối quan hệ hợp tác lâu bền hơn trên cơ sở trung thực, minh bạch và hài hoà quyền lợi. Khía cạnh pháp lý : 2.2. Gồm 5 góc nhìn cơ bản : 2.3. Điều tiết cạnh tranhBảo vệ người tiêu dùngBảo vệ môi trườngAn toàn và bình đẳngKhuyến khích phát hiện và ngăn ngừa hành vi sai tráiKhía cạnh đạo đứcNghĩa vụ đạo đức của Vinamilk được bộc lộ rõ trải qua những nguyên tắc vàgiá trị đạo đức được tôn trọng trình diễn trong bản thiên chức và kế hoạch phát triểncủa công ty.  Sứ mệnh của công ty : “ Vinamilk cam kết mang đến cho hội đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chấtlượng nhất bằng chính vì sự trân trọng, tình yêu và nghĩa vụ và trách nhiệm của mình vơi cuộcsống con người và xã hội ”. Có thể nói, kể từ khi xây dựng cho tới nay, công ty đãthực sự rất khó khăn vất vả để hoàn toàn có thể khẳng định chắc chắn được thiên chức nêu trên của mình – một bản “ Tuyên ngôn ” biểu lộ rất rõ nghĩa vụ và trách nhiệm đạo đức mà công ty theo đuổi : hướng vềcộng đồng, hướng về tiềm năng tăng trưởng chung của xã hội trải qua nỗ lực cungcấp nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho con người bằng những mẫu sản phẩm của mình.  Chiến lược của công ty : Xuất phát từ nội dung của bản kế hoạch tăng trưởng của Vinamilk, tất cả chúng ta có thểnhận thấy rằng : bên cạnh những tiềm năng cơ bản của một doanh nghiệp hoạt độngkinh tế như : lệch giá, doanh thu, … Vinamilk cũng thực sự rất chăm sóc tới nhữngmục tiêu về những giá trị đạo đức mà công ty đã thiết kế xây dựng. Và những tiềm năng này đãchi phối rất lớn tới kế hoạch tăng trưởng chung của công ty. 2.4. Khía cạnh nhân vănPhương châm của Vinamilk là hướng đến sự tăng trưởng vững chắc và quyền lợi củacộng đồng. Vinamilk tự cho rằng : “ thước đo giấ trị mà Vinamilk – một thương hiệu12đã có những bước tăng trưởng vững chắc và luôn khẳng định chắc chắn được vị thế trên thươngtrường – sử dụng chính là giá trị đạo đức, là sự tin yêu, và hợp tác của người tiêudùng, người mua, đối tác chiến lược, cổ đông và cả hội đồng ”. Các phương diện biểu lộ : – Nâng cao chất lượng đời sống – San sẻ bớt gánh nặng cho nhà nước – Nâng cao năng lượng chỉ huy cho nhân viên cấp dưới – Phát triển nhân cách đạo đức cho người lao độngII. Xây dựng mạng lưới hệ thống những nguyên tắc, lao lý trong tổ chức1. Xây dựng lao lý trong quản trị nguồn nhân lực1. 1. Chính sách tuyển dụngMục tiêu của Vinamilk là hướng tới một tập đoàn lớn đa ngành, một tên thương hiệu toàncầu với đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, nhiệt huyết, đầy năng lượng, cùng chí hướngphát triển sự nghiệp lâu dài hơn, gắn với Vinamilk. Chính sách tuyển dụng của Công ty luôn hướng tới việc đa dạng hoá nguồn ứngviên so với cấp chỉ huy, cấp quản trị và nhân viên cấp dưới. Từ những ứng viên có khảnăng thích hợp với kinh nghiệm tay nghề, trình độ trình độ cao, tương thích với công việccho đến những bạn sinh viên có thành tích tốt. Công tác tuyển dụng này được xem xét trên qua điểm không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính và tuổi tác. Mục tiêu tuyển chọn nhân viên cấp dưới là tìm ra được người có đủ năng lượng thao tác, phẩmchất thao tác trải qua quy trình tuyển chon công minh, khách quan. Các chương trình tuyển dụng của Vinamilk như chương trình tập sự viên kinhdoanh. Chương trình tập sự viên kinh doanh là một trong những chương trình tuyểndụng của Vinamilk hướng đến đội ngủ sinh viên mới ra trường năng động, nhiệthuyết, sẵn sàng chuẩn bị góp sức và thương mến việc làm bán hàng. Chương trình là cơ hộilớn cho những ứng viên tiềm năng trẻ trên khắp Nước Ta được tham gia và pháttriển cùng đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp và vững mạnh của Vinamilk. Các bạnsinh viên sẽ được huấn luyện và đào tạo, huấn luyện và đào tạo những kỹ năng và kiến thức thiết yếu song song với kinhnghiệm thao tác thực tiễn giúp những bạn chính thức trở thành những giám sát mại vụ củacông ty sau ba tháng và được hưởng thu nhập cùng những chính sách đãi ngộ xứng danh. Chương trình tuyển dụng tại những trường ĐH : hàng năm, công ty Vinamilk đềutổ chức những chương trình tuyển dụng tại những trường ĐH lớn trên toàn nước. Đâykhông chỉ là thời cơ cho những bạn sinh viên ứng tuyển mà còn là dịp để những bạn sinhviên khám phá, trao đổi về Vinamilk qua đó xu thế nghề nghiệp của mình. Ngoài ra còn có những chương trình thực tập. Không chỉ tuyển dụng những năng lực chocông ty, công ty còn chăm sóc đến việc góp phần quyền lợi cho xã hội ở nhiều khía13cạnh. Chương trình thực tập ở Vinamilk phần nào xử lý được nhu yếu cọ sátthực tế của những bạn sinh viên trong những trường ĐH. Đào tạo, huấn luyện1. 2. Từ thiên chức và tiềm năng kế hoạch của tổ chức triển khai thì bộ phận quản trị đã xác địnhmục tiêu của nguồn nhân lực đó là góp vốn đầu tư giảng dạy nguồn nhân lực tri thức cao. Vớichiến lược tăng trưởng của ngành sữa lúc bấy giờ, Công ty Vinamilk đẫ xác lập yếu tố “ con người ” sẽ quyết định hành động đến thành công xuất sắc hay thất bại của doanh nghiệp. Công ty đặt tiềm năng góp vốn đầu tư đào tạo và giảng dạy nguồn nhân lực tri thức. Một số hoạt động giải trí đàotạo Công ty đã và đang triển khai : Công ty đã và đang chuẩn bị sẵn sàng cho nguồn nhân lực trình độ cao trong tươnglai bằng cách gửi con trẻ cán bộ, công nhân viên sang học ở những ngành côngnghệ sữa và những loại sản phẩm từ sữa, tự động hoá tiến trình công nghệ tiên tiến và sảnxuất, máy móc thiết bị sản xuất thực phẩm, quản trị trong ngành sữa. • Công ty tuyển sinh viên tốt nghiệp loại giỏi ở những trường ĐH trong cảnước và đưa đi du học quốc tế. • Những cán bộ công nhân viên có nhu yếu học tập cũng đc Công ty hộ trợ50 % ngân sách cho những khoá học nâng cao trình độ và nhiệm vụ. • Ngoài ra còn có những chương trình giảng dạy thời gian ngắn nhằm mục đích nâng cao trình độvà nhiệm vụ cho cán bộ công nhân viên trong công ty. 1.3. Chính sách đãi ngộVới kế hoạch tăng trưởng lúc bấy giờ, Vinamilk xác lập yếu tố con người là quantrọng nhất, sẽ quyết định hành động sự thành công xuất sắc hay thất bại cho công ty. Nêm công ty đãcó những chủ trương đãi ngộ so với người lao động như sau : Đảm bảo việc làm không thiếu cho người lao động, thu nhập của ngừoi lao độngngày càng cải tổ. Ngoài thu nhập từ lương, người lao động còn có thêmthu nhập từ doanh thu được chia theo tỷ suất chiếm hữu của họ trong Công ty nếuCông ty làm ăn có lãi. • Thực hiện rất đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ và nghĩa vụ và trách nhiệm so với người lao động theo đúngquy định của pháp lý. • Có chủ trương khen thưởng kịp thời so với cá thể và tập thể có công laođóng góp cho Công ty, có giải pháp kỉ luật so với những cá thể có hànhđộng ảnh hưởng tác động xấu đến quyền hạn và uy tín của Công ty. • Đào tạo và sắp xếp nguồn nhân lực tương thích với tình hình tăng trưởng Công tynhằm ngày càng tăng chất lượng việc làm. 2. Xây dựng lao lý trong hoạt động giải trí Marketing2. 1. Tại sao phải có kế hoạch Marketing ? “ Tất cả mọi kế hoạch marketing được vạch ra không phải chỉ nhằm mục đích tạo ra doanhsố, mà nhằm mục đích để tạo ra doanh thu ”. 14B ởi lẽ doanh nghiệp cần phải biết làm thế nào để xác lập và phân khúc thị trườn, thiết kế xây dựng giải pháp mê hoặc để nghênh đón người mua và thiết kế xây dựng tên thương hiệu vớiđịnh vị mạnh. Họ phải biết làm thế nào để làm giá cho giải pháp của mình mộtcách mê hoặc và phải chăng, và làm thế nào để chọn và quản trị kênh phân phối để đưasản phẩm của mình đến người tiêu dùng một cách có hiệu suất cao. Họ cần phải biếtlàm thế nào để quảng cáo và trình làng mẫu sản phẩm của mình, để người mua biết vàmua. Không chỉ thế, họ cần phải biết vận dụng kế hoạch thị trường và phươngpháp quản trị tương thích với trong thực tiễn thị trường đầy kỹ thuật mới trong khuynh hướng toàncầu hoá. 2.2. Các kế hoạch Marketing của Công ty Vinamilk2. 2.1. Quảng bá trải qua những phương tiện thông tin đại chúng, PR can đảm và mạnh mẽ, hỗ trợ vốn cho những cuộc thi và những chương trình học bổng. Ngoài việc sản xuất kinh doanh, Vinamilk là một trong những đơn vị chức năng hàng đầutrong việc hướng về hội đồng. Công ty góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng những trường mẫu giáo, gópkinh phí trong việc phụng dưỡng suốt đời những Mẹ Nước Ta anh hùng ở huyệnGiồng Trôm và triển khai nhiều chương trình hướng về hội đồng như : sữa họcđường, Vinamilk ươm mầm năng lực trẻ, cùng Vinamilk vươn tới trời cao, … Ngoài việc lan rộng ra thị trường ra quốc tế, Vinamilk còn chú trọng đến việc tổchức lại mạng lưới hệ thống tiêu thụ trong nước, những chương trình chăm nom người mua, tậptrung tiếp thị tên thương hiệu đến người tiêu dùng. Để đưa loại sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tốt nhất, Vinamilk đã xây dựngkế hoạch sản xuất gắn liền với thị trường tiêu thụ, trấn áp ngặt nghèo chất lượngsản phẩm, sản xuất 1 số ít loại sản phẩm mới nhằm mục đích cung ứng nhu yếu ngày càng tăngcủa người tiêu dùng. 2.2.2. Đột phá về công nghệVinamilk đã mạnh dạn nhập máy móc tân tiến nhất để sản xuất sữa tươi tiệt trùngvà thu mua sữa của nông dân với giá cao hơn nguyên vật liệu sữa nhập khẩu. Công ty đã Phục hồi thành công xuất sắc Nhà máy sữa bột Dielac bằng trí tuệ những nhà khoahọc trong nước, những thiết bị trong nước với kinh phí đầu tư 200.000 USD thay vì phải sửdụng chuyên viên quốc tế và nhập khẩu thiết bị với giá 3 triệu USD.Tổng Giám đốc công ty đã nhạn định rằng : công ty luôn phối hợp ngặt nghèo với cácnhà khoa học trong nước, dữ thế chủ động về kỹ thuật chứ không hấp tấp vội vàng đi mua thiết bịtừ những nước hay phải liên kết kinh doanh link với quốc tế để chuyển giao côngnghệ ”. Vinamilk đã tiến hành những đợt nhìn nhận trình độ công nghệ tiên tiến của sản xuất. Việc tổchức nhìn nhận trình độ công nghệ tiên tiến nhằm mục đích tiềm năng phân biệt xuất phát điểm của từng15thời kì, mà ở đó, hoàn toàn có thể so sánh trình độ công nghệ tiên tiến của công ty so với trình độ côngnghệ của quốc tế. Sau mỗi đợt nhìn nhận trình độ công nghệ tiên tiến, Vinamilk lại điềuchỉnh hoạt động giải trí góp vốn đầu tư quy đổi công nghệ tiên tiến. 2.2.3. Tổ chức Marketing MixTrong kế hoạch thực thi hỗn hợp, Quảng cáo được nhìn nhận là một phương sáchcó tính kế hoạch để đạt được hoặc duy trì một lợi thế cạnh tranh đối đầu trên thị trường. Hiểu được tầm quan trọng của quảng cáo trong kế hoạch triển khai hỗn hợp củamình Vinamilk đã tiếp thị loại sản phẩm thoáng đãng tới người tiêu dùng qua những phươngtiên thông tin đại chúng : tivi, tạp chí, internet, poster … Thường xuyên đổi khác cácnội dung, hình thức quảng cáo mới lôi kéo sự quan tâm và chăm sóc của người tiêudùng. Chiến dihcj tiếp thị truyền thông online đa phương tiện nhằm mục đích giúp người tiêu dùng hiểu rõlợi ích “ tươi, thuần khiết, đến trực tiếp từ vạn vật thiên nhiên ”, đội ngũ PR rất tốt và giàukinh nghiệm. 2.2.4. Tìm hiểu thị trườngVinamilk luôn luôn tăng cường năng lực đồng cảm người mua, những kênh phân phốivà đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu của mình trải qua những cuộc nghiên cứu và điều tra Marketing2. 2.5. Nghiên cứu mẫu sản phẩm mớiNhu cầu người tiêu dùng luôn biến hóa vì thế việc làm của người đưa ra chiếnlược marketing là điều tra và nghiên cứu và tìm ra sự đổi khác đó. Hiện công ty vinamilk đãđưa ra một số ít loại sản phẩm mới rất hiệu suất cao. Trong đó phải kể đến 3 mẫu sản phẩm là sữagiảm cân, bia, café moment.  Sữa giảm cânHiện nay trẻ nhỏ béo phì ở Viêt Nam đang tăng cao điều nay đã tạo động lực choVinamilk đưa ra thị trường sữa giảm cân và ngay lập tức nhận được sự ủng hộ củangười tiêu dùng. Qua điều tra và nghiên cứu trong thực tiễn từ hiệu quả sơ bộ cuộc tìm hiểu về tình hình thừa cân, béophì ở nước ta do Viện dinh dưỡng thực thi gần đây, đã có 16,8 % người từ 25-64 tuổi, trẻ nhỏ dưới 15 tuổi là 20,3 % thừa cân, béo phì theo tiêu chuẩn châu Á. Xuấtphát từ trong thực tiễn tỉ lệ người béo phì và thừa cân ở Nước Ta ngày càng ngày càng tăng nhấtlà ở trẻ nhỏ. Đồng thời qua điều tra và nghiên cứu thị trường sữa giảm cân Vinamilk nhận thấycó ít đối thủ cạnh tranh tham gia vào thị trường này. Vinamilk đã hình thành ý tưởng sáng tạo và chora loại sản phẩm ” Vinamilk Sữa Giảm Cân ”. Sữa giảm cân giúp người thừa cân, béo phìkiểm soát cân nặng trải qua chính sách ăn kiêng, giảm ngưỡng no và trọn vẹn duytrì dinh dưỡng cho hoạt động và sinh hoạt hàng ngày. Khác những loại sản phẩm trên thị trường, Vinamilk sữa giảm cân được kiến thiết xây dựng vớicông thức hiệu suất cao và chính sách điều trị khoa học theo từng tiến trình, tương hỗ người16thừa cân trấn áp cân nặng một cách hài hòa và hợp lý mà vẫn bảo vệ duy trì được mọisinh hoạt, việc làm hằng ngày. Trước khi đưa loại sản phẩm ra thị trường Vinamilk đã thử nghiệm loại sản phẩm trên cácđối tượng thừa cân, hiệu quả cho thấy sau 6 tuần sử dụng, người uống giảm đượckhoảng 5,9 % khối lượng khung hình ( khoảng chừng 3,9 kg ), vòng bụng giảm 5 cm, tỷ suất mỡcơ thể giảm 2 %. Ngoài ra, hiệu quả phỏng vấn sâu cho thấy mẫu sản phẩm đạt tiêuchuẩn về mùi vị, dễ uống, tiện lợi và người dùng vẫn duy trì mọi hoạt động giải trí sinhhoạt, thao tác thông thường. Với tiềm năng điều tra và nghiên cứu và đưa ra giải pháp giảm cânhiệu quả, bảo đảm an toàn tương thích với thể trạng người Nước Ta, mẫu sản phẩm Vinamilk sữagiảm cân là một bước nâng tầm mới giúp đem lại quyền lợi thiết thực cho người tiêudùng. Một cân nặng suôn sẻ cùng khung hình khỏe mạnh là điều trọn vẹn hoàn toàn có thể đạtđược.  BiaHiện nay, bia là một loại thức uống rất phổ cập tại Nước Ta, được minh chứngqua sản lượng bia sản xuất và tiêu thụ ngày càng tăng trong vài năm qua. Nhậnthấy khuynh hướng này, Vinamilk đã ngay lập tức nhảy vào thì trường sôi động nàybằng việc liên kết kinh doanh với SAB Miller ( công ty sản xuất bia lớn thứ nhì quốc tế vềsản lượng bia ) để sản xuất bia Zorok với tổng vốn góp vốn đầu tư 27 triệu USD. Vinamilkđã góp khoảng chừng 50 % vốn trong liên kết kinh doanh này. Lượng bia sản xuất trong nước năm2003 là 1,3 tỷ lít, tăng lên 1,4 tỷ lít trong năm 2004 và hoàn toàn có thể sẽ đạt 2,5 tỷ lít vàonăm 2010. Bia Zorok được đưa ra thị trường vào đầu năm 2007 và đã nhanh chóngthu hút sự chú ý quan tâm của người mua.  Café moment : Nền kinh tế tài chính đang ngày càng hội nhập, áp lực đè nén việc làm cũng theo đó tăng nên. Điều này yên cầu mọi người phải luôn tỉnh táo trong việc làm, giải pháp lựa chọnnhiều nhất của họ là uống café. Vì thế thị trường café đã nóng lên trông thấy. Ngay sau đó, năm 2005 vinamilk đã xuất hiện trên thị trường với mẫu sản phẩm cafémoment do mới tham gia thị trường lại bị cạnh tranh đối đầu nóng bức lên vinamilk khônggây được tiếng vang lớn. Không chịu khuất phục và với lợi thế chi cho marketingrất cao ( lên đến 2 triệu usd ) Vinamilk đã đưa ra hàng loat kế hoạch để chiếm lĩnhthị trường. Một trong số kế hoạch có hiệu suất cao nhất là thuê Câu lạc bộ bóng đáArsenal ( Câu lạc bộ bóng đá Arsenal là một trong những đội bóng thành công xuất sắc nhấttrong lịch sử vẻ vang bóng đá Anh ) sang Nước Ta để tiếp thị loại sản phẩm và nhãn hiệuCafe Moment của Công ty CP sữa Nước Ta Vinamilk. Ông Nguyễn TuấnAnh, Giám đốc Marketing của Vinamilk vừa cho biết, việc ký kết này sẽ diễn ravào giữa tháng 5/2008. Vơi kế hoạch này vinamilk đã rất thành công xuất sắc trong việcdựa vào uy tín của đội bong Arsennal để lan rộng ra tên thương hiệu mẫu sản phẩm cafémoment. Theo đó sẽ làm ngày càng tăng thị trường và tăng nhanh xuất khẩu thương hiệu này. Vinamilk đang đặt kỳ vong lớn cho sự trở lại của café moment. Hướng tới mụctiêu trở thành thương hiệu café hòa tan và café rang xay hang đầu Nước Ta, theo đó, café moment sẽ chiếm khoảng chừng 5 % thị trường vào 2008, 15 % thị trường vào 2009 và1730 % thị trường vào 2010 tại thị trường Nước Ta. Sau khi chiếm thị trường ổn địnhtrong nước thì vinamilk có khuynh hướng tăng trưởng café moment ra bên ngoài. 3. Xây dựng pháp luật trong hoạt động giải trí tài chính3. 1. Nâng cao năng lượng thanh toán giao dịch của Công tyNăng lực thanh toán giao dịch của công ty là năng lượng trả được nợ đáo hạn của những loại tiềnnợ của công ty, không giao dịch thanh toán được những khoản nợ đến hạn hoàn toàn có thể dẫn đến phásản. 3.2. Nâng cao năng lượng cân đối vốnNăng lực cân đối vốn chính là năng lực tự chủ về mặt kinh tế tài chính của công ty. Điềunày không quan trọng so với doanh nghiệp nhưng nó là mối chăm sóc hàng đầuđối với nhà đầu tư, nhà sản xuất, ngân hàng nhà nước cho vay … Nếu năng lực kinh tế tài chính củacông ty vững mạnh sẽ tạo được niềm tin của những đối tác chiến lược. 3.3. Nâng cao năng lượng kinh doanh của công tyNăng lực kinh doanh của công ty là năng lượng tuần hoàn của vốn công tý, đây là mặtquan trọng nhìn nhận hiệu suất cao kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Sự tuần hoàn vốn là sựvận động thống nhất của vốn tiền tệ, vốn gia tài, vốn hàng hoá – dịch vụ, trong đósự hoạt động của hàng hoá dịch vụ là vô cùng quan trọng. Vì hàng hoá, dịch vụ cóđược tiêu dùng thì mới thực thi được giá trị, tịch thu vốn và triển khai xong vòng tuầnhoàn của vốn. PHẦN 3X ÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NHÂN CỦA DOANH NGHIỆPNăng lực doanh nhânI. Bà Mai Kiều Liên sinh ở Pháp. Sau năm năm du học chuyên ngành chế biến sữa ởNga, năm 1976, bà trở lại Nước Ta, thao tác cho Xí nghiệp liên hiệp sữa cà phêmiền Nam – tiền thân của Vinamilk. Với tư chất mưu trí, ham học hỏi, bà đã biết vận dụng hiệu suất cao những kiến htứcđã học cùng sự phát minh sáng tạo của bản than. Từ vị trí một kỹ sư, bà dần được phân cônglàm Trưởng ca, rồi Phó Giám đốc kỹ thuật, Phó Tổng Giám đốc và quản trị Hộiđồng quản trị sau khi doanh nghiệp nhà nước này được cổ phần hoá. Ở vị trí ngườiđứng đầu, bà Mai Kiều Liên đã đưa Vinamilk từ một đơn vị chức năng gặp nhiều khó khăn vất vả trởthành doanh nghiệp có doanh thu hàng năm gần 1 tỷ USD. 18 Đứng đầu doanh nghiệp rất nhiều năm và cũng nằm trong tay nhiều quyền lực tối cao, cónhững lúc gặp khó khăn vất vả nhưng bà san sẻ : “ Tôi giữ chức tổng giám đốc đến tháng 12 nămnay là đúng 20 năm. Tôi có đặc thù càng khó thì càng cố làm cho bằng được chứkhông buông xuôi, vì như vậy sẽ không có Vinamilk như ngày này ”. Để vươn lên làm chủ khoa học – công nghệ trên nghành chế biến sữa, bà Mai KiềuLiên còn tổ chức triển khai link, cộng tác với những viện điều tra và nghiên cứu, những nhà khoa học trongnước, sử dụng những ý tưởng sáng tạo của những nhà khoa học Nước Ta. Bà luôn ý niệm làm thế nào chọn đúng được ngừoi tài, thiết kế xây dựng toàn bộ thành 1 khối, 1 hướng thì mới hoàn toàn có thể đưa đọn vị đi lên, tăng trưởng mạnh hơn được, vì vậyVinamilk mới thành công xuất sắc được như ngày thời điểm ngày hôm nay. II.Tố chất của doanh nhânBà Mai Kiều Liên san sẻ : “ Yếu tố số 1 mang lại thành công xuất sắc cho Vinamilkcũng như cá thể tôi là chúng tôi thao tác rất là mình. Thêm một yếu tố hết sứcquan trọng là sự phát minh sáng tạo. Tức là không theo lối mòn, không theo khuynh hướng đámđông. Nhiều khi mình đi ngược lại xu thế, nhưng vẫn làm khi thấy chắc như đinh làmình làm đúng và hiệu suất cao. Tôi vẫn thường nói với những bạn bè quản trị ở Vinamilkvề trường hợp Steve Jobs của Apple. Chính vì phát minh sáng tạo nên ông ta mới thành côngnhư ngày ngày hôm nay ”. III.Đạo đức của doanh nhânBà Mai Kiều Liên san sẻ : “ Ở Vinamilk, dưới tôi có những giám đốc quản lý, phụtrách từng mảng theo phân công và những người đó chịu nghĩa vụ và trách nhiệm trước tôi vềmảng đó. Dưới nữa có hàng ngũ giám đốc, an hem san sẻ, uỷ quyền cho nhau đểthực hiện. Nhưng tôi vẫn là người chịu nghĩa vụ và trách nhiệm chính. Uỷ quyền gì đi nữanhưng khi có việc gì thì mình vẫn là người chịu nghĩa vụ và trách nhiệm ”. Điều này cho thấybà là một người rất có nghĩa vụ và trách nhiệm với việc làm. Đối với người lao động, bà không muốn đuổi những người trình độ kém, ngược lạisẵn sàng đào tạo và giảng dạy họ cho tới khi họ trở nên tay nghề cao. Bà chủ trương Vinamilk san sẻ khó khăn vất vả với người dân nuôi bò sữa bằng cáchluôn mua sữa giá cao hơn so với những công ty của Mỹ, Úc, New Zealand. Cho nên, doanh thu của loại sản phẩm sữa tươi 100 % không cao bằng những mẫu sản phẩm khác, nhưngvẫn gật đầu để san sẻ với bà con nông dân. IV.Phong cách doanh nhânĐối với ý thức thao tác, bà Mai Kiều Loan luôn chu đáo trong mọi việc làm, bàsát sao trong từng việc làm để kịp thời nhắc nhở đến đội ngũ nhân viên cấp dưới, luôn thựchiện đến cùng mục tiêu của việc làm. 19B à đưa ra bộ quy tắc ứng xử và truyền tải đến hàng loạt nhân viên cấp dưới để tạo ra một độingũ nhân viên cấp dưới thao tác hiệu suất cao, kết nối những nhân viên cấp dưới với nhau, nâng cao chấtlượng việc làm. Luôn ở đúng vị trí chức vụ của mình và hướng mọi người đi vào những cơ hộimới, đưa công ty ngày càng tăng trưởng. PHẦN 4GI ẢI PHÁP TRIỂN KHAI HỆ THỐNG CHUẨN MỰCVĂN HOÁ KINH DOANH1. Đôn đốc, lãnh đạoCác ban chỉ huy là những người đi đầu trong việc triển khai những chuẩn mực vănhoá kinh doanh của doanh nghiệp. Để những nhân viên cấp dưới của doanh nghiệp hoàn toàn có thể đitheo một hướng tích cực giúp doanh nghiệp ngày càng tăng trưởng thì cần phải có sựlãnh đạo đúng hướng của cấp trên. Bạn Giám đốc cần phải theo dõi sát sao và đônđốc nhân viên cấp dưới triển khai đúng, chuẩn những quy tắc mà doanh nghiệp đưa ra. Những chuẩn mực văn hoá này chỉ có công dụng khi mà nó được mọi người thựchiện và được triển khai một cách khoa học, đúng mực. 2. Hướng dẫnCông tác tổ chức triển khai hướng dẫn nhân viên cấp dưới ngay từ trong bước đầu là vô cùng quan trọng. Việc hướng dẫn chính là trong bước đầu đưa nhân viên cấp dưới đi vào việc triển khai những chuẩnmực trong văn hoá kinh doanh. Nhân viên sẽ đi vào khuôn khổ và hiểu rõ mụcđích, hiệu suất cao của những chuẩn mực văn hoá kinh doanh. Nhận được sự hướng dẫnsẽ cho nhân viên cấp dưới thấy thiên nhiên và môi trường thao tác chuyên nghiệp hơn, nhanh gọn hoànhập và thực thi việc làm. 3. Kiểm traViệc theo dõi và đôn đốc nhân viên cấp dưới là chưa đủ mà kèm theo đó cần phải có sựkiểm tra định kỳ. Những buổi kiểm tra chính là những địa thế căn cứ đê nhận ra nhữngngười có năng lượng, năng lực và cũng nhờ đó doanh nghiệp tìm ra được nhưng sai sót, khuyết điểm, sống sót của doanh nghiệp để khắc phục kịp thờiKẾT LUẬNVăn hoá kinh doanh là thực tiễn khách quan và là tác nhân quan trọng cho sựphát triển vững chắc của những chủ thể kinh doanh. Đặc biệt trong quy trình xây dựngvà tăng trưởng của nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩa ở Việt Namkết hợp với quy trình hội nhập kinh tế tài chính quốc tế, việc có văn hoá kinh doanh để khaithác những tác nhân tích cực, hạn chế những tác nhân xấu đi, phát huy được những cái20riêng, cái truyền thống trong kinh doanh sẽ lại càng có nghĩa lớn hơn với sự sống sót vàphát triển của hoạt động giải trí kinh doanh. 21

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập