Tiểu luận Văn Hóa Xã Hội Hàn Quốc – Tài liệu text

Tiểu luận Văn Hóa Xã Hội Hàn Quốc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.32 MB, 134 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG


Tiểu luận môn Địa lí dân cư Hàn Quốc:

VĂN HÓA – XÃ HỘI
HÀN QUỐC

GVHD: Nguyễn Thu Cúc

TP. HỒ CHÍ MINH 05 – 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LỚP HÀN QUỐC 1 – 07



1. Lê Thị Hải Âu 0765020
2. Huỳnh Thị Anh Chi 0765028
3. Nguyễn Thanh Diệu 0765037
4. Thái Nguyệt Hân 0765067
5. Nguyễn Thị Thanh Huệ 0765080
6. Nguyễn Thị Minh Khánh 0765089
7. Nguyễn Thị An Lành 0765100
8. Trần Thị Liễu 0765104
9. Nguyễn Thị Xuân Lộc 0765111

10. Bùi Thị Lư 0765113
11. Chu Thị Thu Nga 0765292
12. Nguyễn Thị Kim Ngân 0765123
13. Lương Kiếm Ngọc 0765132
14. Lưu Thị Bích Ngọc 0765133
15. Nguyễn Như Quỳnh 0765182
16. Nguyễn Phương Thảo 0765212
17. Lương Thứ Linh Thy 0765229
18. Nguyễn Thị Kim Tuyền 0765264
19. Hoàng Phong Vũ 0765284

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

Người thực hiện
Thái Nguyệt Hân

Tên công việc
Văn hóa ẩm thực

Chu Thị Thu Nga
Nguyễn Phương Thảo
Lương Thứ Linh Thy
Nguyễn Thị Minh Khánh

Văn hóa trang phục

Nguyễn Thị An Lành
Trần Thị Liễu
Nguyễn Thị Kim Tuyền

Lê Thị Hải Âu
Nguyễn Thị Kim Ngân
Bùi Thị Lư

Tính cách người Hàn
Lễ hội
Tôn giáo

Nguyễn Thị Xuân Lộc
Nguyễn Thanh Diệu

Âm nhạc, hội họa, múa

Lương Kiếm Ngọc
Lưu Thị Bích Ngọc

Kiến trúc và trang trí nội thất

Nguyễn Như Quỳnh
Hoàng Phong Vũ
Nguyễn Phương Thảo

Giáo dục
Việc làm

Trần Thị Liễu
Nguyễn Phương Thảo

Y tế

Hoàng Phong Vũ
Huỳnh Thị Anh Chi
Nguyễn Thị Thanh Huệ

Võ thuật
Ngôn ngữ

Nguyễn Thị Kim Ngân

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Mỗi đất nước, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng rất riêng, rất đặc
biệt. Đó có thể là dáng núi, hình sông, cái uốn lượn mượt mà của những cánh đồng
bát ngát, cái khúc khuỷu của thác, của ghềnh. Cũng có thể là đôi mắt của con trai,
nụ cười của con gái hay những cái tình cái nghĩa đối đãi với nhau. Những đặc
trưng văn hóa – xã hội của một dân tộc chính là điểm nhấn quan trọng tạo sức hút
cho dân tộc đó.
Càng ngày người ta càng nhận thấy rõ vai trò của văn hóa – xã hội đối với
sự phát triển của đất nước là vô cùng to lớn. Và như vậy, việc nghiên cứu, bổ sung
những tri thức về văn hóa – xã hội đã trở thành một nhu cầu, một đòi hỏi tất yếu.
Đặc biệt là với những người đang học tập, làm việc trong các lĩnh vực có liên
quan.
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cùng với những nét tương
đồng về lịch sử, văn hóa, xã hội… Hàn Quốc và Việt Nam ngày càng trở nên gắn
bó, vừa là bạn vừa là đối tác của nhau, cùng hướng tới nguyện vọng hòa bình, hữu
nghị, bình đẳng, hợp tác và phát triển.
Muốn đạt được mục tiêu và lợi ích đó, trước hết chúng ta cần có sự thấu

hiểu về nhau không chỉ về mức tăng trưởng kinh tế, những GDP,GNP… mà còn

phải có kiến thức về tình hình xã hội, về các đặc trưng văn hóa, các bản sắc văn
hóa của nước bạn. Và có một điều chắc chắn rằng những nét đẹp, những cái hay và
hấp dẫn của văn hóa Hàn Quốc luôn được trân trọng và yêu mến.
Hiểu về bạn và biết về mình – đó là nền tảng để xây dựng và phát triển bền
vững những mối quan hệ tốt đẹp. Khi ta hiểu rõ về văn hóa, con người của một đất
nước và có thái độ phù hợp – dù là chúng ta đang học tập, làm việc, hợp tác hay
chỉ đơn thuần là giao tiếp xã giao – chúng ta cũng sẽ nhận được từ họ sự thân
thiện, quý mến và trân trọng.Thêm vào đó, cuộc sống luôn đòi hỏi, thôi thúc chúng
ta khám phá, tìm tòi và nỗ lực cho khát khao vươn tới tầm cao tri thức, vươn tới sự
hiểu biết sâu rộng.
Sự gắn kết giữa Hàn Quốc – Việt Nam, sự gắn kết giữa Hàn Quốc và sinh
viên ngành Hàn sẽ là cầu nối, là động lực giúp chúng ta có thêm hiểu biết về bản
sắc văn hóa và tình hình xã hội Hàn Quốc. Chính vì vậy, nhóm chúng tôi đã quyết
định nghiên cứu đề tài: “Văn hóa – xã hội Hàn Quốc”.

Chương 1: VĂN HÓA
Văn hóa ẩm thực:
Vai trò ẩm thực :
1.1.1.1 Vai trò của tự nhiên đối với ăn uống:
Con người sống trên trái đất này có quan hệ mật thiết với thiên nhiên
xung quanh. Trong quá trình sinh sống, tồn tại đó, con người và tự nhiên có những

tác động qua lại lẫn nhau. Dựa trên những gì thiên nhiên có sẵn, con người tranh
thủ tận dụng để sống còn. Lĩnh vực ăn uống thuộc việc tận dụng môi trường tự
nhiên của con người.

Bán đảo Triều Tiên nằm trong vành đai gió mùa Đông Á, khí hậu
chịu ảnh hưởng từ sự thay đổi khí hậu trong lục địa Châu Á, Siberia và từ biển.
Một năm cả đất nước Hàn Quốc có 4 mùa rõ rệt Xuân, Hạ, Thu, Đông; trong khi
mùa đông mang lại tiết trời lạnh khô do chịu sự ảnh hưởng của gió từ lục địa thổi
vào thì mùa hè với ngọn gió mang lại từ biển sự ấm áp và ẩm ướt. Sự chuyển đổi
nhanh chóng giữa các mùa buộc người Hàn phải tất bật chuẩn bị cho những điều
kiện sống mới nên nền văn hóa nông ngiệp của họ có sự nhanh nhẹn thích ứng.
Địa hình ở Hàn Quốc đa dạng, chủ yếu là đồi núi chiếm 70 % diện tích lãnh thổ,
nhiều sông. Trải dọc theo 3 phần biển bao bọc bán đảo từ phía Đông với Nhật bản,
phía Nam và phía Tây Hoàng Hải, ngăn cách với Trung Quốc là rải rác trên 3000
đảo lớn nhỏ và một phần đảo đá. Nhìn chung, với 3 mặt biển bao quanh là bán
đảo, với địa hình bờ biển phong phú có tác động trực tiếp lên đời sống người dân
Hàn Quốc từ thời xa xưa đến ngày nay. Địa hình nhiều núi non bao quanh và biển
bao bọc tạo ra đặc sắc núi rừng, biển khơi hòa quyện, mang đến trong bữa ăn của
con người rau củ, hải sản.
1.1.1.2 Ăn uống:
Ăn uống là một trong những nhu cầu không thể thiếu để duy trì sự
sống của con người trong cuộc sống. Ăn uống là một nhu cầu bản năng, nhưng
không phải tùy tiện mà có những lề lối, cách thức.
Ngày xưa, ăn uống chỉ đơn thuần là để duy trì sự sống còn. Khi chưa
có lửa, con người ăn tươi nuốt sống. Khi có lửa, họ biết dùng lửa để sưởi ấm, nấu
chín thức ăn rồi tạo những vật dụng phục vụ cho nhu cầu ăn uống hằng ngày như
nồi chảo, chén, đũa…Khi thế giới càng văn minh, tiến bộ, cuộc sống con người
ngày càng được cải thiện và nâng cao thì nghệ thuật ăn uống ngày càng được quan
tâm, chú trọng. Mỗi quốc gia, dân tộc do điều kiện tự nhiên, địa lí có những khác

biệt mà có những món ăn đặc trưng, có nghệ thuật ẩm thực riêng. Phong cách ăn
uống thể hiện tính cách của cả dân tộc, của một gia đình và của một cá nhân.
1.1.1.3. Ăn uống đối với người Hàn Quốc

Đối với người Hàn Quốc, ẩm thực đóng một vai trò quan trọng trong
nền văn hóa lâu đời và mang nhũng nét đăc sắc, riêng biệt. Bữa ăn sáng thường có
6 món, 12 món cho bữa trưa và bữa tối gần 20 món. Mỗi món ăn có những nguyên
liệu và phương pháp nấu riêng, không trùng lắp.
Ẩm thực Hàn Quốc bao gồm ẩm thực cung đình Hàn Quốc, đặc sản
địa phương và ẩm thực hỗn hợp hiện đại. Thành phần và cách chế biến rất khác
nhau, và nhiều món đã nổi tiếng thế giới.
Ở Hàn Quốc, nghệ thuật ăn uống rất được chú trọng vì phong cách
ăn uống góp phần phản ánh tính cách của mỗi con người và mỗi dân tộc.
1.1.1.4 Cơ cấu bữa ăn người Hàn Quốc
Người Hàn Quốc ăn 3 bữa một ngày, các bữa ăn trong ngày được
phân biệt bằng số lượng các món ăn phụ gọi là Banchan trong mỗi bữa ăn. Bữa ăn
sáng thường có 6 món, 12 món cho bữa trưa, và bữa tối gần 20 món. Mỗi bữa ăn
thông thường có cơm, món Kimchi truyền thống và canh.
Thành phần món ăn phần lớn làm từ gạo, rau, thịt, và đậu phụ. Các
bữa ăn truyền thống thường có nhiều món ăn phụ như là: banchan ăn kèm với
cơm, canh và kimchi (một loại banchan có vị cay, được lên men từ rau củ, nhiều
nhất là làm từ bắp cải, củ cải và dưa leo). Mọi bữa ăn đều đi kèm với nhiều loại
banchan.
Món ăn chính của người Hàn Quốc là cơm. Ngoài việc nấu cơm
bằng gạo, người ta thường độn thêm lúa mạch, bắp, kê, bobo hay đậu. Thức ăn chủ
yếu là các loại rau xanh luộc tái, xào hoặc tẩm, trộn gia vị như dưa chuột muối, rau
sống trộn…Canh có nhiều nước dùng và thành phần chính là: thịt, rau, rong biển,
xương hay lòng bò, lòng heo; các món hầm và kimchi. Có rất nhiều loại kimchi,
mỗi loại đều có phong cách, hương vị riêng tùy thuộc vào khí hậu của từng vùng.
Ở những vùng ấm áp, ớt bột được cho vào nhiều hơn để Kimchi không bị hư.

Vùng phía Bắc, người ta thường muối Kimchi nhạt hơn và cũng ít cay hơn. Ngoài
ra, một số loại Kimchi không trộn với ớt bột mà được ngâm trong những dung

dịch tạo vị khác.
Thịt bò nướng lửa (Pulgogi), sườn heo, sườn bò nướng (kalbi) cũng
là món ăn tiêu biểu của Hàn Quốc. Trong chế biến món này, người ta dùng loại
tương riêng biệt để làm tăng vị ngọt của thịt, khiến cho món ăn thêm đậm đà và
mang một sắc thái riêng. Sườn, lưng, thịt mềm là loại được sử dụng nhiều nhất.
Thịt bò được thái mỏng, ướp với nước lê, rượu trắng, nước tương đặc, hành băm,
tỏi băm, dầu mè, nước gừng, bột tiêu,…Sau đó nướng trên ngọn lửa nhỏ cháy âm
ỉ. Món này cuốn chung với rau sống để ăn.
Người Hàn Quốc rất thích món “ Mộc Tồn”. Theo quan niệm của họ
thịt chó có tác dụng giải nhiệt trong mùa hè và giúp cơ thể tăng sức đề kháng với
các loại bệnh dịch. Thịt chó thường được chế biến thành một món súp có tên gọi là
Boshintang. Dường như tất cả các vị của món súp truyền thống xứ Hàn như súp
bò, súp đậu tương, súp kimchi… đều có trong món súp này.
Ngoài một số món kể trên, cơm trộn (cơm trộn với thịt thái mỏng,
trứng, rau tẩm gia vị, nước sốt làm từ ớt), mì lạnh (sợi mì được làm bằng nước
kiều mạch, mảnh và dai, nước dùng lạnh có thịt bò thái mỏng, hành tươi, củ cải,
dưa leo, hạt mè), Shinsollo (thịt, cá, rau, đậu phụ được ninh nhỏ lửa trong nước
thịt bò), cháo gà (gà được ướp với gừng, táo, gạo nếp, tỏi rồi hầm nhừ), bánh gạo
(nhân thịt, kimchi và được hấp trong nồi)…là những món ăn luôn được ưa thích ở
Hàn quốc.
Món ăn Hàn Quốc luôn luôn có các loại gia vị như: dầu mè,
doenjang (bột đậu nành lên men), nước sốt đậu nành, muối ăn, tỏi, gừng và
gochujang (bột ớt đỏ). Hàn Quốc là quốc gia tiêu thụ tỏi hàng đầu Châu Á.
1.1.2 Thực Ẩm
1.1.2.1 Thực
1.1.2.1.1 Các món ăn từ ngũ cốc:
a. Cơm (bab):

Nông nghiệp ở Hàn Quốc chủ yếu là trồng lúa. Vì vậy, món ăn

chính trong bữa ăn hàng ngày là cơm. Nhưng do đất canh tác quá ít ỏi, thời gian
canh tác lại ngắn ngủi nên sản lượng lương thực không cao. Vì thế, người Hàn
trồng thêm các loại ngũ cốc ngắn hạn như lúa mạch, cao lương, bắp, kê, các loại
đậu…Người Hàn có rất nhiều món cơm: cơm ngũ cốc, cơm đậu, cơm mầm đậu,
cơm cuộn rong biển, cơm trộn, cơm kimchi trộn,…đã góp phần tạo nên tính đa
dạng, phong phú trong món cơm hàng ngày của người dân. Các món cơm phổ
biến:
Cơm ngũ cốc: có 5 loại ngũ cốc thường được nấu chung với
nhau: gạo, cao lương, hạt kê, đậu đỏ, đậu đen-tương ứng với ngũ hành, hài hòa âm
dương. Việc kết hợp 5 loại ngũ cốc này làm cho cơm ngũ cốc có mùi vị rất ngon:
vị ngọt của gạo, vị bùi của đậu,…hòa quyện cùng nhau. Họ thường dùng cơm ngũ
cốc để cúng trời đất, trừ tà ma, tránh những rủi ro.
Cơm đậu: Loại cơm này chỉ nấu chung gạo với đậu đỏ hay đậu
đen. Nó có thể dùng hàng ngày thay cơm thường. Nhưng trong ngày sinh nhật,
người Hàn dùng cơm đậu đỏ để cầu điều may mắn, sự an lành trong cuộc sống.
Cơm mầm đậu (kongnamulbab): đây là món cơm với đậu – một
loại lương thực vô cùng phong phú và đầy dinh dưỡng. Là món ăn truyền thống,
cách chế biến khá đơn giản, chỉ cần ủ đậu thành mầm, xào với thịt bò rồi trộn với
cơm nên được người Hàn ưa thích và dùng hàng ngày.
Cơm quấn: người Hàn dùng lá rau diếp quấn cơm, rai cải, thịt rồi
ăn. Đôi khi họ còn cho thêm cá nhằm tăng thêm vị ngon ngọt cho món ăn. Ngoài
lá rau diếp, các loại như lá bắp cải, lá vừng, lá bí luộc hay rong biển cũng được
dùng để gói món này.
Cơm cuộn rong biển (kimbab): đây là món ăn lấy lá rong biển
quấn với cơm, trứng, rau cải, cá rốt và thịt. Là món ăn nhẹ, phổ biến nên thường
được dùng cho bữa trưa hay buổi cắm trại ngoài trời.
Cơm trộn (bibimbab): món này xuất phát ở phía Tây nam tỉnh
Cholla của Hàn Quốc – là một món phổ biến, đơn giản, chỉ cần cho các loại rau,

trứng, thịt, được cắt thành sợi nhỏ và dài, đôi khi cho thêm trái cây như lê, táo. Sau
đó, sắp xếp chúng lại thành từng phần, tỏa ra từ trung tâm lên bát cơm, rối phủ lên
trên cùng thịt bò nghiền cùng trứng. Khi ăn, trộn đều mọi thứ, có thể cho thêm một
ít tương ớt, tiêu đỏ và dầu mè để tăng thêm hương vị cho món cơm. Cái hay của
món này là ở chỗ các loại rau có thể được thay thế bằng dưa chuột, cà rốt, củ cải
Hàn Quốc, nấm và bất cứ thứ gì có thể thêm vào món này.
Cơm kimchi trộn: mỗi một gia đình ở Hàn Quốc luôn có sẵn
kimchi cho các bữa cơm gia đình. Tuy nhiên, kimchi để lâu sẽ bị chua nên các bà
các cô tận dụng làm nên món cơm trộn với kimchi. Kimchi được rửa rồi chiên với
một ít thịt, rau cải, sau đó thì trộn với cơm. Món này rất được ưa thích vào mùa
Đông.
b. Canh:
Người dân Hàn Quốc còn dùng các loại ngũ cốc để làm ra món
canh, đó là món ăn có nước duy nhất trong bữa cơm. Canh là một loại thức ăn khá
quan trọng và không thể thiếu trên bàn ăn. Canh có nhiều nước dùng và thành
phần chính là thịt, rau, cá, rong biển, đậu phụ, giá đậu, xương hay lòng bò, lòng
heo…Các món canh phổ biến:
Canh gạo nếp (ttokguk): Món này làm từ gạo nếp. Gạo nếp sau
khi được nấu chín, tán thật nhuyễn rồi nhào thành một cuộn dài, xắt ra, vo tròn
như đồng tiền, nấu chung với thịt gà, thịt heo cùng hạt thông, hạt dẻ và cho thêm
hành vào khi ăn. Món ăn này thường được người Hàn Quốc ăn vào đầu năm mới
để cầu mong sống lâu khỏe mạnh, không bệnh tật.
Canh màn thầu (mantuguk): là loại canh làm từ lúa mì. Người ta
nhào bột mì thành hình tròn giống bánh kẹp, cho vào đậu phụ, thịt băm, kimchi xắt
nhỏ với mầm đậu rồi nặn thành hình lưỡi liềm. Sau đó nấu chung với thịt bò, ăn
chung với kimchi.
Canh nếp mật ong (yakbab) hay canh nếp thơm (yaksik): được
nấu bằng gạo đã hấp chín trộn cùng quả thông, hạt dẻ, chà là, táo tàu, mật ong, dầu
mè và nước tương. Món này được dùng trong ngày lễ tạ ơn.

Canh đậu nành (Toenjang Jikae): đây là món ăn chính hoặc món
phụ cùng với món canh thịt bò. Món này có nhiều rau, sò hến, đậu phụ, trai nhỏ,
tôm, cá trống.
c. Cháo:
Cháo là một trong những món ăn được chế biến từ gạo. Buổi
sáng, người Hàn có thói quen ăn cháo cho dễ tiêu. Đôi khi người ta còn cho thêm
các loại đậu để tăng hương vị và tính bổ dưỡng. Các món cháo phổ biến:
Cháo đậu đỏ (Patuk): là loại cháo nấu với đậu đỏ ăn vào mùa
Đông với quan niệm trừ tà ma, mang lại điều tốt lành cho người ăn.
Cháo bí đỏ: món này được ăn vào buổi sáng vì người Hàn tin
món này có thể trừ được tà ma. Món này bổ dưỡng, gạo được nấu nhuyễn và bỏ bí
vào quấy nhuyễn, trộn đều, nêm gia vị cho vừa miệng.
Cháo gà: cho tỏi và thịt gà vào cháo, đồng thời vớt bỏ mỡ nổi
trên mặt cháo, nêm gia vị, bỏ hành lá vào là có thể dùng được.
Cháo bào ngư: loại cháo này được nấu với trứng, nước chấm, mè
và bỏ thêm các loại hải sản như tôm, cua, sò, bào ngư…
d. Bánh:
Bánh làm từ gạo và ngũ cốc có vị mặn, nhiều hơn vị ngọt, dùng
để cúng ông bà tổ tiên vào các dịp lễ.
Bánh gạo hấp lá thông (Songpyeon): bánh này được ăn vào lễ
trung thu, làm từ bột gạo, đậu xanh, mè và đường. Sau khi xay nhuyễn bột, cho
màu vào rồi nhào nặn cho dẻo, cho nhân đậu xanh hoặc mè vào, nắn hình bán
nguyệt tượng trưng cho Mặt Trăng, hấp khoảng 20 phút trên nồi nước lá thông.
Bánh thuốc-bánh mật ong (yakkwa): là một loại bánh ăn vào dịp
Trung thu hay lễ Tết, vào lúc có việc vui lẫn khi có chuyện buồn. Bánh làm từ bột
mì, dầu mè, mật ong, rượu gạo, nước quế và gừng. Đổ bánh vào khuôn rồi đem
nướng. Sau đó lấy ra, nhúng vào siro và rắc bột đậu lên trên.
Bánh gạo hấp (siruttok): bánh này làm bằng bột gạo nếp, rắc các
loại bột lên trên bánh. Vào ngày Hàn thực, người Hàn đặt bánh lên mộ tổ tiên và

thành kính thực hiện các nghi lễ cúng bái. Bánh còn được làm biếu cho hàng xóm
vào ngày thứ 100 của em bé mới sinh hay vào ngày cưới.
1.1.2.1.2 Các món ăn từ rau củ:
a. Kimchi: Nhắc đến ẩm thực Hàn Quốc, người ta không thể không
nhắc đến kimchi. Đây là món ăn nổi tiếng nhất của đất nước này. Kimchi có vị
chua chua, cay nồng. Trong bữa ăn của người Hàn thấy 3 món không thể thiếu là
cơm, canh và kimchi. Kimchi là các món rau củ ngâm muối có màu đỏ và vị chua
cay rất đặc trưng. Cho đến nay đã có trên 200 loại kimchi, các loại kimchi khác
nhau tùy theo loại nguyên, phụ liệu và gia vị được dùng.
* Lịch sử kimchi:
Món này có từ lâu đời, vào khoảng thế kỉ thứ VII. Ban đầu, kimchi
chỉ là các loại rau củ được ngâm vào nước muối để bảo quản qua mùa đông càng
lâu càng tốt và chưa có loại gia vị nào được thêm vào. Vào thời kì đó ớt chưa xuất
hiện trên bán đảo Triều Tiên nên kimchi chưa có màu đỏ và vị cay. Và tên gọi
“kimchi” cũng chưa ra đời. Có giả thuyết cho rằng: từ “kimchi” được xuất phát từ
chữ “chimchae”, nghĩa là rau muống, rồi sau đó được đọc trại dần thành
“dimchae”, “kimchae”, rồi cuối cùng là “kimchi”.
Vào thời Koryo, có hai món kimchi nổi tiếng là Mujanggajji-củ cải
ngâm tương và Musogeumjeori-củ cải ngâm muối. Kimchi bắt đầu được xem là
một món ăn ngon để dùng quanh năm, đồng thời là món ăn dự trữ vào mùa Đông.
Gia vị vào thời này đã phát triển phong phú hơn do nhiều loại gia vị được du nhập
từ Nhật bản. Việc sử dụng hạt tiêu và gừng Nhật Bản vào làm kimchi đã tạo vị cay
cho món ăn này.
Đến thời Choson, kimchi đã có nhiều bước phát triển đáng kể. Cải
bắp Trung Quốc vào bán dảo Triều Tiên vào thời này đã được sử dụng để làm
kimchi. Đây là loại nguyên liệu rất thích hợp để làm kimchi do nó có độ săn chắc
và có nhiều lớp nên có thể nhồi được nhiều phụ liệu hơn. Đến đầu thế kỉ XVII, cây
ớt cũng đã xuất hiện trên bán đảo Triều Tiên do sự xâm lược của Nhật Bản tại đây

vào năm 1592. Tuy nhiên, phải mất khoảng 200 năm sau thì ớt mới được đưa vào

làm thành phần của món kimchi. Từ đó, kimchi bắt đầu có màu đỏ như ngày nay.
Việc dùng ớt trong làm kimchi đã dẫn đến sự ra đời của nhiều loại kimchi mới.
Người Hàn bắt đầu đưa các loại mắm hải sản vào kimchi để tạo thêm hương vị
đậm đà, đồng thời nhờ có ớt nên mùi tanh hôi bị át đi, tạo thành món ăn ngon.
Kimchi rất được ưa chuộng trong thời Choson, không chỉ trong giới bình dân mà
ngay cả trong giới quý tộc. Có 3 loại kimchi luôn được đặt trên bàn ăn là
Jeotgukji, Songsongi (còn gọi là Kkadugi) và Dongchimi. Các món kimchi này
không được phổ biến rộng rãi do nguyên liệu khá đắt tiền nên chủ yếu chỉ được
dùng để phục vụ cho hoàng tộc hoặc các gia đình khá giả.
Ngày nay, kimchi đã phát triển hết sức phong phú và đa dạng.
Ngoài các loại kimchi truyền thống, kimchi đã được kết hợp với các món ăn hiện
đại để tạo thành nhiều loại món ăn mới như sandwich kimchi, hamburger kimchi,
pizza kimchi…Kimchi đã trở nên phổ biến không chỉ tại Hàn Quốc mà còn tại
nước ngoài. Những người Hàn Quốc ở hải ngoại chính là những người đầu tiên đã
giới thiệu kimchi ra nước ngoài. Ở bất cứ nơi nào có người Hàn sinh sống đều có
thể dễ dàng tìm thấy kimchi. Cho đến nay kimchi đã trở thành món ăn toàn cầu,
việc xuất khẩu kimchi đang phát triển nhanh chóng. Một khi đời sống được nâng
cao, con người ngày nay không chỉ nghĩ đến việc ăn cho no nữa, việc ăn uống phải
có văn hóa, tính đến vị ngon và có lợi cho sức khỏe. Theo đánh giá của các chuyên
gia dinh dưỡng, ăn rau nhiều lại tốt hơn chỉ ăn thịt nhiều nên kimchi chủ yếu được
làm từ rau, tuy hàm lượng calo thấp nhưng nhiều chất xơ giúp nội tạng hoạt động
tốt, giảm lượng cholesterol ngăn ngừa bệnh béo phì, tiểu đường và thậm chí là ung
thư dạ dày. Với hương vị cay nồng đặc trưng, kimchi kích thích ăn ngon. Bên cạnh
đó, trong quá trình lên chua vi khuẩn lastic, đã tăng sức đề kháng cho cơ thể.
Từ khi xuất hiện ở đất nước Hàn Quốc, kimchi đã trở thành một
nét đặc trưng văn hóa của Hàn Quốc và góp phần quảng bá hình ảnh của đất nước
này ra nước ngoài.

* Quá trình làm kimchi

Từ thời Choson, việc chuẩn bị kimchi cho mùa đông đã là một sự
kiện lớn của các gia đình. Mùa làm kimchi được gọi là mùa Kimjang. Mùa
Kimjang thường bắt đầu vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 và kéo dài trong
khoảng 2 đến 3 ngày. Tùy theo số người trong gia đình mà người ta chuẩn bị
khoảng từ 100-200 bắp cải. Để chế biến hết số bắp cải đó cần có sự giúp sức của
nhiều người. Do đó, mỗi khi có một gia đình làm Kimjang thì họ hàng và các nhà
hàng xóm sẽ đến giúp. Việc này tạo nên tình cảm hàng xóm thân thiết giữa các gia
đình Hàn Quốc truyền thống, đồng thời thể hiện tính cộng đồng trong văn hóa của
người Hàn.
Cải bắp làm kimchi trước tiên sẽ được rửa sạch rồi đem ngâm vào
nước muối trong khoảng 6-8 giờ. Sau đó, cải bắp được lấy ra, để ráo nước và nhồi
hỗn hợp gồm mắm cá, ớt, gừng, hành, tỏi vào giữa các lớp lá của bắp cải. Sau khi
chuẩn bị xong, kimchi được lèn chặt vào các vại sành rất to. Loại vại sành để đựng
kimchi được nung bằng lửa với phương pháp oxy hóa, vì vậy thường bền, chắc,
khó vỡ hơn các loại hũ sành sứ bình thường khác. Hình dáng của chúng cũng khác
nhau tùy vào mỗi vùng. Ở miền Bắc, vại sành thường thấp, nhỏ, phình rộng ở giữa
nhưng thu hẹp ở miệng và đáy. Ở miền Trung, vại sành thường lớn hơn, miệng vại
rộng để đón nắng mặt trời. Còn ở miền Nam, vại sành thường có kích thước lớn
hơn, bởi kimchi cần được bảo quản qua một mùa đông dài hơn. Các vại sành này
thường được đặt ở trong bếp, ở sân trước hay sân sau, và thường được kê trên một
lớp đá. Ở miền quê, khi nhiệt độ hạ thấp thì người ta thường chôn các vại sành này
xuống đất để kimchi không bị đóng băng. Sau khi để khoảng 2 tuần thì có thể
dùng được.
Ngày nay, mùa Kimjang đã không còn phổ biến bởi nhiều lí do.
Trước hết, vì người ta không còn cần phải làm kimchi để dự trữ qua mùa đông.
Thêm vào đó, cuộc sống công nghiệp hiện đại khiến người Hàn Quốc không thể
dành nhiều thời gian để làm một lượng lớn kimchi như ngày xưa. Ngoài ra còn do

đa số người Hàn ngày nay sống trong các căn hộ chung cư nên không có sân và
nhiều khoảng trống để đặt các vại kimchi. Ở thành thị, người ta thường mua

kimchi làm sẵn hoặc làm với số lượng ít rồi để trong tủ lạnh. Chính vì những lí do
đó nên hình ảnh mọi người tụ họp lại để làm kimchi và hình ảnh những vại kimchi
đã thu hẹp dần, chỉ còn bắt gặp ở các vùng nông thôn.
* Các loại kimchi:
Cho đến nay đã có trên 200 loại kimchi. Các loại kimchi khác nhau
theo từng vùng và từng mùa. Kimchi ở mỗi vùng có hương vị, đặc trưng riêng. Ở
miền Nam, người dân có xu hướng dùng nhiều muối và hải sản hơn do đây là vùng
gần biển, nên kimchi có vị nồng và ngọt hơn. Trong khi đó thì các loại kimchi ở
miền Bắc lại ít mặn và có vị nhẹ hơn.
Người ta còn làm và ăn các loại kimchi khác nhau tùy theo từng
mùa và điều kiện thời tiết. Vào mùa xuân, hạ và thu thì kimchi được làm với số
lượng ít và được ăn ngay. Riêng vào mùa đông thì kimchi được làm nhiều để dự
trữ, thời gian ngâm cũng lâu hơn.
* Một số loại kimchi tiêu biểu:
Kimchi cải thảo (baechu kimchi) hay kimchi cải bắp (tongbaechu
kimchi): Đây là loại kimchi phổ biến nhất. Món này thường làm để dự trữ trong
suốt mùa đông. Bắp cải xẻ làm đôi hoặc làm 4 rồi ngâm vào nước muối trong
khoảng 3-4 giờ cho đến khi mềm ra, vớt ra để ráo rồi phơi nắng 15 đến 20 phút.
Các nguyên phụ liệu gồm bột ớt, gừng, tỏi, hành xanh lột trần, cải xoong, củ cải, lá
mù tạt, tôm hoặc các loại hải sản khác như cá, sò, rong biển sẽ được trộn với muối
đường, nước cá hay nước sò thành hỗn hợp để nhồi. Rồi cho hỗn hợp này vào từng
lá cải thảo, quấn lại bỏ vào các lọ sành ép chặt lại, khoảng 2-3 ngày sau là có thể
ăn được. Món kimchi này dùng được với tất cả các loại thức ăn. Đối với kimchi
cải thảo thông thường thì bắp cải sau khi ngâm xong sẽ được cắt nhỏ để trộn
chung với nguyên liệu. Còn đối với kimchi cải bắp nguyên cây (tongbaechu
kimchi) thì các nguyên liệu sẽ được nhồi và giữa các lớp lá hoặc phết xung quanh

bắp cải.
Baek kimchi: Baek kimchi xuất phát từ miền Bắc nơi người ta ít
dùng muối và tiêu, ớt sợi đỏ thay cho tiêu đỏ nên ít mặn và cay hơn. Gia vị gồm

gừng, tỏi và ớt thái sợi thay cho ớt bột. Ngyên liệu khá đa dạng tùy theo khẩu vị
của từng người bao gồm: củ cải, nấm, đậu, lê, hạt dẻ, cải xoong xanh và lá mù tạt.
Sau cùng bỏ muối vào trước khi ủ cất. Món kimchi này được cho là niềm tự hào
của người Hàn Quốc về món ăn truyền thống của ông bà tổ tiên.
Củ cải ngâm muối (Dongchimi): Không giống các loại kimchi
khác, Dongchimi là loại kimchi có rất nhiều nước. các nguyên liệu như củ cải, ớt
xanh, lê sẽ được đem ngâm nước muối cùng với là mù tạt và hành cho mềm. Sau
đó cho các nguyên liệu này vào lọ rồi đổ nước muối cho ngập hết toàn bộ. Món
dongchimi không chua và cay lắm, thêm vào đó còn có vị thah ngọt của lê nên rất
ngon.
Kimchi củ cải đỏ (nabak kimchi): Đây cũng là một loại kimchi
nướcc. Trong quá khứ, món kimchi này thường được dùng vào mùa xuân nhưng
ngày nay có thể được dùng quanh năm. Món kimchi này được đánh giá cao nhất,
thường dùng trong các dịp lễ. Nhìn bề ngoài trông rất sang trọng do được trình bày
khéo léo, công phu, nó được cắt tỉa gọn gàng theo từng thỏi hình vuông rồi thêm
các nguyên liệu như cải bắp, hành xanh, cải xoong, ớt, tỏi, gừng để tạo cho nabak
kimchi nhiều màu sắc. Đối với món kimchi này thì càng ít cay càng ngon. Nabak
kimchi có đặc trưng giòn, cứng nên được những người nhỏ tuổi khá yêu thích.
Kimchi dưa leo (o-i kimchi): Đây là món kimchi rất phổ biến vào
màu xuân và mùa hè. Món này rất dễ làm, tương đối rẻ mà lại mát, rất thích họp
cho những ngày nóng. Dưa leo ướp trong nước muối từ 1-2 tuần rồi trộn với củ cải
xắt sợi dài, có thể bỏ thêm cải thảo, tỏi và nước sốt giấm đường, để khoảng 3 tuần
trước khi dùng. Không nên ngâm món kimchi này quá lâu vì dưa leo rất dễ bị chua
và mất độ giòn.
Kimchi nhân sâm (susam nabak kimchi): Hàn Quốc nổi tiếng với

nguồn nhân sâm dồi dào nên ngày nay nhân sâm còn được dùng trong việc làm
thức ăn hằng ngày. Món kimchi nhân sâm đòi hỏi phải chọn những củ nhân sâm
non, rễ được cắt nhỏ cùng cà rốt, củ cải đỏ và dưa leo ngâm nước kimchi làm bằng

muối, giấm, đường; để khoảng 2-3 ngày rồi ăn. Món này bổ dưỡng cho các cụ già,
người lớn tuổi.
Kimchi hẹ (buchu kimchi): Chế biến lá hẹ có sẵn trong mùa hè, kết
hợp với nước cá, tỏi và gừng. Dùng trong những ngày hè oi ả.
* Tác dụng của kimchi:
Tác dụng kháng khuẩn: do có axit lactic sản sinh trong quá trình
lên men nên kimchi có tính kháng sinh cao và ngăn chặn sự phát triển các vi khuẩn
có hại. Axit lactic làm kimchi chua đồng thời cũng có tác dụng kìm hãm sự lên
men quá mức tránh làm cho kimchi quá chua.
Tác dụng của chất xơ trong bắp cải: ngăn chặn chứng táo bón và
các bệnh viêm đường ruột.
Tác dụng của axit lactic: các nguyên liệu chủ yếu dùng chế biến
kimchi thường chứa nhiều nước và ít đạm. Khuẩn sữa có trong kimchi ngăn chặn
sự phát triển vi khuẩn có hại kích thích bài tiết pepsin, thúc đẩy quá trình tiêu hóa
đạm thông qua việc phân bổ vi khuẩn trong các cơ quan nội tạng. Kimchi đại diện
cho nhóm thực phẩm lên men giúp hệ tiêu hóa khử vi khuẩn có hại, làm giảm năng
suất trong cơ thể. Kimchi ngon và chứa nhiều vitamin C nhất khi đạt độ pH 4.64.2 và tỉ lệ axit 0.6-0.8.
Tác dụng chống axit nhiễm độc: kimchi là một thực phẩm cung
cấp kiềm giúp ngăn chặn sự nhiễm độc axit sinh ra từ phản ứng axit hóa máu khi
ăn nhiều thịt và thực phẩm chứa nhiều axit.
Tác dụng ngừa bệnh: axit lactic có tác dụng ngăn chặn một số bệnh
như béo phì, tiểu đường và ung thư đường ruột.
Tác dụng chống axit hóa và chống lão hóa: kimchi có tác dụng
ngăn chứng xơ cứng động mạch rất tốt vì nó làm giảm Cholesterol trong máu và
phân hóa Fibrin làm giảm mỡ trong gan, chống axit hóa nhờ các thành phần hoạt

tính như vitamin C, hợp chất Phenola…và ngăn chặn lão hóa, đặc biệt ở da.
Tác dụng trao đổi chất của các gia vị có trong kimchi: ớt bột là gia
vị chính của kimchi, chứa nhiều vitamin A và C kích thích cơ quan tiêu hóa bài tiết

dịch dạ dày và có tác dụng chống axit hóa. Skorizinin trong tỏi có tác dụng làm
tăng sức đề kháng. Gừng có tác dụng kích thích ăn và tuần hoàn máu.
b. Rong biển:
Là một loại rau sống dưới biển trong điều kiện yếm khí, không có
ánh sánh mặt trời. Rong biển mọc, phát triển nhiều ở các vùng ven biển. Rong biển
rất bổ dưỡng cho cơ thể. Đây là nguồn thực vật phong phú mà thiên nhiên ban tặng
cho người dân Hàn Quốc để chế biến thành nhiều món ăn ngon, có lợi cho sức
khỏe và không thể thiếu trong các bữa ăn hằng ngày, ngày lễ.
Ngày nay, người Hàn Quốc cấy trồng rong biển trong các lưới tre
hay plastic để dọc theo bờ biển nhằm tăng lượng rong biển cung cấp cho thị
trường. Sau khi thu hoạch, do mọc và phát triển ở nhiều vị trí khác nhau nên rong
có nhiều loại đa dạng và phong phú vô cùng, chúng được phơi khô, phân loại rồi
để cất trữ hay đưa ra thị trường buôn bán. Rong biển thu hoạch vào mùa đông
được cho là có vị rất ngon. Các loại rong biển phổ biến nhất là: tảo bẹ biển, tảo
mía, lá kim và lá mù tạt biển.
Nếu biển không bị ô nhiễm thì rong biển và những thực vật ăn
được lấy từ biển là nguồn rau sạch bổ sung vào nguồn thực phẩm hằng ngày, làm
phong phú, đa dạng thêm các món ăn gia đình, cung cấp lượng dinh dưỡng cần
thiết cho cơ thể. Từ rong biển người Hàn Quốc đã làm nên rất nhiều món ăn bổ
dưỡng, ngon miệng góp phần vào văn hóa ẩm thực của dân tộc.
* Các món ăn làm từ rong biển phổ biến:
Canh rong biển (miyeokkuk): món này có nguồn gốc từ rất lâu đời,
dễ nấu và có thể ăn bất cứ lúc nào. Là món ăn bổ dưỡng và giúp phục hồi sức khỏe
nhanh nên được các sản phụ dùng trước và sau khi sanh con. Nó gắn liền với quan
niệm cho rằng: trong canh rong biển có chất nhớt nên ăn nó trước khi sinh nở sẽ

giúp việc sinh nở trở nên dễ dàng hơn. Và vào ngày sinh nhật thì người đó sẽ ăn
canh rong biển do cha mẹ nấu nếu còn sống chung với cha mẹ, khi đã lập gia đình
thì chồng nấu cho vợ hay vợ nấu cho chồng. Ăn món canh này vào lúc đó là để

tưởng nhớ đến công sinh thành của người mẹ lúc sinh nở. Để làm món canh này,
ninh lá mù tạt biển với thịt bò xay nhuyễn, hạt mè, tỏi và nước tương.
Kimkui: Loại tảo này được ướp với dầu, để nướng ăn trong các
bữa ăn hoặc các dịp lễ, nó được dùng như một loại bánh tráng, cũng được dùng
làm kimpap.
Tảo bẹ xào( tasima Twim): Đây là loại tảo bẹ có nhiều ở vùng ven
biển, loại này được luộc trước khi xào với thịt, rắc thêm chút đường vào ăn như
một món nhắm với đồ uống rất được người Hàn Quốc yêu thích.
1.1.2.1.3 Rau củ, giá đỗ:
Ngoài kim chi và rong biển vốn là đặc trưng trong thực phẩm về
rau, người Hàn Quốc còn dùng những loại rau khác để đa dạng hóa các món ăn
của mình đồng thời cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể. Đó là các loại rau xanh
luộc tái, xào hoặc tẩm, trộn gia vị như dưa chuột muối,rau sống trộn…Đó là các
loại đậu vốn thấy xuất hiện thường xuyên trong các món cơm, canh, cháo, bánh
của họ. Từ đậu người Hàn Quốc còn làm ra các loại giá để trộn gỏi hoặc nấu lẩu.
* Các món rau phổ biến:
Rau cải xào (yachae twim): Đây là món đơn giản và dễ ăn.Tùy
theo mùa mà món cải xào cũng có sự khác biệt. Các nguyên liệu bao gồm củ sen,
lá hoa cúc, tiêu xanh, hành lá, cà chua, và gừng được xào chung rồi bỏ vào dĩa có
lót giấy thấm để giảm bớt lượng dầu mỡ.
Giá đậu xanh (Sukju Namul): Đây là món ăn có cách chế biến đơn
giản. Hạt đậu xanh hoặc đậu nành ngâm nước rồi bỏ vào hủ, bọc lại cho có đủ độ
ẩm. Sau 2-3 ngày chúng sẽ mọc thành cọng giá to mọng. Ngày nay, người Hàn
thường mua giá ở các chợ hoặc siêu thị rồi rửa sạch, tỉa cắt, đem luộc rồi cho gia
vị muối, hành, tỏi vào. Món này có tính mát và bổ dưỡng.

Củ cải trộn: củ cải trắng ngoài việc để làm kimchi, có thể được
dùng để chế biến các món lẩu, món trộn rất lạ miệng. Món này thường được dọn
ăn cùng các món nướng.
1.1.2.1.4 Các món ăn từ thủy sản:

Thủy hải sản cũng là một phần không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn
của người Hàn. Với ba mặt giáp biển và ngoài khơi lại có dòng hải lưu lạnh đi qua
mang đến cho Hàn Quốc một nguồn thủy sản dồi dào, phục vụ nhu cầu ăn uống
hằng ngày. Vì vậy trên bàn ăn của người Hàn Quốc luôn có tôm, mực, cá, ghẹ….
Cá chiên: Cá được tẩm bột và trứng rồi chiên trong dầu sôi. Trong
ngày lễ người ta cho thêm nấm, cà rốt. Ngoài ra còn có món cá thu chiên nhúng
hỗn hợp bột cari, bột mì và có nước sốt kèm theo để chấm.
Cá kho: Là món dễ ăn và đầy dinh dưỡng nên được yêu thích. Cá
để kho có hai loại: cá lớn ngoài biển hoặc cá nhỏ ở vùng nước ngọt, sông, hồ,…Cá
được kho trong thời gian ngắn rồi dùng đũa kéo xương ra. Nếu cá nhỏ thì nấu
mềm rồi nấu với nước tương. Cách này giúp giữ lại trọn vẹn hương vị của cá.
Cá nướng: Cá được ướp gia vị như muối, tiêu đỏ, nước tương,…
rồi đem đi nướng. Món này rất được ưa thích.
Chả cá nướng: Thịt cá được nạo ra, ướp gia vị, sau đó xỏ thịt cá
vào cây kim bằng kim loại hoặc bằng gỗ rồi đem nướng.
Sò, tôm nướng: sò, tôm rửa sạch rồi nướng. Khi ăn có nhiều nước
chấm kèm theo. Ngoài ra, sò, tôm còn làm nguyên liệu cho các món chiên cung
cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.
1.1.2.1.5 Các món ăn từ thịt:
Điều kiện tự nhiên đa số là đồi núi, không nhiều đồng cỏ để phục
vụ cho chăn nuôi nên thịt ít xuất hiện trong bữa cơm thông thường của người
Hàn.Tuy nhiên, không vì thế mà món ăn từ thịt không phong phú, người Hàn có
rất nhiều món ăn từ thịt. Thịt bò, thị gà, thịt heo và thịt chó là những loại thịt được
người Hàn sử dụng. Trước đây thịt chó chỉ dùng cho vua chúa nhưng về sau được

dùng phổ biến hơn và được dùng vào mùa hè.
a.Thịt nướng:
Có món thịt bò nướng và món thịt heo nướng. Trong phương
pháp chế biến, món thịt nướng được đánh giá là có cách chế biến đầy sáng tạo. Để
chế biến người ta sử dụng một loại tương đặc biệt của Hàn Quốc để làm cho món

ăn vừa đậm đà vừa làm tăng hương vị ngọt ngào của thịt là đặc điểm lớn nhất.
Món thịt bò nướng có rất ít mỡ, chỗ sườn và lưng là chỗ thịt mềm được sử dụng
nhiều nhất. Món thịt nướng này có thể được cuộn chung với rau sống để ăn.
b.Mộc tồn (thịt chó):
Ăn thịt chó là nét văn hóa ẩm thực của người hàn Quốc. Theo
quan niệm của họ, thịt chó có tác dụng giải nhiệt trong mùa hè, giúp cơ thể tăng
sức đề kháng với các loại bệnh dịch.
Sự phổ biến của món này một phần do người Hàn Quốc rất quan
tâm đến sức khỏe mà thịt cho là một món bổ dưỡng. Niềm tin này cũng bắt nguồn
từ Trung Quốc. Do ý thức về vị trí độc tôn của người đàn ông trong xã hội Hàn
Quốc nên phần lớn những người thưởng thức thịt chó là đàn ông và tương truyền
món này có tác dụng đặc biệt đối với việc tăng cường sinh lực cho người đàn ông
trong việc chăn gối.
Theo một trong những quyển sách của Hải Thượng Lãn Ông ông tổ của y học phương Đông để lại: thịt chó được coi là một vị thuốc quý, có tác
dụng tốt đối với lục phủ ngũ tạng, thúc đẩy tuần hoàn máu, tăng cường khả năng
sinh lý của nam giới….
Nhiều người cho rằng việc ăn thịt chó bắt đầu từ thời kỳ chiến
tranh Triều Tiên, khi nạn đói tràn lan, người Hàn Quốc giết chó ăn thịt để chống
đói, dần dần thịt chó trở thành món ăn quen thuộc và khi chiến tranh kết thúc thói
quen ăn thịt ngày càng trở nên phổ biến và trở thành đặc sản. Thịt chó thường
được chế biến hành món súp gọi là Boshintang.
Người Hàn Quốc phân biệt rất rõ giữa chó cảnh và chó thịt.
Người Hàn không bao giờ ăn thịt chó cảnh. Chó thịt được nuôi trong các trại như

nuôi gà, bò, lợn,…
c.Các món ăn làm từ thịt phổ biến khác:
Sinseollo :Không có bữa tiệc nào mà người Hàn không có món
này. Đây là một món ăn truyền thống, thường dùng trong các dịp lễ hay ngày nghỉ.

Món này giống món lẩu của Việt Nam. Nguyên liệu gồm: bao tử bò, gan bò, thịt
bò thăn, ốc, đậu hủ,… và nhiều loại rau: củ cải, cà rốt, cải xoong,…
Samgyetang : Là một món ăn vào mùa hè. Món này làm từ gà
mái, nhân sâm, cơm nấp, táo tàu, tỏi, hạt dẻ,…
Seolleongtang: Canh xương bò đun, mì trắng, thịt bò, hành xanh,
tiêu đen,…
Sudubu jigae: Món hầm cay và đặc, làm từ đậu hủ mềm.
1.1.2.1.6 Gia vị:
Một trong những yếu tố quan trọng để làm cho món ăn trở nên
ngon đó chính là gia vị và người Hàn dùng rất nhiều loại gia vị để thêm vào các
món ăn. Muối, nước tương, đậu tương, tương ớt, giấm, đường,…là những gia vị cơ
bản được dùng trong chế biến món Hàn. Về hương liệu có: gừng, mù tạt, tiêu, dầu
mè, dầu tía tô, mè, hành, tỏi,…Một món ăn Hàn thường được chế biến với năm
hoặc sáu loại gia vị khác nhau, tạo nên hương vị độc đáo.
Đặc trưng lớn nhất của ẩm thực Hàn Quốc là thực phẩm lên men.
Tương là thực phẩm lên men là từ đậu nành. Ba loại gia vị quan trọng nhất ở Hàn
Quốc là Ganjang, Dwenjang và Gochujang. Đây là các loại tương truyền thống tạo
nên hương vị đặc trưng cho món ăn Hàn Quốc.
Người Hàn Quốc thường làm tương ở nhà bằng cách luộc chín
hạt đậu vàng rồi phơi trong bóng râm, bỏ vào ngâm trong vại chứa nước muối và
để lên men dưới nánh nắng mặt trời.
Tuy nhiên, cuộc sống ngày nay rất bận rộn nên rất ít gia đình còn
giữ truyền thống làm tương, đa số là mua tương ở siêu thị.
* Các loại tương:

Dwenjang( đậu tương): là loại tương làm từ đậu nành lên men,
dùng để làm nước chấm khi ăn các món cuốn.
Dwenjang có ý nghĩa quan trọng ở Hàn Quốc. Nó không chỉ là
một loại gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn, mà còn thể hiện các tính cách đặc
trưng của người Hàn. Dwenjang được cho là có năm đức tín ( ngũ đức) sau:

10. Bùi Thị Lư 076511311. Chu Thị Thu Nga 076529212. Nguyễn Thị Kim Ngân 076512313. Lương Kiếm Ngọc 076513214. Lưu Thị Bích Ngọc 076513315. Nguyễn Như Quỳnh 076518216. Nguyễn Phương Thảo 076521217. Lương Thứ Linh Thy 076522918. Nguyễn Thị Kim Tuyền 076526419. Hoàng Phong Vũ 0765284B ẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆCNgười thực hiệnThái Nguyệt HânTên công việcVăn hóa ẩm thựcChu Thị Thu NgaNguyễn Phương ThảoLương Thứ Linh ThyNguyễn Thị Minh KhánhVăn hóa trang phụcNguyễn Thị An LànhTrần Thị LiễuNguyễn Thị Kim TuyềnLê Thị Hải ÂuNguyễn Thị Kim NgânBùi Thị LưTính cách người HànLễ hộiTôn giáoNguyễn Thị Xuân LộcNguyễn Thanh DiệuÂm nhạc, hội họa, múaLương Kiếm NgọcLưu Thị Bích NgọcKiến trúc và trang trí nội thấtNguyễn Như QuỳnhHoàng Phong VũNguyễn Phương ThảoGiáo dụcViệc làmTrần Thị LiễuNguyễn Phương ThảoY tếHoàng Phong VũHuỳnh Thị Anh ChiNguyễn Thị Thanh HuệVõ thuậtNgôn ngữNguyễn Thị Kim NgânMỤC LỤCMỞ ĐẦUMỗi quốc gia, mỗi dân tộc bản địa đều có những nét đặc trưng rất riêng, rất đặcbiệt. Đó hoàn toàn có thể là dáng núi, hình sông, cái uốn lượn mềm mịn và mượt mà của những cánh đồngbát ngát, cái khúc khuỷu của thác, của ghềnh. Cũng hoàn toàn có thể là đôi mắt của con trai, nụ cười của con gái hay những cái tình cái nghĩa đối đãi với nhau. Những đặctrưng văn hóa – xã hội của một dân tộc bản địa chính là điểm nhấn quan trọng tạo sức hútcho dân tộc bản địa đó. Càng ngày người ta càng nhận thấy rõ vai trò của văn hóa – xã hội đối vớisự tăng trưởng của quốc gia là vô cùng to lớn. Và như vậy, việc điều tra và nghiên cứu, bổ sungnhững tri thức về văn hóa – xã hội đã trở thành một nhu yếu, một yên cầu tất yếu. Đặc biệt là với những người đang học tập, thao tác trong những nghành có liênquan. Trong xu thế toàn thế giới hóa, hội nhập quốc tế, cùng với những nét tươngđồng về lịch sử dân tộc, văn hóa, xã hội … Hàn Quốc và Nước Ta ngày càng trở nên gắnbó, vừa là bạn vừa là đối tác chiến lược của nhau, cùng hướng tới nguyện vọng tự do, hữunghị, bình đẳng, hợp tác và tăng trưởng. Muốn đạt được tiềm năng và quyền lợi đó, trước hết tất cả chúng ta cần có sự thấuhiểu về nhau không chỉ về mức tăng trưởng kinh tế tài chính, những GDP, GNP … mà cònphải có kỹ năng và kiến thức về tình hình xã hội, về những đặc trưng văn hóa, những truyền thống vănhóa của nước bạn. Và có một điều chắc như đinh rằng những nét đẹp, những cái hay vàhấp dẫn của văn hóa Hàn Quốc luôn được trân trọng và thương mến. Hiểu về bạn và biết về mình – đó là nền tảng để kiến thiết xây dựng và tăng trưởng bềnvững những mối quan hệ tốt đẹp. Khi ta hiểu rõ về văn hóa, con người của một đấtnước và có thái độ tương thích – dù là tất cả chúng ta đang học tập, thao tác, hợp tác haychỉ đơn thuần là tiếp xúc xã giao – tất cả chúng ta cũng sẽ nhận được từ họ sự thânthiện, quý mến và trân trọng. Thêm vào đó, đời sống luôn yên cầu, thôi thúc chúngta mày mò, tìm tòi và nỗ lực cho khát khao vươn tới tầm cao tri thức, vươn tới sựhiểu biết sâu rộng. Sự kết nối giữa Hàn Quốc – Nước Ta, sự kết nối giữa Hàn Quốc và sinhviên ngành Hàn sẽ là cầu nối, là động lực giúp tất cả chúng ta có thêm hiểu biết về bảnsắc văn hóa và tình hình xã hội Hàn Quốc. Chính thế cho nên, nhóm chúng tôi đã quyếtđịnh nghiên cứu và điều tra đề tài : “ Văn hóa – xã hội Hàn Quốc ”. Chương 1 : VĂN HÓAVăn hóa ẩm thực ăn uống : Vai trò siêu thị nhà hàng : 1.1.1. 1 Vai trò của tự nhiên so với nhà hàng siêu thị : Con người sống trên toàn cầu này có quan hệ mật thiết với thiên nhiênxung quanh. Trong quy trình sinh sống, sống sót đó, con người và tự nhiên có nhữngtác động qua lại lẫn nhau. Dựa trên những gì vạn vật thiên nhiên có sẵn, con người tranhthủ tận dụng để sống còn. Lĩnh vực siêu thị nhà hàng thuộc việc tận dụng thiên nhiên và môi trường tựnhiên của con người. Bán đảo Triều Tiên nằm trong vành đai gió mùa Đông Á, khí hậuchịu tác động ảnh hưởng từ sự đổi khác khí hậu trong lục địa Châu Á Thái Bình Dương, Siberia và từ biển. Một năm cả quốc gia Hàn Quốc có 4 mùa rõ ràng Xuân, Hạ, Thu, Đông ; trong khimùa đông mang lại tiết trời lạnh khô do chịu sự tác động ảnh hưởng của gió từ lục địa thổivào thì mùa hè với ngọn gió mang lại từ biển sự ấm cúng và khí ẩm. Sự chuyển đổinhanh chóng giữa những mùa buộc người Hàn phải quay quồng chuẩn bị sẵn sàng cho những điềukiện sống mới nên nền văn hóa nông ngiệp của họ có sự nhanh gọn thích ứng. Địa hình ở Hàn Quốc phong phú, đa phần là đồi núi chiếm 70 % diện tích quy hoạnh chủ quyền lãnh thổ, nhiều sông. Trải dọc theo 3 phần biển phủ bọc bán đảo từ phía Đông với Nhật bản, phía Nam và phía Tây Hoàng Hải, ngăn cách với Trung Quốc là rải rác trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ và một phần hòn đảo đá. Nhìn chung, với 3 mặt biển bao quanh là bánđảo, với địa hình bờ biển đa dạng và phong phú có tác động ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống người dânHàn Quốc từ thời thời xưa đến thời nay. Địa hình nhiều núi non bao quanh và biểnbao bọc tạo ra rực rỡ núi rừng, biển khơi hòa quyện, mang đến trong bữa ăn củacon người rau củ, món ăn hải sản. 1.1.1. 2 Ăn uống : Ăn uống là một trong những nhu yếu không hề thiếu để duy trì sựsống của con người trong đời sống. Ăn uống là một nhu yếu bản năng, nhưngkhông phải tùy tiện mà có những lề lối, phương pháp. Ngày xưa, siêu thị nhà hàng chỉ đơn thuần là để duy trì sự sống còn. Khi chưacó lửa, con người ăn tươi nuốt sống. Khi có lửa, họ biết dùng lửa để sưởi ấm, nấuchín thức ăn rồi tạo những đồ vật Giao hàng cho nhu yếu siêu thị nhà hàng hằng ngày nhưnồi chảo, chén, đũa … Khi quốc tế càng văn minh, văn minh, đời sống con ngườingày càng được cải tổ và nâng cao thì nghệ thuật và thẩm mỹ nhà hàng ngày càng được quantâm, chú trọng. Mỗi vương quốc, dân tộc bản địa do điều kiện kèm theo tự nhiên, địa lí có những khácbiệt mà có những món ăn đặc trưng, có nghệ thuật và thẩm mỹ ẩm thực ăn uống riêng. Phong cách ănuống biểu lộ tính cách của cả dân tộc bản địa, của một mái ấm gia đình và của một cá thể. 1.1.1. 3. Ăn uống so với người Hàn QuốcĐối với người Hàn Quốc, nhà hàng đóng một vai trò quan trọng trongnền văn hóa truyền kiếp và mang nhũng nét đăc sắc, riêng không liên quan gì đến nhau. Bữa ăn sáng thường có6 món, 12 món cho bữa trưa và bữa tối gần 20 món. Mỗi món ăn có những nguyênliệu và chiêu thức nấu riêng, không trùng lắp. Ẩm thực Hàn Quốc gồm có siêu thị nhà hàng cung đình Hàn Quốc, đặc sảnđịa phương và nhà hàng hỗn hợp tân tiến. Thành phần và cách chế biến rất khácnhau, và nhiều món đã nổi tiếng quốc tế. Ở Hàn Quốc, thẩm mỹ và nghệ thuật ẩm thực ăn uống rất được chú trọng vì phong cáchăn uống góp thêm phần phản ánh tính cách của mỗi con người và mỗi dân tộc bản địa. 1.1.1. 4 Cơ cấu bữa ăn người Hàn QuốcNgười Hàn Quốc ăn 3 bữa một ngày, những bữa ăn trong ngày đượcphân biệt bằng số lượng những món ăn phụ gọi là Banchan trong mỗi bữa ăn. Bữa ănsáng thường có 6 món, 12 món cho bữa trưa, và bữa tối gần 20 món. Mỗi bữa ănthông thường có cơm, món Kimchi truyền thống cuội nguồn và canh. Thành phần món ăn hầu hết làm từ gạo, rau, thịt, và đậu phụ. Cácbữa ăn truyền thống cuội nguồn thường có nhiều món ăn phụ như thể : banchan ăn kèm vớicơm, canh và kimchi ( một loại banchan có vị cay, được lên men từ rau củ, nhiềunhất là làm từ bắp cải, củ cải và dưa leo ). Mọi bữa ăn đều đi kèm với nhiều loạibanchan. Món ăn chính của người Hàn Quốc là cơm. Ngoài việc nấu cơmbằng gạo, người ta thường độn thêm lúa mạch, bắp, kê, bobo hay đậu. Thức ăn chủyếu là những loại rau xanh luộc tái, xào hoặc tẩm, trộn gia vị như dưa chuột muối, rausống trộn … Canh có nhiều nước dùng và thành phần chính là : thịt, rau, rong biển, xương hay lòng bò, lòng heo ; những món hầm và kimchi. Có rất nhiều loại kimchi, mỗi loại đều có phong thái, mùi vị riêng tùy thuộc vào khí hậu của từng vùng. Ở những vùng ấm cúng, ớt bột được cho vào nhiều hơn để Kimchi không bị hư. Vùng phía Bắc, người ta thường muối Kimchi nhạt hơn và cũng ít cay hơn. Ngoàira, một số ít loại Kimchi không trộn với ớt bột mà được ngâm trong những dungdịch tạo vị khác. Thịt bò nướng lửa ( Pulgogi ), sườn heo, sườn bò nướng ( kalbi ) cũnglà món ăn tiêu biểu vượt trội của Hàn Quốc. Trong chế biến món này, người ta dùng loạitương riêng không liên quan gì đến nhau để làm tăng vị ngọt của thịt, khiến cho món ăn thêm đậm đà vàmang một sắc thái riêng. Sườn, sống lưng, thịt mềm là loại được sử dụng nhiều nhất. Thịt bò được thái mỏng dính, ướp với nước lê, rượu trắng, nước tương đặc, hành băm, tỏi băm, dầu mè, nước gừng, bột tiêu, … Sau đó nướng trên ngọn lửa nhỏ cháy âmỉ. Món này cuốn chung với rau sống để ăn. Người Hàn Quốc rất thích món “ Mộc Tồn ”. Theo ý niệm của họthịt chó có tính năng giải nhiệt trong mùa hè và giúp khung hình tăng sức đề kháng vớicác loại bệnh dịch. Thịt chó thường được chế biến thành một món súp có tên gọi làBoshintang. Hình như tổng thể những vị của món súp truyền thống lịch sử xứ Hàn như súpbò, súp đậu tương, súp kimchi … đều có trong món súp này. Ngoài 1 số ít món kể trên, cơm trộn ( cơm trộn với thịt thái mỏng dính, trứng, rau tẩm gia vị, nước sốt làm từ ớt ), mì lạnh ( sợi mì được làm bằng nướckiều mạch, mảnh và dai, nước dùng lạnh có thịt bò thái mỏng dính, hành tươi, củ cải, dưa leo, hạt mè ), Shinsollo ( thịt, cá, rau, đậu phụ được ninh nhỏ lửa trong nướcthịt bò ), cháo gà ( gà được ướp với gừng, táo, gạo nếp, tỏi rồi hầm nhừ ), bánh gạo ( nhân thịt, kimchi và được hấp trong nồi ) … là những món ăn luôn được ưa thích ởHàn quốc. Món ăn Hàn Quốc luôn luôn có những loại gia vị như : dầu mè, doenjang ( bột đậu nành lên men ), nước sốt đậu nành, muối ăn, tỏi, gừng vàgochujang ( bột ớt đỏ ). Hàn Quốc là vương quốc tiêu thụ tỏi số 1 Châu Á Thái Bình Dương. 1.1.2 Thực Ẩm1. 1.2.1 Thực1. 1.2.1. 1 Các món ăn từ ngũ cốc : a. Cơm ( bab ) : Nông nghiệp ở Hàn Quốc đa phần là trồng lúa. Vì vậy, món ănchính trong bữa ăn hàng ngày là cơm. Nhưng do đất canh tác quá rất ít, thời giancanh tác lại ngắn ngủi nên sản lượng lương thực không cao. Vì thế, người Hàntrồng thêm những loại ngũ cốc thời gian ngắn như lúa mạch, cao lương, bắp, kê, những loạiđậu … Người Hàn có rất nhiều món cơm : cơm ngũ cốc, cơm đậu, cơm mầm đậu, cơm cuộn rong biển, cơm trộn, cơm kimchi trộn, … đã góp thêm phần tạo nên tính đadạng, nhiều mẫu mã trong món cơm hàng ngày của dân cư. Các món cơm phổbiến : Cơm ngũ cốc : có 5 loại ngũ cốc thường được nấu chung vớinhau : gạo, cao lương, hạt kê, đậu đỏ, đậu đen-tương ứng với ngũ hành, hài hòa âmdương. Việc phối hợp 5 loại ngũ cốc này làm cho cơm ngũ cốc có mùi vị rất ngon : vị ngọt của gạo, vị bùi của đậu, … hòa quyện cùng nhau. Họ thường dùng cơm ngũcốc để cúng trời đất, trừ tà ma, tránh những rủi ro đáng tiếc. Cơm đậu : Loại cơm này chỉ nấu chung gạo với đậu đỏ hay đậuđen. Nó hoàn toàn có thể dùng hàng ngày thay cơm thường. Nhưng trong ngày sinh nhật, người Hàn dùng cơm đậu đỏ để cầu điều như mong muốn, sự an lành trong đời sống. Cơm mầm đậu ( kongnamulbab ) : đây là món cơm với đậu – mộtloại lương thực vô cùng phong phú và đa dạng và đầy dinh dưỡng. Là món ăn truyền thống cuội nguồn, cách chế biến khá đơn thuần, chỉ cần ủ đậu thành mầm, xào với thịt bò rồi trộn vớicơm nên được người Hàn ưa thích và dùng hàng ngày. Cơm quấn : người Hàn dùng lá rau diếp quấn cơm, rai cải, thịt rồiăn. Đôi khi họ còn cho thêm cá nhằm mục đích tăng thêm vị ngon ngọt cho món ăn. Ngoàilá rau diếp, những loại như lá bắp cải, lá vừng, lá bí luộc hay rong biển cũng đượcdùng để gói món này. Cơm cuộn rong biển ( kimbab ) : đây là món ăn lấy lá rong biểnquấn với cơm, trứng, rau cải, cá rốt và thịt. Là món ăn nhẹ, phổ cập nên thườngđược dùng cho bữa trưa hay buổi cắm trại ngoài trời. Cơm trộn ( bibimbab ) : món này xuất phát ở phía Tây nam tỉnhCholla của Hàn Quốc – là một món phổ cập, đơn thuần, chỉ cần cho những loại rau, trứng, thịt, được cắt thành sợi nhỏ và dài, đôi lúc cho thêm trái cây như lê, táo. Sauđó, sắp xếp chúng lại thành từng phần, tỏa ra từ TT lên bát cơm, rối phủ lêntrên cùng thịt bò nghiền cùng trứng. Khi ăn, trộn đều mọi thứ, hoàn toàn có thể cho thêm mộtít tương ớt, tiêu đỏ và dầu mè để tăng thêm mùi vị cho món cơm. Cái hay củamón này là ở chỗ những loại rau hoàn toàn có thể được thay thế sửa chữa bằng dưa chuột, cà rốt, củ cảiHàn Quốc, nấm và bất kỳ thứ gì hoàn toàn có thể thêm vào món này. Cơm kimchi trộn : mỗi một mái ấm gia đình ở Hàn Quốc luôn có sẵnkimchi cho những bữa cơm mái ấm gia đình. Tuy nhiên, kimchi để lâu sẽ bị chua nên những bàcác cô tận dụng tạo ra sự món cơm trộn với kimchi. Kimchi được rửa rồi chiên vớimột ít thịt, rau cải, sau đó thì trộn với cơm. Món này rất được ưa thích vào mùaĐông. b. Canh : Người dân Hàn Quốc còn dùng những loại ngũ cốc để làm ra móncanh, đó là món ăn có nước duy nhất trong bữa cơm. Canh là một loại thức ăn kháquan trọng và không hề thiếu trên bàn ăn. Canh có nhiều nước dùng và thànhphần chính là thịt, rau, cá, rong biển, đậu phụ, giá đậu, xương hay lòng bò, lòngheo … Các món canh phổ cập : Canh gạo nếp ( ttokguk ) : Món này làm từ gạo nếp. Gạo nếp saukhi được nấu chín, tán thật nhuyễn rồi nhào thành một cuộn dài, xắt ra, vo trònnhư đồng xu tiền, nấu chung với thịt gà, thịt heo cùng hạt thông, hạt dẻ và cho thêmhành vào khi ăn. Món ăn này thường được người Hàn Quốc ăn vào đầu năm mớiđể cầu mong sống lâu khỏe mạnh, không bệnh tật. Canh màn thầu ( mantuguk ) : là loại canh làm từ lúa mì. Người tanhào bột mì thành hình tròn trụ giống bánh kẹp, cho vào đậu phụ, thịt băm, kimchi xắtnhỏ với mầm đậu rồi nặn thành hình lưỡi liềm. Sau đó nấu chung với thịt bò, ănchung với kimchi. Canh nếp mật ong ( yakbab ) hay canh nếp thơm ( yaksik ) : đượcnấu bằng gạo đã hấp chín trộn cùng quả thông, hạt dẻ, chà là, táo tàu, mật ong, dầumè và nước tương. Món này được dùng trong đợt nghỉ lễ tạ ơn. Canh đậu nành ( Toenjang Jikae ) : đây là món ăn chính hoặc mónphụ cùng với món canh thịt bò. Món này có nhiều rau, sò hến, đậu phụ, trai nhỏ, tôm, cá trống. c. Cháo : Cháo là một trong những món ăn được chế biến từ gạo. Buổisáng, người Hàn có thói quen ăn cháo cho dễ tiêu. Đôi khi người ta còn cho thêmcác loại đậu để tăng mùi vị và tính bổ dưỡng. Các món cháo thông dụng : Cháo đậu đỏ ( Patuk ) : là loại cháo nấu với đậu đỏ ăn vào mùaĐông với ý niệm trừ tà ma, mang lại điều tốt đẹp cho người ăn. Cháo bí đỏ : món này được ăn vào buổi sáng vì người Hàn tinmón này hoàn toàn có thể trừ được tà ma. Món này bổ dưỡng, gạo được nấu nhuyễn và bỏ bívào quấy nhuyễn, trộn đều, nêm gia vị cho vừa miệng. Cháo gà : cho tỏi và thịt gà vào cháo, đồng thời vớt bỏ mỡ nổitrên mặt cháo, nêm gia vị, bỏ hành lá vào là hoàn toàn có thể dùng được. Cháo bào ngư : loại cháo này được nấu với trứng, nước chấm, mèvà bỏ thêm những loại món ăn hải sản như tôm, cua, sò, bào ngư … d. Bánh : Bánh làm từ gạo và ngũ cốc có vị mặn, nhiều hơn vị ngọt, dùngđể cúng ông bà tổ tiên vào những dịp lễ. Bánh gạo hấp lá thông ( Songpyeon ) : bánh này được ăn vào lễtrung thu, làm từ bột gạo, đậu xanh, mè và đường. Sau khi xay nhuyễn bột, chomàu vào rồi nhào nặn cho dẻo, cho nhân đậu xanh hoặc mè vào, nắn hình bánnguyệt tượng trưng cho Mặt Trăng, hấp khoảng chừng 20 phút trên nồi nước lá thông. Bánh thuốc-bánh mật ong ( yakkwa ) : là một loại bánh ăn vào dịpTrung thu hay lễ Tết, vào lúc có việc vui lẫn khi có chuyện buồn. Bánh làm từ bộtmì, dầu mè, mật ong, rượu gạo, nước quế và gừng. Đổ bánh vào khuôn rồi đemnướng. Sau đó lấy ra, nhúng vào siro và rắc bột đậu lên trên. Bánh gạo hấp ( siruttok ) : bánh này làm bằng bột gạo nếp, rắc cácloại bột lên trên bánh. Vào ngày Hàn thực, người Hàn đặt bánh lên mộ tổ tiên vàthành kính triển khai những nghi lễ cúng bái. Bánh còn được làm biếu cho hàng xómvào ngày thứ 100 của em bé mới sinh hay vào ngày cưới. 1.1.2. 1.2 Các món ăn từ rau củ : a. Kimchi : Nhắc đến siêu thị nhà hàng Hàn Quốc, người ta không hề khôngnhắc đến kimchi. Đây là món ăn nổi tiếng nhất của quốc gia này. Kimchi có vịchua chua, cay nồng. Trong bữa ăn của người Hàn thấy 3 món không hề thiếu làcơm, canh và kimchi. Kimchi là những món rau củ ngâm muối có màu đỏ và vị chuacay rất đặc trưng. Cho đến nay đã có trên 200 loại kimchi, những loại kimchi khácnhau tùy theo loại nguyên, phụ liệu và gia vị được dùng. * Lịch sử kimchi : Món này có từ truyền kiếp, vào khoảng chừng thế kỉ thứ VII. Ban đầu, kimchichỉ là những loại rau củ được ngâm vào nước muối để dữ gìn và bảo vệ qua mùa đông cànglâu càng tốt và chưa có loại gia vị nào được thêm vào. Vào thời kì đó ớt chưa xuấthiện trên bán đảo Triều Tiên nên kimchi chưa có màu đỏ và vị cay. Và tên gọi “ kimchi ” cũng chưa sinh ra. Có giả thuyết cho rằng : từ “ kimchi ” được xuất phát từchữ “ chimchae ”, nghĩa là rau muống, rồi sau đó được đọc trại dần thành “ dimchae ”, “ kimchae ”, rồi sau cuối là “ kimchi ”. Vào thời Koryo, có hai món kimchi nổi tiếng là Mujanggajji-củ cảingâm tương và Musogeumjeori-củ cải ngâm muối. Kimchi mở màn được xem làmột món ăn ngon để dùng quanh năm, đồng thời là món ăn dự trữ vào mùa Đông. Gia vị vào thời này đã tăng trưởng đa dạng chủng loại hơn do nhiều loại gia vị được du nhậptừ Nhật bản. Việc sử dụng hạt tiêu và gừng Nhật Bản vào làm kimchi đã tạo vị caycho món ăn này. Đến thời Choson, kimchi đã có nhiều bước tăng trưởng đáng kể. Cảibắp Trung Quốc vào bán dảo Triều Tiên vào thời này đã được sử dụng để làmkimchi. Đây là loại nguyên vật liệu rất thích hợp để làm kimchi do nó có độ săn chắcvà có nhiều lớp nên hoàn toàn có thể nhồi được nhiều phụ liệu hơn. Đến đầu thế kỉ XVII, câyớt cũng đã Open trên bán đảo Triều Tiên do sự xâm lược của Nhật Bản tại đâyvào năm 1592. Tuy nhiên, phải mất khoảng chừng 200 năm sau thì ớt mới được đưa vàolàm thành phần của món kimchi. Từ đó, kimchi khởi đầu có màu đỏ như ngày này. Việc dùng ớt trong làm kimchi đã dẫn đến sự sinh ra của nhiều loại kimchi mới. Người Hàn khởi đầu đưa những loại mắm món ăn hải sản vào kimchi để tạo thêm hương vịđậm đà, đồng thời nhờ có ớt nên mùi tanh hôi bị át đi, tạo thành món ăn ngon. Kimchi rất được yêu thích trong thời Choson, không riêng gì trong giới tầm trung màngay cả trong giới quý tộc. Có 3 loại kimchi luôn được đặt trên bàn ăn làJeotgukji, Songsongi ( còn gọi là Kkadugi ) và Dongchimi. Các món kimchi nàykhông được phổ cập thoáng đãng do nguyên vật liệu khá đắt tiền nên đa phần chỉ đượcdùng để Giao hàng cho hoàng tộc hoặc những mái ấm gia đình khá giả. Ngày nay, kimchi đã tăng trưởng rất là nhiều mẫu mã và phong phú. Ngoài những loại kimchi truyền thống lịch sử, kimchi đã được tích hợp với những món ăn hiệnđại để tạo thành nhiều loại món ăn mới như sandwich kimchi, hamburger kimchi, pizza kimchi … Kimchi đã trở nên thông dụng không chỉ tại Hàn Quốc mà còn tạinước ngoài. Những người Hàn Quốc ở hải ngoại chính là những người tiên phong đãgiới thiệu kimchi ra quốc tế. Ở bất kỳ nơi nào có người Hàn sinh sống đều cóthể thuận tiện tìm thấy kimchi. Cho đến nay kimchi đã trở thành món ăn toàn thế giới, việc xuất khẩu kimchi đang tăng trưởng nhanh gọn. Một khi đời sống được nângcao, con người thời nay không chỉ nghĩ đến việc ăn cho no nữa, việc siêu thị nhà hàng phảicó văn hóa, tính đến vị ngon và có lợi cho sức khỏe thể chất. Theo nhìn nhận của những chuyêngia dinh dưỡng, ăn rau nhiều lại tốt hơn chỉ ăn thịt nhiều nên kimchi đa phần đượclàm từ rau, tuy hàm lượng calo thấp nhưng nhiều chất xơ giúp nội tạng hoạt độngtốt, giảm lượng cholesterol ngăn ngừa bệnh béo phì, tiểu đường và thậm chí còn là ungthư dạ dày. Với mùi vị cay nồng đặc trưng, kimchi kích thích ăn ngon. Bên cạnhđó, trong quy trình lên chua vi trùng lastic, đã tăng sức đề kháng cho khung hình. Từ khi Open ở quốc gia Hàn Quốc, kimchi đã trở thành mộtnét đặc trưng văn hóa của Hàn Quốc và góp thêm phần tiếp thị hình ảnh của đất nướcnày ra quốc tế. * Quá trình làm kimchiTừ thời Choson, việc sẵn sàng chuẩn bị kimchi cho mùa đông đã là một sựkiện lớn của những mái ấm gia đình. Mùa làm kimchi được gọi là mùa Kimjang. MùaKimjang thường mở màn vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 và lê dài trongkhoảng 2 đến 3 ngày. Tùy theo số người trong mái ấm gia đình mà người ta chuẩn bịkhoảng từ 100 – 200 bắp cải. Để chế biến hết số bắp cải đó cần có sự giúp sức củanhiều người. Do đó, mỗi khi có một mái ấm gia đình làm Kimjang thì họ hàng và những nhàhàng xóm sẽ đến giúp. Việc này tạo nên tình cảm hàng xóm thân thiện giữa những giađình Hàn Quốc truyền thống cuội nguồn, đồng thời biểu lộ tính hội đồng trong văn hóa củangười Hàn. Cải bắp làm kimchi thứ nhất sẽ được rửa sạch rồi đem ngâm vàonước muối trong khoảng chừng 6-8 giờ. Sau đó, cải bắp được lấy ra, để ráo nước và nhồihỗn hợp gồm mắm cá, ớt, gừng, hành, tỏi vào giữa những lớp lá của bắp cải. Sau khichuẩn bị xong, kimchi được lèn chặt vào những vại sành rất to. Loại vại sành để đựngkimchi được nung bằng lửa với giải pháp oxy hóa, thế cho nên thường bền, chắc, khó vỡ hơn những loại hũ sành sứ thông thường khác. Hình dáng của chúng cũng khácnhau tùy vào mỗi vùng. Ở miền Bắc, vại sành thường thấp, nhỏ, phình rộng ở giữanhưng thu hẹp ở miệng và đáy. Ở miền Trung, vại sành thường lớn hơn, miệng vạirộng để đón nắng mặt trời. Còn ở miền Nam, vại sành thường có size lớnhơn, bởi kimchi cần được dữ gìn và bảo vệ qua một mùa đông dài hơn. Các vại sành nàythường được đặt ở trong nhà bếp, ở sân trước hay sân sau, và thường được kê trên mộtlớp đá. Ở miền quê, khi nhiệt độ hạ thấp thì người ta thường chôn những vại sành nàyxuống đất để kimchi không bị ngừng hoạt động. Sau khi để khoảng chừng 2 tuần thì có thểdùng được. Ngày nay, mùa Kimjang đã không còn thông dụng bởi nhiều lí do. Trước hết, vì người ta không còn cần phải làm kimchi để dự trữ qua mùa đông. Thêm vào đó, đời sống công nghiệp văn minh khiến người Hàn Quốc không thểdành nhiều thời hạn để làm một lượng lớn kimchi như thời xưa. Ngoài ra còn dođa số người Hàn thời nay sống trong những nhà ở căn hộ cao cấp nên không có sân vànhiều khoảng trống để đặt những vại kimchi. Ở thành thị, người ta thường muakimchi làm sẵn hoặc làm với số lượng ít rồi để trong tủ lạnh. Chính vì những lí dođó nên hình ảnh mọi người tụ họp lại để làm kimchi và hình ảnh những vại kimchiđã thu hẹp dần, chỉ còn phát hiện ở những vùng nông thôn. * Các loại kimchi : Cho đến nay đã có trên 200 loại kimchi. Các loại kimchi khác nhautheo từng vùng và từng mùa. Kimchi ở mỗi vùng có mùi vị, đặc trưng riêng. Ởmiền Nam, dân cư có khuynh hướng dùng nhiều muối và món ăn hải sản hơn do đây là vùnggần biển, nên kimchi có vị nồng và ngọt hơn. Trong khi đó thì những loại kimchi ởmiền Bắc lại ít mặn và có vị nhẹ hơn. Người ta còn làm và ăn những loại kimchi khác nhau tùy theo từngmùa và điều kiện kèm theo thời tiết. Vào mùa xuân, hạ và thu thì kimchi được làm với sốlượng ít và được ăn ngay. Riêng vào mùa đông thì kimchi được làm nhiều để dựtrữ, thời hạn ngâm cũng lâu hơn. * Một số loại kimchi tiêu biểu vượt trội : Kimchi cải thảo ( baechu kimchi ) hay kimchi cải bắp ( tongbaechukimchi ) : Đây là loại kimchi thông dụng nhất. Món này thường làm để dự trữ trongsuốt mùa đông. Bắp cải xẻ làm đôi hoặc làm 4 rồi ngâm vào nước muối trongkhoảng 3-4 giờ cho đến khi mềm ra, vớt ra để ráo rồi phơi nắng 15 đến 20 phút. Các nguyên phụ liệu gồm bột ớt, gừng, tỏi, hành xanh lột trần, cải xoong, củ cải, lámù tạt, tôm hoặc những loại món ăn hải sản khác như cá, sò, rong biển sẽ được trộn với muốiđường, nước cá hay nước sò thành hỗn hợp để nhồi. Rồi cho hỗn hợp này vào từnglá cải thảo, quấn lại bỏ vào những lọ sành ép chặt lại, khoảng chừng 2-3 ngày sau là có thểăn được. Món kimchi này dùng được với tổng thể những loại thức ăn. Đối với kimchicải thảo thường thì thì bắp cải sau khi ngâm xong sẽ được cắt nhỏ để trộnchung với nguyên vật liệu. Còn so với kimchi cải bắp nguyên cây ( tongbaechukimchi ) thì những nguyên vật liệu sẽ được nhồi và giữa những lớp lá hoặc phết xung quanhbắp cải. Baek kimchi : Baek kimchi xuất phát từ miền Bắc nơi người ta ítdùng muối và tiêu, ớt sợi đỏ thay cho tiêu đỏ nên ít mặn và cay hơn. Gia vị gồmgừng, tỏi và ớt thái sợi thay cho ớt bột. Ngyên liệu khá phong phú tùy theo khẩu vịcủa từng người gồm có : củ cải, nấm, đậu, lê, hạt dẻ, cải xoong xanh và lá mù tạt. Sau cùng bỏ muối vào trước khi ủ cất. Món kimchi này được cho là niềm tự hàocủa người Hàn Quốc về món ăn truyền thống cuội nguồn của ông bà tổ tiên. Củ cải ngâm muối ( Dongchimi ) : Không giống những loại kimchikhác, Dongchimi là loại kimchi có rất nhiều nước. những nguyên vật liệu như củ cải, ớtxanh, lê sẽ được đem ngâm nước muối cùng với là mù tạt và hành cho mềm. Sauđó cho những nguyên vật liệu này vào lọ rồi đổ nước muối cho ngập hết hàng loạt. Móndongchimi không chua và cay lắm, thêm vào đó còn có vị thah ngọt của lê nên rấtngon. Kimchi củ cải đỏ ( nabak kimchi ) : Đây cũng là một loại kimchinướcc. Trong quá khứ, món kimchi này thường được dùng vào mùa xuân nhưngngày nay hoàn toàn có thể được dùng quanh năm. Món kimchi này được nhìn nhận cao nhất, thường dùng trong những dịp lễ. Nhìn vẻ bên ngoài trông rất sang trọng và quý phái do được trình bàykhéo léo, công phu, nó được cắt tỉa ngăn nắp theo từng thỏi hình vuông vắn rồi thêmcác nguyên vật liệu như cải bắp, hành xanh, cải xoong, ớt, tỏi, gừng để tạo cho nabakkimchi nhiều sắc tố. Đối với món kimchi này thì càng ít cay càng ngon. Nabakkimchi có đặc trưng giòn, cứng nên được những người nhỏ tuổi khá yêu quý. Kimchi dưa leo ( o-i kimchi ) : Đây là món kimchi rất phổ cập vàomàu xuân và mùa hè. Món này rất dễ làm, tương đối rẻ mà lại mát, rất thích họpcho những ngày nóng. Dưa leo ướp trong nước muối từ 1-2 tuần rồi trộn với củ cảixắt sợi dài, hoàn toàn có thể bỏ thêm cải thảo, tỏi và nước sốt giấm đường, để khoảng chừng 3 tuầntrước khi dùng. Không nên ngâm món kimchi này quá lâu vì dưa leo rất dễ bị chuavà mất độ giòn. Kimchi nhân sâm ( susam nabak kimchi ) : Hàn Quốc nổi tiếng vớinguồn nhân sâm dồi dào nên thời nay nhân sâm còn được dùng trong việc làmthức ăn hằng ngày. Món kimchi nhân sâm yên cầu phải chọn những củ nhân sâmnon, rễ được cắt nhỏ cùng cà rốt, củ cải đỏ và dưa leo ngâm nước kimchi làm bằngmuối, giấm, đường ; để khoảng chừng 2-3 ngày rồi ăn. Món này bổ dưỡng cho những cụ già, người lớn tuổi. Kimchi hẹ ( buchu kimchi ) : Chế biến lá hẹ có sẵn trong mùa hè, kếthợp với nước cá, tỏi và gừng. Dùng trong những ngày hè oi ả. * Tác dụng của kimchi : Tác dụng kháng khuẩn : do có axit lactic sản sinh trong quá trìnhlên men nên kimchi có tính kháng sinh cao và ngăn ngừa sự tăng trưởng những vi khuẩncó hại. Axit lactic làm kimchi chua đồng thời cũng có tính năng ngưng trệ sự lênmen quá mức tránh làm cho kimchi quá chua. Tác dụng của chất xơ trong bắp cải : ngăn ngừa chứng táo bón vàcác bệnh viêm đường ruột. Tác dụng của axit lactic : những nguyên vật liệu đa phần dùng chế biếnkimchi thường chứa nhiều nước và ít đạm. Khuẩn sữa có trong kimchi ngăn chặnsự tăng trưởng vi trùng có hại kích thích bài tiết pepsin, thôi thúc quy trình tiêu hóađạm trải qua việc phân chia vi trùng trong những cơ quan nội tạng. Kimchi đại diệncho nhóm thực phẩm lên men giúp hệ tiêu hóa khử vi trùng có hại, làm giảm năngsuất trong khung hình. Kimchi ngon và chứa nhiều vitamin C nhất khi đạt độ pH 4.64.2 và tỉ lệ axit 0.6 – 0.8. Tác dụng chống axit nhiễm độc : kimchi là một thực phẩm cungcấp kiềm giúp ngăn ngừa sự nhiễm độc axit sinh ra từ phản ứng axit hóa máu khiăn nhiều thịt và thực phẩm chứa nhiều axit. Tác dụng ngừa bệnh : axit lactic có công dụng ngăn ngừa 1 số ít bệnhnhư béo phì, tiểu đường và ung thư đường ruột. Tác dụng chống axit hóa và chống lão hóa : kimchi có tác dụngngăn chứng xơ cứng động mạch rất tốt vì nó làm giảm Cholesterol trong máu vàphân hóa Fibrin làm giảm mỡ trong gan, chống axit hóa nhờ những thành phần hoạttính như vitamin C, hợp chất Phenola … và ngăn ngừa lão hóa, đặc biệt quan trọng ở da. Tác dụng trao đổi chất của những gia vị có trong kimchi : ớt bột là giavị chính của kimchi, chứa nhiều vitamin A và C kích thích cơ quan tiêu hóa bài tiếtdịch dạ dày và có công dụng chống axit hóa. Skorizinin trong tỏi có tính năng làmtăng sức đề kháng. Gừng có tính năng kích thích ăn và tuần hoàn máu. b. Rong biển : Là một loại rau sống dưới biển trong điều kiện kèm theo yếm khí, không cóánh sánh mặt trời. Rong biển mọc, tăng trưởng nhiều ở những vùng ven biển. Rong biểnrất bổ dưỡng cho khung hình. Đây là nguồn thực vật đa dạng và phong phú mà vạn vật thiên nhiên ban tặngcho người dân Hàn Quốc để chế biến thành nhiều món ăn ngon, có lợi cho sứckhỏe và không hề thiếu trong những bữa ăn hằng ngày, dịp nghỉ lễ. Ngày nay, người Hàn Quốc cấy trồng rong biển trong những lưới trehay plastic để dọc theo bờ biển nhằm mục đích tăng lượng rong biển cung ứng cho thịtrường. Sau khi thu hoạch, do mọc và tăng trưởng ở nhiều vị trí khác nhau nên rongcó nhiều loại phong phú và phong phú và đa dạng vô cùng, chúng được phơi khô, phân loại rồiđể cất trữ hay đưa ra thị trường kinh doanh. Rong biển thu hoạch vào mùa đôngđược cho là có vị rất ngon. Các loại rong biển thông dụng nhất là : tảo bẹ biển, tảomía, lá kim và lá mù tạt biển. Nếu biển không bị ô nhiễm thì rong biển và những thực vật ănđược lấy từ biển là nguồn rau sạch bổ trợ vào nguồn thực phẩm hằng ngày, làmphong phú, phong phú thêm những món ăn mái ấm gia đình, phân phối lượng dinh dưỡng cầnthiết cho khung hình. Từ rong biển người Hàn Quốc đã làm nên rất nhiều món ăn bổdưỡng, ngon miệng góp thêm phần vào văn hóa nhà hàng của dân tộc bản địa. * Các món ăn làm từ rong biển thông dụng : Canh rong biển ( miyeokkuk ) : món này có nguồn gốc từ rất truyền kiếp, dễ nấu và hoàn toàn có thể ăn bất kể khi nào. Là món ăn bổ dưỡng và giúp phục sinh sức khỏenhanh nên được những sản phụ dùng trước và sau khi sanh con. Nó gắn liền với quanniệm cho rằng : trong canh rong biển có chất nhớt nên ăn nó trước khi sinh nở sẽgiúp việc sinh nở trở nên thuận tiện hơn. Và vào ngày sinh nhật thì người đó sẽ ăncanh rong biển do cha mẹ nấu nếu còn sống chung với cha mẹ, khi đã lập gia đìnhthì chồng nấu cho vợ hay vợ nấu cho chồng. Ăn món canh này vào lúc đó là đểtưởng nhớ đến công sinh thành của người mẹ lúc sinh nở. Để làm món canh này, ninh lá mù tạt biển với thịt bò xay nhuyễn, hạt mè, tỏi và nước tương. Kimkui : Loại tảo này được ướp với dầu, để nướng ăn trong cácbữa ăn hoặc những dịp lễ, nó được dùng như một loại bánh tráng, cũng được dùnglàm kimpap. Tảo bẹ xào ( tasima Twim ) : Đây là loại tảo bẹ có nhiều ở vùng venbiển, loại này được luộc trước khi xào với thịt, rắc thêm chút đường vào ăn nhưmột món nhắm với đồ uống rất được người Hàn Quốc yêu thích. 1.1.2. 1.3 Rau củ, giá đỗ : Ngoài kim chi và rong biển vốn là đặc trưng trong thực phẩm vềrau, người Hàn Quốc còn dùng những loại rau khác để đa dạng hóa những món ăncủa mình đồng thời phân phối chất dinh dưỡng cho khung hình. Đó là những loại rau xanhluộc tái, xào hoặc tẩm, trộn gia vị như dưa chuột muối, rau sống trộn … Đó là cácloại đậu vốn thấy Open tiếp tục trong những món cơm, canh, cháo, bánhcủa họ. Từ đậu người Hàn Quốc còn làm ra những loại giá để trộn gỏi hoặc nấu lẩu. * Các món rau thông dụng : Rau cải xào ( yachae twim ) : Đây là món đơn thuần và dễ ăn. Tùytheo mùa mà món cải xào cũng có sự độc lạ. Các nguyên vật liệu gồm có củ sen, lá hoa cúc, tiêu xanh, hành lá, cà chua, và gừng được xào chung rồi bỏ vào dĩa cólót giấy thấm để giảm bớt lượng dầu mỡ. Giá đậu xanh ( Sukju Namul ) : Đây là món ăn có cách chế biến đơngiản. Hạt đậu xanh hoặc đậu nành ngâm nước rồi bỏ vào hủ, bọc lại cho có đủ độẩm. Sau 2-3 ngày chúng sẽ mọc thành cọng giá to mọng. Ngày nay, người Hànthường mua giá ở những chợ hoặc ẩm thực ăn uống rồi rửa sạch, tỉa cắt, đem luộc rồi cho giavị muối, hành, tỏi vào. Món này có tính mát và bổ dưỡng. Củ cải trộn : củ cải trắng ngoài việc để làm kimchi, hoàn toàn có thể đượcdùng để chế biến những món lẩu, món trộn rất lạ miệng. Món này thường được dọnăn cùng những món nướng. 1.1.2. 1.4 Các món ăn từ thủy hải sản : Thủy hải sản cũng là một phần không hề thiếu trong cơ cấu tổ chức bữa ăncủa người Hàn. Với ba mặt giáp biển và ngoài khơi lại có dòng hải lưu lạnh đi quamang đến cho Hàn Quốc một nguồn thủy hải sản dồi dào, ship hàng nhu yếu ăn uốnghằng ngày. Vì vậy trên bàn ăn của người Hàn Quốc luôn có tôm, mực, cá, ghẹ …. Cá chiên : Cá được tẩm bột và trứng rồi chiên trong dầu sôi. Trongngày lễ người ta cho thêm nấm, cà rốt. Ngoài ra còn có món cá thu chiên nhúnghỗn hợp bột cari, bột mì và có nước sốt kèm theo để chấm. Cá kho : Là món dễ ăn và đầy dinh dưỡng nên được yêu dấu. Cáđể kho có hai loại : cá lớn ngoài biển hoặc cá nhỏ ở vùng nước ngọt, sông, hồ, … Cáđược kho trong thời hạn ngắn rồi dùng đũa kéo xương ra. Nếu cá nhỏ thì nấumềm rồi nấu với nước tương. Cách này giúp giữ lại toàn vẹn mùi vị của cá. Cá nướng : Cá được ướp gia vị như muối, tiêu đỏ, nước tương, … rồi đem đi nướng. Món này rất được ưa thích. Chả cá nướng : Thịt cá được nạo ra, ướp gia vị, sau đó xỏ thịt cávào cây kim bằng sắt kẽm kim loại hoặc bằng gỗ rồi đem nướng. Sò, tôm nướng : sò, tôm rửa sạch rồi nướng. Khi ăn có nhiều nướcchấm kèm theo. Ngoài ra, sò, tôm còn làm nguyên vật liệu cho những món chiên cungcấp nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu cho khung hình. 1.1.2. 1.5 Các món ăn từ thịt : Điều kiện tự nhiên hầu hết là đồi núi, không nhiều đồng cỏ để phụcvụ cho chăn nuôi nên thịt ít Open trong bữa cơm thường thì của ngườiHàn. Tuy nhiên, không cho nên vì thế mà món ăn từ thịt không đa dạng chủng loại, người Hàn córất nhiều món ăn từ thịt. Thịt bò, thị gà, thịt heo và thịt chó là những loại thịt đượcngười Hàn sử dụng. Trước đây thịt chó chỉ dùng cho vua chúa nhưng về sau đượcdùng thông dụng hơn và được dùng vào mùa hè. a. Thịt nướng : Có món thịt bò nướng và món thịt heo nướng. Trong phươngpháp chế biến, món thịt nướng được nhìn nhận là có cách chế biến đầy phát minh sáng tạo. Đểchế biến người ta sử dụng một loại tương đặc biệt quan trọng của Hàn Quốc để làm cho mónăn vừa đậm đà vừa làm tăng mùi vị ngọt ngào của thịt là đặc thù lớn nhất. Món thịt bò nướng có rất ít mỡ, chỗ sườn và sống lưng là chỗ thịt mềm được sử dụngnhiều nhất. Món thịt nướng này hoàn toàn có thể được cuộn chung với rau sống để ăn. b. Mộc tồn ( thịt chó ) : Ăn thịt chó là nét văn hóa ẩm thực ăn uống của người hàn Quốc. Theoquan niệm của họ, thịt chó có công dụng giải nhiệt trong mùa hè, giúp khung hình tăngsức đề kháng với những loại bệnh dịch. Sự phổ cập của món này một phần do người Hàn Quốc rất quantâm đến sức khỏe thể chất mà thịt cho là một món bổ dưỡng. Niềm tin này cũng bắt nguồntừ Trung Quốc. Do ý thức về vị trí duy nhất của người đàn ông trong xã hội HànQuốc nên phần đông những người chiêm ngưỡng và thưởng thức thịt chó là đàn ông và tương truyềnmón này có tính năng đặc biệt quan trọng so với việc tăng cường sinh lực cho người đàn ôngtrong việc chăn gối. Theo một trong những quyển sách của Hải Thượng Lãn Ông ông tổ của y học phương Đông để lại : thịt chó được coi là một vị thuốc quý, có tácdụng tốt so với lục phủ ngũ tạng, thôi thúc tuần hoàn máu, tăng cường khả năngsinh lý của phái mạnh …. Nhiều người cho rằng việc ăn thịt chó khởi đầu từ thời kỳ chiếntranh Triều Tiên, khi nạn đói tràn ngập, người Hàn Quốc giết chó ăn thịt để chốngđói, từ từ thịt chó trở thành món ăn quen thuộc và khi cuộc chiến tranh kết thúc thóiquen ăn thịt ngày càng trở nên phổ cập và trở thành đặc sản nổi tiếng. Thịt chó thườngđược chế biến hành món súp gọi là Boshintang. Người Hàn Quốc phân biệt rất rõ giữa chó cảnh và chó thịt. Người Hàn không khi nào ăn thịt chó cảnh. Chó thịt được nuôi trong những trại nhưnuôi gà, bò, lợn, … c. Các món ăn làm từ thịt thông dụng khác : Sinseollo : Không có bữa tiệc nào mà người Hàn không có mónnày. Đây là một món ăn truyền thống cuội nguồn, thường dùng trong những dịp lễ hay ngày nghỉ. Món này giống món lẩu của Nước Ta. Nguyên liệu gồm : bao tử bò, gan bò, thịtbò thăn, ốc, đậu hủ, … và nhiều loại rau : củ cải, cà rốt, cải xoong, … Samgyetang : Là một món ăn vào mùa hè. Món này làm từ gàmái, nhân sâm, cơm nấp, táo tàu, tỏi, hạt dẻ, … Seolleongtang : Canh xương bò đun, mì trắng, thịt bò, hành xanh, tiêu đen, … Sudubu jigae : Món hầm cay và đặc, làm từ đậu hủ mềm. 1.1.2. 1.6 Gia vị : Một trong những yếu tố quan trọng để làm cho món ăn trở nênngon đó chính là gia vị và người Hàn dùng rất nhiều loại gia vị để thêm vào cácmón ăn. Muối, nước tương, đậu tương, tương ớt, giấm, đường, … là những gia vị cơbản được dùng trong chế biến món Hàn. Về hương liệu có : gừng, mù tạt, tiêu, dầumè, dầu tía tô, mè, hành, tỏi, … Một món ăn Hàn thường được chế biến với nămhoặc sáu loại gia vị khác nhau, tạo nên mùi vị độc lạ. Đặc trưng lớn nhất của nhà hàng siêu thị Hàn Quốc là thực phẩm lên men. Tương là thực phẩm lên men là từ đậu nành. Ba loại gia vị quan trọng nhất ở HànQuốc là Ganjang, Dwenjang và Gochujang. Đây là những loại tương truyền thống tạonên mùi vị đặc trưng cho món ăn Hàn Quốc. Người Hàn Quốc thường làm tương ở nhà bằng cách luộc chínhạt đậu vàng rồi phơi trong bóng râm, bỏ vào ngâm trong vại chứa nước muối vàđể lên men dưới nánh nắng mặt trời. Tuy nhiên, đời sống thời nay rất bận rộn nên rất ít mái ấm gia đình còngiữ truyền thống cuội nguồn làm tương, hầu hết là mua tương ở siêu thị nhà hàng. * Các loại tương : Dwenjang ( đậu tương ) : là loại tương làm từ đậu nành lên men, dùng để làm nước chấm khi ăn những món cuốn. Dwenjang có ý nghĩa quan trọng ở Hàn Quốc. Nó không chỉ làmột loại gia vị không hề thiếu trong những bữa ăn, mà còn biểu lộ những tính cách đặctrưng của người Hàn. Dwenjang được cho là có năm đức tín ( ngũ đức ) sau :

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập