skkn thực trạng và giải pháp tư vấn tâm lý học đường cho học sinh lớp 8 của – Tài liệu text
skkn thực trạng và giải pháp tư vấn tâm lý học đường cho học sinh lớp 8 của trường trung học cơ sở phú ngãi, ba tri
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (159.99 KB, 14 trang )
Bạn đang đọc: skkn thực trạng và giải pháp tư vấn tâm lý học đường cho học sinh lớp 8 của – Tài liệu text
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: …………………………………………….
1. Tên sáng kiến: “Thực trạng và giải pháp tư vấn tâm lý học đường cho học
sinh lớp 8 trường trung học cơ sở Phú Ngãi, Huyện Ba Tri năm học 2012-2013”.
2. Lĩnh vực áp dụng: Quản lý trường học.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1Tình trạng giải pháp đã biết:
Việc tư vấn tâm lý học sinh ở các trường trung học cơ sở là vấn đề thiết
yếu, vì ở lứa tuổi vị thành niên các em phải chịu những tác động rất lớn và
những biến đổi phức tạp về tâm sinh lý sức khỏe, về nhận thức nên các em
thường có những rắc rối, khó khăn về nội tại cơ thể do sự phát triển sinh lý cơ
thể và những thay đổi về nhận thức, tình cảm và những tâm sự riêng tư rất phức
tạp của từng cá nhân học sinh trong mối quan hệ với bạn bè, thầy cô, cha mẹ,
ông bà và mọi người xung quanh bởi các em bước đầu phát triển về nhận thức
và tình cảm ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào cá nhân và hoàn cảnh của
mỗi em. Trước đây, việc tư vấn tâm lý học sinh chưa được đặt ra và quan tâm
đúng mức nên đã ảnh hưởng xấu đến việc học tập, nhận thức, tình cảm… ngay
cả tính mạng của học sinh khi các em bị mất niềm tin hay nhận thức sai lệch,
hoặc suy nghĩ thiếu chính chắn; các em đã đánh mất cả tương lai, cuộc đời như
là chán nản, trầm cảm, tự ý bỏ học, bi quan, mặc cảm, thậm chí có trường hợp tự
tử khi các em gặp khó khăn mà không được tư vấn, giúp đỡ, động viên, chia sẻ
kịp thời, đúng lúc. Các vấn đề đáng tiếc nêu trên đã xảy ra rất phổ biến ở lứa
tuổi học sinh với những hậu quả tiêu cực đã làm cho các người làm công tác
quản lý giáo dục, giáo viên, cán bộ, nhân viên của trường mất nhiều thời gian,
công sức và nhức nhói. Hiện nay, việc tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên,
nhân viên của trường về “ Công tác tư vấn tâm lý học đường” được Bộ Giáo dục
và Đào tạo đặt ra đáp ứng được yêu cầu thực tế, khách quan xã hội hiện nay với
2
sự bùng nổ thông tin như vũ bão và tác động rất lớn của phim ảnh đến học sinh,
đã thể hiện sự quan tâm đúng mức về giáo dục học sinh một cách toàn diện cả
đức lẫn tài, ở mức độ cao nhất. Vì vậy việc tư vấn tâm lý học sinh là một giải
pháp đã đem lại hiệu quả giáo dục tốt nhất và có giá trị thực tiễn rất lớn đã góp
phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Nhất là qua việc điều tra
khảo sát toàn bộ học sinh ở các mặt: Tình cảm, nhận thức, hoàn cảnh gia đình đã
giúp chúng tôi phát hiện được những “ Tình huống có vấn đề” thật bất ngờ mà
không bao giờ tôi nghĩ đến như: Học sinh không muốn tiền rời khỏi túi để đóng
quỹ đội; không tán thành nội dung và phương pháp của việc chào cờ trường,
sinh hoạt lớp. Tại sao phải học tiếng Anh và học để làm gì? Tại sao phải thi nếu
không thi thì sao? Có em còn mặc cảm và bi quan, tại em ngu hay sao mà em
càng cố gắng học thì kết quả càng tụt xuống hoặc có một số em do hoàn cảnh
gia đình, cha mẹ ly hôn phải ở với ông bà nội, ngoại các em thiếu thốn cả vật
chất lẫn tinh thần; hoặc có một số em ông bà, cha mẹ giáo dục bằng đòn roi,
chửi mắng với những lời nói nặng nề, khó nghe, phản giáo dục làm các em bi
quan và oán hận. Do đó, qua việc khảo sát, điều tra tổng thể từng khối lớp học
sinh, chúng tôi đã thu nhận được những thông tin cần thiết, quý báu từ phía học
sinh và đây là những vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp của cá nhân học sinh rất
cần được sự tư vấn, giúp đỡ, động viên từ phía chúng tôi mà trước đây những
tâm sự riêng tư của các em không bao giờ được dịp thố lộ và chúng tôi chưa bao
giờ được nắm bắt đầy đủ như vậy. Đậy cũng là những hạn chế, trước đây chúng
ta chưa đặt ra và coi trọng vấn đề “ Tư vấn tâm lý học đường” đúng tầm của nó,
giải pháp này là một trong những vấn đề trọng yếu quyết định đến chất lượng
giáo dục học sinh bởi lẽ “Day chữ là dạy người” nên việc đưa ra các giải pháp
sát đối tượng, phù hợp với thực tế sẽ mang lại hiệu quả giáo dục rất lớn.
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
– Mục đích của giải pháp:
+ Là thông qua việc khảo sát, điều tra, tìm hiểu và đánh giá thực trạng
những vấn đề khó khăn về tâm sinh lý, về sức khỏe, về nhận thức, về hoàn cảnh
3
gia đình và các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô, gia đình và xã hội của học sinh
khối 8 nhằm giúp chúng tôi tìm ra nguyên nhân để có giải pháp tư vấn hợp lý.
+ Tư vấn nhằm uốn nắn, chấn chỉnh kịp thời, đúng lúc những nhận thức sai
lệch, những suy nghĩ thiếu chính chắn và khắc phục những khó khăn về cá nhân
và hoàn cảnh gia đình của học sinh, góp phần ngăn chặn nguy cơ bỏ học và nâng
cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
– Bản chất của giải pháp: Là qua việc tư vấn, động viên, chia sẻ, giúp đỡ
đã góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục học sinh trung học cơ sở,
nhằm khắc phục được những khó khăn, giải quyết các vấn đề nan giải học sinh
khối 8 của trường trung học cơ sở.
– Điều cốt yếu trong việc cải tiến nầy: Là đã thực hiện việc khảo sát, điều
tra thực tế tổng thể học sinh khối 8 trong trường trung học cơ sở Phú Ngãi, về
các mặt tâm sinh lý sức khỏe, về nhận thức, về hoàn cảnh gia đình đã thu nhận
được những thông tin cần thiết, quý báu, sát với thực tiễn, giúp tôi phát hiện “
Các tình huống có vấn đề” làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp tư vấn hợp lý,
có hiệu quả nhằm giải quyết các vấn đề nan giải, khắc phục những khó khăn và
ngăn chặn nguy cơ bỏ học của học sinh đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu
quả giáo dục của nhà trường.
– Nôi dung sáng kiến:
+ Tính mới của giải pháp là: Qua khảo sát, điều tra thực tế, sáng kiến đã
phát hiện được “Các tình huống có vấn đề” tìm ra giải pháp hợp lý khắc phục
những khó khăn của học sinh khối lớp 8, về mặt nhận thức, về tâm sinh lý sức
khỏe, về hoàn cảnh gia đình và mối quan hệ với bạn bè, thầy cô, gia đình, xã hội
một cách phù hợp và có hiệu quả, góp phần chia sẻ, động viên, uốn nắn kịp thời
những nhận thức sai lệch, những suy nghĩ thiếu chính chắn cùng những rắc rói,
phức tạp về hoàn cảnh gia đình của học sinh do hậu quả của cha mẹ ly hôn hoặc
cách giáo dục bằng “la mắng” hay “đòn roi” gây phản cảm đối với các em. Đó
là nhiệm vụ hết sức quan trọng và thiết yếu của người làm công tác quản lý giáo
dục.
4
+ Việc thu nhận nguồn thông tin quí báu. sát đối tượng học sinh giúp
chúng tôi gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, hiểu và nắm chắc học
sinh một cách toàn diện, đã tư vấn giúp các em có thêm chỗ dựa tinh thần, có
niềm tin để phấn đấu vươn lên trong học tập và cuộc sống hàng ngày, ngăn chặn
nguy cơ bỏ học đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học
sinh so với những năm học trước.
+ Để công tác tư vấn tâm lý học sinh đạt hiệu quả, nhằm giải quyết các
vấn đề nan giải của các em về mặt nhận thức, về tâm sinh lý sức khỏe, về hoàn
cảnh gia đình và mối quan hệ với bạn bè, thầy cô, gia đình và xã hội. Qua kết
quả khảo sát và điều tra, dựa vào các tình huống có vấn đề, tôi phân ra làm 3
nhóm như: Nhóm tình cảm gia đình, nhóm tâm sinh lý sức khỏe và nhóm vấn đề
nhận thức để có giải pháp tư vấn hợp lý cho từng nhóm cụ thể (xem phụ lục 1):
1.1- Nhóm tình cảm gia đình
Đối với cách giáo dục bằng “đòn roi”, bằng “la mắng” với những lời nói
phản cảm vô hiệu quả giáo dục của phụ huynh học sinh và học sinh gánh chịu
hậu quả do cha mẹ ly hôn.
– Cần khéo léo, trao đổi với phụ huynh học sinh một cách tế nhị về cách
giáo dục con cái có hiệu quả nhất không phải bằng “đòn roi” hay bằng lời “la
mắng” mà chỉ dạy, khuyên răn nhỏ nhẹ dễ thuyết phục và cảm hóa các em hơn.
– Cần chia sẻ, động viên, giúp đỡ các em có cha mẹ ly hôn, sống với ông
bà nội ngoại, rèn luyện kỹ năng sống, biết sống tự lập, cố gắng học tập, vượt qua
mọi khó khăn về hoàn cảnh gia đình.
Với nhóm nầy, giáo viên dùng tình cảm, chia sẻ, động viên và tác động từ
hai phía: Học sinh và phụ huynh học sinh thì công tác tư vấn mới có hiệu quả.
1.2- Nhóm tâm sinh lý sức khỏe
– Đối với học sinh mặc cảm về vóc dáng và cận thị: Cần trao đổi, gợi mở
để các em không mặc cảm về vóc dáng và hình thức bên ngoài hay bị cận thị.
Hình thức bên ngoài không quyết định giá trị con người “Cái áo không làm được
thầy tu”, “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”.
5
– Đối với học sinh bị áp lực tâm lý, thấy mệt, bồn chồn, không vui, chán
nản sợ thi không đỗ đạt lúc nào vào lớp cũng thấy buồn, tại sao em càng cố gắng
càng bị tụt xuống…, em ngu hay sao mà học như vậy?. Cần động viên, chia sẻ,
hướng dẫn học sinh về phương pháp học tập cụ thể như:
+ Cách học bài “không học vẹt” học phải hiểu và nắm vững kiến thức,
chia thời gian học tập hợp lý.
+ Cách làm bài đối với đề tự luận: Phải đọc kỹ đề bài, xác định yêu cầu
của đề, xác định đúng trọng tâm của vấn đề, câu dễ làm trước, phân bố thời gian
hợp lý cho mỗi câu…vv.
+ Cách làm bài đối với đề trắc nghiệm: Phải đọc lướt nhanh, dễ làm trước,
khó làm sau; đảm bảo tính chính xác về kiến thức và thời gian.
+ Gợi mở, phân tích, để các em thấy rằng phải chủ động học bài trước,
không để “ Nước tớí chân mới nhảy” đợi tới thi hoặc kiểm tra mới học sẽ không
có kết quả tốt, đừng quá lo lắng làm ảnh hưởng xấu đến tâm lý và sức khỏe.
+ Thành lập nhóm bạn học tập, giúp đỡ trao đổi nhau trong hoc tập.
1.3- Nhóm vấn đề nhận thức
Đối với các em có nhận thức sai lệch, thiếu chính chắn như:
– Tại sao phải học tiếng Anh? Học để làm gì? Tại sao phải thi? Nếu không
thi thì sao?
– Tại sao tiết sinh hoạt cờ, sinh hoạt lớp chủ nhiệm. Ban giám hiệu, cô chủ
nhiệm và các em sao không ngồi lại kể chuyện vui đùa, hài hước với nhau mà
toàn là những lời phán trách sau 6 ngày học tập mệt mỏi?
– Em không muốn tiền rời khỏi túi để đóng “Qũy đội”.
Cần thông qua tiết dạy tiếng Anh, tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội giáo
viên lồng vào câu hỏi thảo luận giúp các em tự nhận thức được các vấn đề nêu
trên, thấy được trách nhiệm của bản thân đối với tổ chức Đoàn – Đội và ý thức
được lợi ích của việc học tập đối với nghề nghiệp và cuộc sống tương lai của
các em. Đặc biệt môn ngoại ngữ tiếng Anh, nhất là trong thời kỳ đất nước ta mở
cửa, hội nhập và quốc tế hóa nó không những giúp ích cho học sinh học tập,
nghiên cứu mà còn là phương tiện giao tiếp với các nước khác trên nhiều lĩnh
6
vực chính trị, xã hội, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, du lịch và ngoại
giao…vv. Nên đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào chương trình dạy học
từ lớp mẫu giáo (ở những nơi có điều kiện) đến đại học, từ đó các em sẽ nỗ lực
phấn đấu rèn luyện và học tập tốt.
Các giải pháp tư vấn học sinh của tôi nêu trên đã được giáo viên tư vấn và
cán bộ quản lý ở các trường THCS triển khai ứng dụng, chỉ khác là qua khảo sát,
điều tra chúng tôi đã phát hiện được những tình huống có vấn đề có nét riêng,
độc đáo để từ đó tìm ra giải pháp tư vấn hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục như:
+ Thông qua câu hỏi thảo luận để làm sáng tỏ vấn đề nhận thức cá nhân về
ý nghĩa, nội dung của tiết sinh hoạt cờ, sinh hoạt lớp và đóng quỹ đội.
+ Trao đổi, gợi mở để các em không mặc cảm về vóc dáng và cận thị.
+ Động viên, chia sẻ với các em về những áp lực, lo lắng trong học tập,
hướng dẫn phương pháp học tập.
+ Giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống đối với các em “ Hoàn cảnh gia đình
có vấn đề” do hậu quả của cha mẹ ly hôn, hoặc do giáo dục “đòn roi” với những
lời nói khó nghe phản giáo dục.
+ Lồng vào tiết dạy bộ môn giúp các em trả lời: Tại sao phải học tiếng
Anh? Học tiếng Anh để làm gì? Tại sao phải thi? Nếu không thi thì sao?
Ngoài ra việc giải quyết “các tình huống có vấn đề” cần có sự phối hợp
chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, xã hội và chính quyền địa phương.
Qua làm đề tài giúp nhà trường thấy được thực trạng khó khăn của học sinh
khối 8 trường trung học cơ sở Phú Ngãi năm học 2012 – 2013 những vấn đề nan
giải về mặt tâm sinh lý sức khỏe, về vấn đề nhận thức, về hoàn cảnh gia đình và
các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô, gia đình và xã hội, phát hiện các tình huống
có vấn đề. Từ đó xác định nguyên nhân, tìm ra giải pháp tư vấn giúp đỡ các em
giải quyết những khó khăn nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giáo dục.
3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp:
Các giải pháp tư vấn tâm lý học sinh lớp 8 của trường trung học cơ sở Phú
Ngãi, năm học 2012-2013 nêu trên, có thể áp dụng ở các trường Trung học cơ
7
sở trong tỉnh và giới thiệu cho các trường Trung học cơ sở ngoài tỉnh tham
khảo, vận dụng tùy theo điều kiện sẽ góp phần giải quyết những khó khăn của
học sinh về mặt tâm sinh lý sức khỏe, về vấn đề nhận thức, về hoàn cảnh gia
đình và các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô, gia đình và xã hội, đồng thời cũng
ngăn chặn nguy cơ bỏ học của học sinh một cách có hiệu quả.
3.4 Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp:
Khi áp dụng sáng kiến bằng những kiểm nghiệm qua khảo sát nhận thấy:
– Về xếp loại hạnh kiểm và kết quả học tập các em có tiến bộ hơn so với
năm học trước (xem phụ lục 2 ).
– Các nhóm đối tượng học sinh theo từng tình huống có vấn đề đã được
chia sẻ, động viên, uốn nắn kịp thời, đúng lúc giúp các em đã nhận thức đúng,
phân biệt đúng, sai, thấy rõ được trách nhiệm và lợi ích bản thân trong học tập,
trong tổ chức Đoàn – Đội và nghề nghiệp tương lai, khắc phục những khó khăn
về hoàn cảnh gia đình, rèn luyện kỹ năng sống, biết tự lập, cố gắng học tập để
tự thân lập nghiệp. Các em đã nỗ lực học tập, tiến bộ không ngừng và ngăn
chặn được nguy cơ bỏ học góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.
– Qua khảo sát, điều tra và phát hiện các tình huống có vấn đề đã giúp Ban
giám hiệu và giáo viên tư vấn (giáo viên chủ nhiệm) càng hiểu sâu sắc những
tâm tư và cảm xúc của các em. Những nhận thức sai lệch, và những suy nghĩ
thiếu chính chắn, những lời trách hờn cha mẹ, ông bà rất chân thật, ngây ngô do
cách giáo dục bằng “đòn roi” hay những lời nói nặng nề “khó nghe” đã gieo vào
đầu các em những phản cảm, vô hiệu quả giáo dục đã ảnh hưởng nặng nề đến
sức khỏe – tâm lý – tình cảm của các em. Có tìm hiểu, lắng nghe và chia sẻ
những khó khăn, những buồn tũi, trách hờn của các em, chúng ta mới tìm được
nguyên nhân và đề ra giải pháp hợp lý đúng đắn để giáo dục các em theo hướng
tích cực nhất. Vì vậy, các em như có chỗ dựa về tinh thần, có thêm sức mạnh
của niềm tin để vượt qua những trở ngại của chính mình.
– Vì vậy, muốn đạt được kết quả giáo dục tốt, giáo viên tư vấn cần phải gần
gũi, thân tình, cởi mở để tạo niềm tin, mới khám phá được những bí mật mà các
8
em không biết chia sẻ cùng ai. Bằng trách nhiệm, tình thương, sự cảm thông từ
nhiều phía nhà trường, gia đình, xã hội và sự phối hợp chặt chẽ giữa ban giám
hiệu nhà trường, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm (giáo viên tư vấn), giáo
viên phụ trách Đoàn – Đội, chính quyền địa phương và phụ huynh học sinh đã
giúp chúng tôi tìm ra các giải pháp giáo dục có hiệu quả nhất.
3.5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu: không.
3.6. Những thông tin cần được bảo mật: không.
3.7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: không.
3.8. Tài liệu kèm theo: Không.
– Bản vẽ, sơ đồ (bản).
– Bản tính toán (bản).
– Các tài liệu khác (bản).
Bến Tre, ngày 29 tháng 3 năm 2013
9
Phụ lục 1.
Bảng phân nhóm các tình huống có vấn đề cần được tư vấn
của học sinh khối 8 trường THCS Phú Ngãi năm học 2012 – 2013.
Nhóm Họ Và Tên Lớp
Tình Huống
1. Huỳnh Thị Bé Tâm 8
1
– Kinh tế khó khăn, em không muốn
tiền rời khỏi túi để đóng “Quỹ đội”
2. Nguyễn Lý Huỳnh 8
5
– Không học được môn tiếng Anh.
Tại sao phải học tiếng Anh và học
để làm gì?
– Tại sao phải thi? Thi để làm gì?
Nếu không thi thì ra sao?
Vấn đề nhận thức 1, 2, 3
3. Trần Kiều Mỹ Hạnh 8
5
– Không vui vì tiết sinh hoạt lớp,
sinh hoạt cờ, không kể chuyện vui
đùa, hài hước với nhau mà toàn là
những lời phán trách sau 6 ngày học
tập mệt mõi.
4. Trần Thị Thúy Duy 8
1
– Lúc nào em cũng thấy mệt và bồn
chồn, không vui, chán nản. sợ học
không đỗ đạt, lúc nào vào lớp cũng
thấy buồn, tại sao em càng cố gắng,
càng bị tụt xuống… em ngu hay sao
mà học như vậy?
Tâm sinh lý sức khỏe 4, 5
5. Huỳnh Thị Ngọc Hân 8
5
– Em không được tự tin về vóc dáng
và bị cận thị.
6. Phạm Thị Mỹ Linh 8
5
– Bà nội hay la mắng em và em gái,
em không thích bà nội vì những lần
bà đánh và những lời mắng mà em
ghê sợ từ miệng bà.
Tình cảm gia đình
6,7,8,9
7. Trần Kiều Mỹ Hạnh 8
5
– Em cảm thấy cha mẹ không có
10
trách nhiệm với em. Thật sự, cha mẹ
có nuôi dưỡng, lo lắng, chăm sóc
cho em nhưng về tình cảm, áp lực
gia đình, có những lúc cha mẹ nói
ra, hành động cha mẹ làm mà không
hề suy nghĩ đến cảm xúc của em.
Tại sao cha mẹ lại mang em đến
cuộc sống này mà để em phải chịu
những điều đó…? chỉ có nhật ký
mới hiểu được cảm xúc của em.
8. Nguyễn Bảo Trân 8
1
– Sống với cô ba vì cha mẹ ly hôn…
cha mẹ là những người em thương
nhất và cũng là 2 người làm em thất
vọng và buồn nhất, từ lúc cưới vợ
khác, cha trở thành con người khác,
thường đánh em dù từ nhỏ đến lớn
cha chưa hề đánh em một lần…
“ … Em không biết về đâu, ở với
cha cũng không được, ở với mẹ
cũng không được, ở với ngoại và
mẹ thì con đường đến trường xa
lắm”.
9. Lê Thị Hân 8
5
– Sống với ông ngoại, cha mẹ ly
hôn, cha có vợ khác, mẹ bỏ đi. Gia
đình em chỉ có 2 người, em sống
chung với ông ngoại cũng rất buồn.
11
Phục lục 2
Bảng thống kê kết quả các tình huống có vấn đề sau khi được tư vấn
của học sinh khối 8 trường THCS Phú Ngãi năm học 2012 – 2013.
Nhóm Họ Và Tên Lớp
Kết qủa
1. Huỳnh Thị Bé Tâm
8
1
Đã nhận thức được trách nhiệm và lợi
ích của bản thân đối với tổ chức đội, đã
đóng quỹ đội và tham gia các hoạt
động Đội rất tích cực, đã được biểu
dương dưới cờ.
2. Nguyễn Lý Huỳnh 8
5
– Em đã hiểu và giải thích được lợi ích
của việc học tập, thi cử đối với nghề
nghiệp và cuộc sống tương lai của các
em, đặc biệt môn tiếng Anh, trong thời
kỳ hội nhập quốc tế, đất nước ta đang
mở cửa, ngoại giao với các nước trên
thế giới. Tiếng Anh không những giúp
ích cho việc học tâp, nghiên cứu mà
còn là phương tiện giao tiếp trên nhiều
lĩnh vực: Chính trị, xã hội, ngoại giao,
văn hóa, du lịch, giáo dục, kinh tế,
khoa học kỹ thuật, y học…vv.
Em đã nỗ lực, cố gắng học tập, thông
qua nhóm bạn học tập đã giúp em học
yếu môn tiếng Anh ở học kì I; sang học
kỳ II được nâng lên học trung bình.
Vấn đề nhận thức 1, 2, 3
3. Trần Kiều Mỹ
Hạnh
8
5
Trong tiết sinh hoạt lớp, giáo viên đã
đặt câu hỏi thảo luận giúp học sinh
nhận thức rõ ý nghĩa, nội dung, phương
pháp và tầm quan trọng của tiết sinh
12
hoạt lớp sinh hoạt cờ. Em đã nhận thức
được việc suy nghĩ lệch lạc của mình
nên tích cực tham gia các buổi chào cờ
và sinh hoạt lớp đầy đủ và nghiêm túc,
không còn trốn tiết chào cờ và sinh
hoạt lớp nữa.
Tâm sinh lý sức khỏe 4, 5
4. Trần Thị Thúy Duy
8
1
Giáo viên đã động viên, chia sẻ và
hướng dẫn học sinh về phương pháp
học tập như:
+ “ Không học vẹt” học phải hiểu, nắm
vững kiến thức và chia thời gian hợp
lý.
+ Cách làm bài tự luận phải đọc kỹ đề
bài, xác định đúng yêu cầu và trọng
tâm của đề bài, câu dễ làm trước, câu
khó làm sau, phân bố thời gian hợp lý
cho mỗi câu “ Thà xấu đều còn hơn tốt
lõi”.
+ Cách làm bài trắc nghiệm phải đọc
lướt nhanh, câu dễ làm trước câu khó
làm sau, đảm bảo tính chính xác về ký
hiệu, câu chọn đã hướng dẫn, về kiến
thức và thời gian.
+ Em đã chủ động học bài trước không
để “Nước tới chân mới nhảy” không
đợi tới thi hoặc kiểm tra mới học và
nhờ nhóm bạn học tập giúp đỡ; đã đạt
kết quả tốt, từ loại khá nâng lên loại
giỏi.
– Em không còn bị áp lực tâm lý vì quá
13
lo lắng đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
5. Huỳnh Thị Ngọc
Hân
8
5
Sau khi đã động viên, chia sẻ “ Tốt gỗ
hơn tốt nước sơn”. Em không còn mặc
cảm và tự tin hơn, đã mạnh dạn đứng
trước lớp phát biểu và tham gia xây
dựng bài.
6. Phạm Thị Mỹ Linh 8
5
– Đã động viên, chia sẻ giúp em hiểu
được ông bà thương yêu và quan tâm
đến con cháu mới dạy dỗ, la mắng;
nhưng cách giáo dục của bà không phù
hợp và phản cảm. Đồng thời qua tâm
sự và chia sẻ với gia đình đã thay đổi
cách giáo dục có hiệu quả hơn như là
khuyên bảo, dạy dỗ một cách nhẹ
nhàng dễ thuyết phục con cháu hơn.
Qua tác động cả hai phía gia đình và
học sinh, em không còn oán trách bà
nội nữa.
Tình cảm gia đình 6,7,8,9
7. Trần Kiều Mỹ
Hạnh
8
5
Qua việc tâm sư, chia sẻ với gia đình
về cảm xúc của học sinh trước hành
động của cha mẹ làm em trách hờn và
động viên em hiểu được cha mẹ lúc
nào cũng dành tình thương và có trách
nhiệm đối với con cái nhưng do áp lực
của cuộc sống mà đã có những xung
đột và lời lẽ không tế nhị gây ảnh
hưởng xấu đến tâm lý con cái, em đã
14
biết chia sẻ và cảm thông mà không
trách hờn cha mẹ nữa, đã cố gắng học
tập tốt.
8. Nguyễn Bảo Trân 8
1
Việc chia sẻ, động viên đã giúp em rèn
luyện kỹ năng sống, biết sống tự lập
vượt qua mọi áp lực về hoàn cảnh gia
đình, cố gắng học tập. Đồng thời chia
sẻ và tâm sự với phụ huynh về cách
giáo dục đòn roi đã gây phản cảm đối
với con cái, em đã phấn đấu vượt qua
mọi khó khăn về hoàn cảnh gia đình,
không bỏ học, quyết tâm học tập để sau
nầy tự thân lập nghiệp.
9. Lê Thị Hân 8
5
Động viên, chia sẻ và quan tâm giúp
đỡ, để em rèn luyện kỹ năng sống, biết
sống tự lập, nỗ lực học tập để tự thân
lập nghiệp, vượt lên những khó khăn
về hoàn cảnh gia đình. Đặc biệt, cần
chú trọng giúp đỡ em về vật chất lẫn
tinh thần như quần, áo, sách vở học tập,
luôn an ủi, động viên và chia sẻ trách
nhiệm với gia đình trong việc nuôi
dưỡng và giáo dục đã giúp em tự tin và
không bi quan, chán nản trong học tập
và cuộc sống tương lai.
Nguyễn Thái Yên Trường THCS Phú Ngãi, huyện Ba Tri Hiệu trưởng 8,1đ
và Đào tạo đặt ra phân phối được nhu yếu thực tiễn, khách quan xã hội lúc bấy giờ vớisự bùng nổ thông tin như vũ bão và tác động ảnh hưởng rất lớn của phim ảnh đến học sinh, đã biểu lộ sự chăm sóc đúng mức về giáo dục học sinh một cách tổng lực cảđức lẫn tài, ở mức độ cao nhất. Vì vậy việc tư vấn tâm ý học sinh là một giảipháp đã đem lại hiệu suất cao giáo dục tốt nhất và có giá trị thực tiễn rất lớn đã gópphần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Nhất là qua việc điều trakhảo sát hàng loạt học sinh ở những mặt : Tình cảm, nhận thức, thực trạng mái ấm gia đình đãgiúp chúng tôi phát hiện được những “ Tình huống có yếu tố ” thật giật mình màkhông khi nào tôi nghĩ đến như : Học sinh không muốn tiền rời khỏi túi để đóngquỹ đội ; không đống ý nội dung và chiêu thức của việc chào cờ trường, hoạt động và sinh hoạt lớp. Tại sao phải học tiếng Anh và học để làm gì ? Tại sao phải thi nếukhông thi thì sao ? Có em còn mặc cảm và bi quan, tại em ngu hay sao mà emcàng nỗ lực học thì tác dụng càng tụt xuống hoặc có một số ít em do hoàn cảnhgia đình, cha mẹ ly hôn phải ở với ông bà nội, ngoại những em thiếu thốn cả vậtchất lẫn niềm tin ; hoặc có 1 số ít em ông bà, cha mẹ giáo dục bằng đòn roi, chửi mắng với những lời nói nặng nề, khó nghe, phản giáo dục làm những em biquan và oán hận. Do đó, qua việc khảo sát, tìm hiểu tổng thể và toàn diện từng khối lớp họcsinh, chúng tôi đã thu nhận được những thông tin thiết yếu, quý báu từ phía họcsinh và đây là những yếu tố rất là khó khăn vất vả, phức tạp của cá thể học sinh rấtcần được sự tư vấn, trợ giúp, động viên từ phía chúng tôi mà trước đây nhữngtâm sự riêng tư của những em không khi nào được dịp thố lộ và chúng tôi chưa baogiờ được chớp lấy không thiếu như vậy. Đậy cũng là những hạn chế, trước kia chúngta chưa đặt ra và coi trọng yếu tố “ Tư vấn tâm lý học đường ” đúng tầm của nó, giải pháp này là một trong những yếu tố trọng điểm quyết định hành động đến chất lượnggiáo dục học sinh bởi lẽ “ Day chữ là dạy người ” nên việc đưa ra những giải phápsát đối tượng người tiêu dùng, tương thích với thực tiễn sẽ mang lại hiệu suất cao giáo dục rất lớn. 3.2 Nội dung giải pháp đề xuất công nhận là ý tưởng sáng tạo : – Mục đích của giải pháp : + Là trải qua việc khảo sát, tìm hiểu, tìm hiểu và khám phá và nhìn nhận thực trạngnhững yếu tố khó khăn vất vả về tâm sinh lý, về sức khỏe thể chất, về nhận thức, về hoàn cảnhgia đình và những mối quan hệ với bạn hữu, thầy cô, mái ấm gia đình và xã hội của học sinhkhối 8 nhằm mục đích giúp chúng tôi tìm ra nguyên do để có giải pháp tư vấn hài hòa và hợp lý. + Tư vấn nhằm mục đích uốn nắn, kiểm soát và chấn chỉnh kịp thời, đúng lúc những nhận thức sailệch, những tâm lý thiếu chính chắn và khắc phục những khó khăn vất vả về cá nhânvà thực trạng mái ấm gia đình của học sinh, góp thêm phần ngăn ngừa rủi ro tiềm ẩn bỏ học và nângcao chất lượng giáo dục của nhà trường. – Bản chất của giải pháp : Là qua việc tư vấn, động viên, san sẻ, giúp đỡđã góp thêm phần nâng cao hiệu suất cao và chất lượng giáo dục học sinh trung học cơ sở, nhằm mục đích khắc phục được những khó khăn vất vả, xử lý những yếu tố nan giải học sinhkhối 8 của trường trung học cơ sở. – Điều cốt yếu trong việc nâng cấp cải tiến nầy : Là đã thực thi việc khảo sát, điềutra trong thực tiễn toàn diện và tổng thể học sinh khối 8 trong trường trung học cơ sở Phú Ngãi, vềcác mặt tâm sinh lý sức khỏe thể chất, về nhận thức, về thực trạng mái ấm gia đình đã thu nhậnđược những thông tin thiết yếu, quý báu, sát với thực tiễn, giúp tôi phát hiện “ Các trường hợp có yếu tố ” làm cơ sở cho việc đề ra những giải pháp tư vấn hài hòa và hợp lý, có hiệu suất cao nhằm mục đích xử lý những yếu tố nan giải, khắc phục những khó khăn vất vả vàngăn chặn rủi ro tiềm ẩn bỏ học của học sinh đã góp thêm phần nâng cao chất lượng và hiệuquả giáo dục của nhà trường. – Nôi dung sáng tạo độc đáo : + Tính mới của giải pháp là : Qua khảo sát, tìm hiểu thực tiễn, sáng tạo độc đáo đãphát hiện được “ Các trường hợp có yếu tố ” tìm ra giải pháp hài hòa và hợp lý khắc phụcnhững khó khăn vất vả của học sinh khối lớp 8, về mặt nhận thức, về tâm sinh lý sứckhỏe, về thực trạng mái ấm gia đình và mối quan hệ với bè bạn, thầy cô, mái ấm gia đình, xã hộimột cách tương thích và có hiệu suất cao, góp thêm phần san sẻ, động viên, uốn nắn kịp thờinhững nhận thức xô lệch, những tâm lý thiếu chính chắn cùng những rắc rói, phức tạp về thực trạng mái ấm gia đình của học sinh do hậu quả của cha mẹ ly hôn hoặccách giáo dục bằng “ la mắng ” hay “ đòn roi ” gây phản cảm so với những em. Đólà trách nhiệm rất là quan trọng và thiết yếu của người làm công tác làm việc quản trị giáodục. + Việc thu nhận nguồn thông tin quí báu. sát đối tượng người tiêu dùng học sinh giúpchúng tôi gắn lý luận với thực tiễn, học song song với hành, hiểu và nắm chắc họcsinh một cách tổng lực, đã tư vấn giúp những em có thêm chỗ dựa ý thức, cóniềm tin để phấn đấu vươn lên trong học tập và đời sống hàng ngày, ngăn chặnnguy cơ bỏ học đã góp thêm phần nâng cao chất lượng giáo dục tổng lực cho họcsinh so với những năm học trước. + Để công tác làm việc tư vấn tâm ý học sinh đạt hiệu suất cao, nhằm mục đích xử lý cácvấn đề nan giải của những em về mặt nhận thức, về tâm sinh lý sức khỏe thể chất, về hoàncảnh mái ấm gia đình và mối quan hệ với bè bạn, thầy cô, mái ấm gia đình và xã hội. Qua kếtquả khảo sát và tìm hiểu, dựa vào những trường hợp có yếu tố, tôi phân ra làm 3 nhóm như : Nhóm tình cảm mái ấm gia đình, nhóm tâm sinh lý sức khỏe thể chất và nhóm vấn đềnhận thức để có giải pháp tư vấn hài hòa và hợp lý cho từng nhóm đơn cử ( xem phụ lục 1 ) : 1.1 – Nhóm tình cảm gia đìnhĐối với cách giáo dục bằng “ đòn roi ”, bằng “ la mắng ” với những lời nóiphản cảm vô hiệu quả giáo dục của cha mẹ học sinh và học sinh gánh chịuhậu quả do cha mẹ ly hôn. – Cần khôn khéo, trao đổi với cha mẹ học sinh một cách tế nhị về cáchgiáo dục con cháu có hiệu suất cao nhất không phải bằng “ đòn roi ” hay bằng lời “ lamắng ” mà chỉ dạy, khuyên răn nhỏ nhẹ dễ thuyết phục và cảm hóa những em hơn. – Cần san sẻ, động viên, giúp sức những em có cha mẹ ly hôn, sống với ôngbà nội ngoại, rèn luyện kỹ năng và kiến thức sống, biết sống tự lập, nỗ lực học tập, vượt quamọi khó khăn vất vả về thực trạng mái ấm gia đình. Với nhóm nầy, giáo viên dùng tình cảm, san sẻ, động viên và tác động ảnh hưởng từhai phía : Học sinh và cha mẹ học sinh thì công tác làm việc tư vấn mới có hiệu suất cao. 1.2 – Nhóm tâm sinh lý sức khỏe thể chất – Đối với học sinh mặc cảm về tầm vóc và cận thị : Cần trao đổi, gợi mởđể những em không mặc cảm về dáng vóc và hình thức bên ngoài hay bị cận thị. Hình thức bên ngoài không quyết định hành động giá trị con người “ Cái áo không làm đượcthầy tu ”, “ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn ”. – Đối với học sinh bị áp lực đè nén tâm ý, thấy mệt, bồn chồn, không vui, chánnản sợ thi không đỗ đạt khi nào vào lớp cũng thấy buồn, tại sao em càng cố gắngcàng bị tụt xuống …, em ngu hay sao mà học như vậy ?. Cần động viên, san sẻ, hướng dẫn học sinh về phương pháp học tập đơn cử như : + Cách học bài “ không học vẹt ” học phải hiểu và nắm vững kiến thức và kỹ năng, chia thời hạn học tập hợp lý. + Cách làm bài so với đề tự luận : Phải đọc kỹ đề bài, xác lập yêu cầucủa đề, xác lập đúng trọng tâm của yếu tố, câu dễ làm trước, phân bổ thời gianhợp lý cho mỗi câu … vv. + Cách làm bài so với đề trắc nghiệm : Phải đọc lướt nhanh, dễ làm trước, khó làm sau ; bảo vệ tính đúng mực về kiến thức và kỹ năng và thời hạn. + Gợi mở, nghiên cứu và phân tích, để những em thấy rằng phải dữ thế chủ động học bài trước, không để “ Nước tớí chân mới nhảy ” đợi tới thi hoặc kiểm tra mới học sẽ khôngcó hiệu quả tốt, đừng quá lo ngại làm ảnh hưởng tác động xấu đến tâm ý và sức khỏe thể chất. + Thành lập nhóm bạn học tập, trợ giúp trao đổi nhau trong hoc tập. 1.3 – Nhóm yếu tố nhận thứcĐối với những em có nhận thức rơi lệch, thiếu chính chắn như : – Tại sao phải học tiếng Anh ? Học để làm gì ? Tại sao phải thi ? Nếu khôngthi thì sao ? – Tại sao tiết hoạt động và sinh hoạt cờ, hoạt động và sinh hoạt lớp chủ nhiệm. Ban giám hiệu, cô chủnhiệm và những em sao không ngồi lại kể chuyện vui đùa, vui nhộn với nhau màtoàn là những lời phán trách sau 6 ngày học tập căng thẳng mệt mỏi ? – Em không muốn tiền rời khỏi túi để đóng “ Qũy đội ”. Cần trải qua tiết dạy tiếng Anh, tiết hoạt động và sinh hoạt lớp, hoạt động và sinh hoạt Đội giáoviên lồng vào câu hỏi bàn luận giúp những em tự nhận thức được những yếu tố nêutrên, thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm của bản thân so với tổ chức triển khai Đoàn – Đội và ý thứcđược quyền lợi của việc học tập so với nghề nghiệp và đời sống tương lai củacác em. Đặc biệt môn ngoại ngữ tiếng Anh, nhất là trong thời kỳ quốc gia ta mởcửa, hội nhập và quốc tế hóa nó không những giúp ích cho học sinh học tập, điều tra và nghiên cứu mà còn là phương tiện đi lại tiếp xúc với những nước khác trên nhiều lĩnhvực chính trị, xã hội, kinh tế tài chính, khoa học kỹ thuật, văn hóa truyền thống, du lịch và ngoạigiao … vv. Nên đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào chương trình dạy họctừ lớp mẫu giáo ( ở những nơi có điều kiện kèm theo ) đến ĐH, từ đó những em sẽ nỗ lựcphấn đấu rèn luyện và học tập tốt. Các giải pháp tư vấn học sinh của tôi nêu trên đã được giáo viên tư vấn vàcán bộ quản trị ở những trường THCS tiến hành ứng dụng, chỉ khác là qua khảo sát, tìm hiểu chúng tôi đã phát hiện được những trường hợp có yếu tố có nét riêng, độc lạ để từ đó tìm ra giải pháp tư vấn hài hòa và hợp lý nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao giáodục như : + Thông qua câu hỏi luận bàn để làm sáng tỏ yếu tố nhận thức cá thể vềý nghĩa, nội dung của tiết hoạt động và sinh hoạt cờ, hoạt động và sinh hoạt lớp và đóng quỹ đội. + Trao đổi, gợi mở để những em không mặc cảm về tầm vóc và cận thị. + Động viên, san sẻ với những em về những áp lực đè nén, lo ngại trong học tập, hướng dẫn phương pháp học tập. + Giáo dục đào tạo và rèn luyện kiến thức và kỹ năng sống so với những em “ Hoàn cảnh gia đìnhcó yếu tố ” do hậu quả của cha mẹ ly hôn, hoặc do giáo dục “ đòn roi ” với nhữnglời nói khó nghe phản giáo dục. + Lồng vào tiết dạy bộ môn giúp những em vấn đáp : Tại sao phải học tiếngAnh ? Học tiếng Anh để làm gì ? Tại sao phải thi ? Nếu không thi thì sao ? Ngoài ra việc xử lý “ những trường hợp có yếu tố ” cần có sự phối hợpchặt chẽ giữa nhà trường, mái ấm gia đình, xã hội và chính quyền sở tại địa phương. Qua làm đề tài giúp nhà trường thấy được tình hình khó khăn vất vả của học sinhkhối 8 trường trung học cơ sở Phú Ngãi năm học 2012 – 2013 những yếu tố nangiải về mặt tâm sinh lý sức khỏe thể chất, về yếu tố nhận thức, về thực trạng mái ấm gia đình vàcác mối quan hệ với bạn hữu, thầy cô, mái ấm gia đình và xã hội, phát hiện những tình huốngcó yếu tố. Từ đó xác lập nguyên do, tìm ra giải pháp tư vấn giúp sức những emgiải quyết những khó khăn vất vả nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao trong công tác làm việc giáo dục. 3.3 Khả năng vận dụng của giải pháp : Các giải pháp tư vấn tâm ý học sinh lớp 8 của trường trung học cơ sở PhúNgãi, năm học 2012 – 2013 nêu trên, hoàn toàn có thể vận dụng ở những trường Trung học cơsở trong tỉnh và ra mắt cho những trường Trung học cơ sở ngoài tỉnh thamkhảo, vận dụng tùy theo điều kiện kèm theo sẽ góp thêm phần xử lý những khó khăn vất vả củahọc sinh về mặt tâm sinh lý sức khỏe thể chất, về yếu tố nhận thức, về thực trạng giađình và những mối quan hệ với bạn hữu, thầy cô, mái ấm gia đình và xã hội, đồng thời cũngngăn chặn rủi ro tiềm ẩn bỏ học của học sinh một cách có hiệu suất cao. 3.4 Hiệu quả, quyền lợi thu được hoặc dự kiến hoàn toàn có thể thu được do áp dụnggiải pháp : Khi vận dụng ý tưởng sáng tạo bằng những kiểm nghiệm qua khảo sát nhận thấy : – Về xếp loại hạnh kiểm và tác dụng học tập những em có văn minh hơn so vớinăm học trước ( xem phụ lục 2 ). – Các nhóm đối tượng người tiêu dùng học sinh theo từng trường hợp có yếu tố đã đượcchia sẻ, động viên, uốn nắn kịp thời, đúng lúc giúp những em đã nhận thức đúng, phân biệt đúng, sai, thấy rõ được nghĩa vụ và trách nhiệm và quyền lợi bản thân trong học tập, trong tổ chức triển khai Đoàn – Đội và nghề nghiệp tương lai, khắc phục những khó khănvề thực trạng mái ấm gia đình, rèn luyện kỹ năng và kiến thức sống, biết tự lập, nỗ lực học tập đểtự thân lập nghiệp. Các em đã nỗ lực học tập, tân tiến không ngừng và ngănchặn được rủi ro tiềm ẩn bỏ học góp thêm phần nâng cao hiệu suất cao giáo dục. – Qua khảo sát, tìm hiểu và phát hiện những trường hợp có yếu tố đã giúp Bangiám hiệu và giáo viên tư vấn ( giáo viên chủ nhiệm ) càng hiểu thâm thúy nhữngtâm tư và cảm hứng của những em. Những nhận thức rơi lệch, và những suy nghĩthiếu chính chắn, những lời trách hờn cha mẹ, ông bà rất chân thực, ngây ngô docách giáo dục bằng “ đòn roi ” hay những lời nói nặng nề “ khó nghe ” đã gieo vàođầu những em những phản cảm, vô hiệu quả giáo dục đã tác động ảnh hưởng nặng nề đếnsức khỏe – tâm lý – tình cảm của những em. Có khám phá, lắng nghe và chia sẻnhững khó khăn vất vả, những buồn tũi, trách hờn của những em, tất cả chúng ta mới tìm đượcnguyên nhân và đề ra giải pháp hài hòa và hợp lý đúng đắn để giáo dục những em theo hướngtích cực nhất. Vì vậy, những em như có chỗ dựa về ý thức, có thêm sức mạnhcủa niềm tin để vượt qua những trở ngại của chính mình. – Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả giáo dục tốt, giáo viên tư vấn cần phải gầngũi, thân tình, cởi mở để tạo niềm tin, mới mày mò được những bí hiểm mà cácem không biết san sẻ cùng ai. Bằng nghĩa vụ và trách nhiệm, tình thương, sự cảm thông từnhiều phía nhà trường, mái ấm gia đình, xã hội và sự phối hợp ngặt nghèo giữa ban giámhiệu nhà trường, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm ( giáo viên tư vấn ), giáoviên đảm nhiệm Đoàn – Đội, chính quyền sở tại địa phương và cha mẹ học sinh đãgiúp chúng tôi tìm ra những giải pháp giáo dục có hiệu suất cao nhất. 3.5. Những người tham gia tổ chức triển khai vận dụng sáng tạo độc đáo lần đầu : không. 3.6. Những thông tin cần được bảo mật thông tin : không. 3.7. Các điều kiện kèm theo thiết yếu để vận dụng ý tưởng sáng tạo : không. 3.8. Tài liệu kèm theo : Không. – Bản vẽ, sơ đồ ( bản ). – Bản tính toán ( bản ). – Các tài liệu khác ( bản ). Bến Tre, ngày 29 tháng 3 năm 2013P hụ lục 1. Bảng phân nhóm những trường hợp có yếu tố cần được tư vấncủa học sinh khối 8 trường THCS Phú Ngãi năm học 2012 – 2013. Nhóm Họ Và Tên LớpTình Huống1. Huỳnh Thị Bé Tâm 8 – Kinh tế khó khăn vất vả, em không muốntiền rời khỏi túi để đóng “ Quỹ đội ” 2. Nguyễn Lý Huỳnh 8 – Không học được môn tiếng Anh. Tại sao phải học tiếng Anh và họcđể làm gì ? – Tại sao phải thi ? Thi để làm gì ? Nếu không thi thì ra sao ? Vấn đề nhận thức 1, 2, 33. Trần Kiều Mỹ Hạnh 8 – Không vui vì tiết hoạt động và sinh hoạt lớp, hoạt động và sinh hoạt cờ, không kể chuyện vuiđùa, vui nhộn với nhau mà toàn lànhững lời phán trách sau 6 ngày họctập mệt mõi. 4. Trần Thị Thúy Duy 8 – Lúc nào em cũng thấy mệt và bồnchồn, không vui, chán nản. sợ họckhông đỗ đạt, khi nào vào lớp cũngthấy buồn, tại sao em càng cố gắng nỗ lực, càng bị tụt xuống … em ngu hay saomà học như vậy ? Tâm sinh lý sức khỏe thể chất 4, 55. Huỳnh Thị Ngọc Hân 8 – Em không được tự tin về vóc dángvà bị cận thị. 6. Phạm Thị Mỹ Linh 8 – Bà nội hay la mắng em và em gái, em không thích bà nội vì những lầnbà đánh và những lời mắng mà emghê sợ từ miệng bà. Tình cảm gia đình6, 7,8,97. Trần Kiều Mỹ Hạnh 8 – Em cảm thấy cha mẹ không có10trách nhiệm với em. Thật sự, cha mẹcó nuôi dưỡng, lo ngại, chăm sóccho em nhưng về tình cảm, áp lựcgia đình, có những lúc cha mẹ nóira, hành vi cha mẹ làm mà khônghề tâm lý đến cảm hứng của em. Tại sao cha mẹ lại mang em đếncuộc sống này mà để em phải chịunhững điều đó … ? chỉ có nhật kýmới hiểu được xúc cảm của em. 8. Nguyễn Bảo Trân 8 – Sống với cô ba vì cha mẹ ly hôn … cha mẹ là những người em thươngnhất và cũng là 2 người làm em thấtvọng và buồn nhất, từ lúc cưới vợkhác, cha trở thành con người khác, thường đánh em dù từ nhỏ đến lớncha chưa hề đánh em một lần … “ … Em không biết về đâu, ở vớicha cũng không được, ở với mẹcũng không được, ở với ngoại vàmẹ thì con đường đến trường xalắm ”. 9. Lê Thị Hân 8 – Sống với ông ngoại, cha mẹ lyhôn, cha có vợ khác, mẹ bỏ đi. Giađình em chỉ có 2 người, em sốngchung với ông ngoại cũng rất buồn. 11P hục lục 2B ảng thống kê hiệu quả những trường hợp có yếu tố sau khi được tư vấncủa học sinh khối 8 trường THCS Phú Ngãi năm học 2012 – 2013. Nhóm Họ Và Tên LớpKết qủa1. Huỳnh Thị Bé TâmĐã nhận thức được nghĩa vụ và trách nhiệm và lợiích của bản thân so với tổ chức triển khai đội, đãđóng quỹ đội và tham gia những hoạtđộng Đội rất tích cực, đã được biểudương dưới cờ. 2. Nguyễn Lý Huỳnh 8 – Em đã hiểu và lý giải được lợi íchcủa việc học tập, thi tuyển so với nghềnghiệp và đời sống tương lai của cácem, đặc biệt quan trọng môn tiếng Anh, trong thờikỳ hội nhập quốc tế, quốc gia ta đangmở cửa, ngoại giao với những nước trênthế giới. Tiếng Anh không những giúpích cho việc học tâp, nghiên cứu và điều tra màcòn là phương tiện đi lại tiếp xúc trên nhiềulĩnh vực : Chính trị, xã hội, ngoại giao, văn hóa truyền thống, du lịch, giáo dục, kinh tế tài chính, khoa học kỹ thuật, y học … vv. Em đã nỗ lực, cố gắng nỗ lực học tập, thôngqua nhóm bạn học tập đã giúp em họcyếu môn tiếng Anh ở học kì I ; sang họckỳ II được nâng lên học trung bình. Vấn đề nhận thức 1, 2, 33. Trần Kiều MỹHạnhTrong tiết hoạt động và sinh hoạt lớp, giáo viên đãđặt câu hỏi luận bàn giúp học sinhnhận thức rõ ý nghĩa, nội dung, phươngpháp và tầm quan trọng của tiết sinh12hoạt lớp hoạt động và sinh hoạt cờ. Em đã nhận thứcđược việc tâm lý xô lệch của mìnhnên tích cực tham gia những buổi chào cờvà hoạt động và sinh hoạt lớp rất đầy đủ và tráng lệ, không còn trốn tiết chào cờ và sinhhoạt lớp nữa. Tâm sinh lý sức khỏe thể chất 4, 54. Trần Thị Thúy DuyGiáo viên đã động viên, san sẻ vàhướng dẫn học sinh về phương pháphọc tập như : + “ Không học vẹt ” học phải hiểu, nắmvững kiến thức và kỹ năng và chia thời hạn hợplý. + Cách làm bài tự luận phải đọc kỹ đềbài, xác lập đúng nhu yếu và trọngtâm của đề bài, câu dễ làm trước, câukhó làm sau, phân bổ thời hạn hợp lýcho mỗi câu “ Thà xấu đều còn hơn tốtlõi ”. + Cách làm bài trắc nghiệm phải đọclướt nhanh, câu dễ làm trước câu khólàm sau, bảo vệ tính đúng mực về kýhiệu, câu chọn đã hướng dẫn, về kiếnthức và thời hạn. + Em đã dữ thế chủ động học bài trước khôngđể “ Nước tới chân mới nhảy ” khôngđợi tới thi hoặc kiểm tra mới học vànhờ nhóm bạn học tập trợ giúp ; đã đạtkết quả tốt, từ loại khá nâng lên loạigiỏi. – Em không còn bị áp lực đè nén tâm ý vì quá13lo lắng đã ảnh hưởng tác động xấu đến sức khỏe thể chất. 5. Huỳnh Thị NgọcHânSau khi đã động viên, san sẻ “ Tốt gỗhơn tốt nước sơn ”. Em không còn mặccảm và tự tin hơn, đã mạnh dạn đứngtrước lớp phát biểu và tham gia xâydựng bài. 6. Phạm Thị Mỹ Linh 8 – Đã động viên, san sẻ giúp em hiểuđược ông bà yêu dấu và quan tâmđến con cháu mới dạy dỗ, la mắng ; nhưng cách giáo dục của bà không phùhợp và phản cảm. Đồng thời qua tâmsự và san sẻ với mái ấm gia đình đã thay đổicách giáo dục có hiệu suất cao hơn như làkhuyên bảo, dạy dỗ một cách nhẹnhàng dễ thuyết phục con cháu hơn. Qua ảnh hưởng tác động cả hai phía mái ấm gia đình vàhọc sinh, em không còn oán trách bànội nữa. Tình cảm mái ấm gia đình 6,7,8,97. Trần Kiều MỹHạnhQua việc tâm sư, san sẻ với gia đìnhvề cảm hứng của học sinh trước hànhđộng của cha mẹ làm em trách hờn vàđộng viên em hiểu được cha mẹ lúcnào cũng dành tình thương và có tráchnhiệm so với con cái nhưng do áp lựccủa đời sống mà đã có những xungđột và lời lẽ không tế nhị gây ảnhhưởng xấu đến tâm ý con cháu, em đã14biết san sẻ và cảm thông mà khôngtrách hờn cha mẹ nữa, đã nỗ lực họctập tốt. 8. Nguyễn Bảo Trân 8V iệc san sẻ, động viên đã giúp em rènluyện kỹ năng và kiến thức sống, biết sống tự lậpvượt qua mọi áp lực đè nén về thực trạng giađình, nỗ lực học tập. Đồng thời chiasẻ và tâm sự với cha mẹ về cáchgiáo dục đòn roi đã gây phản cảm đốivới con cháu, em đã phấn đấu vượt quamọi khó khăn vất vả về thực trạng mái ấm gia đình, không bỏ học, quyết tâm học tập để saunầy tự thân lập nghiệp. 9. Lê Thị Hân 8 Động viên, san sẻ và chăm sóc giúpđỡ, để em rèn luyện kiến thức và kỹ năng sống, biếtsống tự lập, nỗ lực học tập để tự thânlập nghiệp, vượt lên những khó khănvề thực trạng mái ấm gia đình. Đặc biệt, cầnchú trọng trợ giúp em về vật chất lẫntinh thần như quần, áo, sách vở học tập, luôn an ủi, động viên và san sẻ tráchnhiệm với mái ấm gia đình trong việc nuôidưỡng và giáo dục đã giúp em tự tin vàkhông bi quan, chán nản trong học tậpvà đời sống tương lai. Nguyễn Thái Yên Trường THCS Phú Ngãi, huyện Ba Tri Hiệu trưởng 8,1 đ
Source: https://evbn.org
Category: Học Sinh


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


