Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học. – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.14 MB, 67 trang )

Vai trò của phương pháp luận sáng tạo trong giáo dục – Mô hình ĐHST

trên nền CNTT

Trong một số trường hợp, chúng ta phải thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin, nghiên

cứu tình huống và sau đó sử dụng các kiến thức mà mình có để đề ra giải pháp. Trong

một số trường hợp, sáng tạo là giải pháp tốt nhất.

Khi Việt Nam mở cửa với thế giới, khi đất nước phát triển và hội nhập, yêu cầu

của xã hội đặt ra cho ngành giáo dục cũng thay đổi theo hướng đổi mới. Vì vậy việc giúp

cho học sinh có các kiến thức và kỹ năng, thái độ cần thiết để có thể phát triển hết tiềm

năng của mình là một yêu cầu chính đáng của xã hội, gia đình và đang được ngành giáo

dục ngày càng quan tâm để đáp ứng yêu cầu này. Những kỹ năng cơ bản có thể được kể

ra như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, và kỹ năng giải quyết vấn đề, trong

đó, kỹ năng giải quyết vấn đề được xem là rất quan trọng để giúp trẻ có thể phát triển cả

trí tuệ lẫn thái độ trong học tập, trong cuộc sống.

Có thể thấy trong chương trình giáo dục tiểu học, các môn học đều có thể được

giảng dạy và hướng dẫn ở dạng các vấn đề. Trong đó, có những môn đặc thù có thể sử

dụng những dạng vấn đề đóng (ví dụ như môn Toán, tiếng Việt, Khoa học Tự nhiên…) và

những môn sử dụng các vấn đề mở (ví dụ như Toán, tiếng Việt, Đạo Đức, Khoa học xã

hội…). Trong cuộc sống hàng ngày, học sinh luôn phải đối diện với các vấn đề đủ loại,

điều quan trọng mà các em cần phải biết là khả năng thu thập thông tin, xử lý thông tin và

giải quyết tốt nhất với sự hỗ trợ của những người xung quanh cũng như một mình. Giúp

học sinh rèn luyện kỹ năng này là cách tốt nhất mà nhà trường và gia đình có thể làm

được trong các chương trình giáo dục của mình.

Kết quả khảo sát cho thấy học sinh tiểu học có nhiều kỹ năng và phẩm chất tốt

như óc quan sát, ham hiểu biết, có kỹ năng thu thập thông tin, có khả năng xử lý những

tình huống quen thuộc, ngoan và có tư duy logic. Tuy nhiên, các em vẫn còn chưa có

được ở mức độ cao các kỹ năng giải quyết vấn đề, phân tích thông tin và xử lý các tình

huống bất thường. Từ đó, có thể thấy rằng học sinh tiểu học vẫn còn chưa được rèn luyện

nhiều để có được sự nhạy bén và linh hoạt trong tư duy. Nguyên nhân có từ nhiều phía,

trong đó có vấn đề chương trình giáo dục tại nhà trường còn tương đối nặng, phương

pháp giảng dạy của giáo viên còn cứng nhắc. Yếu tố gia đình cũng là một nguyên nhân

quan trọng, trong đó chủ yếu là gia đình vẫn còn tư tưởng bao bọc học sinh nhiều và chưa

để các em tư duy theo cách của mình mà muốn làm thay cho các em trong nhiều việc. Để

giải quyết các nguyên nhân của vấn đề này quan trọng là giáo viên cần phát huy vai trò

Vũ Thị Ái Duyên

36

Vai trò của phương pháp luận sáng tạo trong giáo dục – Mô hình ĐHST

trên nền CNTT

của mình trong việc nắm vững các phương pháp và áp dụng chúng một cách hiệu quả để

có thể giúp học sinh rèn luyện được kỹ năng cần thiết này.

Em xin đưa ra một vài cách áp dụng phương pháp SCAMPER để giải quyết vấn

đề trên.

Giảm tải chương trình giáo dục tiểu học, giảm sỉ số của lớp học.

Đổi mới phương pháp giảng dạy: Cụ thể là trong các tiết học, giáo viên nên thiết

kế các trò chơi, thường xuyên đưa ra các tình huống cụ thể, gắn liền với thực tế để

khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề, tập cho học sinh tư duy logic

Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình.

Đổi mới hình thức đánh giá kết quả học tập cho học sinh

Bồi dưỡng thêm chuyên môn cho giáo viên và nâng cao cơ sở vất chất đồng thời

tăng thu nhập cho giáo viên.

CẢI TIẾN KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CÁC BƯỚC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Vũ Thị Ái Duyên

37

Vai trò của phương pháp luận sáng tạo trong giáo dục – Mô hình ĐHST

trên nền CNTT

3. Học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông trong toán học

Là một giáo viên dạy toán và tin học em nhận thấy phương pháp luận sáng

tạo rất quan trọng trong giảng dạy đặc biệt là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.

Trong dạy học giải bài tập toán, nguyên tắc (NT) “tách khỏi” nghĩa là tách phần

khó, phần phức tạp ra xét riêng hoặc tách phần thuận lợi, cần thiết khỏi đối tượng để biến

đổi; từ đó, áp dụng vào giải bài toán đã cho. Khi giải một bài toán cần nghĩ đến việc tách

đúng phần cần thiết để biến đổi, lập luận riêng, đưa vấn đề cần giải quyết trở nên đơn

giản hơn.

Sau đây em trình bày việc vận dụng NT “tách khỏi” (NT thứ hai trong 40 NT sáng

tạo cơ bản của Altshuller) vào dạy học giải một số dạng bài tập toán nhằm rèn luyện, bồi

dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh (HS) Trung học ở phần dạy các bài toán số học, đại

số và hình học và toán tổ hợp.

Ví dụ 1:Chứng minh rằng: Tổng lũy thừa chẵn của ba số nguyên liên tiếp không

thể là một số chính phương.

Ở bài toán này, phần cần tách ra để xét là “ba số nguyên liên tiếp”. Như ta đã biết,

ba số nguyên liên tiếp khi chia cho 3 có đủ ba số dư là 0, 1 và 2. Như vậy, trong ba số

nguyên liên tiếp sẽ có một số chia hết cho 3, hai số còn lại có dạng 3k ±1 với k €Z ; do

đó, tổng lũy thừa chẵn của ba số này chia cho 3 sẽ dư 2. Đến đây, giáo viên (GV) hướng

dẫn HS xét xem số chính phương khi chia cho 3 có những số dư nào? Giả sử một số

chính phương có dạng n2, với n là một số tự nhiên; khi đó, n thuộc một trong 3 dạng: n =

3k, n = 3k ± 1, k €Z và n2 chia 3 sẽ dư 0 hoặc 1. Vì một số chính phương chia cho 3

không thể dư 2 nên tổng lũy thừa chẵn của ba số nguyên liên tiếp không phải là một số

Vũ Thị Ái Duyên

38

Vai trò của phương pháp luận sáng tạo trong giáo dục – Mô hình ĐHST

trên nền CNTT

chính phương. Vậy, phần tách ra để xét riêng trong ví dụ 1 là tìm các số dư khi chia cho 3

của ba số nguyên liên tiếp và số dư trong phép chia số chính phương cho 3.

Ví dụ 2: Từ các chữ số 0, 1, 2, 3, 4, 5, có thể lập được bao nhiêu số tự nhiên chẵn

có ba chữ số đôi một khác nhau?

Số có ba chữ số thỏa mãn đề bài có dạng với a ≠ 0 ; a, b, c đôi một khác nhau. Vì

là số chẵn nên c được chọn từ các chữ số 0, 2, 4. HS sẽ không tìm được lời giải nếu chọn

theo thứ tự: a có 5 cách chọn (vì a ≠ 0 ), b có 5 cách chọn (vì b ≠ a ), khi đó c sẽ không

tìm được cách chọn vì c phải là số chẵn.

Để giải bài toán này, GV hướng dẫn HS chọn c trước. Khi đó, c có 3 cách chọn (c

= 0; 2 ; 4), nhưng với trường hợp c = 0 ta sẽ phải có lập luận khác với c = 2 hoặc c = 4;

do đó, phải tách trường hợp c = 0 ra xét riêng. Khi c = 0 thì a có 5 cách chọn, b có 4 cách

nên tổng số có 5.4 = 20 cách chọn

(GV có thể hướng dẫn HS sử dụng chỉnh hợp để giải với trường hợp c = 0 có ≠20

cách chọn); với c = 2 thì a có 4 cách chọn (vì a ≠ 0, a ≠c ), b có 4 cách chọn ( b ≠ a,b ≠ c

) nên tổng số sẽ có 4.4 = 16 cách chọn abc ; tương tự, c = 4 ta cũng thu được 16 cách

chọn. Vậy, tất cả có: 20 + 16 + 16 = 52 số tự nhiên thỏa mãn yêu cầu bài toán.

Một trong những phương pháp chứng minh trong toán học rất hay ứng dụng

nguyên lý đảo ngược trong 40 nguyên lý TRIZ và phương pháp thứ 7 REVERSE của

phương pháp sáng tạo SCAMPER đó là phương pháp chứng minh phản chứng.

Phương pháp chứng minh phản chứng mô tả quá trình lập luận như sau:

Cần chứng minh mệnh đề A ⇒ B.

Để chứng minh A ⇒ B đúng, ta xây dựng giả thiết rằng : A đúng, nhưng A ⇒ B

sai.

Bởi vì A ⇒ B sai, mà A đúng nên B phải có giá trị sai nghĩa là B đúng.

Từ B đúng thông qua một số phép biến đổi tương đương dẫn đến A đúng.

Từ giả thiết và qua quá trình lập luận ta có A và A đồng thời cùng đúng, dẫn đến

mâu thuẫn.

Vũ Thị Ái Duyên

39