Quản lý Nhà nước về đất đai và vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai
Quản lý Nhà nước về đất đai và vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai
Quản
lý nhà nước về đất đai là
tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo
vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai,.. Cùng tìm hiểu về khái niệm quản lý
nhà nước về đất đai và các nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai ở bài viết
sau đây của Luận văn 1080:
1.
Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất đai
Đất
đai là sản phẩm của tự nhiên nhưng lại đóng vai trò quan trọng cho tồn tại và
phát triển của loài người, lại là nguồn lực khan hiếm không thể tạo ra được. Vì
vậy nó trở nên vô cùng quý giá của loài người, là điều kiện cho sự sống của
động, thực vật và con người trên trái đất.
Quản
lý Nhà nước về đất đai và vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai
Đất
đai tham gia mọi hoạt động kinh tế xã hội. Nó là địa điểm cho mọi hoạt động
kinh tế xã hội, nó cung cấp mặt bằng cho một số ngành sản xuất vật chất như xây
dựng, nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng ….Không những thế đất đai kết
hợp
với một số điều kiện tự nhiên để hình thành các vùng kinh tế của đất nước nhằm
khai thác sử dụng có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng
đó, tạo lợi thế các vùng kinh tế.
Đất
đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội nhưng ở những vị
trí khác nhau. Với ngành nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không
thể thay thế được. Nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, công
cụ lao động. Với ngành công nghiệp, đất đai là địa điểm không thể thiếu được và
cũng không gì thay thế được. Với ngành vật liệu xây dựng, đất đai là nguyên
liệu đầu vào rất quan trọng …
Đất
đai còn là một trong những bộ phận lãnh thổ quốc gia, như vậy với mỗi quốc gia
đều có lãnh thổ riêng, nên đất đai đều bị giới hạn bởi ranh giới giữa các quốc
gia.
Từ
sự quan trọng của đất đai đối với đời sống kinh tế xã hội, ta cần phải quản lý
đất đai, phải có biện pháp để sử dụng đất đai một cách có hiệu quả nhất, hợp lý
nhất tránh tình trạng để lãng phí tài nguyên, tránh sử dụng bừa bãi đất đai gây
nên những hậu quả khó lường: như cạn kiệt tài nguyên, sử dụng không có hiệu
quả, bỏ hoang hoá đất đai ….
Luật
Đất đai năm 1993 của nước ta quy định “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá,
là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá,
xã hội, an ninh và quốc phòng”1;
Ta
thấy rằng đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, có vai trò
quyết định đến sự tồn vong của xã hội loài người nói chung và của mỗi quốc gia
nói riêng. Bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng
với quá trình lịch sử phát triển kinh tế – xã hội, đất đai là điều kiện chung
của lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của
xã hội loài người. Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành
sản xuất nào, một quá trình lao động sản xuất nào, cũng như không thể nào có sự
tồn tại cho loài người. Đất đai cũng là một trong những tài nguyên vô cùng quý
giá của loài người, điều kiện cho sự sống của động thực vật và con người trên
trái đất.
Do
đất đai có vai trò quan trọng như thế nên quốc gia nào cũng cần phải tổ chức
cho hợp lý hệ thống quản lý đất đai của nước mình nhằm mục đích phát triển kinh
tế.
Trong
hệ thống quản lý thì người ta luôn phải giải quyết tốt mối liên hệ giữa ba yếu
tố: con người, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống tổ chức bộ
máy. ở đây trong hệ thống quản lý đất đai thì mối liên hệ giữa ba yếu tố này
lại càng quan trọng hơn. Trong một hệ thống thì yếu tố con người bao giờ cũng
quan trọng nhất, vì con người chính là đối tượng làm ra văn bản, mà cũng là đối
tượng tổ chức hệ thống tổ chức bộ máy. Trong hệ thống quản lý đất đai thì cần
phải có những con người có đầy đủ năng lực và phẩm chất để làm ra các văn bản
phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, của đất nước, phù hợp với xu thế của thời
đại, có như thế thì mới đảm bảo được sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị
– kinh tế – xã hội đất nước. Vì đất đai có vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế cũng như sự tồn vong của một quốc gia.
Nhân
tố con người chính là nhân tố làm ra hệ thống chính sách và cũng là nhân tố
thực thi các chính sách đó để điều hành bộ máy hoạt động một cách nhịp nhàng và
có hiệu quả. Nếu chính sách đề ra là phù hợp với thực tế mà nhân tố con người
thực thi chính sách không có đủ trình độ hay không có đủ phẩm chất thì sẽ dẫn
đến tình trạng bộ máy vận hành không có hiệu quả.
Tổ
chức bộ máy của một hệ thống quản lý, thì cần phải dựa trên cơ sở của nhân tố
con người và hệ thống chính sách mà tổ chức cơ cấu của tổ chức bộ máy sao cho
có hiệu quả. Tổ chức bộ máy phải tuân thủ các quy định của chính sách nhưng
phải phù hợp với yếu tố con người sẵn có trong hệ thống quản lý. Tuỳ vào khả
năng của từng cá nhân mà phân công nhiệm vụ một cách hợp lý đối với từng bộ
phận của bộ máy. Để hệ thống hoạt động nhịp nhàng thì ngoài nhân tố con người
và hệ thống chính sách tốt thì cần phải tổ chức bộ máy cũng phải tốt, đó chính
là sự bố trí hợp lý từng cá nhân của bộ máy vào từng nhiệm vụ và vị trí.
Việc
hình thành được tổ chức bộ máy trong hệ thống quản lý đất đai được tốt thì sẽ
có vai trò quan trọng trong việc vận hành hệ thống quản lý đất đai một cách hợp
lý. Một khi bộ máy quản lý đất đai vận hành một cách nhịp nhàng thì nó sẽ tạo
ra một kết quả rất lớn trong việc quản lý đất đai. Tuy nhiên đối với thể chế
chính trị của mỗi nước thì lại có một hệ thống quản lý đất đai riêng phù hợp
với trình độ dân trí và điều kiện địa lý của nước đó. Trong mỗi hệ thống thì
các yếu tố cơ bản để cấu thành hệ thống là giống nhau nhưng sự khác nhau của
mỗi hệ thống chính là chính sách của mỗi nước, dẫn đến tổ chức bộ máy khác
nhau.
Nếu
bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận
tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ thuê
viết luận văn Hà Nội, Tp Hồ
Chí Minh, … để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline?
Khi
gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ
đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà
chúng tôi đã từng trải qua.
2.
Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Quản
lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai, đó là các hoạt
động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân phối và
phân phối lại theo quy hoạch, kế hoạch, trong việc kiểm tra, giám sát quá trình
sử dụng đất đai.
Đất
đai là nhu cầu thiết yếu của loài người, là những yếu tố quan trọng bậc nhất
cấu thành bất động sản. Trong những năm chuyển từ nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thì những
yếu tố thị trường trong đó có thị trường bất động sản đang trong quá trình hình
thành và phát triển. Đó chính là các hoạt động kinh doanh, buôn bán đất đai nhà
cửa đang diễn ra một cách rất sôi động.
Thực
tế thị trường bất động sản đã có và hoạt động rất mạnh, nhưng chưa có thể chế
rõ ràng, phát triển còn chậm chạp, tự phát thiếu định hướng. Cùng theo đó là
thị trường hàng hoá, dịch vụ phát triển nhanh nhưng cũng thiếu định hướng và
còn mang tính tự phát. Thị trường sức lao động cũng phát triển chậm chạp, thiếu
quản lý và chưa có định hướng rõ ràng cho nó. Thị trường vốn công nghệ, thông tin
còn yếu kém trong khi đó việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và trong
cuộc sống còn rất yếu .
Vì
vậy vai trò của nhà nước là quản lý các thị trường để bổ sung những lỗ hổng của
thị trường và thúc đẩy sự hình thành đồng bộ các loại thị trường tạo sự vận
động nền kinh tế đa dạng. Đồng thời quản lý nhà nước trong điều kiện nền kinh
tế thị trường là cần thiết nhằm ngăn ngừa, hạn chế những mặt trái, các mặt tiêu
cực của nền kinh tế, của thị trường và để sử dụng các tiềm năng có hiệu
quả.
Đất
đai cũng không nằm ngoài sự quản lý của nhà nước. Với nhu cầu khách quan của
việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất – một tài nguyên có hạn và không sản
xuất được – đã thúc đẩy nhà nước phải ngày càng tăng cường năng lực và hiệu quả
quản lý. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu đời sống của nhân dân. Nhưng để
quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên quý hiếm này, từ năm 1993 Luật Đất đai thông
qua đã đánh dấu một bước ngoặt đáng kể trong công tác quản lý nhà nước về đất
đai. Thông qua đó nhà nước đưa ra và thừa nhận các quyền của con người về đất
đai: như quyền sử dụng đất đai, quyền thừa kế, chuyển nhượng, cho thuê, cho
thuê lại, thế chấp, cầm cố, góp vốn vào liên doanh …
Nhà
nước đưa ra những quy định thị trường mua bán bất động sản để bảo vệ lợi ích
của các bên tham gia thị trường một cách chính đáng. Nhà nước cũng hỗ
trợ các hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường bất động
sản, bằng cách tạo điều kiện thuận lợi thông qua các công cụ của mình, chính
sách của mình. Đồng thời dựa vào các quy định pháp luật đất đai, Nhà nước thanh
tra, xử lý các vụ tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo về các vấn đề nảy
sinh trong quan hệ đất đai.
3.
Các phương pháp và công cụ quản lý nhà nước về đất đai
3.1.
Các phương pháp thu thập thông tin về đất đai
Phương
pháp thống kê: là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu
các vấn đề kinh tế, xã hội. Đây là phương pháp mà các cơ quan quản lý nhà nước
tiến hành điều tra, khảo sát, tổng hợp và sử dụng các số liệu trên cơ sở đã
tính toán các chỉ tiêu. Qua số liệu thống kê phân tích được tình hình, nguyên
nhân của sự vật và hiện tượng có thể tìm ra được tính quy luật và rút ra những
kết luận đúng đắn về sự vật, hiện tượng đó. Trong công tác quản lý đất đai các
cơ quan quản lý sử dụng phương pháp thống kê để nắm được tình hình số lượng,
chất lượng đất đai, nắm bắt đầy đủ các thông tin về đất đai cho phép các cơ
quan có kế hoạch về quản lý đất đai.
Phương
pháp toán học: là phương pháp quan trọng do sự tác động của tiến bộ khoa học
công nghệ và ngày càng chứng tỏ tính cấp thiết của nó trong công tác quản lý
nói chung và quản lý đất đai nói riêng. Phương pháp toán học sử dụng ở đây là
phương pháp toán kinh tế, các công cụ tính toán hiện đại được dùng để thu thập,
xử lý và lưu trữ thông tin… giúp cho việc nghiên cứu các vấn đề xã hội phức
tạp. Trong công tác quản lý đất đai, phương pháp toán học được sử dụng nhiều ở
các khâu công việc như: thiết kế, quy hoạch; tính toán quy mô, loại hình sử
dụng đất tối ưu…
Phương
pháp điều tra xã hội học: Đây là phương pháp hỗ trợ, bổ sung, nhưng rất quan
trọng. Thông qua điều tra xã hội học, Nhà nước sẽ nắm bắt được tâm tư,nguyện
vọng của các tổ chức và các cá nhân sử dụng đất đai. Mặt khác qua điều tra xã
hội học, Nhà nước có thể biết sâu hơn diễn biến tình hình đất đai, đặc biệt
là nguyên nhân của tình hình đó. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, phạm vi, quy mô
về vốn và người thực hiện mà trong điều tra có thể lựa chọn các hình thức như:
điều tra chọn mẫu, điều tra toàn diện, điều tra nhanh, điều tra ngẫu nhiên…
3.2.
Các phương pháp tác động đến con người trong quản lý đất đai
Phương
pháp hành chính là phương pháp tác động mang tính trực tiếp. Phương pháp này
dựa vào mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý, mà thực chất đó là mối quan
hệ giữa quyền uy và sự phục tùng. Phương pháp quản lý hành chính về đất đai của
Nhà nước là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước đến các chủ thể trong
quan hệ đất đai, bao gồm các chủ thể là cơ quan quản lý đất đai của Nhà nước và
các chủ thể là người sử dụng đất (các hộ gia đình, các cá nhân, các tổ chức,
các pháp nhân) bằng các biện pháp, các quyết định mang tính mệnh lệnh bắt buộc.
Nó đòi hỏi người sử dụng đất phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm sẽ bị xử
lý theo pháp luật. Trong quản lý nhà nước về đất đai phương pháp hành chính có
vai trò to lớn, xác lập được kỷ cương trật tự trong xã hội. Nó khâu nối được
các hoạt động giữa các bộ phận có liên quan, giữ được bí mật hoạt động và giải
quyết được các vấn đề đặt ra trong công tác quản lý một cách nhanh chóng kịp
thời.
Khi
sử dụng phương pháp hành chính phải gắn chặt chẽ quyền hạn và trách nhiệm của
các cấp quản lý nhà nước về đất đai khi ra quyết định. Đồng thời phải làm rõ,
cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và từng cá
nhân. Mọi cấp chính quyền, mọi tổ chức, mọi cá nhân khi ra quyết định phải hiểu
rõ quyền hạn của mình đến đâu và trách nhiệm của mình như thế nào khi sử dụng
quyền hạn đó. Các quyết định hành chính do con người đặt ra muốn có kết quả và
đạt hiệu quả cao thì chúng phải là các quyết định có tính khoa học, có căn cứ
khoa học, tuyệt đối không thể là ý muốn chủ quan của con người. Để quyết định
có căn cứ khoa học người ra quyết định phải nắm vững tình hình, thu thập đấy đủ
các không tin cần thiết có liên quan, cân nhắc tính toán đầy đủ các lợi ích, các
khía cạnh khác chịu ảnh hưởng đảm bảo quyết định hành chính có căn cứ khoa học
vững chắc.
Phương
pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp lên đối tượng bị quản lý không
trực tiếp như phương pháp hành chính. Phương pháp quản lý kinh tế của Nhà
nước về quản lý đất đai là cách thức tác động của Nhà nước một cách giản tiếp
vào đối tượng bị quản lý, thông qua các lợi ích kinh tế để đối tượng bị quản lý
tự lựa chọn phương án hoạt động của mình sao cho có hiệu quả nhất. Trong công
tác quản lý, phương pháp kinh tế là phương pháp mềm dẻo nhất, dễ thu hút đối
tượng quản lý, do vậy nó ngày càng mang tính phổ biến và được coi trọng. Mặt
mạnh của phương pháp kinh tế là ở chỗ nó tác động vào lợi ích của đối tượng bị
quản lý làm cho họ phải suy nghĩ, tính toán và lựa chọn phương án hoạt động có
hiệu quả nhất vừa đảm bảo lợi ích của mình, vừa đảm bảo lợi ích chung của toàn
xã hội.
Phương
pháp kinh tế nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân giúp cho Nhà nước giảm
bớt được nhiều công việc hành chính như công tác kiểm tra, đôn đốc có tính chất
sự vụ hành chính. Vì vậy, sử dụng phương pháp này vừa tiết kiệm được chi phí
quản lý, vừa giảm được tính chất cứng nhắc hành chính, vừa tăng cường tính sáng
tạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Một trong những thành công lớn của Nhà
nước trong công tác quản lý đất đai là việc áp dụng phương pháp khoán trong
nông nghiệp và giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho các tổ chức, hộ gia
đình và cá nhân, đã tạo ra động lực to lớn cho phát triển sản xuất nông nghiệp
và cho phép sử dụng có hiệu quả đất đai. Đây chính là Nhà nước đã áp dụng
phương pháp kinh tế trong quản lý đất đai.
Phương
pháp tuyên truyền, giáo dục là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và
tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và lòng nhiệt tình của họ
trong quản lý đất đai nói riêng và trong hoạt động kinh kế – xã hội nói chung.
Tuyên truyền, giáo dục là một trong các phương pháp không thể thiếu được trong
công tác quản lý nhà nước bởi vì mọi đối tượng quản lý suy cho cùng cũng chỉ là
quản lý con người mà con người là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội
và họ có những đặc trưng tâm lý rất đa dạng. Do đó, cần phải có nhiều
phương pháp tác động khác nhau trong đó có phương pháp giáo dục. Trong thực tế,
phương pháp giáo dục thường được kết hợp với các phương pháp khác, hỗ trợ cùng
với phương pháp khác để nâng cao hiệu quả công tác. Nếu chúng ta tách rời
phương pháp giáo dục với các phương pháp khác, tách rời giáo dục với
khuyến khích lợi ích vật chất, tách rời giáo dục với sự cưỡng chế bắt buộc thì
hiệu quả của công tác quản lý không cao, thậm chí có những việc còn không thực
hiện được. Nhưng nếu chúng ta kết hợp tốt, kết hợp một cách nhịp nhàng, linh
hoạt phương pháp giáo dục với các phương pháp khác thì hiệu quả của công tác
quản lý sẽ rất cao. Nội dung của phương pháp giáo dục rất đa dạng, nhưng trước
hết phải giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nói
chung; chính sách, pháp luật về đất đai nói riêng thể hiện qua các luật và các
văn bản dưới luật.
3.3.
Các công cụ quản lý nhà nước về đất đai
3.3.1. Công
cụ pháp luật
Pháp
luật là công cụ quản lý không thể thiếu được của một Nhà nước. Từ xưa đến nay,
Nhà nước nào cũng luôn thực hiện quyền cai trị của mình trước hết bằng pháp
luật. Nhà nước dùng pháp luật tác động vào ý chí con người để điều chỉnh hành
vi của con người.
Pháp
luật là công cụ duy trì trật tự an toàn xã hội trong lĩnh vực đất đai. Trong
hoạt động xã hội, vấn đề đất đai gắn chặt với lợi ích vật chất và tinh thần của
mọi chủ thể sử dụng đất nên vấn đề này dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Trong các
mâu thuẫn đó có những vấn đề phải dùng đến pháp luật mới xử lý được. Pháp luật
là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà
nước và các nghĩa vụ khác. Trong sử dụng đất đai, nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ
bắt buộc, nhưng không phải lúc nào nghĩa vụ đó cũng được thực hiện một cách đầy
đủ có rất nhiều trường hợp phải dùng biện pháp cưỡng chế và bắt buộc thì nghĩa
vụđó mới được thực hiện. Pháp luật là công cụ mà qua đó Nhà nước bảo đảm sự
bình đẳng, công bằng giữa những người sử dụng đất. Nhờ những điều khoản bắt
buộc, thông qua các chính sách miễn giảm, thưởng, phạt cho phép Nhà nước thực
hiện được sự bình đẳng cũng như giải quyết tết mối quan hệ về lợi ích trong
lĩnh vực đất đai giữa những người sử dụng đất.
Pháp
luật là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản lý khác, các chế độ, chính
sách của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả hơn. Trong hệ thống pháp
luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các công cụ pháp
luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý đất đai cụ thể như: Hiến
pháp, Luật Đất đai, Luật Dân sự, các pháp lệnh, các nghị định, các quyết định,
các thông tư, các chỉ thị, các nghị quyết… của Nhà nước, của Chính phủ, của
các bộ, các ngành có liên quan đến đất đai một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và
các văn bản quản lý của các cấp, các ngành ở chính quyền địa phương.
3.3.2. Công
cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
Trong
công tác quản lý nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong
công tác quản lý nhà nước về đất đai. Vì vậy, Luật Đất đai 2003 quy định
“Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật”. Quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong việc quản lý và sử dụng
đất, nó đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong quản lý nhà
nước về đất đai.
Thông
qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụng các loại đất được bố
trí, sắp xếp một cách hợp lý. Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình
hình đất đai. Từ đó, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí.
Đồng thời, thông qua quy hoạch, kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ
được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình. Quy hoạch đất đai được lập
theo vùng lãnh thổ và theo các ngành. Quy hoạch sử dụng đất đai theo vùng lãnh
thổ là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các cấp hành chính, gồm: quy
hoạch sử dụng đất đai của cả nước, quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, quy
hoạch sử dụng đất đai cấp huyện, quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã -Quy hoạch sử
dụng đất đai theo ngành là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các ngành
như: quy hoạch sử dụng đất đai ngành nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai
ngành công nghiệp, quý hoạch sử dụng đất đai ngành giao thông.
3.3.3.
Công cụ tài chính
Tài
chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập,
phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế – xã
hội.
Các
công cụ tài chính trong quản lý đất đai
-Thuế
và lệ phí: là công cụ tài chính chủ yếu được sử dụng rộng rãi trong công tác
quản lý đất đai. Theo Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước ban hành các loại thuế
chủ yếu trong lĩnh vực đất đai như sau:
Thuế
sử dụng đất;
Thuế
chuyển quyền sử dụng đất;
Thuế
thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (có thể có);
Các
loại lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai như lệ phí trước bạ, lệ phí
địa chính.
Giá
cả: Đối với đất đai hiện nay, Nhà nước đã ban hành khung giá chung cho các loại
đất cụ thể được quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của
Chính phủ để làm cơ sở chung cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh làm căn cứ tính giá
đất và thu thuế sử dụng đất; thu tiền khi giao đất, khi cho thuê đất, khi cho
phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.
Ngân
hàng là công cụ quan trọng của quan hệ tài chính. Ngoài nhiệm vụ kinh doanh
tiền tệ nói chung nó còn được hình thành để cung cấp vốn cho các công lệnh về
khai hoang, cải tạo đất…
*
Vai trò của công cụ tài chính trong quản lý đất đai
Tài
chính là công cụ để các đối tượng sử dụng đất đai thực hiện nghĩa vụ và trách
nhiệm của họ.
Tài
chính là công cụ mà Nhà nước thông qua nó để tác động đến các đối tượng sử dụng
đất làm cho họ thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong việc sử dụng đất
đai. Các đối tượng sử dụng đất đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế cho
Nhà nước. Tài chính là công cụ quản lý quan trọng cho phép thực hiện quyền bình
đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất và kết hợp hài hoà giữa các lợi ích.
Tài
chính là công cụ cơ bản để Nhà nước tăng nguồn thu ngân sách.
Tìm
hiểu thêm các nội dung về quản lý nhà nước về tôn giáo
4.
Quy hoạch sử dụng đất đai
4.1.
Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất đai
Trước
tiên ta có thể đặt câu hỏi quy hoạch đất đai là gỡ? Thật vậy về mặt thuật ngữ
quy hoạch là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như phân
bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức một đối tượng nào đó nhằm sử dụng theo như mong
muốn. Cũn “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định, có vị trí hình thể, diện
tích với những tính chất tự nhiên theo thời gian hoặc mới tạo thành ( đặc tính
thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất thảm thực vật … ) tạo ra những điều
kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.
Muốn
sử dụng đất phù hợp với từng mục đích phải trải qua một quá trình nghiên cứu
lao động sáng tạo, nhằm xác định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề
xuất một trật tự sử dụng đất nhất định, đó cũng là nội dung của quy hoạch sử
dụng dất đai.
Về
mặt bản chất cần được xác định dựa trên quan điểm nhận thức đất đai là đối
tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất đai ( gọi là các
mối quan hệ đất đai ) và việc tổ chức sử dụng đất (coi đất đai như là tư liệu
sản xuất đặc biệt ) gắn chặt với phát triển kinh tế- xã hội. Mọi hoạt động sản
xuất sinh hoạt của con người đều gắn với một đơn vị lãnh thổ nhất định. Điều
này cũng đồng nghĩa với quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế xã
hội thể hiện đồng thời ba tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế.
-Tính
kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất.
-Tính
kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật trong điều tra khảo
sát, xây dựng bản đồ, khoanh định xử lý số liệu …
-Tính
pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch
nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo đúng pháp luật.
-Từ
đó có thể đưa ra định nghĩa: “ Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện
pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý
đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả caonhất thông qua việc phân bổ
quỹ đất đai ( khoanh định cho các mục đích và các ngành ) và tổ chức sử dụng
đất như tư liệu sản xuất ( các giải pháp sử dụng cụ thể ) nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường…”
Như
vậy, thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định
để đưa đất đai vào sở dụng bền vững mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng
thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất
như tư liệu sản xuất đặc biệt.
Quản
lý quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý sẽ ngăn chặn được các hiện tượng tiêu cực,
tranh chấp lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm
môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sức sản xuất, phát triển kinh
tế-xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định về chính trị, an
ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn kinh tế vận hành
theo chính sách nền kinh tế thị trường hiện nay.
4.2.
Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
4.2.1.
Quy hoạch sử dụng đất dai theo lãnh thổ
Đây
là loại hình quy hoạch theo các đơn vị cấp hành chính. Mỗi cấp đều tiến hành
quy hoạch sử dụng đất đai cho đơn vị mình.
Đối
tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên
của lãnh thổ. Loại hình này được thực hiện theo nguyên tắc: Từ trên xuống dưới,
từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước
sau chỉnh lý bước trước.
Mục
đích của quy hoạch sử dụng đất đai theo các cấp lãnh thổ hành chính là:
Cụ
thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành và đơn vị hành
chính cấp cao hơn.
Làm
căn cứ để các ngành (cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy
hoạch sử dụng đất đai của địa phương.
Phục
vụ cho công tác thống nhất quản lý nhà nước về đất đai.
4.2.2.
Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành
Các
ngành kinh tế cũng chỉ là các ngành sản xuất do con người thực hiện trên một
đơn vị đất đai nào đó, luôn gắn với đất đai nên mỗi ngành không thể thiếu quy
hoạch sử dụng đất đai cho ngành mình, nhằm đảm bảo cơ cấu sử dụng đất hợp lý
trong mỗi ngành. Tuy nhiên khi quy hoạch phải có sự phối hợp của nhiều
ngành.
Đối
tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất trong phạm vi
ranh giới đã được xác định rõ mục đích cho từng ngành ở các cấp lãnh thổ tương
ứng.
Quy
hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ và theo ngành có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -xã hội mang tính chiến lược, xác
định mục tiêu phát triển nhiều ngành. Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch
tổng thể này để xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai cho ngành mình.
Như
vậy quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có định hướng cho quy hoạch sử
dụng đất đai theo ngành.
Quy
hoạch sử dụng đất đai có nhiệm vụ xác định cơ cấu sử dụng đất đai và vị trí
những khoanh đất dùng cho các mục đích khác nhau và là một trong những yếu tố
chủ yếu xác định bố cục không gian của khu vực đô thị.
4.3.
Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
(1)
Tính lịch sử- xã hội
Xã
hội loài người từ trước tới nay, Mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có một phương
thức sản xuất nhất định, đặc trưng bởi mối quan hệ giữa người với sức tự nhiên
và quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất. Trong quy hoạch sử
dụng đất đai luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai- là sức tự nhiên
thông qua việc đo đạc khoanh định, thiết kế … và mối quan hệ giữa người với
người ( xác nhận bằng văn bản- giấy CNQSDĐ ). Quy hoạch sử dụng đất đai vừa
thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển các
mối quan hệ sản xuất. Do đó nó luôn là một bộ phận quan trọng của phương thức
sản xuất xã hội.
Nội
dung của quy hoạch sử dụng đất đai luôn phát triển, biến đổi và hoàn thiện phù
hợp với từng giai đoạn phát triển lịch sử-xã hội đáp ứng cho các nhiệm vụ kinh
tế xã hội và chính trị khác nhau. Trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch
sử dụng đất mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa, nặng về
mặt pháp lý là phương tiện mở rộng củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai… ở
nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do đó quy hoạch sử dụng đất đai đảm bảo
lợi ích cho người sử dụng đất và phục vụ quyền lợi của toàn xã hội. Đặc biệt là
góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn ( nếu như trong sản
xuất nông nghiệp người nông dân gắn chặt với ruộng đồng, với đất đai thì khi có
sự chuyển cơ cấu sử dụng đát sẽ làm thay đổi hình thức quan hệ sử dụng đất từ
bị động sang chủ động.
Hiện
nay trong nền kinh tế thị trường quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết
các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường nảy sinh
trong quá trình sử dụng đất cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau.
Vì vậy có thể nói sự phát triển của xã hội là lịch sử phát triển của quy hoạch
sử dụng đất đai.
(2)
Tính tổng hợp
Con
người là mối tổng hoà của các quan hệ xã hội, từ đó mọi hoạt động của con người
trong sản xuất và sinh hoạt đều liên quan đến một đơn vị đất đai nào đó. Do vậy
quy hoạch sử dụng đất đai là sự tổng hợp của rất nhiều lĩnh vực về khoa học,
kinh tế, xã hội như khoa học tự nhiên, KHXH,dân số, sản xuất công-nông nghiệp,
môi trường …
Quy
hoạch sử dụng đất đai điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các nghành, lĩnh
vực xác định phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế-xã
hội đảm bảo phát triển bền vững.
(3)
Chiến lược dài hạn sử dụng đất
Quy
hoạch sử dụng đất đai được xây dựng trong 10 năm nhung có tính chiến lược từ
15-20 năm và trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn. Do vậy, cần phải lập dự báo cáo
cho việc sử dụng đất đai trong thời gian dài hơn là 15- 20 năm. Việc dự báo
không đòi hỏi chi tiết, chính xác cao mà cơ bản, nó xác định được đường lối sử
dụng đất trong thời gian dài. Sau đó, dựa vào số liệu thống kê và đánh gia hiện
trạng mới đưa ra phưong án quy hoạch, kế hoạch phân bổ, sử dụng và bảo vệ quỹ
đất đai trong thời gian trước mắt và lâu dài.
Quy
hoạch sử dụng đất đai nhằm dự báo cơ cấu đất đai, nó liên quan chật chẽ với
chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai, dự báo sử dụng các nguồn tài nguyên như
tài nguyên nước, tài nguyên rừng, phát triển các công trình thuỷ lợi, giao
thông. Chính vì vậy việc dự báo sử dụng đất đai với mục tiêu cơ bản là xác định
tiềm năng để mở rộng diện tích và cải tạo đất nông nghiệp-lâm nghiệp, xác định
định hướng cho các mục đích chuyên dùng khác phải được xem xét một các tổng hợp
cùng với các dụe báo về phát triển khoa học, kỹ thuật, dân số,xã hội. Trong
cùng một hệ thống thống nhất về dự báo phất triển kinh tế xã hội của cả nước.
(4)
Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Đây
là đặc điểm do đặc tính trung và dài hạn của giai đoạn quy hoạch quy định. Quy
hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương hướng, cơ
cấu và phân bố sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương
hướng, cơ cấu và phân bố sử dụng đất ở mức độ khái quát. Vì vậy quy hoạch sử
dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu quy hoạch mang
tính vĩ mô. Do khoảng thời gian dự báo dài, khó xác định các yếu tố ảnh hưởng
nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái quát thì quy hoạch sẽ càng ổn định và có tính
thực tiễn cao.
(5)
Tính chính sách
Khi
xây dựng phương án quy hoạch phải quán triệt các chính sách và quy định có liên
quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước. Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu
khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái.
(6)
Tính khả thi
Quy
hoạch sử dụng đất đai chỉ là một giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang
trạng thái mơí thích hợp hơn trong một thời kỳ nhất định. Sự biến động của các
nhân tố trong quy hoạch sử dụng đất theo nhiều phương diện khác nhau ta không
dự báo trước được và khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật tiến bộ, những dự
báo trước đây không còn phù hợp thì phương án quy hoạch sẽ được chỉnh sửa, bổ
sung và hoàn thiện. Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là một quy hoạch động, một
quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc: quy hoạch-thực hiện-quy hoạch
lại-tiếp tục thực hiện với tính khả thi ngày càng cao.
Từ
các đặc điểm trên cho thấy quy hoạch sử dụng đất đai có sự kế thừa và có sự
tham gia của nhiều nghành được hoạt động dưới sự chỉ đạo của cơ quan quản
lý nhà nước về đất đai thông qua các chính sách cụ thể. Mức độ phù hợp
của chính sách đất đai có tác động lớn đến tính khả thi của một phương án quy
hoạch.
Đối
tượng của quy hoạch sử dụng đất đai là đất đai, vì vậy để đạt được tính đầy đủ,
hợp lý, khoa học, và có hiệu quả đòi hỏi công tác quy hoạch sử dụng đất đai
phải được nghiên cứu một cách nghiêm túc, xem xét chi tiết các yếu tố tác động
đến sử dụng đất, nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ
đất và môi trường.
Tuy
nhiên sự ảnh hưởng của các yếu tố trên luôn được xem xét trong mối quan hệ với
hệ thống pháp luật. Một phương án quy hoạch không thể thực hiện được khi nó đi
ngược với những quy định của pháp luật. Vì vậy xem xét những căn cứ pháp lý là
cần thiết và được xem là điều kiện đủ trong quy hoạch sử dụng đất đai.


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


