Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay!
[Sưu Tầm] Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay!
|
Trang 1/1 |
[ 7 bài ] |
|
|
In kết quả
|
Đề tài trước | Bài chưa đọc đầu tiên | Đề tài tiếp theo |
Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay!
18.04.2016, 19:31 |
 |
Hoàng Lão Tà( ✿ ◠ ‿ ◠ ) ➻ ❥ 锦戎 ( ◡ ‿ ◡ ✿ ) |
|
Ngày tham gia: 02.01.2016, 19:37 Tuổi: 23  Bài viết: 2551 Được thanks: 5938 lần Điểm: 5.27
02.01.2016, 19:372325515938 lần
|
|
|
8 [Sưu Tầm] Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay! – Điểm:
LÝ LUẬN VĂN HỌC
Xin chào tất cả các bạn!
Ngày hôm nay chúng ta sẽ gặp nhau trong topic Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay.
Đối với một số bạn, nhất là các bạn học khối C cũng như các bạn học chuyên ngành văn học và ngôn ngữ thì thuật ngữ này vốn không còn xa lạ. Nhưng đối với một số các bạn khác thì lý luận văn học là cái gì và các vấn đề nằm trong nó như thế nào thì vẫn còn là một câu hỏi.
Trong topic này tà sẽ san sẻ cùng những bạn :
1. Định nghĩa về lý luận văn học
2. Đối tượng nghiên cứu của lý luận văn học
3. Cách làm bài thi, bài viết lý luận văn học
4. Các bài lý luận văn học
Đây hầu hết là những bài tà sưu tầm từ những nguồn khác nhau, với mục đích để cho các bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực văn học.
Tà rất hoan nghênh mọi người sẽ cùng với tà chia sẻ, để chúng ta cùng nhau giao lưu, cùng nhau hiểu biết hơn về nền văn học Việt Nam cũng như nền văn học Thế giới nhé!!!
|
Tìm kiếm với từ khoá : |
|

Share
|
 |
|
|
|
 |
18.04.2016, 19:47 |
|
|
|
9 Re: [Sưu Tầm] Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay! – Điểm:1. ĐỊNH NGHĨA LÝ LUẬN VĂN HỌC
Lý luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lý thuyết khái quát, bao gồm trong đó sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội-thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích văn học.
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LÝ LUẬN VĂN HỌC
Có thể tập hợp các vấn đề được nghiên cứu bởi lý luận văn học thành các nhóm lý thuyết chính:
Đặc trưng văn học
Lý thuyết về tính đặc trưng văn học như một hoạt động sáng tạo tinh thần của con người bao gồm tính hình tượng, tính nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ, các thuộc tính xã hội của văn học,phong cách sáng tác các nguyên tắc đánh giá sáng tác văn học nói chung.
Cấu trúc tác phẩm
Lý thuyết về cấu trúc tác phẩm văn học bao gồm các khái niệm về đề tài, chủ đề, nhân vật, tính cách, cảm hứng, cốt truyện, kết cấu, các vấn đề phong cách học, ngôn ngữ, thi pháp, luật thơ v.v.
Quá trình văn học
Lý thuyết về quá trình văn học bao gồm các khái niệm chính về phong cách, các loại và các thể văn học, các trào lưu, khuynh hướng văn học và các quá trình văn học nói chung.
( Nguồn : https://vi.wikipedia.org )
Lý luận văn học là bộ môn điều tra và nghiên cứu văn học ở bình diện kim chỉ nan khái quát, gồm có trong đó sự điều tra và nghiên cứu thực chất của sáng tác văn học, công dụng xã hội-thẩm mỹ của nó, đồng thời xác lập phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu và phân tích văn học. Có thể tập hợp những yếu tố được nghiên cứu và điều tra bởi lý luận văn học thành những nhóm kim chỉ nan chính : Lý thuyết về tính đặc trưng văn học như một hoạt động giải trí phát minh sáng tạo ý thức của con người gồm có tính hình tượng, tính nghệ thuật và thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ và nghệ thuật, những thuộc tính xã hội của văn học, phong thái sáng tác những nguyên tắc nhìn nhận sáng tác văn học nói chung. Lý thuyết về cấu trúc tác phẩm văn học gồm có những khái niệm về đề tài, chủ đề, nhân vật, tính cách, cảm hứng, diễn biến, cấu trúc, những yếu tố phong thái học, ngôn từ, thi pháp, luật thơ v.v. Lý thuyết về quy trình văn học gồm có những khái niệm chính về phong thái, những loại và những thể văn học, những trào lưu, khuynh hướng văn học và những quy trình văn học nói chung .
|
Tìm kiếm với từ khoá : |
|

Share
|
 |
|
|
|
 |
18.04.2016, 20:18 |
|
|
|
10 Re: [Sưu Tầm] Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay! – Điểm:KỸ NĂNG LÀM BÀI LÝ LUẬN VĂN HỌC
I. Yêu cầu :
– Bám sát yêu cầu của đề và văn bản tác phẩm.
– Cần có thái độ khách quan, khoa học, không tùy tiện suy diễn chủ quan.
– Vận dụng kiến thức tổng hợp về: tác giả, hoàn cảnh xã hội, lịch sử, lí luận văn học,các bộ môn có liên quan…
– Phải biết sử dụng chế độ đậm nhạt khi trình bày vấn đề.
– Bài viết là sự kết hợp giữa phong cách ngôn ngữ khoa học (chính xác, suy luậnlôgic…)
+ phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (văn viết có cảm xúc, giàu hình ảnh…) tạo sự hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.
II. Phương pháp làm bài :
A. Phương pháp chung:
a. Nghị luận hoàn cảnh ra đời của tác phẩm:
– Tác phẩm là một sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử, văn hóa nào đó.
– Hoàn cảnh xã hội (hoàn cảnh lớn): Tác động tới nhà văn qua hoàn cảnh riêng.
– Hoàn cảnh riêng (hoàn cảnh nhỏ): Hoàn cảnh nhà văn (gia đình, bản thân) cùng một thời đại mà mỗi nhà văn phản ánh thời đại đó khác nhau. Ví dụ: Văn học 1930-1945 : nhà văn lãng mạn
– nhà văn hiện thực phê phán.
– Hoàn cảnh sáng tác (hoàn cảnh cảm hứng): Đây là hoàn cảnh trực tiếp tạo chất men xúc tác cho tác phẩm ra đời, nó không chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh XH và hoàn cảnh riêng. Nghị luận hoàn cảnh ra đời phải: chú ý 3 hoàn cảnh trên, đặt chúng trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Phải hiểu hoàn cảnh sáng tác mới hiểu được tâm trạng, tư tưởng,tình cảm của tác giả.
b. Nghị luận trực tiếp tác phẩm: Tổng –Phân –Hợp.
* Tổng:
– Đọc kĩ tác phẩm cảm nhận cái “tinh thần chung”, cái “ấn tượng chung” của tácphẩm về cả nội dung và nghệ thuật.
– Chú ý đặc trưng thể loại: thơ (trữ tình ), truyện (tự sự)* Phân: Phân tích các chi tiết về nội dung và nghệ thuật.
– 3 cách:
+ Cắt ngang: theo bố cục của tác phẩm (thường sử dụng cho thơ)
+ Cắt dọc: theo chiều dọc tác phẩm (thường sử dụng cho truyện) + Kết hợp ngang
+ dọc: tùy từng phần để sử dụng hợp lí ( thơ, truyện)
– Yêu cầu:
+ Lựa chọn chi tiết quan trọng, tiêu biểu để phân tích.
+ Phân tích đậm nhạt các chi tiết theo “tinh thần chung” đã cảm nhận.
+ Phân tích nghệ thuật và nội dung song song, nêu tác dụng, cái hay của nghệ thuật,tránh gọi tên rồi nhận xét chung chung.
– Lưu ý:
+ Hiểu nội dung phải từ phương diện nghệ thuật.
+ Chú ý tên tác phẩm, phân tích ý nghĩa khái quát, ý nghĩa tượng trưng.
+ Có nhiều nghĩa thì chọn một nghĩa hợp lí nhất.
+ Phân tích nghệ thuật phải chỉ ra được ý nghĩa, chức năng thể hiện nội dung tư tưởng tác phẩm qua các yếu tố nghệ thuật đó.
( Nguồn : https://123doc.org/ )
– Bám sát nhu yếu của đề và văn bản tác phẩm. – Cần có thái độ khách quan, khoa học, không tùy tiện suy diễn chủ quan. – Vận dụng kỹ năng và kiến thức tổng hợp về : tác giả, thực trạng xã hội, lịch sử dân tộc, lí luận văn học, những bộ môn có tương quan … – Phải biết sử dụng chế độ đậm nhạt khi trình diễn yếu tố. – Bài viết là sự tích hợp giữa phong thái ngôn từ khoa học ( đúng chuẩn, suy luậnlôgic … ) + phong thái ngôn từ thẩm mỹ và nghệ thuật ( văn viết có xúc cảm, giàu hình ảnh … ) tạo sự mê hoặc và hấp dẫn người đọc. A. Phương pháp chung : a. Nghị luận thực trạng sinh ra của tác phẩm : – Tác phẩm là một loại sản phẩm của một thực trạng lịch sử vẻ vang, văn hóa truyền thống nào đó. – Hoàn cảnh xã hội ( thực trạng lớn ) : Tác động tới nhà văn qua thực trạng riêng. – Hoàn cảnh riêng ( thực trạng nhỏ ) : Hoàn cảnh nhà văn ( mái ấm gia đình, bản thân ) cùng một thời đại mà mỗi nhà văn phản ánh thời đại đó khác nhau. Ví dụ : Văn học 1930 – 1945 : nhà văn lãng mạn – nhà văn hiện thực phê phán. – Hoàn cảnh sáng tác ( thực trạng cảm hứng ) : Đây là thực trạng trực tiếp tạo chất men xúc tác cho tác phẩm sinh ra, nó không chịu tác động ảnh hưởng của thực trạng XH và thực trạng riêng. Nghị luận thực trạng sinh ra phải : chú ý quan tâm 3 thực trạng trên, đặt chúng trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Phải hiểu thực trạng sáng tác mới hiểu được tâm trạng, tư tưởng, tình cảm của tác giả. b. Nghị luận trực tiếp tác phẩm : Tổng – Phân – Hợp. * Tổng : – Đọc kĩ tác phẩm cảm nhận cái “ ý thức chung ”, cái “ ấn tượng chung ” của tácphẩm về cả nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật. – Chú ý đặc trưng thể loại : thơ ( trữ tình ), truyện ( tự sự ) * Phân : Phân tích những cụ thể về nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật. – 3 cách : + Cắt ngang : theo bố cục tổng quan của tác phẩm ( thường sử dụng cho thơ ) + Cắt dọc : theo chiều dọc tác phẩm ( thường sử dụng cho truyện ) + Kết hợp ngang + dọc : tùy từng phần để sử dụng hợp lý ( thơ, truyện ) – Yêu cầu : + Lựa chọn chi tiết cụ thể quan trọng, tiêu biểu vượt trội để nghiên cứu và phân tích. + Phân tích đậm nhạt những cụ thể theo “ ý thức chung ” đã cảm nhận. + Phân tích thẩm mỹ và nghệ thuật và nội dung song song, nêu công dụng, cái hay của nghệ thuật và thẩm mỹ, tránh gọi tên rồi nhận xét chung chung. – Lưu ý : + Hiểu nội dung phải từ phương diện thẩm mỹ và nghệ thuật. + Chú ý tên tác phẩm, nghiên cứu và phân tích ý nghĩa khái quát, ý nghĩa tượng trưng. + Có nhiều nghĩa thì chọn một nghĩa hợp lý nhất. + Phân tích thẩm mỹ và nghệ thuật phải chỉ ra được ý nghĩa, công dụng bộc lộ nội dung tư tưởng tác phẩm qua những yếu tố nghệ thuật và thẩm mỹ đó .
|
Tìm kiếm với từ khoá : |
|

Share
|
 |
|
|
|
 |
18.04.2016, 20:24 |
|
|
|
10 Re: [Sưu Tầm] Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay! – Điểm:Lí luận văn học – khủng hoảng cục bộ và lối thoát
Nhìn suốt thế kỉ XX, lí luận văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ đến năm 1945 phát triển đa dạng, nhiều chiều, song song với tiến trình nghiên cứu văn học dân tộc và phê bình văn học. Từ Đề cương văn hoá năm 1943, đáng chú ý từ cuộc “Tranh luận văn nghệ Việt Bắc” năm 1949 và đặc biệt từ cuối những năm 50 trở đi cho đến tận những năm 80, lí luận văn học thu về một mối thống nhất và trở thành một thứ lí luận có tính chất nhà nước, chỉ đạo nhất quán từ trên xuống dưới, là trụ cột của cuộc đấu tranh ý thức hệ trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. Chưa bao giờ trong lịch sử nước nhà lí luận văn học được nâng tầm quan trọng lên cao như thế, quyền lực như thế, thống nhất như thế! Nó trở thành tiêu chí để phê bình, đánh giá mọi hiện tượng văn học trong nước và thế giới. Các khái niệm như chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tính Đảng, tính nhân dân, tính chân thực, thế giới quan mác xít, vốn sống, lập trường…được hiểu một cách đặc biệt, trở thành tiêu chí giá trị chung của những sáng tác được suy tôn là tiên tiến bậc nhất của thời đại. Nhưng rồi Thời Đổi mới đã đến, đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy xã hội và kinh tế, thì lí luận văn học uy phong lẫm liệt một thời tự tan rã. Các khái niệm có vai trò trụ cột, quy phạm của văn học một thời như phản ánh, chức năng, nguồn gốc văn nghệ, tính giai cấp, tính nhân dân, văn nghệ phục vụ chính trị, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, điển hình, tính chân thật, tính đơn nhĩa… bị hoài nghi, lí luận văn học bị làm rỗng nội dung và mất dần hiệu lực. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu tạo nên cái mà không ít người gọi là “khủng hoảng lí luận”. Khủng hoảng la gì? Là trạng thái quá độ nặng nề từ một hình thái lí luận này chuyển sang hình thái lí luận khâc. Lí luận cũ với hệ giá trị cũ đã mất hiệu lực, nhưng chưa mất đi thật sự, lí luận mới đã được nối kết, nhưng chưa được hình thành hẳn. Trạng thái bây giờ là nủa nọ, nửa kia, cũ mới đan xen. Với trào lưu “Cởi trói”, sáng tác, phê bình văn học bùng lên như con ngựa được tháo cương, tung vó phi ra bốn phía, dường như viễn cảnh được mở rộng. Nhưng đối với không ít người thì lại lo thiếu vắng một thứ lí luận đủ sức trói buộc, định hướng chặt chẽ con ngựa ấy. Những câu hỏi lớn day dứt nhiều người: Văn học sẽ đi về đâu? Nhiều người mơ ước làm thế nào để có lại một lí luận văn học quyền uy như trước. Ai sẽ là người trọng tài văn học? Xuất phát từ những tiêu chí nào để nhìn nhận văn học hôm nay? Hầu hết tác phẩm đều có thể đánh giá trái ngược nhau. Đó là mặt thứ hai của cơn khủng hoảng lí luận.
Để hiểu thực chất cơn khủng hoảng lí luận văn học hiện tại và tìm ra lối thoát, cần nhìn rõ thực chất của hình thái lí luận văn học nhà nước. Đó là một hình thái lí luận đặc thù mà hệ thống lí luận chủ yếu lấy từ lí luận chính trị, triết học của một chủ thuyết, do một Đảng cầm quyền, nhà lãnh đạo Đảng ấy đề xuất, trong các văn kiện, nghị quyết đại hội, sau đó được một đội ngũ trí thức đứng ra thuyết minh, chứng minh về cơ sở khoa học, bảo vệ đồng thời chống lại và thậm chí huỷ diệt mọi quan điểm không phù hợp với các quan điểm lí luận kia. Các lí luận khác bị tuyên bố là thù địch, phản động, đi ngược lại đường lối. Số phận của những người có quan điểm kia cũng bị huỷ diệt cùng với quan điểm của mình. Trong hệ thống lí luận nhà nước ấy chỉ có các nhà kinh điển của chủ thuyết hoặc các nhà lãnh đạo là có quyền tác giả, còn những người diễn giải, trình bày lí luận văn học thì không được quyền có quan điểm riêng, không được nói khác. Họ chỉ được quyền lắng nghe, phát hiện trong các ý kiến chỉ đạo có khái niệm nào mới thì viết bài giải thích, trích dẫn, diễn giải. Chẳng hạn nếu nhà lãnh đạo nêu vấn đề tính Đảng, vấn đề điển hình thì một số cây bút ra sức viết bài bênh vực, làm sáng tỏ các khái niệm ấy. Nhiều công trình lí luận thường có nhan đề với lối diễn ngôn tương tự như “học tập”, “quán triệt”, “noi theo”, “tăng cường”, “trên con đường”, “dưới ánh sáng”, “đứng vững”: Học tập tư tưởng văn nghệ của Lê nin, Quan điểm văn nghệ của Mác Ang ghen, Lê nin, Quán triệt quan điểm văn nghệ của Đảng, Noi theo đường lối văn nghệ của Đảng, Dưới ánh sáng của đường lối Đảng, Luyện thêm chất thép cho ngòi bút, Đứng vững trên lập trường văn nghệ của Đảng, Tăng cường tính Đảng, đi sâu vào đời sống. Đường lối văn nghệ của Đảng – chân lí, trí tuệ, ánh sáng…hoặc: Đập tan các quan điểm văn nghệ tư sản, đồi truỵ, Phê phán chủ nghĩa xét lại hiện đại, Phê phán chủ nghĩa hiện sinh, Lột trần chân tướng của…Bất cứ một sự suy nghĩ nào khác như “Phá vỡ lô gích đời sống”, “bàn về tính chân thực”, “vai trò của người đọc”…đều phải trả giá. Qua cách diễn đạt, từ ngữ như trên ai cũng thấy rõ tính chất độc tôn, khép kín, tính chất chính trị đậm đặc, ít màu sắc khoa học, hầu như không có đối thoại. Nhà nước hoá toàn thể hoạt động tinh thần, các tổ chức xã hội. Tất cả trở thành “bánh xe, đinh ốc”của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính. Các cơ quan văn học, văn hoá, nghiên cứu văn học, văn hoá tham gia vào vận hành, kiểm soát bộ máy ấy. Hình thái lí luận văn học ấy tồn tại trước hết ở Liên Xô, Đông Âu, ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cu Ba, Bắc Việt Nam. Kết quả là lí luận văn học ấy không nghiên cứu các vấn đề phức tạp của văn học như đặc trưng, cấu trúc, hình thức bên trong, cái kì ảo, cái tưởng tượng, tính kí hiệu, tính đa nghĩa, sự tiếp nhận, mà chỉ rút gọn văn học vào một điều là hình thái ý thức xã hội. Hệ thống lí luận nhà nước như thế chỉ có ích nhất định với thời chiến, khi toàn dân phải nhất trí để đối phó với lực lượng thù địch, góp phần thống nhất toàn dân, giành được thắng lợi, không thích hợp với thời bình, khi xã hội có nhu cầu phát triển toàn diện về văn học và văn hoá, lại càng không thích hợp với thời đại mở cửa giao lưu, đối thoại, toàn cầu hoá hôm nay. Như thế, sự khủng hoảng lí luận chỉ là sự cáo chung của một hình thái lí luận văn học một thời, một hiện tượng phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử.
Xét về tính chất, lí luận văn học là bộ môn thuộc khoa học xã hội và nhân văn, là một hình thái lí luận thứ phát, vốn không phải là lí luận nguyên phát như khoa học, chính trị, triết học. Từ xa xưa lí luận văn học đều xây dựng trên cơ sở các lí luận nguyên phát. Lí luận thi pháp học của Aristote là con đẻ của triết học Hi Lạp cổ đại, mĩ học Hegel không tách rời với triết học duy tâm khách quan của ông. Lí luận chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên thế kỉ XIX gắn chặt với tiến hoá luận Darwin, khoa học thực chứng chủ nghĩa. Lí luận văn học cách mạng là sản phẩm của triết học Mác- Lênin, các lí luận văn học phương Tây thế kỉ XX không tách rời với các học thuyết của Nietzsche, Freud, Jung, Heidegger, Saussure, Gadamer, Foucault, Derrida… Là lí luận khoa học thứ phát, lí luận văn học luôn bị phụ thuộc vào tình trạng, địa vị của các lí luận nguyên phát mà nó dựa vào. Đó là lí do tại sao, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, các nước xã hội chủ nghĩa thay đổi mô hình xã hội, lí luận mácxít phổ thông phải xem xét lại, thì lí luận văn học macxit cũng trở nên bơ vơ, hầu như không nơi nương tựa.
Xét riêng về lí luận Mác xít, bản thân nó vốn là học thuyết khoa học, nhưng do dựa vào quyền lực nhà nước cho nên lí luận văn học mác xít ở các nước Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam không được ứng xử như khoa học, không có điều kiện để phát triển bình thường như mọi lí thuyết khoa học khác, mà bị thần thánh hóa, biến thành giáo điều. Mà đã không được ứng xử như khoa học thì nó không còn là khoa học nữa. Đã là khoa học thì trao đổi là bình thường, song ở các nước nói trên trao đổi học thuật trở thành cuộc đấu tranh quan điểm, đấu tranh tư tưởng, cho nên nó trở nên bất biến, xơ cứng, giáo điều trong một thời gian dài dưới dạng lí luận phổ thông và gây nhiều tổn thương cho văn học. Chẳng hạn, theo các giáo điều đó, bản chất của văn học được định nghĩa một cách phi mác xít là một hình thái ý thức xã hội thuộc một giai cấp xã hội nhất định, nếu không thuộc giai cấp này thì nhất định phải thuộc một giai cấp khác, không có hình thái ý thức phi giai cấp. Đó là một quan niệm về bản chất khép kín, chết cứng, trong khi đó Mác định nghĩa bản chất con người là tổng hoà của mọi quan hệ xã hội, một định nghĩa mở, đáp ứng sự biến đổi và phát triển. Con người như thế thì văn học cũng là tổng hòa mọ quan hệ xã hội, có đủ các tác động xã hội trong bản thân nó, không thuần nhất một giai cấp nào. Một người đã hiểu bản chất con người như thế ấy thì quyết không thể hiểu bản chất văn học như thế kia. Sự sơ lược hoá triết học Mác xít một thời đã gieo mầm khủng hoảng cho lí luận văn học hôm nay. Sự kết hợp với quyền lực cũng làm cho lí luận phát triển phiến diện. Một thời gian dài chúng ta chỉ quan tâm lí luận sáng tác, hầu như bỏ qua, thậm chí thù địch với lí luận tiếp nhận. Điều này cho thấy hình thái lí luận văn học tôn tại dựa trên quyền lực là một hình thái không thể có tiền đồ.
Đi sâu vào lí luận văn học mác xít ta sẽ thấy nhiều quan điểm của Lenin không có giá trị khoa học. Một nhà nghiên cứu văn học Nga phân tích cho thấy, trong các bài báo của Lên nin về Tolstoi chỉ là vận dụng tư tương văn hóa lịch sử của Hippolite Taine, nhưng đã bị giai cấp hóa. Theo đó, nhà văn vĩ đại Tolstoi biến thành “người biểu đạt tư tưởng và tâm trạng” của một giai cấp nào đó. “Tolstoi vĩ đại vì ông là người biểu đạt tư tưởng và tâm trạng của hàng triệu nông dân Nga trong thời đại cách mạng tư sản ở nước Nga.” “Nghiên cứu tác phẩm của Tolstoi giai cấp công nhân Nga sẽ nhân ra tốt nhất các kẻ thù của mình..” Lối chính trị hóa như thế là đã đánh mất tác phẩm nghệ thuật của nhà văn vĩ đại. Thế mà một thời gian dài chúng ta coi đó là lí luận kinh điển. Ví dụ này cho thấy ngày nay chúng ta cần đọc lại các tác phẩm kinh điển bằng con mắt bình thường của đứa trẻ con trong ngụ ngôn Bộ áo mới của hoàng đế.
Thứ ba, xét về mặt chức năng, lí luận văn học từ xưa đã có mấy chức năng cơ bản. Một là chức năng lập pháp, quy phạm, tổ chức sáng tác, bảo vệ cho văn học tồn tại và phát triển, bảo vệ mọi sự tìm tòi, cách tân của văn học, và hai là chức năng lí giải, giải thích, thưởng ngoạn văn học. “Văn dĩ tải đạo” là tư tưởng lí luận chủ yếu của Nho gia suốt mấy nghìn năm lịch sử ở Trung Quốc vừa quy phạm văn học vừa chi phối cách lí giải, đánh giá văn học cho đến ngày nay. Ở phương Tây Platon từng đòi đuổỉ thơ ra khỏi vương quốc lí tưởng của ông. Lí luận “mimesis” của Aristote có ảnh hưởng hơn cả nghìn năm. Lí thuyết chủ nghĩa cổ điển Pháp từng quy phạm văn học chủ nghĩa cổ điển. Lí luận khoa học biện hộ cho sáng tác chủ nghĩa hiện thực của Standhal, Flaubert, Zola…So với các lí luận khác, lí luận văn học mác xít ở Liên xô, Trung Quốc, Việt Nam một thời là một hình thái lí luận văn học đặc biệt khác. Nó trước hết là một hệ thống lí luận diễn dịch từ nguyên lí triết học; thứ hai, nó không thuần tuý là lí luận khoa học, mà là một hình thái quy phạm quyền lực độc tôn; thứ ba, lí luận văn học ấy đồng thời cũng ràng buộc, quy phạm sáng tác theo quy luật nghiệt ngã của thời chiến. Thứ tư, dựa vào lí luận ấy, phê bình văn học được sử dụng như một công cụ để đưa đường chỉ lối văn nghệ đi theo đúng định hướng ý thức hệ.
Xét theo mặt chức năng giải thích ta thấy cuộc khủng hoảng lí luận văn học thời gian qua là một bước dừng để chuyển sang hình thái nhấn mạnh chức năng giải thích, lí giải các hiện tượng văn học. Đây sẽ là hình thái lí luận văn học chủ yếu của thời hiện đại. Theo quan điểm của nhiều nhà lí luận hiện đại, chức năng lí giải, giải thích văn học là chức năng chủ yếu của lí luận, tuy nhiên lí luận văn học của chúng ta trước đây đã không chú trọng đầy đủ đến phương diện này. Ta chỉ có một cách giải thích duy nhất là lấy “tồn tại xã hội” để giải thích “ý thức”, tồn tạo ấy là lịch sử đấu tranh giai cấp. Nói đúng hơn, chúng ta bằng lòng với những cách giải thích có tính vạn năng của lí luận của chúng ta. Đại để nếu một hiện tượng văn học không phù hợp với chúng ta thì sẽ giải thích đó là sản phẩm của xã hội phong kiến hay xã hội tư sản hoặc là sự suy đồi, là loại nấm độc…Nguồn gốc văn học ư? Đó là lao động, lao động sáng tạo con người. Sáng tác yếu kém ư? Đó là do thế giới quan chưa đúng hoặc do vốn sống còn nghèo nàn! Cần phải tăng cường đi sâu vào thực tế đời sống nhiều hơn nữa, lâu hơn nữa! Và thế là còn biết bao cách giải thích khác, lí luận khác, khoa học hơn, cụ thể hơn đã bị chúng ta khước từ, loại bỏ, vì không đúng với quan điểm của chúng ta.
Thực ra lí luận văn học thế kỉ XX đã trải qua một cuộc chuyển đổi hình thái. Chức năng khống chế, quy phạm văn học vẫn còn đây đó, và đó chủ yếu là lí luận về sáng tác, song nổi lên hàng đầu là chức năng giải thích, lí giải văn học. Các lí thuyết như phân tâm học, tâm phân học, chủ nghĩa hình thức Nga, phê bình mới Anh Mĩ, cấu trúc luận, xã hội học, tiếp nhận văn học, kí hiệu học văn học, thi pháp học, văn học so sánh, tự sự học, giải cấu trúc luận, tâm lí học nghệ thuật, nhân học văn học, văn hoá học văn học…đều hướng về phía lí giải, giải thích các hiện tượng văn học từ nhiều góc độ, bình diện khác nhau. Chúng được đề xuất ra không nhằm để khống chế hay quy phạm văn học. Sở dĩ như vậy là vì trong thời đại phát triển của xã hội dân chủ, kinh tế thị trường, giao lưu, hội nhập, văn hoá đại chúng và các phương tiện truyền thông hiện đại như hôm nay, sự quy phạm, khống chế văn học là điều khó có thể làm được. Có thể tác động đến nó, song khống chế là hầu như không được. Hình thái lí luận văn học lí giải, giải thích văn học đòi hỏi một sự chuyên sâu có tính nghề nghiệp. Sự xuất hiện thi pháp học, phân tâm học, văn học so sánh, lí luân tiếp nhận, lí luận cấu trúc, giả cấu trúc, lí luận về tác phẩm ở nước ta thời gian qua đánh dấu bước chuyển hướng của hình thái lí luận đi về phía hình thái lí giải, giải thích văn học. Muốn theo phân tâm học phải học phân tích tâm lí vô thức, phải học phân tích mẫu gốc, muốn theo thi pháp học phải tinh thông kĩ thuật phân tích hình thức, muốn theo nhân học văn học phải khảo sát vô vàn hiện tượng văn hoá hữu quan. Thực hiện chức năng của lí luận giải thích đòi hỏi phải có đội ngũ nghiên cứu văn học chuyên nghiêp tinh thông ngoại ngữ. Đội ngũ này đã và đang xuất hiện, nhưng còn nhỏ, yếu, chúng ta chỉ có thể hi vọng trong tương lai nó được quan tâm và sẽ góp phần soi sáng nhiều hiện tượng văn học độc đáo đa dạng của văn học dân tộc cùng thế giới.
Đánh giá cuộc khủng hoảng lí luận chúng ta cần làm sáng tỏ mấy vấn đề: Trong thế giới hiện nay liệu có thể tồn tại một hình thái lí luận khép kín, độc tôn được không? Liệu có thể tồn tại một hình thái lí luận chỉ dựa vào quyền lực mà tự duy trì được các nguyên lí không? Liệu có nền lí luận văn học mà chỉ có một thứ lí luận phát triển trên cơ sở một học thuyết được tồn tại hay không? Liệu có một thứ lí luận văn học mà chỉ do các nhà lãnh đạo bao biện làm thay, không có tác giả lí luận văn học bình thường nào khác được không? Trả lời các câu hỏi ấy chúng ta sẽ thấy cuộc khủng hoảng lí luận văn học vừa qua là một dấu hiệu của sự tiến bộ rất đáng khích lệ.
Chúng ta sẽ bước ra khỏi cuộc khủng hoảng lí luận văn học này như thế nào? Thiết nghĩ trước hết phải xem xét lại phương pháp luận lí luận văn học độc tôn cũ, nhìn ra các hạn chế của nó. Tiếp theo cần xác lập căn bản phương pháp luận lí luận văn học mới. Lúc này, hơn lúc nào hết sự phát triển lí luận văn học của nước nhà không thể tách rời với các khuynh hướng chung của lí luận văn học thế giới. Dù có thiết tha với một nền lí luận văn học Việt Nam, thì nền ấy trước hết cũng phải tiếp cận với các thành tựu lí luận văn học thế giới cả một thế kỉ mà chúng ta đã quay lưng xa lánh. Chúng ta phải trả món nợ lí luận trăm năm ấy bằng hàng loạt công trình dịch thuật các trước tác giá trị nhất, có ảnh hưởng nhất của thế giới. Ngay một nước có truyền thống lí luận văn học dân tộc hàng nghìn năm như Trung Quốc mà đã quyết định quay lưng với truyền thống mác xít Nga cũ, chuyển hướng sang phương Tây. Vậy đối với chúng ta, nếu coi thường lí luận phương Tây thì lí luận văn học làm sao phát triển được?
Phương hướng phát triển lí luận văn học của chúng ta như thế nào? Theo chúng tôi, trước hết phải đặt nó trong bối cảnh lí luận văn học thế giới. Mọi người đều biết, lí luận văn học trên thế giới từ thế kỉ XIX sang thế kỉ XX đã và đang thay đổi lớn.Trào lưu lí luận văn học cổ điển thế kỉ XVIII – giữa thế kỉ XIX lấy các học thuyết triết học về bản thể thế giới ( tự nhiên, tinh thần, vật chất) làm nền tảng, sang đầu thế kỉ XX đã bị thay thế bởi các trào lưu lí luận văn học nhân bản chủ nghĩa dựa vào các triết học nhân bản lấy con người làm nền tảng, như các lí luận chủ nghĩa biểu hiện, phê bình phân tâm học, lí luận hiện tượng học, chủ nghĩa hiện sinh, lí luận mĩ học mác xít phương Tây, lí thuyết tiếp nhận, lí luận phê bình phản ứng người đọc, lí thuyết đối thoại của Bakhtin…Song hành với trào lưu lí luận văn học nhân bản chủ nghĩa là trào lưu lí luận văn học khoa học chủ nghĩa, dựa vào tiêu chí khoa học khách quan, thực chứng. Đó là chủ nghĩa hình thức Nga, Phê bình mới Anh – Mĩ, chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu học, lí thuyết tự sự học, giải cấu trúc. Đến lượt mình các trào lưu lí luận văn học trên lại đang bị thay thế dần bằng một trào lưu mới: lí luận văn học văn hoá học mang tính chất liên ngành, bao gồm nhân học văn học, sinh thái học văn học, tân lịch sử chủ nghĩa…. Tất nhiên, theo quy luật kế thừa, sự thay thế lí luận không có nghĩa là phủ nhận sạch trơn mọi cái cũ, mà hấp thu chúng vào hệ thống mới một cách tương thích. Về lí luận mác xít, cần được nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn, khai thác lí luận chủ thể của nó; mặt khác, có một truyền thống lí luận văn học mác xít phương Tây vẫn kiên trì dựa vào những nguyên lí của chủ nghĩa Mác để phát triển lí luận văn học. Ngày nay có thể coi đó là một nguồn tham khảo có giá trị cho lí luận văn học mới của chúng ta.
Trong bối cảnh lí luận như vừa trình bày trên, lí luận văn học mác xít của ta thuộc dòng lí luận cổ điển thế kỉ XIX trở về trước, chủ yếu quan tâm các vấn đề vĩ mô mà hầu như không quan tâm các phương diện vi mô như ngôn ngữ, văn bản, tiếp nhận… Theo chúng tôi, sự khủng hoảng của nó đánh dấu lí luận văn học hình thái cũ đã lỗi thời, một hình thái lí luận văn học mới, bao hàm cả phương diện vĩ mô lẫn vi mô, phù hợp thời đại mới và trình độ tư duy mới sẽ phải được xây dựng mới.
Để xây dựng một nền lí luận văn học theo hình thái mới và để cho lí luận văn học Việt Nam tiến kịp bước tiến chung của thời đại, có tác dụng thúc đẩy văn học và phê bình văn học dân tộc tiến bộ, hơn lúc nào hết chúng ta cần tạo điều kiện giao lưu rộng rãi về lí luận văn học, tạo điều kiện cho những người làm nghề lí luận được học tập, sáng tạo lí luận theo thiên hướng của mình, được phát biểu ý kiến của mình mà không lo ngại về các cuộc “tranh luận” trá hình mà thực chất là sự thi hành quyền lực một cách tinh vi. Lí luận văn học phải do những nhà chuyên môn tìm tòi nghiên cứu. Cần đào tạo và tôn trọng các chuyên gia. Chúng tôi luôn nhớ đến các chính sách nông nghiệp đã từng biến nước ta từ một nước thiếu ăn thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Lí luận văn học sẽ có những quy luật khác với sản xuất nông nghiệp, song vẫn khát khao những điều kiện giúp phát huy tiềm năng vốn có, thúc đẩy chúng ta sớm bước ra khỏi cuộc khủng hoảng lí luận văn học hiện tại, mà một trong những đòi hỏi hàng đầu là xuất bản và giới thiệu những cái mới, cùng với nó là những tranh luận tự do, xây dựng những nhân cách độc lập trong giới nghiên cứu lí luận, xoá bỏ những nô lệ về tư tưởng.
( Nguồn : https://nguvan.hnue.edu.vn/ )Nhìn suốt thế kỉ XX, lí luận văn học Nước Ta từ đầu thế kỉ đến năm 1945 tăng trưởng phong phú, nhiều chiều, song song với tiến trình điều tra và nghiên cứu văn học dân tộc bản địa và phê bình văn học. Từ Đề cương văn hoá năm 1943, đáng chú ý quan tâm từ cuộc “ Tranh luận văn nghệ Việt Bắc ” năm 1949 và đặc biệt quan trọng từ cuối những năm 50 trở đi cho đến tận những năm 80, lí luận văn học thu về một mối thống nhất và trở thành một thứ lí luận có đặc thù nhà nước, chỉ huy nhất quán từ trên xuống dưới, là trụ cột của cuộc đấu tranh ý thức hệ trên nghành văn học nghệ thuật và thẩm mỹ. Chưa khi nào trong lịch sử vẻ vang nước nhà lí luận văn học được nâng tầm quan trọng lên cao như vậy, quyền lực tối cao như vậy, thống nhất như thế ! Nó trở thành tiêu chuẩn để phê bình, nhìn nhận mọi hiện tượng kỳ lạ văn học trong nước và quốc tế. Các khái niệm như chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tính Đảng, tính nhân dân, tính chân thực, thế giới quan mác xít, vốn sống, lập trường … được hiểu một cách đặc biệt quan trọng, trở thành tiêu chuẩn giá trị chung của những sáng tác được suy tôn là tiên tiến và phát triển bậc nhất của thời đại. Nhưng rồi Thời Đổi mới đã đến, thay đổi tư duy, đặc biệt quan trọng là tư duy xã hội và kinh tế tài chính, thì lí luận văn học uy phong lẫm liệt một thời tự tan rã. Các khái niệm có vai trò trụ cột, quy phạm của văn học một thời như phản ánh, tính năng, nguồn gốc văn nghệ, tính giai cấp, tính nhân dân, văn nghệ ship hàng chính trị, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nổi bật, tính chân thực, tính đơn nhĩa … bị không tin, lí luận văn học bị làm rỗng nội dung và mất dần hiệu lực hiện hành. Đó chính là nguyên do đa phần tạo nên cái mà không ít người gọi là “ khủng hoảng cục bộ lí luận ”. Khủng hoảng la gì ? Là trạng thái quá độ nặng nề từ một hình thái lí luận này chuyển sang hình thái lí luận khâc. Lí luận cũ với hệ giá trị cũ đã mất hiệu lực hiện hành, nhưng chưa mất đi thật sự, lí luận mới đã được nối kết, nhưng chưa được hình thành hẳn. Trạng thái giờ đây là nủa nọ, nửa kia, cũ mới xen kẽ. Với trào lưu “ Cởi trói ”, sáng tác, phê bình văn học bùng lên như con ngựa được tháo cương, tung vó phi ra bốn phía, có vẻ như viễn cảnh được lan rộng ra. Nhưng so với không ít người thì lại lo thiếu vắng một thứ lí luận đủ sức trói buộc, khuynh hướng ngặt nghèo con ngựa ấy. Những câu hỏi lớn day dứt nhiều người : Văn học sẽ đi về đâu ? Nhiều người mơ ước làm thế nào để có lại một lí luận văn học quyền uy như trước. Ai sẽ là người trọng tài văn học ? Xuất phát từ những tiêu chuẩn nào để nhìn nhận văn học thời điểm ngày hôm nay ? Hầu hết tác phẩm đều hoàn toàn có thể nhìn nhận trái ngược nhau. Đó là mặt thứ hai của cơn khủng hoảng cục bộ lí luận. Để hiểu thực ra cơn khủng hoảng cục bộ lí luận văn học hiện tại và tìm ra lối thoát, cần nhìn rõ thực ra của hình thái lí luận văn học nhà nước. Đó là một hình thái lí luận đặc trưng mà mạng lưới hệ thống lí luận đa phần lấy từ lí luận chính trị, triết học của một chủ thuyết, do một Đảng cầm quyền, nhà chỉ huy Đảng ấy yêu cầu, trong những văn kiện, nghị quyết đại hội, sau đó được một đội ngũ tri thức đứng ra thuyết minh, chứng tỏ về cơ sở khoa học, bảo vệ đồng thời chống lại và thậm chí còn huỷ diệt mọi quan điểm không tương thích với những quan điểm lí luận kia. Các lí luận khác bị công bố là thù địch, phản động, đi ngược lại đường lối. Số phận của những người có quan điểm kia cũng bị huỷ diệt cùng với quan điểm của mình. Trong mạng lưới hệ thống lí luận nhà nước ấy chỉ có những nhà tầm cỡ của chủ thuyết hoặc những nhà chỉ huy là có quyền tác giả, còn những người diễn giải, trình diễn lí luận văn học thì không được quyền có quan điểm riêng, không được nói khác. Họ chỉ được quyền lắng nghe, phát hiện trong những quan điểm chỉ huy có khái niệm nào mới thì viết bài lý giải, trích dẫn, diễn giải. Chẳng hạn nếu nhà chỉ huy nêu yếu tố tính Đảng, yếu tố nổi bật thì một số ít cây bút ra sức viết bài bênh vực, làm sáng tỏ những khái niệm ấy. Nhiều khu công trình lí luận thường có nhan đề với lối diễn ngôn tựa như như “ học tập ”, “ không cho ”, “ noi theo ”, “ tăng cường ”, “ trên con đường ”, “ dưới ánh sáng ”, “ đứng vững ” : Học tập tư tưởng văn nghệ của Lê nin, Quan điểm văn nghệ của Mác Ang ghen, Lê nin, Quán triệt quan điểm văn nghệ của Đảng, Noi theo đường lối văn nghệ của Đảng, Dưới ánh sáng của đường lối Đảng, Luyện thêm chất thép cho ngòi bút, Đứng vững trên lập trường văn nghệ của Đảng, Tăng cường tính Đảng, đi sâu vào đời sống. Đường lối văn nghệ của Đảng – chân lí, trí tuệ, ánh sáng … hoặc : Đập tan những quan điểm văn nghệ tư sản, đồi truỵ, Phê phán chủ nghĩa xét lại văn minh, Phê phán chủ nghĩa hiện sinh, Lột trần chân tướng của … Bất cứ một sự tâm lý nào khác như “ Phá vỡ lô gích đời sống ”, “ bàn về tính chân thực ”, “ vai trò của người đọc ” … đều phải trả giá. Qua cách diễn đạt, từ ngữ như trên ai cũng thấy rõ đặc thù duy nhất, khép kín, đặc thù chính trị đậm đặc, ít sắc tố khoa học, phần đông không có đối thoại. Nhà nước hoá toàn thể hoạt động giải trí niềm tin, những tổ chức triển khai xã hội. Tất cả trở thành “ bánh xe, đinh ốc ” của cỗ máy nhà nước, cỗ máy hành chính. Các cơ quan văn học, văn hoá, điều tra và nghiên cứu văn học, văn hoá tham gia vào quản lý và vận hành, trấn áp cỗ máy ấy. Hình thái lí luận văn học ấy sống sót trước hết ở Liên Xô, Đông Âu, ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cu Ba, Bắc Nước Ta. Kết quả là lí luận văn học ấy không điều tra và nghiên cứu những yếu tố phức tạp của văn học như đặc trưng, cấu trúc, hình thức bên trong, cái kì ảo, cái tưởng tượng, tính kí hiệu, tính đa nghĩa, sự tiếp đón, mà chỉ rút gọn văn học vào một điều là hình thái ý thức xã hội. Hệ thống lí luận nhà nước như vậy chỉ có ích nhất định với thời chiến, khi toàn dân phải nhất trí để đối phó với lực lượng thù địch, góp thêm phần thống nhất toàn dân, giành được thắng lợi, không thích hợp với thời bình, khi xã hội có nhu yếu tăng trưởng tổng lực về văn học và văn hoá, lại càng không thích hợp với thời đại Open giao lưu, đối thoại, toàn cầu hoá thời điểm ngày hôm nay. Như thế, sự khủng hoảng cục bộ lí luận chỉ là sự cáo chung của một hình thái lí luận văn học một thời, một hiện tượng kỳ lạ tương thích với quy luật tăng trưởng của lịch sử vẻ vang. Xét về đặc thù, lí luận văn học là bộ môn thuộc khoa học xã hội và nhân văn, là một hình thái lí luận thứ phát, vốn không phải là lí luận nguyên phát như khoa học, chính trị, triết học. Từ rất lâu rồi lí luận văn học đều kiến thiết xây dựng trên cơ sở những lí luận nguyên phát. Lí luận thi pháp học của Aristote là con đẻ của triết học Hi Lạp cổ đại, mĩ học Hegel không tách rời với triết học duy tâm khách quan của ông. Lí luận chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên thế kỉ XIX gắn chặt với tiến hoá luận Darwin, khoa học thực chứng chủ nghĩa. Lí luận văn học cách mạng là loại sản phẩm của triết học Mác – Lênin, những lí luận văn học phương Tây thế kỉ XX không tách rời với những học thuyết của Nietzsche, Freud, Jung, Heidegger, Saussure, Gadamer, Foucault, Derrida … Là lí luận khoa học thứ phát, lí luận văn học luôn bị nhờ vào vào thực trạng, vị thế của những lí luận nguyên phát mà nó dựa vào. Đó là lí do tại sao, khi mạng lưới hệ thống xã hội chủ nghĩa quốc tế sụp đổ, những nước xã hội chủ nghĩa đổi khác quy mô xã hội, lí luận mácxít đại trà phổ thông phải xem xét lại, thì lí luận văn học macxit cũng trở nên bơ vơ, hầu hết không nơi phụ thuộc. Xét riêng về lí luận Mác xít, bản thân nó vốn là học thuyết khoa học, nhưng do dựa vào quyền lực tối cao nhà nước vì vậy lí luận văn học mác xít ở những nước Liên Xô, Trung Quốc, Nước Ta không được ứng xử như khoa học, không có điều kiện kèm theo để tăng trưởng thông thường như mọi lí thuyết khoa học khác, mà bị thần thánh hóa, biến thành giáo điều. Mà đã không được ứng xử như khoa học thì nó không còn là khoa học nữa. Đã là khoa học thì trao đổi là thông thường, tuy nhiên ở những nước nói trên trao đổi học thuật trở thành cuộc đấu tranh quan điểm, đấu tranh tư tưởng, vì vậy nó trở nên không bao giờ thay đổi, xơ cứng, giáo điều trong một thời hạn dài dưới dạng lí luận đại trà phổ thông và gây nhiều tổn thương cho văn học. Chẳng hạn, theo những giáo điều đó, thực chất của văn học được định nghĩa một cách phi mác xít là một hình thái ý thức xã hội thuộc một giai cấp xã hội nhất định, nếu không thuộc giai cấp này thì nhất định phải thuộc một giai cấp khác, không có hình thái ý thức phi giai cấp. Đó là một ý niệm về thực chất khép kín, chết cứng, trong khi đó Mác định nghĩa thực chất con người là tổng hoà của mọi quan hệ xã hội, một định nghĩa mở, cung ứng sự đổi khác và tăng trưởng. Con người như thế thì văn học cũng là tổng hòa mọ quan hệ xã hội, có đủ những tác động ảnh hưởng xã hội trong bản thân nó, không thuần nhất một giai cấp nào. Một người đã hiểu thực chất con người như vậy ấy thì quyết không hề hiểu thực chất văn học như vậy kia. Sự sơ lược hoá triết học Mác xít một thời đã gieo mầm khủng hoảng cục bộ cho lí luận văn học ngày hôm nay. Sự phối hợp với quyền lực tối cao cũng làm cho lí luận tăng trưởng phiến diện. Một thời hạn dài tất cả chúng ta chỉ quan tâm lí luận sáng tác, hầu hết bỏ lỡ, thậm chí còn thù địch với lí luận tiếp đón. Điều này cho thấy hình thái lí luận văn học tôn tại dựa trên quyền lực tối cao là một hình thái không hề có tiền đồ. Đi sâu vào lí luận văn học mác xít ta sẽ thấy nhiều quan điểm của Lenin không có giá trị khoa học. Một nhà nghiên cứu và điều tra văn học Nga nghiên cứu và phân tích cho thấy, trong những bài báo của Lên nin về Tolstoi chỉ là vận dụng tư tương văn hóa truyền thống lịch sử vẻ vang của Hippolite Taine, nhưng đã bị giai cấp hóa. Theo đó, nhà văn vĩ đại Tolstoi biến thành “ người diễn đạt tư tưởng và tâm trạng ” của một giai cấp nào đó. “ Tolstoi vĩ đại vì ông là người miêu tả tư tưởng và tâm trạng của hàng triệu nông dân Nga trong thời đại cách mạng tư sản ở nước Nga. ” “ Nghiên cứu tác phẩm của Tolstoi giai cấp công nhân Nga sẽ nhân ra tốt nhất những quân địch của mình .. ” Lối chính trị hóa như thế là đã đánh mất tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ của nhà văn vĩ đại. Thế mà một thời hạn dài tất cả chúng ta coi đó là lí luận tầm cỡ. Ví dụ này cho thấy ngày này tất cả chúng ta cần đọc lại những tác phẩm tầm cỡ bằng con mắt thông thường của đứa trẻ con trong ngụ ngôn Bộ áo mới của nhà vua. Thứ ba, xét về mặt tính năng, lí luận văn học từ xưa đã có mấy công dụng cơ bản. Một là tính năng lập pháp, quy phạm, tổ chức triển khai sáng tác, bảo vệ cho văn học sống sót và tăng trưởng, bảo vệ mọi sự tìm tòi, cải cách của văn học, và hai là công dụng lí giải, lý giải, thưởng ngoạn văn học. “ Văn dĩ tải đạo ” là tư tưởng lí luận hầu hết của Nho gia suốt mấy nghìn năm lịch sử vẻ vang ở Trung Quốc vừa quy phạm văn học vừa chi phối cách lí giải, nhìn nhận văn học cho đến thời nay. Ở phương Tây Platon từng đòi đuổỉ thơ ra khỏi vương quốc lí tưởng của ông. Lí luận “ mimesis ” của Aristote có ảnh hưởng tác động hơn cả nghìn năm. Lí thuyết chủ nghĩa cổ xưa Pháp từng quy phạm văn học chủ nghĩa cổ xưa. Lí luận khoa học biện hộ cho sáng tác chủ nghĩa hiện thực của Standhal, Flaubert, Zola … So với những lí luận khác, lí luận văn học mác xít ở Liên xô, Trung Quốc, Nước Ta một thời là một hình thái lí luận văn học đặc biệt quan trọng khác. Nó trước hết là một mạng lưới hệ thống lí luận diễn dịch từ nguyên lí triết học ; thứ hai, nó không thuần tuý là lí luận khoa học, mà là một hình thái quy phạm quyền lực tối cao duy nhất ; thứ ba, lí luận văn học ấy đồng thời cũng ràng buộc, quy phạm sáng tác theo quy luật nghiệt ngã của thời chiến. Thứ tư, dựa vào lí luận ấy, phê bình văn học được sử dụng như một công cụ để đưa đường chỉ lối văn nghệ đi theo đúng khuynh hướng ý thức hệ. Xét theo mặt công dụng lý giải ta thấy cuộc khủng hoảng cục bộ lí luận văn học thời hạn qua là một bước dừng để chuyển sang hình thái nhấn mạnh vấn đề công dụng lý giải, lí giải những hiện tượng kỳ lạ văn học. Đây sẽ là hình thái lí luận văn học hầu hết của thời văn minh. Theo quan điểm của nhiều nhà lí luận văn minh, công dụng lí giải, lý giải văn học là tính năng đa phần của lí luận, tuy nhiên lí luận văn học của tất cả chúng ta trước đây đã không chú trọng vừa đủ đến phương diện này. Ta chỉ có một cách lý giải duy nhất là lấy “ sống sót xã hội ” để lý giải “ ý thức ”, tồn tạo ấy là lịch sử vẻ vang đấu tranh giai cấp. Nói đúng hơn, tất cả chúng ta bằng lòng với những cách lý giải có tính vạn năng của lí luận của tất cả chúng ta. Đại để nếu một hiện tượng kỳ lạ văn học không tương thích với tất cả chúng ta thì sẽ lý giải đó là loại sản phẩm của xã hội phong kiến hay xã hội tư sản hoặc là sự suy đồi, là loại nấm độc … Nguồn gốc văn học ư ? Đó là lao động, lao động phát minh sáng tạo con người. Sáng tác yếu kém ư ? Đó là do quốc tế quan chưa đúng hoặc do vốn sống còn nghèo nàn ! Cần phải tăng cường đi sâu vào thực tiễn đời sống nhiều hơn nữa, lâu hơn nữa ! Và thế là còn biết bao cách lý giải khác, lí luận khác, khoa học hơn, đơn cử hơn đã bị tất cả chúng ta khước từ, vô hiệu, vì không đúng với quan điểm của tất cả chúng ta. Thực ra lí luận văn học thế kỉ XX đã trải qua một cuộc quy đổi hình thái. Chức năng khống chế, quy phạm văn học vẫn còn đây đó, và đó đa phần là lí luận về sáng tác, tuy nhiên nổi lên số 1 là tính năng lý giải, lí giải văn học. Các lí thuyết như phân tâm học, tâm phân học, chủ nghĩa hình thức Nga, phê bình mới Anh Mĩ, cấu trúc luận, xã hội học, tiếp đón văn học, kí hiệu học văn học, thi pháp học, văn học so sánh, tự sự học, giải cấu trúc luận, tâm lí học nghệ thuật và thẩm mỹ, nhân học văn học, văn hoá học văn học … đều hướng về phía lí giải, lý giải những hiện tượng kỳ lạ văn học từ nhiều góc nhìn, bình diện khác nhau. Chúng được yêu cầu ra không nhằm mục đích để khống chế hay quy phạm văn học. Sở dĩ như vậy là vì trong thời đại tăng trưởng của xã hội dân chủ, kinh tế thị trường, giao lưu, hội nhập, văn hoá đại chúng và những phương tiện đi lại tiếp thị quảng cáo tân tiến như thời điểm ngày hôm nay, sự quy phạm, khống chế văn học là điều khó hoàn toàn có thể làm được. Có thể tác động ảnh hưởng đến nó, tuy nhiên khống chế là phần đông không được. Hình thái lí luận văn học lí giải, lý giải văn học yên cầu một sự sâu xa có tính nghề nghiệp. Sự Open thi pháp học, phân tâm học, văn học so sánh, lí luân tiếp đón, lí luận cấu trúc, giả cấu trúc, lí luận về tác phẩm ở nước ta thời hạn qua lưu lại bước chuyển hướng của hình thái lí luận đi về phía hình thái lí giải, lý giải văn học. Muốn theo phân tâm học phải học nghiên cứu và phân tích tâm lí vô thức, phải học nghiên cứu và phân tích mẫu gốc, muốn theo thi pháp học phải tinh thông kĩ thuật nghiên cứu và phân tích hình thức, muốn theo nhân học văn học phải khảo sát vô vàn hiện tượng kỳ lạ văn hoá hữu quan. Thực hiện công dụng của lí luận lý giải yên cầu phải có đội ngũ điều tra và nghiên cứu văn học chuyên nghiêp tinh thông ngoại ngữ. Đội ngũ này đã và đang Open, nhưng còn nhỏ, yếu, tất cả chúng ta chỉ hoàn toàn có thể hy vọng trong tương lai nó được chăm sóc và sẽ góp thêm phần soi sáng nhiều hiện tượng kỳ lạ văn học độc lạ phong phú của văn học dân tộc bản địa cùng quốc tế. Đánh giá cuộc khủng hoảng cục bộ lí luận tất cả chúng ta cần làm sáng tỏ mấy yếu tố : Trong quốc tế lúc bấy giờ liệu hoàn toàn có thể sống sót một hình thái lí luận khép kín, duy nhất được không ? Liệu hoàn toàn có thể sống sót một hình thái lí luận chỉ dựa vào quyền lực tối cao mà tự duy trì được những nguyên lí không ? Liệu có nền lí luận văn học mà chỉ có một thứ lí luận tăng trưởng trên cơ sở một học thuyết được sống sót hay không ? Liệu có một thứ lí luận văn học mà chỉ do những nhà chỉ huy bao biện làm thay, không có tác giả lí luận văn học thông thường nào khác được không ? Trả lời những câu hỏi ấy tất cả chúng ta sẽ thấy cuộc khủng hoảng cục bộ lí luận văn học vừa mới qua là một tín hiệu của sự tân tiến rất đáng khuyến khích. Chúng ta sẽ bước ra khỏi cuộc khủng hoảng cục bộ lí luận văn học này như thế nào ? Thiết nghĩ trước hết phải xem xét lại phương pháp luận lí luận văn học duy nhất cũ, nhìn ra những hạn chế của nó. Tiếp theo cần xác lập cơ bản phương pháp luận lí luận văn học mới. Lúc này, hơn khi nào hết sự tăng trưởng lí luận văn học của nước nhà không hề tách rời với những khuynh hướng chung của lí luận văn học quốc tế. Dù có thiết tha với một nền lí luận văn học Nước Ta, thì nền ấy trước hết cũng phải tiếp cận với những thành tựu lí luận văn học quốc tế cả một thế kỉ mà tất cả chúng ta đã quay sống lưng xa lánh. Chúng ta phải trả món nợ lí luận trăm năm ấy bằng hàng loạt khu công trình dịch thuật những trước tác giá trị nhất, có ảnh hưởng tác động nhất của quốc tế. Ngay một nước có truyền thống lịch sử lí luận văn học dân tộc bản địa hàng nghìn năm như Trung Quốc mà đã quyết định hành động quay sống lưng với truyền thống cuội nguồn mác xít Nga cũ, chuyển hướng sang phương Tây. Vậy so với tất cả chúng ta, nếu coi thường lí luận phương Tây thì lí luận văn học làm thế nào tăng trưởng được ? Phương hướng tăng trưởng lí luận văn học của tất cả chúng ta như thế nào ? Theo chúng tôi, trước hết phải đặt nó trong toàn cảnh lí luận văn học quốc tế. Mọi người đều biết, lí luận văn học trên quốc tế từ thế kỉ XIX sang thế kỉ XX đã và đang biến hóa lớn. Trào lưu lí luận văn học cổ xưa thế kỉ XVIII – giữa thế kỉ XIX lấy những học thuyết triết học về bản thể quốc tế ( tự nhiên, niềm tin, vật chất ) làm nền tảng, sang đầu thế kỉ XX đã bị sửa chữa thay thế bởi những trào lưu lí luận văn học nhân bản chủ nghĩa dựa vào những triết học nhân bản lấy con người làm nền tảng, như những lí luận chủ nghĩa bộc lộ, phê bình phân tâm học, lí luận hiện tượng học, chủ nghĩa hiện sinh, lí luận mĩ học mác xít phương Tây, lí thuyết đảm nhiệm, lí luận phê bình phản ứng người đọc, lí thuyết đối thoại của Bakhtin … Song hành với trào lưu lí luận văn học nhân bản chủ nghĩa là trào lưu lí luận văn học khoa học chủ nghĩa, dựa vào tiêu chuẩn khoa học khách quan, thực chứng. Đó là chủ nghĩa hình thức Nga, Phê bình mới Anh – Mĩ, chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu học, lí thuyết tự sự học, giải cấu trúc. Đến lượt mình những trào lưu lí luận văn học trên lại đang bị thay thế sửa chữa dần bằng một trào lưu mới : lí luận văn học văn hoá học mang đặc thù liên ngành, gồm có nhân học văn học, sinh thái học văn học, tân lịch sử chủ nghĩa …. Tất nhiên, theo quy luật thừa kế, sự thay thế sửa chữa lí luận không có nghĩa là phủ nhận sạch trơn mọi cái cũ, mà hấp thu chúng vào mạng lưới hệ thống mới một cách thích hợp. Về lí luận mác xít, cần được điều tra và nghiên cứu sâu hơn, tổng lực hơn, khai thác lí luận chủ thể của nó ; mặt khác, có một truyền thống cuội nguồn lí luận văn học mác xít phương Tây vẫn kiên trì dựa vào những nguyên lí của chủ nghĩa Mác để tăng trưởng lí luận văn học. Ngày nay hoàn toàn có thể coi đó là một nguồn tìm hiểu thêm có giá trị cho lí luận văn học mới của tất cả chúng ta. Trong toàn cảnh lí luận như vừa trình diễn trên, lí luận văn học mác xít của ta thuộc dòng lí luận cổ xưa thế kỉ XIX quay trở lại trước, đa phần chăm sóc những yếu tố vĩ mô mà hầu hết không chăm sóc những phương diện vi mô như ngôn từ, văn bản, đảm nhiệm … Theo chúng tôi, sự khủng hoảng cục bộ của nó lưu lại lí luận văn học hình thái cũ đã lỗi thời, một hình thái lí luận văn học mới, bao hàm cả phương diện vĩ mô lẫn vi mô, tương thích thời đại mới và trình độ tư duy mới sẽ phải được kiến thiết xây dựng mới. Để kiến thiết xây dựng một nền lí luận văn học theo hình thái mới và để cho lí luận văn học Việt Nam tiến kịp bước tiến chung của thời đại, có công dụng thôi thúc văn học và phê bình văn học dân tộc bản địa tân tiến, hơn khi nào hết tất cả chúng ta cần tạo điều kiện kèm theo giao lưu thoáng rộng về lí luận văn học, tạo điều kiện kèm theo cho những người làm nghề lí luận được học tập, phát minh sáng tạo lí luận theo thiên hướng của mình, được phát biểu quan điểm của mình mà không quan ngại về những cuộc “ tranh luận ” trá hình mà thực ra là sự thi hành quyền lực tối cao một cách phức tạp. Lí luận văn học phải do những nhà trình độ tìm tòi nghiên cứu và điều tra. Cần giảng dạy và tôn trọng những chuyên viên. Chúng tôi luôn nhớ đến những chủ trương nông nghiệp đã từng biến nước ta từ một nước thiếu ăn thành một nước xuất khẩu gạo số 1 trên quốc tế. Lí luận văn học sẽ có những quy luật khác với sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên vẫn khát khao những điều kiện kèm theo giúp phát huy tiềm năng vốn có, thôi thúc tất cả chúng ta sớm bước ra khỏi cuộc khủng hoảng cục bộ lí luận văn học hiện tại, mà một trong những yên cầu số 1 là xuất bản và ra mắt những cái mới, cùng với nó là những tranh luận tự do, thiết kế xây dựng những nhân cách độc lập trong giới điều tra và nghiên cứu lí luận, xoá bỏ những nô lệ về tư tưởng .
|
Tìm kiếm với từ khoá : |
|

Share
|
 |
|
|
|
 |
18.04.2016, 20:29 |
|
|
|
10 Re: [Sưu Tầm] Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay! – Điểm:KINH NGHIỆM HỌC VÀ LÀM BÀI THI MÔN LÍ LUẬN VĂN HỌC
Nguyễn Thị Nhung – K52 ĐHSP Ngữ văn
Có câu nói rằng:Con đường ngắn nhất để vượt qua mọi khó khăn là phải đi xuyên qua nó. Học chuyên nghành Ngữ văn không phải là một việc dễ dàng và việc hiểu, tiếp thu, vận dụng tốt các kiến thức môn Lí luận văn học cũng không hề dải thảm đỏ. Vậy bạn đã chinh phục tri thức văn chương cũng như kiến thức môn Lí luận văn học như thế nào? Bạn đã có được phương pháp học tối ưu chưa? Đúc rút những kinh nghiệm của bản thân suốt quá trình học tập môn Lí luận văn học tại khoa Ngữ văn, Trường ĐH Tây Bắc, tôi xin báo cáo về những kinh nghiệm học và làm bài thi môn Lí luận văn học để các bạn cùng tham khảo.Bài báo cáo của tôi gồm 7 mục
1. Ý thức vai trò của môn Lí luận văn học.
Bộ môn Lí luận văn học ở nhà trường ĐHSP có nhiệm vụ bồi dưỡng cho sinh viên khoa Ngữ văn, quan điểm nghệ thuật Mác_Lênin và đường lối văn nghệ của ĐCS Việt Nam, cung cấp cho sinh viên những kiến thức kết tinh qua một hệ thống khái niệm cơ bản mang ý nghĩa khái quát về văn học. Nó đặt cơ sở bước đầu cho sinh viên trong việc học tập các bộ môn lịch sử văn học và phương pháp dạy học văn, góp phần tạo tiềm lực cho sinh viên sau khi ra trường có thể giảng dạy tốt môn văn học ở trường phổ thông, đồng thời tiếp tục tự học để nâng cao trình độ văn học nói chung.
Vậy thì học tốt môn Lí luận Văn học sẽ tạo một bước đệm rấtvững chắc trong quá trình học SP chuyên ngành Ngữ văn và công việc nghiên cứu sau này. Cho nên, các bạn phải ý thức được tầm quan trọng, vị trí vai trò của nó và có sự quan tâm đúng mực với môn Lí luận văn học.
2. Lập kế hoạch học tập.
Làm việc gì cũng phải có mục tiêu, khi xác định được mục tiêu sẽ quyến định đường đi của mình.Ngay khi bước vào từng học phần của môn bộLí luận văn học, bạn phải đặt ra mục tiêu, kết quả học tập, từ đó ban sẽ có ý thức học và biết phải làm gì, làm như thế nào để được kết quả mong muốn.
3. Phương pháp đọc sách
Đã học văn thì chúng ta cần đọc rất nhiều sách. Nhưng đọc sách ở từng môn lại khác nhau. Như học môn Văn học Pháp, ta phải tập chung vào những tác phẩm văn học của các tác giả Pháp. Học môn Văn học Trung Quốc, ta phải tìm tài liệu về Văn học Trung Quốc…Còn Lí luận văn học thì không! Nó đòi hỏi đọc sách nhiều hơn thế, nó bao hàm các tác phẩm : đông, tây, kim, cổ…Bạn đọc càng nhiều thì nguồn tài liệu phục vụ cho việc học và thi càng phong phú.
VD: Khi học đến mqh của hệ thống hình tượng, bạn đọc nhiều thì sẽ lấy được rất nhiều dẫn chứng cho các mqh: Đối lập, tương phản, bổ sung. Và khi làm bài thi bạn đưa vào càng nhiều dẫn chứng thì điểm càng cao.
Có rất nhiều bạn chia sẻ rằng không thể tập chung vào đọc sách quá 30p. Thật ra đọc sách cũng có phương pháp riêng:
Thứ nhất: Bạn nên tắt điện thoại khi đọc sách. Điều này giúp bạn tập chung 100% vào nội dung sách. Từ đó bạnsẽ hiểu và cảm được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, hứng thú đọc sách xuất hiện.
Thứ hai: Hãy hạn chế tối đa vừa nằm, vừa đọc sách. Với tư thế này bạn rất dễ buồn ngủ và có hại cho mắt.
Thứ ba: Bạn hãy tự đặt ra thử thách cho bản thân như: Đố mình đêm nay đọc xong được quyển sách này. Khi thực hiện thử thách này bạn đã hoàn toàn sống trong tác phẩm, không ngắt quãng, không có sự tác động của bên ngoài tự nhiên bạn sẽ đọc sách với sự ham mê tuyệt đối.
Điều cuối cùng, trước khi đọc sách bạn phải xem xét thật kĩ nguồn gốc của sách. Hiện nay, thị trường sách rất phức tạp, sách in lậu, in sai, in lỗi rất nhiều. Nên nghiên cứu kĩ để không phí thời gian và tiền bạc.
4. Phương pháp ghi chép.
Có câu châm ngôn rằngTrí nhớ siêu phàm tới mấy thì giấy trắng mực đen vẫn hơn. Vì vậy đọc sách phải biết kết hợp với ghi chép.
Về phương diện ghi bài trên lớp:
Ta hãy cố gắng ghi tốc kí,thu lượm được càng nhiều kiến thức càng tốt. Đây sẽ là nguồn tài liệu vô giá cho việc tự học. Đôi khi kiến thức trong giáo trình rất hàn lâm, trí nhớ thì là không thế copy toàn bộ lời cô giảng, vì vậy đừng nên quá cố gắng vở sạch chữ đẹp, điều này không cần thiết cho sinh viên đại học.
Về phương diện ghi bài tự học:
Đối với môn văn,không chỉ ghi bài trên lớp mà cần phải ghi mọi lúc mọi nơi. Văn học bắt nguồn từ cuộc sống, vậy nên nó sẽ bao hàm rất nhiều điều khiến ta suy ngẫm. Đó là những bài thơ hay vô tình đọc được trên một tờ báo hoặc một đoạn văn đặc sắc trong một cuố tiểu thuyết, hay truyện ngắn. Chắc chắn trong quá trình khám phá, chứng minh các kiến thức lí luận bạn sẽ cần huy động đến nó. Là sinh viên khoa Ngữ văn bạn nên có một cuốn sổ tay văn học cho riêng mình.
Học Lí luận văn học không chỉ học các lí thuyêt rồi chứng minh bằng các thành tựu văn học. Đôi khi bạn phải đưa ra quan điểm của minh trước những kiến thức ấy. Vì vậy viết nhật kí cũng giúp ích cho bạn rất nhiều trong cách triển khai, thể hiện quan điểm cá nhân.
5. Phương pháp tự học.
Việc học trên lớp là điều tất yếu, nhưng chúng ta đang theo học chương trình đào tạo theo tín chỉ, vì vậy việc tự học là chủ yếu. Không khó để đạt được hiệu quả tối ưu khi có một phương pháp tự học tốt.
Ở đây tôi xin lấy các món ăn để nói đến các phương pháp của mình:
Thứ nhất là băm nhỏ sào kĩ:
Các bạn đừng bao giờ chờ sắp thi rồi mới học, hay gộp chung nhiều bài học cùng một lúc. Điều này gây áp lực rất lớn cho trí não. Ta hãy chia nhỏ từng bài để học, bạn sẽ thấy hiệu quả ngay.
Trước khi lên lớp học bài mới, bạn phải đọc giáo trình trước, những gì không hiểu sẽ đánh dấu lên lớp hỏi cô giáo, hoặc bạn tự tìm hiểu. Đừng nản trí khi bạn có quá nhiều điều không hiểu. Hãy chịu khó tìm tòi, khi bạn đã chinh phục được những kiến thức đó, bạn sẽ thấy mình cũng khá đấy chứ, và cảm giác tự tin cùng niềm vui thích sẽ đến với bạn trong khi học tập.
Thứ hai là hầm đi hầm lại:
Khi đã nắm được bài bạn đừng bao giờ bỏ rơi bài vở. Mà qua mỗi chương, mỗi phần, hãy làm đề cương tổng hợp lại toàn bộ kiến thức, khi hệ thống kiến thức như vậy bạn dễ dàng nhận thấy sự khác biệt hay mối quan hệ móc xích với nhau giữa các chúng. Điều này giúp bạn khắc sâu được những gì đã học, và có một nền tảng vững chắc cho những bài hoc sau
VD: Khi học xong chương Đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Văn học sẽ tạo tiền đề cho chươngNhân vật của tác phẩm Văn học.
Sự đối lập giữa chươngChủ nghĩa cổ điển và Chủ nghĩa lãng mạn sẽ giúp bạn hiểu và khắc sâu kiến thức.
Thứ ba là mỡ nó gián nó:
Hiện nay mạng Internet cùng với những chiếc điện thoại thông minh đang rất phổ biến, vì vậy việc học trên mạnh cũng rất đắc dụng. Bạn hãy biến những giờ sủ dụng điện thoại vô bổ thành những giờ học Lí luận văn học bổ ích.
VD: Khi học đến đặc điểm Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính, bạn có thể tìm trên mạng những bài hát được phổ nhạc từ những bài thơ như: Màu hoa đỏ, Phượng hồng…hay những câu chuyện đằng sau những thi phẩm, đều rất hay, rất hữu ích để học tập bộ môn Lí luận văn học.
Bạn cũng có thể dùng điện thoại để ghi âm giờ học,và những lúc rảnh đem ra nghe, Tôi chắc rằng cũng cảm xúc không kém ta nghe nhạc.
6. Phương pháp ôn thi.
Đưng nghĩ rằng ôn thi phải ngày đêm vùi đầu vào sách vở, làm như thế hản tác dụng và làm cho sức khoẻ giảm sút.
Để ôn thi hiệu quả trước hết bạn phải ăn uống điều độ, đủ dưỡng chất, tránh ăn qua loa. Sức khẻ tốt học mới tốt được.
Ngủ đủ giấc cũng rất quan trọng. Trung bình hãy ngủ 7 tiếng vào ban đem và 30p vào buổi trưa. Như vậy trí não sẽ minh mẫn để học bài.
Tài liệu ôn thi, bạn hãy tự làm, vì trong khi tự mình làm thì một hệ thông kiến thức sẽ được lập trình trong đầu bạn, việc học sẽ dễ dàng hơn.
Và hãy cố gắng tìm mấu chốt trong mỗi vấn đề rồi lấy bút đỏ khoanh vào, giống như nhãn tự của bài thơ vậy.
VD: Khái niệm : Người đọc tiềm ẩn
Là người đọc nằm trong tâm tưởng của nhà văn, nhưng có phần xác định hơn, bởi vì hình ảnh của người đọc tiềm ẩn đã ít nhiều chuyển hóa thành một yếu tố nằm ngay trông kết cấu củavăn bản. Thì bạn hãy khoanh chữNằm trong tâm tưởng của nhà văn. Làm như vậy bạn có khả năng tái hiện kiến thức rất nhanh trong mọi hoàn cảnh.
Trong mùa ôn thi bạn hãy giành khoản một tiếng để thư giãn mỗi ngày, tùy vào ý thích của bạn: có thể nghe nhạc, xem phim hài…
7. Phương pháp làm bài thi
Người xưa có câu Giục tốc bất đạt. Đừng bao vội vàng đọc đề xong là cắm cúi làm bài luôn. Hãy giành 5p gạch những ý chính ra giấy nháp để không bị xót, thiếu kiến thức. Và giành thêm khoảng 2p nữa để suy nghĩ mình nên triễn khai các ý theo hướng nào: Qui nạp hay diễn dịch, tổng phân hợp… Như vậy bạn chủ đọng với bài thi không bị lúng túng gây nên những câu văn vụng
Đừng vội vàng nhưng cũng đừng chậm chạp, vì mỗi bài thi Lí luận văn học đòi hỏi rất nhiều kiến thức mà thời gian làm bài thường chỉ có 120p. Vậy cứ lơ đãng, hay chú trọng quá vào việc ghi nháp hay lựa chọn cách làm bài, bạn sẽ bị thiếu giờ ngay, như vậy thì thật đáng tiếc.
Còn một điều nữa bạn hãy tạo cho mình một niềm tin. Điều này rất đơn giản có thể là một cuộc điên thoại cho mẹ cho người yêu… bạn hãy làm những gì làm cho bạn vui vẻ thoải mái nhất. Một niềm tin sẽ giúp bạn khá nhiều trong việc ổn định tâm lí làm bài thi.
Như vậy theo tôi nghĩ, thì để học tốt bộ môn Lí luận văn học không hề khó, chỉ cần các bạn chăm chỉ và có ý thức trách nhiệm với việc hoc. Tôi luôn tin rằng : sự thành công và hạnh phúc sẽ mỉm cười với những ai biết tôn trọng sự học và biết tìm ra hiệu quả cho mình.
( Nguồn : https://nguvan.utb.edu.vn/ )Có câu nói rằng : Con đường ngắn nhất để vượt qua mọi khó khăn vất vả là phải đi xuyên qua nó. Học chuyên nghành Ngữ văn không phải là một việc thuận tiện và việc hiểu, tiếp thu, vận dụng tốt những kỹ năng và kiến thức môn Lí luận văn học cũng không hề dải thảm đỏ. Vậy bạn đã chinh phục tri thức văn chương cũng như kiến thức và kỹ năng môn Lí luận văn học như thế nào ? Bạn đã có được phương pháp học tối ưu chưa ? Đúc rút những kinh nghiệm tay nghề của bản thân suốt quy trình học tập môn Lí luận văn học tại khoa Ngữ văn, Trường ĐH Tây Bắc, tôi xin báo cáo giải trình về những kinh nghiệm tay nghề học và làm bài thi môn Lí luận văn học để những bạn cùng tìm hiểu thêm. Bài báo cáo giải trình của tôi gồm 7 mục1. Ý thức vai trò của môn Lí luận văn học. Bộ môn Lí luận văn học ở nhà trường ĐHSP có trách nhiệm tu dưỡng cho sinh viên khoa Ngữ văn, quan điểm nghệ thuật và thẩm mỹ Mác_Lênin và đường lối văn nghệ của ĐCS Nước Ta, phân phối cho sinh viên những kỹ năng và kiến thức kết tinh qua một mạng lưới hệ thống khái niệm cơ bản mang ý nghĩa khái quát về văn học. Nó đặt cơ sở trong bước đầu cho sinh viên trong việc học tập những bộ môn lịch sử dân tộc văn học và phương pháp dạy học văn, góp thêm phần tạo tiềm lực cho sinh viên sau khi ra trường hoàn toàn có thể giảng dạy tốt môn văn học ở trường đại trà phổ thông, đồng thời liên tục tự học để nâng cao trình độ văn học nói chung. Vậy thì học tốt môn Lí luận Văn học sẽ tạo một bước đệm rấtvững chắc trong quy trình học SP chuyên ngành Ngữ văn và việc làm điều tra và nghiên cứu sau này. Cho nên, những bạn phải ý thức được tầm quan trọng, vị trí vai trò của nó và có sự chăm sóc đúng mực với môn Lí luận văn học. 2. Lập kế hoạch học tập. Làm việc gì cũng phải có tiềm năng, khi xác lập được tiềm năng sẽ quyến định đường đi của mình. Ngay khi bước vào từng học phần của môn bộLí luận văn học, bạn phải đặt ra tiềm năng, tác dụng học tập, từ đó ban sẽ có ý thức học và biết phải làm gì, làm như thế nào để được hiệu quả mong ước. 3. Phương pháp đọc sáchĐã học văn thì tất cả chúng ta cần đọc rất nhiều sách. Nhưng đọc sách ở từng môn lại khác nhau. Như học môn Văn học Pháp, ta phải tập chung vào những tác phẩm văn học của những tác giả Pháp. Học môn Văn học Trung Quốc, ta phải tìm tài liệu về Văn học Trung Quốc … Còn Lí luận văn học thì không ! Nó yên cầu đọc sách nhiều hơn thế, nó bao hàm những tác phẩm : đông, tây, kim, cổ … Bạn đọc càng nhiều thì nguồn tài liệu Giao hàng cho việc học và thi càng đa dạng chủng loại. VD : Khi học đến mqh của mạng lưới hệ thống hình tượng, bạn đọc nhiều thì sẽ lấy được rất nhiều dẫn chứng cho những mqh : Đối lập, tương phản, bổ trợ. Và khi làm bài thi bạn đưa vào càng nhiều dẫn chứng thì điểm càng cao. Có rất nhiều bạn san sẻ rằng không hề tập chung vào đọc sách quá 30 p. Thật ra đọc sách cũng có phương pháp riêng : Thứ nhất : Bạn nên tắt điện thoại thông minh khi đọc sách. Điều này giúp bạn tập chung 100 % vào nội dung sách. Từ đó bạnsẽ hiểu và cảm được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, hứng thú đọc sách Open. Thứ hai : Hãy hạn chế tối đa vừa nằm, vừa đọc sách. Với tư thế này bạn rất dễ buồn ngủ và có hại cho mắt. Thứ ba : Bạn hãy tự đặt ra thử thách cho bản thân như : Đố mình đêm nay đọc xong được quyển sách này. Khi triển khai thử thách này bạn đã trọn vẹn sống trong tác phẩm, không ngắt quãng, không có sự ảnh hưởng tác động của bên ngoài tự nhiên bạn sẽ đọc sách với sự ham mê tuyệt đối. Điều sau cuối, trước khi đọc sách bạn phải xem xét thật kĩ nguồn gốc của sách. Hiện nay, thị trường sách rất phức tạp, sách in lậu, in sai, in lỗi rất nhiều. Nên nghiên cứu và điều tra kĩ để không phí thời hạn và tiền tài. 4. Phương pháp ghi chép. Có câu châm ngôn rằngTrí nhớ siêu phàm tới mấy thì giấy trắng mực đen vẫn hơn. Vì vậy đọc sách phải biết phối hợp với ghi chép. Về phương diện ghi bài trên lớp : Ta hãy cố gắng nỗ lực ghi tốc kí, thu lượm được càng nhiều kiến thức và kỹ năng càng tốt. Đây sẽ là nguồn tài liệu vô giá cho việc tự học. Đôi khi kiến thức và kỹ năng trong giáo trình rất hàn lâm, trí nhớ thì là không thế copy hàng loạt lời cô giảng, thế cho nên đừng nên quá cố gắng nỗ lực vở sạch chữ đẹp, điều này không thiết yếu cho sinh viên ĐH. Về phương diện ghi bài tự học : Đối với môn văn, không riêng gì ghi bài trên lớp mà cần phải ghi mọi lúc mọi nơi. Văn học bắt nguồn từ đời sống, vậy nên nó sẽ bao hàm rất nhiều điều khiến ta suy ngẫm. Đó là những bài thơ hay vô tình đọc được trên một tờ báo hoặc một đoạn văn rực rỡ trong một cuố tiểu thuyết, hay truyện ngắn. Chắc chắn trong quy trình mày mò, chứng tỏ những kiến thức và kỹ năng lí luận bạn sẽ cần kêu gọi đến nó. Là sinh viên khoa Ngữ văn bạn nên có một cuốn sổ tay văn học cho riêng mình. Học Lí luận văn học không chỉ học những lí thuyêt rồi chứng tỏ bằng những thành tựu văn học. Đôi khi bạn phải đưa ra quan điểm của minh trước những kiến thức và kỹ năng ấy. Vì vậy viết nhật kí cũng giúp ích cho bạn rất nhiều trong cách tiến hành, biểu lộ quan điểm cá thể. 5. Phương pháp tự học. Việc học trên lớp là điều tất yếu, nhưng tất cả chúng ta đang theo học chương trình giảng dạy theo tín chỉ, vì thế việc tự học là hầu hết. Không khó để đạt được hiệu suất cao tối ưu khi có một phương pháp tự học tốt. Ở đây tôi xin lấy những món ăn để nói đến những phương pháp của mình : Thứ nhất là băm nhỏ sào kĩ : Các bạn đừng khi nào chờ sắp thi rồi mới học, hay gộp chung nhiều bài học kinh nghiệm cùng một lúc. Điều này gây áp lực đè nén rất lớn cho trí não. Ta hãy chia nhỏ từng bài để học, bạn sẽ thấy hiệu suất cao ngay. Trước khi lên lớp học bài mới, bạn phải đọc giáo trình trước, những gì không hiểu sẽ lưu lại lên lớp hỏi cô giáo, hoặc bạn tự khám phá. Đừng nản trí khi bạn có quá nhiều điều không hiểu. Hãy chịu khó tìm tòi, khi bạn đã chinh phục được những kiến thức và kỹ năng đó, bạn sẽ thấy mình cũng khá đấy chứ, và cảm xúc tự tin cùng niềm vui thích sẽ đến với bạn trong khi học tập. Thứ hai là hầm đi hầm lại : Khi đã nắm được bài bạn đừng khi nào bỏ rơi bài vở. Mà qua mỗi chương, mỗi phần, hãy làm đề cương tổng hợp lại hàng loạt kỹ năng và kiến thức, khi mạng lưới hệ thống kiến thức và kỹ năng như vậy bạn thuận tiện nhận thấy sự độc lạ hay mối quan hệ móc xích với nhau giữa những chúng. Điều này giúp bạn khắc sâu được những gì đã học, và có một nền tảng vững chãi cho những bài hoc sauVD : Khi học xong chương Đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Văn học sẽ tạo tiền đề cho chươngNhân vật của tác phẩm Văn học. Sự trái chiều giữa chươngChủ nghĩa cổ xưa và Chủ nghĩa lãng mạn sẽ giúp bạn hiểu và khắc sâu kỹ năng và kiến thức. Thứ ba là mỡ nó gián nó : Hiện nay mạng Internet cùng với những chiếc điện thoại cảm ứng mưu trí đang rất phổ cập, thế cho nên việc học trên mạnh cũng rất đắc dụng. Bạn hãy biến những giờ sủ dụng điện thoại thông minh vô bổ thành những giờ học Lí luận văn học có ích. VD : Khi học đến đặc thù Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính, bạn hoàn toàn có thể tìm trên mạng những bài hát được phổ nhạc từ những bài thơ như : Màu hoa đỏ, Phượng hồng … hay những câu truyện đằng sau những thi phẩm, đều rất hay, rất có ích để học tập bộ môn Lí luận văn học. Bạn cũng hoàn toàn có thể dùng điện thoại cảm ứng để ghi âm giờ học, và những lúc rảnh đem ra nghe, Tôi chắc rằng cũng xúc cảm không kém ta nghe nhạc. 6. Phương pháp ôn thi. Đưng nghĩ rằng ôn thi phải ngày đêm vùi đầu vào sách vở, làm như vậy hản công dụng và làm cho sức khoẻ giảm sút. Để ôn thi hiệu suất cao trước hết bạn phải siêu thị nhà hàng điều độ, đủ dưỡng chất, tránh ăn qua loa. Sức khẻ tốt học mới tốt được. Ngủ đủ giấc cũng rất quan trọng. Trung bình hãy ngủ 7 tiếng vào ban đem và 30 p vào buổi trưa. Như vậy trí não sẽ minh mẫn để học bài. Tài liệu ôn thi, bạn hãy tự làm, vì trong khi tự mình làm thì một hệ thông kỹ năng và kiến thức sẽ được lập trình trong đầu bạn, việc học sẽ thuận tiện hơn. Và hãy cố gắng nỗ lực tìm mấu chốt trong mỗi yếu tố rồi lấy bút đỏ khoanh vào, giống như nhãn tự của bài thơ vậy. VD : Khái niệm : Người đọc tiềm ẩnLà người đọc nằm trong tâm tưởng của nhà văn, nhưng có phần xác lập hơn, do tại hình ảnh của người đọc tiềm ẩn đã không ít chuyển hóa thành một yếu tố nằm ngay trông cấu trúc củavăn bản. Thì bạn hãy khoanh chữNằm trong tâm tưởng của nhà văn. Làm như vậy bạn có năng lực tái hiện kỹ năng và kiến thức rất nhanh trong mọi thực trạng. Trong mùa ôn thi bạn hãy giành khoản một tiếng để thư giãn giải trí mỗi ngày, tùy vào ý thích của bạn : hoàn toàn có thể nghe nhạc, xem phim hài … 7. Phương pháp làm bài thiNgười xưa có câu Giục tốc bất đạt. Đừng bao hấp tấp vội vàng đọc đề xong là cắm cúi làm bài luôn. Hãy giành 5 p gạch những ý chính ra giấy nháp để không bị xót, thiếu kỹ năng và kiến thức. Và giành thêm khoảng chừng 2 p nữa để tâm lý mình nên triễn khai những ý theo hướng nào : Qui nạp hay diễn dịch, tổng phân hợp … Như vậy bạn chủ đọng với bài thi không bị lúng túng gây nên những câu văn vụngĐừng hấp tấp vội vàng nhưng cũng đừng chậm trễ, vì mỗi bài thi Lí luận văn học yên cầu rất nhiều kiến thức và kỹ năng mà thời hạn làm bài thường chỉ có 120 p. Vậy cứ lơ đãng, hay chú trọng quá vào việc ghi nháp hay lựa chọn cách làm bài, bạn sẽ bị thiếu giờ ngay, như vậy thì thật đáng tiếc. Còn một điều nữa bạn hãy tạo cho mình một niềm tin. Điều này rất đơn thuần hoàn toàn có thể là một cuộc điên thoại cho mẹ cho tình nhân … bạn hãy làm những gì làm cho bạn vui tươi tự do nhất. Một niềm tin sẽ giúp bạn khá nhiều trong việc không thay đổi tâm lí làm bài thi. Như vậy theo tôi nghĩ, thì để học tốt bộ môn Lí luận văn học không hề khó, chỉ cần những bạn siêng năng và có ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm với việc hoc. Tôi luôn tin rằng : sự thành công xuất sắc và niềm hạnh phúc sẽ mỉm cười với những ai biết tôn trọng sự học và biết tìm ra hiệu suất cao cho mình .
|
Tìm kiếm với từ khoá : |
|

Share
|
 |
|
18.04.2016, 20:37 |
|
|
|
10 Re: [Sưu Tầm] Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay! – Điểm:Ôn tập môn ngữ văn : Một số yếu tố lí luận văn học
TP – Chuyên đề này được thiết kế nhằm giúp học sinh củng cố những vấn đề lí luận văn học cơ bản liên quan tới các tác phẩm trong chương trình THPT.
Cấu trúc mỗi vấn đề bao gồm: – Định nghĩa, mô tả. – Ví dụ. – Ứng dụng. Các kiến thức trình bày dưới dạng tinh giản với các dẫn chứng cụ thể, thiết thực, sinh động, lấy tính ứng dụng làm tiêu chí cao nhất, hi vọng có thể được các em lĩnh hội nhuần nhuyễn, sáng tạo trong quá trình làm bài nghị luận văn học.
KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Quan điểm/ quan niệm sáng tác
+ Là gì: – Chỗ đứng, điểm nhìn để nhà văn sáng tác. – Phải được hiện thực hoá trong quá trình sáng tác. – Được phát biểu trực tiếp hay thể hiện gián tiếp qua các tác phẩm. – Nhà văn nào cũng có quan điểm/quan niệm sáng tác nhưng để tạo thành một hệ thống có giá trị thì không phải ai cũng làm được. + Vai trò: – Chi phối toàn bộ quá trình sáng tác (lựa chọn đề tài, hình tượng, lựa chọn lối viết, các hình thức nghệ thụât…) – Phần nào thể hiện tầm tư tưởng của nhà văn. + Ví dụ: Quan điểm sáng tác của Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh: Văn học là vũ khí lợi hại phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhà văn là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hoá tư tưởng. + Ứng dụng: Phân tích quan điểm sáng tác của một nhà văn (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Nam Cao…).
2. Phong cách nghệ thuật
+ Là gì: Là nét riêng có tính hệ thống trong sáng tác của một nhà văn + Đặc điểm: – Thiên về hình thức nghệ thuật. – Có sự thống nhất và vận động trong quá trình sáng tác của nhà văn. + Vai trò: – Là một trong những điều kiện quan trọng để đánh giá vị trí, tài năng của nghệ sĩ. Một nhà văn lớn phải là nhà văn có phong cách. – Thể hiện bản chất của văn chương: hoạt động sáng tạo. + Ví dụ: – Phong cách nghệ thuật Xuân Diệu: Thơ dù viết về đề nào cũng nồng nàn thao thiết niềm giao cảm với đời. Tư tưởng nghệ thuật độc đáo này được chuyển hoá vào hệ thống các phương tiện biểu hiện mới mẻ (bút pháp tương giao; ngôn ngữ rất Tây, tinh tế; cách cấu tứ theo sự vận động của thời gian cùng giọng điệu thơ đa dạng, phong phú đủ để tái hiện những cung bậc, những biến thái tinh vi nhất, chân xác nhất của thế giới cũng như tình cảm con người). – Phong cách nghệ thuật Tố Hữu: mang tính chất thơ trữ tình chính trị sâu sắc; đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn; giọng điệu tâm tình ngọt ngào tha thiết; đậm đà tính dân tộc – Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: tài hoa, uyên bác; cảm quan sắc nhọn phong phú; chữ nghĩa giàu có; tuỳ bút tài hoa…=> “Ngông”. + Ứng dụng Phân tích phong cách nghệ thuật của một tác giả (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Tố Hữu, Nam Cao, Xuân Diệu…)
3. Tình huống trong truyện ngắn
+ Là gì: – Là lát cắt của đời sống mà qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ sắc nét nhất và tư tưởng nhà thể hiện rõ nhất. “Là một lát cắt, một khúc của đời sống. Nhưng qua lát cắt, qua khúc ấy người thấy được trăm năm của đời thảo mộc” (Nguyễn Minh Châu) – Biểu hiện qui luật có tính nghịch lí trong sáng tạo nghệ thuật: qui mô nhỏ nhưng khả năng phản ánh lớn. + Vai trò: – Khắc hoạ tính cách nhân vật, thể hiện tư tưởng nghệ sĩ. – Xuất phát từ đặc trưng truyện ngắn: dung lượng nhỏ, thể hiện nhân vật qua một khoảnh khắc ngắn ngủi của đời sống (tiểu thuyết: dài, theo sát toàn bộ cuộc đời, số phận nhân vật…) => Tình huống phải giống như thứ nước rửa ảnh làm nổi lên hình sắc nhân vật và tư tưởng nhà văn => Xây dựng được tình huống truyện độc đáo là dấu hiệu của: • Một tác phẩm có giá trị • Một tác giả tài năng. + Ví dụ: tình huống đợi tàu ám ảnh (Hai đứa trẻ), tình huống cuộc gặp gỡ đầy éo le, oái oăm giữa quản ngục và Huấn Cao (Chữ người tử tù), tình huống nhận thức (Chiếc thuyền ngoài xa)… + Ứng dụng: Phân tích tình huống truyện trong: Chiếc thuyền ngoài xa, Vợ nhặt, Chữ người tử tù,…
4. Các giá trị văn học
+ Mô tả: có 3 giá trị cơ bản của văn học – Giá trị nhận thức: • Mang tới cho bạn đọc những tri thức sâu rộng về thế giới • Giúp con người khám phá, nhận thức, thấu hiểu sâu sắc chính bản thân mình. – Giá trị giáo dục • Đem đến những bài học quí giá về lẽ sống • Về tư tưởng: Hình thành cho con người những tư tưởng tiến bộ, có thái độ và quan điểm sống đúng đắn. • Về tình cảm: Giúp con người biết yêu ghét đúng đắn, tâm hồn trở nên lành mạnh, trong sáng. – Giá trị thẩm mĩ: • Nội dung: Vẻ đẹp muôn hình vẻ của cuộc đời Vẻ đẹp bản thân con người. • Hình thức: những biện pháp, thủ pháp xây dựng hình tượng nghệ thuật sinh động, giàu sức gợi. – Mối quan hệ của 3 giá trị: • Giá trị nhận thức: tiền đề của giá trị giáo dục. • Giá trị giáo dục: làm sâu sắc hơn giá trị nhận thức • Các giá trị nhận thức và giá trị giáo dục đều được phát huy tích cực nhất qua giá trị thẩm mĩ.
+ Ví dụ: Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu mở rộng phạm vi nhận thức về một hiện thực bề bộn, phức tạp thời hậu chiến với những nghịch lí đầy ngang trái, đồng thời khám phá vẻ đẹp bên trong người đàn bà tưởng như chỉ biết cam chịu, khơi gợi ở bạn đọc một thái độ sống, một cách nhìn cuộc đời sâu sắc, tỉnh táo hơn thông qua những hình ảnh có tính chất biểu tượng, qua lối kể chuyện đa dạng. + Ứng dụng: Đánh giá giá trị của một tác phẩm văn học.
5. Nhà văn – văn bản – bạn đọc
+ Nhà văn: người sáng tạo ra văn bản => thực hiện quá trình kí mã => Ý đồ nghệ thuật, cách lí giải của nhà văn về văn bản chỉ là một khả năng hiểu văn bản. + Bạn đọc: ngưòi tiếp nhận văn học => thực hiện quá trình giải mã. + Văn bản: là một bộ mã, có thể chấp nhận nhiều cách giải khác nhau nhưng phải phù hợp với các mã đã được nhà văn kí gửi. 6. Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ + Mô tả (so sánh với hình tượng nhân vật trong tác phẩm tự sự) Hiện ra qua giọng điệu, trạng thái tâm hồn, cảm xúc (nhân vật trong tác phẩm tự sự: có diện mạo, tính cách, hành động cụ thể) + Phân loại: – Xét sự xuất hiện của tác giả trong tác phẩm: • Cái tôi trữ tình: tác giả • Nhân vật trữ tình nhập vai: khi tác giả hoá thân vào nhân vật khác trong tác phẩm. – Xét về vai trò: • Chủ thể trữ tình (người trực tiếp bộc lộ cảm xúc) • Đối tượng trữ tình: đối tượng hướng tới của tâm trạng chủ thể trữ tình + Ví dụ: – “Tảo giải” (Giải đi sớm) khắc hoạ hình tượng nhân vật trữ tình Hồ Chí Minh – chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình với vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ và vẻ đẹp tinh thần chiến sĩ. – “Sóng”: xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình “sóng” – nhân vật trữ tình nhập vai, đối tượng trữ tình mang vẻ đẹp của khao khát tình yêu thuỷ chung, nồng nàn, mãnh liệt. + Ứng dụng: Phân tích hình tượng nhân vật trữ tình trong một bài thơ.
7. Giá trị hiện thực
+ Là gì: – Phạm vi hiện thực đời sống mà tác phẩm phản ánh. – Tác phẩm nào cũng có giá trị hiện thực. (Vì văn học bắt nguồn từ cuộc sống: hiện thực đời sống sinh hoạt hàng ngày, hiện thực tình cảm, tâm lí…) + Biểu hiện:
Hiện thực phản ánh trong tác phẩm thì vô cùng đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, nói đến giá trị hiện thực trong một tác phẩm văn học người ta thường đề cập 3 nét chính:
– Phơi bày chân thực, sâu sắc cuộc sống cơ cực, nỗi khổ về vật chất hay tinh thần của những con người bé nhỏ, bất hạnh. – Chỉ ra nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người. – Miêu tả tinh tế vẻ đẹp tiềm ẩn trong con người.
Ở mỗi một tác phẩm cụ thể, giá trị hiện thực được biểu hiện đa dạng. Cùng phản ánh tình cảnh khốn quẫn của người nông dân Việt Nam trước cách mạng, Ngô Tất Tố miêu tả nỗi chật vật về vật chất của chị Dậu vì nạn sưu cao thuế nặng, một cổ nhiều tròng, Nguyễn Công Hoan phơi bày chân thực sự cùng đường tuyệt lộ của người nông dân (“Bước đường cùng”), Nam Cao lại đi vào mảng hiện thực sâu kín nhất, tăm tối nhất – địa hạt tâm lí để lột trần bi kịch bị tha hoá, nỗi đau tinh thần khắc khoải của những con người dưới đáy của xã hội – Chí Phèo. + Vai trò: – Thể hiện cái nhìn hiện thực sâu sắc hay hời hợt của nhà văn. – Dấu hiệu của một tác phẩm có giá trị. + Ứng dụng: – Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm. (Chí Phéo, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt…) – Phân tích nhân vật làm rõ giá trị hiện thực mới mẻ và độc đáo trong một tác phẩm. (nhân vật Chí Phèo, nhân vật Mị, nhân vật người phụ nữ vợ nhặt…) 8. Giá trị nhân đạo
+ Là gì:
– Hạt nhân: lòng yêu thương con người. – Đối tượng: thường là nỗi khổ. + Biểu hiện: 3 khía cạnh cơ bản. – Cảm thông với số phận đau khổ của những con người nhỏ bé, bất hạnh. – Tố cáo các thế lực gây ra đau khổ cho con người. – Phát hiện, khám phá và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn trong những con người bất hạnh.
Ở mỗi tác phẩm khác nhau, những khía cạnh có sự biến đổi phong phú, linh hoạt. Chẳng hạn, cùng viết về người phụ nữ với cái nhìn trân trọng, yêu thương sâu sắc, Ngô Tất Tố khám phá ở Chị Dậu vẻ đẹp truyền thống, thuỷ chung, không tì vết; Kim Lân phát hiện ra nét nữ tính và khát vọng hạnh phúc bất diệt trong tâm hồn người vợ nhặt, còn Tô Hoài thì khơi tìm sức sống tiềm tàng, mãnh liệt nơi cô gái vùng cao – Mị…
+ Vai trò:
– Thể hiện tầm vóc tư tưởng của nhà văn
“Nhà văn chân chính là nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ” (Biêlinxki) – Là một trong những dấu hiệu của một tác phẩm giàu giá trị (Văn học là nhân học. Nghệ thuật chỉ có nghĩa khi hướng tới con người, yêu thương con người). + Ứng dụng:
– Phân tích giá trị nhân đạo trong một tác phẩm (Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Chí Phèo…)
– Làm rõ giá trị nhân đạo độc đáo và mới mẻ của một tác phẩm qua việc phân tích nhân vật (Phân tích nhân vật Tràng, phân tích nhân vật Mị, phân tích nhân vật Chí Phèo…)
+ Mối quan hệ giữa giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo:
– Gắn bó hài hoà trong một tác phẩm.
– Các khía cạnh biểu hiện nhìn chung tương đồng chỉ khác biệt ở chỗ: nếu nói giá trị hiện thực là nhắc tới sự trình bày, miêu tả hiện thực một cách tương đối khách quan thì nói tới gía trị nhân đạo tức là đã bao hàm thái độ của nhà văn (cảm thông, thương xót, đồng tình, ngợi ca…)
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Bình luận quan niệm của J.Paul. Sartre:
“Tác phẩm văn học như con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong vận động. Muốn làm cho nó xuất hiện, cần phải có một hoạt động cụ thể là sự đọc. Và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục. Ngoài sự đọc ra, nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng”
1. Nhiều năm trở lại đây, vấn đề tiếp nhận tác phẩm không chỉ là mối quan tâm của lí luận văn học mà còn là đối tượng của rất nhiều khoa học nghiên cứu văn học. Bình luận và phân tích quan niệm của J.Paul.Sartre trên cơ sở ngôn ngữ học hiện đại cho chúng tôi những kiến giải sâu sắc.
2. Nếu như vai trò sáng tạo của nhà văn có lịch sử nghiên cứu khá đầy đặn thì vai trò của người đọc, bản chất của quá trình tiếp nhận văn học dẫu đã được “canh tác” ít nhiều vẫn còn là mảnh đất khá màu mỡ, mời gọi khám phá.
Lấy mối quan hệ tác giả – tác phẩm – bạn đọc làm căn cốt, xưa nay có nhiều ý kiến khác nhau về yếu tố trung tâm của hoạt động văn học.
Trước đây, có một quan niệm đã trở thành quán tính trong nghiên cứu phê bình: lấy tác giả cùng cá tính sáng tạo làm trung tâm. Nó xem nhẹ vai trò của bạn đọc và quá trình tiếp nhận.
Ý tưởng của nghệ sĩ là nòng cốt, là “chỉ dẫn của Chúa” để soi đường cho những tín đồ văn chương mải miết đi tìm chân lí. Tiếp nhận được xem như một nỗ lực phóng chiếu tinh thần nghệ sĩ vào tác phẩm, truy tìm ánh xạ tâm hồn nhà văn trong bề mặt ngôn ngữ, văn bản.
Theo đó, phê bình cố gắng lần tìm theo lối người viết đã đi để dựng lại một tác phẩm văn học duy nhất trong ý đồ sáng tạo. Hướng nghiên cứu phổ biến và lí tưởng một thời là tiếp cận trực tiếp với tác giả, khai thác địa đồ nhà văn đã phác thảo, lí giải tác phẩm bằng chỉ dẫn trực tiếp.
Vấn đề đặt ra: làm cách nào để tìm hiểu các tác phẩm khuyết danh, các sáng tác của các nhà văn không đồng thời với chúng ta hay nhà văn đã mất? Nếu tác giả không để lại bất kì chỉ dẫn nào ngoài văn bản thì có nghĩa chiếc chìa khoá đi vào văn bản mãi mãi bị vùi lấp.
Xem tác phẩm văn học “như một quá trình”, các nhà nghiên cứu đã phục nguyên vai trò của bạn đọc.
Chúng tôi quan tâm tới phân tích của hai tác giả Nguyễn Lai và Bùi Minh Toán trên góc độ ngôn ngữ học.
GS.Nguyễn Lai trong bài viết “Về quá trình tiếp nhận văn học” có đưa ra 5 luận điểm quan trọng:
Nói đến quá trình tiếp nhận văn học, thoạt tiên ta nghĩ ngay tới “sản phẩm” được làm ra. Theo cách đó, sản phẩm chưa qua tay người tiêu dùng thì mới ở dạng tiềm năng. Do vậy, năng động chủ quan của người tiếp nhận là cánh cửa đầu tiên để ta có thể đi vào ngôi nhà tạo nghĩa của quá trình tiếp nhận văn học. Chủ thể hoạt động biến “thành phẩm” thành tác phẩm.
Sự khác nhau giữa kí hiệu thẩm mĩ và hình tượng thẩm mĩ. Tuy cùng là những gợi dẫn thẩm mĩ, nhưng ở hình tượng tượng thẩm mĩ, tính năng động chủ quan của chủ thể phát huy cao độ và phát huy với thế hoàn toàn chủ động. Từ ngữ, kí hiệu thẩm mĩ chỉ là phương tiện của quá trình gợi dẫn. Trong luận điểm này, tác giả cũng phân tích quá trình chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng. Quá trình tác động một cách có qui luật của tác phẩm nghệ thuật đối với người tiếp nhận.
Mối quan hệ giữa người tiếp nhận với tác phẩm và xã hội thông qua ngôn ngữ. Coi hoạt động văn học như là hoạt động giao tiếp, GS Bùi Minh Toán xem xét quá trình tiếp nhận văn học trên hai khía cạnh.
Vai trò của người đọc trong quá trình tiếp nhận.
Vai trò của người đọc trong chính hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ. Trong quá trình sáng tạo của nhà văn, độc giả có vai trò nhất định, chi phối quá trình sáng tạo và chi phối cả nội dung, hình thức của tác phẩm.
Trong quá trình tiếp nhận, độc giả có vai trò đồng sáng tạo. Tác phẩm là một bộ mã, nhà văn là người kĩ mã, bạn đọc giải mã.
3. Như vậy, ở Việt Nam, quan niệm về quá trình tiếp nhận và vai trò của bạn đọc đã được thấu thị qua những lăng kính khoa học đáng tin cậy. Dễ dàng nhận thấy những luận điểm đó khá gần gũi với nhận định của J.Paul.Sartre.
“Tác phẩm văn học như con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong vận đông. Muốn làm cho nó xuất hiện, cần phải có một hoạt động cụ thể là sự đọc. Và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục. Ngoài sự đọc ra, nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng”.
Trước hết, Sartre nhận xét tác phẩm văn học không phải là cái hoàn tất cố định sau quá trình thai nghén của nhà văn mà luôn luôn vận động biến đổi như “con quay kì lạ”. Tác phẩm chỉ hiện tồn “trong vận động”.
Dường như, ở đây có một cuộc đối thoại ngầm với các quan điểm cho rằng tác phẩm là cố định, duy nhất, chỉ phụ thuộc vào ý đồ của nhà văn ( đã phân tích ở trên). Vận động là điều kiện thiết yếu để tác phẩm có thể xuất hiện, là đời sống đích thực của tác phẩm.
Vậy cơ chế nào cho sự vận động của văn bản nghệ thuật? Ông khẳng định “cần có hoạt động cụ thể là sự đọc”, đồng thời tiếp tục nhấn mạnh vai trò của sự đọc hay cũng chính là vai trò của độc giả “tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục.
Ngoài sự đọc ra, nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng”. Như vậy sự đọc có ý nghĩa sống còn đối với sức sống của tác phẩm. Không được độc giả tiếp nhận, tác phẩm chỉ là những “vệt đen trên giấy trắng” – những con chữ vật lí vô cảm, vô hồn. Sự đọc là máu để biến một thể xác vật chất (văn bản) thành một sinh thể có xúc cảm, có vui buồn, có trăn trở.
Tóm lại, J.Paul.Sartre sử dụng cách nói quá để nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của tiếp nhận đối với đời sống văn học. Vô hình chung, tác giả đã xem văn học là hoạt động giao tiếp, là một quá trình.
Dễ dàng nhận thấy dấu ấn triết học hiện sinh trong nhận định này. Sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới ở hình thức cá thể, hiện thực với sinh hoạt hàng ngày. Cho nên, tác phẩm văn học là một sản phẩm tinh thần, được cụ thể bằng dạng vật chất (văn bản ngôn từ), cũng chỉ có ý nghĩa trong đời sống của nó – sự đọc. Được viết ra từ những ẩn ức của nhà văn nhưng để hướng tới độc giả, nhân loại nói chung, tách khỏi sự đọc, tác phẩm chỉ là cái xác vô hồn.
Khẳng định ý nghĩa của sự đọc không có nghĩa phủ nhận vai trò của nhà văn và quá trình sáng tạo. “Con quay kì lạ” dẫu biến ảo, vận động về đâu cũng cần có một trục trụ duy nhất để cân bằng. Ấy là những chỉ dẫn nghệ thuật, những tín hiệu thẩm mĩ mà nhà văn dày công xây dựng trong tác phẩm. Tác phẩm là một quá trình, Sartre nhấn mạnh vào quá trình thứ hai – giải mã. “Tác phẩm chỉ có thể kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục” .
So sánh quan niệm của Sartre với luận giải của Nguyễn Lai, Bùi Minh Toán (đã nên ở trên), có thể thấy sự tương đồng rõ nét. Nếu Sartre cho rằng thiếu sự đọc, tác phẩm chỉ là “những vệt đen trên giấy trắng” thì Nguyễn Lai coi văn bản được nhà văn sáng tạo ra mới chỉ ở dạng “tiềm năng”.
Tiềm năng ấy chỉ được hiện thực hóa thông qua quá trình giải mã tín hiệu thẩm mĩ dựa trên sự tác động có qui luật của văn bản lên người đọc. Bùi Minh Toán phân tích chỉ rõ vai trò của độc giả một cách toàn diện. Như vậy, từ những so sánh này, có thể khẳng định:
Quá trình văn học được tạo thành từ quá trình sáng tác (của nhà văn) và quá trình tiếp nhận (của người đọc). Nó có tính liên tục, quan hệ chặt chẽ, không tách rời bởi hạt nhân – văn bản.
Trung tâm của quá trình văn học là văn bản. Nhà văn tạo ra văn bản đồng nghĩa với việc sáng tạo những tín hiệu thấm mĩ, thực hiện quá trình kí mã (chuyển ngôn ngữ tự nhiên thành ngôn ngữ nghệ thuật). Đến lượt mình, độc giả thực hiện việc giải mã.
Ý đồ của nhà văn chỉ là một khả năng tồn tại của tác phẩm. Mỗi người đọc, bằng nền tảng văn hóa, tâm lí, trình độ thụ cảm riêng lại tạo ra vô vàn khả năng khác cho văn bản.
Xét ở góc độ này, văn bản có tính độc lập tương đối với nhà văn và bạn đọc. Cái trục của “con quay kì lạ” chính là những chỉ dẫn nghệ thuật thông qua hệ thống tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm.
Đời sống của tác phẩm không phải tính bằng thời gian nhà văn thai nghén ra nó. Có những sản phẩm nghệ thuật mới ra đời đã chết yểu và mãi mãi không phục sinh vì thiếu vắng độc giả. Lại có những tác phẩm cổ xưa vẫn dồi dào sức sống nhờ quá trình thụ cảm còn tiếp tục.
Thực tế đời sống văn học cho thấy quan niệm của Sartre là hoàn toàn có lí. Truyện Kiều – sản phẩm của “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” của Nguyễn Du khai sinh cách đây mấy nghìn năm vẫn còn mời gọi khám phá, tạo ra biết bao cách cảm nhận và tranh luận khác nhau. Nguyễn Du đã mất nhưng sinh mệnh nghệ thuật Truyện Kiều dường như bất tử. Mối thế hệ bạn đọc, với nền tảng văn hóa, tinh thần khác nhau lại giải mã tác phẩm theo một cách khác bằng một thái độ riêng.
Có thời, người ta đặt Truyện Kiều lên bàn cân tư tưởng phong kiến để đánh giá vị trí của tác phẩm. Dùng quan điểm xã hội học, áp đặt những yếu tố bên ngoài để nhận xét mà không căn cứ vào ngôn từ, mọi nhận định cơ hồ đều đi vào phiến diện, bế tắc.
GS Trần Đình Sử, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, phân tích các tín hiệu thẩm mĩ đã rút ra những luận điểm chính xác về Thi pháp Truyện Kiều, gợi mở cho chúng ta thấy cách tiếp cận trục trụ của “con quay kì lạ” chính là ngôn từ nghệ thuật. Tính độc lập tương đối của văn bản khiến cho nhiều khi bạn đọc có thể phát hiện những nét mới ngoài ý đồ sáng tạo của nhà văn. Kim Lân từng bất ngờ khi trong kì thi ĐH, khối D, năm 2005, có một học sinh được điểm 10 khám phá ra một điều mà ông chưa bao giờ dụng công trong xây dựng phẩm chất anh cu Tràng (sự hiếu thảo với bà cụ Tứ). Người đọc từ một bộ mã mà nghệ sĩ đã kí gửi – văn bản có thể giải theo nhiều cách khác nhau, tạo ra những khả năng thụ cảm phong phú.
Sáng tạo văn học đồng nghĩa với việc thiết kế những tín hiệu thẩm mĩ. Đó là những chỉ dẫn nghệ thuật người đọc dù tạo ra bao nhiêu khả năng cho tác phẩm vẫn phải tụ phát từ trục quay này.
Chẳng hạn, tín hiệu thẩm mĩ “mặt chữ điền” (Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mạc Tử) có thể hiểu là khuôn mặt của người con trai – tác giả hoặc khuôn mặt của người con gái soi qua trái tim nhớ thương da diết của thi sĩ. Dẫu hiểu theo cách nào cũng cần đặt trong hệ thống – nghĩa là gắn với văn cảnh “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” để thấy được nét đẹp của con người Vĩ Dạ và niềm hoài mong đau đáu của Hàn Mạc Tử.
Tương tự như thế, cặp hình tượng “non – nước” ở “Thề non nước” của Tản Đà mang tính đa nghĩa: vừa là hai vật thể thiên nhiên với qui luật muôn đời, vừa là người con trai và người con gái nhớ thương trong xa cách, vừa là đất nước bị cắt chia đầy xa xót nhưng tất cả đều mang một trạng thái cảm xúc chung. Hồ Chí Minh khi cầm bút đều đặt ra bốn câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào? Người đọc như vậy còn có vai trò chi phối quá trình sáng tạo của nhà văn.
Văn bản thì duy nhất nhưng tác phẩm xét ở chừng mực nhất định là bất tận. Tác phẩm có thể chỉ được tạo ra trong một khắc, nhưng sinh mệnh của nó là bất tử (đối với các kiệt tác). Độc giả chính là thước đo giá trị đích thực của một tác phẩm văn học. Quan niệm hiện sinh của J.Paul.Sartre xét cho cùng đã đạt đến bản chất tồn tại của tác phẩm văn học.
( Nguồn : Nguyễn Phương Ly – https://tailieu.vn/ )
TP – Chuyên đề này được phong cách thiết kế nhằm mục đích giúp học viên củng cố những yếu tố lí luận văn học cơ bản tương quan tới những tác phẩm trong chương trình THPT.Cấu trúc mỗi yếu tố gồm có : – Định nghĩa, miêu tả. – Ví dụ. – Ứng dụng. Các kỹ năng và kiến thức trình diễn dưới dạng tinh giản với những dẫn chứng đơn cử, thiết thực, sinh động, lấy tính ứng dụng làm tiêu chuẩn cao nhất, hy vọng hoàn toàn có thể được những em lĩnh hội thuần thục, phát minh sáng tạo trong quy trình làm bài nghị luận văn học. KIẾN THỨC CƠ BẢN1. Quan điểm / ý niệm sáng tác + Là gì : – Chỗ đứng, điểm nhìn để nhà văn sáng tác. – Phải được hiện thực hoá trong quy trình sáng tác. – Được phát biểu trực tiếp hay biểu lộ gián tiếp qua những tác phẩm. – Nhà văn nào cũng có quan điểm / ý niệm sáng tác nhưng để tạo thành một mạng lưới hệ thống có giá trị thì không phải ai cũng làm được. + Vai trò : – Chi phối hàng loạt quy trình sáng tác ( lựa chọn đề tài, hình tượng, lựa chọn lối viết, những hình thức nghệ thụât … ) – Phần nào biểu lộ tầm tư tưởng của nhà văn. + Ví dụ : Quan điểm sáng tác của Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh : Văn học là vũ khí lợi hại ship hàng sự nghiệp cách mạng, nhà văn là người chiến sỹ tiên phong trên mặt trận văn hoá tư tưởng. + Ứng dụng : Phân tích quan điểm sáng tác của một nhà văn ( Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Nam Cao … ). 2. Phong cách thẩm mỹ và nghệ thuật + Là gì : Là nét riêng có tính mạng lưới hệ thống trong sáng tác của một nhà văn + Đặc điểm : – Thiên về hình thức thẩm mỹ và nghệ thuật. – Có sự thống nhất và hoạt động trong quy trình sáng tác của nhà văn. + Vai trò : – Là một trong những điều kiện kèm theo quan trọng để nhìn nhận vị trí, kĩ năng của nghệ sĩ. Một nhà văn lớn phải là nhà văn có phong thái. – Thể hiện thực chất của văn chương : hoạt động giải trí phát minh sáng tạo. + Ví dụ : – Phong cách thẩm mỹ và nghệ thuật Xuân Diệu : Thơ dù viết về đề nào cũng nồng nàn thao thiết niềm giao cảm với đời. Tư tưởng thẩm mỹ và nghệ thuật độc lạ này được chuyển hoá vào mạng lưới hệ thống những phương tiện đi lại biểu lộ mới mẻ và lạ mắt ( bút pháp tương giao ; ngôn từ rất Tây, tinh xảo ; cách cấu tứ theo sự hoạt động của thời hạn cùng giọng điệu thơ phong phú, nhiều mẫu mã đủ để tái hiện những cung bậc, những biến thái phức tạp nhất, chân xác nhất của quốc tế cũng như tình cảm con người ). – Phong cách nghệ thuật và thẩm mỹ Tố Hữu : mang đặc thù thơ trữ tình chính trị thâm thúy ; đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn ; giọng điệu tâm tình ngọt ngào tha thiết ; đậm đà tính dân tộc bản địa – Phong cách thẩm mỹ và nghệ thuật Nguyễn Tuân : tài hoa, uyên bác ; cảm quan sắc nhọn nhiều mẫu mã ; chữ nghĩa phong phú ; tuỳ bút tài hoa … => “ Ngông ”. + Ứng dụngPhân tích phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ của một tác giả ( Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Tố Hữu, Nam Cao, Xuân Diệu … ) 3. Tình huống trong truyện ngắn + Là gì : – Là lát cắt của đời sống mà qua đó tính cách nhân vật được thể hiện sắc nét nhất và tư tưởng nhà bộc lộ rõ nhất. “ Là một lát cắt, một khúc của đời sống. Nhưng qua lát cắt, qua khúc ấy người thấy được trăm năm của đời thảo mộc ” ( Nguyễn Minh Châu ) – Biểu hiện qui luật có tính nghịch lí trong sáng tạo nghệ thuật và thẩm mỹ : qui mô nhỏ nhưng năng lực phản ánh lớn. + Vai trò : – Khắc hoạ tính cách nhân vật, biểu lộ tư tưởng nghệ sĩ. – Xuất phát từ đặc trưng truyện ngắn : dung tích nhỏ, bộc lộ nhân vật qua một khoảnh khắc ngắn ngủi của đời sống ( tiểu thuyết : dài, theo sát hàng loạt cuộc sống, số phận nhân vật … ) => Tình huống phải giống như thứ nước rửa ảnh làm nổi lên hình sắc nhân vật và tư tưởng nhà văn => Xây dựng được trường hợp truyện độc lạ là tín hiệu của : • Một tác phẩm có giá trị • Một tác giả kĩ năng. + Ví dụ : trường hợp đợi tàu ám ảnh ( Hai đứa trẻ ), trường hợp cuộc gặp gỡ đầy éo le, oái oăm giữa quản ngục và Huấn Cao ( Chữ người tử tù ), trường hợp nhận thức ( Chiếc thuyền ngoài xa ) … + Ứng dụng : Phân tích trường hợp truyện trong : Chiếc thuyền ngoài xa, Vợ nhặt, Chữ người tử tù, … 4. Các giá trị văn học + Mô tả : có 3 giá trị cơ bản của văn học – Giá trị nhận thức : • Mang tới cho bạn đọc những tri thức sâu rộng về quốc tế • Giúp con người mày mò, nhận thức, đồng cảm thâm thúy chính bản thân mình. – Giá trị giáo dục • Đem đến những bài học kinh nghiệm quí giá về lẽ sống • Về tư tưởng : Hình thành cho con người những tư tưởng văn minh, có thái độ và quan điểm sống đúng đắn. • Về tình cảm : Giúp con người biết yêu ghét đúng đắn, tâm hồn trở nên lành mạnh, trong sáng. – Giá trị thẩm mĩ : • Nội dung : Vẻ đẹp muôn hình vẻ của cuộc sống Vẻ đẹp bản thân con người. • Hình thức : những giải pháp, thủ pháp xây dựng hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ sinh động, giàu sức gợi. – Mối quan hệ của 3 giá trị : • Giá trị nhận thức : tiền đề của giá trị giáo dục. • Giá trị giáo dục : làm thâm thúy hơn giá trị nhận thức • Các giá trị nhận thức và giá trị giáo dục đều được phát huy tích cực nhất qua giá trị thẩm mĩ. + Ví dụ : Truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa ” của Nguyễn Minh Châu lan rộng ra khoanh vùng phạm vi nhận thức về một hiện thực bộn bề, phức tạp thời hậu chiến với những nghịch lí đầy ngang trái, đồng thời mày mò vẻ đẹp bên trong người đàn bà tưởng như chỉ biết cam chịu, khơi gợi ở bạn đọc một thái độ sống, một cách nhìn cuộc sống thâm thúy, tỉnh táo hơn trải qua những hình ảnh có đặc thù hình tượng, qua lối kể chuyện phong phú. + Ứng dụng : Đánh giá giá trị của một tác phẩm văn học. 5. Nhà văn – văn bản – bạn đọc + Nhà văn : người phát minh sáng tạo ra văn bản => triển khai quy trình kí mã => Ý đồ nghệ thuật và thẩm mỹ, cách lí giải của nhà văn về văn bản chỉ là một năng lực hiểu văn bản. + Bạn đọc : ngưòi đảm nhiệm văn học => thực thi quy trình giải thuật. + Văn bản : là một bộ mã, hoàn toàn có thể gật đầu nhiều cách giải khác nhau nhưng phải tương thích với những mã đã được nhà văn kí gửi. 6. Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ + Mô tả ( so sánh với hình tượng nhân vật trong tác phẩm tự sự ) Hiện ra qua giọng điệu, trạng thái tâm hồn, cảm hứng ( nhân vật trong tác phẩm tự sự : có diện mạo, tính cách, hành vi đơn cử ) + Phân loại : – Xét sự Open của tác giả trong tác phẩm : • Cái tôi trữ tình : tác giả • Nhân vật trữ tình nhập vai : khi tác giả hoá thân vào nhân vật khác trong tác phẩm. – Xét về vai trò : • Chủ thể trữ tình ( người trực tiếp thể hiện xúc cảm ) • Đối tượng trữ tình : đối tượng người tiêu dùng hướng tới của tâm trạng chủ thể trữ tình + Ví dụ : – “ Tảo giải ” ( Giải đi sớm ) khắc hoạ hình tượng nhân vật trữ tình Hồ Chí Minh – chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình với vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ và vẻ đẹp ý thức chiến sỹ. – “ Sóng ” : xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình “ sóng ” – nhân vật trữ tình nhập vai, đối tượng người tiêu dùng trữ tình mang vẻ đẹp của khao khát tình yêu thuỷ chung, nồng nàn, mãnh liệt. + Ứng dụng : Phân tích hình tượng nhân vật trữ tình trong một bài thơ. 7. Giá trị hiện thực + Là gì : – Phạm vi hiện thực đời sống mà tác phẩm phản ánh. – Tác phẩm nào cũng có giá trị hiện thực. ( Vì văn học bắt nguồn từ đời sống : hiện thực đời sống hoạt động và sinh hoạt hàng ngày, hiện thực tình cảm, tâm lí … ) + Biểu hiện : Hiện thực phản ánh trong tác phẩm thì vô cùng phong phú và đa dạng chủng loại. Tuy nhiên, nói đến giá trị hiện thực trong một tác phẩm văn học người ta thường đề cập 3 nét chính : – Phơi bày chân thực, thâm thúy đời sống cơ cực, nỗi khổ về vật chất hay niềm tin của những con người nhỏ bé, xấu số. – Chỉ ra nguyên do gây ra đau khổ cho con người. – Miêu tả tinh xảo vẻ đẹp tiềm ẩn trong con người. Ở mỗi một tác phẩm đơn cử, giá trị hiện thực được biểu lộ phong phú. Cùng phản ánh tình cảnh khốn quẫn của người nông dân Nước Ta trước cách mạng, Ngô Tất Tố miêu tả nỗi chật vật về vật chất của chị Dậu vì nạn sưu cao thuế nặng, một cổ nhiều tròng, Nguyễn Công Hoan trình diện chân thực sự cùng đường tuyệt lộ của người nông dân ( “ Bước đường cùng ” ), Nam Cao lại đi vào mảng hiện thực sâu kín nhất, tăm tối nhất – địa hạt tâm lí để lột trần thảm kịch bị tha hoá, nỗi đau ý thức khắc khoải của những con người dưới đáy của xã hội – Chí Phèo. + Vai trò : – Thể hiện cái nhìn hiện thực thâm thúy hay hời hợt của nhà văn. – Dấu hiệu của một tác phẩm có giá trị. + Ứng dụng : – Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm. ( Chí Phéo, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt … ) – Phân tích nhân vật làm rõ giá trị hiện thực mới lạ và độc lạ trong một tác phẩm. ( nhân vật Chí Phèo, nhân vật Mị, nhân vật người phụ nữ vợ nhặt … ) 8. Giá trị nhân đạo + Là gì : – Hạt nhân : lòng yêu thương con người. – Đối tượng : thường là nỗi khổ. + Biểu hiện : 3 góc nhìn cơ bản. – Cảm thông với số phận đau khổ của những con người nhỏ bé, xấu số. – Tố cáo những thế lực gây ra đau khổ cho con người. – Phát hiện, mày mò và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn trong những con người xấu số. Ở mỗi tác phẩm khác nhau, những góc nhìn có sự biến hóa nhiều mẫu mã, linh động. Chẳng hạn, cùng viết về người phụ nữ với cái nhìn trân trọng, yêu thương thâm thúy, Ngô Tất Tố tò mò ở Chị Dậu vẻ đẹp truyền thống cuội nguồn, thuỷ chung, không tì vết ; Kim Lân phát hiện ra nét êm ả dịu dàng và khát vọng niềm hạnh phúc bất diệt trong tâm hồn người vợ nhặt, còn Tô Hoài thì khơi tìm sức sống tiềm tàng, mãnh liệt nơi cô gái vùng cao – Mị … + Vai trò : – Thể hiện tầm vóc tư tưởng của nhà văn “ Nhà văn chân chính là nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ ” ( Biêlinxki ) – Là một trong những tín hiệu của một tác phẩm giàu giá trị ( Văn học là nhân học. Nghệ thuật chỉ có nghĩa khi hướng tới con người, yêu thương con người ). + Ứng dụng : – Phân tích giá trị nhân đạo trong một tác phẩm ( Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Chí Phèo … ) – Làm rõ giá trị nhân đạo độc lạ và mới lạ của một tác phẩm qua việc nghiên cứu và phân tích nhân vật ( Phân tích nhân vật Tràng, nghiên cứu và phân tích nhân vật Mị, nghiên cứu và phân tích nhân vật Chí Phèo … ) + Mối quan hệ giữa giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo : – Gắn bó hài hoà trong một tác phẩm. – Các góc nhìn bộc lộ nhìn chung tương đương chỉ độc lạ ở chỗ : nếu nói giá trị hiện thực là nhắc tới sự trình diễn, miêu tả hiện thực một cách tương đối khách quan thì nói tới gía trị nhân đạo tức là đã bao hàm thái độ của nhà văn ( cảm thông, thương xót, ưng ý, ngợi ca … ) BÀI VIẾT THAM KHẢOBình luận ý niệm của J.Paul. Sartre : “ Tác phẩm văn học như con quay lạ mắt, chỉ hoàn toàn có thể Open trong hoạt động. Muốn làm cho nó Open, cần phải có một hoạt động giải trí đơn cử là sự đọc. Và tác phẩm văn học chỉ lê dài chừng nào sự đọc còn hoàn toàn có thể liên tục. Ngoài sự đọc ra, nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng ” 1. Nhiều năm trở lại đây, yếu tố đảm nhiệm tác phẩm không chỉ là mối chăm sóc của lí luận văn học mà còn là đối tượng người tiêu dùng của rất nhiều khoa học điều tra và nghiên cứu văn học. Bình luận và nghiên cứu và phân tích ý niệm của J.Paul.Sartre trên cơ sở ngôn ngữ học văn minh cho chúng tôi những kiến giải thâm thúy. 2. Nếu như vai trò phát minh sáng tạo của nhà văn có lịch sử vẻ vang nghiên cứu và điều tra khá đầy đặn thì vai trò của người đọc, thực chất của quy trình tiếp đón văn học dẫu đã được “ canh tác ” không ít vẫn còn là mảnh đất khá phì nhiêu, mời gọi tò mò. Lấy mối quan hệ tác giả – tác phẩm – bạn đọc làm căn cốt, lâu nay có nhiều quan điểm khác nhau về yếu tố TT của hoạt động giải trí văn học. Trước đây, có một ý niệm đã trở thành quán tính trong điều tra và nghiên cứu phê bình : lấy tác giả cùng đậm chất ngầu phát minh sáng tạo làm TT. Nó xem nhẹ vai trò của bạn đọc và quy trình tiếp đón. Ý tưởng của nghệ sĩ là nòng cốt, là “ hướng dẫn của Chúa ” để soi đường cho những Fan Hâm mộ văn chương mải miết đi tìm chân lí. Tiếp nhận được xem như một nỗ lực phóng chiếu ý thức nghệ sĩ vào tác phẩm, truy lùng ánh xạ tâm hồn nhà văn trong mặt phẳng ngôn từ, văn bản. Theo đó, phê bình nỗ lực lần tìm theo lối người viết đã đi để dựng lại một tác phẩm văn học duy nhất trong ý đồ phát minh sáng tạo. Hướng nghiên cứu và điều tra phổ cập và lí tưởng một thời là tiếp cận trực tiếp với tác giả, khai thác địa đồ nhà văn đã phác thảo, lí giải tác phẩm bằng hướng dẫn trực tiếp. Vấn đề đặt ra : làm cách nào để khám phá những tác phẩm khuyết danh, những sáng tác của những nhà văn không đồng thời với tất cả chúng ta hay nhà văn đã mất ? Nếu tác giả không để lại bất kể hướng dẫn nào ngoài văn bản thì có nghĩa chiếc chìa khoá đi vào văn bản mãi mãi bị vùi lấp. Xem tác phẩm văn học “ như một quy trình ”, những nhà nghiên cứu đã phục nguyên vai trò của bạn đọc. Chúng tôi chăm sóc tới nghiên cứu và phân tích của hai tác giả Nguyễn Lai và Bùi Minh Toán trên góc nhìn ngôn ngữ học. GS.Nguyễn Lai trong bài viết “ Về quy trình tiếp đón văn học ” có đưa ra 5 vấn đề quan trọng : Nói đến quy trình đảm nhiệm văn học, thoạt tiên ta nghĩ ngay tới “ loại sản phẩm ” được làm ra. Theo cách đó, loại sản phẩm chưa qua tay người tiêu dùng thì mới ở dạng tiềm năng. Do vậy, năng động chủ quan của người tiếp đón là cánh cửa tiên phong để ta hoàn toàn có thể đi vào ngôi nhà tạo nghĩa của quy trình tiếp đón văn học. Chủ thể hoạt động giải trí biến “ thành phẩm ” thành tác phẩm. Sự khác nhau giữa kí hiệu thẩm mĩ và hình tượng thẩm mĩ. Tuy cùng là những gợi dẫn thẩm mĩ, nhưng ở hình tượng tượng thẩm mĩ, tính năng động chủ quan của chủ thể phát huy cao độ và phát huy với thế trọn vẹn dữ thế chủ động. Từ ngữ, kí hiệu thẩm mĩ chỉ là phương tiện đi lại của quy trình gợi dẫn. Trong vấn đề này, tác giả cũng nghiên cứu và phân tích quy trình chuyển mã từ mã ngôn từ sang mã hình tượng. Quá trình tác động ảnh hưởng một cách có qui luật của tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật so với người tiếp đón. Mối quan hệ giữa người đảm nhiệm với tác phẩm và xã hội trải qua ngôn từ. Coi hoạt động giải trí văn học như thể hoạt động giải trí tiếp xúc, GS Bùi Minh Toán xem xét quy trình tiếp đón văn học trên hai góc nhìn. Vai trò của người đọc trong quy trình tiếp đón. Vai trò của người đọc trong chính hoạt động giải trí phát minh sáng tạo của người nghệ sĩ. Trong quy trình phát minh sáng tạo của nhà văn, fan hâm mộ có vai trò nhất định, chi phối quy trình phát minh sáng tạo và chi phối cả nội dung, hình thức của tác phẩm. Trong quy trình đảm nhiệm, fan hâm mộ có vai trò đồng phát minh sáng tạo. Tác phẩm là một bộ mã, nhà văn là người kĩ mã, bạn đọc giải thuật. 3. Như vậy, ở Nước Ta, ý niệm về quy trình đảm nhiệm và vai trò của bạn đọc đã được thấu thị qua những lăng kính khoa học đáng đáng tin cậy. Dễ dàng nhận thấy những vấn đề đó khá thân thiện với đánh giá và nhận định của J.Paul.Sartre. “ Tác phẩm văn học như con quay kì quặc, chỉ hoàn toàn có thể Open trong vận đông. Muốn làm cho nó Open, cần phải có một hoạt động giải trí đơn cử là sự đọc. Và tác phẩm văn học chỉ lê dài chừng nào sự đọc còn hoàn toàn có thể liên tục. Ngoài sự đọc ra, nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng ”. Trước hết, Sartre nhận xét tác phẩm văn học không phải là cái hoàn tất cố định và thắt chặt sau quy trình thai nghén của nhà văn mà luôn luôn hoạt động biến hóa như “ con quay kì khôi ”. Tác phẩm chỉ hiện tồn “ trong hoạt động ”. Dường như, ở đây có một cuộc đối thoại ngầm với những quan điểm cho rằng tác phẩm là cố định và thắt chặt, duy nhất, chỉ phụ thuộc vào vào ý đồ của nhà văn ( đã nghiên cứu và phân tích ở trên ). Vận động là điều kiện kèm theo thiết yếu để tác phẩm hoàn toàn có thể Open, là đời sống đích thực của tác phẩm. Vậy chính sách nào cho sự hoạt động của văn bản nghệ thuật và thẩm mỹ ? Ông khẳng định chắc chắn “ cần có hoạt động giải trí đơn cử là sự đọc ”, đồng thời liên tục nhấn mạnh vấn đề vai trò của sự đọc hay cũng chính là vai trò của fan hâm mộ “ tác phẩm văn học chỉ lê dài chừng nào sự đọc còn hoàn toàn có thể liên tục. Ngoài sự đọc ra, nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng ”. Như vậy sự đọc có ý nghĩa sống còn so với sức sống của tác phẩm. Không được fan hâm mộ tiếp đón, tác phẩm chỉ là những “ vệt đen trên giấy trắng ” – những con chữ vật lí vô cảm, vô hồn. Sự đọc là máu để biến một thể xác vật chất ( văn bản ) thành một sinh thể có xúc cảm, có vui buồn, có trăn trở. Tóm lại, J.Paul.Sartre sử dụng cách nói quá để nhấn mạnh vấn đề vai trò đặc biệt quan trọng quan trọng của tiếp đón so với đời sống văn học. Vô hình chung, tác giả đã xem văn học là hoạt động giải trí tiếp xúc, là một quy trình. Dễ dàng nhận thấy dấu ấn triết học hiện sinh trong đánh giá và nhận định này. Sự vật hiện tượng kỳ lạ sống sót trong quốc tế ở hình thức thành viên, hiện thực với hoạt động và sinh hoạt hàng ngày. Cho nên, tác phẩm văn học là một mẫu sản phẩm niềm tin, được đơn cử bằng dạng vật chất ( văn bản ngôn từ ), cũng chỉ có ý nghĩa trong đời sống của nó – sự đọc. Được viết ra từ những ẩn ức của nhà văn nhưng để hướng tới fan hâm mộ, quả đât nói chung, tách khỏi sự đọc, tác phẩm chỉ là cái xác vô hồn. Khẳng định ý nghĩa của sự đọc không có nghĩa phủ nhận vai trò của nhà văn và quy trình phát minh sáng tạo. “ Con quay kì khôi ” dẫu biến ảo, hoạt động về đâu cũng cần có một trục trụ duy nhất để cân đối. Ấy là những hướng dẫn nghệ thuật và thẩm mỹ, những tín hiệu thẩm mĩ mà nhà văn dày công thiết kế xây dựng trong tác phẩm. Tác phẩm là một quy trình, Sartre nhấn mạnh vấn đề vào quy trình thứ hai – giải thuật. “ Tác phẩm chỉ hoàn toàn có thể lê dài chừng nào sự đọc còn hoàn toàn có thể liên tục ”. So sánh ý niệm của Sartre với luận giải của Nguyễn Lai, Bùi Minh Toán ( đã nên ở trên ), hoàn toàn có thể thấy sự tương đương rõ nét. Nếu Sartre cho rằng thiếu sự đọc, tác phẩm chỉ là “ những vệt đen trên giấy trắng ” thì Nguyễn Lai coi văn bản được nhà văn phát minh sáng tạo ra mới chỉ ở dạng “ tiềm năng ”. Tiềm năng ấy chỉ được hiện thực hóa trải qua quy trình giải thuật tín hiệu thẩm mĩ dựa trên sự tác động ảnh hưởng có qui luật của văn bản lên người đọc. Bùi Minh Toán nghiên cứu và phân tích chỉ rõ vai trò của fan hâm mộ một cách tổng lực. Như vậy, từ những so sánh này, hoàn toàn có thể khẳng định chắc chắn : Quá trình văn học được tạo thành từ quy trình sáng tác ( của nhà văn ) và quy trình tiếp đón ( của người đọc ). Nó có tính liên tục, quan hệ ngặt nghèo, không tách rời bởi hạt nhân – văn bản. Trung tâm của quy trình văn học là văn bản. Nhà văn tạo ra văn bản đồng nghĩa tương quan với việc phát minh sáng tạo những tín hiệu thấm mĩ, thực thi quy trình kí mã ( chuyển ngôn từ tự nhiên thành ngôn từ thẩm mỹ và nghệ thuật ). Đến lượt mình, fan hâm mộ triển khai việc giải thuật. Ý đồ của nhà văn chỉ là một năng lực sống sót của tác phẩm. Mỗi người đọc, bằng nền tảng văn hóa truyền thống, tâm lí, trình độ thụ cảm riêng lại tạo ra vô vàn năng lực khác cho văn bản. Xét ở góc nhìn này, văn bản có tính độc lập tương đối với nhà văn và bạn đọc. Cái trục của “ con quay lạ mắt ” chính là những hướng dẫn thẩm mỹ và nghệ thuật trải qua mạng lưới hệ thống tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm. Đời sống của tác phẩm không phải tính bằng thời hạn nhà văn thai nghén ra nó. Có những mẫu sản phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ mới sinh ra đã chết yểu và mãi mãi không Phục hồi vì thiếu vắng fan hâm mộ. Lại có những tác phẩm cổ xưa vẫn dồi dào sức sống nhờ quy trình thụ cảm còn liên tục. Thực tế đời sống văn học cho thấy ý niệm của Sartre là trọn vẹn có lí. Truyện Kiều – loại sản phẩm của “ những điều trông thấy mà đau đớn lòng ” của Nguyễn Du khai sinh cách đây mấy nghìn năm vẫn còn mời gọi mày mò, tạo ra biết bao cách cảm nhận và tranh luận khác nhau. Nguyễn Du đã mất nhưng sinh mệnh nghệ thuật và thẩm mỹ Truyện Kiều có vẻ như bất tử. Mối thế hệ bạn đọc, với nền tảng văn hóa truyền thống, niềm tin khác nhau lại giải thuật tác phẩm theo một cách khác bằng một thái độ riêng. Có thời, người ta đặt Truyện Kiều lên bàn cân tư tưởng phong kiến để nhìn nhận vị trí của tác phẩm. Dùng quan điểm xã hội học, áp đặt những yếu tố bên ngoài để nhận xét mà không địa thế căn cứ vào ngôn từ, mọi đánh giá và nhận định cơ hồ đều đi vào phiến diện, bế tắc. GS Trần Đình Sử, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, nghiên cứu và phân tích những tín hiệu thẩm mĩ đã rút ra những vấn đề đúng chuẩn về Thi pháp Truyện Kiều, gợi mở cho tất cả chúng ta thấy cách tiếp cận trục trụ của “ con quay kì quặc ” chính là ngôn từ nghệ thuật và thẩm mỹ. Tính độc lập tương đối của văn bản khiến cho nhiều khi bạn đọc hoàn toàn có thể phát hiện những nét mới ngoài ý đồ phát minh sáng tạo của nhà văn. Kim Lân từng giật mình khi trong kì thi ĐH, khối D, năm 2005, có một học viên được điểm 10 tò mò ra một điều mà ông chưa khi nào dụng công trong thiết kế xây dựng phẩm chất anh cu Tràng ( sự hiếu thảo với bà cụ Tứ ). Người đọc từ một bộ mã mà nghệ sĩ đã kí gửi – văn bản hoàn toàn có thể giải theo nhiều cách khác nhau, tạo ra những năng lực thụ cảm đa dạng chủng loại. Sáng tạo văn học đồng nghĩa tương quan với việc phong cách thiết kế những tín hiệu thẩm mĩ. Đó là những hướng dẫn nghệ thuật và thẩm mỹ người đọc dù tạo ra bao nhiêu năng lực cho tác phẩm vẫn phải tụ phát từ trục quay này. Chẳng hạn, tín hiệu thẩm mĩ “ mặt chữ điền ” ( Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mạc Tử ) hoàn toàn có thể hiểu là khuôn mặt của người con trai – tác giả hoặc khuôn mặt của người con gái soi qua trái tim nhớ thương da diết của thi sĩ. Dẫu hiểu theo cách nào cũng cần đặt trong mạng lưới hệ thống – nghĩa là gắn với văn cảnh “ Lá trúc che ngang mặt chữ điền ” để thấy được nét đẹp của con người Vĩ Dạ và niềm hoài mong đau đáu của Hàn Mạc Tử. Tương tự như thế, cặp hình tượng “ non – nước ” ở “ Thề non nước ” của Tản Đà mang tính đa nghĩa : vừa là hai vật thể vạn vật thiên nhiên với qui luật muôn đời, vừa là người con trai và người con gái nhớ thương trong xa cách, vừa là quốc gia bị cắt chia đầy xa xót nhưng tổng thể đều mang một trạng thái xúc cảm chung. Hồ Chí Minh khi cầm bút đều đặt ra bốn câu hỏi : Viết cho ai ? Viết để làm gì ? Viết cái gì ? Viết như thế nào ? Người đọc như vậy còn có vai trò chi phối quy trình phát minh sáng tạo của nhà văn. Văn bản thì duy nhất nhưng tác phẩm xét ở chừng mực nhất định là bất tận. Tác phẩm hoàn toàn có thể chỉ được tạo ra trong một khắc, nhưng sinh mệnh của nó là bất tử ( so với những siêu phẩm ). Độc giả chính là thước đo giá trị đích thực của một tác phẩm văn học. Quan niệm hiện sinh của J.Paul.Sartre xét cho cùng đã đạt đến thực chất sống sót của tác phẩm văn học .
|
Tìm kiếm với từ khoá : |
|

Share
|
 |
|
18.04.2016, 21:15 |
|
|
|
11 Re: [Sưu Tầm] Lý luận văn học và các vấn đề trong lý luận văn học hiện nay! – Điểm:
Một số vấn đề lí luận văn học: Tiếp nhận văn học
thế giới quan nhân sinh quan \ / \ / Cuộc sống —-> Nhà văn — —— —>Tác phẩm — —–>Độc giả (chắt lọc) (lăng kính) | | “hoàn thành” “hoàn tất”
1. Đời sống văn học được thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà văn – tác phẩm – công chúng văn học. – Nhờ có tác phẩm văn học, nhà văn diễn đạt cảm xúc và suy nghĩ cụ thể và xác định hơn. – Đồng thời, thông qua tác phẩm, người đọc có thể biết được những gì nhà văn, nhà thơ định nói.
2.Tác phẩm văn học là sản phẩm, là kết quả của quá trình sáng tạo văn học, thể hiện cảm xúc suy nghĩ của nhà văn trước cuộc sống.
** Nghệ sĩ bao giờ cũng để lại dấu ấn cá nhân (vân chữ) của mình trong kết quả sáng tạo ở hình tượng nghệ thuật. – Hình tượng nghệ thuật là kết quả của một hoạt động sáng tạo phức tạp. Nhà văn phải trải qua quá trình “thai nghén” để cho ra đời “con đẻ” của mình. – Hình tượng nghệ thuật vừa là sản phẩm của quá trình dày công lao động của người nghệ sĩ, vừa thấm đẫm tình cảm của họ về cuộc sống, về con người. <-> “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” (Ngô Thì Nhậm) <-> “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy” (Tố Hữu)
** Trong thơ và truyện, nhà văn luôn thường xuyên có mặt trực tiếp hoặc gián tiếp. – Trong truyện, thái độ của nhà văn thấm sâu vào giọng kể, các chi tiết khắc họa nhân vật, lòng căm thù, thái độ trân trọng… – Trong thơ, nhân vật trữ tình cũng có thể là tác giả (chủ thể trữ tình – chủ thể sáng tạo). Có khi, nhà thơ không nói hết, nói trực tiếp ý mình mà dựng nên những mối quan hệ để gợi cho độc giả suy ngẫm.
** Nhà văn cũng là một con người cụ thể, có tiếng nói và phong cách riêng của mình. Cách thể hiện, cảm nhận cuộc sống của các nhà văn không giống nhau. <-> “Thơ là cái nhụy của cuộc sống, cho nên muốn thơ có nhụy thì vấn đề trước hết là chính mình phải hút được cái nhuỵ của cuộc sống, phải cố gắng phấn đấu cho cuộc đời mình có nhụy thật” (Tố Hữu).
3. Tác phẩm văn học là con đường nối giữa công chúng văn học và tác giả.
– Những tác phẩm chân chính chỉ là khi nhà văn có quan điểm tiến bộ đứng về phía nhân dân, đứng về phía con người. – Một khi tác phẩm xa lạ ới công chúng cả về nội dung và hình thức nó đều bị công chúng từ chối, không tiếp nhận. <-> “Các ông muốn tiểu thuyết thì cứ là tiểu thuyết, còn tôi và những người có cùng chí hướng với tôi muốn tiểu thuyết phải là sự thực ở đời” (Vũ Trọng Phụng) <-> “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” (Sóng Hồng)
4. Bạn đọc – Người đồng sáng tạo
– Trong quá trình tiếp nhận văn học, độc giả cũng góp phần hoàn thiện về cả nội dung và hình thức của tác phẩm. <-> Tản Đà: “Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày” –> thợ in thành: “Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày” -> câu thơ gợi cảm hơn, diễn đạt được sự mòn mỏi chờ đợi hơn bản gốc của Tản Đà.
5. Kết luận
– Tác phẩm văn học là quá trình và kết quả sáng tạo đặc biệt của văn nghệ sĩ. Nó là “một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể” (Xuân Diệu). – Nó là nhịp cầu nối giữa tác giả và độc giả, thể hiện mối quan hệ sâu sắc, tinh tế của các yếu tố cấu thành đời sống văn học. – Từ nhà văn tới tác phẩm mới chỉ là giai đoạn hoàn thành, từ tác phẩm tới độc giả mới là công đoạn hoàn tất. Bởi cho dù tác phẩm có hay đến đâu nhưng không được người đọc đón nhận thì mãi mãi cũng chỉ là những xác chữ vô hồn nằm trên kệ sách mà thôi.
|
Tìm kiếm với từ khoá : |
|

Share
|
Hoàng Lão Tà
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Hắc Vân về bài viết trên : |
|
| Hiển thị bài viết từ : Sắp xếp theo |
|
Trang 1/1 |
[ 7 bài ] |
|
Đang truy vấn
|
Không có thành viên nào đang truy cập
|
|
Điều hành
| Lãng Nhược Y, Thử việc CLB Văn học |
|
|
Bạn không thể tạo đề tài mới Bạn không thể viết bài trả lời Bạn không thể sửa bài của mình Bạn không thể xoá bài của mình Bạn không thể gởi tập tin kèm
|
|
|