Kiến thức cơ bản và nâng cao văn bản “Lão Hạc”| Học văn 8 – Lớp Văn Cô Thu

 ÔN TẬP VĂN BẢN “LÃO HẠC”

I.Tác giả

– Nam Cao là bút danh của Trần Hữu Trí. Ông sinh năm 1915 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam .

– Trước năm 1945, ông dạy học tư và viết văn. Ông là một nhà văn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn, truyện dài chân thực viết về người nông dân nghèo đói bị vùi dập và người trí thức nghèo sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ.

– Sau cách mạng tháng Tám, ông chân thành, tận tuỵ sáng tác Giao hàng kháng chiến : làm phóng viên báo chí mặt trận, rồi làm công tác làm việc văn nghệ tại chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1951, ông đi công tác làm việc vào vùng sau sống lưng địch, hi sinh trong tư thế một nhà văn – chiến sỹ .
– Nam Cao được nhà nước truy tặng « Trao Giải Hồ Chí Minh » về văn học thẩm mỹ và nghệ thuật ( năm 1996 ) .
– Nam Cao là tác giả của cuốn tiểu thuyết « Sống mòn » và khoảng chừng 60 truyện ngắn tiêu biểu vượt trội nhất là những truyện « Chí Phèo », « Lão Hạc », « Mua nhà », « Đời thừa », « Đôi mắt » … .
– Nam Cao có tài kể chuyện, khắc họa nhân vật bằng độc thoại với bao trang đời éo le, đầy thảm kịch. Người nông dân nghèo, người tri thức nghèo là hai đề tài in đậm trong truyện của Nam Cao. Tác phẩm của Nam Cao bộc lộ « một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết » ( Nguyễn Đăng Mạnh ) .

II. Truyện ngắn “Lão Hạc”

1.Giới thiệu vắn tắt giá trị của truyện ngắn « Lão Hạc »

Viết về đề tài người nông dân trước cách mạng, « Lão Hạc » là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nam Cao, đăng báo lần đầu năm 1943. Truyện đã bộc lộ một cách chân thực, cảm động số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý, tiềm tàng của họ. Đồng thời, truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng so với người nông dân và kĩ năng nghệ thuật và thẩm mỹ xuất sắc của nhà văn Nam Cao, đặc biệt quan trọng trong việc miêu tả tâm ý nhân vật và cách kể truyện .

1.1. Giá trị nội dung

a. Tình cảnh cùng khổ và số phận bi đát của người nông dân trước cách mạng tháng Tám.

Cũng như bao người nông dân khác, cuộc đời lão Hạc bị vây bủa trong sự nghèo đói. Đã nghèo, lại góa vợ, lão Hạc lầm vào cảnh một thân gà trống nuôi con.

– Không có ruộng cầy, hàng loạt gia tài của lão chỉ là một con chó và một mảnh vườn. Mảnh vườn ấy có được là do vợ lão cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu ». Đó là mảnh vườn còm cõi, hoa màu của nó cũng chỉ đủ để lão « bòn mót ». Cho nên lão phải làm thuê làm mướn, đem sức mình đổi lấy miếng ăn .
=> Đó là toàn bộ cuộc sống lão đã khiến lão thấm thía cái kiếp nghèo tủi nhục của mình, mà có lần lão đã chua xót thốt lên rằng : « nó chỉ nhỉnh hơn cái kiếp của một con chó »

  • Mất con

– Chính cái nghèo đã kiến cho lão Hạc trở thành người cha phải bó tay trước niềm hạnh phúc không thành của người con trai độc nhất. Cái nghèo không cho lão dựng vợ cho con để trọn cái đạo làm cha. Anh con trai vì không đủ tiền cưới vợ đã phẫn chỉ bỏ đi đồn điền cao su đặc tận Nam Kì biền biệt 5,6 năm chưa về. Thế là cái nghèo lại cướp nốt đứa con trai của lão. Lão vô cùng đau xót về điều này, kể lại chuyện với ông giáo mà nước mắt rân rấn : « Thẻ của nó người ta giữ. Hình của nó người ta chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi ». Câu nói của lão nhói lên một nỗi đau, bởi nó đã khái quát cả một cảnh đời cùng khổ một số phận thảm thương của người nông dân trong chính sách cũ .

  • Bán chó 

– Anh con trai đi biền biệt, lão sống thui thủi, trơ trợ một mình trong nỗi xấu số ngày thêm chồng chất. Chỉ có con chó là bầu bạn sớm tối, con chó thành « cậu Vàng », thành một người trong nhà lão. « Con chó là của cháu nó mua đấy chứ ». Lão vẫn không quên con chó là kỉ vật thiêng liêng, là gia tài của đứa con trai. Có một mối dây liên lạc rất lạ lùng giữa lão Hạc, con chó và đứa con trai vắng mặt. Cho nên, có bao nhiêu niềm thương, nỗi nhớ chất chứa trong lòng, lão dồn hết vào con chó. Lão yêu quý « cậu vàng » như con, như cháu tưởng như không thể nào hoàn toàn có thể rời xa nó, tưởng như cuộc sống lão không hề thiếu nó .
– Vậy mà, tình cảnh đói nghèo khốn quẫn đã buộc lão phải chia tay với nó. Lão bị ốm một trận lê dài 2 tháng 18 ngày, không một người thân trong gia đình bên cạnh đỡ đần, săn sóc cho một bát cháo, hay một chén thuốc ! Tình cảnh ấy thật đáng thương ! Tiếp theo một trận bão to, cây cối, hoa màu trong vườn bị phá sạch sành sanh. Làng mất nghề sợi. Đàn bà congái trong làng đi làm thuê rất nhiều, giành hết mọi việc. Sau trận ốm, lão Hạc yếu hẳn đi, chẳng ai thuê lão đi làm nữa. Lão Hạc thành ra thất nghiêp. Thóc cao, gạo kém, sức cùng, lực kiệt, lão Hạc đành phải bán con chó mà lão rất yêu quý. Bán con chó là bán đi niềm vui, niềm an ủi sau cuối của lão. Lão đã đắn đo, chần chừ mãi khi quyết định hành động bán con chó .
– Và khi buộc lòng phải bán nó lão vô cùng đau đớn. Bán nó xong, lão Hạc bị đẩy sâu xuống đáy vực bi thảm. Lão cảm thấy mình là một kẻ « tệ lắm », đã già mà còn đánh lừa một con chó ». Kể lại chuyện bán chó với ông giáo mà « Lão cố làm ra vui tươi. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậc nước ». Lão tự nhận là một kẻ bất nhân, là tên lừa đảo so với một con chó vốn tin yêu mình. Có lẽ đây là tích tắc đau đớn nhất trong cuộc sống lão, khiến cho « mặt lão đùng một cái co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoeo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc .. »
=> Cuộc đời lão Hạc là một dòng nước mắt chảy dài của những nỗi đau bất lực. Nước mắt lão khi thì « rân rấn », lúc « ầng ậng », cả khi « cười cũng như mếu ». Nước mắt ấy có vẻ như đã hết sạch trong cuộc sống khổ đau, tủi cực của lão. Cho nên khi khóc, « mặt lão đùng một cái co rúm lại ». Những vết nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra ». Nhiều người cho rằng đây là cái tài miêu tả cuả Nam Cao, nhưng trước hết đó là cái tình của nhà văn so với kiếp người tủi cực trong chính sách cũ. Không có một sự cảm thông thâm thúy, không có một tình xót thương chân thành, không hề vẽ lên một nỗi đau hằn sâu trên khuôn mặt lão Hạc như vậy. Một nét vẽ mà như cô đúc cả một cảnh đời, một kiếp người trong xã hội cũ .

  • Cái chết

– Nhưng thê thảm nhất vẫn là cái chết của lão Hạc sau những ngày ăn khoai, ăn củ chuối, sung luộc, rau má, củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc … để rồi ở đầu cuối lão đã ăn bả chó mà chết. Dĩ nhiên, lão lựa chọn cái chết ấy là vì đứa con trai nhưng suy cho cùng thì chính tình cảnh khốn quẫn, sự đói khổ đã đẩy lão đến bước đường cùng phải chết .
– Đó là một cái chết thật là kinh hoàng và cũng vô cùng bi thảm : « Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xuề xòa, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên … Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ đeo tay mới chết .
=> Như vậy, nghèo khó đã đẻ nặng lên cuộc sống làm thuê làm mướn khiến cho lão sức cùng lực kiệt ; bần hàn lại cướp nốt đứa con trai của lão ; cướp nốt cả « cậu vàng » thân yêu, niềm an ủi ở đầu cuối của lão ; và bần hàn lại đẩy lão đến cái chết đau đớn và thảm khốc như chưa từng thấy. Cái chết ấy đã kết thúc một cảnh đời tủi cực và một số phận bi đát của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Cuộc sống cùng khốn và cái chết bi thương của lão Hạc đã nói lên thấm thía số phận thê thảm của người nông dân lao động trong xã hội tăm tối đương thời. Không chỉ là nỗi đau, cái chết ấy còn là một lời tố cáo thâm thúy và can đảm và mạnh mẽ cái chính sách gian ác, bất nhân đã gây nên những cảnh đời thê thảm như lão Hạc. Với chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, Nam Cao đã nói lên bao tình thương xót so với những con người đau khổ, bế tắc phải tìm đến cái chết thê thảm. Chí Phèo tự sát bằng một mũi dao, Lang Rận thắt cổ chết …. và lão Hạc đã quyên sinh bằng bả chó. Lão Hạc đã từng hỏi ông giáo : « Nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng ? Câu hỏi ấy đã bộc lộ nỗi đau khổ tột cùng của một kiếp người .

  • Số phận anh con trai lão– nhân vật không xuất hiện, chỉ hiện ra trong nỗi nhớ của lão Hạc- cũng thật đáng thương : chỉ vì quá nghèo mà cô gái anh yêu thương trở thành vợ kẻ khác ; anh phẫn chí ra đi nuôi mộng « cố chí làm ăn, bao giờ có bạc trăm mới về », không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này nhục lắm ». Nhưng, thật tội nghiệp, cái nơi mà anh ta tìm đến với hi vọng làm giầu lại là đồn điền cao su Nam Kì, một địa ngục trần gian, thân phận phu cao su chỉ là thân phận nô lệ. Còn lão Hạc thì cứ mong con mỏi mắt suốt tận ngày cuối đời…

b. Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao cả của lão Hạc.

Chính trong cảnh đời thê thảm ấy, ta lại thấy bừng sáng lên một vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao quý của lão Hạc. Lão Hạc sống lủi thủi, thầm lặng, hình thức bề ngoài lão có vẻ như như lẩm cẩm, gàn dở ; vợ ông giáo cũng chẳng ưa gì lão : « cho lão chết ! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ ? Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ ! » Chính ông giáo cũng có lúc từng nghĩ là lão « quá nhiều tự ái », còn Binh Từ thì « bĩu môi nhận xét : Lão làm bộ đấy ! thật ra thì lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu ! » Nhưng kì thực lão Hạc có một nhân cách rất là cao quý mà vẻ bên ngoài không dễ thấy. Đằng sau « manh áo rách nát » là một tấm lòng vàng ». Nó được biểu lộ qua tấm lòng của lão so với con trai, so với « cậu Vàng », qua việc gửi gắm vườn tược, tiền tài cho ông giáo và nhất là qua cái chết thảm khốc mà lão đã lựa chọn cho chính mình .

  • Lão Hạc, một con người chất phác, hiền lành và nhân hậu vô cùng

– Cái tình của lão đối với « cậu Vàng » thật là hiếm có, đặc biệt và Nam Cao đã ghi lại tỏng những dòng chữ xúc động.

+ Bởi không còn là con chó thường, cậu “ vàng ” đã trở thành người thân trong gia đình, niềm vui, niềm an ủi so với đời sống đơn độc, lủi thủi một mình của lão. + Lão “ gọi nó là cậu Vàng như bà mẹ khan hiếm gọi đứa con cầu tự. Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra ao tắm, cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giầu ( … ) Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ .
+ Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó ”. Đoạn lão trò chuyện với cậu Vàng về việc « định giết cậu để cưới vợ cho con trai rồi lại không giết nữa, để nuôi » đã thể hiện thâm thúy tình cảm của lão Hạc so với con chó thân yêu .
=> Có thể nói, cậu Vàng được lão Hạc chăm nom, nuôi nấng như con, như cháu. Nó là nguồn vui, chỗ dựa ý thức, nơi san sẻ tình thương, giúp lão Hạc vợi đi không ít nỗi buồn đơn độc, cay đắng. Cậu Vàng là một phần cuộc sống lão Hạc. Nó đã toả sáng tâm hồn và làm ánh lên bản tính tốt đẹp của lão nông đau khổ, xấu số này. Vì thế, sau khi bán cậu Vàng đi, từ túng quấn, lão Hạc chìm xuống đáy bể thảm kịch, dẫn đến cái chết vô cùng thảm thương .
+ Tình thế cùng đường khiến lão phải tính đến việc bán “ cậu Vàng ” thì trong lão diễn ra một sự dằn vặt đau khổ. Lão kể lại cho ông giáo việc bán “ cậu vàng ” với tâm trạng vô cùng đau đớn : “ lão cười như mếu, đôi mắt ầng ậc nước ”. Đến nỗi ông giáo thương lão quá “ muốn ôm chầm lấy lão mà oà lên khóc ”. Khi nhắc đến việc cậu Vàng bị lừa rồi bị bắt, lão Hạc không còn nén nổi nỗi đau đớn cứ dội lên : “ mặt lão đùng một cái co dúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc. Lão Hạc đau đớn đến thế không phải chỉ vì quá thương con chó, mà còn vì lão không hề tha thứ cho mình vì đã nỡ lừa con chó trung thành với chủ của lão. Ông lão “ quá lương thiện ” ấy cảm thấy lương tâm đau nhói khi thấy trong đôi mắt của con chó giật mình bị trói có cái nhìn trách móc … Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó. Phải có trái tim vô cùng nhân hậu và trong sáng thì mới bị dày vò lương tâm đau đớn đến thế, mới cảm thấy có lỗi với một con chó như vậy .

  •  Tấm lòng người cha ở lão Hạc đối với anh con trai mới thực cảm động, làm nên tâm sự chính của nhân vật và mạch truyện chủ yếu của tác phẩm. Nó liên quan đến cái tình của lão đối với cậu vàng, đến việc lão gửi gắm nhờ gửi ông giáo, và giải thích rõ cái chết thảm khốc của lão ở cuối truyện. Đó là tấm lòng của người cha thương con, suốt cả cuộc đời lo lắng cho con và sẵn sàng hi sinh tất cả- kể cả tính mạng – cho đứa con thân yêu của mình. Nam Cao đã thấu hiểu cái tình cha con, thiêng liêng, sâu sắc đó ở người lão nông nghèo khổ này và đã diễn tả thật cảm động trên từng trang viết của tác phẩm.

+ Đầu tiên là việc anh con trai tính chuyện bán vườn để lo cưới vợ nhưng nghe lời bố, lại thôi. Thấy con buồn, lão Hạc « thương con lắm, nhưng biết làm thế nào được ? … » Đó là tình thương đầy bất lực của một người cha nghèo .
+ Sau đó, anh con trai « sinh phẫn chí », bỏ làng, lìa cha, kí giấy đi làm dồn điền cao su đặc. Đứa con trai độc nhất của lão đã bị cái nghèo cướp nốt, lão vô cùng đau đớn. Nỗi đau mất con khiến lão « chỉ còn biết khóc chứ biết làm thế nào nữa ? Bởi « nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi ». Lão Hạc kể lại chuyện khóc con, giống như lão đang khóc, đang đau nỗi đau xé ruột của người cha trọn vẹn bất lực khi thấy con trai tuột ra khỏi tay mình để trở thành người của người ta .
+ Trong nỗi đau ấy, khi chỉ còn sống đơn độc, thủi thủi một mình thì lão Hạc đã biết chọn một cách sống cho con, vì con. Đó là cách sống không tính đến bản thân mình, khiến cho tình yêu thương và lòng nhân hậu của lão đã hoá thành một nhân cách làm người, nhân cách làm cha. Ta thấy trong từng nếp nghĩ của lão khi nào cũng thấm đẫm đức quyết tử cao quý. Trước khi đi phu, anh con trai dặn bố : « bòn vườn đất với làm thuê làm mướn cho người ta thế nào cũng đủ ăn ». Nhưng lão đã tự xóa đi cái quyền sở hữu của mình so với mảnh vườn ấy : « cái vườn là của con ta ( … ) của mẹ nó tậu thì nó hưởng. Lớp trước ta không bán là ta có ý giữ cho nó chứ có phải giữ để ta ăn đâu ! ». Cho nên, lão làm thuê làm mướn để kiếm ăn. Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra. Lão chắc mẩm, thế nào đến lúc con lão trở về cũng có được một trăm đồng bạc. Lão tính tiền ấy lão sẽ thêm vào cho con cưới vợ, nếu con đã đủ tiền cưới vợ thì cho nó để có chút vốn mà làm ăn. Thương con mà vị tha, hi sinh như thế thì đó chính là lòng thương con mộc mạc, đơn cử mà cao quý biết bao của những người lao động nghèo, ngay cả khi họ phải sống khốn quẫn nhất trong xã hội cũ. Đến cả chuyện buộc phải bán chó, thì không phải chỉ vì không nuôi nổi nó, mà cái chính vẫn là vì con : « giờ đây tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ chết nó » .
+ Nhưng cái chết mới là đỉnh điểm của đức quyết tử, lòng vị tha-mà ở đây chính là tình thương yêu thâm thúy của lão Hạc so với đứa con trai .
– Hoàn cảnh ngày càng cùng cực đã đẩy lão tới một sự lựa chọn đầy nghiệt ngã, bi đát : liên tục lê dài sự sống tàn để trở thành kẻ báo hại cho con hay là chết đi để trọn đạo làm người, trọn đạo làm cha. Và lão đã chọn cái chết, không phải cho xong đời mình, mà chết cho con, vì con .
+ Lão đã bí mật sẵn sàng chuẩn bị cho cái chết từ lúc quyết định hành động bán con chó, bán đi niềm vui, niềm an ủi ở đầu cuối của đời mình ; từ khi gửi gắm vườn tược, tiền tài cho ông giáo ; và cả những lúc ăn sung luộc, ăn củ ráy … để sau cuối lão quyết định hành động xin Binh Tư bả chó ! … Có nỗi đau bán chó, có sự chu đáo và thận trọng trong việc gửi gắm nhờ vả ông gia, s có sự nhịn ăn mấy ngày liền thì mới có việc xin bả chó để tự kết liễu đời mình. Có nghĩa là lão đã chuẩn bị sẵn sàng chu đáo mọi việc cho con ( và cả cho mình nữa ) để sắn sàng đi vào một cái chết thật kinh hoàng và bi thảm. Tất cả vì con, một sự hi sinh thầm lặng cực kỳ to lớn !
=> Lão Hạc là một nông dân không được học tập, không có chữ nghĩa, càng không biết nhiều lí luận về tình phụ tử. Nhưng cái chết kinh hoàng của lão là vật chứng cảm động về cái tình phụ tử nguyên sơ, mộc mạc, nhưng thăm thẳm, thiêng liêng biết chừng nào .

  • Lão Hạc là một nông dân nghèo khổ mà trong sạch, giầu lòng tự trọng.

– Lão Hạc đã tìm đến cái chết mặc dù trong tay vẫn còn mấy chục bạc (không kể vẫn còn mảnh vườn đáng giá mà không ít kẻ nhòm ngó)

– Bất đắc dĩ phải bán con chó ; bán xong rồi, lão đau đớn, lương tâm dằn vặt « thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó » .
– Ba sào vườn gửi lại nguyên vẹn cho con trai như một lời nguyền đinh ninh : « Cái vườn là của con ta ( … ) của mẹ nó tậu thì nó hưởng ». Trước khi chết, lão gửi lại ông giáo mảnh vườn cho con, và gửi lại 30 đồng hàng xóm. Lão thà nhịn đói chứ không tiêu xu nào vào món tiền mà lão cậy ông giáo cầm giúp đó .
– Với lòng tự trọng cao độ và nhân cách rất là trong sáng, lão Hạc không muốn hàng xóm nghèo phải phiền luỵ về cái xác già của mình, đã gửi lại ông giáo hàng loạt số tiền tích góp bằng nhịn ăn, nhịn tiêu của lão, để nhờ ông giáo đưa ra nói với bà con hàng xóm lo giúp cho lão khi lão chết. Khi đã đem gửi hết đồng xu tiền sau cuối, lão chỉ còn ẩm thực ăn uống đói khát qua bữa, bằng khoai ráy, củ chuối, rau má …, nhưng lại nhất quyết khước từ mọi sự giúp sức của người khác, kể cả sự giúp sức của ông giáo mà chắc lão hiểu là rất thân tình .
– Nam Cao đã tinh xảo đưa nhân vật Binh Tư, một kẻ « làm nghề ăn trộm » ở phần cuối truyện, tạo nên một sự đối sánh tương quan rực rỡ, làm điển hình nổi bật tấm lòng trong sáng, tự trọng của lão Hạc, một lão nông chân quê đáng trọng. Lão Hạc dù bần hàn vẫn quyết sống bằng bàn tay lao động của mình trong khi ở xã hội đó có nhiều người đã bị ngã quỵ trước bản năng ( cái đói và miếng ăn ) như Chí Phèo, Binh Tư … Lang Rận … Với cái chết đau đớn kinh hoàng mà lão Hạc tự chọn, ra đi vẫn giữ được tâm hồn thanh thản, nhân cách trong sáng, lão Hạc đã trở thành một vị thánh. Là một ông già nông dân cùng khổ, lão Hạc đã biểu lộ một khí tiết cao quý, có thức thức nhân phẩm rất cao. Lão Hạc là con người của câu tục ngữ : « đói cho sạch, rách nát cho thơm », « thà thác trong còn hơn sống đục ». Đó cũng là một nét nhân cách đáng trọng của người lao động nghèo .
=> Tóm lại, cuộc sống của lão Hạc đầy nước mắt, nhiều đau khổ và xấu số. Sống thì bí mật, nghèo khó, đơn độc ; chết thì quằn quại, đau đớn. Tuy thế, lão Hạc lại có bao phẩm chất tốt đẹp như hiền lành, chất phác, nhân hậu, trong sáng và tự trọng … Lão Hạc là một nổi bật về người nông dân Nước Ta trong xã hội cũ được Nam Cao miêu tả chân thực, với bao trân trọng, xót thương, thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết .

2. Nhân vật «Tôi »  – người kể chuyện (cũng chính là tác giả, tuy vậy không nên đồng nhất hoàn toàn với nhân vật về nguyên mẫu).

– Bên cạnh nhân vật lão Hạc là ông giáo, một nhân vật để lai bao ấn tượng so với mỗi tất cả chúng ta về người tri thức nghèo trong xã hội cũ .
– Không rõ họ tên là gì. Hai tiếng « ông giáo » đã khẳng định chắc chắn vị thế của một con người giữa làng quê trước năm 1945 « nhiều chữ nghĩa, nhiều lí luận, người ta kiêng nể ». Hai tiếng « ông giáo » từ miệng lão Hạc nói ra, khi nào cũng đượm vẻ thân tình, cung kính, trọng vọng : « cậu vàng đi đời rồi ông giáo ạ ! … « Vâng, ông giáo dạy phải ! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng » … « Tôi cắn rơm, cắn cổ lạy ông giáo » … .
– Hãy đi ngược thời hạn, tìm về thời trai trẻ của ông giáo. Là một con người siêng năng, ham mê, sống vì một lý tưởng đẹp, với bao mộng tưởng. Ông đã từng lặn lội vào tận Hồ Chí Minh, « hòn ngọc Viễn Đông » thời ấy để làm ăn, để học tập, để kiến thiết xây dựng sự nghiệp. Cái va li « đựng toàn những sách » được người người trẻ tuổi ấy rất nâng niu », cái kỉ niệm « đầy những mê hồn đẹp và cao vọng » ấy, hơn sáu chục năm còn làm cho ta xúc động và quý trọng một nhân cách đẹp .
– Con người « nhiều chữ nghĩa » ấy lại nghèo. Sau một trận ốm nặng ở TP HCM, quần áo bán gần hết, về quê chỉ có một va li sách. Nếu lão Hạc quý cậu Vàng bao nhiêu thì ông giáo lại quý những quyển sách của mình bấy nhiêu. Bởi lẽ những quyển sách ấy đã làm bứng lên trong lòng ông « như một rạng đông » thời trai trẻ, làm cho cuộc sống thêm sắc màu ý vị, sống mê hồn, « trong trẻo, biết yêu và biết ghét »
– Cái nghèo vẫn đeo đẳng ông giáo mãi, « ông giáo khổ trường tư ». Vận hạn xẩy ra luôn như ông nghĩ : « Đời người ta không chỉ khổ một lần ». Sách cứ bán dần đi. Chỉ còn giữ lại 5 quyển sách với lời nguyền : « dù có phải chết cũng không bán ». Như một kẻ cùng đường phải bán máu. Đứa con thơ bị chứng kiết lị gần kiệt sức, ông giáo đã phải bán nốt đi 5 cuốn sách sau cuối, cái gia tài quý giá nhất của người tri thức nghèo. « Lão Hạc ơi ! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu ? » Lời than ấy cất lên nghe thật não nuột, đã bộc lộ một nhân cách đẹp trước sự khốn cùng : biết sống, và dám hi sinh vì đời sống !
– Ông giáo là một tri thức có trái tim nhân hậu rất đáng quý. Ông là chỗ dựa ý thức, là niềm an ủi, an toàn và đáng tin cậy của lão Hạc. Ông giáo là nơi để lão Hạc san sẻ bao nỗi đau, nỗi buồn. Nhờ đọc hộ một lá thư, nhờ viết hộ một lá thư cho đứa con trai đi phu đồn điền. Tâm sự về mảnh vườn và và chuyện đứa con trai « phẫn cí » không lấy được vợ. San sẻ về nỗi đau buồn sau khi bán cậu Vàng cho thằng Mục, thằng Xiên … Có lúc là một điếu thuốc lào, một bát nước chè xanh, một củ khoai lang « lúc tắt lửa tối đèn có nhau ». Ông giáo đã đồng cảm, đã thương xót, đã san sẻ với lão Hạc với tổng thể tình người. Ai đã từng là fan hâm mộ của Nam Cao, chắc sẽ không khi nào quên mẩu đối thoại này :
– Tôi bùi ngùi nhìn lão, bảo :
– Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng ?
– Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng ?
Lão cười và ho sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo :
– Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng : giờ đây cụ ngồi xuống phải này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm chè tươi thật đặc : ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào … Thế là sướng .
– Vâng ! Ông giáo dậy phải ! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng » .
– Ông giáo đã thương lão Hạc « như thể thương thân ». Không chỉ an ủi, động viên, mà ông còn tìm mọi cách để « ngấm ngầm giúp » khi biết lão Hạc đã nhiều ngày ăn khoai, ăn rau, ăn củ ráy … trong lúc đàn con của ông giáo cũng đang đói ; cái nghĩa cử « lá lành đùm lá rách nát » ấy mới thật cao đẹp biết bao !
– Ông giáo nghèo mà đức độ lắm. Trước khi ăn bả chó, lão Hạc đã gửi ông giáo 30 đồng để phòng khi chết « gọi là của lão có tí chút .. », gửi lại ông giáo ba sào vườn cho đứa con trai. Tình tiết ấy nói lên lão Hạc rất tin ông giáo. Ông giáo là người để lão Hạc « chọn mặt gửi vàng ». Giữa cái xã hội đen bạc thời ấy, một bà cô dành cho đứa cháu nội một bát nước cháo đã vữa ra như một sự bố thí ( Những ngày thơ ấu ), vợ tên địa chủ bắt bí, bóp nặn người đàn bà khốn cùng để mua rẻ đứa con gái lên bảy tuổi và ổ chó ( Tắt đèn ), một tên phụ mẫu ăn bẩn đồng hào đôi của chị nhà quê ( Đồng hào có ma ) … ta mới thấy niềm tin, sự kính trọng của kẻ khốn cùng so với ông giáo thật là thánh thiện .
– Trước cái chết kinh hoàng của Lão Hạc, cái chết « đau đớn và bất lình lình », chỉ có ông giáo và Binh Tư hiểu … Ông giáo khẽ cất lời than trước vong linh người láng giềng hiền lành tội nghiệp. Trong giọt lệ là những lời hứa của một nhân cách cao đẹp, đáng trọng : « Lão Hạc ơi ! Lão Hạc ơi ! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt ! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn : Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh toàn vẹn ; cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào … »
– Cùng chung với ông giáo Thứ trong « sống mòn », Điền trong « Trăng sáng », nhân vật « tôi » trong « mua nhà », hình ảnh ông giáo trong truyện « lão Hạc » đã kết tinh cái tâm và cái tài của Nam Cao trong nghệ thuật và thẩm mỹ thiết kế xây dựng nân vật – nhà văn nghèo, ông giáo khổ trường tư – trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Đó là những con người nghèo mà trong sáng, hăm hở và nhiệt tâm từng ôm ấp bao mộng đẹp, sống nhân hậu, vị tha. Có người đã cho rằng, ông giáo là một nhân vật tự truyện, mang dáng dấp hình bóng Nam Cao. Ý kiến ấy rất lí thú .
– Trong truyện « Lão Hạc », ông giáo vừa là nhân vật, vừa là người dẫn chuyện. Không phải là nhân vật TT, nhưng sự hiện hữu của ông giáo đã làm cho « bức tranh quê » ngày thời xưa ấy thêm sáng tỏ. Nhân vật ông giáo là chiếc gương soi sáng cuộc sống và tâm hồn lão Hạc, đã tô đậm giá trị nhân đạo của truyện ngắn rực rỡ này .

3. Cách nhìn người của nhà văn Nam Cao.

Nam Cao đã phát biểu tâm lý về cách nhìn người : « Chao ôi ! Đối với những người ở quanh ta, nếu không cố tìm và hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi … toàn những cớ để cho ta tàn ác, không khi nào ta thấy họ là những người đáng thương ; không khi nào ta thương ( … ) Cái bản tính tốt củ người ta bị những nỗi lo ngại buồn đau, ích kỉ che lấp mất »
– Suy nghĩ của nhân vật « tôi » trên đây chính là một điểm quan trọng trong ý thức sáng tác của nhà văn Nam Cao. Đó chính là yếu tố mà sau này Nam Cao gọi là « Đôi mắt » ; phải xác lập « đôi mắt » đúng đắn trong cách nhìn về quần chúng bần hàn. Trong « Lão Hạc », nhà văn cho rằng so với người nông dân lao động thì phải « cố mà khám phá họ » thì mới thấy rằng chính những con người vẻ bên ngoài lắm khi « gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi » ấy chỉ là « những người đáng thương » và có « bản tính tốt », có điều, « cái bản tính tốt » ấy của họ thường bị những nỗi khổ cực, những lo ngại trong đời sống « che lấp mất ». Tức là, nhà văn đặt ra yếu tố phải có tình thương, có sự cảm thông, và phải có cách nhìn có chiều sâu, không hời hợt, phiến diện chỉ thấy cái vẻ bên ngoài, nhất là không thành kiến, tàn tệ. Có thể nói, chẳng những trong « Lão Hạc » mà trong cả « Chí Phèo », « Lang Rận », « một bữa no », « Tư cách mõ » … và hầu hết truyện dài của Nam Cao, nhà văn đều đặt ra yếu tố « đôi mắt ». Ông chính là luật sư đứng ra bênh vực cho một Chí Phèo, một anh Cu Lộ, một Lang Rận, một bà cái Tí, khẳng định chắc chắn rằng họ đều có tình cản rất « đáng thương » và đều « bản tính tốt », nhưng chính cuộc sống quá khắc nghiệt đã đẩy họ vào con đường lưu manh hoặc làm những việc xấu xa … Sau cách mạng, trong truyện ngắn « Đôi mắt » ( 1948 ), Nam Cao đã trực diện đặt ra yếu tố cần xác lập « đôi mắt » đúng đắn để thấy được thực chất cách mạng của quần chúng nông dân đang là nòng cốt của cuộc kháng chiến chống Pháp khi đó .
Cho nên, hoàn toàn có thể nói, yếu tố « đôi mắt » là một đặc thù quan trọng trong quan điểm sáng tác của Nam Cao, trở thành ý thức nghệ thuật và thẩm mỹ thường trực trong suốt cuộc sống cầm bút của nhà văn có tấm lòng gắn bó sâu nặng với nhân dân .

4. Giá trị nghệ thuật đặc sắc của truyện

« Lão Hạc » là một trong những truyện ngắn hay nhất của cây bút truyện ngắn bậc thầy Nam Cao. Tài nghệ bậc thầy đó biểu lộ ở nhiều góc nhìn và có những điểm điển hình nổi bật sau :
– Xây dựng nhân vật :
+ Không được miêu tả thật kĩ về ngoại hình, cũng không có nhiều hành vi, tuy nhiên được tập trung chuyên sâu soi sáng từ bên trong .
+ Tác giả đã đi sâu vào những tâm tư nguyện vọng, những lo tính của lão Hạc chung quanh việc bán « cậu Vàng » và việc lặng lẽ chuẩn bị sẵn sàng cho cái chết, chính từ đó mà số phận đau thương, tính cách độc lạ của nhân vật hiện ra thật rõ nét. Nhân vật lão Hạc chân thực, sinh động, có bề dầy xã hội và đồng thời có đậm cá tính độc lạ, đa phần được nhà văn khắc hoạ bằng miêu tả tâm ý. Chẳng hạn, qua cản lão Hạc trò chuyện với « cậu Vàng », hoàn toàn có thể thấy rõ cảnh sống đơn độc của lão, chất người trung hậu ( bộc lộ qua thái độ âu yếm, chiều chuộng so với cậu Vàng ) và tình thương sâu nặng so với đứa con trai đang ở xa. Hoặc những cụ thể bộc lộ phản ứng tâm lí của lão Hạc xung quanh việc mà lão cho rằng đã « lừa cậu Vàng » : đau đớn, chua xót, hối hận, đã cho thấy rất rõ tâm hồn, tính cách ông lão nông dân nhân hậu, đáng thương ấy .
– Cách dựng truyện, bút pháp trần thuật linh động, mới mẻ và lạ mắt. Tác giả đi thằng vào giữa truyện ( cảnh lão Hạc chuyện trò với « tôi » về việc sẽ phải bán « cậu Vàng » ) rồi mới nhẩn nhà đi ngược thời hạn, kể về cảnh ngộ nhân vật, từ chuyện « con chó là của cháu nó mua đấy » chuyển sang chuyện anh con trai đã bỏ đi phu, để lại lão Hạc sống đơn độc và giờ đây đang lâm cảnh cùng đường … Cách dẫn chuyện rất tự do, tự nhiên, có vẻ như lỏng lẻo tuy nhiên kì thật thật ngặt nghèo, tập trung chuyên sâu, khắc hoạ nhân vật và biểu lộ chủ đề .

– Truyện rất mực chân thực, đồng thời thấm đượm cảm xúc trữ tình. Qua nhân vật « Tôi », người kể chuyện, tác giả đã biểu lộ tự nhiên những cảm xúc, suy nghĩ của mình. Chất trữ tình thể hiện ở giọng kể, ở những câu cảm thán nhiều khi không nén được cảm xúc, tác giả đã gọi tên nhân vật lên để trò chuyện, than thở : ( Lão Hạc ơi ! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão khong muốn bán con chó vàng của lão ! Hỡi ơi lão Hạc ! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều hơn ai hết.. ! », « Lão Hạc ơi, lão hãy yên lòng nhắm mắt…) Chất trữ tình còn thể hiện ở những lời mang giọng tâm sự riêng của « tôi », như chung quanh việc « Tôi »  phải bán mấy quyển sách : « ôi những quyển sách rất nâng niu(…) kỷ niệm một thời hăng hái và tin tưởng đầy những say mê đẹp và cao vọng » Và thể hiện rõ nhất là ở những đoạn văn trữ tình ngoại đề đậm màu sắc triết lý : « Chao ôi ! Đối với những người ở quanh ta…. » Những câu văn triết lý đó không hề có giọng sách vở, trìu tượng mà là những suy nghĩ gan ruột nên có sức thuyết phục  đặc biệt.

=> Vừa tỉnh táo, chân thực, vừa trữ tình thắm thiết và đậm đà ý vị triết lí, đó chính là đặc thù bút pháp văn xuôi Nam Cao được bộc lộ rõ nét trong « Lão Hạc »

III- TỔNG KẾT

” Lão Hạc ” – một truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc sống đơn độc xấu số và cái chết đau đớn của một lão nông nghèo khó. Nhân vật Lão Hạc đã để lại trong lòng ta bao ám ảnh khi nghĩ về số phận con người, số phận người nông dân Nước Ta trong xã hội cũ. Có biết bao nhiêu người nông dân đã sống nghèo nàn, cơ cực và cùng quẫn như lão Hạc. Xin cảm ơn nhà văn Nam Cao, ông đã giúp ta nhìn thấy vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao quý của họ, đem đến cho ta một niềm tin thâm thúy vào con người .

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập