Tài liệu nguyên lý lý luận văn học – Tài liệu text

Tài liệu nguyên lý lý luận văn học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 203 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
—–—–

TÀI LIỆU
NGUYÊN LÝ LÝ LUẬN VĂN HỌC

NGUYỄN ĐỨC THĂNG

AN GIANG, THÁNG 11 NĂM 2017

Tài liệu giảng dạy “Nguyên lý lý luận văn học”, do tác giả Nguyễn Đức Thăng,
công tác tại Khoa Sư phạm thực hiện. Tác giả đã báo cáo nội dung và được Hội đồng
Khoa học và Đào tạo khoa thông qua ngày……………, và được Hội đồng Khoa học và
Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày…………….

Tác giả biên soạn

TS. NGUYỄN ĐỨC THĂNG

Trưởng Đơn vị

Trưởng Bộ môn

PGS,TS TRẦN VĂN ĐẠT

Th.S TRẦN TÙNG CHINH

Hiệu trưởng

PGS,TS VÕ VĂN THẮNG

AN GIANG, THÁNG 11 – NĂM 2017

LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là tài liệu giảng dạy của riêng tôi. Nội dung tài liệu giảng dạy có
xuất xứ rõ ràng.
An giang, ngày 20 tháng 11 năm 2017
Người thực hiện
TS. Nguyễn Đức Thăng

GIỚI THIỆU TÀI LIỆU
Học phần Nguyên lý lý luận văn học mở đầu quá trình học lý luận văn học của sinh viên
ngành sư phạm ngữ văn, có vai trị quan trọng trong tồn bộ chương trình học. Nó cung cấp
những kiến thức có tính ngun lý về bản chất đặc trưng của văn học.
Tài liệu Nguyên lý lý luận văn học biên soạn nhằm đáp ứng việc đào tạo sinh viên ngữ văn
ở bậc đại học thuộc hệ đào tạo theo hình thức tín chỉ có sự giới hạn ở số tiết và yêu cầu sinh viên
chủ động học tập. Do vậy, tài liệu xây dựng trình bày những vấn đề cốt yếu của lý luận văn học.
Tài liệu gồm 9 chương. Mỗi chương có các phần: mục tiêu cần đạt, nội dung chương, câu
hỏi gợi ý học tập và tài liệu tham khảo.
Cơ sở của việc biên soạn tài liệu là hai giáo trình của hai nhóm tác giả:
1 – Hà Minh Đức (chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng,
Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lí Hồi Thu. (1995). Lí luận văn
học. Nxb Giáo dục.
2 – Phương Lựu (chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hịa, Lê Lưu Oanh. (2008).
Lí luận văn học (tập 1- Văn học, nhà văn, bạn đọc). Nxb Đại học Sư phạm.
Một số những luận điểm cơ bản, những lập luận chặt chẽ, khoa học từ hai giáo trình trên
được giữ lại trong tài liệu giảng dạy này. Người viết phân tích thêm những vấn đề chưa được các

tác giả trình bày rõ hoặc các dẫn chứng chỉ được đề cập, chưa đi sâu phân tích làm sáng tỏ luận
điểm; đồng thời cung cấp và phân tích thêm các dẫn chứng mới giúp người học hiểu rõ các vấn
đề lý luận. Tài liệu đưa thêm một số vấn đề mới, nhận định lại một vài vấn đề chưa thật khoa
học.
Tuy không đưa thêm nhiều vấn đề mới nhưng tài liệu đã đảm bảo tính khoa học, hệ thống
về các vấn đề lý luận cơ bản, đáp ứng nhu cầu của sinh viên học tập phần lý luận đầu tiên của
chương trình đào tạo.
An Giang, ngày 28 tháng 11 năm 2017
Người soạn: Nguyễn Đức Thăng

Chƣơng 1

VĂN NGHỆ – HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI THẨM MỸ
Mục tiêu cần đạt:
Người học cần nắm vững:
– Đối tượng của văn nghệ là toàn bộ hiện thực nhưng ở bình diện các quan hệ đời sống xã
hội con người.
– Nội dung đặc thù của văn học là tình cảm xã hội thẩm mỹ.
– Tình cảm xã hội thẩm mỹ trong nghệ thuật phải tồn tại trong hình thức ngoại quan. Nghệ
thuật là hình tượng về tình cảm xã hội thẩm mỹ.
***
Văn nghệ, trong đó văn học là một bộ phận quan trọng, bắt nguồn và phản ánh đời sống; bày
tỏ lập trường, quan điểm với đời sống. Nhưng khác với những hình thái ý thức xã hội khác, văn
nghệ tồn tại đặc thù mang tính bản chất, phát huy sức mạnh to lớn của nó. Đặc thù của văn nghệ
cũng như của một hình thái ý thức xã hội thường biểu hiện ở đối tượng, nội dung, phương thức tồn
tại…
1. ĐỐI TƢỢNG ĐẶC TRƢNG CỦA VĂN NGHỆ
1.1 Đối tượng là gì?

Tính đặc thù về nội dung của văn nghệ gợi lên tính đặc thù về đối tượng; vì đối tượng là cái
được chiếm lĩnh, nhận thức, phản ánh, chuyển hóa thành nội dung. Cần phân biệt khách thể và đối
tượng. Khách thể là toàn bộ thế giới khách quan tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người, là cơ
sở của nhận thức và hoạt động của con người. Đối tượng là một phần của khách thể mà con người
có thể chiếm lĩnh tùy theo nhu cầu, năng lực của mình.
1.2 Đối tượng đặc trưng của văn nghệ
1.2.1 Giới thuyết
Nhiều nhà văn, nhà lý luận đã từng đưa ra những quan niệm về đối tượng của văn nghệ.
Trong đó, N. G. Sécnưsépxki – nhà dân chủ cách mạng Nga trong tác phẩm “Quan hệ thẩm mỹ của
nghệ thuật đối với hiện thực” đã nêu quan niệm đúng đắn về văn nghệ: “Phạm vi của nghệ thuật
gồm tất cả những gì có trong hiện thực (trong thiên nhiên và đời sống) làm con người quan tâm;
không phải là cái quan tâm của một học giả, mà là của con người bình thường. Cái mọi người quan
tâm trong đời sống là nội dung của nghệ thuật”. “Cái mọi người quan tâm” theo N. G.
Sécnưsépxki bao gồm toàn bộ thiên nhiên, con người, xã hội nhưng điều quan trọng là chúng phải
được nhìn nhận, chiếm lĩnh riêng theo đặc trưng của văn nghệ.
1.2.2 Đối tượng đặc trưng của văn nghệ
Nếu khoa học quan tâm đến các “kinh nghiệm sự thực” ghi nhận các sự vật, hiện tượng tự
nhiên và xã hội thuần túy thì văn học, văn nghệ khám phá các khía cạnh trong “kinh nghiệm quan
hệ”; tức là phản ánh các quan hệ của thế giới hiện thực, mà trước hết là các quan hệ xã hội loài
người. Cụ thể văn nghệ không phản ánh hiện thực trong ý nghĩa khách quan phổ quát chủng loại
của sự vật như cái giếng, ngôi nhà, con đường, đám mây…; nghệ thuật quan tâm chính là quan hệ
người kết tinh trong sự vật. Đó là cái giếng làm nơi hị hẹn, ngơi nhà nơi mình được sinh ra với bao
kỷ niệm, con đường ra mặt trận ngập tràn niềm vui ngày chiến thắng. Đám mây không chỉ là hiện
tượng tự nhiên mà là đối tượng gợi nhiều xúc cảm:
“Vì mây cho núi lên trời
Vì chưng gió thổi hoa cười với trăng”.
(Ca dao)
Và:
“Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
1

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh”.
(Ca dao)
Hoặc:
“Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân!”
(Thơ duyên – Xuân Diệu)
Khi đại thi hào Nguyễn Du viết :
“Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.
(Truyện Kiều)
không chỉ cho ta thấy cảnh mùa xuân ra sao mà còn làm chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng mà
tác giả nhìn thấy; rung động với cảnh thiên nhiên mỗi mùa xuân như được tái sinh, sinh sôi nảy nở,
tươi xanh tràn đầy sự sống và dường như trong lòng ta cũng có sức sống tươi trẻ ln tái sinh ấy.
Văn học miêu tả thiên nhiên không như nhà sinh vật học chỉ nhìn thiên nhiên dưới góc độ tự nhiên
mà nhìn thiên nhiên như hiện thân của cái đẹp, sự nảy nở tươi thắm, sự sống bất tận, bất diệt.
Văn học cũng miêu tả con người nhưng không như nhà sinh vật học – giải phẫu xem, tìm
hiểu, nghiên cứu cơ thể chỉ là hệ thống các bộ phận có chức năng bảo đảm sự sống; văn học cịn
nhìn nhận con người như một chỉnh thể sinh động, toàn vẹn trong mọi mặt của đời sống. Đó là con
người đáng ghét, bị lên án vì lỗ mãng, vơ học, gian trá như Mã Gíám Sinh; xảo quyệt, táng tận
lương tâm như Hồ Tơn Hiến hoặc đáng thương, đáng trọng vì hiếu thảo, tự trọng, vị tha như nàng
Kiều…Ta thấy, văn học miêu tả tồn bộ hiện thực nhưng ở góc nhìn riêng – bình diện các quan hệ
xã hội. Chính vì vậy mà các nhà văn, nhà thơ thường chú ý tới những chi tiết gợi nhiều suy tư, xúc

cảm hơn những người bình thường. Trong các quan hệ xã hội thì con người được đặt ở vị trí trung
tâm; đó cũng là điểm tựa để văn học nhìn nhận thế giới. Ta hiểu vì sao tồn bộ cảnh sắc trong thơ
đều được tái hiện thông qua cảm nhận của nhân vật trữ tình. Trong bài thơ “Bếp lửa” (Bằng Việt),
hình ảnh người bà kính u vất vả, giàu tình thương và đức hy sinh hiện lên qua dòng hồi ức của
người cháu khi đi xa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xơi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ơi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”
Tương tự, trong tác phẩm truyện; mọi sự vật, sự việc, hiện tượng…đều được tái hiện qua nhân vật,
người kể chuyện. Trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh), tác phẩm được xây dựng
qua hai lớp cấu trúc gắn liền với người kể chuyện – nhân vật chính Kiên. Đó là dịng hồi ức liên tục,
phức tạp về tuổi thơ, gia đình; sự ray rứt ghê gớm đan xen với những ẩn ức kinh hoàng về chiến
tranh, cùng sự mê đắm, tuyệt vọng của tình yêu tuổi trẻ và ý thức sáng tạo của một nhà văn đầy
trách nhiệm. Ở lớp cấu trúc thứ hai, người kể chuyện xưng “tôi” – lớp cấu trúc bao trùm tác phẩm là câu chuyện về Kiên hiện diện với hai vai trò : một cựu chiến binh làm công việc quy tập hài cốt
đồng đội và một nhà văn thời hậu chiến. Câu chuyện được tái hiện có vẻ tùy tiện theo dòng tâm
tưởng với những ký ức, cảm xúc phức tạp, có phần ám ảnh điên loạn của nhân vật chính. Sự độc
đáo trong hình thức kể chuyện góp phần quan trọng tạo nên thành công của tác phẩm. Như vậy,
miêu tả con người là phương thức để miêu tả toàn thế giới. Mức độ nhận thức về con người, thế giới
quyết định cách thức, mức độ thể hiện hiện thực trong tác phẩm.
Con người trong văn học không chỉ được phản ánh ở một góc độ nhìn nhận đời sống, một chỗ
đứng để khám phá hiện thực mà điều quan trọng là họ còn được xem xét như những hiện tượng tiêu
biểu cho các quan hệ xã hội nhất định; cụ thể văn học nhìn nhận con người cá nhân như những tính
2

cách, phẩm chất tiêu biểu cho một nhóm người, tầng lớp, giai cấp – những kiểu quan hệ xã hội: hiền
lành – hung tợn, dũng cảm – hèn nhát, vị tha – vị kỷ…Nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ
nhặt” (Kim Lân) hoặc nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”
của nhà văn Nguyễn Minh Châu là hiện thân của những người phụ nữ, người mẹ Việt Nam nhân
hậu, giàu đức hy sinh, thấu hiểu lẽ đời. Nhân vật Nghị Quế trong tác phẩm “ Tắt đèn” (Ngô Tất
Tố), Bá Kiến trong “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao đại diện cho tầng lớp thống trị gian ác, thủ
đoạn… ở nông thôn Việt Nam trước năm 1945.
Con người mà văn học nhận thức bao giờ cũng mang một nội dung đạo đức nhất định. Nếu
đạo đức học chỉ nhìn con người gắn liền với những chuẩn mực, nguyên tắc xử thế đúng đắn, cao
đẹp thì văn học xem xét con người với lăng kính tồn vẹn hơn. Tính cách trong văn học cụ thể, sinh
động từ suy nghĩ, hành động, lối sống trong từng tình huống, quan hệ đời sống. Nhân vật Quản
ngục trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân được đặt trong tình huống
phải lựa chọn giữa việc bảo vệ lý tưởng về cái đẹp, thiên lương và sinh mạng, tiền tài, địa vị bản
thân bị đe doạ. Ông đã phải trải qua những đêm suy tư, trăn trở; phải nghi ngại, đối phó với những
người dưới quyền và sự khinh thường, xa lánh của Huấn Cao…Tác giả cũng đặt nhân vật trong
nhiều mối quan hệ: cá nhân, gia đình, xã hội (với triều đình, thuộc cấp…); cơng việc, ước mơ, lý
tưởng…để từ đó làm nổi bật tính cách, số phận nhân vật. Con người trong văn học có những phẩm
chất phù hợp với chuẩn mực đồng thời cũng có những tính cách phi hoặc phản chuẩn mực. Từng
chuẩn mực cũng đựợc đánh giá theo lập trường xã hội thời đại; thậm chí cịn chịu ảnh hưởng quan
điểm cá nhân của tác giả. Văn học cũng thường khám phá tính cách đạo đức trong những tình
huống đặc biệt, éo le, phức tạp góp phần tạo nên sự độc đáo của nhân vật, tác phẩm.
Văn học cũng miêu tả những nhà chính trị, những con người trong đời sống chính trị nhưng
khơng phải là con người mang bản chất giai cấp, lập trường chính trị thuần túy, trừu tượng; mà là
những con người cụ thể, sống động, cá biệt có cá tính. “Văn học tìm thấy xung đột đích thực của
mình khi người tá điền bị tên địa chủ lường gạt và họ ý thức được sự lường gạt đó, tỉnh ngộ ý thức
được nhân phẩm, trở lại làm người tá điền có danh dự” (Về văn học và nghệ thuật – Bêsơ). Nhân
vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao trước khi gặp Thị Nở đã sống tha hóa
đến tận cùng: đốt nhà, rạch mặt, ăn vạ, đâm thuê chém mướn ngập ngụa trong những cơn say bất
tận. Từ khi gặp Thị Nở, Chí Phèo được đánh thức lương tâm, muốn trở về con đường lương thiện
với ước mơ hạnh phúc đời thường; quan trọng là nhân vật nhận ra kẻ thù của mình chính là Bá

Kiến, để từ đó có ý thức phản kháng triệt để, quyết liệt, từ bỏ con đường bất lương, tìm lại bản chất
tốt đẹp của con người: giết Bá Kiến và tự sát. Qua nhân vật chúng ta cũng thấy được bức tranh xã
hội chính trị Việt Nam, đặc biệt ở nông thôn giai đoạn 1930-1945. Như vậy văn nghệ thể hiện bản
chất xã hội thơng qua số phận, tính cách nhân vật. Qua đó, văn nghệ có thể làm sống lại cuộc sống
chính trị của con người trong bão táp chính trị thời đại. Chẳng hạn như nhân vật Pavel Korchagin
(tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn N. Ostrovsky), một thanh niên – đảng viên trẻ tuổi mơ
ước hiến dâng trọn cuộc đời cho lý tưởng bình đẳng, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Anh đã sôi
nổi, nhiệt thành cống hiến cho đất nước Xô Viết những ngày đầu sau Cách mạng tháng Mười: tham
gia xây dựng con đường sắt nối khu rừng với thành phố trong những ngày tuyết giá, ra mặt trận, đấu
tranh với những phần tử tiêu cực ở nông trường, can đảm vượt lên nghịch cảnh bệnh tật, hy sinh
tình u cá nhân ích kỷ để bảo vệ lý tưởng cao cả. Hình ảnh Pavel Korchagin đại diện cho bao thế
hệ thanh niên Xô Viết, đặc biệt thế hệ cùng thời với anh, bằng tình yêu và nghị lực đã sống những
ngày tháng thanh xuân tươi đẹp nhất vì nhân dân, lý tưởng. Tác phẩm cịn tái hiện khơng khí nóng
bỏng, sơi sục Cách mạng giai đoạn chính quyền Xơ Viết non trẻ.
1.2.3 Kết luận
Cần nhận rõ tính đặc thù về đối tượng của văn học, văn nghệ để hiểu sâu bản chất của nó
trong tương quan với các hình thái ý thức xã hội khác; từ đó có cái nhìn, hướng tiếp cận phù hợp,
đúng đắn. Văn học, văn nghệ phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội.
Văn học, văn nghệ không miêu tả thế giới như những khách thể tự nó mà tái hiện chúng trong tương
quan với lý tưởng, khát vọng, tình cảm của con người. Văn học cũng không phản ánh hiện thực
dưới dạng trừu tượng mà tái hiện nó trong sự tồn vẹn, cụ thể, sinh động. Trong đó, trung tâm của

3

đối tượng văn học là những con người cụ thể với tính cách, số phận, đời sống tình cảm, lối sống
mang bản chất xã hội, lịch sử.
Đối tượng đặc trưng của văn học, văn nghệ cũng quy định nội dung đặc trưng của văn học,
văn nghệ. Đó là tình cảm xã hội – thẩm mỹ và phương thức phản ánh bằng những hình tượng nghệ
thuật.

2. NỘI DUNG ĐẶC TRƢNG CỦA VĂN NGHỆ – TÌNH CẢM XÃ HỘI THẨM MỸ
2.1 Khái quát
2.1.1 Là một hình thái ý thức xã hội nhưng ý thức trong văn nghệ đã chuyển hóa thành
những tình cảm mãnh liệt. Đại văn hào L. N. Tolstoy đã từng nhận định: “Nghệ thuật là một hoạt
động của con người bắt đầu khi một người tự giác truyền đạt những tình cảm mình đã thể nghiệm
cho người khác bằng các dấu hiệu bên ngoài, lan truyền cho người khác những tình cảm ấy và thể
nghiệm chúng” (Nghệ thuật là gì). Nhưng cần chú ý rằng khơng phải mọi tình cảm mãnh liệt cũng
có thể trở thành nội dung của nghệ thuật. Chẳng hạn một cơ gái than khóc buồn khổ vì bị người yêu
phản bội; một người mẹ đớn đau, khủng hoảng vì đứa con vừa mất…những con người này bộc lộ
những tình cảm mãnh liệt đến tận cùng nhưng tất cả những cái đó khơng phải là nghệ thuật; trừ phi
những điều này được miêu tả trong tác phẩm nghệ thuật.
2.1.2 Nghệ thuật cũng cần chất liệu từ những tình cảm cá nhân nhưng nó phải mang ý
nghĩa khái quát. Tình cảm trong nghệ thuật là tình cảm mang sắc thái xã hội, là một loại “tình cảm
thơng minh” (từ dùng của nhà tâm lý học nghệ thuật nổi tiếng L. X. Vygotski).
2.1.3 Nghệ thuật là tấm gương phản ánh hiện thực, không phải bản thân hiện thực. Do
vậy, nghệ thuật chỉ gợi lên những ước mơ thưởng thức, thưởng ngoạn, chiêm ngưỡng chứ nghệ
thuật khơng kích thích khát khao, chiếm lĩnh hiện thực. Không phải ngẫu nhiên mà thị giác, thính
giác, trí tưởng tượng là những cảm quan thích hợp nhất với nghệ thuật. Đối với văn học, một loại
hình nghệ thuật lấy ngơn từ làm chất liệu, cũng là một loại hình nghệ thuật tổng hợp gián tiếp, được
thưởng thức chủ yếu qua trí tưởng tượng. Bên cạnh đó, đến với nghệ thuật, con người cịn cần sự
chân thành, hồn nhiên, vô vị lợi, thoải mái trong thưởng thức, tìm hiểu, nghiên cứu; phải hịa nhập
tâm hồn tình cảm, những phút giây vui buồn, sướng khổ trước số phận nhân vật, vận mệnh nhân
dân, đất nước, nhân loại, biến động lịch sử – đó chính là những vấn đề xã hội lớn lao, liên quan tới
hàng triệu người, thuộc nhiều thế hệ. Đó chính là tính chất xã hội của nội dung tình cảm văn nghệ.
Cũng chính vì tâm hồn vơ tư trong sáng mà con người dễ vươn tới sự hoàn thiện, cao đẹp – đó chính
là tính chất thẩm mỹ của nội dung tình cảm nghệ thuật.
2.2 Cơ sở của tình cảm xã hội thẩm mỹ
Tình cảm xã hội thẩm mỹ, tất nhiên bắt nguồn từ xã hội nhưng trước hết, trực tiếp là từ tâm
hồn nghệ sĩ, với tư cách một con người xã hội. Trong xã hội, trước cái đẹp, cái tốt; họ đồng tình ủng
hộ, ca ngợi…; trước cái xấu, cái ác, họ chê trách, phê phán…Do vậy, khi những nội dung này được

thể hiện trong nghệ thuật thì thơng thường chúng sẽ hiện lên nổi bật, sắc nét và tất yếu mang ý
nghĩa mỹ học.
2.2.1 Đặc trưng của tình cảm xã hội thẩm mỹ
Tình cảm xã hội thẩm mỹ là tình cảm; vì vậy,trước hết phải chân thành bởi đây là đặc trưng
bản chất của tình cảm. Trang Tử trong sách “Ngư phu” đã từng viết: “Cường khốc giả, tuy bi bất
ai; cường nộ giả, tuy nghiêm bất uy; cường thân giả, tuy tiếu bất hịa…Chân bi vơ thanh nhi ai,
chân nộ vị phát nhi uy; chân thân vị tiếu nhi hịa” (Người giả khóc tuy buồn mà khơng đau; người
giả giận tuy nghiêm mà khơng có uy; người giả thân tuy cười mà không hợp…Buồn thật tuy không
than nhưng đau; giận thật tuy chưa lộ ra nhưng đã có uy; tình thân thật tuy chưa cười đã thấy hợp).
Tình cảm thơng thường đã vậy, tình cảm xã hội thẩm mỹ là mức độ cao của tình cảm lại càng cần
sự chân thành, hơn thế ở mức độ cao. Tình cảm dù chân thành, trung thực nhưng không cao đẹp,
cao thượng cũng khơng phải tình cảm xã hội thẩm mỹ mà là tự nhiên chủ nghĩa. Như vậy chân
thành mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải điều kiện đủ. Tình cảm xã hội thẩm mỹ cịn phải cao đẹp,
cao cả, cao thượng trong mọi cung bậc, sắc thái, hoàn cảnh: buồn rầu, đau khổ, yêu thương, ca
ngợi…; thậm chí cả trong căm ghét, giận dữ, phẫn nộ, phê bình, phán xét…Hay nói khác đi, tình
cảm xã hội thẩm mỹ phải gắn liền với đạo đức, lý trí. K. H. Marx đã từng lưu ý phê bình phải là “lý
trí của phẫn nộ” chứ không phải “phẫn nộ của lý trí” thì trong sáng tạo nghệ thuật lại càng như vậy.
4

Trong kiệt tác “Tấn trò đời” của nhà văn H. D. Balzac, ông đã phê phán, phủ định gay gắt cả một
xã hội và con người Pháp dưới thể chế tư sản đầu thế kỷ XIX với tất cả những tiêu cực, xấu xa.
Cũng từ đây, những nỗi đau khổ, những tấn bi kịch liên tục xảy ra trong xã hội đồng tiền là sức
mạnh vạn năng, chân lý tối thượng. Về tình cảm qua tác phẩm của H. D. Balzac, F. Angels có đưa
ra khái niệm “sự phán xét đầy chất thơ” hay “sự phán xét thi vị”. Sự phán xét đối với cái xấu, ác,
mặt trái, tiêu cực ở đây thoát ra khỏi sự giận dữ, chê trách, mạt sát thường tình mà vươn tới sự châm
biếm, đả kích bộc lộ tiếng cười phê phán với chiều sâu triết lý. Cũng có thể lấy bài thơ “Năm mới
chúc nhau” của nhà thơ Trần Tế Xương làm ví dụ tiêu biểu:
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu

Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này chắc hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi lọ phải cầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thời mua tước, đứa mua quan
Phen này ông quyết đi buôn lọng
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con
Sinh năm, đẻ bảy được vng trịn
Phố phường chật hẹp, người đơng đúc
Bồng bế nhau lên, nó ở non
Bắt chước ai, ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ở trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người”.
Nghệ thuật gắn liền với hiện thực; hơn thế, nghệ thuật phải nâng tâm hồn con người lên trên
tình cảm trong mọi lĩnh vực của đời sống hàng ngày. Đứng trước cái chết sinh ly tử biệt, ai mà
không đau xót, bi thương; nhưng trong tác phẩm “Những người không chết”, tác giả Tố Hữu không
chỉ thể hiện sự hy sinh mất mát mà hơn thế còn bộc lộ niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử, vào tương
lai của cách mạng:
“Không! Không! Không! Anh không chết
Trong tôi
Ý đời anh đã nẩy lộc đâm chồi
Trong cân não của một loài cơ cực
Anh đương sống với bao nhiêu sinh lực
Của thân cây đương buổi nhựa lên cành
Kim nam châm đã hướng dẫn đời anh

Tơi sẵn có trong tay từ thuở ấy

Tôi cứ lái cho đến ngày mệt lử
Một chiều kia, dù lại cũng như anh
Trở về đây trong mạn ván tan tành
Giữa lúc những thuyền kia lướt tới”
Trong bài thơ “Sông lấp”, nhà thơ Trần Tế Xương đã bộc lộ tình cảm trước một hiện thực
khá phổ biến nhưng thi phẩm lại tạo dư ba sâu lắng của một nỗi xót xa, cay đắng, nuối tiếc bởi hình
5

ảnh dịng sơng lấp gắn liền với sự đổi dời, biến thiên của lịch sử – đất nước Việt Nam rơi vào tay
thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX. Bài thơ ngắn nhưng giá trị tình cảm xã hội thẩm mỹ lại sâu sắc, lớn
lao! Hãy hịa điệu hồn mình vào tâm trạng thi nhân để thấy rõ điều này:
“Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngơ khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình cịn tưởng tiếng ai gọi đị”
2.2.2 Ý nghĩa, vai trị của tình cảm xã hội thẩm mỹ
Đối với cái tiêu cực, xấu xa, thấp hèn, tình cảm xã hội thẩm mỹ khơng tránh né mà trực diện
đối sánh nó theo một lý tưởng, ước mơ cao đẹp. Khi một tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật,
làm xúc động lịng người, khơi gợi nơi bạn đọc những gì đúng đắn, cao đẹp hoặc lánh xa những gì
xấu xa, thấp hèn; thì xét đến cùng cũng là gắn bó với cái đẹp, cái tốt; điều đó cũng đồng nghĩa với
việc giúp họ hiểu thêm việc đời (chân) và thấm thêm lẽ đời (thiện) với những hình thức và mức độ
nào đó. Tình cảm xã hội thẩm mỹ, do đó tuy khơng đồng nhất nhưng thống nhất với chân lý và đạo
lý. Nó sẽ gián tiếp hay trực tiếp bồi dưỡng tình cảm, đạo đức cho con người biết khao khát vươn tới
cái cao đẹp, hồn thiện, hồn mỹ. Đó là ý nghĩa to lớn, vai trị quan trọng khơng thể thay thế của
văn học nghệ thuật đối với đời sống. Nói “khơng thể thay thế” vì khơng có lĩnh vực nào sáng tạo ra
những giá trị tình cảm thẩm mỹ dồi dào cho xã hội như vậy. Nói “to lớn” bởi những giá trị ấy sẽ
góp phần xây dựng nền móng tinh thần làm nền tảng cho mỗi thành viên trong xã hội nhìn nhận,

đánh giá con người, cuộc đời đúng đắn, sâu sắc hơn.
3. HÌNH TƢỢNG NGHỆ THUẬT – PHƢƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VĂN NGHỆ
Nói đến con người là nói đến những biểu hiện phong phú và quan hệ đa dạng, từ đó nảy sinh
tình cảm. Nói đến tình cảm xã hội – thẩm mỹ là nói đến đặc trưng của văn nghệ về các phương diện
đối tượng và nội dung. Do vậy, con người và tình cảm xã hội – thẩm mỹ luôn gắn liền, đan xen với
nhau. Khi những con người trong hiện thực đi vào tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng được chọn lọc,
khái quát, bình giá theo tiêu chuẩn những tình cảm xã hội – thẩm mỹ nên nó cao đẹp, lý tưởng. Cần
chú ý rằng khi nói tới tình cảm thì phải cụ thể nghĩa là nó gắn với con người, hồn cảnh cụ thể với
những sắc thái, cung bậc cảm xúc và được đặt trong những hình thức thể hiện; chẳng hạn đau buồn
thì rơi lệ, giận dữ thì trừng mắt, vui sướng thì tươi cười…Tất nhiên tình cảm xã hội – thẩm mỹ cũng
khơng là biệt lệ. Tình cảm xã hội – thẩm mỹ trong nghệ thuật không thể trừu tượng mà phải tồn tại
trong một hình thức ngoại quan. Nói cách khác một cách ngắn gọn: nghệ thuật là hình tượng về tình
cảm xã hội – thẩm mỹ. Tất nhiên sự hình thức hóa, hình tượng hóa theo những mức độ khác nhau.
Nhà ký hiệu học – văn hóa nổi tiếng người Đức, E.Cassirer đã từng khẳng định tầm quan trọng của
tính chất tạo hình trong nghệ thuật: “Nghệ thuật quả thực là biểu hiện tình cảm nhưng nếu khơng
tạo hình thì nó khơng thể biểu hiện. Q trình tạo hình này được tiến hành trong những vật mơi
giới cảm tính” (Bàn về con người). Ngay cả với âm nhạc, một loại hình nghệ thuật khó cảm nhận
tính hình tượng nhất, nhưng khi bàn về “Bản giao hưởng số 9” của L.V. Beethoven, ơng nói:
“Chúng ta nghe được tồn bộ giai điệu từ thấp đến cao nhất của tình cảm lồi người. Nó là sự vận
động và rung động của tồn bộ sinh mệnh chúng ta” (Phương Lựu, 2008, tr.65). Hiểu được vấn đề
này giúp chúng ta đánh giá đúng đắn một số tác phẩm vốn thuộc về lịch sử, triết học…; chúng cũng
có thể được coi là tác phẩm văn học bởi chúng chứa đựng tình cảm phong phú và được hình tượng
hóa ở một mức độ nào đó. Có thể lấy áng “thiên cổ hùng văn” “Bình Ngơ đại cáo” (Nguyễn Trãi)
làm ví dụ minh họa. Tác phẩm là kết tinh lòng yêu nước tha thiết của Lê Lợi, Nguyễn Trãi, nghĩa
quân Lam Sơn và nhân dân Đại Việt. Điều đó thể hiện ở lịng tự hào về truyền thống dân tộc, lòng
căm thù giặc sâu sắc, những phương thế khắc phục khó khăn; chiến lược, sách lược tài tình; đặc biệt
ý chí quyết tâm cao độ chiến đấu và chiến thắng; ngay cả triết lý nhân nghĩa cũng ngời sáng tinh
thần u nước. Về tính hình tượng, nhiều câu, đoạn văn đạt tới cấp độ sâu sắc:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn;
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.


Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;

6

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội;
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Tuấn kiệt như sao buổi sớm;
Nhân tài như lá mùa thu.

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới;
Tướng sĩ một lịng phụ tử, hịa nước sơng chén rượu ngọt ngào.

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật;
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Gươm mài đá, đá núi cũng mịn;
Voi uống nước, nước sơng phải cạn.

Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường;
Xương Giang, Bình Than, máu trơi đỏ nước”
Hoặc như tác phẩm lịch sử vốn viết về những con người thực, vớl bản chất xã hội lịch sử tiêu
biểu của nó nhưng nếu tác giả lại phóng bút miêu tả những biểu hiện sinh động của nó từ hành
động, ngơn ngữ đến nội tâm, tình cảm, tính cách…thì tác phẩm đã bước vào lĩnh vực văn học. “Sử
ký” (Tư Mã Thiên) không chỉ là tác phẩm quý giá về lịch sử Trung Quốc mà còn xứng đáng là một
tác phẩm văn học đặc sắc của văn học Trung Hoa và nhân loại. Khi tác giả viết về Hạng Võ, ta thấy
nhân vật hiện lên thật sống động với ngơn ngữ, thái độ, tình cảm. Đó là một con người kiêu ngạo vì
phần nào đã tiên đốn được khả năng võ nghệ cao cường thiên phú của mình; đúng hơn là thái độ tự

tin, dự báo tương lai của một danh tướng, một cuộc đời với những chiến công oanh liệt; dù lúc này
Hạng Võ mới chỉ là một cậu bé học hành kém cỏi: “Học chữ chỉ đủ ký tên, học kiếm chỉ đủ địch
một người. Phải học được cách địch nổi vạn người”. Chỉ hai câu nói, độc giả đã thấy nhân vật hiện
lên cụ thể, lôi cuốn. Đến cuối đời, khi bị quân của Lưu Bang bao vây ở Cai Hạ, dù có thể vượt qua
Ơ Giang trở về q cũ Giang Đơng thốt nạn, Hạng Võ cũng từ bỏ, đúng với tính cách của một võ
tướng: “ Trời hại ta rồi, cịn vượt qua sơng mà làm gì? Huống hồ ta vốn đã cùng tám ngàn con em
Giang Đơng vượt sơng đi về phía Tây, nay khơng cịn một ai cùng trở về. Giá thử các bậc cha anh ở
Giang Đơng cịn thương ta và đưa ta lên làm vua, ta cũng không mặt mũi nào mà nhìn họ. Dù họ
khơng nói, ta há khơng biết thẹn với mình ư? (Hạng Võ bản kỷ). Mấy câu nói cuối đời càng tơ đậm
tính cách của một dũng tướng vừa cao ngạo lại vừa biết rõ giới hạn khả năng của mình, nắm rõ quy
luật và rất giàu lịng tự trọng…Dẫn chứng vừa nêu đã góp phần xác nhận con người với những biểu
hiện phong phú, quan hệ đa dạng cùng tình cảm xã hội cao đẹp là đặc trưng cơ bản của nghệ thuật
về mặt đối tượng, nội dung. Như vậy, hình tượng nghệ thuật với tư cách là phương thức tồn tại của
nghệ thuật với hai thành tố cơ bản, không thể tách rời vừa nêu, đã xác định đặc trưng trọn vẹn của
nghệ thuật. Nói khác đi, qua những hình tượng nghệ thuật sống động, các mặt đối tượng, nội dung
chính sẽ bộc lộ một cách trọn vẹn trong sự kết hợp nhuần nhuyễn với nhau.
3.1 Hình tượng nghệ thuật như một khách thể tinh thần đặc thù
Đặc điểm cơ bản của tác phẩm văn nghệ (văn học, hội họa, âm nhạc, vũ đạo, sân khấu…) là
chúng được coi là những khách thể tinh thần. Gọi là khách thể (tinh thần) bởi chúng là thế giới (tinh
thần) được khách thể hóa thành hiện tượng xã hội tồn tại khách quan (không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của người nghệ sĩ hoặc người thưởng thức). Ai cũng có thể tìm hiểu, thưởng thức tác
phẩm như một đối tượng, một khách thể độc lập. Gọi là (khách thể) tinh thần vì theo K. H. Marx, F.
Angels, chúng là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Đó chính là “cái vật chất được
chuyển vào đầu óc con người và được cải tạo ở trong đó”. Hiện thực được phản ánh như một hoạt
động cảm tính của con người, như một thực tiễn đáp ứng nhu cầu của đời sống. Những cái tinh thần
đó được lưu truyền qua những phương tiện vật chất nhất định và trở thành những khách thể trong
đời sống xã hội. Những nhân vật lịch sử, văn học như Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Vương, Thánh

7

Gióng, bà Trưng, bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung…đều đang tồn tại như những khách thể tinh thần
trong đời sống tâm linh của người Việt.
Có thể phân biệt những khách thể tinh thần trong những lĩnh vực khác nhau: sinh hoạt thực
tiễn hoặc văn hóa tín ngưỡng. Điều quan trọng là phải hiểu hình tượng nghệ thuật như một khách
thể nghệ thuật tác động vào con người với tất cả tính thực tại của chúng. Hình tượng tinh thần phải
được thể hiện qua hình vẽ, ký hiệu, phương tiện tạo hình…và quan trọng là chúng phải truyền được
cái thần, cái khí… của khách thể tinh thần. Cũng khơng nên cứng nhắc quy chiếu cấu trúc của hình
tượng nghệ thuật vào những hình ảnh, hình tượng so sánh, ẩn dụ… Hình ảnh, hình tượng so sánh,
ẩn dụ…chỉ trở thành hình tượng nghệ thuật khi chúng gắn liền với ngữ cảnh, hoàn cảnh xã hội, văn
hóa dân tộc. Trong tác phẩm “Đoạn trường tân thanh”, khi đại thi hào Nguyễn Du miêu tả cảnh vật
xung quanh lầu Ngưng Bích và tâm trạng nàng Kiều:
“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
Người đọc dễ dàng liên tưởng đến hồn cảnh nghiệt ngã, số phận chìm nổi vô định và tâm trạng lo
lắng tột cùng đến khủng hoảng của nàng Kiều giữa một môi trường xa lạ đầy cạm bẫy hiểm nguy.
Nếu chúng ta tách chúng khỏi ngữ cảnh, cốt truyện… thì những sự suy diễn sẽ trở nên võ đốn, áp
đặt.
Tóm lại, hình tượng tinh thần là một khách thể tinh thần, mọi phương tiện biểu hiện chỉ có ý
nghĩa khi nó làm sống lại các khách thể đó; và người đọc tác phẩm, chỉ khi nào thâm nhập vào thế
giới tinh thần đó mới có thể thưởng thức trong sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc về tác phẩm.
3.2 Tính tạo hình và tính biểu hiện của hình tượng
3.2.1 Hình tượng nghệ thuật là cái được sáng tạo, khái quát. Tạo hình là việc làm cho
khách thể có được sự tồn tại cụ thể, cảm tính bên ngồi qua chất liệu; là làm cho thế giới những
hình tượng khái quát một hình thức, dáng vẻ, hình hài. Nó bao gồm việc tạo cho hình tượng một
không gian, thời gian, sự kiện, các mối quan hệ; đặc biệt là tạo dựng những con người có ngoại
hình, hành động, ngơn ngữ, nội tâm, tính cách, số phận. X. M. Âyanhxtanh – đạo diễn sân khấu,

điện ảnh, nhà nghiên cứu lý luận có viết: “Trước cái nhìn bên trong, trước cảm giác của tác giả,
hiện lên một hình tượng nào đấy, thể hiện được một cách xúc động đề tài của anh ta và anh ta đặt
ra một nhiệm vụ – biến hình tượng ấy thành vài ba hình ảnh riêng biệt, những chi tiết mà trong sự
tổng hợp và đối chiếu với nhau, chúng lại gợi lên trong ý thức và tình cảm của người cảm thụ đúng
cái hình tượng xuất phát đã được khái quát ấy”. Như vậy, khơng có tạo hình thì khơng có hình
tượng; bởi vì hình tượng nghệ thuật về bản chất là một hiện tượng tinh thần, nó khơng thể được
“đưa cho mà làm nảy sinh, xuất hiện”. Tạo hình nghệ thuật chỉ chọn lọc những chi tiết ít ỏi nhưng
giàu sức biểu hiện nhất, tiêu biểu nhất cho một tình huống, hồn cảnh, tính cách, số phận. Giá trị và
ý nghĩa của tạo hình là thể hiện chỉnh thể. Những nhà văn tài năng thường sáng tạo được những
“chi tiết biết nói”, đó chính là những tạo hình đắt giá trong nghệ thuật. Thử điểm qua một số chi tiết
trong văn học Việt Nam chúng ta sẽ hiểu rõ hơn tính tạo hình trong nghệ thuật. Trong tác phẩm đặc
sắc “Chí Phèo”, nhà văn Nam Cao đã sáng tạo rất nhiều chi tiết ấn tượng sâu sắc xoay quanh nhân
vật chính góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm như: tiếng chửi đa thanh phức điệu ẩn chứa nhiều triết
lý; nước mắt của Chí Phèo gắn liền với sự tự nhận thức và thức tỉnh lương tâm; bát cháo hành hiếm
hoi, quý giá của Thị Nở; câu nói đầy dư âm đau đớn, uất nghẹn tận đáy lòng một kẻ bất lương muốn
trở về con đường lương thiện: “Tao muốn làm người lương thiện !”…Hoặc trong truyện ngắn “Vợ
nhặt” (Kim Lân), tác giả đã xây dựng được những chi tiết độc đáo góp phần tạo thành cơng cho tác
phẩm: bốn bát bánh đúc giữa chợ, bữa cơm ngày đói, nước mắt của bà cụ Tứ, hình ảnh đám người
đói cầm cờ đỏ sao vàng đi phá kho thóc Nhật…Về bản chất, tạo hình trong nghệ thuật là sự cấu tạo
tập trung, dồn nén, có phần ước lệ ở những mức độ khác nhau.
3.2.2 Biểu hiện là đặc trưng cơ bản của tạo hình. Biểu hiện là khả năng bộc lộ cái bên
trong, bản chất của sự vật, hiện tượng, con người; phần nào hé mở những nỗi niềm thầm kín, xung
đột nội tâm, tính cách…của nhân vật. Biểu hiện gợi lên sự trọn vẹn, đầy đặn của hình tượng; nhất là
8

thể hiện khuynh hướng tư tưởng, tình cảm của con người, tác giả trước hiện thực. Chính vì vậy,
trong hình tượng nghệ thuật, mọi chi tiết đều có ý nghĩa, chức năng của nó, khơng có chi tiết thừa.
Hơn thế, chi tiết trong hình tượng thường mang tính đa nghĩa; vừa gợi khơng gian, thời gian; vừa
gợi tình huống, tính cách, số phận nhân vật; vừa gợi thái độ, tình cảm của tác giả đối với chúng. G.

W. F. Hegel gọi các chi tiết trong tác phẩm là những “con mắt” – qua đó chúng ta thấy được thế giới
tinh thần, nhất là thấy được “một tâm hồn tự do trong cái vơ hạn của nó” (Phương Lựu (chủ biên),
Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa và Lê Lưu Oanh, 2008, tr. 71)
Cơ sở của tạo hình là sự tương đồng của nó so với cái được miêu tả, dù cái được miêu tả có
trong hiện thực hay tưởng tượng. Cơ sở của biểu hiện là khác biệt. Sự kết hợp giữa tạo hình và biểu
hiện làm cho hình tượng có một hình thức nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn. Đó là một thể thống nhất
sinh động giữa hiện thực và hư ảo, trực tiếp và gián tiếp, ổn định và biến hóa, thống nhất và đa
dạng…chứa đựng nội dung cuộc sống phong phú; tư tưởng, cảm xúc sâu sắc.
3.3 Hình tượng và ký hiệu
Trong quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức, con người đã dùng những sự vật, hiện
tượng bất kỳ để chỉ một sự vật, hiện tượng khác ở bên ngồi một cách cố định, đó chính là ký hiệu.
Từ ngữ, cịi báo động, đèn giao thơng, ký hiệu tốn học hoặc hóa học…đều là những ký hiệu. Ký
hiệu là phương tiện để lưu truyền kiến thức trong xã hội loài người. Muốn lưu giữ, truyền đạt thì
hình tượng nghệ thuật cũng phải được khách quan hóa thành ký hiệu bằng hệ thống ngôn ngữ,
những chi tiết tạo hình, biểu hiện…Nếu một khách thể tinh thần mang tính chất hình tượng thì mặt
tạo hình biểu hiện mang tính chất ký hiệu. Nếu đặc trưng của ký hiệu là thay thế một cái khác thì
đặc trưng của hình tượng vừa là tồn tại khác lại vừa phản ánh, khái quát. “Nếu ký hiệu thiên về việc
chỉ ra cái đã được quy ước ổn định thì hình tượng nghệ thuật luôn chỉ ra cái mới, phát hiện cái độc
đáo” (Phương Lựu và cs, 2008, tr. 72). Chẳng hạn khi Xuân Diệu viết:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất.
Tơi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất.
Của yến anh này đây khúc tình si,
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa.
Tháng Giêng ngon như một cặp mơi gần”.

(Vội vàng)
thì các chi tiết: nắng, gió, ong, bướm, hoa, lá, đồng nội, cành tơ, yến anh, ánh sáng…đều là các ký
hiệu tự nhiên và chính niềm khát khao mãnh liệt giao cảm với thiên nhiên, con người, cuộc đời của
nhân vật trữ tình đã hịa nhập tình u cuộc sống trong thiên nhiên tuyệt mỹ; qua đó thể hiện cảm
quan mới về cuộc đời. Các chi tiết ký hiệu đóng vai trị phương tiện khái qt, cịn hình tượng là
bản thân sự khái quát; cũng giống như từ ngữ là ký hiệu, cịn lời phát biểu là thái độ, tình cảm, quan
niệm, tư tưởng…
Các chi tiết ký hiệu nói trên là ký hiệu thẩm mỹ. Mỗi hình ảnh tạo hình vừa tái hiện một hiện
tượng thực tại, vừa mã hóa một nội dung cảm xúc do hiện tượng gợi lên trong những cảnh huống
nhất định. Chẳng hạn, trong cổ thi Trung Hoa thì hình ảnh lá ngơ đồng rụng là tín hiệu thu sang:
“Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu”.
nhưng khơng chỉ thế, nó cịn chứa đựng nhiều nội dung tình cảm thẩm mỹ khác nữa. Thử điểm qua
một vài dẫn chứng, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó:
“Ơ! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mơng”
(Bích Khê – Tỳ bà)

9

Như vậy hình ảnh lá ngơ đồng rụng cịn thể hiện cảnh mùa thu buồn vương hiu hắt, mênh mang;
đặc biệt với thân phận lữ thứ tha hương:
“Ngô đồng rụng lá phương nao?
Mà trang thơ cổ xạc xào lá rơi
Vàng thu thấp thống phương trời
Lá khơ thao thức cùng tơi phương này
Bóng thơ cùng chữ lay bay
Ấy ai thiên cổ đêm nay xao lịng
Tiếng ngơ đồng…

tiếng ngơ đồng
Tiếng ngàn thu trước rơi cùng tiếng thơ
Hồn tơi rụng với thu xưa
Lịng ai phương nọ, vàng chưa thu này?”
(Phạm Ngọc Lư – Tiếng ngô đồng)
Cũng vậy, hoa sen tươi đẹp từ đặc điểm sinh học là mọc giữa ao đầm bùn lầy nên gợi vẻ đẹp trong
trắng, mộc mạc, chân chất; lối sống thanh cao, coi thường danh lợi; sự yêu kính, ngưỡng mộ…Do
vậy khi đọc những bài thơ viết về hoa sen, đa số người Việt Nam có kiến thức đều hiểu nội dung tác
phẩm mà các tác giả thể hiện:
“Lấm nhơ chẳng bén, tốt hịa thanh
Qn tử kham khơn, được thửa danh
Gió đưa hương đêm nguyệt tĩnh
Trinh làm của, có ai tranh”.
(Nguyễn Trãi)
Và:
“Một vùng kim bích giữa hồ đầm
Thần múa, tiên cười trước gió nam
Trịn lửng bóng in trăng đầy nước
Hồng tươi sắc thiếp ráng chiều hơm
Trên tay Phật Thích càng thêm thánh
Dưới gót Phan Thi chẳng kể phàm
Quân tử hay hoa ai biết chẳng
Ngàn thu ruột đắng với lòng thơm”.
(Phan Bội Châu – Hoa sen)
Ta thấy, trong các chi tiết tạo hình ln có sự mã hóa các tư tưởng, cảm xúc xã hội thẩm mỹ.
Mỗi thời kỳ lịch sử, văn học nghệ thuật các dân tộc, các loại hình, thể loại, tác giả đều có cách mã
hóa khác nhau tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật riêng cho từng trường hợp. Chẳng hạn trong văn học
dân gian Việt Nam thì hình ảnh “thuyền” tượng trưng cho sự ra đi (thường là người con trai), như
trong bài ca dao:
“Thuyền về có nhớ bến chăng?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.
Hoặc số phận nổi nênh, cuộc đời vô định của con người (đặc biệt là người phụ nữ):
“Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước gửi mình vào đâu?”
Nhưng trong văn học phương Tây, “thuyền” lại mang ý nghĩa là sự phiêu du của linh hồn sang thế
giới bên kia. Hiểu như vậy, chúng ta mới giải mã được hình ảnh “thuyền hồn” trong bài thơ “14
tháng 7” của nhà thơ Tố Hữu:
“Thuở oanh liệt của muôn đời tắt nghỉ!
Ta nhắm mắt để thời gian trên mí
Chở thuyền hồn lên những bến bờ qua
Cửa nay ta lại tới cắm thuyền ta
Giữa những tiếng reo hò dân nước Pháp”
Hoặc trong những câu thơ sau của Huy Cận:
10

“Da chiều mới tỏ sao hôm
Màu thanh thiên đã và ôm giữa hồn
Giữa trời hình lá con con
Trời xa sắc biển, lá thon mình thuyền
Gió qua là ngọn triều lên
Hiu hiu gió đẩy thuyền lên biển trời
Chở thuyền lên tận chơi vơi
Trăm chèo của nhạc, muôn lời của thơ
Quên thân như đã quên giờ
Tê mê cõi biếc, bến bờ là đâu”.
(Trông lên)
Như vậy, muốn hiểu, nhất là hiểu đúng đắn, sâu sắc hình tượng nghệ thuật thì người đọc phải có
một vốn văn hóa nhất định mới có thể giải mã, chiếm lĩnh ngôn ngữ nghệ thuật vốn không đơn giản.
Hình tượng nghệ thuật vừa là sự phản ánh, nhận thức đời sống; lại vừa là một hiện tượng ký

hiệu giao tiếp. Bản chất của hiện tượng ký hiệu giao tiếp có xu hướng cố định hóa; trở thành cơng
thức sáo mịn. Bản chất sự phản ánh nhận thức có xu hướng tìm tịi cái mới, phát hiện cái độc đáo.
Từ đó diễn ra q trình thường xun đổi mới và cắt nghĩa lại ký hiệu, sáng tạo ký hiệu mới. Chẳng
hạn hình ảnh cây đa trong ca dao Việt Nam thường tượng trưng cho sự ổn định, lâu dài, bền vững:
“Cây đa cũ, bến đị xưa
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ”.
Và:
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ, con đị khác đưa”.
Nhưng cũng có khi hình ảnh cây đa lại mang ý nghĩa hoàn toàn trái ngược:
“Cây đa trốc gốc trơi rồi
Đị đưa bến khác, anh ngồi đợi ai?”
Chính sự thay đổi, sáng tạo ký hiệu mới là nguồn gốc tạo ra mối quan hệ giữa cái lặp lại và cái
không lặp lại, cái như thật và cái ước lệ trong nghệ thuật. Quy trọn bản chất nghệ thuật vào ký hiệu
là hạ thấp vai trò nhận thức và sáng tạo của nó. Điều cần thiết là đi vào đời sống mới làm cho thế
giới nghệ thuật phong phú và luôn luôn đổi mới, hấp dẫn.
3.4 Hình tượng nghệ thuật là một quan hệ xã hội thẩm mỹ
Nghệ thuật là sự kết tinh những kinh nghiệm quan hệ của con người; do đó cấu trúc của hình
tượng là một quan hệ xã hội thẩm mỹ. Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật khơng giản đơn chỉ là
sự thống nhất giữa cái cá biệt, cụ thể, cảm tính và cái chung, khái quát, lý trí mà chính là ở chỉnh
thể các quan hệ xã hội thẩm mỹ được thể hiện. Trước hết là quan hệ giữa thế giới nghệ thuật với
thực tại mà nó phản ánh; thứ đến là quan hệ của tác giả với cuộc sống trong tác phẩm, quan hệ giữa
tác giả với người tiếp nhận, quan hệ giữa hình tượng và ngơn ngữ; cuối cùng là quan hệ giữa các
yếu tố trong bức tranh đời sống. Chính cái phức hợp quan hệ này tạo thành hạt nhân cấu trúc của tác
phẩm nghệ thuật.
Bức tranh nghệ thuật bắt đầu từ cái khung, vở diễn bắt đầu từ bục lên sân khấu, tác phẩm văn
học bắt đầu từ những câu chữ đầu tiên. Khung là giới hạn phân biệt hình tượng và đời sống nhưng
cũng vì vậy mà tạo nên sự đối chiếu cái được miêu tả và sự miêu tả. “Truyện Kiều”, trước hết là
truyện được lưu truyền trong nhân gian:
“Cảo thơm lần giở trước đèn

Phong tình cổ lục cịn truyền sử xanh”.
nhưng khi sáng tạo, Nguyễn Du đã kể lại trong tương quan chuyện đời người, nhất là phận hồng
nhan; gợi nhiều suy tư, trăn trở, đớn đau, nhức nhối:
“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trơng thấy mà đau đớn lịng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
11

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.
Đó là câu chuyện cụ thể về cuộc đời đầy bi kịch của nhân vật chính Vương Thúy Kiều. Chính quan
hệ giữa truyện “cổ lục” và quan hệ đời người “những điều trông thấy” đan xen vào nhau làm cho
cấu trúc tác phẩm được nâng lên một tầm cao mới so với tác phẩm “Kim Vân Kiều truyện” của
Thanh Tâm Tài Nhân. Nguồn gốc tác phẩm từ truyện Trung Hoa năm Gia Tĩnh triều Minh nhưng
sự hiểu đời, hiểu người đã giúp Nguyễn Du biến câu chuyện tình khổ thành khúc bi ca tân khổ
thương người bạc mệnh; qua đó trình bày “những điều trông thấy”, đặc biệt những đau đớn, phẫn
nộ về giai đoạn lịch sử đầy biến động cuối Lê – đầu Nguyễn. Đem một tiểu thuyết chương hồi dung
lượng nhỏ (20 hồi) về tài tử giai nhân mang đậm truyền thống mỹ học phong kiến chính thống, phổ
vào hình thức truyện thơ Nôm lục bát giàu chất tiểu thuyết và tính trữ tình, nhà thơ đã tạo một quan
hệ giữa hai dịng văn hóa. Các quan hệ đó thể hiện vào các quan hệ bên trong của các tuyến nhân
vật, các tình tiết cụ thể tạo nên nghệ thuật đặc trưng của hình tượng tác phẩm. Nguyễn Du đã dụng
cơng lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, sự báo oán tàn nhẫn, một số chi tiết dung tục trong tác phẩm
“Kim Vân Kiều truyện”; thay đổi thứ tự kể, sáng tạo thêm một số chi tiết mới để tạo ra một thế giới
nhân vật sống động như thật; biến các sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm
xúc, suy nghĩ của nhân vật và người kể; chuyển trọng tâm của truyện từ kể sự việc sang biểu hiện
nội tâm nhân vật, làm cho các nhân vật cụ thể, sinh động, sâu sắc hơn rất nhiều. Tất cả những điều
đó đã góp phần tạo nên thành công của kiệt tác “Đoạn trường tân thanh”. Như vậy, ta thấy không
thể hiểu đúng đặc trưng nghệ thuật, tư tưởng nếu đóng khung sự quan sát trong phạm vi cốt truyện.

Bởi nếu chỉ thế thì tác phẩm của Nguyễn Du khác gì, giá trị gì hơn truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân? Mặt khác, chính các quan hệ trên chi phối sự tạo thành bộ mặt cụ thể của các hình tượng
nhân vật. Các nhân vật chính diện được giới thiệu như những đại diện của lý tưởng, ước mơ, khát
vọng; của những “đấng, bậc ” trong xã hội phong kiến (Đạm Tiên là đấng “tài hoa”, Thúy Kiều là
“bậc bố kinh”, Kim Trọng là “bậc tài danh”, Từ Hải là “đấng anh hùng”…) nhưng thực ra họ được
thể hiện như những người rất gần gũi đời thường. Nàng Kiều dù rất muốn trao duyên cho Thúy Vân
nhưng khi duyên vừa trao đi thì nàng lại rơi vào tâm trạng khủng hoảng, ngổn ngang trăm nỗi đau
đớn, bẽ bàng. Nàng khổ đau, nuối tiếc bội phần khi so sánh cuộc đời mình và em gái, nàng cảm
thấy mình là người mệnh bạc, cảm thấy mình rất thiệt thịi, đáng thương ( mất người yêu, giờ mất
luôn kỷ vật và tưởng tượng tương lai khi sang thế giới bên kia, nàng trở nên như một oan hồn khơng
dễ gì giải kiếp, giải nỗi oan tình ):
“Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc, ắt lịng chẳng qn!
Mất người cịn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lị hương ấy, so tơ phím này.
Trơng ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn cịn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan”.
Hoặc nhân vật Từ Hải hiện lên là sự tổng hợp của những tính chất vừa xuất chúng vừa lại rất
đời thường. Đó là một võ tướng với:
“Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,

Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ, tên Hải, vốn người Việt Đông.
12

Giang hồ quen thói vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sơng một chèo”.
Ta thấy, từ ngoại hình, tính cách, võ nghệ tới tài năng, khí phách, sự nghiệp…Từ đều thể hiện mình
là đấng anh hùng – tất cả đều phi thường. Bởi lẽ, chàng là hiện thân của lý tưởng, khát vọng tự do,
công bằng, bác ái cho những người bé mọn, bị áp bức. Chàng tơn thờ chính nghĩa, không chịu khuất
phục trước cường quyền, bạo lực; coi khinh triều đình mục ruỗng, thối nát đương thời. Nhưng ở
một khía cạnh nào đó, Từ lại rất gần gũi, đời thường của một khách đa tình, cũng nghiêng ngả trước
vẻ đẹp khuynh thành của trang quốc sắc thiên hương, đúng là anh hùng cũng không thể qua ải mỹ
nhân. Chàng đã “bấy lâu nghe tiếng má đào” và ghé đến lầu xanh, khi gặp mặt thì:
“Hai bên cùng liếc, hai lịng cùng ưa”.
Nàng Kiều tuyệt mỹ có “tấm lịng nhi nữ” đã làm “xiêu anh hùng” trong giây phút “ban đầu lưu
luyến ấy”. Nguyễn Du đã miêu tả Từ thật sinh động, bình dị như bao người đàn ơng khác trong
cuộc sống hằng ngày. Ta thấy, chính các quan hệ phong phú, phức tạp bên trong, bên ngoài đã xác
lập tính hình tượng độc đáo và tính khái qt của nhân vật trong “Truyện Kiều” nói riêng, tác phẩm
nói chung.
Trong bài thơ “Tiếng hát sông Hương”, Tố Hữu lại thể hiện mối quan hệ giữa nhà thơ và cô
gái giang hồ có quá khứ nhơ nhuốc, đầy mặc cảm:
“Thuyền em rách nát
Mà em chưa chồng.
Em đi với chiếc thuyền không,
Khi mơ vơ bến rời dịng dâm ơ?
Trời ơi, em biết khi mơ,
Thân em hết nhục giày vị năm canh.
Tình ơi gian dối là tình

Thuyền em rách nát, cịn lành được khơng?
Bài thơ mở đầu từ dịng Hương Giang:
Trên dịng Hương Giang,
Em buông mái chèo”.
cuối cùng mở rộng ra viễn cảnh tồn thế giới với “gió mới ngàn phương”, với đổi thay triệt để từ
trong đến ngoài và cuối cùng quy lại về dịng sơng Hương với một hy vọng mới:
“Răng không, cô gái trên sông,
Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài.
Thơm như hương nhụy hoa lài,
Sạch như nước suối ban mai giữa rừng.
Ngày mai gió mới ngàn phương,
Sẽ đưa cô đến một vườn đầy xuân.
Ngày mai trong giá trắng ngần,
Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ.
Ngày mai bao lớp đời dơ,
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay.
Cô ơi, tháng rộng ngày dài,
Mở lịng ra đón ngày mai huy hồng.
Trên dịng Hương Giang…”
Tính hình tượng nghệ thuật khơng bao giờ thể hiện qua việc tái hiện cái giản đơn, cụ thể, cảm
tính mà thể hiện qua quan hệ phong phú, phức tạp, lý tính, chồng nén, đối xứng; thơng qua những
hình ảnh so sánh, ẩn dụ, hốn dụ, nhân hóa, trùng điệp…tạo thành những phức hợp quan hệ mang
nội dung khái quát. Chỉ trong quan hệ đời sống thì chi tiết mới phơi bày ý nghĩa kín đáo của nó.
Chẳng hạn bài “Tiến sĩ giấy”, tác giả đã mơ tả rất chi tiết hình ảnh ơng nghè tháng tám:
“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
13

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!
Ghế chéo, lọng xanh, ngồi bảnh chọe”,
Đọc bài thơ, ta liên tưởng đến một thứ đồ chơi của trẻ em Việt Nam ngày xưa. Vào những ngày Tết,
nhất là Tết Trung Thu, cha mẹ thường mua cho trẻ em hình tiến sĩ bằng giấy màu. Đây khơng chỉ
đơn thuần là đồ chơi mà nó cịn có ý nghĩa giáo dục trẻ em cố gắng học hành để mai sau có thể ghi
danh trên bảng vàng tiến sĩ. Đó là tầng nghĩa đen của bài thơ. Điều hấp dẫn chính là ý nghĩa đa tầng
thâm thúy của thi phẩm. Tầng nghĩa bóng thứ nhất gợi liên tưởng đến loại tiến sĩ “bằng xương bằng
thịt”, có học hàm, học vị hẳn hoi nhưng họ khác gì tiến sĩ giấy bởi “thân giáp bảng”, “mặt văn
khôi” chẳng qua cũng chỉ là kết quả của gian trá “chạy chọt” bằng thế lực, tiền bạc…Ở tầng nghĩa
bóng thứ hai, tác phẩm gợi liên tưởng đến những ơng tiến sĩ có bằng cấp thật sự, mang danh tiến sĩ,
áo mão xênh xang nhưng tài năng, đức độ chẳng ra gì; do vậy bằng tiến sĩ của họ chẳng giá trị gì;
họ cũng khác gì “tiến sĩ giấy”. Ý thơ còn gợi liên tưởng tới tầng nghĩa bóng thứ ba về những người
khốc trên mình xiêm áo ông nghè nhưng họ không biết hoặc không thể đem tài, đức ra giúp ích
cho dân nước thì bằng cấp của họ cũng thành vơ dụng; đó cũng là một kiểu “tiến sĩ giấy”. Trong số
quan lại triều đình nhà Nguyễn cuối thế kỷ XIX khơng thiếu loại “tiến sĩ giấy” này. Đó là những kẻ
sợ giặc, trốn tránh hay hèn nhát đầu hàng; những kẻ ham danh lợi, muốn “vinh thân phì gia” ngoan
ngỗn làm tay sai cho Pháp. Nếu những tầng nghĩa vừa nêu gợi tiếng cười hướng ngoại chế giễu, đả
kích thì đến tầng nghĩa thứ tư, tứ thơ lại gợi tiếng cười tự trào hướng nội chua xót, đắng cay của
Tam Nguyên Yên Đổ: dù học hành, đỗ đạt bằng chính thực tài của mình; nhiệt huyết cống hiến cho
dân nước ln cháy bỏng; nhưng Nguyễn Khuyến sau một thời gian làm quan cho nhà Nguyễn cũng
đành lui về ở ẩn, vui thú điền viên trong khắc khoải, đắng cay lúc vận nước nguy ngập, điêu linh.
Ngẫm kỹ, ơng tự xếp mình cũng là một dạng “tiến sĩ giấy”. Và hình tượng nổi lên từ câu cuối càng
tô đậm nỗi buồn, niềm đau như những trí thức thanh cao vì cảm thấy mình bất tài, vơ dụng:
“Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi”.
Ta thấy, phức hợp quan hệ làm cho hình tượng nghệ thuật mang một nội dung hàm súc, đa
nghĩa, nhiều dư ba mà cổ nhân thường nói: ý tại ngơn ngoại, lời hết mà ý vô cùng, điểm – diện, nhất
điểm – vạn điểm…hay như nhà văn E. Hemingway đã từng đề cập đến vấn đề này trong nguyên lý
“Tảng băng trôi” đối với sáng tác và tiếp nhận tác phẩm văn chương: “…bảy phần tám của tảng

băng chìm dưới nước, chỉ có một phần tám là nổi lên. Mọi điều anh biết anh có thể loại bỏ nó đi và
nó chỉ có thể củng cố thêm cho tảng băng của anh. Đó là phần khơng nổi lên. Nếu nhà văn bỏ sót
một cái gì đấy bởi vì anh ta khơng biết thì sẽ có một lỗ hổng trong tác phẩm”. Theo nguyên lý này,
phần nổi là những trang sách tác giả viết, phần chìm được hiểu theo nhiều cách. Có thể hiểu phần
chìm là nghệ thuật tổ chức tác phẩm, từ các đơn vị cấu thành tác phẩm như một chỉnh thể sẽ xuất
hiện “ý tại ngôn ngoại”, sẽ tạo ra một mạch ngầm văn bản, một dòng chảy đa nghĩa dưới bề mặt văn
bản ngơn từ. Cũng có thể hiểu phần chìm là tồn bộ kho dự trữ kiến thức của tác giả hoặc là những
cách đồng sáng tạo tích cực của người đọc. Iu. Lotman đã từng khẳng định: “Tính đa nghĩa là điều
kiện để văn bản văn học hoạt động một cách thẩm mỹ”. Tạo được hệ thống phức hợp quan hệ
phong phú, chặt chẽ sẽ quyết định mức độ hấp dẫn, thành công của tác phẩm nghệ thuật.
Đối với hình tượng nghệ thuật trong văn học cần chú ý một số khía cạnh sau đây. Thứ nhất,
hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi lên trong tâm trí người đọc. Cách nói này
nêu một số khía cạnh khác với cách nói hình tượng là bức tranh hiện thực. Nói là bức tranh hiện
thực thì người ta liên hệ ngay với hiện thực, coi nhẹ đặc điểm ngơn từ; cịn nói thế giới do ngơn từ
gợi lên thì người ta phải khai thác ngơn từ để nắm bắt hình tượng. Thứ hai, hình tượng văn học là
phương tiện giao tiếp đặc thù, truyền cảm, diễn đạt ý nghĩa nhằm giao lưu giữa người với người.
Với ý nghĩa này, hình tượng khơng giản đơn chỉ là sự phản ánh đời sống mà còn là hệ thống ngơn
ngữ – ký hiệu có giá trị biểu đạt nội dung tư tưởng, thẩm mỹ.
3.5 Tính nghệ thuật của hình tượng
Tóm lại, hình tượng nghệ thuật khác hình tượng phi nghệ thuật hay giả nghệ thuật ở sức
truyền cảm mạnh mẽ, sự thức tỉnh tư tưởng lớn lao, ở khả năng lôi cuốn con người tham gia vào đời
sống xã hội. Hấp dẫn là một dấu hiệu quan trọng của hình tượng nghệ thuật. D. Diderot đã từng nói
với nghệ sĩ: “Trước hết, anh phải làm cho tơi cảm động, kinh hoàng, đê mê; anh phải làm cho tôi
14

sợ hãi, run rẩy, rơi lệ hay căm hờn” (Bàn về hội họa). Sức hấp dẫn lâu dài, đích thực khơng bao giờ
là kết quả của những hình thức tiểu xảo rẻ tiền, những pha gay cấn, mâu thuẫn giả tạo. Nó gắn liền
với chân lý đời sống, lý tưởng cao đẹp và sự thể hiện tài năng của người nghệ sĩ.
Không phải ngẫu nhiên mà ngôn ngữ nước nào cũng gọi đặc trưng nghệ thuật bằng các từ

“sống”, “sinh động”, “tự nhiên”…Đó là vì nó chứng tỏ sự phù hợp cao nhất giữa hình thức nghệ
thuật với nội dung cuộc sống bên trong. Cái khó nhất của nghệ thuật là làm sao để sự sống hiện
hình qua pho tượng nhưng khơng chết cứng cùng khối đá; hiện hình qua bức tranh nhưng khơng bị
đóng khung trên mặt vải; hiện hình qua bài thơ nhưng khơng chấm hết cùng con chữ…Tính sinh
động bắt đầu ở khả năng từ một số chi tiết hữu hình ít ỏi mà có thể gợi lên rõ ràng một chỉnh thể. Sự
thống nhất giữa ẩn – hiện, thực – hư…rất quan trọng. Nhiều trường hợp ở chỗ những phần im lặng,
để trống…lại quan trọng, có nhiều ẩn ý, nói được rất nhiều. Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân
đã có chủ ý khi cho nhân vật Tràng và nhất là nhân vật bà cụ Tứ có nhiều lúc im lặng, nhiều khoảng
lặng (tác giả dùng những dấu ba chấm) góp phần thể hiện tính cách nhân vật, thể hiện chủ đề tác
phẩm. Đối với bạn đọc những khoảng trống này sẽ gợi nhiều suy tư, xúc cảm; biến độc giả thành
những chủ thể đồng sáng tạo cùng tác giả. Trong tác phẩm, nhân vật Tràng biết việc mình “nhặt vợ”
đưa về nhà một cách bất ngờ, chưa được phép của mẹ là việc sai trái, dễ làm bà cụ Tứ nổi giận; nên
anh đã rụt rè, thanh minh một cách chân thành, có phần tội nghiệp:
“- Nhà tơi nó mới về làm bạn với tơi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với
nhau…Chẳng qua nó cũng là cái số cả…
Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lịng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao
nhiêu cơ sự, vừa ai ốn vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ơi, người ta dựng vợ gả
chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Cịn
mình thì…Trong khóe mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dịng nước mắt…Biết rằng chúng nó có
ni nổi nhau sống qua được cơn đói khát này khơng?
Bà lão khẽ thở dài ngẩng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà
áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta
mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…Thơi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo
lắng được cho con…May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó
n bề nó, chẳng may ra ơng giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?”
Tính sinh động của hình tượng nghệ thuật khơng chỉ là hiệu quả của việc tái hiện giản đơn
mà gắn liền với sự khơi gợi cảm xúc, khái quát tư tưởng, truyền đạt nhân sinh quan, thế giới quan
của tác giả. Trong bài thơ “Vịnh khoa thi hương”, Trần Tế Xương đặc tả thành công sự nghênh
ngang, lố bịch…của những nhân vật đại diện cho kẻ thù xâm lược:
“Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,

Váy lê quét đất mụ đầm ra”.
Theo lịch sử, kỳ thi năm đinh dậu 1897 có vợ chồng tồn quyền Đơng Dương và vợ chồng
cơng sứ Nam Định đến dự. Những kẻ xâm lược thống trị được tác giả miêu tả sinh động qua khung
cảnh đón tiếp trang trọng, rầm rộ (lọng…rợp trời). Nhưng qua cách dùng từ rất đắt của Tú Xương,
chúng ta càng thấy rõ tư tưởng, cảm xúc mà tác giả gửi gấm: “quan sứ” – cách gọi thoạt nghe thì tơn
kính nhưng nghĩ kỹ lại có vẻ gì bất kính; đặc biệt ông dùng từ “mụ đầm ” để gọi vợ quan lớn lại
càng thể hiện sự tầm thường, coi khinh (nhất là khi kết hợp với hai từ “váy lê ” phía trước). Tú
Xương đã chửi rủa chúng một cách sắc bén, sâu cay. Bọn thực dân thống trị hiện lên là một lũ Tây
Dương mà ông khinh bỉ, căm ghét tận cùng. Hình ảnh khoa thi hương Đinh dậu chính là hiện thân
một góc xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX mà Tú Xương muốn miêu tả,
chế giễu; vừa nực cười, vừa đau đớn trong cái nhìn sắc sảo hiếm có.
Theo G. W. F. Hegel, “sự vật sinh thành vừa là chính nó, vừa là cái khác; cịn sự vận động
thì vừa ở một chỗ, vừa khơng ở chỗ đó”. Miêu tả con người, sự vật như là nó, lại vừa khơng phải là
nó; vừa giống lại vừa không giống là phương tiện vô cùng quan trọng của tính sinh động. Chẳng
hạn khi Lê Anh Xuân sáng tác bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”:
“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt,
Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng lên xác trực thăng.
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
15

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.
Chợt thấy Anh, giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn.
Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm,
Vẫn đứng đàng hồng nổ súng tiến cơng.
Anh tên gì hỡi Anh yêu quý,
Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng,
Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ,
Mà vẫn một màu bình dị sáng trong.

Khơng một tấm hình, khơng một dịng địa chỉ,
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường,
Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.
Anh là chiến sĩ giải phóng qn.
Tên Anh đã thành tên Đất Nước.
Ơi Anh giải phóng quân!
Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt
Tổ Quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.
thì Anh giải phóng qn khơng chỉ là hình ảnh người chiến sĩ hy sinh ở phi trường Tân Sơn Nhứt
trong chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 mà hình tượng đã chuyển hóa thành
biểu tượng của những anh hùng liệt sĩ trong thời chống Mỹ; hơn thế, trở thành bức tượng đài “dáng
đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” rất đỗi tự hào! Cũng như Phạm Tiến Duật viết “Nhớ”:
“Cái vết thương xoàng mà đi viện,
Hàng cịn chờ đó, tiếng xe reo.
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến,
Nơn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo”.
thì không chỉ đặc tả nỗi nhớ, niềm đau của người chiến sĩ lái xe vì bị thương khơng được ngồi sau
tay lái, chở những chuyến hàng tiếp tế cho tiền tuyến; đằng sau đó là tinh thần trách nhiệm cao độ,
nỗi khát khao hồn thành nhiệm vụ, tình thương đồng đội sâu sắc của một thương binh giàu lòng
yêu nước. Ta chợt liên tưởng đến bài thơ “Đêm trắng” của nhà thơ – liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc với
những vần thơ đầy tâm trạng:
“Đêm của anh xếp kín đầy bom đạn
Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa

Đêm của anh trong tầm bom rơi
Không thể ngủ nên đêm thành đêm trắng
Đêm bão thép chất chứa nhiều sâu lắng
Bà mẹ sinh con trai trong mờ tối căn hầm
Những ban đêm thành cột mốc tháng năm
Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng

Đêm thao thức đón chờ ánh sáng
Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời”.
Với người lính trẻ, đêm trắng là những đêm dài thao thức, không chỉ đơn thuần là bóng tối với
những đêm khơng ngủ; mà ở tầng sâu, đó chính là những đêm khốc liệt của chiến tranh hủy diệt,
ngập tràn cảm xúc với nhiều cung bậc, sắc thái phức tạp của tình riêng – lịng chung: lo lắng, sợ hãi,
căm thù…, hy vọng vào một ngày chiến thắng và ẩn chứa cả sự khắc khoải, nhớ thương người u
bé nhỏ phương xa khó lịng gặp lại. Đúng như Tề Bạch Thạch đã từng viết về nghệ thuật “hay ở
chỗ vừa giống vừa không giống; không giống quá thì dối đời, giống quá thì mị đời”. Nhân vật hấp
dẫn, sống động không bao giờ một chiều, cứng ngắc mà biến hóa bất ngờ, thậm chí khó lường.
Người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu), lúc đầu
hiện lên là một người yếu đuối, nhẫn nhục, cam chịu khi bị người chồng vũ phu đánh đập tàn nhẫn:
“Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của
16

lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng
lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà,
lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống, lão lại
nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho
ông nhờ!”. Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống
trả, cũng khơng tìm cách trốn chạy”. Nhân vật càng hiện lên khó hiểu hơn khi chánh án Đẩu mời
lên tịa án huyện mà bà đốn là bắt mình bỏ chồng, bà hết lời van xin: “Con lạy quý tòa…Quý tòa
bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Càng về sau, người đàn bà
càng trở nên mạnh mẽ, nhanh nhẹn, sâu sắc, có phần sắc sảo: “Chị cám ơn các chú!…Đây là chị
nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt nhưng các chú đâu có phải là người làm
ăn…cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ khó nhọc…”. Đặc biệt
khi trình bày ngun nhân mình khơng muốn bỏ chồng thì nhân vật càng thể hiện cái nhìn đúng
đắn, thấu hiểu (của một người bình dân, ít học; tất yếu có phần thiếu sót, thiển cận theo suy nghĩ
của chúng ta), thương con vơ bờ, đáng q! Bà nói sau khi ngẫm nghĩ hồi lâu: “Mong các chú cách
mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ơng để chèo

chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sấp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa.
Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh
lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ khơng thể sống cho mình như ở trên
đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tơi bỏ nó!”. Khơng chỉ ở
nhân vật này, chúng ta có thể thấy nhiều nhân vật được tác giả xây dựng cụ thể, sinh động như vậy.
Kiên cường như Pavel Korchagin (Thép đã tôi thế đấy – N. Ostrovsky) cũng có phút giây chĩa họng
súng đen ngòm lên thái dương muốn tự tử trong cơn bế tắc. Mỵ (Vợ chồng A Phủ – Tơ Hồi), tưởng
chỉ biết cúi đầu câm lặng “như con rùa nuôi trong xó cửa”, như bóng ma trong nhà thống lý bỗng
mạnh mẽ vùng lên cắt nút dây mây cứu thoát cho A Phủ cũng như giải thốt cho chính cuộc đời
mình…
Chân lý nghệ thuật là chân lý về quan hệ, nó khơng khách quan lạnh lùng như chân lý khách
thể. Đó là chân lý làm ngạc nhiên, sững sờ, khao khát. Không phải vô cớ mà Chế Lan Viên viết về
những cảm xúc này:
“Tinh mơ là trận đánh công đồn
Nhà xa, trận lớn, hành quân gấp
Chợp mắt bay về hôn mặt con”.
(Đêm ra trận)
“Chỉ một nhành hoa
Tôi sững sờ”.
“Đất này xưa giặc chiếm khơng hoa
Tơi vui lịng đổi trăm người khác
Lấy nhánh hồng đây, nở chậm mùa”.
(Cành hoa nhỏ)
“Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn”.
(Xuân)
“Chao ơi! Thu đã tới rồi sao?
Thu trước vừa qua mới độ nào!
Mới độ nào đây hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao.


Thu đến đây! Chờ, mới nói răng?”
(Thu)
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét”.
(Tiếng hát con tàu)
Ta thấy, Chế Lan Viên thường dùng những từ cảm thán hoặc những từ ngữ, dấu hiệu bộc lộ rõ sắc
thái biểu cảm như: giật mình, sững sờ, chao ơi, chao ơi, rồi sao, bỗng; những dấu chấm than, chấm
17

hỏi… đã làm cho sự thể hiện sinh động hơn, nhất là phần cảm xúc; đồng thời ghi đậm dấu ấn tác
giả.
Nghệ thuật là sự khắc phục khó khăn. Nó thống nhất được trong mình những mâu thuẫn loại
trừ tưởng như không khắc phục nổi: cá biệt và khái quát, tự nhiên và nhân tạo, vật chất và sự sống,
tình cảm và lý trí, hợp lý và nghịch lý. Nghệ thuật là sự hài hòa trong cái hỗn tạp, là cái thống nhất
giữa sự đa dạng. Tính nghệ thuật làm tích cực hóa khả năng cảm thụ của con người, nâng họ lên
hàng nghệ sĩ; khẳng định vai trò chủ thể của con người trước thế giới. Vì vậy, đó là một đặc tính
tiêu biểu của văn nghệ với tư cách là một hình thái ý thức xã hội – thẩm mỹ. Tính nghệ thuật đa
dạng như bản thân nghệ thuật. Tiêu chuẩn cuối cùng của nghệ thuật là sự thống nhất hồn mỹ giữa
nội dung và hình thức, là sức gây ấn tượng mang tính tư tưởng của hiện tượng đời sống, phản ánh
được hiện thực đa dạng của vận động tiến hóa khơng ngừng của nó.

18

CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Đặc trưng của văn nghệ thể hiện ở đối tượng, nội dung như thế nào?
2. Trình bày hiểu biết về hình tượng nghệ thuật.
3. Mối liên hệ hữu cơ giữa đối tượng, nội dung, phương thức tồn tại của văn học nói riêng,
văn nghệ nói chung.

4. Phân tích mối liên hệ giữa hiện thực khách quan – hình tượng nghệ thuật và nghệ sĩ.
5. Cảm nhận về hình tượng nghệ thuật trong một tác phẩm văn học yêu thích.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hà Minh Đức (Chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn
Nam, Đồn Đức Phương, Trần Khánh Thành & Lí Hồi Thu. (1995). Lí luận văn học (Xuất bản lần
thứ hai). Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Heghen. (2005). Mỹ học. (Phan Ngọc giới thiệu và dịch). Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học.
3. Khrapchenko, M.B. Sáng tạo nghệ thuật hiện thực con người.
4. Phương Lựu (Chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa & Lê Lưu Oanh. (2008). Lí luận
văn học (Tập 1, Xuất bản lần thứ hai). Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
5. Phương Lựu. Tiếp nhận văn học (Tài liệu lưu hành nội bộ).

19

Chƣơng 2

VĂN HỌC VỚI HIỆN THỰC CUỘC SỐNG
Mục tiêu cần đạt:
Người học cần nắm vững:
– Lý luận về phản ánh theo thuyết phản ánh của V. I. Lenin
– Tương quan giữa phản ánh với nhận thức, phản ánh với biểu hiện và phản ánh với sáng
tạo.
***
Văn học có tương quan sâu sắc với hiện thực. Hiện thực phong phú, phức tạp, tồn tại nhiều
vấn đề không dễ nắm bắt thông qua những lý thuyết khoa học thuần túy hay phương pháp trực quan
cụ thể. Văn học là một hình thái ý thức thẩm mỹ, đồng thời là loại hình khoa học – nghệ thuật. Văn
học song hành thâm nhập, phản ánh, khám phá cuộc sống và sáng tạo để con người nhận thức tự
nhiên, xã hội và bản thân chủ thể. Từ đó con người định hướng xây dựng tương lai, gợi mở hy vọng
hạnh phúc cho mình và thúc đẩy xã hội tiến bộ, văn minh.

1. VĂN HỌC GẮN BÓ VỚI HIỆN THỰC CUỘC SỐNG
Cuộc sống vận động, phát triển là quy luật tất yếu của tồn tại. Do vậy, khi gắn bó, phản ánh
cuộc sống; vơ hình trung văn học đã đem đến cho cuộc sống những lợi ích vô giá. Từ thời cổ đại,
vào thế kỷ thứ I, Vương Sung – nhà tư tưởng duy vật (Trung Quốc) đã khẳng định: “Có ích dụng
cho đời thì trăm thiên cũng vơ hại; khơng có ích dụng cho đời thì một chương cũng vơ bổ. Cịn như
đến có ích dụng cả thì nhiều là hơn, ít là kém”. Tư tưởng của Vương Sung cũng đồng thời là
nguyên tắc sáng tác của nhiều tác giả nổi tiếng thời Trung Quốc cổ đại. Các tác phẩm như: “Xuân
thu” (Khổng Tử), “Mạnh Tử” (Mạnh Kha), “Hàn Phi Tử” (Hàn Phi), “Tân thư” (Lục giả), “Tân
luận” (Hoàn Đàn) đều viết về “hữu vi” chính là vì nhu cầu xã hội, vì cuộc sống con người. Lịch sử
văn học Trung Quốc thời điểm trước Công nguyên là văn học Tiên Tần. Qua những công trình khai
quật khảo cổ có thể khẳng định con người đã xuất hiện ở lưu vực Hoàng Hà khoảng 40-50 vạn năm
về trước. Trải qua các triều đại Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ thì xã hội phân hóa; đến đời nhà Hạ
(2200-1800 tr CN), xã hội chuyển sang chế độ nô lệ; sau nhà Hạ là nhà Thương (1800-1100 tr CN),
nhà Chu (1100-770 tr CN), thời Xuân thu (770-403 tr CN), Chiến quốc (403-221 tr CN). Văn hóa
Trung Quốc đến đời Thương có văn “Giáp cốt” (văn mai rùa và xương thú). Từ thế kỷ thứ II tr CN
trở về trước là thời kỳ phơi thai của văn hóa – văn minh Trung Quốc với những thành tựu xuất sắc
về triết học và văn học. Từ thế kỷ thứ II trở về sau, văn học Trung Quốc dần trưởng thành, được
đánh dấu bằng tập thơ “Kinh thi”. “Kinh thi” là tập thơ đầu tiên, tác phẩm nổi tiếng trong văn học
cổ đại Trung Quốc, cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả Trung Quốc học và văn học.
Nghiên cứu “Kinh thi”, Khổng Tử viết: “Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, có thể giúp quan sát
phong tục, hịa hợp với mọi người, bày tỏ nỗi sầu ốn; gần thì thờ cha, xa thì thờ vua; lại biết được
nhiều tên chim mng, cây cỏ” (Dương hóa- Luận ngữ). Những cơng trình nghiên cứu “Kinh thi”
ghi nhận sự phản ánh phong phú cuộc sống, nhằm thể hiện tình ý của con người thuộc nhiều tầng
lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội. Những giá trị lớn lao của “Kinh thi” còn ảnh hưởng đến nhiều
tác giả, tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực sau này ở Trung Quốc nói riêng, các nước đồng văn nói
chung. Tình u thương con người, tinh thần phản kháng áp bức bất công đã hun đúc tinh hoa làm
nên tư tưởng ưu quốc ái dân, chống cường quyền bạo lực; đặc biệt giai cấp thống trị tham tàn bạo
ngược như trong “Sở từ” của Khuất Nguyên. Giá trị hiện thực trong “Kinh thi” cũng được thể hiện,
nâng lên thành chuẩn mực để Trần Tử Ngang, Lý Bạch – những nhà thơ đời Đường đấu tranh chống
lại phong cách thơ diễm lệ, phù hoa tú Lục Triều (từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ VI).

Trong lịch sử văn học Việt Nam, nền văn học viết xuất hiện khá muộn sau văn học dân gian.
Văn học viết Việt Nam thời trung đại (từ đầu thế kỷ thứ X – hết thế kỷ thứ XIX) còn gọi là văn học
Hán Nôm đã thể hiện khá rõ dấu ấn hiện thực. Những tác phẩm nổi tiếng ở giai đoạn đầu (từ đầu thế
kỷ thứ X – nửa đầu thế kỷ XV) như: bài thơ Thần (Lý Thường Kiệt?), Hịch tướng sĩ văn (Trần Quốc
Tuấn), Cáo bình Ngơ (Nguyễn Trãi) và nhiều tác phẩm văn học sau này…được viết bằng chữ Hán một văn tự Việt Nam vay mượn của Trung Quốc. Sau này, dựa vào chữ Hán các nhà ngôn ngữ Việt
Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm – thứ chữ Việt Nam đầu tiên nhằm ghi âm tiếng Việt; từ đó chúng ta
20

PGS, tiến sỹ VÕ VĂN THẮNGAN GIANG, THÁNG 11 – NĂM 2017L ỜI CAM KẾTTôi xin cam kết đây là tài liệu giảng dạy của riêng tôi. Nội dung tài liệu giảng dạy cóxuất xứ rõ ràng. An giang, ngày 20 tháng 11 năm 2017N gười thực hiệnTS. Nguyễn Đức ThăngGIỚI THIỆU TÀI LIỆUHọc phần Nguyên lý lý luận văn học mở màn quy trình học lý luận văn học của sinh viênngành sư phạm ngữ văn, có vai trị quan trọng trong tồn bộ chương trình học. Nó cung cấpnhững kiến thức và kỹ năng có tính ngun lý về thực chất đặc trưng của văn học. Tài liệu Nguyên lý lý luận văn học biên soạn nhằm mục đích phân phối việc đào tạo và giảng dạy sinh viên ngữ vănở bậc ĐH thuộc hệ huấn luyện và đào tạo theo hình thức tín chỉ có sự số lượng giới hạn ở số tiết và nhu yếu sinh viênchủ động học tập. Do vậy, tài liệu thiết kế xây dựng trình diễn những yếu tố cốt yếu của lý luận văn học. Tài liệu gồm 9 chương. Mỗi chương có những phần : tiềm năng cần đạt, nội dung chương, câuhỏi gợi ý học tập và tài liệu tìm hiểu thêm. Cơ sở của việc biên soạn tài liệu là hai giáo trình của hai nhóm tác giả : 1 – Hà Minh Đức ( chủ biên ), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lí Hồi Thu. ( 1995 ). Lí luận vănhọc. Nxb Giáo dục đào tạo. 2 – Phương Lựu ( chủ biên ), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hịa, Lê Lưu Oanh. ( 2008 ). Lí luận văn học ( tập 1 – Văn học, nhà văn, bạn đọc ). Nxb Đại học Sư phạm. Một số những vấn đề cơ bản, những lập luận ngặt nghèo, khoa học từ hai giáo trình trênđược giữ lại trong tài liệu giảng dạy này. Người viết nghiên cứu và phân tích thêm những yếu tố chưa được cáctác giả trình diễn rõ hoặc những dẫn chứng chỉ được đề cập, chưa đi sâu nghiên cứu và phân tích làm sáng tỏ luậnđiểm ; đồng thời cung ứng và nghiên cứu và phân tích thêm những dẫn chứng mới giúp người học hiểu rõ những vấnđề lý luận. Tài liệu đưa thêm 1 số ít yếu tố mới, đánh giá và nhận định lại một vài yếu tố chưa thật khoahọc. Tuy không đưa thêm nhiều yếu tố mới nhưng tài liệu đã bảo vệ tính khoa học, hệ thốngvề những yếu tố lý luận cơ bản, cung ứng nhu yếu của sinh viên học tập phần lý luận tiên phong củachương trình đào tạo và giảng dạy. An Giang, ngày 28 tháng 11 năm 2017N gười soạn : Nguyễn Đức ThăngChƣơng 1V ĂN NGHỆ – HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI THẨM MỸMục tiêu cần đạt : Người học cần nắm vững : – Đối tượng của văn nghệ là hàng loạt hiện thực nhưng ở bình diện những quan hệ đời sống xãhội con người. – Nội dung đặc trưng của văn học là tình cảm xã hội thẩm mỹ. – Tình cảm xã hội thẩm mỹ trong thẩm mỹ và nghệ thuật phải sống sót trong hình thức ngoại quan. Nghệthuật là hình tượng về tình cảm xã hội thẩm mỹ. * * * Văn nghệ, trong đó văn học là một bộ phận quan trọng, bắt nguồn và phản ánh đời sống ; bàytỏ lập trường, quan điểm với đời sống. Nhưng khác với những hình thái ý thức xã hội khác, vănnghệ sống sót đặc trưng mang tính thực chất, phát huy sức mạnh to lớn của nó. Đặc thù của văn nghệcũng như của một hình thái ý thức xã hội thường biểu lộ ở đối tượng người dùng, nội dung, phương pháp tồntại … 1. ĐỐI TƢỢNG ĐẶC TRƢNG CỦA VĂN NGHỆ1. 1 Đối tượng là gì ? Tính đặc trưng về nội dung của văn nghệ gợi lên tính đặc trưng về đối tượng người dùng ; vì đối tượng người dùng là cáiđược sở hữu, nhận thức, phản ánh, chuyển hóa thành nội dung. Cần phân biệt khách thể và đốitượng. Khách thể là hàng loạt quốc tế khách quan sống sót ngoài ý muốn chủ quan của con người, là cơsở của nhận thức và hoạt động giải trí của con người. Đối tượng là một phần của khách thể mà con ngườicó thể sở hữu tùy theo nhu yếu, năng lượng của mình. 1.2 Đối tượng đặc trưng của văn nghệ1. 2.1 Giới thuyếtNhiều nhà văn, nhà lý luận đã từng đưa ra những ý niệm về đối tượng người dùng của văn nghệ. Trong đó, N. G. Sécnưsépxki – nhà dân chủ cách mạng Nga trong tác phẩm “ Quan hệ thẩm mỹ và nghệ thuật củanghệ thuật so với hiện thực ” đã nêu ý niệm đúng đắn về văn nghệ : “ Phạm vi của nghệ thuậtgồm tổng thể những gì có trong hiện thực ( trong vạn vật thiên nhiên và đời sống ) làm con người chăm sóc ; không phải là cái chăm sóc của một học giả, mà là của con người thông thường. Cái mọi người quantâm trong đời sống là nội dung của thẩm mỹ và nghệ thuật ”. “ Cái mọi người chăm sóc ” theo N. G.Sécnưsépxki gồm có hàng loạt vạn vật thiên nhiên, con người, xã hội nhưng điều quan trọng là chúng phảiđược nhìn nhận, sở hữu riêng theo đặc trưng của văn nghệ. 1.2.2 Đối tượng đặc trưng của văn nghệNếu khoa học quan tâm đến những “ kinh nghiệm tay nghề sự thực ” ghi nhận những sự vật, hiện tượng kỳ lạ tựnhiên và xã hội thuần túy thì văn học, văn nghệ mày mò những góc nhìn trong “ kinh nghiệm tay nghề quanhệ ” ; tức là phản ánh những quan hệ của quốc tế hiện thực, mà trước hết là những quan hệ xã hội loàingười. Cụ thể văn nghệ không phản ánh hiện thực trong ý nghĩa khách quan phổ quát chủng loạicủa sự vật như cái giếng, ngôi nhà, con đường, đám mây … ; nghệ thuật và thẩm mỹ chăm sóc chính là quan hệngười kết tinh trong sự vật. Đó là cái giếng làm nơi hị hẹn, ngơi nhà nơi mình được sinh ra với baokỷ niệm, con đường ra mặt trận ngập tràn niềm vui ngày thắng lợi. Đám mây không chỉ là hiệntượng tự nhiên mà là đối tượng người dùng gợi nhiều xúc cảm : “ Vì mây cho núi lên trờiVì chưng gió thổi hoa cười với trăng ”. ( Ca dao ) Và : “ Trên trời có đám mây xanhỞ giữa mây trắng xung quanh mây vàngƯớc gì anh lấy được nàngThì anh mua gạch Bát Tràng về xâyXây dọc rồi lại xây ngangXây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chânCó rửa thì rửa chân tayChớ rửa lông mày chết cá ao anh ”. ( Ca dao ) Hoặc : “ Mây biếc về đâu bay gấp gấpCon cò trên ruộng cánh phân vân ! ” ( Thơ duyên – Xuân Diệu ) Khi đại thi hào Nguyễn Du viết : “ Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa ”. ( Truyện Kiều ) không chỉ cho ta thấy cảnh mùa xuân thế nào mà còn làm tất cả chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng màtác giả nhìn thấy ; rung động với cảnh vạn vật thiên nhiên mỗi mùa xuân như được tái sinh, sinh sôi nảy nở, tươi xanh tràn trề sự sống và có vẻ như trong lòng ta cũng có sức sống tươi tắn ln tái sinh ấy. Văn học miêu tả vạn vật thiên nhiên không như nhà sinh vật học chỉ nhìn vạn vật thiên nhiên dưới góc nhìn tự nhiênmà nhìn vạn vật thiên nhiên như hiện thân của cái đẹp, sự nảy nở tươi thắm, sự sống bất tận, bất diệt. Văn học cũng miêu tả con người nhưng không như nhà sinh vật học – giải phẫu xem, tìmhiểu, điều tra và nghiên cứu khung hình chỉ là mạng lưới hệ thống những bộ phận có tính năng bảo vệ sự sống ; văn học cịnnhìn nhận con người như một chỉnh thể sinh động, toàn vẹn trong mọi mặt của đời sống. Đó là conngười đáng ghét, bị lên án vì lỗ mãng, vơ học, gian trá như Mã Gíám Sinh ; xảo quyệt, táng tậnlương tâm như Hồ Tơn Hiến hoặc đáng thương, đáng trọng vì hiếu thảo, tự trọng, vị tha như nàngKiều … Ta thấy, văn học miêu tả tồn bộ hiện thực nhưng ở góc nhìn riêng – bình diện những quan hệxã hội. Chính vì thế mà những nhà văn, nhà thơ thường chú ý quan tâm tới những chi tiết cụ thể gợi nhiều suy tư, xúccảm hơn những người thông thường. Trong những quan hệ xã hội thì con người được đặt ở vị trí trungtâm ; đó cũng là điểm tựa để văn học nhìn nhận quốc tế. Ta hiểu vì sao tồn bộ cảnh sắc trong thơđều được tái hiện trải qua cảm nhận của nhân vật trữ tình. Trong bài thơ “ Bếp lửa ” ( Bằng Việt ), hình ảnh người bà kính u khó khăn vất vả, giàu tình thương và đức quyết tử hiện lên qua dòng hồi ức củangười cháu khi đi xa : “ Lận đận đời bà biết mấy nắng mưaMấy chục năm rồi, đến tận bây giờBà vẫn giữ thói quen dậy sớmNhóm nhà bếp lửa ấp iu nồng đượmNhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùiNhóm nồi xơi gạo mới sẻ chung vuiNhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏƠi kỳ lạ và thiêng liêng – nhà bếp lửa ! ” Tương tự, trong tác phẩm truyện ; mọi sự vật, vấn đề, hiện tượng kỳ lạ … đều được tái hiện qua nhân vật, người kể chuyện. Trong tiểu thuyết “ Nỗi buồn cuộc chiến tranh ” ( Bảo Ninh ), tác phẩm được xây dựngqua hai lớp cấu trúc gắn liền với người kể chuyện – nhân vật chính Kiên. Đó là dịng hồi ức liên tục, phức tạp về tuổi thơ, mái ấm gia đình ; sự ray rứt ghê gớm xen kẽ với những ẩn ức kinh hoàng về chiếntranh, cùng sự say đắm, vô vọng của tình yêu tuổi trẻ và ý thức phát minh sáng tạo của một nhà văn đầytrách nhiệm. Ở lớp cấu trúc thứ hai, người kể chuyện xưng “ tôi ” – lớp cấu trúc bao trùm tác phẩm là câu truyện về Kiên hiện hữu với hai vai trò : một cựu chiến binh làm việc làm tuy tụ hài cốtđồng đội và một nhà văn thời hậu chiến. Câu chuyện được tái hiện có vẻ tùy tiện theo dòng tâmtưởng với những ký ức, xúc cảm phức tạp, có phần ám ảnh điên cuồng của nhân vật chính. Sự độcđáo trong hình thức kể chuyện góp thêm phần quan trọng tạo nên thành công xuất sắc của tác phẩm. Như vậy, miêu tả con người là phương pháp để miêu tả toàn quốc tế. Mức độ nhận thức về con người, thế giớiquyết định phương pháp, mức độ bộc lộ hiện thực trong tác phẩm. Con người trong văn học không riêng gì được phản ánh ở một góc nhìn nhìn nhận đời sống, một chỗđứng để tò mò hiện thực mà điều quan trọng là họ còn được xem xét như những hiện tượng kỳ lạ tiêubiểu cho những quan hệ xã hội nhất định ; đơn cử văn học nhìn nhận con người cá thể như những tínhcách, phẩm chất tiêu biểu vượt trội cho một nhóm người, những tầng lớp, giai cấp – những kiểu quan hệ xã hội : hiềnlành – hung tợn, quả cảm – hèn nhát, vị tha – vị kỷ … Nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “ Vợnhặt ” ( Kim Lân ) hoặc nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa ” của nhà văn Nguyễn Minh Châu là hiện thân của những người phụ nữ, người mẹ Nước Ta nhânhậu, giàu đức quyết tử, đồng cảm lẽ đời. Nhân vật Nghị Quế trong tác phẩm “ Tắt đèn ” ( Ngô TấtTố ), Bá Kiến trong “ Chí Phèo ” của nhà văn Nam Cao đại diện cho những tầng lớp thống trị gian ác, thủđoạn … ở nông thôn Nước Ta trước năm 1945. Con người mà văn học nhận thức khi nào cũng mang một nội dung đạo đức nhất định. Nếuđạo đức học chỉ nhìn con người gắn liền với những chuẩn mực, nguyên tắc xử thế đúng đắn, caođẹp thì văn học xem xét con người với lăng kính tồn vẹn hơn. Tính cách trong văn học cụ thể, sinhđộng từ tâm lý, hành vi, lối sống trong từng trường hợp, quan hệ đời sống. Nhân vật Quảnngục trong truyện ngắn “ Chữ người tử tù ” của nhà văn Nguyễn Tuân được đặt trong tình huốngphải lựa chọn giữa việc bảo vệ lý tưởng về cái đẹp, thiên lương và sinh mạng, tiền tài, vị thế bảnthân bị đe doạ. Ông đã phải trải qua những đêm suy tư, trăn trở ; phải nghi ngại, đối phó với nhữngngười dưới quyền và sự khinh thường, xa lánh của Huấn Cao … Tác giả cũng đặt nhân vật trongnhiều mối quan hệ : cá thể, mái ấm gia đình, xã hội ( với triều đình, thuộc cấp … ) ; cơng việc, tham vọng, lýtưởng … để từ đó làm điển hình nổi bật tính cách, số phận nhân vật. Con người trong văn học có những phẩmchất tương thích với chuẩn mực đồng thời cũng có những tính cách phi hoặc phản chuẩn mực. Từngchuẩn mực cũng đựợc nhìn nhận theo lập trường xã hội thời đại ; thậm chí còn cịn chịu ảnh hưởng tác động quanđiểm cá thể của tác giả. Văn học cũng thường tò mò tính cách đạo đức trong những tìnhhuống đặc biệt quan trọng, éo le, phức tạp góp thêm phần tạo nên sự độc lạ của nhân vật, tác phẩm. Văn học cũng miêu tả những nhà chính trị, những con người trong đời sống chính trị nhưngkhơng phải là con người mang thực chất giai cấp, lập trường chính trị thuần túy, trừu tượng ; mà lànhững con người đơn cử, sôi động, riêng biệt có đậm cá tính. “ Văn học tìm thấy xung đột đích thực củamình khi người tá điền bị tên địa chủ lường gạt và họ ý thức được sự lường gạt đó, tỉnh ngộ ý thứcđược nhân phẩm, trở lại làm người tá điền có danh dự ” ( Về văn học và thẩm mỹ và nghệ thuật – Bêsơ ). Nhânvật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao trước khi gặp Thị Nở đã sống tha hóađến tận cùng : đốt nhà, rạch mặt, ăn vạ, đâm thuê chém mướn ngập ngụa trong những cơn say bấttận. Từ khi gặp Thị Nở, Chí Phèo được thức tỉnh lương tâm, muốn quay trở lại con đường lương thiệnvới tham vọng niềm hạnh phúc đời thường ; quan trọng là nhân vật nhận ra quân địch của mình chính là BáKiến, để từ đó có ý thức phản kháng triệt để, kinh khủng, từ bỏ con đường vô lương, tìm lại bản chấttốt đẹp của con người : giết Bá Kiến và tự sát. Qua nhân vật tất cả chúng ta cũng thấy được bức tranh xãhội chính trị Nước Ta, đặc biệt quan trọng ở nông thôn quy trình tiến độ 1930 – 1945. Như vậy văn nghệ biểu lộ bảnchất xã hội thơng qua số phận, tính cách nhân vật. Qua đó, văn nghệ hoàn toàn có thể làm sống lại cuộc sốngchính trị của con người trong bão táp chính trị thời đại. Chẳng hạn như nhân vật Pavel Korchagin ( tác phẩm “ Thép đã tôi thế đấy ” của nhà văn N. Ostrovsky ), một người trẻ tuổi – đảng viên trẻ tuổi mơước hiến dâng trọn cuộc sống cho lý tưởng bình đẳng, tự do, niềm hạnh phúc cho nhân dân. Anh đã sôinổi, nhiệt thành góp sức cho quốc gia Xô Viết những ngày đầu sau Cách mạng tháng Mười : thamgia kiến thiết xây dựng con đường tàu nối khu rừng với thành phố trong những ngày tuyết giá, ra mặt trận, đấutranh với những thành phần xấu đi ở nông trường, can đảm và mạnh mẽ vượt lên nghịch cảnh bệnh tật, hy sinhtình u cá thể ích kỷ để bảo vệ lý tưởng cao quý. Hình ảnh Pavel Korchagin đại diện thay mặt cho bao thếhệ người trẻ tuổi Xô Viết, đặc biệt quan trọng thế hệ cùng thời với anh, bằng tình yêu và nghị lực đã sống nhữngngày tháng thanh xuân tươi đẹp nhất vì nhân dân, lý tưởng. Tác phẩm cịn tái hiện khơng khí nóngbỏng, sơi sục Cách mạng tiến trình chính quyền sở tại Xơ Viết non trẻ. 1.2.3 Kết luậnCần nhận rõ tính đặc trưng về đối tượng người dùng của văn học, văn nghệ để hiểu sâu thực chất của nótrong đối sánh tương quan với những hình thái ý thức xã hội khác ; từ đó có cái nhìn, hướng tiếp cận tương thích, đúng đắn. Văn học, văn nghệ phản ánh những quan hệ hiện thực mà TT là con người xã hội. Văn học, văn nghệ không miêu tả quốc tế như những khách thể tự nó mà tái hiện chúng trong tươngquan với lý tưởng, khát vọng, tình cảm của con người. Văn học cũng không phản ánh hiện thựcdưới dạng trừu tượng mà tái hiện nó trong sự tồn vẹn, đơn cử, sinh động. Trong đó, TT củađối tượng văn học là những con người đơn cử với tính cách, số phận, đời sống tình cảm, lối sốngmang thực chất xã hội, lịch sử vẻ vang. Đối tượng đặc trưng của văn học, văn nghệ cũng lao lý nội dung đặc trưng của văn học, văn nghệ. Đó là tình cảm xã hội – thẩm mỹ và nghệ thuật và phương pháp phản ánh bằng những hình tượng nghệthuật. 2. NỘI DUNG ĐẶC TRƢNG CỦA VĂN NGHỆ – TÌNH CẢM XÃ HỘI THẨM MỸ2. 1 Khái quát2. 1.1 Là một hình thái ý thức xã hội nhưng ý thức trong văn nghệ đã chuyển hóa thànhnhững tình cảm mãnh liệt. Đại văn hào L. N. Tolstoy đã từng nhận định và đánh giá : “ Nghệ thuật là một hoạtđộng của con người khởi đầu khi một người tự giác truyền đạt những tình cảm mình đã thể nghiệmcho người khác bằng những tín hiệu bên ngoài, Viral cho người khác những tình cảm ấy và thểnghiệm chúng ” ( Nghệ thuật là gì ). Nhưng cần quan tâm rằng khơng phải mọi tình cảm mãnh liệt cũngcó thể trở thành nội dung của thẩm mỹ và nghệ thuật. Chẳng hạn một cơ gái mếu máo buồn khổ vì bị người yêuphản bội ; một người mẹ đớn đau, khủng hoảng cục bộ vì đứa con vừa mất … những con người này bộc lộnhững tình cảm mãnh liệt đến tận cùng nhưng tổng thể những cái đó khơng phải là nghệ thuật và thẩm mỹ ; trừ phinhững điều này được miêu tả trong tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ. 2.1.2 Nghệ thuật cũng cần vật liệu từ những tình cảm cá thể nhưng nó phải mang ýnghĩa khái quát. Tình cảm trong nghệ thuật và thẩm mỹ là tình cảm mang sắc thái xã hội, là một loại “ tình cảmthơng minh ” ( từ dùng của nhà tâm lý học thẩm mỹ và nghệ thuật nổi tiếng L. X. Vygotski ). 2.1.3 Nghệ thuật là tấm gương phản ánh hiện thực, không phải bản thân hiện thực. Dovậy, thẩm mỹ và nghệ thuật chỉ gợi lên những tham vọng chiêm ngưỡng và thưởng thức, thưởng ngoạn, chiêm ngưỡng và thưởng thức chứ nghệthuật khơng kích thích khát khao, sở hữu hiện thực. Không phải ngẫu nhiên mà thị giác, thínhgiác, trí tưởng tượng là những cảm quan thích hợp nhất với thẩm mỹ và nghệ thuật. Đối với văn học, một loạihình nghệ thuật và thẩm mỹ lấy ngơn từ làm vật liệu, cũng là một mô hình thẩm mỹ và nghệ thuật tổng hợp gián tiếp, đượcthưởng thức đa phần qua trí tưởng tượng. Bên cạnh đó, đến với thẩm mỹ và nghệ thuật, con người cịn cần sựchân thành, hồn nhiên, vô vị lợi, tự do trong chiêm ngưỡng và thưởng thức, khám phá, điều tra và nghiên cứu ; phải hịa nhậptâm hồn tình cảm, những phút giây vui buồn, sướng khổ trước số phận nhân vật, vận mệnh nhândân, quốc gia, trái đất, dịch chuyển lịch sử dân tộc – đó chính là những yếu tố xã hội lớn lao, tương quan tớihàng triệu người, thuộc nhiều thế hệ. Đó chính là đặc thù xã hội của nội dung tình cảm văn nghệ. Cũng chính vì tâm hồn vơ tư trong sáng mà con người dễ vươn tới sự triển khai xong, cao đẹp – đó chínhlà đặc thù nghệ thuật và thẩm mỹ của nội dung tình cảm thẩm mỹ và nghệ thuật. 2.2 Cơ sở của tình cảm xã hội thẩm mỹTình cảm xã hội thẩm mỹ, tất yếu bắt nguồn từ xã hội nhưng trước hết, trực tiếp là từ tâmhồn nghệ sĩ, với tư cách một con người xã hội. Trong xã hội, trước cái đẹp, cái tốt ; họ ưng ý ủnghộ, ca tụng … ; trước cái xấu, cái ác, họ chê trách, phê phán … Do vậy, khi những nội dung này đượcthể hiện trong thẩm mỹ và nghệ thuật thì thơng thường chúng sẽ hiện lên điển hình nổi bật, sắc nét và tất yếu mang ýnghĩa mỹ học. 2.2.1 Đặc trưng của tình cảm xã hội thẩm mỹTình cảm xã hội thẩm mỹ là tình cảm ; thế cho nên, trước hết phải chân thành bởi đây là đặc trưngbản chất của tình cảm. Trang Tử trong sách “ Ngư phu ” đã từng viết : “ Cường khốc giả, tuy bi bấtai ; cường nộ giả, tuy nghiêm bất uy ; cường thân giả, tuy tiếu bất hịa … Chân bi vơ thanh nhi ai, chân nộ vị phát nhi uy ; chân thân vị tiếu nhi hịa ” ( Người giả khóc tuy buồn mà khơng đau ; ngườigiả giận tuy nghiêm mà khơng có uy ; người giả thân tuy cười mà không hợp … Buồn thật tuy khôngthan nhưng đau ; giận thật tuy chưa lộ ra nhưng đã có uy ; tình thân thật tuy chưa cười đã thấy hợp ). Tình cảm thơng thường đã vậy, tình cảm xã hội thẩm mỹ là mức độ cao của tình cảm lại càng cầnsự chân thành, hơn thế ở mức độ cao. Tình cảm dù chân thành, trung thực nhưng không cao đẹp, hùng vĩ cũng khơng phải tình cảm xã hội thẩm mỹ mà là tự nhiên chủ nghĩa. Như vậy chânthành mới chỉ là điều kiện kèm theo cần, chưa phải điều kiện kèm theo đủ. Tình cảm xã hội thẩm mỹ cịn phải cao đẹp, cao quý, hùng vĩ trong mọi cung bậc, sắc thái, thực trạng : buồn rầu, đau khổ, yêu thương, cangợi … ; thậm chí còn cả trong ghét bỏ, tức giận, phẫn nộ, phê bình, phán xét … Hay nói khác đi, tìnhcảm xã hội thẩm mỹ phải gắn liền với đạo đức, lý trí. K. H. Marx đã từng quan tâm phê bình phải là “ lýtrí của phẫn nộ ” chứ không phải “ phẫn nộ của lý trí ” thì trong sáng tạo nghệ thuật và thẩm mỹ lại càng như vậy. Trong siêu phẩm “ Tấn trò đời ” của nhà văn H. D. Balzac, ông đã phê phán, phủ định nóng bức cả mộtxã hội và con người Pháp dưới thể chế tư sản đầu thế kỷ XIX với toàn bộ những xấu đi, xấu xa. Cũng từ đây, những nỗi đau khổ, những tấn thảm kịch liên tục xảy ra trong xã hội đồng tiền là sứcmạnh vạn năng, chân lý tối thượng. Về tình cảm qua tác phẩm của H. D. Balzac, F. Angels có đưara khái niệm “ sự phán xét đầy chất thơ ” hay “ sự phán xét thi vị ”. Sự phán xét so với cái xấu, ác, mặt trái, xấu đi ở đây thoát ra khỏi sự khó chịu, chê trách, mạt sát thường tình mà vươn tới sự châmbiếm, đả kích thể hiện tiếng cười phê phán với chiều sâu triết lý. Cũng hoàn toàn có thể lấy bài thơ “ Năm mớichúc nhau ” của nhà thơ Trần Tế Xương làm ví dụ tiêu biểu vượt trội : “ Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau : Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râuPhen này ông quyết đi buôn cốiThiên hạ bao nhiêu đứa giã trầuLẳng lặng mà nghe nó chúc giàu : Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu ? Phen này chắc rằng gà ăn bạcĐồng rụng, đồng rơi lọ phải cầuLẳng lặng mà nghe nó chúc sang : Đứa thời mua tước, đứa mua quanPhen này ông quyết đi buôn lọngVừa bán vừa la cũng đắt hàngLẳng lặng mà nghe nó chúc conSinh năm, đẻ bảy được vng trịnPhố phường chật hẹp, người đơng đúcBồng bế nhau lên, nó ở nonBắt chước ai, ta chúc mấy lời : Chúc cho khắp hết ở trong đờiVua, quan, sĩ, thứ, người muôn nướcSao được cho ra cái giống người ”. Nghệ thuật gắn liền với hiện thực ; hơn thế, thẩm mỹ và nghệ thuật phải nâng tâm hồn con người lên trêntình cảm trong mọi nghành nghề dịch vụ của đời sống hàng ngày. Đứng trước cái chết sinh ly tử biệt, ai màkhông đau xót, bi thương ; nhưng trong tác phẩm “ Những người không chết ”, tác giả Tố Hữu khôngchỉ bộc lộ sự quyết tử mất mát mà hơn thế còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử, vào tươnglai của cách mạng : “ Không ! Không ! Không ! Anh không chếtTrong tôiÝ đời anh đã nẩy lộc đâm chồiTrong cân não của một loài cơ cựcAnh đương sống với bao nhiêu sinh lựcCủa thân cây đương buổi nhựa lên cànhKim nam châm hút đã hướng dẫn đời anhTơi sẵn có trong tay từ thuở ấyTôi cứ lái cho đến ngày mệt lửMột chiều kia, dù lại cũng như anhTrở về đây trong mạn ván tan tànhGiữa lúc những thuyền kia lướt tới ” Trong bài thơ “ Sông lấp ”, nhà thơ Trần Tế Xương đã thể hiện tình cảm trước một hiện thựckhá thông dụng nhưng thi phẩm lại tạo dư ba sâu lắng của một nỗi xót xa, cay đắng, nuối tiếc bởi hìnhảnh dịng sơng lấp gắn liền với sự đổi dời, biến thiên của lịch sử vẻ vang – quốc gia Nước Ta rơi vào taythực dân Pháp cuối thế kỷ XIX. Bài thơ ngắn nhưng giá trị tình cảm xã hội thẩm mỹ lại thâm thúy, lớnlao ! Hãy hịa điệu hồn mình vào tâm trạng thi nhân để thấy rõ điều này : “ Sông kia rày đã nên đồngChỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngơ khoaiVẳng nghe tiếng ếch bên taiGiật mình cịn tưởng tiếng ai gọi đị ” 2.2.2 Ý nghĩa, vai trị của tình cảm xã hội thẩm mỹĐối với cái xấu đi, xấu xa, thấp hèn, tình cảm xã hội thẩm mỹ khơng tránh né mà trực diệnđối sánh nó theo một lý tưởng, tham vọng cao đẹp. Khi một tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ, làm xúc động lịng người, khơi gợi nơi bạn đọc những gì đúng đắn, cao đẹp hoặc lánh xa những gìxấu xa, thấp hèn ; thì xét đến cùng cũng là gắn bó với cái đẹp, cái tốt ; điều đó cũng đồng nghĩa tương quan vớiviệc giúp họ hiểu thêm việc đời ( chân ) và thấm thêm lẽ đời ( thiện ) với những hình thức và mức độnào đó. Tình cảm xã hội thẩm mỹ, do đó tuy khơng giống hệt nhưng thống nhất với chân lý và đạolý. Nó sẽ gián tiếp hay trực tiếp tu dưỡng tình cảm, đạo đức cho con người biết khao khát vươn tớicái cao đẹp, hồn thiện, hồn mỹ. Đó là ý nghĩa to lớn, vai trị quan trọng khơng thể thay thế sửa chữa củavăn học thẩm mỹ và nghệ thuật so với đời sống. Nói “ khơng thể sửa chữa thay thế ” vì khơng có nghành nào phát minh sáng tạo ranhững giá trị tình cảm thẩm mỹ và nghệ thuật dồi dào cho xã hội như vậy. Nói “ to lớn ” bởi những giá trị ấy sẽgóp phần kiến thiết xây dựng nền móng niềm tin làm nền tảng cho mỗi thành viên trong xã hội nhìn nhận, nhìn nhận con người, cuộc sống đúng đắn, thâm thúy hơn. 3. HÌNH TƢỢNG NGHỆ THUẬT – PHƢƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VĂN NGHỆNói đến con người là nói đến những bộc lộ nhiều mẫu mã và quan hệ phong phú, từ đó nảy sinhtình cảm. Nói đến tình cảm xã hội – nghệ thuật và thẩm mỹ là nói đến đặc trưng của văn nghệ về những phương diệnđối tượng và nội dung. Do vậy, con người và tình cảm xã hội – thẩm mỹ và nghệ thuật luôn gắn liền, xen kẽ vớinhau. Khi những con người trong hiện thực đi vào tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ khi nào cũng được tinh lọc, khái quát, bình giá theo tiêu chuẩn những tình cảm xã hội – thẩm mỹ và nghệ thuật nên nó cao đẹp, lý tưởng. Cầnchú ý rằng khi nói tới tình cảm thì phải đơn cử nghĩa là nó gắn với con người, hồn cảnh đơn cử vớinhững sắc thái, cung bậc xúc cảm và được đặt trong những hình thức biểu lộ ; ví dụ điển hình đau buồnthì rơi lệ, tức giận thì trừng mắt, vui sướng thì tươi cười … Tất nhiên tình cảm xã hội – thẩm mỹ và nghệ thuật cũngkhơng là biệt lệ. Tình cảm xã hội – thẩm mỹ và nghệ thuật trong nghệ thuật và thẩm mỹ không hề trừu tượng mà phải tồn tạitrong một hình thức ngoại quan. Nói cách khác một cách ngắn gọn : thẩm mỹ và nghệ thuật là hình tượng về tìnhcảm xã hội – nghệ thuật và thẩm mỹ. Tất nhiên sự hình thức hóa, hình tượng hóa theo những mức độ khác nhau. Nhà ký hiệu học – văn hóa nổi tiếng người Đức, E.Cassirer đã từng khẳng định chắc chắn tầm quan trọng củatính chất tạo hình trong nghệ thuật và thẩm mỹ : “ Nghệ thuật quả thực là biểu lộ tình cảm nhưng nếu khơngtạo hình thì nó khơng thể bộc lộ. Q trình tạo hình này được triển khai trong những vật mơigiới cảm tính ” ( Bàn về con người ). Ngay cả với âm nhạc, một mô hình nghệ thuật và thẩm mỹ khó cảm nhậntính hình tượng nhất, nhưng khi bàn về “ Bản giao hưởng số 9 ” của L.V. Beethoven, ơng nói : “ Chúng ta nghe được tồn bộ giai điệu từ thấp đến cao nhất của tình cảm lồi người. Nó là sự vậnđộng và rung động của tồn bộ sinh mệnh tất cả chúng ta ” ( Phương Lựu, 2008, tr. 65 ). Hiểu được vấn đềnày giúp tất cả chúng ta nhìn nhận đúng đắn 1 số ít tác phẩm vốn thuộc về lịch sử dân tộc, triết học … ; chúng cũngcó thể được coi là tác phẩm văn học bởi chúng tiềm ẩn tình cảm đa dạng chủng loại và được hình tượnghóa ở một mức độ nào đó. Có thể lấy áng “ thiên cổ hùng văn ” “ Bình Ngơ đại cáo ” ( Nguyễn Trãi ) làm ví dụ minh họa. Tác phẩm là kết tinh lòng yêu nước tha thiết của Lê Lợi, Nguyễn Trãi, nghĩaquân Lam Sơn và nhân dân Đại Việt. Điều đó bộc lộ ở lịng tự hào về truyền thống cuội nguồn dân tộc bản địa, lòngcăm thù giặc thâm thúy, những phương thế khắc phục khó khăn vất vả ; kế hoạch, sách lược tài tình ; đặc biệtý chí quyết tâm cao độ chiến đấu và thắng lợi ; ngay cả triết lý nhân nghĩa cũng ngời sáng tinhthần u nước. Về tính hình tượng, nhiều câu, đoạn văn đạt tới Lever thâm thúy : “ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn ; Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ; Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội ; Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi. Tuấn kiệt như sao buổi sớm ; Nhân tài như lá mùa thu. Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới ; Tướng sĩ một lịng phụ tử, hịa nước sơng chén rượu ngọt ngào. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật ; Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay. Gươm mài đá, đá núi cũng mịn ; Voi uống nước, nước sơng phải cạn. Lạng Giang, TP Lạng Sơn, thây chất đầy đường ; Xương Giang, Bình Than, máu trơi đỏ nước ” Hoặc như tác phẩm lịch sử vẻ vang vốn viết về những con người thực, vớl thực chất xã hội lịch sử dân tộc tiêubiểu của nó nhưng nếu tác giả lại phóng bút miêu tả những bộc lộ sinh động của nó từ hànhđộng, ngơn ngữ đến nội tâm, tình cảm, tính cách … thì tác phẩm đã bước vào nghành văn học. “ Sửký ” ( Tư Mã Thiên ) không chỉ là tác phẩm quý giá về lịch sử dân tộc Trung Quốc mà còn xứng danh là mộttác phẩm văn học rực rỡ của văn học Nước Trung Hoa và trái đất. Khi tác giả viết về Hạng Võ, ta thấynhân vật hiện lên thật sôi động với ngơn ngữ, thái độ, tình cảm. Đó là một con người kiêu ngạo vìphần nào đã tiên đốn được năng lực võ nghệ cao ráo thiên phú của mình ; đúng hơn là thái độ tựtin, dự báo tương lai của một danh tướng, một cuộc sống với những chiến công oanh liệt ; dù lúc nàyHạng Võ mới chỉ là một cậu bé học tập kém cỏi : “ Học chữ chỉ đủ ký tên, học kiếm chỉ đủ địchmột người. Phải học được cách địch nổi vạn người ”. Chỉ hai câu nói, fan hâm mộ đã thấy nhân vật hiệnlên đơn cử, hấp dẫn. Đến cuối đời, khi bị quân của Lưu Bang vây hãm ở Cai Hạ, dù hoàn toàn có thể vượt quaƠ Giang trở về q cũ Giang Đơng thốt nạn, Hạng Võ cũng từ bỏ, đúng với tính cách của một võtướng : “ Trời hại ta rồi, cịn vượt qua sơng mà làm gì ? Huống hồ ta vốn đã cùng tám ngàn con emGiang Đơng vượt sơng đi về phía Tây, nay khơng cịn một ai cùng quay trở lại. Giá thử những bậc cha anh ởGiang Đơng cịn thương ta và đưa ta lên làm vua, ta cũng không mặt mũi nào mà nhìn họ. Dù họkhơng nói, ta há khơng biết thẹn với mình ư ? ( Hạng Võ bản kỷ ). Mấy câu nói cuối đời càng tơ đậmtính cách của một dũng tướng vừa cao ngạo lại vừa biết rõ số lượng giới hạn năng lực của mình, nắm rõ quyluật và rất giàu lịng tự trọng … Dẫn chứng vừa nêu đã góp thêm phần xác nhận con người với những biểuhiện phong phú và đa dạng, quan hệ phong phú cùng tình cảm xã hội cao đẹp là đặc trưng cơ bản của nghệ thuậtvề mặt đối tượng người tiêu dùng, nội dung. Như vậy, hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật với tư cách là phương pháp sống sót củanghệ thuật với hai thành tố cơ bản, không hề tách rời vừa nêu, đã xác lập đặc trưng toàn vẹn củanghệ thuật. Nói khác đi, qua những hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ sôi động, những mặt đối tượng người tiêu dùng, nội dungchính sẽ thể hiện một cách toàn vẹn trong sự tích hợp thuần thục với nhau. 3.1 Hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật như một khách thể ý thức đặc thùĐặc điểm cơ bản của tác phẩm văn nghệ ( văn học, hội họa, âm nhạc, vũ đạo, sân khấu … ) làchúng được coi là những khách thể ý thức. Gọi là khách thể ( ý thức ) bởi chúng là quốc tế ( tinhthần ) được khách thể hóa thành hiện tượng kỳ lạ xã hội sống sót khách quan ( không nhờ vào vào ý muốnchủ quan của người nghệ sĩ hoặc người chiêm ngưỡng và thưởng thức ). Ai cũng hoàn toàn có thể khám phá, chiêm ngưỡng và thưởng thức tácphẩm như một đối tượng người dùng, một khách thể độc lập. Gọi là ( khách thể ) ý thức vì theo K. H. Marx, F.Angels, chúng là “ hình ảnh chủ quan của quốc tế khách quan ”. Đó chính là “ cái vật chất đượcchuyển vào đầu óc con người và được tái tạo ở trong đó ”. Hiện thực được phản ánh như một hoạtđộng cảm tính của con người, như một thực tiễn phân phối nhu yếu của đời sống. Những cái tinh thầnđó được lưu truyền qua những phương tiện đi lại vật chất nhất định và trở thành những khách thể trongđời sống xã hội. Những nhân vật lịch sử dân tộc, văn học như Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Vương, ThánhGióng, bà Trưng, bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung … đều đang sống sót như những khách thể tinh thầntrong đời sống tâm linh của người Việt. Có thể phân biệt những khách thể ý thức trong những nghành nghề dịch vụ khác nhau : hoạt động và sinh hoạt thựctiễn hoặc văn hóa truyền thống tín ngưỡng. Điều quan trọng là phải hiểu hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ như một kháchthể nghệ thuật và thẩm mỹ ảnh hưởng tác động vào con người với toàn bộ tính thực tại của chúng. Hình tượng ý thức phảiđược biểu lộ qua hình vẽ, ký hiệu, phương tiện đi lại tạo hình … và quan trọng là chúng phải truyền đượccái thần, cái khí … của khách thể niềm tin. Cũng khơng nên cứng ngắc quy chiếu cấu trúc của hìnhtượng nghệ thuật và thẩm mỹ vào những hình ảnh, hình tượng so sánh, ẩn dụ … Hình ảnh, hình tượng so sánh, ẩn dụ … chỉ trở thành hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật khi chúng gắn liền với ngữ cảnh, thực trạng xã hội, vănhóa dân tộc bản địa. Trong tác phẩm “ Đoạn trường tân thanh ”, khi đại thi hào Nguyễn Du miêu tả cảnh vậtxung quanh lầu Ngưng Bích và tâm trạng nàng Kiều : “ Buồn trông ngọn nước mới saHoa trôi man mác biết là về đâu ? Buồn trơng gió cuốn mặt duềnhẦm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi ” Người đọc thuận tiện liên tưởng đến hồn cảnh nghiệt ngã, số phận chìm nổi vô định và tâm trạng lolắng tột cùng đến khủng hoảng cục bộ của nàng Kiều giữa một môi trường tự nhiên lạ lẫm đầy cạm bẫy gian truân. Nếu tất cả chúng ta tách chúng khỏi ngữ cảnh, diễn biến … thì những sự suy diễn sẽ trở nên võ đốn, ápđặt. Tóm lại, hình tượng niềm tin là một khách thể niềm tin, mọi phương tiện đi lại bộc lộ chỉ có ýnghĩa khi nó làm sống lại những khách thể đó ; và người đọc tác phẩm, chỉ khi nào xâm nhập vào thếgiới ý thức đó mới hoàn toàn có thể chiêm ngưỡng và thưởng thức trong sự đồng cảm, đồng cảm thâm thúy về tác phẩm. 3.2 Tính tạo hình và tính bộc lộ của hình tượng3. 2.1 Hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật là cái được phát minh sáng tạo, khái quát. Tạo hình là việc làm chokhách thể có được sự sống sót đơn cử, cảm tính bên ngồi qua vật liệu ; là làm cho quốc tế nhữnghình tượng khái quát một hình thức, hình dáng, hình hài. Nó gồm có việc tạo cho hình tượng mộtkhông gian, thời hạn, sự kiện, những mối quan hệ ; đặc biệt quan trọng là tạo dựng những con người có ngoạihình, hành vi, ngơn ngữ, nội tâm, tính cách, số phận. X. M. Âyanhxtanh – đạo diễn sân khấu, điện ảnh, nhà nghiên cứu lý luận có viết : “ Trước cái nhìn bên trong, trước cảm xúc của tác giả, hiện lên một hình tượng nào đấy, biểu lộ được một cách xúc động đề tài của anh ta và anh ta đặtra một trách nhiệm – biến hình tượng ấy thành vài ba hình ảnh riêng không liên quan gì đến nhau, những cụ thể mà trong sựtổng hợp và so sánh với nhau, chúng lại gợi lên trong ý thức và tình cảm của người cảm thụ đúngcái hình tượng xuất phát đã được khái quát ấy ”. Như vậy, khơng có tạo hình thì khơng có hìnhtượng ; chính do hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ về thực chất là một hiện tượng kỳ lạ niềm tin, nó khơng thể được “ đưa cho mà làm phát sinh, Open ”. Tạo hình thẩm mỹ và nghệ thuật chỉ tinh lọc những chi tiết cụ thể rất ít nhưnggiàu sức bộc lộ nhất, tiêu biểu vượt trội nhất cho một trường hợp, hồn cảnh, tính cách, số phận. Giá trị vàý nghĩa của tạo hình là biểu lộ chỉnh thể. Những nhà văn tài năng thường phát minh sáng tạo được những “ chi tiết cụ thể biết nói ”, đó chính là những tạo hình đắt giá trong thẩm mỹ và nghệ thuật. Thử điểm qua một số ít chi tiếttrong văn học Nước Ta tất cả chúng ta sẽ hiểu rõ hơn tính tạo hình trong nghệ thuật và thẩm mỹ. Trong tác phẩm đặcsắc “ Chí Phèo ”, nhà văn Nam Cao đã phát minh sáng tạo rất nhiều cụ thể ấn tượng thâm thúy xoay quanh nhânvật chính góp thêm phần bộc lộ chủ đề tác phẩm như : tiếng chửi đa thanh phức điệu chứa đựng nhiều triếtlý ; nước mắt của Chí Phèo gắn liền với sự tự nhận thức và thức tỉnh lương tâm ; bát cháo hành hiếmhoi, quý giá của Thị Nở ; câu nói đầy dư âm đau đớn, uất nghẹn tận đáy lòng một kẻ vô lương muốntrở về con đường lương thiện : “ Tao muốn làm người lương thiện ! ” … Hoặc trong truyện ngắn “ Vợnhặt ” ( Kim Lân ), tác giả đã kiến thiết xây dựng được những chi tiết cụ thể độc lạ góp thêm phần tạo thành cơng cho tácphẩm : bốn bát bánh đúc giữa chợ, bữa cơm ngày đói, nước mắt của bà cụ Tứ, hình ảnh đám ngườiđói cầm cờ đỏ sao vàng đi phá kho thóc Nhật … Về thực chất, tạo hình trong thẩm mỹ và nghệ thuật là sự cấu tạotập trung, dồn nén, có phần ước lệ ở những mức độ khác nhau. 3.2.2 Biểu hiện là đặc trưng cơ bản của tạo hình. Biểu hiện là năng lực thể hiện cái bêntrong, thực chất của sự vật, hiện tượng kỳ lạ, con người ; phần nào hé mở những nỗi niềm thầm kín, xungđột nội tâm, tính cách … của nhân vật. Biểu hiện gợi lên sự toàn vẹn, đầy đặn của hình tượng ; nhất làthể hiện khuynh hướng tư tưởng, tình cảm của con người, tác giả trước hiện thực. Chính thế cho nên, trong hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật, mọi cụ thể đều có ý nghĩa, công dụng của nó, khơng có chi tiết cụ thể thừa. Hơn thế, chi tiết cụ thể trong hình tượng thường mang tính đa nghĩa ; vừa gợi khơng gian, thời hạn ; vừagợi trường hợp, tính cách, số phận nhân vật ; vừa gợi thái độ, tình cảm của tác giả so với chúng. G.W. F. Hegel gọi những cụ thể trong tác phẩm là những “ con mắt ” – qua đó tất cả chúng ta thấy được thế giớitinh thần, nhất là thấy được “ một tâm hồn tự do trong cái vơ hạn của nó ” ( Phương Lựu ( chủ biên ), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa và Lê Lưu Oanh, 2008, tr. 71 ) Cơ sở của tạo hình là sự tương đương của nó so với cái được miêu tả, dù cái được miêu tả cótrong hiện thực hay tưởng tượng. Cơ sở của biểu lộ là độc lạ. Sự phối hợp giữa tạo hình và biểuhiện làm cho hình tượng có một hình thức nghệ thuật và thẩm mỹ độc lạ, mê hoặc. Đó là một thể thống nhấtsinh động giữa hiện thực và hư ảo, trực tiếp và gián tiếp, không thay đổi và biến hóa, thống nhất và đadạng … tiềm ẩn nội dung đời sống đa dạng và phong phú ; tư tưởng, cảm hứng thâm thúy. 3.3 Hình tượng và ký hiệuTrong quy trình hoạt động giải trí thực tiễn và nhận thức, con người đã dùng những sự vật, hiệntượng bất kể để chỉ một sự vật, hiện tượng kỳ lạ khác ở bên ngồi một cách cố định và thắt chặt, đó chính là ký hiệu. Từ ngữ, cịi báo động, đèn giao thơng, ký hiệu tốn học hoặc hóa học … đều là những ký hiệu. Kýhiệu là phương tiện đi lại để lưu truyền kỹ năng và kiến thức trong xã hội loài người. Muốn lưu giữ, truyền đạt thìhình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật cũng phải được khách quan hóa thành ký hiệu bằng mạng lưới hệ thống ngôn từ, những cụ thể tạo hình, bộc lộ … Nếu một khách thể niềm tin mang đặc thù hình tượng thì mặttạo hình bộc lộ mang đặc thù ký hiệu. Nếu đặc trưng của ký hiệu là sửa chữa thay thế một cái khác thìđặc trưng của hình tượng vừa là sống sót khác lại vừa phản ánh, khái quát. “ Nếu ký hiệu thiên về việcchỉ ra cái đã được quy ước không thay đổi thì hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ luôn chỉ ra cái mới, phát hiện cái độcđáo ” ( Phương Lựu và cs, 2008, tr. 72 ). Chẳng hạn khi Xuân Diệu viết : “ Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mất. Tơi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi. Của ong bướm này đây tuần tháng mật, Này đây hoa của đồng nội xanh tươi, Này đây lá của cành tơ phơ phất. Của yến anh này đây khúc tình si, Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa. Tháng Giêng ngon như một cặp mơi gần ”. ( Vội vàng ) thì những cụ thể : nắng, gió, ong, bướm, hoa, lá, đồng nội, cành tơ, yến anh, ánh sáng … đều là những kýhiệu tự nhiên và chính niềm khát khao mãnh liệt giao cảm với vạn vật thiên nhiên, con người, cuộc sống củanhân vật trữ tình đã hịa nhập tình u đời sống trong vạn vật thiên nhiên tuyệt mỹ ; qua đó bộc lộ cảmquan mới về cuộc sống. Các cụ thể ký hiệu đóng vai trị phương tiện đi lại khái qt, cịn hình tượng làbản thân sự khái quát ; cũng giống như từ ngữ là ký hiệu, cịn lời phát biểu là thái độ, tình cảm, quanniệm, tư tưởng … Các cụ thể ký hiệu nói trên là ký hiệu thẩm mỹ và nghệ thuật. Mỗi hình ảnh tạo hình vừa tái hiện một hiệntượng thực tại, vừa mã hóa một nội dung cảm hứng do hiện tượng kỳ lạ gợi lên trong những cảnh huốngnhất định. Chẳng hạn, trong cổ thi Nước Trung Hoa thì hình ảnh lá ngơ đồng rụng là tín hiệu thu sang : “ Ngô đồng nhất diệp lạcThiên hạ cộng tri thu ”. nhưng khơng chỉ thế, nó cịn tiềm ẩn nhiều nội dung tình cảm thẩm mỹ và nghệ thuật khác nữa. Thử điểm quamột vài dẫn chứng, tất cả chúng ta sẽ thấy rõ điều đó : “ Ơ ! Hay buồn vương cây ngô đồngVàng rơi ! Vàng rơi ! Thu mênh mơng ” ( Bích Khê – Tỳ bà ) Như vậy hình ảnh lá ngơ đồng rụng cịn bộc lộ cảnh mùa thu buồn vương hiu hắt, mênh mang ; đặc biệt quan trọng với thân phận lữ thứ tha hương : “ Ngô đồng rụng lá phương nao ? Mà trang thơ cổ xạc xào lá rơiVàng thu thấp thống phương trờiLá khơ thao thức cùng tơi phương nàyBóng thơ cùng chữ lay bayẤy ai thiên cổ đêm nay xao lịngTiếng ngơ đồng … tiếng ngơ đồngTiếng ngàn thu trước rơi cùng tiếng thơHồn tơi rụng với thu xưaLịng ai phương nọ, vàng chưa thu này ? ” ( Phạm Ngọc Lư – Tiếng ngô đồng ) Cũng vậy, hoa sen tươi đẹp từ đặc thù sinh học là mọc giữa ao đầm bùn lầy nên gợi vẻ đẹp trongtrắng, mộc mạc, chân chất ; lối sống thanh cao, coi thường danh lợi ; sự yêu kính, ngưỡng mộ … Dovậy khi đọc những bài thơ viết về hoa sen, hầu hết người Nước Ta có kỹ năng và kiến thức đều hiểu nội dung tácphẩm mà những tác giả biểu lộ : “ Lấm nhơ chẳng bén, tốt hịa thanhQn tử kham khơn, được thửa danhGió đưa hương đêm nguyệt tĩnhTrinh làm của, có ai tranh ”. ( Nguyễn Trãi ) Và : “ Một vùng kim bích giữa hồ đầmThần múa, tiên cười trước gió namTrịn lửng bóng in trăng đầy nướcHồng tươi sắc thiếp ráng chiều hơmTrên tay Phật Thích càng thêm thánhDưới gót Phan Thi chẳng kể phàmQuân tử hay hoa ai biết chẳngNgàn thu ruột đắng với lòng thơm ”. ( Phan Bội Châu – Hoa sen ) Ta thấy, trong những cụ thể tạo hình ln có sự mã hóa những tư tưởng, xúc cảm xã hội thẩm mỹ. Mỗi thời kỳ lịch sử vẻ vang, văn học thẩm mỹ và nghệ thuật những dân tộc bản địa, những mô hình, thể loại, tác giả đều có cách mãhóa khác nhau tạo thành ngôn từ nghệ thuật và thẩm mỹ riêng cho từng trường hợp. Chẳng hạn trong văn họcdân gian Nước Ta thì hình ảnh “ thuyền ” tượng trưng cho sự ra đi ( thường là người con trai ), nhưtrong bài ca dao : “ Thuyền về có nhớ bến chăng ? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền ”. Hoặc số phận nổi nênh, cuộc sống vô định của con người ( đặc biệt quan trọng là người phụ nữ ) : “ Lênh đênh một chiếc thuyền tìnhMười hai bến nước gửi mình vào đâu ? ” Nhưng trong văn học phương Tây, “ thuyền ” lại mang ý nghĩa là sự phiêu du của linh hồn sang thếgiới bên kia. Hiểu như vậy, tất cả chúng ta mới giải thuật được hình ảnh “ thuyền hồn ” trong bài thơ “ 14 tháng 7 ” của nhà thơ Tố Hữu : “ Thuở oanh liệt của muôn đời tắt nghỉ ! Ta nhắm mắt để thời hạn trên míChở thuyền hồn lên những bến bờ quaCửa nay ta lại tới cắm thuyền taGiữa những tiếng reo hò dân nước Pháp ” Hoặc trong những câu thơ sau của Huy Cận : 10 “ Da chiều mới tỏ sao hômMàu thanh thiên đã và ôm giữa hồnGiữa trời hình lá con conTrời xa sắc biển, lá thon mình thuyềnGió qua là ngọn triều lênHiu hiu gió đẩy thuyền lên biển trờiChở thuyền lên tận chơi vơiTrăm chèo của nhạc, muôn lời của thơQuên thân như đã quên giờTê mê cõi biếc, bến bờ là đâu ”. ( Trông lên ) Như vậy, muốn hiểu, nhất là hiểu đúng đắn, thâm thúy hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ thì người đọc phải cómột vốn văn hóa truyền thống nhất định mới hoàn toàn có thể giải thuật, sở hữu ngôn từ thẩm mỹ và nghệ thuật vốn không đơn thuần. Hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật vừa là sự phản ánh, nhận thức đời sống ; lại vừa là một hiện tượng kỳ lạ kýhiệu tiếp xúc. Bản chất của hiện tượng kỳ lạ ký hiệu tiếp xúc có khuynh hướng cố định và thắt chặt hóa ; trở thành cơngthức sáo mịn. Bản chất sự phản ánh nhận thức có xu thế tìm tịi cái mới, phát hiện cái độc lạ. Từ đó diễn ra q trình thường xun thay đổi và cắt nghĩa lại ký hiệu, phát minh sáng tạo ký hiệu mới. Chẳnghạn hình ảnh cây đa trong ca dao Nước Ta thường tượng trưng cho sự không thay đổi, lâu bền hơn, bền vững và kiên cố : “ Cây đa cũ, bến đị xưaBộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ ”. Và : “ Trăm năm đành lỗi hẹn hòCây đa bến cũ, con đị khác đưa ”. Nhưng cũng có khi hình ảnh cây đa lại mang ý nghĩa trọn vẹn trái ngược : “ Cây đa trốc gốc trơi rồiĐị đưa bến khác, anh ngồi đợi ai ? ” Chính sự đổi khác, phát minh sáng tạo ký hiệu mới là nguồn gốc tạo ra mối quan hệ giữa cái lặp lại và cáikhông tái diễn, cái như thật và cái ước lệ trong thẩm mỹ và nghệ thuật. Quy trọn thực chất thẩm mỹ và nghệ thuật vào ký hiệulà hạ thấp vai trò nhận thức và phát minh sáng tạo của nó. Điều thiết yếu là đi vào đời sống mới làm cho thếgiới thẩm mỹ và nghệ thuật đa dạng chủng loại và luôn luôn thay đổi, mê hoặc. 3.4 Hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ là một quan hệ xã hội thẩm mỹNghệ thuật là sự kết tinh những kinh nghiệm tay nghề quan hệ của con người ; do đó cấu trúc của hìnhtượng là một quan hệ xã hội thẩm mỹ. Đặc trưng của hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật khơng giản đơn chỉ làsự thống nhất giữa cái riêng biệt, đơn cử, cảm tính và cái chung, khái quát, lý trí mà chính là ở chỉnhthể những quan hệ xã hội thẩm mỹ được biểu lộ. Trước hết là quan hệ giữa quốc tế thẩm mỹ và nghệ thuật vớithực tại mà nó phản ánh ; thứ đến là quan hệ của tác giả với đời sống trong tác phẩm, quan hệ giữatác giả với người tiếp đón, quan hệ giữa hình tượng và ngơn ngữ ; sau cuối là quan hệ giữa cácyếu tố trong bức tranh đời sống. Chính cái phức tạp quan hệ này tạo thành hạt nhân cấu trúc của tácphẩm nghệ thuật và thẩm mỹ. Bức tranh nghệ thuật và thẩm mỹ khởi đầu từ cái khung, vở diễn mở màn từ bục lên sân khấu, tác phẩm vănhọc mở màn từ những câu chữ tiên phong. Khung là số lượng giới hạn phân biệt hình tượng và đời sống nhưngcũng vì thế mà tạo nên sự so sánh cái được miêu tả và sự miêu tả. “ Truyện Kiều ”, trước hết làtruyện được lưu truyền trong nhân gian : “ Cảo thơm lần giở trước đènPhong tình cổ lục cịn truyền sử xanh ”. nhưng khi phát minh sáng tạo, Nguyễn Du đã kể lại trong đối sánh tương quan chuyện đời người, nhất là phận hồngnhan ; gợi nhiều suy tư, trăn trở, đớn đau, nhức nhối : “ Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trơng thấy mà đau đớn lịng. Lạ gì bỉ sắc tư phong, 11T rời xanh quen thói má hồng đánh ghen ”. Đó là câu truyện đơn cử về cuộc sống đầy thảm kịch của nhân vật chính Vương Thúy Kiều. Chính quanhệ giữa truyện “ cổ lục ” và quan hệ đời người “ những điều trông thấy ” xen kẽ vào nhau làm chocấu trúc tác phẩm được nâng lên một tầm cao mới so với tác phẩm “ Kim Vân Kiều truyện ” củaThanh Tâm Tài Nhân. Nguồn gốc tác phẩm từ truyện Trung Quốc năm Gia Tĩnh triều Minh nhưngsự hiểu đời, hiểu người đã giúp Nguyễn Du biến câu truyện tình khổ thành khúc bi ca tân khổthương người bạc mệnh ; qua đó trình diễn “ những điều trông thấy ”, đặc biệt quan trọng những đau đớn, phẫnnộ về tiến trình lịch sử vẻ vang đầy dịch chuyển cuối Lê – đầu Nguyễn. Đem một tiểu thuyết chương hồi dunglượng nhỏ ( 20 hồi ) về tài tử giai nhân mang đậm truyền thống cuội nguồn mỹ học phong kiến chính thống, phổvào hình thức truyện thơ Nôm lục bát giàu chất tiểu thuyết và tính trữ tình, nhà thơ đã tạo một quanhệ giữa hai dịng văn hóa truyền thống. Các quan hệ đó bộc lộ vào những quan hệ bên trong của những tuyến nhânvật, những diễn biến đơn cử tạo nên nghệ thuật và thẩm mỹ đặc trưng của hình tượng tác phẩm. Nguyễn Du đã dụngcơng lược bỏ những chi tiết cụ thể về mưu mẹo, sự trả thù tàn khốc, một số ít cụ thể dung tục trong tác phẩm “ Kim Vân Kiều truyện ” ; đổi khác thứ tự kể, phát minh sáng tạo thêm một số ít chi tiết cụ thể mới để tạo ra một thế giớinhân vật sôi động như thật ; biến những sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng người dùng để thể hiện cảmxúc, tâm lý của nhân vật và người kể ; chuyển trọng tâm của truyện từ kể vấn đề sang biểu hiệnnội tâm nhân vật, làm cho những nhân vật đơn cử, sinh động, thâm thúy hơn rất nhiều. Tất cả những điềuđó đã góp thêm phần tạo nên thành công xuất sắc của siêu phẩm “ Đoạn trường tân thanh ”. Như vậy, ta thấy khôngthể hiểu đúng đặc trưng thẩm mỹ và nghệ thuật, tư tưởng nếu đóng khung sự quan sát trong khoanh vùng phạm vi diễn biến. Bởi nếu chỉ thế thì tác phẩm của Nguyễn Du khác gì, giá trị gì hơn truyện của Thanh Tâm TàiNhân ? Mặt khác, chính những quan hệ trên chi phối sự tạo thành bộ mặt đơn cử của những hình tượngnhân vật. Các nhân vật chính diện được ra mắt như những đại diện thay mặt của lý tưởng, tham vọng, khátvọng ; của những “ đấng, bậc ” trong xã hội phong kiến ( Đạm Tiên là đấng “ tài hoa ”, Thúy Kiều là “ bậc bố kinh ”, Kim Trọng là “ bậc tài danh ”, Từ Hải là “ đấng anh hùng ” … ) nhưng thực ra họ đượcthể hiện như những người rất thân mật đời thường. Nàng Kiều dù rất muốn trao duyên cho Thúy Vânnhưng khi duyên vừa trao đi thì nàng lại rơi vào tâm trạng khủng hoảng cục bộ, bộn bề trăm nỗi đauđớn, bẽ bàng. Nàng khổ đau, nuối tiếc bội phần khi so sánh cuộc sống mình và em gái, nàng cảmthấy mình là người mệnh bạc, cảm thấy mình rất thiệt thịi, đáng thương ( mất tình nhân, giờ mấtluôn kỷ vật và tưởng tượng tương lai khi sang quốc tế bên kia, nàng trở nên như một oan hồn khơngdễ gì giải kiếp, giải nỗi oan tình ) : “ Chiếc vành với bức tờ mây, Duyên này thì giữ, vật này của chung. Dù em nên vợ nên chồng, Xót người mệnh bạc, ắt lịng chẳng qn ! Mất người cịn chút của tin, Phím đàn với mảnh hương nguyền rất lâu rồi. Mai sau dù có khi nào, Đốt lị hương ấy, so tơ phím này. Trơng ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về. Hồn cịn mang nặng lời thề, Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai. Dạ đài cách mặt khuất lời, Rảy xin chén nước cho người thác oan ”. Hoặc nhân vật Từ Hải hiện lên là sự tổng hợp của những đặc thù vừa xuất chúng vừa lại rấtđời thường. Đó là một võ tướng với : “ Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao. Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài. Đội trời, đạp đất ở đời, Họ Từ, tên Hải, vốn người Việt Đông. 12G iang hồ quen thói vẫy vùng, Gươm đàn nửa gánh, non sơng một chèo ”. Ta thấy, từ ngoại hình, tính cách, võ nghệ tới kĩ năng, khí phách, sự nghiệp … Từ đều biểu lộ mìnhlà đấng anh hùng – toàn bộ đều khác thường. Bởi lẽ, chàng là hiện thân của lý tưởng, khát vọng tự do, công minh, bác ái cho những người bé mọn, bị áp bức. Chàng tơn thờ chính nghĩa, không chịu khuấtphục trước cường quyền, đấm đá bạo lực ; coi khinh triều đình mục ruỗng, thối nát đương thời. Nhưng ởmột góc nhìn nào đó, Từ lại rất thân thiện, đời thường của một khách đa tình, cũng nghiêng ngả trướcvẻ đẹp khuynh thành của trang quốc sắc thiên hương, đúng là anh hùng cũng không hề qua ải mỹnhân. Chàng đã “ lâu nay nghe tiếng má đào ” và ghé đến lầu xanh, khi gặp mặt thì : “ Hai bên cùng liếc, hai lịng cùng ưa ”. Nàng Kiều tuyệt mỹ có “ tấm lịng nhi nữ ” đã làm “ xiêu anh hùng ” trong tích tắc “ bắt đầu lưuluyến ấy ”. Nguyễn Du đã miêu tả Từ thật sinh động, bình dị như bao người đàn ơng khác trongcuộc sống hằng ngày. Ta thấy, chính những quan hệ đa dạng chủng loại, phức tạp bên trong, bên ngoài đã xáclập tính hình tượng độc lạ và tính khái qt của nhân vật trong “ Truyện Kiều ” nói riêng, tác phẩmnói chung. Trong bài thơ “ Tiếng hát sông Hương ”, Tố Hữu lại biểu lộ mối quan hệ giữa nhà thơ và côgái giang hồ có quá khứ nhơ nhuốc, đầy mặc cảm : “ Thuyền em rách nát nátMà em chưa chồng. Em đi với chiếc thuyền không, Khi mơ vơ bến rời dịng dâm ơ ? Trời ơi, em biết khi mơ, Thân em hết nhục giày vị năm canh. Tình ơi gian dối là tìnhThuyền em rách nát, cịn lành được khơng ? Bài thơ mở đầu từ dịng Hương Giang : Trên dịng Hương Giang, Em buông mái chèo ”. sau cuối lan rộng ra ra viễn cảnh tồn quốc tế với “ gió mới ngàn phương ”, với thay đổi triệt để từtrong đến ngoài và sau cuối quy lại về dịng sơng Hương với một kỳ vọng mới : “ Răng không, cô gái trên sông, Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài. Thơm như hương nhụy hoa lài, Sạch như nước suối ban mai giữa rừng. Ngày mai gió mới ngàn phương, Sẽ đưa cô đến một vườn đầy xuân. Ngày mai trong giá trắng ngần, Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ. Ngày mai bao lớp đời dơ, Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay. Cô ơi, tháng rộng ngày dài, Mở lịng ra đón ngày mai huy hồng. Trên dịng Hương Giang … ” Tính hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ khơng khi nào bộc lộ qua việc tái hiện cái giản đơn, đơn cử, cảmtính mà biểu lộ qua quan hệ phong phú và đa dạng, phức tạp, lý tính, chồng nén, đối xứng ; thơng qua nhữnghình ảnh so sánh, ẩn dụ, hốn dụ, nhân hóa, trùng điệp … tạo thành những phức tạp quan hệ mangnội dung khái quát. Chỉ trong quan hệ đời sống thì chi tiết cụ thể mới trình diện ý nghĩa kín kẽ của nó. Chẳng hạn bài “ Tiến sĩ giấy ”, tác giả đã mơ tả rất chi tiết cụ thể hình ảnh ơng nghè tháng tám : “ Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đaiCũng gọi ông nghè có kém ai. Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi. 13T ấm thân xiêm áo sao mà nhẹ ? Cái giá khoa danh ấy mới hời ! Ghế chéo, lọng xanh, ngồi bảnh chọe ”, Đọc bài thơ, ta liên tưởng đến một thứ đồ chơi của trẻ nhỏ Nước Ta thời xưa. Vào những ngày Tết, nhất là Tết Trung Thu, cha mẹ thường mua cho trẻ nhỏ hình tiến sỹ bằng giấy màu. Đây khơng chỉđơn thuần là đồ chơi mà nó cịn có ý nghĩa giáo dục trẻ nhỏ nỗ lực học tập để tương lai hoàn toàn có thể ghidanh trên bảng vàng tiến sỹ. Đó là tầng nghĩa đen của bài thơ. Điều mê hoặc chính là ý nghĩa đa tầngthâm thúy của thi phẩm. Tầng nghĩa bóng thứ nhất gợi liên tưởng đến loại tiến sỹ “ bằng xương bằngthịt ”, có học hàm, học vị hẳn hoi nhưng họ khác gì tiến sỹ giấy bởi “ thân giáp bảng ”, “ mặt vănkhôi ” chẳng qua cũng chỉ là hiệu quả của gian trá “ chạy chọt ” bằng thế lực, tiền tài … Ở tầng nghĩabóng thứ hai, tác phẩm gợi liên tưởng đến những ơng tiến sỹ có bằng cấp thật sự, mang danh tiến sỹ, áo mão xênh xang nhưng kĩ năng, đức độ chẳng ra gì ; do vậy bằng tiến sỹ của họ chẳng giá trị gì ; họ cũng khác gì “ tiến sỹ giấy ”. Ý thơ còn gợi liên tưởng tới tầng nghĩa bóng thứ ba về những ngườikhốc trên mình xiêm áo ông nghè nhưng họ không biết hoặc không hề đem tài, đức ra giúp íchcho dân nước thì bằng cấp của họ cũng thành vơ dụng ; đó cũng là một kiểu “ tiến sỹ giấy ”. Trong sốquan lại triều đình nhà Nguyễn cuối thế kỷ XIX khơng thiếu loại “ tiến sỹ giấy ” này. Đó là những kẻsợ giặc, trốn tránh hay hèn nhát đầu hàng ; những kẻ ham danh lợi, muốn “ vinh thân phì gia ” ngoanngỗn làm tay sai cho Pháp. Nếu những tầng nghĩa vừa nêu gợi tiếng cười hướng ngoại chế giễu, đảkích thì đến tầng nghĩa thứ tư, tứ thơ lại gợi tiếng cười tự trào hướng nội chua xót, đắng cay củaTam Nguyên Yên Đổ : dù học tập, đỗ đạt bằng chính thực tài của mình ; nhiệt huyết góp sức chodân nước ln cháy bỏng ; nhưng Nguyễn Khuyến sau một thời hạn làm quan cho nhà Nguyễn cũngđành lui về ở ẩn, vui thú điền viên trong khắc khoải, đắng cay lúc vận nước nguy ngập, điêu linh. Ngẫm kỹ, ơng tự xếp mình cũng là một dạng “ tiến sỹ giấy ”. Và hình tượng nổi lên từ câu cuối càngtô đậm nỗi buồn, niềm đau như những tri thức thanh cao vì cảm thấy mình bất tài, vơ dụng : “ Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi ”. Ta thấy, phức tạp quan hệ làm cho hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ mang một nội dung hàm súc, đanghĩa, nhiều dư ba mà cổ nhân thường nói : ý tại ngơn ngoại, lời hết mà ý vô cùng, điểm – diện, nhấtđiểm – vạn điểm … hay như nhà văn E. Hemingway đã từng đề cập đến yếu tố này trong nguyên lý “ Tảng băng trôi ” so với sáng tác và tiếp đón tác phẩm văn chương : “ … bảy phần tám của tảngbăng chìm dưới nước, chỉ có một phần tám là nổi lên. Mọi điều anh biết anh hoàn toàn có thể vô hiệu nó đi vànó chỉ hoàn toàn có thể củng cố thêm cho tảng băng của anh. Đó là phần khơng nổi lên. Nếu nhà văn bỏ sótmột cái gì đấy chính do anh ta khơng biết thì sẽ có một lỗ hổng trong tác phẩm ”. Theo nguyên lý này, phần nổi là những trang sách tác giả viết, phần chìm được hiểu theo nhiều cách. Có thể hiểu phầnchìm là thẩm mỹ và nghệ thuật tổ chức triển khai tác phẩm, từ những đơn vị chức năng cấu thành tác phẩm như một chỉnh thể sẽ xuấthiện “ ý tại ngôn ngoại ”, sẽ tạo ra một mạch ngầm văn bản, một dòng chảy đa nghĩa dưới mặt phẳng vănbản ngơn từ. Cũng hoàn toàn có thể hiểu phần chìm là tồn bộ kho dự trữ kiến thức và kỹ năng của tác giả hoặc là nhữngcách đồng phát minh sáng tạo tích cực của người đọc. Iu. Lotman đã từng chứng minh và khẳng định : “ Tính đa nghĩa là điềukiện để văn bản văn học hoạt động giải trí một cách thẩm mỹ và nghệ thuật ”. Tạo được mạng lưới hệ thống phức tạp quan hệphong phú, ngặt nghèo sẽ quyết định hành động mức độ mê hoặc, thành công xuất sắc của tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật. Đối với hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ trong văn học cần chú ý quan tâm 1 số ít góc nhìn sau đây. Thứ nhất, hình tượng văn học là quốc tế đời sống do ngôn từ gợi lên trong tâm lý người đọc. Cách nói nàynêu 1 số ít góc nhìn khác với cách nói hình tượng là bức tranh hiện thực. Nói là bức tranh hiệnthực thì người ta liên hệ ngay với hiện thực, coi nhẹ đặc thù ngơn từ ; cịn nói quốc tế do ngơn từgợi lên thì người ta phải khai thác ngơn từ để chớp lấy hình tượng. Thứ hai, hình tượng văn học làphương tiện tiếp xúc đặc trưng, truyền cảm, diễn đạt ý nghĩa nhằm mục đích giao lưu giữa người với người. Với ý nghĩa này, hình tượng khơng giản đơn chỉ là sự phản ánh đời sống mà còn là mạng lưới hệ thống ngơnngữ – ký hiệu có giá trị miêu tả nội dung tư tưởng, nghệ thuật và thẩm mỹ. 3.5 Tính thẩm mỹ và nghệ thuật của hình tượngTóm lại, hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật khác hình tượng phi thẩm mỹ và nghệ thuật hay giả thẩm mỹ và nghệ thuật ở sứctruyền cảm can đảm và mạnh mẽ, sự thức tỉnh tư tưởng lớn lao, ở năng lực hấp dẫn con người tham gia vào đờisống xã hội. Hấp dẫn là một tín hiệu quan trọng của hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ. D. Diderot đã từng nóivới nghệ sĩ : “ Trước hết, anh phải làm cho tơi cảm động, kinh hoàng, đê mê ; anh phải làm cho tôi14sợ hãi, run rẩy, rơi lệ hay căm hờn ” ( Bàn về hội họa ). Sức hấp dẫn vĩnh viễn, đích thực khơng bao giờlà tác dụng của những hình thức tiểu xảo rẻ tiền, những pha gay cấn, xích míc giả tạo. Nó gắn liềnvới chân lý đời sống, lý tưởng cao đẹp và sự biểu lộ năng lực của người nghệ sĩ. Không phải ngẫu nhiên mà ngôn từ nước nào cũng gọi đặc trưng nghệ thuật và thẩm mỹ bằng những từ “ sống ”, “ sinh động ”, “ tự nhiên ” … Đó là vì nó chứng tỏ sự tương thích cao nhất giữa hình thức nghệthuật với nội dung đời sống bên trong. Cái khó nhất của nghệ thuật và thẩm mỹ là làm thế nào để sự sống hiệnhình qua pho tượng nhưng khơng chết cứng cùng khối đá ; hiện hình qua bức tranh nhưng khơng bịđóng khung trên mặt vải ; hiện hình qua bài thơ nhưng khơng chấm hết cùng con chữ … Tính sinhđộng mở màn ở năng lực từ một số ít cụ thể hữu hình rất ít mà hoàn toàn có thể gợi lên rõ ràng một chỉnh thể. Sựthống nhất giữa ẩn – hiện, thực – hư … rất quan trọng. Nhiều trường hợp ở chỗ những phần im re, để trống … lại quan trọng, có nhiều ẩn ý, nói được rất nhiều. Trong truyện ngắn “ Vợ nhặt ”, Kim Lânđã có chủ ý khi cho nhân vật Tràng và nhất là nhân vật bà cụ Tứ có nhiều lúc im re, nhiều khoảnglặng ( tác giả dùng những dấu ba chấm ) góp thêm phần bộc lộ tính cách nhân vật, biểu lộ chủ đề tácphẩm. Đối với bạn đọc những khoảng trống này sẽ gợi nhiều suy tư, xúc cảm ; biến fan hâm mộ thànhnhững chủ thể đồng phát minh sáng tạo cùng tác giả. Trong tác phẩm, nhân vật Tràng biết việc mình “ nhặt vợ ” đưa về nhà một cách giật mình, chưa được phép của mẹ là việc sai lầm, dễ làm bà cụ Tứ nổi giận ; nênanh đã ngần ngại, thanh minh một cách chân thành, có phần tội nghiệp : “ – Nhà tơi nó mới về làm bạn với tơi đấy u ạ ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp vớinhau … Chẳng qua nó cũng là cái số cả … Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lịng người mẹ bần hàn ấy còn hiểu ra biết baonhiêu cơ sự, vừa ai ốn vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ơi, người ta dựng vợ gảchồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Cịnmình thì … Trong khóe mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dịng nước mắt … Biết rằng chúng nó cóni nổi nhau sống qua được cơn đói khát này khơng ? Bà lão khẽ thở dài ngẩng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tàáo đã rách nát bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ : Người ta có gặp bước khó khăn vất vả, đói khổ này, người tamới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được … Thơi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lolắng được cho con … May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nón bề nó, chẳng may ra ơng giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được ? ” Tính sinh động của hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật khơng chỉ là hiệu suất cao của việc tái hiện giản đơnmà gắn liền với sự khơi gợi cảm hứng, khái quát tư tưởng, truyền đạt nhân sinh quan, quốc tế quancủa tác giả. Trong bài thơ “ Vịnh khoa thi hương ”, Trần Tế Xương đặc tả thành công xuất sắc sự nghênhngang, lố bịch … của những nhân vật đại diện thay mặt cho quân địch xâm lược : “ Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra ”. Theo lịch sử dân tộc, kỳ thi năm đinh dậu 1897 có vợ chồng tồn quyền Đơng Dương và vợ chồngcơng sứ Tỉnh Nam Định đến dự. Những kẻ xâm lược thống trị được tác giả miêu tả sinh động qua khungcảnh nghênh tiếp sang chảnh, rầm rộ ( lọng … rợp trời ). Nhưng qua cách dùng từ rất đắt của Tú Xương, tất cả chúng ta càng thấy rõ tư tưởng, xúc cảm mà tác giả gửi gấm : “ quan sứ ” – cách gọi thoạt nghe thì tơnkính nhưng nghĩ kỹ lại có vẻ như gì bất kính ; đặc biệt quan trọng ông dùng từ “ mụ đầm ” để gọi vợ quan lớn lạicàng biểu lộ sự tầm thường, coi khinh ( nhất là khi phối hợp với hai từ “ váy lê ” phía trước ). TúXương đã chửi rủa chúng một cách sắc bén, sâu cay. Bọn thực dân thống trị hiện lên là một lũ TâyDương mà ông khinh bỉ, chán ghét tận cùng. Hình ảnh khoa thi hương Đinh dậu chính là hiện thânmột góc xã hội Nước Ta thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX mà Tú Xương muốn miêu tả, chế giễu ; vừa nực cười, vừa đau đớn trong cái nhìn tinh tế hiếm có. Theo G. W. F. Hegel, “ sự vật sinh thành vừa là chính nó, vừa là cái khác ; cịn sự vận độngthì vừa ở một chỗ, vừa khơng ở chỗ đó ”. Miêu tả con người, sự vật như thể nó, lại vừa khơng phải lànó ; vừa giống lại vừa không giống là phương tiện đi lại vô cùng quan trọng của tính sinh động. Chẳnghạn khi Lê Anh Xuân sáng tác bài thơ “ Dáng đứng Nước Ta ” : “ Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt, Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng lên xác trực thăng. Và Anh chết trong khi đang đứng bắn15Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng. Chợt thấy Anh, giặc hoảng loạn xin hàngCó thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn. Bởi Anh chết rồi nhưng lòng gan góc, Vẫn đứng đàng hồng nổ súng tiến cơng. Anh tên gì hỡi Anh yêu quý, Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng, Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ, Mà vẫn một màu bình dị sáng trong. Khơng một tấm hình, khơng một dịng địa chỉ, Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường, Chỉ để lại cái dáng đứng Nước Ta tạc vào thế kỷ. Anh là chiến sỹ giải phóng qn. Tên Anh đã thành tên Đất Nước. Ơi Anh giải phóng quân ! Từ dáng đứng của Anh giữa đường sân bay Tân Sơn NhứtTổ Quốc bay lên bát ngát mùa xuân ”. thì Anh giải phóng qn khơng chỉ là hình ảnh người chiến sỹ quyết tử ở phi trường Tân Sơn Nhứttrong chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 mà hình tượng đã chuyển hóa thànhbiểu tượng của những anh hùng liệt sĩ trong thời chống Mỹ ; hơn thế, trở thành bức tượng đài “ dángđứng Nước Ta tạc vào thế kỷ ” rất đỗi tự hào ! Cũng như Phạm Tiến Duật viết “ Nhớ ” : “ Cái vết thương xoàng mà đi viện, Hàng cịn chờ đó, tiếng xe reo. Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến, Nơn nao ngồi dậy nhớ sống lưng đèo ”. thì không chỉ đặc tả nỗi nhớ, niềm đau của người chiến sỹ lái xe vì bị thương khơng được ngồi sautay lái, chở những chuyến hàng tiếp tế cho tiền tuyến ; đằng sau đó là ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm cao độ, nỗi khát khao hồn thành trách nhiệm, tình thương đồng đội thâm thúy của một thương bệnh binh giàu lòngyêu nước. Ta chợt liên tưởng đến bài thơ “ Đêm trắng ” của nhà thơ – liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc vớinhững vần thơ đầy tâm trạng : “ Đêm của anh xếp kín đầy bom đạnPháo sáng chập chờn trộn trạo với sao saĐêm của anh trong tầm bom rơiKhông thể ngủ nên đêm thành đêm trắngĐêm bão thép chất chứa nhiều sâu lắngBà mẹ sinh con trai trong mờ tối căn hầmNhững đêm hôm thành cột mốc tháng nămĐêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắngĐêm thao thức đón chờ ánh sángĐêm của tất cả chúng ta ấp ủ những mặt trời ”. Với người lính trẻ, đêm trắng là những đêm dài thao thức, không riêng gì đơn thuần là bóng tối vớinhững đêm khơng ngủ ; mà ở tầng sâu, đó chính là những đêm quyết liệt của cuộc chiến tranh diệt trừ, ngập tràn xúc cảm với nhiều cung bậc, sắc thái phức tạp của tình riêng – lịng chung : lo ngại, sợ hãi, căm thù …, kỳ vọng vào một ngày thắng lợi và chứa đựng cả sự khắc khoải, nhớ thương người ubé nhỏ phương xa khó lịng gặp lại. Đúng như Tề Bạch Thạch đã từng viết về nghệ thuật và thẩm mỹ “ hay ởchỗ vừa giống vừa không giống ; không giống quá thì dối đời, giống quá thì mị đời ”. Nhân vật hấpdẫn, sôi động không khi nào một chiều, cứng ngắc mà biến hóa giật mình, thậm chí còn khó lường. Người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa ” ( Nguyễn Minh Châu ), lúc đầuhiện lên là một người yếu ớt, nhẫn nhục, cam chịu khi bị người chồng vũ phu đánh đập tàn ác : “ Lão đàn ông lập tức trở nên hoành tráng, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của16lính ngụy thời xưa, có vẻ như như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằnglão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào sống lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống, lão lạinguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn : “ Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi choông nhờ ! ”. Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chốngtrả, cũng khơng tìm cách trốn chạy ”. Nhân vật càng hiện lên khó hiểu hơn khi chánh án Đẩu mờilên tịa án huyện mà bà đốn là bắt mình bỏ chồng, bà hết lời van xin : “ Con lạy quý tòa … Quý tòabắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó ”. Càng về sau, người đàn bàcàng trở nên can đảm và mạnh mẽ, nhanh gọn, thâm thúy, có phần tinh tế : “ Chị cám ơn những chú ! … Đây là chịnói thành thực, chị cám ơn những chú. Lòng những chú tốt nhưng những chú đâu có phải là người làmăn … do đó những chú đâu có hiểu được cái việc của những người làm ăn lam lũ khó nhọc … ”. Đặc biệtkhi trình diễn ngun nhân mình khơng muốn bỏ chồng thì nhân vật càng bộc lộ cái nhìn đúngđắn, đồng cảm ( của một người tầm trung, ít học ; tất yếu có phần thiếu sót, thiển cận theo suy nghĩcủa tất cả chúng ta ), thương con vơ bờ, đáng q ! Bà nói sau khi ngẫm nghĩ hồi lâu : “ Mong những chú cáchmạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ơng để chèochống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sấp con nhà nào cũng xấp xỉ chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn do đó phải gánhlấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ khơng thể sống cho mình như ở trênđất được ! Mong những chú lượng tình cho cái sự lỗi thời. Các chú đừng bắt tơi bỏ nó ! ”. Khơng chỉ ởnhân vật này, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể thấy nhiều nhân vật được tác giả kiến thiết xây dựng đơn cử, sinh động như vậy. Kiên cường như Pavel Korchagin ( Thép đã tôi thế đấy – N. Ostrovsky ) cũng có phút giây chĩa họngsúng đen ngòm lên thái dương muốn tự tử trong cơn bế tắc. Mỵ ( Vợ chồng A Phủ – Tơ Hồi ), tưởngchỉ biết cúi đầu câm lặng “ như con rùa nuôi trong xó cửa ”, như bóng ma trong nhà thống lý bỗngmạnh mẽ vùng lên cắt nút dây mây cứu thoát cho A Phủ cũng như giải thốt cho chính cuộc đờimình … Chân lý nghệ thuật và thẩm mỹ là chân lý về quan hệ, nó khơng khách quan hờ hững như chân lý kháchthể. Đó là chân lý làm kinh ngạc, sững sờ, khao khát. Không phải vô cớ mà Chế Lan Viên viết vềnhững cảm hứng này : “ Tinh mơ là trận đánh công đồnNhà xa, trận lớn, hành quân gấpChợp mắt bay về hôn mặt con ”. ( Đêm ra trận ) “ Chỉ một nhành hoaTôi sững sờ ”. “ Đất này xưa giặc chiếm khơng hoaTơi vui lịng đổi trăm người khácLấy nhánh hồng đây, nở chậm mùa ”. ( Cành hoa nhỏ ) “ Chao ôi ! Mong nhớ ! Ôi mong nhớ ! Một cánh chim thu lạc cuối ngàn ”. ( Xuân ) “ Chao ơi ! Thu đã tới rồi sao ? Thu trước vừa mới qua mới độ nào ! Mới độ nào đây hoa rạn vỡNắng hồng choàng ấp dãy bàng cao. Thu đến đây ! Chờ, mới nói răng ? ” ( Thu ) “ Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét ”. ( Tiếng hát con tàu ) Ta thấy, Chế Lan Viên thường dùng những từ cảm thán hoặc những từ ngữ, tín hiệu thể hiện rõ sắcthái biểu cảm như : giật mình, sững sờ, chao ơi, chao ơi, rồi sao, bỗng ; những dấu chấm than, chấm17hỏi … đã làm cho sự biểu lộ sinh động hơn, nhất là phần cảm xúc ; đồng thời ghi đậm dấu ấn tácgiả. Nghệ thuật là sự khắc phục khó khăn vất vả. Nó thống nhất được trong mình những xích míc loạitrừ tưởng như không khắc phục nổi : riêng biệt và khái quát, tự nhiên và tự tạo, vật chất và sự sống, tình cảm và lý trí, hài hòa và hợp lý và nghịch lý. Nghệ thuật là sự hòa giải trong cái hỗn tạp, là cái thống nhấtgiữa sự phong phú. Tính thẩm mỹ và nghệ thuật làm tích cực hóa năng lực cảm thụ của con người, nâng họ lênhàng nghệ sĩ ; chứng minh và khẳng định vai trò chủ thể của con người trước quốc tế. Vì vậy, đó là một đặc tínhtiêu biểu của văn nghệ với tư cách là một hình thái ý thức xã hội – nghệ thuật và thẩm mỹ. Tính thẩm mỹ và nghệ thuật đadạng như bản thân thẩm mỹ và nghệ thuật. Tiêu chuẩn sau cuối của nghệ thuật và thẩm mỹ là sự thống nhất hồn mỹ giữanội dung và hình thức, là sức gây ấn tượng mang tính tư tưởng của hiện tượng kỳ lạ đời sống, phản ánhđược hiện thực phong phú của hoạt động tiến hóa khơng ngừng của nó. 18C ÂU HỎI ÔN TẬP1. Đặc trưng của văn nghệ bộc lộ ở đối tượng người dùng, nội dung như thế nào ? 2. Trình bày hiểu biết về hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật. 3. Mối liên hệ hữu cơ giữa đối tượng người tiêu dùng, nội dung, phương pháp sống sót của văn học nói riêng, văn nghệ nói chung. 4. Phân tích mối liên hệ giữa hiện thực khách quan – hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ và nghệ sĩ. 5. Cảm nhận về hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật trong một tác phẩm văn học yêu quý. TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Hà Minh Đức ( Chủ biên ), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn VănNam, Đồn Đức Phương, Trần Khánh Thành và Lí Hồi Thu. ( 1995 ). Lí luận văn học ( Xuất bản lầnthứ hai ). Thành Phố Hà Nội : Nhà xuất bản Giáo dục đào tạo. 2. Heghen. ( 2005 ). Mỹ học. ( Phan Ngọc ra mắt và dịch ). TP. Hà Nội : Nhà xuất bản Văn học. 3. Khrapchenko, M.B. Sáng tạo nghệ thuật và thẩm mỹ hiện thực con người. 4. Phương Lựu ( Chủ biên ), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa và Lê Lưu Oanh. ( 2008 ). Lí luậnvăn học ( Tập 1, Xuất bản lần thứ hai ). Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. 5. Phương Lựu. Tiếp nhận văn học ( Tài liệu lưu hành nội bộ ). 19C hƣơng 2V ĂN HỌC VỚI HIỆN THỰC CUỘC SỐNGMục tiêu cần đạt : Người học cần nắm vững : – Lý luận về phản ánh theo thuyết phản ánh của V. I. Lenin – Tương quan giữa phản ánh với nhận thức, phản ánh với bộc lộ và phản ánh với sángtạo. * * * Văn học có đối sánh tương quan thâm thúy với hiện thực. Hiện thực đa dạng và phong phú, phức tạp, sống sót nhiềuvấn đề không dễ chớp lấy trải qua những kim chỉ nan khoa học thuần túy hay giải pháp trực quancụ thể. Văn học là một hình thái ý thức nghệ thuật và thẩm mỹ, đồng thời là mô hình khoa học – nghệ thuật. Vănhọc song hành xâm nhập, phản ánh, tò mò đời sống và phát minh sáng tạo để con người nhận thức tựnhiên, xã hội và bản thân chủ thể. Từ đó con người khuynh hướng thiết kế xây dựng tương lai, gợi mở hy vọnghạnh phúc cho mình và thôi thúc xã hội tân tiến, văn minh. 1. VĂN HỌC GẮN BÓ VỚI HIỆN THỰC CUỘC SỐNGCuộc sống hoạt động, tăng trưởng là quy luật tất yếu của sống sót. Do vậy, khi gắn bó, phản ánhcuộc sống ; vơ hình trung văn học đã đem đến cho đời sống những quyền lợi vô giá. Từ thời cổ đại, vào thế kỷ thứ I, Vương Sung – nhà tư tưởng duy vật ( Trung Quốc ) đã khẳng định chắc chắn : “ Có ích dụngcho đời thì trăm thiên cũng vơ hại ; khơng có ích dụng cho đời thì một chương cũng vơ bổ. Cịn nhưđến có ích dụng cả thì nhiều là hơn, ít là kém ”. Tư tưởng của Vương Sung cũng đồng thời lànguyên tắc sáng tác của nhiều tác giả nổi tiếng thời Trung Quốc cổ đại. Các tác phẩm như : “ Xuânthu ” ( Khổng Tử ), “ Mạnh Tử ” ( Mạnh Kha ), “ Hàn Phi Tử ” ( Hàn Phi ), “ Tân thư ” ( Lục giả ), “ Tânluận ” ( Hoàn Đàn ) đều viết về “ hữu vi ” chính là vì nhu yếu xã hội, vì đời sống con người. Lịch sửvăn học Trung Quốc thời gian trước Công nguyên là văn học Tiên Tần. Qua những khu công trình khaiquật khảo cổ hoàn toàn có thể chứng minh và khẳng định con người đã Open ở lưu vực Hoàng Hà khoảng chừng 40-50 vạn nămvề trước. Trải qua những triều đại Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ thì xã hội phân hóa ; đến đời nhà Hạ ( 2200 – 1800 tr CN ), xã hội chuyển sang chính sách nô lệ ; sau nhà Hạ là nhà Thương ( 1800 – 1100 tr CN ), nhà Chu ( 1100 – 770 tr CN ), thời Xuân thu ( 770 – 403 tr CN ), Chiến quốc ( 403 – 221 tr CN ). Văn hóaTrung Quốc đến đời Thương có văn “ Giáp cốt ” ( văn mai rùa và xương thú ). Từ thế kỷ thứ II tr CNtrở về trước là thời kỳ phơi thai của văn hóa truyền thống – văn minh Trung Quốc với những thành tựu xuất sắcvề triết học và văn học. Từ thế kỷ thứ II trở về sau, văn học Trung Quốc dần trưởng thành, đượcđánh dấu bằng tập thơ “ Kinh thi ”. “ Kinh thi ” là tập thơ tiên phong, tác phẩm nổi tiếng trong văn họccổ đại Trung Quốc, cũng là đối tượng người dùng điều tra và nghiên cứu của nhiều học giả Trung Quốc học và văn học. Nghiên cứu “ Kinh thi ”, Khổng Tử viết : “ Thơ hoàn toàn có thể làm phấn khởi ý chí, hoàn toàn có thể giúp quan sátphong tục, hịa hợp với mọi người, bày tỏ nỗi sầu ốn ; gần thì thờ cha, xa thì thờ vua ; lại biết đượcnhiều tên chim mng, cây xanh ” ( Dương hóa – Luận ngữ ). Những cơng trình nghiên cứu và điều tra “ Kinh thi ” ghi nhận sự phản ánh đa dạng và phong phú đời sống, nhằm mục đích biểu lộ tình ý của con người thuộc nhiều tầnglớp, giai cấp khác nhau trong xã hội. Những giá trị lớn lao của “ Kinh thi ” còn ảnh hưởng tác động đến nhiềutác giả, tác phẩm thuộc nhiều nghành nghề dịch vụ sau này ở Trung Quốc nói riêng, những nước đồng văn nóichung. Tình u thương con người, niềm tin phản kháng áp bức bất công đã hun đúc tinh hoa làmnên tư tưởng ưu quốc ái dân, chống cường quyền đấm đá bạo lực ; đặc biệt quan trọng giai cấp thống trị tham tàn bạongược như trong “ Sở từ ” của Khuất Nguyên. Giá trị hiện thực trong “ Kinh thi ” cũng được bộc lộ, nâng lên thành chuẩn mực để Trần Tử Ngang, Lý Bạch – những nhà thơ đời Đường đấu tranh chốnglại phong thái thơ diễm lệ, phù hoa tú Lục Triều ( từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ VI ). Trong lịch sử vẻ vang văn học Nước Ta, nền văn học viết Open khá muộn sau văn học dân gian. Văn học viết Nước Ta thời trung đại ( từ đầu thế kỷ thứ X – hết thế kỷ thứ XIX ) còn gọi là văn họcHán Nôm đã biểu lộ khá rõ dấu ấn hiện thực. Những tác phẩm nổi tiếng ở quá trình đầu ( từ đầu thếkỷ thứ X – nửa đầu thế kỷ XV ) như : bài thơ Thần ( Lý Thường Kiệt ? ), Hịch tướng sĩ văn ( Trần QuốcTuấn ), Cáo bình Ngơ ( Nguyễn Trãi ) và nhiều tác phẩm văn học sau này … được viết bằng chữ Hán một văn tự Nước Ta vay mượn của Trung Quốc. Sau này, dựa vào chữ Hán những nhà ngôn từ ViệtNam đã phát minh sáng tạo ra chữ Nôm – thứ chữ Nước Ta tiên phong nhằm mục đích ghi âm tiếng Việt ; từ đó chúng ta20

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập