CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT – Tài liệu text
tức là toàn bộ văn bản tác phẩm tự sự, ngoại trừ lời nói trực tiếp của các nhân vật”
[1, tr.324].
Cùng với quan điểm này là định nghĩa trong Giáo trình lí luận văn học do
GS. Phương Lựu chủ biên đã đưa ra cách hiểu về khái niệm trần thuật tương đối
thống nhất với cách hiểu trên: “Trần thuật là kể, thuyết minh, giới thiệu về nhân
vật, sự kiện, bối cảnh trong truyện. Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu
tả sự kiện, nhân vật theo một trình tự nhất định” [11, tr.19].
Qua các định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy: Trần thuật thực chất là hành vi
ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện, nhân vật theo một thứ tự nhất định, một cách
nhìn nào đó. Đây là yếu tố được sử dụng phổ biến trong các loại thể văn học,
song ở tác phẩm truyện, nó trở thành một tiêu điểm, một nguyên tắc chủ yếu để
xây dựng thế giới nghệ thuật. Trần thuật đòi hỏi phải có người kể. Chủ thể của lời
kể khi trần thuật phải xử lí mối quan hệ giữa chuỗi lời kể và nhân vật.
1.2. Vai trò của trần thuật đối với việc xây dựng truyện ngắn
Trong các loại thể văn học, truyện ngắn là thể loại văn học đặc biệt. Mặc dù
là hình thức tự sự cỡ nhỏ nhưng nó lại ln có “sức chứa” và “sức mở lớn”, “sự
sáng tạo của truyện ngắn là khơng cùng” (Vương Trí Nhàn). Vai trò quan trọng
của truyện ngắn trong đời sống văn học hiện đại là khả năng khám phá đời sống,
bộc lộ tư tưởng, tình cảm và tài năng của nhà văn. Trong sự đóng góp lớn của
truyện ngắn đối với đời sống văn học thì trần thuật giữvai trò quan trọng tạo nên
thế giới nghệ thuật của tác phẩm, tạo nên phong cách và cá tính sáng tạo của
người nghệ sĩ. Nói về điều này Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học
khẳng định: “Đóng vai trò quan trọng trong loại tác phẩm tự sự là trần thuật”.
Ơng còn xác định các thành phần cơ bản của nghệ thuật kể chuyện như sau: “Với
sự trợ giúp của trần thuật, miêu tả, bình luận, lời tác giả, lời nói nhân vật trong
các tác phẩm tự sự, cuộc sống được nắm bắt một cách tự do, sâu rộng”. Còn
Vương Trí Nhàn thì cho rằng: “Khả năng ôm trọn cuộc sống tiểu thuyết và truyện
ngắn bình đẳng như nhau”.
7
Có thể nói sự thành cơng của một tác phẩm văn học không chỉ là sự độc đáo
về nội dung mà còn ở cả phương diện hình thức mà trần thuật là yếu tố tạo nên
diện mạo của một tác phẩm tự sự ở cả hai phương diện đó.
Theo tác giả Trần Đăng Suyền thì “Trần thuật là một phương thức cơ bản
của tự sự, là một yếu tố quan trọng tạo nên hình thức tác phẩm văn học. Cái hay,
sức hấp dẫn của một truyện ngắn hay tiểu thuyết phụ thuộc rất nhiều vào nghệ
thuật kể chuyện của nhà văn” [15, tr.187]. Trong địa hạt tác phẩm tự sự nói chung
và truyện ngắn nói riêng nghệ thuật trần thuật đóng vai trò rất quan trọng. Nó
khơng chỉ là yếu tố liên kết, dẫn dắt câu chuyện mà còn là bản thân của câu
chuyện. Khi mà cốt truyện khơng còn đóng vai trò nòng cốt, nhân vật bị xóa mờ
đường viền cụ thể thì yếu tố trần thuật là chìa khóa mở ra những cánh cửa của
truyện.
Bên cạnh đó, thực tiễn văn học cũng cho thấy, nghệ thuật trần thuật là một
trong những yếu tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn. Đối với người
nghệ sĩ tài năng, nghệ thuật trần thuật ở mỗi tác phẩm ln có sự tìm tòi và biến
hóa linh hoạt. Sáng tạo văn học ln đồng hành với sự sáng tạo “khơi nhũng
nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao). Sự thành công về
phương diện trần thuật không hề đơn giản với bất kì người cầm bút nào.
Thêm nữa có thể thấy rằng nghệ thuật trần thuật là một trong những tiêu
chuẩn để hình thành diện mạo của truyện ngắn trong đời sống văn học hiện đại.
Để khẳng định vai trò, vị trí của truyện ngắn Kurannop khẳng định: “một nền văn
học chưa được coi là hình thành, nếu trong đó truyện ngắn khơng chứa một vị trí
xứng đáng”.
Nói tóm lại, nghệ thuật trần thuật là một vấn đề thuộc thi pháp thể loại nhất
là đối với truyện ngắn. Tìm hiểu các phương diện trần thuật giúp người đọc tiếp
cận được với những giá trị văn chương đích thực. Việc tìm tòi, đổi mới nghệ thuật
trần thuật cũng chính là hướng đi của văn xi đương đại nói chung, truyện ngắn
nói riêng.
8
1.3. Các nhân tố cơ bản của nghệ thuật trần thuật
1.3.1. Người trần thuật
Trần thuật đòi hỏi phải có người kể hay nói dúng hơn người trần thuật là vấn
đề quan trọng, then chốt của tác phẩm tự sự. Vì khơng có tác phẩm tự sự nào lại
khơng có người kể chuyện, mà “Truyện ngắn là loại hình tự sự cỡ nhỏ” (Giáo
trình lí luận văn học) – một loại hình tiêu biểu cho văn xi hiện đại. Do đó, để
phục vụ việc tạo ra nhân vật kể chuyện trong sáng tác, các tác giả đã sử dụng
những hình thức kể chuyện khác nhau. Có khi đó là người đứng hồn tồn bên
ngồi tác phẩm nhưng cũng có khi đó là nhân vật xưng tôi. Nhà nghiên cứu
T.Z.Todozov khẳng định “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc tạo ra thế
giới tưởng tượng… khơng thể có trần thuật mà thiếu người kể chuyện”. Quan
điểm này góp phần khẳng định vai trò của hình thức kể chuyện trong nghệ thuật
trần thuật.
Vấn đề người kể chuyện là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp
văn xuôi hiện đại, cũng là vấn đề xuất hiện ngay từ đầu thế kỉ XX ở Nga và được
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Sau đó vấn đề này nhận được sự quan tâm của
nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Do phạm vi đề tài, ở đây chúng tôi
chỉ tập hợp một số ý kiến tiêu biểu cho đánh giá, nhận xét về “nghệ thuật kể
chuyện”.
W.Kayer quan niệm rằng người kể chuyện là một khái niệm mang tính chất
cực kì hình thức: “Đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể
tác phẩm văn học. Ở nghệ thuật kể, người kể chuyện không bao giờ là vị tác giả
đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và đã chấp nhận” [18,
tr.196].
Theo các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học, người kể chuyện “là hình tượng
ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu
chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm” [7, tr.191]. Người kể
9
chuyện có thể xuất hiện xưng “tôi” trực tiếp hoặc ẩn hiện vô hình để thuật lại câu
chuyện.
Khơng thể đồng nhất tác giả với người trần thuật. Mọi nội dung tư tưởng, ý
đồ sáng tạo đều do tác giả nghĩ ra, nhưng anh ta không trực tiếp đứng ra trần
thuật, mà sáng tạo ra một người trần thuật để thay mình làm việc đó. Khi sáng tạo
nhà văn giống như người chép hộ lời lẽ của người trần thuật do mình tạo ra.
“Người kể chuyện trong tiểu thuyết không phải là một ngôi thứ nhất thuần túy.
Người đó chẳng bao giờ hồn tồn là chính bản thân tác giả” (M.Buy-tơ). “Trong
nghệ thuật kể, người kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay chưa từng được
biết đến, mà là một vai trò được tác giả nghĩ ra và ước định” (W.Kasyer).
Người kể chuyện trong tác phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó khơng
chỉ dẫn dắt, mơi giới để bạn đọc tiếp cận với thế giới nghệ thuật mà còn có chức
năng tổ chức, sắp xếp các sự kiện trong tác phẩm. Bởi vậy, khi trần thuật, nhà văn
cân nhắc trong việc lựa chọn ngôi kể để làm sao cho câu chuyện hấp dẫn lôi cuốn
người đọc. Khác với người kể chuyện trực tiếp trong diễn xướng dân gian, người
kể chuyện trong văn bản viết ẩn mình trong dòng chữ. Khi trần thuật, người trần
thuật có thể hóa thân thành nhiều vai khác nhau, có thể kể theo ngơi thứ nhất, thứ
hai và thứ ba. Người kể chuyện chỉ có thể kể được khi nào họ cảm thấy như
người trong cuộc, đang chứng kiến sự việc xảy ra bằng tất cả các giác quan của
mình. Do đó về căn bản, mọi người kể chuyện đều kể theo ngôi thứ nhất. Cái gọi
là ngơi thứ ba thực chất là hình thức kể khi người kể chưa được ý thức (như trong
các truyện dân gian) hoặc là đã được ý thức nhưng cố ý giấu mình đi (như trong
các truyện hiện đại). Ngơi thứ nhất là hình thức lộ diện, ngơi thứ ba là ẩn mình đi.
Sự phân biệt trên chỉ mang tính chất quy ước. Hiển nhiên, mỗi sự lựa chọn hình
thức kể cũng có khả năng tạo nghĩa nhất định cho trần thuật.
1.3.2. Điểm nhìn trần thuật
Vấn đề điểm nhìn đã được nghiên cứu từ rất lâu, từ đầu thế kỉ XIX với Anna
Barbauld, cuối thế kỉ XIX với Henri Jamer, đầu XX với Friedman, Foster,
10
Tomasevski, từ những năm 40 trở đi được nghiên cứu sâu hơn với Todorov,
Gentte, Lôstman, Bakhtin… với nhiều tên gọi khác nhau như: viewpoint, view,
pont of view, vision…
Henry James trong Nghệ thuật văn xuôi (1884) xác lập điểm nhìn chính là
“mơ tả cách thức tồn tại của tác phẩm như một hành vi mang tính bản thể hoặc
một cấu trúc hoàn chỉnh, tự trị đối với cá nhân nhà văn” và “Điểm nhìn là sự lựa
chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào sự kiện
được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống
hơn” [15, tr.135].
Từ điển văn học thế giới khẳng định điểm nhìn “là mối tương quan trong đó
chỉ vị trí đứng của người kể chuyện để kể câu chuyện… Nó có thể chi phối hoặc
là từ bên trong hoặc là từ bên ngồi. Ở điểm nhìn từ bên trong, người kể chuyện
là một trong các nhân vật, do đó câu chuyện được kể từ ngơi thứ nhất. Điểm nhìn
từ bên ngồi được mang lại từ một ý nghĩa bên ngồi, của người khơng phải là
một phần của câu chuyện, trong trường hợp này câu chuyện thường được kể từ
ngơi thứ ba”.
M.Khrapchenco cho rằng: “Chân lí cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật
khơng tồn tại bên ngồi cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn
có ở từng nghệ sĩ thực thụ”. Một nhà văn Pháp cũng nói: “đối với nhà văn cũng
như đối với nhà họa sĩ phong cách không phải là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái
nhìn”. Từ hai quan niệm này chúng ta có thể nhận thấy vấn đề điểm nhìn có ảnh
hưởng rất lớn tới việc thẩm định cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của
nhà văn. Bởi vì sự lựa chọn điểm nhìn của nhà văn trong tác phẩm của mình
khơng chỉ dừng lại ở việc để cho người kể chuyện nhìn và kể, miêu tả các sự kiện,
hiện tượng, hành vi của đời sống mà chính bản thân việc lựa chọn điểm nhìn cho
người trần thuật cũng thể hiện sự đánh giá tư tưởng, tình cảm của nhà văn.
Bàn về vai trò của điểm nhìn trong cấu trúc của tác phẩm tự sự, Pospelov
cho rằng “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa các sự vật
11
với chủ thể trần thuật hay nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với
những gì mà anh ta miêu tả”.
Khi nghiên cứu về điểm nhìn trần thuật, các học giả còn tìm cách phân loại
chúng. Từ các cách phân loại của các nhà nghiên cứu như Friedman, G.Genette,
Greimas… chúng tôi nhận thấy điểm nhìn được phân thành các dạng cơ bản sau:
Điểm nhìn của người trần thuật, tác giả hay của nhân vật trữ tình và của nhân vật
trong tác phẩm tự sự, điểm nhìn khơng gian, thời gian, điểm nhìn bên ngồi, bên
trong, điểm nhìn đánh giá tư tưởng, cảm xúc.
Từ các quan niệm trên có thể hiểu điểm nhìn trần thuật là vị trí để từ đó
người kể chuyện nhìn và kể, miêu tả các sự kiện, hiện tượng, hành vi của đời
sống. Điểm nhìn là khởi điểm mà việc trần thuật trải ra trong không gian và thời
gian của văn bản. “Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem
lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với đời sống. Sự đổi thay của
nghệ thuật bắt đầu từ sự đổi thay điểm nhìn” (Từ điển thuật ngữ văn học).
1.3.3. Ngơn ngữ trần thuật
Trong “Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu – một thành công đáng chú ý của
văn xuôi sau 1975”, Nguyễn Thị Bình có viết: “Một nhà văn đích thực phải ý
thức về mình như một nhà ngơn ngữ bởi đây là “yếu tố đầu tiên quy định cung
cách ứng xử” của anh. Đối với văn chương ngôn ngữ là phương tiện bắt buộc để
anh ta giao tiếp với bạn đọc, nó khơng chỉ là “cái vỏ của tư duy” mà còn là tài
năng, cá tính và quan điểm nghệ thuật, do đó “giọng điệu của tác phẩm trước hết
cũng là giọng điệu ngơn ngữ”.
Qúa trình khám phá, tìm hiểu giá trị của tác phẩm văn học không thể tách rời
những vấn đề của ngôn ngữ nghệ thuật, đặc điểm kết cấu ngôn từ của tác phẩm.
Bởi tác phẩm văn học là cơng trình nghệ thuật ngơn từ, là yếu tố đầu tiên khi bạn
đọc tiếp xúc với tác phẩm. Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra
khái niệm về ngôn ngữ văn học như sau: “Ngôn ngữ là công cụ là chất liệu cơ bản
của văn học, vì vậy văn học được coi là loại hình nghệ thuật ngơn từ. M. Gorki
12
khẳng định: ngơn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” [7, tr.185]. Ngôn ngữ văn
học bắt nguồn từ ngôn ngữ nhân dân, được chọn lọc, rèn giũa qua lao động nghệ
thuật của nhà văn, đến lượt mình nó góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ
của nhân dân. Một nhà văn đích thực phải tự ý thức về mình như một nhà ngơn
ngữ vì ngơn ngữ là yếu tố đầu tiên quy định cung cách ứng xử của anh ta, là
phương tiện bắt buộc để anh ta giao tiếp với bạn đọc. Tuy nhiên ở mỗi thể loại
văn học, ngôn ngữ lại có những đặc trưng riêng.
Ngơn ngữ trần thuật là ngơn ngữ đa dạng, ngơn ngữ của nhiều tính cách bao
gồm ngôn ngữ của người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và lời nói nước đơi. Trong
đó, ngơn ngữ người trần thuật và ngôn ngữ nhân vật giữ vai trò quyết định tạo nên
giá trị nghệ thuật của tác phẩm tự sự.
Từ điển thuật ngữ văn học đã đưa ra quan điểm về ngôn ngữ người trần thuật
như sau: “Ngơn ngữ người trần thuật chẳng những có vai trò then chốt trong
phương thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền
đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả”.
Bên cạnh quan điểm về ngôn ngữ người trần thuật, Từ điển thuật ngữ văn
học còn đưa ra quan điểm về ngơn ngữ nhân vật: “là một trong những phương
tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân
vật và “trong tác phẩm nhà văn có thể cá thể hóa ngơn ngữ nhân vật bằng nhiều
cách: nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật lặp lại
những từ, câu mà nhân vật thích nói kể cả từ ngoại quốc và từ địa phương…”. Dù
tồn tại dưới dạng nào hoặc được thể hiện bằng cách nào thì ngơn ngữ nhân vật
cũng phải đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa tính cá thể và tính khái quát.
1.3.4. Giọng điệu trần thuật
Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, nên một trong những điều quan trọng
nhất với một nhà văn là phải tạo được tiếng nói riêng cho mình, tức là một giọng
điệu riêng không lẫn với ai cả: “Nếu tác giả nào đó khơng có lối nói riêng của
mình thì người đó khơng bao giờ là nhà văn cả” (Sêkhop).
13
Nói đến giọng điệu là nói đến mơt hiện tượng mang tính cá nhân cao độ
trong sáng tạo nghệ thuật. Nó là một trong những yếu tố chủ đạo cấu thành hình
thức nghệ thuật của một tác phẩm. Giọng điệu chính là yếu tố hàng đầu tạo nên
phong cách riêng của mỗi nhà văn, tạo nên sự khác nhau giữa nhà văn này với
nhà văn khác. Đặc biệt, giọng điệu góp phần khơng nhỏ để làm nên sức hấp dẫn
cho mỗi tác phẩm.
Bàn về giọng điệu, G.N.Pospelov cho rằng: giọng điệu là “cái kiểu cách
dùng để kể câu chuyện”.
Nghiên cứu một cách có hệ thống về giọng điệu với tư cách là một trong
những yếu tố biểu hiện phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ,
M.B.Khrapchenko trong Cá tính sáng tạo của nhà văn là sự phát triển của văn
học đã khẳng định: “… Phong cách là một hệ thống phức tạp. Trong hệ thống đó,
trước hết cần phải chú ý tới sự tổng hợp của các phương tiện giọng điệu…”, “cái
quan trọng trong tài năng văn học (…) là tiếng nói của mình (…), là cái giọng
điệu riêng biệt của chính mình khơng thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một
người nào khác”. Khơng dừng lại ở đó, M.B.Khrapchenko nhấn mạnh thêm: “Đề
tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường và giọng điệu
nhất định đối với một đối tượng sáng tác, đối với những mặt khác nhau của nó.
Hiệu suất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước
hết thể hện ở giọng điệu chủ yếu vốn là đặc trưng của tác phẩm văn học với tư
cách là một thể thống nhất hồn chỉnh”.
Còn Từ điển thuật ngữ văn học thì đưa ra khái niệm về giọng điệu như sau:
“Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng đạo đức của nhà văn đối
với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn suồng sã, ngợi ca hay châm
biếm… Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm
mĩ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo thành phong cách nhà văn và tác
dụng truyền cảm cho người đọc. Thiếu một giọng điệu nhất định nhà văn chưa thể
viết ra được tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân
14
vật”… Giọng điệu giúp chúng ta nhận ra tác giả. Không nên đồng nhất giọng điệu
nghệ thuật với giọng điệu tác giả vốn có ngồi đời. Cũng không nên lẫn lộn giọng
điệu với ngữ điệu, là phương tiện biểu hiện của lời nói, biểu hiện qua cách lên
giọng, xuống giọng, nhấn mạnh, nhịp điệu…
Giọng điệu chịu sự chi phối của chủ thể sáng tác, có quan hệ gần gũi với
cảm hứng của người nghệ sĩ, liên quan đến đối tượng phản ánh và được bộc lộ
qua sự kết hợp hài hòa các yếu tố ngơn ngữ trong tác phẩm. Để xác định giọng
điệu của tác phẩm, người ta có thể căn cứ vào hệ thống từ ngữ, cách xưng hô, kết
cấu, cách sử dụng môtip và xây dựng hình tượng trong tác phẩm dưới sự chi phối
của một cảm hứng chủ đạo và sự quy chiếu của một cái nhìn
1.4. Vài nét về nghệ thuật trần thuật trong văn học Việt Nam đương đại
Sau thời kì đổi mới, tư duy về văn học nghệ thuật của dân tộc cũng phát
triển, để tiến kịp những trào lưu văn học tiên tiến trên thế giới, văn học nói chung
và truyện ngắn nói riêng cũng có những biến đổi trên nhiều phương diện. Khi
hưởng ứng ý kiến Hãy đọc lời ai điếu cho một nề văn học minh họa của nhà văn
Nguyễn Minh Châu, nhiều nhà văn đã cố gắng tìm tòi, cách tân cho sáng tác của
mình. Nhận xét về truyện ngắn đương đại Việt Nam, Nguyễn Thị Bình khẳng
định ý kiến đồng tình với độc giả và cho rằng truyện ngắn giai đoạn này “tập
trung nhiều nhất những yếu tố cách tân… và kết tinh nhiều yếu tố cách tân” và
“với truyện ngắn thì văn học Việt Nam đang tiếp cận với văn học đương đại thế
giới ở tư duy thể loại”.
Nằm trong mạch nguồn văn học Việt Nam, tiếp nối những giá trị mà văn học
đi trước để lại. Văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975 khơng còn là nền văn học
có khuynh hướng tác động đến người đọc bằng chân lí có sẵn của nhà văn –
người thầy thông thái luôn đúng nữa. Cùng với đó nghệ thuật trần thuật của văn
học Việt Nam sau 1975 đã khơng dừng lại ở điểm nhìn trần thuật do người phán
truyền chân lí đảm nhận. Mỗi tác phẩm thường chỉ có một điểm nhìn nữa… Văn
học giai đoạn này xét trên phương diện nghệ thuật trần thuật đã có nhiều sự thay
đổi. Ở đây, người đọc khơng bị áp đặt chân lí mà được quyền bình đẳng với nhà
15
văn trên hành trình tìm chân lí. Trần thuật nhiều điểm nhìn là bằng chứng quan
trọng về đổi mới quan niệm văn xi. Mỗi điểm nhìn là một ý thức độc lập, qua
đó sự việc, con người cũng được nhìn nhận từ nhiều phía. Sự gia tăng điểm nhìn,
dịch chuyển điểm nhìn linh hoạt của nghệ thuật trần thuật được xem là một trong
những vấn đề quan trọng của văn xi thời kì đổi mới.
Bằng nhiều cách nhìn khác nhau, văn học giai đoạn này đã thể hiện được sự
bình đẳng của nhà văn với bạn đọc trên con đường tìm kiếm chân lí. Tác phẩm
văn học giai đoạn này đã sử dụng khá linh hoạt các điểm nhìn, từ đó thấy được
đối thoại giữa nhà văn với nhân vật trong tác phẩm văn học. “Sự thay đổi điểm
nhìn trần thuật tạo ra nhiều cơ hội cho nhà văn cách tân cốt truyện, chú ý đến cấu
trúc tác phẩm” [17, tr.167 ]. Câu chuyện về anh họa sĩ quên lời hứa trong Bức
tranh của Nguyễn Minh Châu sẽ được phán xét hồn tồn khác khi được đặt vào
hai điểm nhìn: một điểm nhìn của chính anh ta và một điểm nhìn của người thợ
cắt tóc.
Đến với Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, ta nhận thấy tướng Thuấn và
các con của ơng ta có niềm tin khác nhau về “ngun tắc bình quân” và về sự “cả
tin” về tiền bạc… Như vậy cuộc đối thoại về tư tưởng giữa các nhân vật trở thành
cuộc đối thoại với chính bạn đọc. Sự gia tăng điểm nhìn trần thuật tác phẩm văn
học sau 1975 bắt đầu hướng đến cấu trúc ngỏ đa thanh. Những tác giả có cách tân
nổi bật ở phương diện này là Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp,
Nguyễn Khải… sáng tác của họ nhìn chung khước từ quan niệm “chủ đề rõ ràng”
với tinh thần tin cậy, tơn trọng bạn đọc.
Văn học Việt Nam sau 1975 có sự mở rộng đáng kể các phạm trù thẩm mĩ.
Bên cạnh “cái cao cả “ còn có “cái đời thường” “cái thực” hiển diện đan xen “cái
ảo” “cái hư”… tất cả các phạm trù thẩm mĩ đó làm tăng thêm tính chân thật cho
cuộc sống trong nghệ thuật. Theo đó, mà đời sống văn học Việt Nam giai đoạn
sau 1975 có nhiều điều đáng chú ý, cùng với những biến hóa phong phú, linh
hoạt.
16
CHƯƠNG 2. SỰ KHAI THÁC ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TẬP
TRUYỆN CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
Tác phẩm văn học chính là tấm gương phản chiếu đời sống, là nơi gửi gắm
cái nhìn, chiều sâu tư tưởng của nhà văn về cuộc đời. Vì thế, sự đa dạng về điểm
nhìn có thể phản ánh được hiện thực đời sống ở nhiều góc cạnh đa dạng nhất. Tìm
hiểu điểm nhìn trần thuật trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc
Tư, chúng tôi nhận thấy phổ biến là điểm nhìn bên trong, bên ngồi, điểm nhìn
khơng gian, thời gian và sự chuyển điểm nhìn.
2.1. Điểm nhìn bên ngồi và bên trong
Tìm hiểu các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trong tập truyện Cánh đồng
bất tận, chúng tơi nhận thấy có nhiều truyện được kể từ điểm nhìn bên trong.
Điểm nhìn bên ngồi cũng xuất hiện nhưng chỉ ở một vài đoạn ngắn, sau đó lại
được di chuyển vào điểm nhìn bên trong. Nhà văn đã khéo léo kết hợp linh hoạt
các điểm nhìn nhằm tạo ra cái nhìn đa dạng, nhiều chiều cho độc giả đối với nhân
vật của mình.
Điểm nhìn bên ngồi thể hiện được tính khách quan tối đa cho trần thuật.
Các sự kiện diễn ra tự nhiên như cuộc đời vẫn thế. Nó giúp nhà văn bao quát
được nhiều phương diện và góc độ của hiện thực cuộc sống hơn. Người kể
chuyện ẩn mình đi để câu chuyện được kể đạt mức độ khách quan cao nhất.
Ở truyện Cải ơi, ở một vài đoạn người kể chưa đi sâu vào nội tâm nhân vật
mà chủ yếu nhằm dẫn dắt sự phát triển của cốt truyện, cho người đọc một cái nhìn
bao quát nhất về tồn bộ câu chuyện: “Nên ơng Năm Nhỏ trụ lại ngã ba Sương,
tiếp tục cuộc kiếm tìm. Ơng mướn một cái nhà nhỏ như hộp quẹt, đủ cho hai
người còm nhom chui ra chui vào, vét túi trên túi dưới sắm một chiếc xe kẹo kéo
có dàn nhạc sống xập xình, kéo thằng Thàn theo. Ngày chạy ra bán ở chợ rau, chợ
cá, tối ghé vài quán nhậu, khuya về đậu ở ngã ba…” [21, tr.9 ].
17
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


