Lược sử tâm lý, Tâm lý học nhận thức – Self Healin
Nhận thức là gì
Theo từ điển triết học
-
Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn.
-
Là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan.
Trong tâm lý học
-
Từ “nhận thức” (cognition) thường được xem như là một quá trình xử lý thông tin của các chức năng tâm lý của một cá nhân.
-
Trong ngành nghiên cứu nhận thức xã hội, một nhánh của tâm lý xã hội học, “nhận thức” được dùng để mô tả thái độ, biểu hiện và động lực nhóm.
Theo tâm lý học và triết học, khái niệm về nhận thức liên quan chặt chẽ đến các khái niệm trừu tượng như trí óc và trí tuệ, bao gồm:
-
Các chức năng tâm thần
-
Các quá trình tâm thần (tâm trí)
-
Các trạng thái của các thực thể thông minh (như cá nhân, nhóm, tổ chức, máy tự động cao cấp và trí tuệ nhân tạo).
Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam“
-
Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”
-
Nhận thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng
Theo Từ điển Giáo dục học
“Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”
-
Như vậy, nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh.
-
Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất)
Các quan niệm khác về nhận thức
Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng :
“Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm: Nhận thức cảm tính và Nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của Nhận thức là thực tiễn xã hội ”
- Khái niệm của nhà Tâm lý học người Đức đã phản ánh tương đối đầy đủ nội hàm của Nhận thức và chúng ta sử dụng khái niệm này.
“Nhận thức là hành động bằng trí tuệ, để hiểu biết các sự vật hiện tượng”.
- Như vậy, Nhận thức và trí tuệ được đồng nhất như nhau.
- Nhờ hoạt động trí tuệ này mà con người mới hiểu biết được sự vật hiện tượng
Vai trò
- Có nhận thức, xác định được mục đích hoạt động.
- Nhận thức rất quan trọng với cuộc sống và hoạt động của con người, là thành phần không thể thiếu trong sự phát triển của con người.
- Là cơ sở nhận biết và hiểu biết thế giới, từ đó có thể tác động vào thế giới một cách phù hợp nhất, để đem lại hiệu quả cao nhất
- Một đứa trẻ khi được sinh ra, nếu nó không nhận biết được thế giới khách quan, thì không có nhận thức.
- Biết hợp nhất các thuộc tính đơn lẻ lại với nhau, thành một tổng thuộc tính chung của SVHT, xếp vào thành nhóm, tìm ra cái chung bản chất của một nhóm SVHT
- Nhận thức của con người được mở rộng hơn, và đã tạo ra những cấu tạo tâm lý mới, đi đến tư duy trừu tượng, tư duy khái quát.
- Như vậy, có thể khẳng định tâm lý người có bản chất xã hội – lịch sử.
- Nhận biết đi từ đơn giản, từng thuộc tính đơn lẻ bề ngoài của SVHT đến những cái phức tạp, những thuộc tính bản chất bên trong
- Khi đã quen thuộc con người tiếp tục nhận biết thêm về sự vật hiện tượng qua mỗi lần tiếp xúc. Càng tiếp xúc với nhiều sự vật hiện tượng thì càng nhận biết được nhiều các thuộc tính khác nhau.
Tóm lại, nhận thức là cơ sở, là nền tảng cho mọi sự hiểu biết của con người, nếu không có nhận thức thì con người sẽ mãi mãi ở trạng thái của một đứa trẻ sơ sinh.
TLH nhận thức là gì
-
Là nghiên cứu khoa học về
các quá trình tinh thần
(chú ý, ngôn ngữ,
trí nhớ
,
nhận thức
, giải quyết vấn đề,
sáng tạo
,
tư duy
)
-
Là một phân ngành của tâm lý học quan tâm đến những nghiên cứu khoa học về nhận thức.
-
Từ đó vận dụng những quy luật của hoạt động nhận thức vào quá trình nghiên cứu con người.
Lịch sử hình thành
Về triết học, những suy ngẫm về tâm trí con người có từ thời Hy Lạp cổ đại.
387 TCN Plato đã gợi ý rằng: bộ não là nơi chứa các quá trình tinh thần.
1637 René Descartes khẳng định con người được sinh ra với những ý tưởng bẩm sinh.
►Từ thời điểm đó, các cuộc tranh luận lớn xảy ra trong suốt thế kỷ 19 liên quan đến việc suy nghĩ của con người.
Hai khám phá quan trọng trong tâm lý học nhận thức.
-
Về vùng não chịu trách nhiệm chính trong việc sản xuất ngôn ngữ (Paul Broca)
-
Về một lĩnh vực được cho là chủ yếu để hiểu ngôn ngữ (Carl Wernicke)
Sự phát triển của TLHNT.
-
1879, Wunt thành lập Phòng thực nghiệm Tâm lý đầu tiên trên thế giới, những công trình nghiên cứu đầu tiên về Tâm lý học nhận thức.
-
Ngay từ thời xa xưa, vấn đề Nhận thức đã được quan tâm.
-
Nhận thức xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người.
Nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Thần kinh học nhận thức
Hình tượng
Chú ý
Tư duy
Tri giác
Nhận biết các hình mẫu
Trí nhớ
Sự thể hiện kiến thức
Ngôn ngữ
Tâm lý học phát triển
Trí thông minh con người
Trí thông minh nhân tạo
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu các quá trình nhận thức nói chung ( cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy,…)
Nghiên cứu các quy luật đặc trưng của sự tiếp thu, xử lý và sử dụng thông tin
Nghiên cứu cách con người thu nhập, tích lũy, tái tạo thông tin và khả năng ghi nhớ
Nghiên cứu trí thông minh và quan hệ của nó với các hiện tượng tâm lý khác
Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu trường hợp, Thực nghiệm, Quan sát, Mô hình máy tính, Phỏng vấn Hành vi, Cơ sở sinh lý thần kinh của TLHNT.
Hệ thần kinh bao gồm 2 phần: HTK trung ương và HTK ngoại biên,được bảo vệ bởi hộp sọ và tủy sống.
Vai trò của hệ thần kinh
Hệ thần kinh và tâm lý.
- Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể,là hiện tượng tinh thần được nảy sinh từ cơ sở vật chất là não nói riêng và hệ thần kinh nói chung.
- Như vậy,hệ thần kinh hay còn gọi là não bộ là bộ máy nhận thức của con người
Hệ thần kinh.
- HTK trung ương
- HTK ngoại biên
Vai trò HTK ngoại biên với nhận thức.
- Các giác quan có vai trò quan trọng đối với việc tiếp nhận thông tin
- Mỗi giác quan phát triển theo hướng chuyên môn hoá, tiếp nhận các loại kích thích phù hợp. Nhờ đó sự phản ánh được chính xác hơn,đem lại hiệu quả cao hơn
- Là cửa ngõ tiếp nhận thông tin,nếu chúng bị tổn thương thì việc tiếp nhận thông tin sẽ thiếu chính xác dẫn đến các phản ứng không kịp thời và ảnh hưởng đến cơ thể
Mỗi giác quan cấu tạo thành 3 bộ phận :
- Bộ phận nhận cảm: Tiếp nhận các kích thích từ môi trường.
- Bộ phận dẫn truyền:Gồm các dây thần kinh làm nhiệm vụ dẫn truyền thông tin từ tế bào cảm giác về trung ương thần kinh.
- Bộ phận trung ương: Làm nhiệm vụ tích hợp các thông tin, xử lí nó và phát ra các thông tin để truyền đến cơ quan tương ứng,đáp lại các kích thích vừa nhận được.
- Các giác quan được ví như “ăng ten” để thu nhận các thông tin từ thế giới bên ngoài,
- Hoạt động chủ đạo của con người và hoạt động nghề nghiệp về thực chất nó là một quá trình nhận thức, vì thế không thể thiếu đi vai trò của các giác quan.
- Phải bảo vệ các giác quan và phát huy cao độ vai trò của nó, huy động tất cả các giác quan tham gia vào quá trình nhận thức nhằm nâng cao hiệu quả.
Vai trò neuron với nhận thức.
- Chức năng cơ bản của Nơ ron là tiếp nhận thông tin, truyền tải thông tin, tham gia cấu tạo nên hệ thần kinh trung ương, xử lý, chọn lọc và lưu giữ thông tin.
Vai trò HTK trung ương với nhận thức.
Não Nguyên thuỷ
- Là trung khu của sự sống còn của con người, nhưng lại không có đóng góp gì cho quá trình nhận thức,chỉ có ảnh hướng gián tiếp
Não cổ
- Là trung khu của cảm xúc và hứng thú của con người. Mọi thông tin do các giác quan tiếp nhận, muốn vào não phải đi qua não cổ.
- Là rào cản đầu tiên để truyền thông tin vào não, lựa chọn thông tin để đưa lên não.
- Tham gia tích cực vào trong quá trình nhận thức của con người. Sự phát triển trí tuệ của con người phụ thuộc vào hứng thú, phụ thuộc vào não cổ
Vỏ não mới
- Vỏ não mới có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nhận thức và thực hiện các giai đoạn trí tuệ của con người.
- Việc tiếp nhận và xử lý các thông tin về não được thực hiện nhờ hoạt động của Bán cầu não phải và Bán cầu não trái:
Bán cầu não phải
- Có vai trò tiếp nhận và lưu giữ tất cả các thông tin mà con người đã tri giác được, nó chỉ là một chuỗi các sự kiện được sắp xếp một cách đơn giản không theo trật tự nào.
Bán cầu não trái
- Làm nhiệm vụ phân loại và xử lý thông tin dưới hình thức các khái niệm, kí hiệu để nhận ra các thông tin đó và điều chỉnh chúng. Nó là trung khu của những gì mang tính ổn định, trật tự, tổng hợp, phân tích.
Tiến trình của quá trình nhận thức:
- Bán cầu não trái truyền lệnh cho bán cầu não phải.
- Bán cầu não phải lưu giữ hàng loạt các thông tin không đồng nhất, được nối với mục đích của bán cầu não trái
- Nếu bán cầu não trái chưa thấy phù hợp lại tiếp thục tạo ra các yếu tố mới. Khi đó tính bổ sung của hai bán cầu đại não sẽ thực hiện nhiệm vụ cuối cùng để giúp con người đưa ra những tri thức mới.
Kết luận về hệ thần kinh.
- Nhờ hoạt động bình thường của hệ thần kinh mà con người mới có khả năng nhận thức thế giới từ những cái đơn giản đến nhận thức được cái bản chất, khái quát.
- Từ đó khái quát được những đặc điểm chung của sự vật hiện tượng, hình thành nên những tri thức mới cho con người.
Cấp độ và quá trình nhận thức
Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá, Sáng tạo
Nhớ.
- Bao gồm việc người học có thể nhớ lại các điều đặc biệt hoặc tổng quát, trọn vẹn hoặc một phần các quá trình, các dạng thức, cấu trúc… đã được học.
- Ở cấp độ này người học cần nhớ lại đúng điều được hỏi đến,
- Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này là: Trình bày, nhắc lại, mô tả, liệt kê…
Hiểu.
- Ở cấp độ nhận thức này người học cần nắm được ý nghĩa của thông tin, thể hiện qua khả năng diễn giải, suy diễn, liên hệ.
- Từ khóa đánh giá: Giải thích, phân biệt, khái quát hóa, cho ví dụ, so sánh…
Vận dụng.
- Người học có khả năng áp dụng thông tin đã biết vào một tình huống, một điều kiện mới.
- Từ khóa đánh giá: Vận dụng, áp dụng, tính toán, chứng minh, giải thích, xây dựng…
Phân tích.
- Người học có khả năng chia các nội dung, các thông tin thành những phần nhỏ để có thể chỉ ra các yếu tố, các mối liên hệ, các nguyên tắc cấu trúc của chúng.
- Từ khóa: phân tích, lý giải, so sánh, lập biểu đồ, phân biệt, hệ thống hóa…
Đánh giá.
- Người học có khả năng đưa ra nhận định, phán quyết của bản thân đối với một vấn đề dựa trên các chuẩn mực, các tiêu chí đã có.
- Từ khóa: Đánh giá, cho ý kiến, bình luận, tổng hợp, so sánh…
Sáng tạo.
- Đạt được cấp độ nhận thức cao nhất này người học có khả năng tạo ra cái mới, xác lập thông tin, sự vật mới trên cơ sở những thông tin, sự vật đã có.
- Từ khóa: Thiết lập, tổng hợp, xây dựng, thiết kế, đề xuất…
Quá trình nhận thức.
Nhận thức cảm tính
- Là trực quan sinh động (phản ánh thuộc tính bên ngoài thông qua cảm giác và tri giác)
- Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức.
- Là một trong các giai đoạn mà con người sử dụng các giác quan để tác động vào SVHT nhằm nắm bắt SVHT ấy. Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau:
Cảm giác:
- Là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính riêng lẻ bề ngoài của các SVHT đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người.
- Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết
- Là kết quả của sự chuyển hoá những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố ý thức.
Tri giác:
Hình thức nhận thức cảm tính phản ánh trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của SVHT đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người. Là sự tổng hợp các cảm giác nhưng là hình thức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn. Chứa đựng cả những thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng có tính trực quan của sự vật.
Biểu tượng:
Là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật do sự hình dung, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các giác quan. Trong biểu tượng chứa yếu tố trực tiếp và yếu tố gián tiếp. Bởi, nó được hình thành nhờ sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các giác quan và sự tham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp. Nên biểu tượng phản ánh được những thuộc tính đặc trưng nổi trội của các sự vật.
Đặc điểm NTCT là phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức. Phản ánh bề ngoài,ccái tất nhiên và ngẫu nhiên, cái bản chất và không bản chất. Giai đoạn này có thể có trong tâm lý động vật.
Hạn chế của NTCT: chưa khẳng định được những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong sự vật. Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính.
Nhận thức lý tính
- Nhận thức lý tính hay còn gọi là tư duy trừu tượng (phản ánh thực chất bên trong, bản chất của sự việc)
- Là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận.
- Các hình thức của nhận thức lý tính bao gồm:
Khái niệm: Là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật.
Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay lớp sự vật.
Phán đoán:
Là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với nhau để khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối tượng.
Ví dụ: “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng” là một phán đoán vì có sự liên kết khái niệm “dân tộc Việt Nam” với khái niệm “anh hùng”.
Phán đoán:
Theo trình độ phát triển nhận thức, phán đoán được chia làm ba loại:
- Đơn nhất
- Đặc thù
- Phổ biến
Ở đây phán đoán phổ biến là hình thức thể hiện sự phản ánh bao quát rộng lớn nhất về đối tượng.
Dừng lại ở phán đoán thì nhận thức chỉ biết được mối liên hệ giữa cái đơn nhất với cái phổ biến, chưa biết được giữa cái đơn nhất trong phán đoán này với cái đơn nhất trong phán đoán kia và mối quan hệ giữa cái đặc thù với cái đơn nhất và cái phổ biến.
Để khắc phục hạn chế đó, nhận thức lý tính phải vươn lên hình thức nhận thức suy luận.
Suy luận:
Là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán để rút ra phán đoán có tính chất kết luận – tìm ra tri thức mới.
Tùy theo sự kết hợp phán đoán theo trật tự nào giữa phán đoán đơn nhất, đặc thù với phổ biến mà ta có hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch.
Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng có chức năng phát hiện ra tri thức mới một cách nhanh chóng và đúng đắn.
Đặc điểm NTLT là quá trình nhận thức gián tiếp đối với svht đồng thời là quá trình đi sâu vào bản chất của SVHT.
Về cơ bản nhận thức CT và LT không tách biệt nhau mà luôn có mqh chặt chẽ với nhau.
Không có NTCT thì không có NTLT. Không có NTLT thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật.
NTCT là cơ sở, nơi cung cấp nguyên liệu cho NTLT. Trong khi đó, NTLT phải dựa vào, gắn chặt với NTCT. Dù NTLT có trừu tượng và khái quát đến đâu thì nội dung của nó cũng chứa đựng các thành phẩm của NTCT.
Ngược lại NTLT chi phối NTCT, làm cho NTCT tinh vi hơn, nhạy bén hơn và chính xác hơn, có lựa chọn và ý nghĩa hơn.
Kết luận
Ưu điểm
-
Đạt tới sự hiểu biết đúng đắn, đầy đủ, chính xác về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng cũng, thế giới khách quan.
-
Nhận thức sự việc đúng đắn giúp cân bằng tâm lý, có định hướng tốt cho cuộc sống ,tương lai.
-
Nâng cao chất lượng sống tinh thần, tăng tiến giao lưu giữa các cộng đồng văn hóa và phát triển xã hội loài người.
Nhược điểm
Không có sự dẫn dắt đúng đắn sẽ dễ hình thành những sai lệch về nhận thức, từ đó xảy ra những hành động không đúng chuẩn mực xã hội.


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


