TIÊU LUẬN NGƯỜI KHUYẾT TẬT – Tài liệu text
TIÊU LUẬN NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (110.47 KB, 13 trang )
Bạn đang đọc: TIÊU LUẬN NGƯỜI KHUYẾT TẬT – Tài liệu text
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………Trang 2
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………….Trang 3
I. Một số khái niệm liên quan……………………………………………………………………..Trang 3
1. An sinh xã hội……………………………………………………………………………………….Trang 3
2. Người khuyết tật……………………………………………………………………………………Trang 4
3. Công tác xã hội……………………………………………………………………………………..Trang 4
II. Thực trạng người khuyết tật…………………………………………………………………..Trang 5
1. Nước ta…………………………………………………………………………………………………Trang 5
2. Tiền Giang……………………………………………………………………………………………Trang 6
3. Những khó khăn tồn tại của NKT trong cuộc sống……………………………………Trang 7
III. Mục tiêu, giải pháp trợ giúp NKT trên tỉnh Tiền Giang……………………………Trang 8
1. Mục tiêu……………………………………………………………………………………………….Trang 8
2. Giải pháp………………………………………………………………………………………………Trang 9
VI. Vai trò CTXH đối với NKT………………………………………………………………..Trang 10
PHẦN III: KẾT LUẬN …………………………………………………………………………..Trang 12
1
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
PHẦN MỞ ĐẦU
Ước muốn có một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc là ước muốn ngàn đời của con
người. Nhưng cuộc sống của con người không phải lúc nào cũng êm ả, thuận buồm
xuôi gió mà ngược lại con người luôn phải đối mặt với rủi ro, thiên tai, dịch hoạ, bệnh
tật, ốm đau, sức yếu tuổi già, khủng hoảng kinh tế – xã hội. Luôn rình rập, đe doạ tới
sự an toàn cuộc sống, vì thế An sinh xã hội cũng là nguyện vọng, là ước muốn của mỗi
con người
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do dân và vì dân.
Mục tiêu chiến lược “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Bên cạnh việc tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội hiện có trong từng giai
đoạn, Nhà nước ta đã dần dần thể chế hoá các hoạt động đó bằng hệ thống pháp luật an
sinh xã hội, tạo khung pháp lý cho mọi người dân, đặc biệt các đối tượng yếu thế, thiệt
thòi, dễ bị tổn thương được bảo vệ chăm sóc. Để đạt được tiến bộ và công bằng xã hội,
việc trợ giúp các đối tượng tượng yếu thế trong xã hội không chỉ là nhiệm vụ, trách
nhiệm của Nhà nước và nhân dân mà còn chứa đựng cội nguồn của truyền thống nhân
văn, đạo lý tốt đẹp của một dân tộc có bề dày lịch sử hàng nghìn năm.
Bảo vệ giúp đỡ người tàn tật là trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội là
việc làm thường xuyên của các cấp ủy Đảng chính quyền địa phương, để phát huy sức
mạnh cộng đồng sự phối hợp của các tổ chức xã hội và hợp tác quốc tế.
Qua thời gian được nghiên cứu môn học An sinh xã hội và việc thực hiện các
chính sách an sinh xã hội tại địa phương, tôi lựa chọn đề tài : “ An sinh xã hội với
người khuyết tật – Thực trạng, giải pháp và vai trò công tác xã hội với người khuyết
tật ở Tiền Giang”.
PHẦN NỘI DUNG
2
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1. An sinh xã hội
1.1 Định nghĩa
An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp
của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối
phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế- xã hội làm cho họ suy giảm hoặc
mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả
không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào
cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho
cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt.
1.2 Các hợp phần tạo thành hệ thống ASXH
– Chính sách và các chương trình thị trường lao động tích cực mà trọng
tâm của nó là trợ giúp tạo việc làm cho các đối tượng yếu thế trong thị trường
lao động và trợ cấp cho số lao động dôi dư do quá trình sắp xếp lại các doanh
nghiệp, cổ phần hoá các doanh nghiệp (chính sách Bảo hiểm thất nghiệp).
– Chính sách Bảo hiểm xã hội trong đó bao gồm các chế độ hương trí, mất
sức lao động, ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tử tuất.
– Chính sách Bảo hiểm y tế bao gồm cả bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo
hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm y tế cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã
hội và trẻ em dưới 6 tuổi.
– Chính sách trợ giúp đặc biệt- chính sách ưu đãi đối với thương binh,
bệnh binh, thân nhân liệt sỹ và người có công với nước.
– Trợ giúp xã hội cho các đối tượng yếu thế (đối tượng xã hội) bao gồm
trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội; trợ giúp về y tế, giáo
dục, dạy nghề và tạo việc làm, tiếp cận các công trình công cộng, hoạt động
văn hoá thể thao và trợ giúp khẩn cấp mà từ trước đến nay hay gọi là cứu trợ
khẩn cấp cho những người không may gặp rủi ro đột xuất bởi thiên tai.
– Chính sách và các chương trình trợ giúp người nghèo.
2. Người khuyết tật (NKT)
3
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
2.1 Định nghĩa
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học
tập gặp khó khăn.
2.2 Các dạng khuyết tật
– Khuyết tật vận động
– Khuyết tật nghe, nói
– Khuyết tật nhìn
– Khuyết tật thần kinh, tâm thần
– Khuyết tật trí tuệ
– Khuyết tật khác.
3. Công tác xã hội (CTXH)
– Công tác xã hội (CTXH) được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở
nhiều quốc gia từ gần thế kỷ nay. CTXH tồn tại và hoạt động khi xuất hiện những vấn
đề cần giải quyết như tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng giới, và giúp đỡ những thành
phần dễ bị tổn thương như trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ đường phố, trẻ bị lạm dụng…
– Tuy nhiên ở Việt Nam, CTXH thường được nghĩ như là một việc làm từ thiện.
Để cho thấy CTXH không phải là công việc đơn giản như công tác từ thiện, cần có cái
nhìn đầy đủ ý nghĩa về CTXH. Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH, dưới
đây là một số định nghĩa về CTXH.
3.1 Khái niệm 1:
– Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động
nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi
phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện
xã hội phù hợp với các mục tiêu.
– CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo
cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện
cuộc sống.
3.2 Khái niệm 2: Theo Cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo
2004): Định nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP. Nó
4
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ
thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình.
3.3 Khái niệm 3: Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội
nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự
thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng
quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng
thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã
hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường.
3.4 Khái niệm 4: Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải
quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề
xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành
mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên
tiến.
II. THỰC TRẠNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.Nước ta
Theo thống kê mới đây của Viện nghiên cứu và Phát triển xã hội và Viện Nghiên
cứu Dư luận xã hội tại, hiện cả nước có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, chiếm 8%
dân số, trong đó có 400.000 NKT nặng, có tới 42% NKT tự đánh giá tình trạng sức
khoẻ của mình kém hơn rất nhiều so với người không khuyết tật; khoảng 20% NKT và
95% NKT nặng trong độ tuổi lao động không đi làm.
Tỷ lệ NKT có thu nhập bao gồm lương, trợ cấp và phúc lợi ngoài lương thấp hơn
nhiều so với người không khuyết tật, khoảng một nửa số NKT có mức lương tháng
trung bình từ 1,25 triệu đồng trở xuống. Ngoài ra, vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử với
NKT vẫn đang diễn ra hàng ngày và ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống, lao động,
học tập của NKT. Hiện số NKT bị kỳ thị cao nhất là dạng khuyết tật giao tiếp với
95,5%, khuyết tật trí não là 81% và khuyết tật trong tự chăm sóc bản thân là 80%.
Mặc dù trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước ta đã có rất nhiều chính sách
hỗ trợ NKT nhưng vẫn còn những vấn đề mà NKT đang gặp phải vẫn là sự kỳ thị và
phân biệt đối xử, số đông NKT chưa biết hoặc chưa có điều kiện, khả năng tiếp cận,
hiểu biết về những chính sách ưu đãi dành cho họ…, điều đó đã dẫn đến khả năng hòa
5
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
nhập và phát triển của NKT bị hạn chế. Mặt khác, NKT thuộc nhóm yếu thế do sự
khiếm khuyết của cơ thể, các chức năng xã hội của họ có thể bị suy giảm.
Từ thực tế này, sự tham gia của nhân viên CTXH sẽ giúp NKT tiếp cận với các
nguồn lực, tư vấn cho họ phát huy khả năng, trình độ để NKT trở nên mạnh mẽ hơn, tự
tin sống độc lập, hòa nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội,
có cơ hội được lao động, học tập như những người bình thường. Nhân viên CTXH
cũng sẽ tham vấn cho NKT có điều kiện tiếp cận để được chăm sóc sức khỏe, phục hồi
chức năng, học văn hóa, học nghề, làm việc, trợ giúp pháp lý, giúp họ hiểu và nắm bắt
được các quyền của họ theo quy định của pháp luật…
2. Tiền Giang
Dân số Tiền Giang năm 2012 có khoảng 1.670.000 người, trong đó có đến
8.219 người đang hưởng chính sách thương bệnh binh, 1.407 nạn nhân chất độc da
cam/dioxin, 1.024 người khuyết tật do tai nạn lao động, 1.269 trẻ em khuyết tật đang
học hòa nhập tại các cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, trường chuyên biệt và
can thiệp sớm tại Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, 19.330
đối tượng là người khuyết tật đang hưởng chính sách bảo trợ xã hội hàng tháng tại
cộng đồng, 180 đối tượng là người khuyết tật đang chăm sóc, nuôi dưỡng hàng tháng
tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh.
Tình trạng người khuyết tật vẫn còn là vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Đời sống người
khuyết tật tại cộng đồng còn rất nhiều khó khăn, phần lớn thuộc diện gia đình nghèo,
sống ở khu vực nông thôn, thiếu tư liệu sản xuất; chủ yếu là dựa vào người thân, gia
đình, sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm, hưởng các chế độ, chính sách và trợ cấp xã hội
hàng tháng. Hiện nay, điều kiện giao thông nông thôn còn nhiều khó khăn, nên người
khuyết tật gặp nhiều trở ngại trong việc đi lại, giao tiếp xã hội, phát triển kinh tế gia
đình.
Một số người khuyết tật không được đến trường, một số được tiếp cận giáo dục nhưng
trình độ chỉ ở mức biết đọc biết viết hoặc trình độ cấp tiểu học, trung học cơ sở, rất ít
người khuyết tật có trình độ trung học phổ thông, đại học. Đa số người khuyết tật chưa
qua đào tạo nghề, có người khuyết tật ở vùng thành thị được đào tạo nghề, nhưng có
việc làm rất ít; điều này ảnh hưởng đến đời sống của người khuyết tật.
3.Những khó khăn tồn tại của NKT trong cuộc sống
6
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
3.1 Kì thị
– Năm 2007 được sự tài trợ của Quỹ Ford, Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội
(ISDS) đã tiến hành khảo sát 4 tỉnh thành ở Việt Nam và đưa ra một vài con số thống
kê sau đây về quan điểm của cộng đồng về người khuyết tật – qua đó cho thấy sự phân
biệt đối xử là lớn như thế nào:
Thái độ của cộng đồng với người khuyết tật
Tỉ lệ quan điểm đồng ý
98% đến 99%
Đáng thương
18% đến 32%
Người khuyết tật là người ỷ lại
Người khuyết tật không thể có cuộc sống bình thường
Người khuyết tật bị như vậy là do số phận
Người khuyết tật đáng phải gánh chịu số kiếp khuyết tật
40% đến 59,4%
56% đến 65%
14% đến 21%
như vậy vì họ phải trả giá cho việc làm xấu xa ở kiếp trước
17%
Gặp phải người khuyết tật là gặp vận đen
– Và những con số thống kê về người khuyết tật bị phân biệt đối xử bởi chính
gia đình mình (dựa trên việc đặt câu hỏi với những người quen biết người khuyết tật,
bởi người trong gia đình sẽ không nói thật về hành vi phân biệt đối xử của chính họ):
• Coi thường người khuyết tật (16%);
• Coi là gánh nặng suốt cuộc đời (40%);
• Coi là vô dụng (20,7%);
• Thường xuyên lăng mạ (14,2%);
• Bỏ mặc không chăm sóc (8,5%);
• Bỏ rơi (7,1%);
• Không cho ăn (4,3%);
• Khóa/xích trong nhà (10,2%);
• Bắt đi ăn xin (1,5%).
7
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
3.2. Tâm lý
Tâm lý của khá đông người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân
mình so với những người bình thường khác. Nhiều người khuyết rất nhạy cảm
hay mặc cảm ngoại hình, tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể của
mình đến nỗi chẳng muốn vươn lên, vượt qua và hòa nhập.
3.3 Việc làm
– Việc làm đối với người khuyết tật luôn là một trong câu hỏi lớn cần được cả
cộng đồng cùng tìm lời giải. Không ít doanh nghiệp hoặc cá nhân hiện không chịu
nhận người khuyết tật vào làm việc; chính vì doanh nghiệp chưa mạnh dạn ‘mở lòng’
nên tỷ lệ người tàn tật thất nghiệp vẫn còn cao. Nhiều người tàn tật bằng nghị lực đã
vươn lên, bằng mọi cách mong tìm được công việc phù hợp để không là gánh nặng của
gia đình và xã hội nhưng cũng khó có việc làm ổn định. Sự khiếm khuyết trên cơ thể
không chỉ là nỗi đau thể chất mà còn là vật cản khiến họ không tự tin hòa nhập với
cộng đồng.
– Việc làm không chỉ đem lại niềm vui, thu nhập cho người khuyết tật mà còn là
cầu nối giúp họ tự tin, hòa nhập với cuộc sống.
3.4 Khó khăn khác
Ngoài những vấn đề nêu trên thì đa số người khuyết tật còn phải gánh chịu những
vấn đề khó khăn khác trong cuộc sống như: nghèo đói, hôn nhân, học tập và các dịch
vụ xã hội (y tế, văn hóa, thể thao,…).
III. MỤC TIÊU,GIẢI PHÁP TRỢ GIÚP NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRỢ
GIÚP NKT TRÊN TỈNH TIỀN GIANG
1.Muc tiêu từ giai đoạn 2015 – 2020:
– Xóa bỏ kì thị, phân biệt đối xử với NKT. Đồng thời tạo sự tự tin, dẹp bỏ mặc
cảm của NKT trong cuộc sống bằng những giải pháp tích cực.
– Hàng năm, 85% số người khuyết tật được tiếp cận các dịch vụ y tế dưới các
hình thức khác nhau; 65% trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi được sàng lọc phát hiện sớm và
can thiệp sớm các dạng khuyết tật; khoảng 3.500 người khuyết tật được phẫu thuật
chỉnh hình, phục hồi chức năng và cung cấp dụng cụ trợ giúp phù hợp.
– 90% trẻ khuyết tật có khả năng học tập được đến trường học hòa nhập, số còn
lại được tiếp cận giáo dục.
8
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
– Trên 50% người khuyết tật trong độ tuổi lao động còn khả năng lao động được
học nghề và tạo việc làm phù hợp.
– Trên 55% công trình là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; bến xe, bến phà;
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công trình văn hóa, thể dục thể
thao; nhà chung cư bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật.
– Ít nhất 45% người khuyết tật có nhu cầu tham gia giao thông được sử dụng
phương tiện giao thông đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về giao thông tiếp cận hoặc dịch
vụ trợ giúp tương đương.
– 40% người khuyết tật được trợ giúp tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin và
truyền thông.
– 40% người khuyết tật được hỗ trợ tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật;
40% người khuyết tật được hỗ trợ tham gia các hoạt động và luyện tập thể dục, thể
thao.
– 100% người khuyết tật được trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu.
– 90% cán bộ làm công tác trợ giúp người khuyết tật được tập huấn, nâng cao
năng lực về quản lý, chăm sóc, hỗ trợ, tổ chức điều hành, phối hợp liên ngành và giám
sát, đánh giá trong công tác trợ giúp người khuyết tật; 60% gia đình có người khuyết
tật được tập huấn về kỹ năng, phương pháp chăm sóc phục hồi chức năng cho người
khuyết tật; 50% người khuyết tật được tập huấn các kỹ năng sống.
2. Giải pháp
– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về người khuyết tật với
các vấn đề liên quan.
– Tăng cường vai trò lãnh đạo và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng
– Tăng cường đầu tư nguồn lực cho các hoạt động trợ giúp người khuyết tật.
– Tổ chức thực hiện tốt các hoạt động, chính sách trợ giúp người khuyết tật ở các
cấp theo quy định của pháp luật đảm bảo tính chính xác, công bằng, minh bạch và hiệu
quả.
– Tổ chức thực hiện các hoạt động trợ giúp người khuyết tật tiếp cận giáo dục.
Triển khai lồng ghép các chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khuyết tật
trong các cơ sở giáo dục.
9
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
– Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật tại Trung
tâm Hỗ trợ và Phát triển giáo dục hòa nhập, các trường dạy nghề và các Trung tâm dạy
nghề, giới thiệu việc làm; Tư vấn, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật.
– Triển khai các quy định, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng để người
khuyết tật tiếp cận, sử dụng các công trình xây dựng phù hợp với người khuyết tật. Đối
với các công trình công cộng như: khu bán vé, khu dịch vụ, khu vệ sinh, thang máy,
điểm rút tiền, lối thoát nạn phải tính đến nhu cầu sử dụng của người khuyết tật. Tại lối
vào các công trình công cộng phải bảo đảm tiêu chuẩn tiếp cận; khu vực dành cho đối
tượng ưu tiên phải có ký hiệu, biển báo để người khuyết tật nhận biết, sử dụng.
VI. VAI TRÒ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NKT
Người khuyết tật cũng là một công dân, họ gặp khó khăn, hạn chế về đi lại,
tham gia các hoạt động cộng đồng, học tập, giao tiếp, ngoài ra họ có những đặc điểm
tâm lý khác biệt và gặp nhiều rào cản hơn so với những nhóm yếu thế khác trong xã
hội… Mặc dù vậy, họ cũng có những thế mạnh, nhu cầu, ước mơ như bất cứ ai. Bởi
vậy, sự tham gia tư vấn, tham vấn, hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội sẽ góp phần
tạo dựng niềm tin, mở ra nhiều cơ hội mới cho NKT.
Từ thực tế này, sự tham gia của nhân viên CTXH sẽ giúp NKT tiếp cận với các
nguồn lực, tư vấn cho họ phát huy khả năng, trình độ để NKT trở nên mạnh mẽ hơn, tự
tin sống độc lập, hòa nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội,
có cơ hội được lao động, học tập như những người bình thường. Nhân viên CTXH
cũng sẽ tham vấn cho NKT có điều kiện tiếp cận để được chăm sóc sức khỏe, phục hồi
chức năng, học văn hóa, học nghề, làm việc, trợ giúp pháp lý, giúp họ hiểu và nắm bắt
được các quyền của họ theo quy định của pháp luật…
Nhân viên CTXH cũng có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong tiến trình tạo
ra sự thay đổi tích cực đối với đời sống của NKT, thúc đẩy môi trường xã hội, bao
gồm chính sách, pháp luật, cộng đồng thân thiện để NKT dễ dàng hòa nhập xã hội.
Nhân viên CTXH còn là người tư vấn, giới thiệu những chính sách an sinh xã hội mà
NKT được hưởng như miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã
hội, tiếp cận dễ dàng hơn với các công trình, phương tiện giao thông công cộng, dịch
vụ văn hóa, thể thao, du lịch và tham gia đào tạo kỹ năng sống, tổ chức các dịch vụ
nâng cao khả năng sống độc lập của NKT.
10
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
CTXH là một nghề mới ở Việt Nam và là mô hình hoạt động chuyên môn hiệu
quả hướng đến trao quyền và nâng cao chất lượng sống của các đối tượng yếu thế,
trong đó có NKT. Cùng với việc ban hành Luật NKT (năm 2010), định hướng phát
triển xã hội đến năm 2020 và đề án phát triển nghề CTXH, CTXH với NKT sẽ góp
phần quan trọng trong việc hỗ trợ, tư vấn, giảm sự kỳ thị, phân biệt với nhóm đối
tượng này. Tuy nhiên công tác này nó đang phải đối mặt với những cơ hội và thách
thức rất lớn. Bởi vậy, đòi hỏi phải xây dựng mô hình CTXH cho NKT có tính bền
vững và hiệu quả cao, cần dựa trên cách hiểu chung về vấn đề khuyết tật và hệ thống
chính sách, dịch vụ xã hội hiện hành, cũng như dựa trên cách tiếp cận về hòa nhập xã
hội. Mặt khác, đội ngũ nhân viên CTXH cũng cần có những kiến thức và kỹ năng
chuyên nghiệp, giữ vững những giá trị nghề và phải có sự linh hoạt cần thiết trong
hoạt động thực tiễn.
PHẦN KẾT LUẬN
11
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
Người khuyết tật là một bộ phận không nhỏ của dân số thế giới, trong bất kỳ một
xã hội nào dù phát triển hay kém phát triển, dù phải hứng chịu chiến tranh hay không
phải trải qua chiến tranh cũng tồn tại một bộ phận người khuyết tật. Việt Nam có tỷ lệ
người khuyết tật khá cao so với tỷ lệ chung của toàn thế giới, chiếm 8% dân số cả
nước tương đương khoảng 6,7 triệu dân. Người khuyết tật luôn được sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước ta cùng một số tổ chức quốc tế. Nhà nước ta đã ban hành nhiều hệ
thống văn bản cùng với việc thực hiện các công ước Quốc tế về người khuyết tật nhằm
giúp đỡ họ có cuộc sống tốt, tạo cơ hội giúp họ hoà nhập với cộng đồng và phát triển
như những người bình thường khác.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn hội nhập mạnh mẽ với thế giới trên nhiều
phương diện và lĩnh vực. Trong đó, không thể không kể đến công cuộc phát triển kinh
tế, xóa đói giảm nghèo, đấu tranh chống lại bất bình đẳng xã hội, nâng cao chất lượng
cuộc sống cho mọi tầng lớp dân cư và sự chung tay của cả cộng đồng trong lộ trình
thúc đẩy quyền lợi và khả năng hỗ trợ cho người khuyết tật. Việt Nam đã triển khai
nhiều chiến lược hành động ở các cấp độ khác nhau nhằm theo đuổi mục tiêu xóa bỏ
rào cản để tạo ra một xã hội hòa nhập và tiếp cận cho tất cả NKT trên các lĩnh vực của
đời sống.
12
Tiểu luận chuyên đề chuyên sâu
Trường Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
13
xuôi gió mà ngược lại con người luôn phải đương đầu với rủi ro đáng tiếc, thiên tai, dịch hoạ, bệnhtật, ốm đau, sức yếu tuổi già, khủng hoảng kinh tế – xã hội. Luôn rình rập, đe doạ tớisự bảo đảm an toàn đời sống, cho nên vì thế An sinh xã hội cũng là nguyện vọng, là mong ước của mỗicon ngườiNhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do dân và vì dân. Mục tiêu kế hoạch “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công minh, dân chủ, văn minh ”. Bên cạnh việc tổ chức triển khai thực thi những chủ trương phúc lợi xã hội hiện có trong từng giaiđoạn, Nhà nước ta đã từ từ thể chế hoá những hoạt động giải trí đó bằng mạng lưới hệ thống pháp lý ansinh xã hội, tạo khung pháp lý cho mọi người dân, đặc biệt quan trọng những đối tượng người tiêu dùng yếu thế, thiệtthòi, dễ bị tổn thương được bảo vệ chăm nom. Để đạt được tân tiến và công minh xã hội, việc trợ giúp những đối tượng người tiêu dùng tượng yếu thế trong xã hội không chỉ là trách nhiệm, tráchnhiệm của Nhà nước và nhân dân mà còn tiềm ẩn cội nguồn của truyền thống cuội nguồn nhânvăn, đạo lý tốt đẹp của một dân tộc bản địa có bề dày lịch sử dân tộc hàng nghìn năm. Bảo vệ giúp sức người tàn tật là nghĩa vụ và trách nhiệm của mái ấm gia đình và toàn xã hội làviệc làm tiếp tục của những cấp ủy Đảng chính quyền sở tại địa phương, để phát huy sứcmạnh cộng đồng sự phối hợp của những tổ chức triển khai xã hội và hợp tác quốc tế. Qua thời hạn được nghiên cứu và điều tra môn học An sinh xã hội và việc thực thi cácchính sách phúc lợi xã hội tại địa phương, tôi lựa chọn đề tài : “ An sinh xã hội vớingười khuyết tật – Thực trạng, giải pháp và vai trò công tác làm việc xã hội với người khuyếttật ở Tiền Giang ”. PHẦN NỘI DUNGTiểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN1. An sinh xã hội1. 1 Định nghĩaAn sinh xã hội là một mạng lưới hệ thống những chính sách, chủ trương, những giải phápcủa Nhà nước và hội đồng nhằm mục đích trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đốiphó với những rủi ro đáng tiếc, những cú sốc về kinh tế tài chính – xã hội làm cho họ suy giảm hoặcmất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn đáng tiếc, bệnh nghề nghiệp, già cảkhông còn sức lao động hoặc vì những nguyên do khách quan khác rơi vàocảnh nghèo khó, bần cùng hoá và cung ứng dịch vụ chăm nom sức khoẻ chocộng đồng, trải qua những mạng lưới hệ thống chủ trương về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm ytế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt quan trọng. 1.2 Các hợp phần tạo thành mạng lưới hệ thống ASXH – Chính sách và những chương trình thị trường lao động tích cực mà trọngtâm của nó là trợ giúp tạo việc làm cho những đối tượng người tiêu dùng yếu thế trong thị trườnglao động và trợ cấp cho số lao động dôi dư do quy trình sắp xếp lại những doanhnghiệp, cổ phần hoá những doanh nghiệp ( chủ trương Bảo hiểm thất nghiệp ). – Chính sách Bảo hiểm xã hội trong đó gồm có những chính sách hương trí, mấtsức lao động, ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tử tuất. – Chính sách Bảo hiểm y tế gồm có cả bảo hiểm y tế bắt buộc, bảohiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm y tế cho người nghèo, đối tượng người tiêu dùng bảo trợ xãhội và trẻ nhỏ dưới 6 tuổi. – Chính sách trợ giúp đặc biệt quan trọng – chủ trương tặng thêm so với thương bệnh binh, thương bệnh binh, thân nhân liệt sỹ và người có công với nước. – Trợ giúp xã hội cho những đối tượng người dùng yếu thế ( đối tượng người tiêu dùng xã hội ) bao gồmtrợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng người dùng bảo trợ xã hội ; trợ giúp về y tế, giáodục, dạy nghề và tạo việc làm, tiếp cận những khu công trình công cộng, hoạt độngvăn hoá thể thao và trợ giúp khẩn cấp mà từ trước đến nay hay gọi là cứu trợkhẩn cấp cho những người không may gặp rủi ro đáng tiếc đột xuất bởi thiên tai. – Chính sách và những chương trình trợ giúp người nghèo. 2. Người khuyết tật ( NKT ) Tiểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) 2.1 Định nghĩaNgười khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận khung hình hoặcbị suy giảm công dụng được biểu lộ dưới dạng tật khiến cho lao động, hoạt động và sinh hoạt, họctập gặp khó khăn vất vả. 2.2 Các dạng khuyết tật – Khuyết tật hoạt động – Khuyết tật nghe, nói – Khuyết tật nhìn – Khuyết tật thần kinh, tinh thần – Khuyết tật trí tuệ – Khuyết tật khác. 3. Công tác xã hội ( CTXH ) – Công tác xã hội ( CTXH ) được xem như thể một nghề mang tính chuyên nghiệp ởnhiều vương quốc từ gần thế kỷ nay. CTXH sống sót và hoạt động giải trí khi Open những vấnđề cần xử lý như thực trạng nghèo khó, bất bình đẳng giới, và trợ giúp những thànhphần dễ bị tổn thương như trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ đường phố, trẻ bị lạm dụng … – Tuy nhiên ở Nước Ta, CTXH thường được nghĩ như thể một việc làm từ thiện. Để cho thấy CTXH không phải là việc làm đơn thuần như công tác làm việc từ thiện, cần có cáinhìn rất đầy đủ ý nghĩa về CTXH. Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH, dướiđây là 1 số ít định nghĩa về CTXH. 3.1 Khái niệm 1 : – Theo Thương Hội Quốc gia NVCTXH ( NASW ) : Công tác xã hội là hoạt độngnghề nghiệp trợ giúp những cá thể, nhóm hay hội đồng để nhằm mục đích nâng cao hay khôiphục tiềm năng của họ để giúp họ triển khai tính năng xã hội và tạo ra những điều kiệnxã hội tương thích với những tiềm năng. – CTXH sống sót để phân phối những dịch vụ xã hội mang tính hiệu suất cao và nhân đạocho cá thể, mái ấm gia đình, nhóm, hội đồng và xã hội giúp họ tăng năng lượng và cải thiệncuộc sống. 3.2 Khái niệm 2 : Theo Cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh ( trích từ tài liệu hội thảo2004 ) : Định nghĩa cổ xưa : CTXH nhằm mục đích giúp cá thể và hội đồng TỰ GIÚP. NóTiểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) không phải là một hành vi ban bố của từ thiện mà nhằm mục đích phát huy thiên chức của hệthống thân chủ ( cá thể, nhóm và hội đồng ) để họ tự xử lý yếu tố của mình. 3.3 Khái niệm 3 : Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế ( IFSW ) tại Hộinghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000 : CTXH chuyên nghiệp thôi thúc sựthay đổi xã hội, tiến trình xử lý yếu tố trong mối quan hệ con người, sự tăngquyền lực và giải phóng cho con người, nhằm mục đích giúp cho đời sống của họ ngày càngthoải mái và thoải mái và dễ chịu. Vận dụng những triết lý về hành vi con người và những mạng lưới hệ thống xãhội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên. 3.4 Khái niệm 4 : Theo đề án 32 của Thủ tướng nhà nước : CTXH góp thêm phần giảiquyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh những vấn đềxã hội, nâng cao chất lượng đời sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lànhmạnh, công minh, niềm hạnh phúc cho người dân và thiết kế xây dựng mạng lưới hệ thống phúc lợi xã hội tiêntiến. II. THỰC TRẠNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT1. Nước taTheo thống kê mới gần đây của Viện nghiên cứu và điều tra và Phát triển xã hội và Viện Nghiêncứu Dư luận xã hội tại, hiện cả nước có khoảng chừng 6,7 triệu người khuyết tật, chiếm 8 % dân số, trong đó có 400.000 NKT nặng, có tới 42 % NKT tự nhìn nhận thực trạng sứckhoẻ của mình kém hơn rất nhiều so với người không khuyết tật ; khoảng chừng 20 % NKT và95 % NKT nặng trong độ tuổi lao động không đi làm. Tỷ lệ NKT có thu nhập gồm có lương, trợ cấp và phúc lợi ngoài lương thấp hơnnhiều so với người không khuyết tật, khoảng chừng 50% số NKT có mức lương thángtrung bình từ 1,25 triệu đồng trở xuống. Ngoài ra, yếu tố tẩy chay và phân biệt đối xử vớiNKT vẫn đang diễn ra hàng ngày và tác động ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, lao động, học tập của NKT. Hiện số NKT bị tẩy chay cao nhất là dạng khuyết tật tiếp xúc với95, 5 %, khuyết tật trí não là 81 % và khuyết tật trong tự chăm nom bản thân là 80 %. Mặc dù trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước ta đã có rất nhiều chính sáchhỗ trợ NKT nhưng vẫn còn những yếu tố mà NKT đang gặp phải vẫn là sự tẩy chay vàphân biệt đối xử, số đông NKT chưa biết hoặc chưa có điều kiện kèm theo, năng lực tiếp cận, hiểu biết về những chủ trương tặng thêm dành cho họ …, điều đó đã dẫn đến năng lực hòaTiểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) nhập và tăng trưởng của NKT bị hạn chế. Mặt khác, NKT thuộc nhóm yếu thế do sựkhiếm khuyết của khung hình, những công dụng xã hội của họ hoàn toàn có thể bị suy giảm. Từ thực tiễn này, sự tham gia của nhân viên cấp dưới CTXH sẽ giúp NKT tiếp cận với cácnguồn lực, tư vấn cho họ phát huy năng lực, trình độ để NKT trở nên can đảm và mạnh mẽ hơn, tựtin sống độc lập, hòa nhập hội đồng và tham gia bình đẳng vào những hoạt động giải trí xã hội, có thời cơ được lao động, học tập như những người thông thường. Nhân viên CTXHcũng sẽ tham vấn cho NKT có điều kiện kèm theo tiếp cận để được chăm nom sức khỏe thể chất, phục hồichức năng, học văn hóa truyền thống, học nghề, thao tác, trợ giúp pháp lý, giúp họ hiểu và nắm bắtđược những quyền của họ theo lao lý của pháp lý … 2. Tiền GiangDân số Tiền Giang năm 2012 có khoảng chừng 1.670.000 người, trong đó có đến8. 219 người đang hưởng chủ trương thương bệnh binh, 1.407 nạn nhân chất độc dacam / dioxin, 1.024 người khuyết tật do tai nạn đáng tiếc lao động, 1.269 trẻ nhỏ khuyết tật đanghọc hòa nhập tại những cơ sở giáo dục mần nin thiếu nhi, trường tiểu học, trường chuyên biệt vàcan thiệp sớm tại Trung tâm tương hỗ tăng trưởng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, 19.330 đối tượng người tiêu dùng là người khuyết tật đang hưởng chủ trương bảo trợ xã hội hàng tháng tạicộng đồng, 180 đối tượng người dùng là người khuyết tật đang chăm nom, nuôi dưỡng hàng thángtại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh. Tình trạng người khuyết tật vẫn còn là yếu tố bức xúc của toàn xã hội. Đời sống ngườikhuyết tật tại hội đồng còn rất nhiều khó khăn vất vả, phần đông thuộc diện mái ấm gia đình nghèo, sống ở khu vực nông thôn, thiếu tư liệu sản xuất ; hầu hết là dựa vào người thân trong gia đình, giađình, sự trợ giúp của những nhà hảo tâm, hưởng những chính sách, chủ trương và trợ cấp xã hộihàng tháng. Hiện nay, điều kiện kèm theo giao thông vận tải nông thôn còn nhiều khó khăn vất vả, nên ngườikhuyết tật gặp nhiều trở ngại trong việc đi lại, tiếp xúc xã hội, tăng trưởng kinh tế tài chính giađình. Một số người khuyết tật không được đến trường, một số ít được tiếp cận giáo dục nhưngtrình độ chỉ ở mức biết đọc biết viết hoặc trình độ cấp tiểu học, trung học cơ sở, rất ítngười khuyết tật có trình độ trung học phổ thông, ĐH. Đa số người khuyết tật chưaqua huấn luyện và đào tạo nghề, có người khuyết tật ở vùng thành thị được huấn luyện và đào tạo nghề, nhưng cóviệc làm rất ít ; điều này ảnh hưởng tác động đến đời sống của người khuyết tật. 3. Những khó khăn vất vả sống sót của NKT trong cuộc sốngTiểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) 3.1 Kì thị – Năm 2007 được sự hỗ trợ vốn của Quỹ Ford, Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội ( ISDS ) đã thực thi khảo sát 4 tỉnh thành ở Nước Ta và đưa ra một vài số lượng thốngkê sau đây về quan điểm của hội đồng về người khuyết tật – qua đó cho thấy sự phânbiệt đối xử là lớn như thế nào : Thái độ của hội đồng với người khuyết tậtTỉ lệ quan điểm đồng ý98 % đến 99 % Đáng thương18 % đến 32 % Người khuyết tật là người ỷ lạiNgười khuyết tật không hề có đời sống bình thườngNgười khuyết tật bị như vậy là do số phậnNgười khuyết tật đáng phải gánh chịu số kiếp khuyết tật40 % đến 59,4 % 56 % đến 65 % 14 % đến 21 % như vậy vì họ phải trả giá cho việc làm xấu xa ở kiếp trước17 % Gặp phải người khuyết tật là gặp vận đen – Và những số lượng thống kê về người khuyết tật bị phân biệt đối xử bởi chínhgia đình mình ( dựa trên việc đặt câu hỏi với những người quen biết người khuyết tật, bởi người trong mái ấm gia đình sẽ không nói thật về hành vi phân biệt đối xử của chính họ ) : • Coi thường người khuyết tật ( 16 % ) ; • Coi là gánh nặng suốt cuộc sống ( 40 % ) ; • Coi là vô dụng ( 20,7 % ) ; • Thường xuyên lăng mạ ( 14,2 % ) ; • Bỏ mặc không chăm nom ( 8,5 % ) ; • Bỏ rơi ( 7,1 % ) ; • Không cho ăn ( 4,3 % ) ; • Khóa / xích trong nhà ( 10,2 % ) ; • Bắt đi ăn xin ( 1,5 % ). Tiểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) 3.2. Tâm lýTâm lý của khá đông người khuyết tật là mặc cảm, tự nhìn nhận thấp bản thânmình so với những người thông thường khác. Nhiều người khuyết rất nhạy cảmhay mặc cảm ngoại hình, tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết khung hình củamình đến nỗi chẳng muốn vươn lên, vượt qua và hòa nhập. 3.3 Việc làm – Việc làm so với người khuyết tật luôn là một trong câu hỏi lớn cần được cảcộng đồng cùng tìm giải thuật. Không ít doanh nghiệp hoặc cá thể hiện không chịunhận người khuyết tật vào thao tác ; chính vì doanh nghiệp chưa mạnh dạn ‘ mở lòng’nên tỷ suất người tàn tật thất nghiệp vẫn còn cao. Nhiều người tàn tật bằng nghị lực đãvươn lên, bằng mọi cách mong tìm được việc làm tương thích để không là gánh nặng củagia đình và xã hội nhưng cũng khó có việc làm không thay đổi. Sự khiếm khuyết trên cơ thểkhông chỉ là nỗi đau sức khỏe thể chất mà còn là vật cản khiến họ không tự tin hòa nhập vớicộng đồng. – Việc làm không riêng gì đem lại niềm vui, thu nhập cho người khuyết tật mà còn làcầu nối giúp họ tự tin, hòa nhập với đời sống. 3.4 Khó khăn khácNgoài những yếu tố nêu trên thì hầu hết người khuyết tật còn phải gánh chịu nhữngvấn đề khó khăn vất vả khác trong đời sống như : bần hàn, hôn nhân gia đình, học tập và những dịchvụ xã hội ( y tế, văn hóa truyền thống, thể thao, … ). III. MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP TRỢ GIÚP NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRỢGIÚP NKT TRÊN TỈNH TIỀN GIANG1. Muc tiêu từ tiến trình năm ngoái – 2020 : – Xóa bỏ kì thị, phân biệt đối xử với NKT. Đồng thời tạo sự tự tin, dẹp bỏ mặccảm của NKT trong đời sống bằng những giải pháp tích cực. – Hàng năm, 85 % số người khuyết tật được tiếp cận những dịch vụ y tế dưới cáchình thức khác nhau ; 65 % trẻ nhỏ từ sơ sinh đến 6 tuổi được sàng lọc phát hiện sớm vàcan thiệp sớm những dạng khuyết tật ; khoảng chừng 3.500 người khuyết tật được phẫu thuậtchỉnh hình, hồi sinh công dụng và cung ứng dụng cụ trợ giúp tương thích. – 90 % trẻ khuyết tật có năng lực học tập được đến trường học hòa nhập, số cònlại được tiếp cận giáo dục. Tiểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) – Trên 50 % người khuyết tật trong độ tuổi lao động còn năng lực lao động đượchọc nghề và tạo việc làm tương thích. – Trên 55 % khu công trình là trụ sở thao tác của cơ quan nhà nước ; bến xe, bến phà ; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ; cơ sở giáo dục, dạy nghề ; khu công trình văn hóa truyền thống, thể dục thểthao ; nhà căn hộ chung cư cao cấp bảo vệ điều kiện kèm theo tiếp cận so với người khuyết tật. – Ít nhất 45 % người khuyết tật có nhu yếu tham gia giao thông vận tải được sử dụngphương tiện giao thông vận tải bảo vệ quy chuẩn kỹ thuật về giao thông vận tải tiếp cận hoặc dịchvụ trợ giúp tương tự. – 40 % người khuyết tật được trợ giúp tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin vàtruyền thông. – 40 % người khuyết tật được tương hỗ tham gia những hoạt động giải trí văn hóa truyền thống, thẩm mỹ và nghệ thuật ; 40 % người khuyết tật được tương hỗ tham gia những hoạt động giải trí và luyện tập thể dục, thểthao. – 100 % người khuyết tật được trợ giúp pháp lý khi có nhu yếu. – 90 % cán bộ làm công tác làm việc trợ giúp người khuyết tật được tập huấn, nâng caonăng lực về quản trị, chăm nom, tương hỗ, tổ chức triển khai quản lý, phối hợp liên ngành và giámsát, nhìn nhận trong công tác làm việc trợ giúp người khuyết tật ; 60 % mái ấm gia đình có người khuyếttật được tập huấn về kỹ năng và kiến thức, giải pháp chăm nom hồi sinh tính năng cho ngườikhuyết tật ; 50 % người khuyết tật được tập huấn những kiến thức và kỹ năng sống. 2. Giải pháp – Đẩy mạnh công tác làm việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức về người khuyết tật vớicác yếu tố tương quan. – Tăng cường vai trò chỉ huy và nghĩa vụ và trách nhiệm của những cấp ủy Đảng – Tăng cường góp vốn đầu tư nguồn lực cho những hoạt động giải trí trợ giúp người khuyết tật. – Tổ chức thực thi tốt những hoạt động giải trí, chủ trương trợ giúp người khuyết tật ở cáccấp theo lao lý của pháp lý bảo vệ tính đúng mực, công minh, minh bạch và hiệuquả. – Tổ chức triển khai những hoạt động giải trí trợ giúp người khuyết tật tiếp cận giáo dục. Triển khai lồng ghép những chương trình giáo dục kỹ năng và kiến thức sống cho học viên khuyết tậttrong những cơ sở giáo dục. Tiểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) – Đào tạo, tu dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật tại Trungtâm Hỗ trợ và Phát triển giáo dục hòa nhập, những trường dạy nghề và những Trung tâm dạynghề, trình làng việc làm ; Tư vấn, ra mắt việc làm cho người khuyết tật. – Triển khai những lao lý, quy chuẩn kỹ thuật vương quốc về thiết kế xây dựng để ngườikhuyết tật tiếp cận, sử dụng những khu công trình thiết kế xây dựng tương thích với người khuyết tật. Đốivới những khu công trình công cộng như : khu bán vé, khu dịch vụ, khu vệ sinh, thang máy, điểm rút tiền, lối thoát nạn phải tính đến nhu yếu sử dụng của người khuyết tật. Tại lốivào những khu công trình công cộng phải bảo vệ tiêu chuẩn tiếp cận ; khu vực dành cho đốitượng ưu tiên phải có ký hiệu, biển báo để người khuyết tật phân biệt, sử dụng. VI. VAI TRÒ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NKTNgười khuyết tật cũng là một công dân, họ gặp khó khăn vất vả, hạn chế về đi lại, tham gia những hoạt động giải trí hội đồng, học tập, tiếp xúc, ngoài những họ có những đặc điểmtâm lý độc lạ và gặp nhiều rào cản hơn so với những nhóm yếu thế khác trong xãhội … Mặc dù vậy, họ cũng có những thế mạnh, nhu yếu, tham vọng như bất kỳ ai. Bởivậy, sự tham gia tư vấn, tham vấn, tương hỗ của nhân viên cấp dưới công tác làm việc xã hội sẽ góp phầntạo dựng niềm tin, mở ra nhiều thời cơ mới cho NKT.Từ trong thực tiễn này, sự tham gia của nhân viên cấp dưới CTXH sẽ giúp NKT tiếp cận với cácnguồn lực, tư vấn cho họ phát huy năng lực, trình độ để NKT trở nên can đảm và mạnh mẽ hơn, tựtin sống độc lập, hòa nhập hội đồng và tham gia bình đẳng vào những hoạt động giải trí xã hội, có thời cơ được lao động, học tập như những người thông thường. Nhân viên CTXHcũng sẽ tham vấn cho NKT có điều kiện kèm theo tiếp cận để được chăm nom sức khỏe thể chất, phục hồichức năng, học văn hóa truyền thống, học nghề, thao tác, trợ giúp pháp lý, giúp họ hiểu và nắm bắtđược những quyền của họ theo lao lý của pháp lý … Nhân viên CTXH cũng có vai trò và nghĩa vụ và trách nhiệm quan trọng trong tiến trình tạora sự biến hóa tích cực so với đời sống của NKT, thôi thúc thiên nhiên và môi trường xã hội, baogồm chủ trương, pháp lý, hội đồng thân thiện để NKT thuận tiện hòa nhập xã hội. Nhân viên CTXH còn là người tư vấn, trình làng những chủ trương phúc lợi xã hội màNKT được hưởng như miễn hoặc giảm 1 số ít khoản góp phần cho những hoạt động giải trí xãhội, tiếp cận thuận tiện hơn với những khu công trình, phương tiện đi lại giao thông vận tải công cộng, dịchvụ văn hóa truyền thống, thể thao, du lịch và tham gia huấn luyện và đào tạo kiến thức và kỹ năng sống, tổ chức triển khai những dịch vụnâng cao năng lực sống độc lập của NKT. 10T iểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) CTXH là một nghề mới ở Nước Ta và là quy mô hoạt động giải trí trình độ hiệuquả hướng đến trao quyền và nâng cao chất lượng sống của những đối tượng người dùng yếu thế, trong đó có NKT. Cùng với việc phát hành Luật NKT ( năm 2010 ), khuynh hướng pháttriển xã hội đến năm 2020 và đề án tăng trưởng nghề CTXH, CTXH với NKT sẽ gópphần quan trọng trong việc tương hỗ, tư vấn, giảm sự tẩy chay, phân biệt với nhóm đốitượng này. Tuy nhiên công tác làm việc này nó đang phải đương đầu với những thời cơ và tháchthức rất lớn. Bởi vậy, yên cầu phải thiết kế xây dựng quy mô CTXH cho NKT có tính bềnvững và hiệu suất cao cao, cần dựa trên cách hiểu chung về yếu tố khuyết tật và hệ thốngchính sách, dịch vụ xã hội hiện hành, cũng như dựa trên cách tiếp cận về hòa nhập xãhội. Mặt khác, đội ngũ nhân viên cấp dưới CTXH cũng cần có những kiến thức và kỹ năng và kỹ năngchuyên nghiệp, giữ vững những giá trị nghề và phải có sự linh động thiết yếu tronghoạt động thực tiễn. PHẦN KẾT LUẬN11Tiểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) Người khuyết tật là một bộ phận không nhỏ của dân số quốc tế, trong bất kể mộtxã hội nào dù tăng trưởng hay kém tăng trưởng, dù phải hứng chịu cuộc chiến tranh hay khôngphải trải qua cuộc chiến tranh cũng sống sót một bộ phận người khuyết tật. Việt Nam có tỷ lệngười khuyết tật khá cao so với tỷ suất chung của toàn quốc tế, chiếm 8 % dân số cảnước tương tự khoảng chừng 6,7 triệu dân. Người khuyết tật luôn được sự chăm sóc củaĐảng và Nhà nước ta cùng một số ít tổ chức triển khai quốc tế. Nhà nước ta đã phát hành nhiều hệthống văn bản cùng với việc triển khai những công ước Quốc tế về người khuyết tật nhằmgiúp đỡ họ có đời sống tốt, tạo thời cơ giúp họ hoà nhập với hội đồng và phát triểnnhư những người thông thường khác. Nước Ta đang bước vào quá trình hội nhập can đảm và mạnh mẽ với quốc tế trên nhiềuphương diện và nghành nghề dịch vụ. Trong đó, không hề không kể đến công cuộc tăng trưởng kinhtế, xóa đói giảm nghèo, đấu tranh chống lại bất bình đẳng xã hội, nâng cao chất lượngcuộc sống cho mọi những tầng lớp dân cư và sự chung tay của cả hội đồng trong lộ trìnhthúc đẩy quyền hạn và năng lực tương hỗ cho người khuyết tật. Việt Nam đã triển khainhiều kế hoạch hành vi ở những Lever khác nhau nhằm mục đích theo đuổi tiềm năng xóa bỏrào cản để tạo ra một xã hội hòa nhập và tiếp cận cho tổng thể NKT trên những nghành củađời sống. 12T iểu luận chuyên đề chuyên sâuTrường Đại học Lao động – Xã hội ( CSII ) 13
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


