Luận văn tốt nghiệp Pháp luật về ly hôn, lý luận và thực tiễn giải quyết tại – Tài liệu text

Luận văn tốt nghiệp Pháp luật về ly hôn, lý luận và thực tiễn giải quyết tại tòa án

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (164.3 KB, 29 trang )

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

MỤC LỤC
MỤC LỤC ……………………………………………………………………………………04
Lời Mở Đầu ………………………………………………………………………………..06
1.

Lý do chọn đề tài ……………………………………………………………06

2.

Mục tiêu nghiên cứu đề tài ……………………………………………..07

3.

Phạm vi nghiên cứu ………………………………………………………..07

4.

Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………..07

5.

Kết cấu của chuyên đề ……………………………………………………….07

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT LY HÔN
………………………………………………………………………………..08
1.1

Khái quát chung về ly hôn ………………………………………………..08
1.1.1

Khái niệm ly hôn ……………………………………………………..08

1.1.2

Sơ lược lịch sử chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam qua các
giai đoạn ………………………………………………………………….10

1.2

Những quy định của pháp luật hiện hành về ly hôn …………13
1.2.1

Căn cứ ly hôn …………………………………………………………..13

1.2.2

Các trường hợp hạn chế quyền ly hôn ……………………….14

1.2.3

Hậu quả pháp lý của ly hôn ……………………………..15

1.2.4

Thủ tục giải quyết ly hôn …………………………………18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO

HIỆU QUẢ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN TẠI TAND TP
HỒ CHÍ MINH……………………………………………………………………………………………. 22
2.1 Thực trạng giải quyết vụ án ly hôn tại TAND TP Hồ Chí Minh
………………………………………………………………………………..22

Trang 1

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

2.2 Những bất cập còn tồn tại trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn tại
TP Hồ Chí Minh …………………………………………………………………………….25

2.3 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết
ly hôn ………………………………………………………………………………………..26

KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………….31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………….32

Trang 2

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:

Từ ngàn đời nay gia đình luôn là cái nôi hình thành và nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con
người. Những gia đình tốt đẹp sẽ xây dựng được một xã hội tiến bộ văn minh, một xã hội tiến
bộ văn minh là cơ sở để xây dựng một gia đình tốt đẹp. Chính vì vậy vai trò của gia đình
ngày càng được quan tâm và đề cao trong xã hội.
Để xây dựng được một gia đình tốt đẹp trước tiên chúng ta cần hiểu gia đình là gì? Gia
đình là tập hợp những người gắn với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc
quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của họ với nhau theo quy định của Luật
hôn nhân và gia đình. Khởi nguồn của quan hệ gia đình đó là quan hệ hôn nhân, là việc kết
hôn giữa người nam và người nữ theo những điều kiện mà pháp luật quy định.
Như vậy, chúng ta thấy một cuộc hôn nhân tốt đẹp sẽ là nền tảng để xây dựng một gia đình
và xã hội tốt đẹp.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự thay đổi về kinh tế – xã hội, quan hệ
giữa con người và con người, trong đó có quan hệ hôn nhân gia đình cũng bị tác động mạnh
mẽ. theo số liệu thống kê của tòa án các cấp, trong cả nước hàng năm số lượng vụ án về hôn
nhân và gia đình mà tòa án phải giải quyết là trên 60.000 vụ, việc trong đó chủ yếu là ly hôn.
Có ý kiến cho rằng ly hôn thể hiện mặt tiêu cực của xã hội, bởi “gia đình là tế bào của xã
hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”. Vì lẽ đó mà một xã hội
sẽ không thể tốt khi tồn tại trong lòng nó là sự tan rã, chia ly của các gia đình nhỏ. Từng
thành viên trong gia đình đó sẽ đi về đâu, họ sẽ sống như thế nào khi không còn tổ ấm nữa.
Nhưng cũng có nhiều người không đồng tình với ý kiến đó, theo họ ly hôn thể hiện măt tiến
bộ của xã hội. Bởi vì trong cuộc sống vợ chồng khó tránh khỏi những mâu thuẫn, xung đột
đến mức họ không thể chung sống với nhau được nữa, vấn đề ly hôn được đặt ra để giải
phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình.

Trang 3

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

Trên thực tế, số lượng các vụ ly hôn ở nước ta ngày càng gia tăng, nguyên nhân dẫn đến
ly hôn ngày càng đa dạng và có chiều hướng phức tạp, thực trạng này kéo theo những hậu
quả mang tính tiêu cực không chỉ về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
xã hội của đất nước nói chung, cũng như địa phương em nói riêng.
Vì những lí do trên, em đã quyết định chọn đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình là
“Pháp luật về ly hôn – Lý luận và thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí
Minh”.

2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
Phân tích những vấn đề lý luận về ly hôn và giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân. Từ
những lý luận đó, đánh giá thực trạng giải quyết vụ án ly hôn ở TAND địa phương, cụ thể là
Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất các giải pháp các biện pháp làm hạn chế,
giảm thiểu các vụ án ly hôn và hướng để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án ly hôn, để
góp phần làm cho thành phố Hồ Chí Minh ngày một phát triển mạnh mẽ, xứng đáng với
truyền thống tốt đẹp của quê hương, giữ vững và phát triênt bản sắc văn hóa, để góp phần
vào sự phát triển chung của đất nước.

3.

Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu các quy định hiện hành về hôn nhân gia đình, cụ thể là ly hôn được quy
định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, có sự so sánh đối
chiếu với một số văn bản pháp luật có liên quan trước đây.
Ly hôn là hiện tượng xảy ra ở khắp cả nước, đặc biệt ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, đề
tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề thực tiễn về ly hôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh trong thời gian từ 2012 – 2017 đã được tòa án TP. Hồ Chí Minh giải quyết.

4. Phương pháp nghiên cứu:

Trong báo cáo sẽ sử dụng những phương pháp sau đây: Phương pháp luận; phương pháp lịch
sử; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh,…

5. Kết cấu của chuyên đề:

Trang 4

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

Lời mở đầu
Chương 1: Lý luận chung về pháp luật ly hôn
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giải quyết vụ án ly hôn tại
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Kết luận

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT LY HÔN
1.1. Khái quát chung về ly hôn:
1.1.1. Khái niệm ly hôn:
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội có trong quá trình phát sinh, phát triển bao gồm: kết
hôn, duy trì quan hệ hôn nhân và ly hôn.
Quan hệ hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa với đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững
cho đến suốt cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa
vợ chồng. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, vì những lý do nào đó dẫn tới giữa vợ chồng
có mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể chung sống với nhau nữa, vấn đề ly hôn được
đặt ra để giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình. Nếu
kết hôn là một hiện tượng xã hội bình thường, thì ngược lại ly hôn là mặt trái của hôn nhân
nhưng lại là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, khi quan hệ

hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức.Vấn đề ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật của
mỗi quốc gia là khác nhau. Một số nước cấm vợ chồng ly hôn (theo Đạo thiên chúa), bởi vì
theo họ quan hệ vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý chúa. Một số nước thì hạn chế ly
hôn bằng cách đưa ra những điều kiện hết sức nghiêm ngặt. Cấm ly hôn hay hạn chế ly hôn
đều trái với quyền tự do dân chủ của cá nhân. Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công
nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những điều kiện
nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả
của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng pháp

Trang 5

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt
buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu
thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được. Việc giải
quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Điều đó là hoàn toàn có
lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình.
Theo khoản 14, điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì ly hôn được định nghĩa
như sau: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật của Tòa án”.
Khoản 1 Điều 16 Bản tuyên ngôn về quyền con người đã ghi nhận: “Nam và Nữ khi đủ
tuổi đều có quyền ly hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào do chủng
tộc, quốc tịch hoặc tôn giáo. Họ được hưởng các quyền bình đẳng khi kết hôn trong thời gian
chung sống và khi chia tay”. Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ, nguyên
tắc bình đẳng giữa vợ và chồng nghĩa là phải đảm bảo quyền tự do kết hôn và quyền tự do ly
hôn”. Pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi họ không yêu nhau thì cũng không bắt

buộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu giữa họ không còn nữa”. Pháp luật của
nhà nước Việt Nam công nhận và bảo vệ quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng. Ly
hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng. Quyền
yêu cầu ly hôn là quyền gắn với nhân thân của vợ chồng, chỉ có vợ hoặc chồng hoặc cả hai
vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn. Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ,
nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng nghĩa là phải đảm bảo quyền tự do kết hôn và quyền
tự do ly hôn”.
Việc thừa nhận quyền ly hôn là một mặt tất yếu của hôn nhân, không có nghĩa là khuyến
khích vợ chồng bỏ nhau. Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những
mối quan hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân
chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh. Nhà nước một
mặt ghi nhận quyền tự do ly hôn, mặt khác bằng pháp luật đặt ra cơ sở pháp lý nhất định xác
định tình trạng quan hệ hôn nhân như thế nào thì được phép ly hôn, kiểm soát việc giải quyết
ly hôn nhằm tránh việc sử dụng quyền ly hôn một cách tuỳ tiện. Pháp luật quy định Toà án là

Trang 6

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn dựa trên yêu cầu của vợ hoặc chồng
hoặc của cả hai vợ chồng. Toà án thực hiện chức năng xét xử, giải quyết các yêu cầu của
công dân theo những trình tự thủ tục luật định. Toà án có quyền ra các phán quyết: Bản án
tuyên xử ly hôn, quyết định công nhận thuận tình ly hôn, quyết định bác đơn yêu cầu ly
hôn.Việc giải quyết ly hôn phải dựa trên căn cứ ly hôn luật định.
Như vậy, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo pháp luật, do một trong hai bên
yêu cầu, hoặc cả hai và được quyết định bằng bản án hoặc quyết định công nhận của Tòa án.
1.1.2. Sơ lược lịch sử chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn:

Chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn là biện pháp được thừa nhận từ rất sớm trong luật Việt
Nam. Tại bộ Quốc Triều hình luật điều 308 có ghi “phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng mà
không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng), thì mất vợ. Nếu vợ đã có
con thì cho thời hạn 1 năm. Vì việc quan phải đi xa, thì không theo luật này. Nếu đã bỏ vợ,
mà ngăn cản người khác lấy vợ mình, thì phải tội biếm”. Thật ra điều luật không được viết tốt
lắm, nhưng thực tiễn ly hôn vẫn được công nhận. Việc ly hôn cũng được thừa nhận tại Bộ
luật Gia Long Điều 108 (thuận tình ly hôn).
Trong thời kỳ lục địa, chế độ ly hôn được xây dựng dựa theo quy định Pháp.

Thời kỳ pháp thuộc (đến trước năm 1945): Với mục đích phục vụ cho chính sách cai trị,
thực dân Pháp đã chia đất nước ta thành 3 miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ với tổ chức
bộ máy và hệ thống pháp luật riêng.
Tại Nam Kỳ đã áp dụng quy định của bộ Dân Luật giản yếu 1883 quy định quyền xin ly

hôn chỉ do người chồng quyết định, người vợ không có quyền xin ly hôn nhưng được áp
dụng chế độ “tam bất khứ” để hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng.
Trong Bộ Dân Luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ thì việc giải quyết ly hôn được xác định trên
cơ sở lỗi của vợ chồng tiếp tục được kế thừa tại Điều 118, 119 Bộ Dân Luật Bắc Kỳ 1931 để
giải quyết duyên cớ ly hôn cho riêng vợ (chồng). Theo Điều 118 Bộ Dân Luật Bắc Kỳ 1931
quy định người chồng có thể ly hôn vợ vì: vợ phạm gian, vợ bỏ nhà chồng mà đi, tuy đã bắt
phải về mà không về, vợ thứ đánh, chửi, tệ bạc với vợ chính. Điều 119 Bộ Dân Luật Bắc Kỳ

Trang 7

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

1931 quy định người vợ có thể xin ly hôn vì những duyên cớ sau: chồng không làm đúng
nghĩa vụ cam đoan sau khi kết hôn, chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có cớ gì chính đáng
và không lo liệu việc nuôi sống vợ con. Vấn đề ly hôn thời kỳ này, chủ yếu được xây dựng
trên nền tảng Nho giáo phong kiến trước đây và dựa theo Dân Luật của Pháp năm 1804 với
quan điểm thuần túy coi hôn nhân là một hợp đồng do Dân Luật điều chỉnh.

Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954: Ngày 10/10/1945 Chủ tịch nước đã ban Sắc lệnh số
90/ST, cho phép áp dụng những quy định trong bộ luật của chế độ cũ có chọn lọc trên
nguyên tắc là không được trái với lợi ích của nhà nước Việt Nam trong đó, có vấn đề hôn
nhân và gia đình và hậu quả của ly hôn. Và trong bản Hiến Pháp đầu tiên của nước ta năm
1946. Quyền bình đẳng giữa nam và nữ được ghi nhận tại Điều 19 Hiến Pháp: “Đàn bà
ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Điều này làm cơ sở pháp lý quan trọng
cho việc đấu tranh xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, đặt nền móng cho xây
dựng chế độ hôn nhân và gia đình dân chủ, tiến bộ

Giai đoạn từ năm 1955 đến 1975: Đây là thời kỳ đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai
miền: miền Bắc dưới sự lãnh đạo của chính quyền nhà nước Việt Nam DCCH, miền Nam
dưới sự cai trị của đế quốc Mỹ và chính quyền phong kiến Sài Gòn. Trước tình đó, Đảng
và nhà nước ta đã đề ra nhiệm vụ cho mỗi miền.
Ở miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 ghi nhận sự bình đẳng dân chủ giữa phụ nữ và

nam giới về các mặt, nhà nước bảo hộ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em, bảo vệ hôn nhân và gia
đình. Luật hônnhân và gia đình được Quốc hội khóa I thông qua ngày 29/12/1959 và có hiệu
lực ngày 13/01/1960. Lần đầu tiên căn cứ ly hôn được xác định hoàn toàn khác. Việc giải
quyết ly hôn không dựa trên yếu tố lỗi của các bên như trước đây mà trên cơ sở thực trạng
của quan hệ hôn nhân. Căn cứ ly hôn phản ánh hôn nhân không thể tồn tại được nữa, nếu xét
thấy “tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân

không đạt được” thì tòa sẽ cho ly hôn.
Ở miền Nam, sau năm 1954, đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp, tiến hành cuộc
chiến tranh xâm lược kiểu mới. Dưới chính sách cai trị của đế quốc Mỹ và chế độ ngụy

Trang 8

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

quyền Sài Gòn, hệ thống các văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình được ban hành với
những nội dung lạc hậu, gồm có:

Luật gia đình ngày 02/01/1959 (Luật số 1-59) dưới chế độ Ngô Đình Diệm.

Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú và tài sản cộng đồng.

Bộ Dân Luật ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Các văn bản trên đều đã quy định bãi bỏ chế độ đa thê, song vẫn thực hiện nguyên tắc bất
bình đẳng giữa vợ chồng, bảo vệ quyền gia trưởng.

Từ năm 1976 dến nay: Sự ra đời của Hiến Pháp 1980 đã có quy định mới về nguyên tắc

xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình đã đòi hỏi Luật hôn nhân và gia đình phải có
những quy định cụ thể hóa những nguyên tắc này. Vì vậy Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 có một số quy định không phù hợp. Điều này đòi hỏi phải có Luật hôn nhân và gia
đình mới. Xuất phát từ tình hình trên, tại kỳ họp thứ 12 Quốc hội khóa VII ngày
29/11/1986 đã thông qua Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 gồm 10 Chương, 57 Điều.
Bộ luật này ra đời có sự kế thừa có chọn lọc của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đã
được xây dựng trên 5 nguyên tắc sau: Hôn nhân tiến bộ, tự nguyện; hôn nhân một vợ,
một chồng; vợ chồng bình đẳng; bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con cái; bảo vệ bà mẹ và
trẻ em.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời khi nhà nước ta bắt đầu thời kỳ đổi mới toàn

diện trên mọi lĩnh vực, để đáp ứng sự đổi mới trên thì hệ thống pháp luật Việt Nam cũng phải
có sự đổi mới cho phù hợp, Luật hôn nhân và gia đình 1986 trở nên không phù hợp với hoàn
cảnh xã hội hiện tại. Do vậy tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa X ngày 09/6/2000 đã thông qua
Luật hôn nhân và gia đình gồm 13 chương, 110 điều. Được xây dựng trên các nguyên tắc:
Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc
các dân tộc và tôn giáo, giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, cha mẹ có nghĩa vụ
nuôi dạy con cái, không phân biệt con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong và ngoài
giá thú, bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người
mẹ.

Trang 9

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

Tại kỳ họp thứ 7 Quốc Hội khóa XIII Ngày 19/6/2014 đã thông qua luật hôn nhân và gia
đình gồm 9 chương, 133 điều. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa, phát triển và

mở rộng hơn, cụ thể hơn, chi tiết hơn so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nhằm mục
đích giải quyết tốt nhất vấn đề ly hôn trong xã hội Việt Nam.

1.2. Những quy định của pháp luật hiện hành về ly hôn:
1.2.1. Căn cứ ly hôn:
Quan hệ hôn nhân không những liên quan đến lợi ích riêng tư của vợ chồng, gia đình mà
còn ảnh hưởng đến lợi ích chung của nhà nước và toàn xã hội. Vì thế, việc giải quyết ly hôn
không thể thiếu sự kiểm soát của nhà nước bằng pháp luật.
Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, căn cứ ly hôn là những tình tiết được quy định
trong pháp luật và chỉ khi nào xuất hiện những tình tiết này Toà án mới được xử cho ly hôn.
Có 2 căn cứ ly hôn sau:

Toà án xem xét yêu cầu ly hôn nhưng xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung

không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được thì toà án quy định cho ly hôn.
+ Tình trạng trầm trọng: Nghĩa là giữa vợ chồng đã có những mâu thuẫn gay gắt không thể
dung hồ được, tình cảm đã lạnh nhạt (không còn yêu thương quý trọng nhau nữa…)
+ Đời sống chung không thể kéo dài: Nghĩa là vợ chồng không thể chung sống bình thường
với nhau và không thể chịu đựng nhau, thường xuyên sống trong tình trạng căng thẳng(có
hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau..)

Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì toà

án giải quyết cho ly hôn (điều 89)
Sau khi Toà án tuyên bố một người (vợ hoặc chồng) bị mất tích có quyền yêu cầu xin ly
hôn.
Như vậy, thực tiễn có thể xảy ra hai trường hợp nêu trên và khi giải quyết cho ly hôn với
người bị tuyên bố mất tích, toà án cần chú ý giải quyết việc quản lý tài sản của người bị tuyên

bố mất tích theo đúng quy định tại điều 89 BLDS. Khi vợ hoặc chồng hoặc cả vợ cả chồng có
Trang 10

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

yêu cầu ly hôn thì Tòa án nhân dân tiến hành xác minh, hòa giải nhằm đoàn tụ gia đình. Nếu
hòa giải không thành thì Tòa án mới tiến hành xử ly hôn.
Tóm lại, trong quá trình xây dựng gia đình xuất hiện mâu thuẫn từ nhiều lý do khác
nhau, làm cho mục đích hôn nhân không đạt được thì ly hôn là một giải pháp tích cực để giải
phóng vợ và chồng để mỗi bên tự đi tìm và xây dựng cho mình hạnh phúc mới, thông qua đó
đảm bảo được quyền tự do bình đẳng, và bảo đảm quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng theo
quy định của pháp luật hiện hành.
1.2.2. Các trường hợp hạn chế quyền ly hôn:
Ly hôn là một việc không ai mong muốn, tuy nhiên trong một số trường hợp nó lại là
phương thức tốt nhất để giải quyết tình trạng hôn nhân khi mà các bên không thể tiếp tục duy
trì mối quan hệ vợ chồng nữa. Pháp luật quy định rõ các căn cứ để ly hôn, tuy vậy trong một
số trường hợp ngoại lệ dù đã có căn cứ ly hôn, nhưng vẫn không được ly hôn. Đó là các
trường hợp bị hạn chế ly hôn.
Nhằm thực hiện nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, cũng như việc thực hiện nghĩa vụ
chăm sóc, giúp đỡ nhau giữa vợ và chồng, Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định: chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh
con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đây là điều kiện hạn chế ly hôn áp dụng cho
người chồng ngay cả khi con mà người vợ đang mang thai hoặc sinh ra không phải là con của
người chồng. Trong trường hợp người chồng có đơn yêu cầu ly hôn mà chưa thụ lý vụ án thì
Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người nộp đơn.
1.2.3. Hậu quả pháp lý của ly hôn:
Về mặt xã hội, ly hôn ảnh hưởng sâu sắc đến lợi ích của vợ, chồng, gia đình và xã hội.

Từ góc độ pháp luật, việc ly hôn dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định.

Quan hệ nhân thân của vợ, chồng:

Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định ly hôn của toà án có hiệu lực, quan hệ vợ,
chồng được chấm dứt. Người vợ, (chồng) đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác. Trên

Trang 11

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

thực tế, có không ít cặp vợ, chồng đã ly hôn lại quay trở về chung sống với nhau trong quan
hệ vợ, chồng thì cũng phải tiến hành đăng ký kết hôn theo thủ tục pháp luật quy định nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, bảo vệ gia đình và xã hội. Bởi sau khi ly hôn,
các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ, chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn (như nghĩa vụ yêu
thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, quyền đại diện cho nhau..)

Chia tài sản của vợ, chồng khi ly hôn:

+ Đối với tài sản riêng của mỗi bên: Khi vợ, chồng ly hôn, tài sản riêng của bên nào vẫn
thuộc quyền sở hữu của bên đó. Tuy nhiên, người có tài sản riêng phải chứng minh được đó
là tài sản của riêng mình (Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Nếu không chứng
minh được tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó
là tài sản chung (khoản 3 điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Đối với những tài
sản là tài sản riêng của vợ, chồng nhưng vợ, chồng đã nhập vào khối tài sản chung thì khi vợ

chồng ly hôn, tài sản đó vẫn được xác định thuộc khối tài sản chung của vợ, chồng.
+ Đối với tài sản chung: Theo quy định tại điều 59 Luật hôn nhân 2014 thì việc chia tài sản
của vợ, chồng khi ly hôn do các bên thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì yêu cầu toà
án giải quyết. Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ, chồng sẽ được chia đôi, nhưng có xem xét
đến hoàn cảnh của mỗi bên về tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo
lập, duy trì, phát triển tài sản này. Trường hợp vợ hoặc chồng có vay mượn tiền của người
khác để sử dụng cho mục đích chung của gia đình thì phải được thanh toán bằng tài sản
chung. Tài sản chung của vợ, chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động
hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác có thể là tiền trúng thưởng
xổ số, tiền trợ cấp.. Khi chia tài sản, Toà án đồng thời dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự thoả
thuận của các bên.
Theo Khoản 2, 5 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014, việc chia tài sản chung sau ly hôn
phải được thực hiện trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên
hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi, không có khả năng lao động hoặc
không có tài sản để nuôi sống bản thân, cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên

Trang 12

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

trong sản xuất, kinh doanh, và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu
nhập.

Giải quyết cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn:

Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng là một trong những quyền và nghĩa vụ tài sản

gắn liền với nhân thân của vợ, chồng được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện ngay cả
khi vợ, chồng đã ly hôn. Theo điều 115 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Khi ly hôn
nếu một bên khó khăn hoặc túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên
kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”. Mức cấp dưỡng, phương thức cấp
dưỡng có thể do các bên thoả thuận hoặc do Toà án quyết định. Các bên có quyền yêu cầu
thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng khi có lý do chính đáng. Việc cấp dưỡng
giữa vợ và chồng chấm dứt khi bên được cấp dưỡng kết hôn với người khác hoặc bên được
cấp dưỡng hết khó khăn túng thiếu hoặc bên cấp dưỡng không còn khả năng thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng.

Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con chung khi ly hôn:

“ Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con
chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật, không có
khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình” (Khoản 1, điều 81 Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014)
+ Đối với con chung, toà án căn cứ vào những điều kiện cụ thể của từng bên để xác định việc
giao con chung chưa thành niên hoặc đã thành niên mà bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân
sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình cho đương sự nào đảm
bảo cho con có cuộc sống ổn định, thuận lợi cho sự phát triển bình thường của con.
“Về nguyên tắc con dưới 3 tháng được giao cho mẹ trực tiếp nuôi nếu các bên không có thoả
thuận khác” (khoản 3, điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)
Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau
khi ly hôn đối với con, nếu không thoả thuận được thì Toà án giao con cho một bên trực tiếp
nuôi, căn cứ quyền lợi về mọi mặt của con (khoản 2, điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình

Trang 13

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

2014). Nếu con từ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con (khoản 2, điều 81 Luật
Hôn nhân và gia đình 2014).
Bên không trực tiếp nuôi dưỡng con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Mức – Phương
thức cấp dưỡng có thể do các bên đương sự thoả thuận, do Toà án quyết định. Trong quá trình
giải quyết việc ly hôn, ngoài việc dựa vào sự gắn bó tình cảm của con với cha mẹ, điều kiện
vật chất tinh thần cha mẹ có thể dành cho con. Toà án còn phải dựa vào môi trường sống để
quyết định giao đứa trẻ cho ai nuôi. Nếu đứa trẻ đã quen ở một môi trường nhất định, thì khi
quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng phải xem đứa trẻ có chịu ức chế về mặt tình
cảm hoặc gặp khó khăn khi hoà nhập môi trường sống khác không? Thông thường đương sự
nào đang trực tiếp nuôi con tại thời điểm có đơn xin ly hôn thì Toà án giao con cho người đó
tiếp tục nuôi. Nếu bên đương sự đang nuôi con gặp khó khăn thì Toà án giao đứa trẻ cho
người khác nuôi. Nếu các bên thoả thuận giao con cho người thân thích nuôi dưỡng thì Toà
án quyết định giao con của họ cho người thân thích nuôi dưỡng trên cơ sở lợi ích của đứa trẻ.
Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn:
+ Điều 82 Luật hôn nhân gia đình 2014: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có
quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này”. Quyền thăm
viếng được thực hiện theo ý chí của người có quyền chứ không bị ràng buộc vào các thỏa
thuận với người nuôi con. Người thăm viếng có thể thăm viếng thường xuyên hoặc thăm
viếng đột xuất, thăm viếng trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên việc thực hiện quyền thăm
viếng phải hòa hợp với lịch trình sinh hoạt của con và của người nuôi con.
Quyền thăm viếng không thể bị hạn chế hoặc bị treo, đình chỉ vì người không trực tiếp nuôi
dưỡng không thực hiện đúng nghĩa vụ cấp dưỡng.
+ Nếu bên không trực tiếp nuôi con quá lạm dụng quyền thăm nom con để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng trực tiếp đến việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người đang trực tiếp
nuôi con có quyền yêu cầu toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

+ Nếu người đang trực tiếp nuôi con có hành vi cản trở quyền thăm nom con của người kia,
thì họ có quyền yêu cầu toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Trang 14

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

+ Nếu con từ 9 tuổi trở lên muốn thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng thì toà án phải tham
khảo ý kiến đứa trẻ trước khi ra quyết định thay đổi người nuôi dưỡng trực tiếp
1.2.4. Thủ tục giải quyết ly hôn:
Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của vợ, chồng. Có thể vợ hoặc chồng yêu cầu
ly hôn (ly hôn do một bên yêu cầu) hoặc cả hai vợ chồng yêu cầu ly hôn (thuận tình ly hôn).
Dù là ly hôn do một bên yêu cầu hay thuận tình ly hôn, khi giải quyết phải đảm bảo đúng
nguyên tắc: Vừa tôn trọng quyền tự do ly hôn của vợ chồng, vừa bảo đảm giải quyết chính
xác, không mắc sai lầm trong quyết định cho phép vợ chồng ly hôn. Thủ tục giải quyết ly hôn
phải tuân theo các bước sau:

Nộp đơn:

+ Đứng đơn: người đứng đơn chỉ có thể là vợ hoặc chồng. Luật không có quy định cho phép
người giám hộ, người đại diện theo pháp luật (trong trường hợp vợ hoặc chồng bị hạn chế
năng lực hành vi) đứng đơn thay cho người được giám hộ hoặc người được đại diện. Luật
cũng không dự kiến cho Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu ly hôn
thay cho các đương sự.
+ Nơi nộp đơn: theo Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết
các vụ án dân sự là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bị đơn. Thực ra, không có yếu tố
lỗi trong ly hôn, khó có thể nói rằng bên này hay bên kia trong vụ án ly hôn là nguyên đơn

hay bị đơn. Nếu vợ và chồng cùng đứng đơn xin ly hôn, thì đơn sẽ được nộp cho Tòa án nơi
cư trú của vợ chồng, hoặc vợ chồng có nơi cư trú riêng, nơi cư trú của bên này hoặc bên kia
theo sự thỏa thuận của họ. Trong trường hợp một người đứng đơn xin ly hôn, thì đơn sẽ được
nộp cho Tòa án nơi cư trú của vợ và chồng, hoặc nếu vợ chồng có nơi cư trú riêng thì đơn sẽ
được nộp cho Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn.

Hòa giải ở cơ sở: điều 52 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Nhà nước và xã hội

khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn.Việc hòa giải được thực
hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở”. Hòa giải ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng
nhằm giúp vợ, chồng có thể nhận thấy những sai lầm của mình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng

Trang 15

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

và giúp họ tìm ra những biện pháp nhằm giải quyết những mâu thuẫn đó, để họ có thể trở về
đoàn tụ gia đình, mà không cần gửi đơn yêu cầu ly hôn đến cơ quan toà án.
Điều 21 Luật hòa giải cơ sở 2014, việc hòa giải có thể được tiến hành theo ý kiến của tổ
trưởng hoặc tổ viên tổ hòa giải, theo đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác hoặc
theo yêu cầu của một bên hoặc các bên tranh chấp. Vậy nghĩa là việc hòa giải có thể được
tiến hành ngay cả trong trường hợp các bên xin ly hôn không có yêu cầu hòa giải tại cơ sở.
Việc mặt lý thuyết việc hòa giải ở cơ sở có thể được tiến hành song song với hòa giải tại
Tòa án, thậm chí song song với quá trình xét xử tại Tòa án. Nếu hòa giải thành tại cơ sở, thì
các bên sẽ tự nguyện rút đơn tại Tòa án. Việc hòa giải ở cơ sở cũng có thể được thực hiện
như là bước đầu của thủ tục ly hôn, nếu hòa giải không thành, các bên hoặc một bên sẽ chính

thức nộp đơn xin ly hôn cho Tòa án.

Hòa giải tại toà án: Trong trường hợp vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng yêu cầu toà án giải

quyết việc ly hôn, toà án xem xét và tiến hành thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của vợ, chồng hoặc
đơn thuận tình ly hôn của vợ,chồng. Hòa giải tại Toà án là thủ tục bắt buộc đối với các trường
hợp xét xử ly hôn.Trong các hồ sơ về ly hôn mà thiếu biên bản hòa giải thì bản án, quyết định
của toà án sẽ bị huỷ.
Khi giải quyết ly hôn, Toà án cần xem xét toàn diện về lợi ích của vợ, chồng, các con,
lợi ích gia đình và lợi ích xã hội để cân nhắc và quyết định bác yêu cầu ly hôn hoặc chấp
nhận yêu cầu ly hôn của vợ chồng. Trong mọi trường hợp ly hôn, dù vợ, chồng xin ly hônvới
bất kỳ nguyên nhân, lý do nào toà án cần phải kiên trì hòa giải, giáo dục, giúp đỡ, động viên
vợ chồng giải quyết mâu thuẫn gia đình. Nếu đã hòa giải nhiều lần, xét thấy mâu thuẫn giữa
vợ, chồng đã sâu sắc, tình yêu thương giữa vợ, chồng không còn, tình trạng quan hệ vợ,
chồng đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được thì toà án giải quyết cho vợ, chồng ly hôn (Điều 55, 56 Luật hôn nhân và gia
đình 2014).
Khi hòa giải, vợ, chồng và những người có quyền và lợi ích liên quan phải có mặt
(khoản 1 Điều 68 Luật tố tụng dân sự 2015). Trong trường hợp bị đơn được triệu tập hợp lệ

Trang 16

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử (khoản 1 Điều 207 Luật tố
tụng dân sự 2015), việc hòa giải coi như không thành.

Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết những vấn đề của vợ
chồng, và tiếp tục cuộc sống chung, thì Thẩm phán lập biên bản hòa giải thành. Nếu trong
hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà có đương sự thay đổi ý kiến, thì Tòa
án đưa vụ án xét xử. Nếu trong thời hạn đó không có sự thay đổi ý kiến hoặc phản đối, thì
Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định này có hiệu lực
pháp luật.
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 có hai trường hợp ly hôn: Thuận tình
ly hôn và ly hôn do một bên yêu cầu.
+ Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợ, chồng đều tự nguyện xin ly hôn. Sự tự nguyện
của hai vợ, chồng yêu cầu chấm dứt hôn nhân là cơ sở để Toà án xét xử. Nhưng như vậy chưa
đủ, việc xét xử của toà án vẫn phải tuân theo đúng bản chất của sự việc, phải dựa trên căn cứ
ly hôn theo luật định. Có như vậy mới bảo đảm được lợi ích của vợ, chồng, con cái, lợi ích
của xã hội. Sự tự nguyện ly hôn là sự tự do bày tỏ ý chí của hai vợ, chồng, không ai bị cưỡng
ép, lừa dối trong việc thuận tình ly hôn.Việc thuận tình ly hôn phù hợp với bản chất thật sự
của quan hệ hôn nhân, tức là phản ánh thực trạng quan hệ vợ, chồng đã tan vỡ, không thể hàn
gắn được.
Có trường hợp cả vợ và chồng cùng đứng đơn xin ly hôn, nhưng sau một thời gian một
trong hai người rút lại ý định xin ly hôn, Thẩm phán phải tiếp tục tiến hành quá trình tố tụng
bằng cách chuyển vụ án thuận tình ly hôn thành vụ án ly hôn theo yêu cầu của một bên.
+ Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì chỉ có bên yêu cầu mới nhận
thức được quan hệ hôn nhân tan vỡ, còn bên kia không muốn ly hôn vì không nhận thức được
mâu thuẫnvợ, chồng đã trầm trọng hoặc có thể nhận thức được song lại không muốn ly hôn vì
động cơ lý do nào đó. Trong các trường hợp này, Toà án xét xử chỉ căn cứ vào thực chất quan
hệ vợ, chồng. Do đó dù bên không làm đơn yêu cầu ly hôn, không đồng ý ly hôn, Toà án vẫn
có thể quyết định cho vợ, chồng ly hôn khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Khi một bên
vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Toà án phải tiến hành hoà giải. Sau 7 ngày kể từ ngày lập
Trang 17

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

biên bản hoà giải thành, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến
thì Toà án ra quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành (khoản 1, điều 212 Bộ luật Tố tụng
Dân sự 2015). Quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành có hiệu lực pháp luật ngay và các
đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm (khoản 1, điều 213 BLTTDS 2015). Trong trường hợp hoà giải đoàn tụ không
thành thì toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ không thành, đồng thời tiến hành mở phiên toà
xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Trường hợp ly hôn do một bên yêu cầu là vụ án dân
sự theo quy định tại điều 184 BLTTDS 2015, thời hạn khởi kiện trong trường hợp này được
áp dụng theo quy định của Bộ Luật Dân Sự.
+ Ngoài ra, ly hôn đương nhiên trong trường hợp có người bị tuyên bố mất tích, thì chính
quyết định tuyên bố mất tích là căn cứ để ly hôn, Thẩm phán không cần (và cũng không có
quyền) tìm hiểu thêm: cuộc sống chung không thể kéo dài, trước hết vì người yêu cầu không
có người để cùng chung sống. Nên ta nói việc ra quyết định ly hôn trong trường hợp này là
đương nhiên.

Trang 18

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Thực trạng giải quyết các vụ án ly hôn tại Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh:
Mỗi năm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết khoảng hơn 100 vụ án
hôn nhân gia đình, trong đó các vụ án ly hôn chiếm một tỷ lệ lớn và có chiều hướng tăng
dần qua từng năm.
Biểu đồ 2.1: Thống kê hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình từ năm 2012-2017 của Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.

(Nguồn: Theo báo cáo công tác thi đua khen thưởng hàng năm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh từ 2012 -2017)

Trang 19

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

Qua biểu đồ trên ta có thể thấy được tổng số vụ án ly hôn tăng liên tục qua từng năm, và
chiếm tỷ lệ lớn trong số các vụ án hôn nhân gia đình. Cụ thể như sau:

Năm 2012, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 606 vụ án hôn nhân gia
đình, trong đó có 583 vụ án ly hôn, chiếm tỷ lệ 96,20%.

Năm 2013, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 658 vụ án hôn nhân
gia đình, trong đó có 643 vụ án ly hôn (tăng 60 vụ so với năm 2012), chiếm tỷ lệ
97,72%.

Năm 2014, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 790 vụ án hôn nhân
gia đình, trong đó có 779 vụ án ly hôn (tăng 36 vụ), chiểm tỷ lệ 98,60%.

Năm 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 852 vụ án hôn nhân
gia đình, trong đó có 808 vụ án ly hôn (tăng 29 vụ), chiểm tỷ lệ 94,83%.

Năm 2016, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 938 vụ án hôn nhân
gia đình, trong đó có 856 vụ án ly hôn (tăng 48 vụ), chiểm tỷ lệ 91,25%.

Năm 2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 980 vụ án hôn nhân
gia đình, trong đó có 913 vụ án ly hôn (tăng 57 vụ), chiểm tỷ lệ 95,3%.

Qua kết quả phân tích trên ta có thể thấy thực trạng ly hôn hiện nay trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh là rất cao. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng như vây?
Thực tiễn quan sát tại tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cho thấy phần lớn các cặp vợ
chồng ly hôn đều xuất phát từ mâu thuẫn kéo dài, thậm chí có những cặp vợ chồng đã sống ly
thân 3 năm, nay mới làm thủ tục ly hôn, trong đó nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng
mâu thuẫn kéo dài như trên là do bạo hành gia đình, ngoại tình…

Bảng 2.1: Bảng số liệu thống kê kết quả giải quyết vụ án ly hôn đã thụ lý tại TAND thành
phố Hồ Chí Minh (từ năm 2012 đến năm 2017)

Trang 20

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

Vụ Án
Năm

Kết quả

Củ

Mới

còn lại

thụ lý

Tổng

Chuyển

Đình

Hòa

Công

Xét

hồ sơ

chỉ

giải

nhận thỏa

xử

đoàn tụ

thuận của

thành

đương sự

2012

67

516

583

23

1

8

274

277

2013

94

549

643

12

59

34

367

171

2014

81

698

779

22

175

10

339

233

2015

99

709

808

17

223

2

452

114

2016

106

750

856

23

244

0

447

142

2017

106

807

913

19

266

4

441

187

(Nguồn: Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm năm 2012-2017 của Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)

Qua bảng thống kê trên, cho thấy số vụ án ly hôn mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh thụ lý mỗi năm càng tăng cao. Nhưng trong đó, số án đình chỉ và chuyển hồ sơ vẫn rất
nhiều. Cụ thể:
Số vụ án đình chỉ:
Năm 2012: 1 vụ / 583 vụ = 0,17%
Năm 2013: 59 vụ / 643 vụ = 9,17%

Trang 21

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

Năm 2014: 175 vụ / 779 vụ = 22,47%
Năm 2015: 223 vụ / 808 vụ = 27,60%
Năm 2016: 244 vụ / 856 vụ = 28,50%
Năm 2017: 266 vụ / 913 vụ = 29,13%
Các vụ án ly hôn bị đình chỉ nhiều là do:

– Trong quá trình hòa giải, các Thẩm phán thường hướng các vụ án ly hôn theo cách đòan tụ
nếu xét thấy các bên vẫn còn tình cảm với nhau, các đương sự phần lớn sau khi được cán bộ
tòa án tư vấn thì thường tự thỏa thuận được và quay lại với nhau, nên rút đơn, vì vậy phải
đình chỉ xét xử vụ án.
– Có nhiều trường hợp, sau khi hồ sơ vụ án được tòa án thụ lý, nhưng sau khi được triệu tập
nhiều lần, các đương sự vẫn không có mặt để lấy lời khai và tiến hành hòa giải.
Nhìn chung Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tuân thủ các quy định về thủ
tục tố tụng của Luật tố tụng dân sự trong việc giải quyết các vụ án ly hôn, nhận thức rõ tính
đặc thù trong trong việc giải quyết các vụ án ly hôn, kiên trì hòa giải, với mong muốn hàn
gắn các giai đình, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ án phải đưa ra xét xử.
Về cơ bản Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng đúng đắn các quy định
của Luật hôn nhân gia đình, Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản pháp luật khác về hôn nhân
gia đình, cũng như các hướng dẫn của Tòa án Nhân dân Tối cao; tuân thủ đường lối, nguyên
tắc của Đảng và Nhà nước trong công tác giải quyết các vụ an ly hôn. Chất lượng giải quyết
ngày một nâng cao, góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế, hiệu lực quản
lý của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân…Phần lớn các bản án,
quyết định của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ pháp luật, phù hợp
hoàn cảnh xã hội và bảo đảm hiệu lực thi hành.

2.2. Những bất cập còn tồn tại trong quá trình giải quyết các vụ án ly hôn tại
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Trang 22

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

– Trong quá trình thực tập, được tham gia quá trình hòa giải, bản thân tôi thấy sự tích cực

của cán bộ Tòa án khi hòa giải các vụ ly hôn. Họ đã không ngại khó khăn, sẵn sàng đi vào
đời sống xã hội để tìm hiểu ngọn ngành, phân tích quyền lợi của người vợ, người chồng một
cách thấu tình đạt lý, tuy nhiên, kết quả đôi khi vẫn không như mong đợi.
– Trong quá trình giải quyết ly hôn, việc phân chia tài sản chung vợ chồng, phân chia
quyền sử dụng đất ở, quyền sử dụng đất nông nghiệp là một vấn đề phức tạp và khó khăn.
Trên thực tế nhiều khi diện tích đất thực mà gia đình đang sử dụng và diện tích đất ghi trong
sổ địa chính có sự sai lệch, điều này dẫn đến công tác phân chia tài sản của Tòa án là rất khó
khăn. Đứng trước vấn đề này các cán bộ Tòa án vẫn còn gặp lung túng.
– Về phía đương sự, họ có nghĩa vụ phải cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ
án và Tòa án chỉ việc xác minh, nhưng trên thực tế khi giải quyết vụ án thì các đương sự cứ
quanh co, cho rằng Tòa án phải tự mình thu thập các thông tin liên quan đến vụ án. Đây là
một việc rất khó khăn phức tạp, gây mất thời gian cho quá trình giải quyết.
– Trong nhiều vụ án, bên bị đơn thường cố tình lảng tránh, bất hợp tác, không chịu có mặt
tại Tòa án, thậm chí cán bộ Tòa án phải đến tận nơi để tống đạt, nhưng nhiều bị đơn vẫn gây
khó khăn, làm cho quá trình giải quyết bị trì trệ, nhiều trường hợp dẫn đến bế tắc.
– Có trường hợp, trong quá trình hòa giải tại Tòa án, các bên đương sự vẫn cố tình đùn
đẩy trách nhiệm cho nhau, dẫn đến cãi vã, gây mất trật tự tại cơ quan.

2.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết ly
hôn:
– Lượng hóa nội dung tiêu chí về căn cứ ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần bổ sung hướng dẫn áp dụng căn cứ ly hôn khi vợ hoặc
chồng có hành vi ngoại tình vào Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể như sau:
“Trường hợp một bên vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc đã
bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà vẫn tiếp tục vi phạm hoặc có văn bản của

Trang 23

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

cơ quan điều tra là có dấu hiệu tội phạm (tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng) nhưng chưa
đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hành vi ngoại tình của vợ hoặc chồng gây ra hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm
trọng có thể là gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của bên còn lại, làm cho gia
đình tan vỡ.
Trường hợp vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình và bỏ nhà đi quá hai năm mà không có
tin tức, không có trách nhiệm với gia đình, không cùng nhau xây dựng mục đích hôn nhân
làm cho quan hệ vợ chồng rạn nứt”.
– Nghị định số 126/2014/NĐ-CP cần bổ sung hướng dẫn áp dụng căn cứ ly hôn khi vợ
hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình, cụ thể như sau:
“Trong trường hợp chồng hoặc vợ có hành vi bạo lực gia đình thì vợ hoặc chồng được
Tòa án giải quyết cho ly hôn khi có căn cứ sau:
Đối với hành vi bạo lực vật chất: Vợ, chồng thường xuyên đánh đập, ngược đãi, hành hạ
làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự,
đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe mà chưa đến mức xử lý về
hình sự hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với bạo lực tinh thần: Vợ, chồng bị chửi bới, sỉ nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm
và uy tín.
Hành vi bạo lực của vợ, chồng được lặp đi lặp lại nhiều lần, đã được chính quyền địa
phương nhắc nhở hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc có văn bản của cơ quan điều
tra có dấu hiệu tội phạm (tội ngược đãi vợ; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác; tội bức tử) nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.
– Pháp luật Việt Nam cần công nhận ly thân và xem ly thân là một trong những căn cứ để
cho ly hôn
Căn cứ ly hôn do ly thân: “Trong trường hợp vợ chồng đã sống ly thân hơn 3 năm mà
vẫn không thể quay về với nhau để chung sống hạnh phúc hoặc sống ly thân hơn 3 năm theo

Trang 24

Khoa Luật – Trường Đại Học Sài Gòn

Năm học 2013 – 2018

quyết định của Tòa án thì Tòa án giải quyết cho ly hôn mà không phải xem xét, đánh giá thực
trạng quan hệ vợ chồng và các bên không phải chứng minh tình trạng trầm trọng của hôn
nhân”.
– cần bổ sung quy định căn cứ ly hôn khi chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành án
phạt tù
Cần bổ sung quy định căn cứ ly hôn khi chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành án
phạt tù, cụ thể như sau: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đang chấp hành án phạt
tù yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.
– Cần nâng cao chất lượng, nâng cao trình độ, năng lực của thẩm phán và cán bộ tư pháp.
Thẩm phán là những người “Cầm cân nảy mực”, nhân danh Nhà nước ra quyết định liên quan
đến quyền và lợi ích của các đương sự. Với vai trò quan trọng như vậy đòi hỏi người thẩm
phán không những có đạo đức, kinh nghiệm làm việc lâu năm mà còn phải có trình độ cao
trong lĩnh vực pháp luật. Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến ngành Tòa án, chú trọng nâng
cao công tác đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho các Thẩm phán, Thư ký, góp phần xét xử
công minh, giảm tình trạng kháng cáo, kháng nghị gây tốn kém tiền của cho người theo kiện.
– Cần phải có những giải pháp hữu hiệu, khả thi để thực hiện việc tuyển dụng cán bộ, bổ
nhiệm thẩm phán phải dựa theo khả năng thực sự. Tăng cường bổ sung biên chế cán bộ cho
TAND tỉnh Đắk Lắk vì hàng năm số lượng án thụ lý, giải quyết của ngành tăng, bổ sung
thêm kinh phí, hiện đại hóa trang thiết bị phục vụ công tác xét xử, đảm bảo hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
– Phải thực hiện việc báo cáo, thống kê kịp thời, đồng thời phải ứng dụng công nghệ tin
học trong công tác thống kê nghiệp vụ.

– Thường xuyên triển khai việc tập huấn các văn bản pháp luật mới đến cán bộ công chức
ngành Tòa án để nâng cao chất lượng chuyên môn, đáp ứng nhu cầu của đất nước.
– Chánh án nên phân công Thẩm phán giải quyết vụ án theo đúng chuyên môn và sở
trường của từng người, vừa phát huy được năng lực của cán bộ, vừa giải quyết nhanh chóng,
chính xác vụ án.

Trang 25

Khái quát chung về ly hôn ……………………………………………….. 081.1.1 Khái niệm ly hôn …………………………………………………….. 081.1.2 Sơ lược lịch sử vẻ vang chế định ly hôn trong pháp lý Nước Ta qua cácgiai đoạn …………………………………………………………………. 101.2 Những pháp luật của pháp lý hiện hành về ly hôn ………… 131.2.1 Căn cứ ly hôn ………………………………………………………….. 131.2.2 Các trường hợp hạn chế quyền ly hôn ………………………. 141.2.3 Hậu quả pháp lý của ly hôn … … … … … … … … … … … .. 151.2.4 Thủ tục xử lý ly hôn … … … … … … … … … … … … … 18CH ƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAOHIỆU QUẢ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN TẠI tòa án nhân dân TPHỒ CHÍ MINH. …………………………………………………………………………………………… 222.1 Thực trạng xử lý vụ án ly hôn tại tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … .. 22T rang 1K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 20182.2 Những chưa ổn còn sống sót trong quy trình xử lý vụ án ly hôn tạiTP Hồ Chí Minh ……………………………………………………………………………. 252.3 Kiến nghị nhằm mục đích hoàn thành xong pháp lý và nâng cao hiệu suất cao giải quyếtly hôn ……………………………………………………………………………………….. 26K ẾT LUẬN …………………………………………………………………………………. 31DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………. 32T rang 2K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018M Ở ĐẦU1. Lý do chọn đề tài : Từ ngàn đời nay mái ấm gia đình luôn là cái nôi hình thành và nuôi dưỡng nhân cách của mỗi conngười. Những mái ấm gia đình tốt đẹp sẽ thiết kế xây dựng được một xã hội văn minh văn minh, một xã hội tiếnbộ văn minh là cơ sở để thiết kế xây dựng một mái ấm gia đình tốt đẹp. Chính vì thế vai trò của gia đìnhngày càng được chăm sóc và tôn vinh trong xã hội. Để thiết kế xây dựng được một mái ấm gia đình tốt đẹp thứ nhất tất cả chúng ta cần hiểu mái ấm gia đình là gì ? Giađình là tập hợp những người gắn với nhau do quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ huyết thống hoặcquan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của họ với nhau theo lao lý của Luậthôn nhân và mái ấm gia đình. Khởi nguồn của quan hệ mái ấm gia đình đó là quan hệ hôn nhân gia đình, là việc kếthôn giữa người nam và người nữ theo những điều kiện kèm theo mà pháp lý pháp luật. Như vậy, tất cả chúng ta thấy một cuộc hôn nhân gia đình tốt đẹp sẽ là nền tảng để kiến thiết xây dựng một gia đìnhvà xã hội tốt đẹp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự biến hóa về kinh tế tài chính – xã hội, quan hệgiữa con người và con người, trong đó có quan hệ hôn nhân gia đình mái ấm gia đình cũng bị ảnh hưởng tác động mạnhmẽ. theo số liệu thống kê của TANDTC những cấp, trong cả nước hàng năm số lượng vụ án về hônnhân và mái ấm gia đình mà TANDTC phải xử lý là trên 60.000 vụ, việc trong đó đa phần là ly hôn. Có quan điểm cho rằng ly hôn biểu lộ mặt xấu đi của xã hội, bởi “ mái ấm gia đình là tế bào của xãhội, mái ấm gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là mái ấm gia đình ”. Vì lẽ đó mà một xã hộisẽ không hề tốt khi sống sót trong lòng nó là sự tan rã, chia tay của những mái ấm gia đình nhỏ. Từngthành viên trong mái ấm gia đình đó sẽ đi về đâu, họ sẽ sống như thế nào khi không còn tổ ấm nữa. Nhưng cũng có nhiều người không ưng ý với quan điểm đó, theo họ ly hôn biểu lộ măt tiếnbộ của xã hội. Bởi vì trong đời sống vợ chồng khó tránh khỏi những xích míc, xung độtđến mức họ không hề chung sống với nhau được nữa, yếu tố ly hôn được đặt ra để giảiphóng cho vợ chồng và những thành viên khác thoát khỏi xích míc mái ấm gia đình. Trang 3K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018T rên thực tiễn, số lượng những vụ ly hôn ở nước ta ngày càng ngày càng tăng, nguyên do dẫn đếnly hôn ngày càng phong phú và có khunh hướng phức tạp, tình hình này kéo theo những hậuquả mang tính xấu đi không chỉ về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng tác động đến hàng loạt nền kinh tếxã hội của quốc gia nói chung, cũng như địa phương em nói riêng. Vì những lí do trên, em đã quyết định hành động chọn đề tài báo cáo giải trình thực tập tốt nghiệp của mình là “ Pháp luật về ly hôn – Lý luận và thực tiễn xử lý tại Tòa án nhân dân TP Hồ ChíMinh ”. 2. Mục tiêu điều tra và nghiên cứu đề tài : Phân tích những yếu tố lý luận về ly hôn và xử lý ly hôn tại Tòa án nhân dân. Từnhững lý luận đó, nhìn nhận tình hình xử lý vụ án ly hôn ở TANDTC địa phương, đơn cử làTòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất kiến nghị những giải pháp những giải pháp làm hạn chế, giảm thiểu những vụ án ly hôn và hướng để nâng cao hiệu suất cao xử lý những vụ án ly hôn, đểgóp phần làm cho thành phố Hồ Chí Minh ngày một tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ, xứng danh vớitruyền thống tốt đẹp của quê nhà, giữ vững và phát triênt truyền thống văn hóa truyền thống, để góp phầnvào sự tăng trưởng chung của quốc gia. 3. Phạm vi nghiên cứu và điều tra : Đề tài nghiên cứu và điều tra những lao lý hiện hành về hôn nhân gia đình mái ấm gia đình, đơn cử là ly hôn được quyđịnh trong Luật Hôn nhân và mái ấm gia đình năm trước, Bộ luật Tố tụng dân sự năm ngoái, có sự so sánh đốichiếu với 1 số ít văn bản pháp lý có tương quan trước đây. Ly hôn là hiện tượng kỳ lạ xảy ra ở khắp cả nước, đặc biệt quan trọng ở những thành phố lớn. Tuy nhiên, đềtài chỉ tập trung chuyên sâu điều tra và nghiên cứu những yếu tố thực tiễn về ly hôn trên địa phận thành phố Hồ ChíMinh trong thời hạn từ 2012 – 2017 đã được TANDTC TP. Hồ Chí Minh giải quyết. 4. Phương pháp nghiên cứu và điều tra : Trong báo cáo giải trình sẽ sử dụng những chiêu thức sau đây : Phương pháp luận ; chiêu thức lịchsử ; giải pháp nghiên cứu và phân tích, tổng hợp ; chiêu thức thống kê ; giải pháp so sánh, … 5. Kết cấu của chuyên đề : Trang 4K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018L ời mở đầuChương 1 : Lý luận chung về pháp lý ly hônChương 2 : Thực trạng và giải pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao việc xử lý vụ án ly hôn tạiTòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí MinhKết luậnCHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT LY HÔN1. 1. Khái quát chung về ly hôn : 1.1.1. Khái niệm ly hôn : Hôn nhân là một hiện tượng kỳ lạ xã hội có trong quy trình phát sinh, tăng trưởng gồm có : kếthôn, duy trì quan hệ hôn nhân gia đình và ly hôn. Quan hệ hôn nhân gia đình dưới chính sách xã hội chủ nghĩa với đặc thù sống sót lâu dài hơn, bền vữngcho đến suốt cuộc sống con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữavợ chồng. Tuy nhiên, trong đời sống vợ chồng, vì những nguyên do nào đó dẫn tới giữa vợ chồngcó xích míc thâm thúy đến mức họ không hề chung sống với nhau nữa, yếu tố ly hôn đượcđặt ra để giải phóng cho vợ chồng và những thành viên khác thoát khỏi xích míc mái ấm gia đình. Nếukết hôn là một hiện tượng kỳ lạ xã hội thông thường, thì ngược lại ly hôn là mặt trái của hôn nhânnhưng lại là mặt không hề thiếu được khi quan hệ hôn nhân gia đình đã thực sự tan vỡ, khi quan hệhôn nhân sống sót chỉ là hình thức. Vấn đề ly hôn được pháp luật trong mạng lưới hệ thống pháp lý củamỗi vương quốc là khác nhau. Một số nước cấm vợ chồng ly hôn ( theo Đạo thiên chúa ), bởi vìtheo họ quan hệ vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý chúa. Một số nước thì hạn chế lyhôn bằng cách đưa ra những điều kiện kèm theo rất là khắt khe. Cấm ly hôn hay hạn chế ly hônđều trái với quyền tự do dân chủ của cá thể. Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa côngnhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những điều kiệnnhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quảcủa hành vi có ý chí của vợ chồng khi triển khai quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng phápTrang 5K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 luật không hề cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không hề bắtbuộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân gia đình khi tình cảm yêuthương gắn bó giữa họ đã hết và mục tiêu của hôn nhân gia đình đã không hề đạt được. Việc giảiquyết ly hôn là tất yếu so với quan hệ hôn nhân gia đình đã thực sự tan vỡ. Điều đó là trọn vẹn cólợi cho vợ chồng, con cháu và những thành viên trong mái ấm gia đình. Theo khoản 14, điều 3 Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm năm trước thì ly hôn được định nghĩanhư sau : “ Ly hôn là việc chấm hết quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định hành động có hiệu lựcpháp luật của Tòa án ”. Khoản 1 Điều 16 Bản tuyên ngôn về quyền con người đã ghi nhận : “ Nam và Nữ khi đủtuổi đều có quyền ly hôn và thiết kế xây dựng mái ấm gia đình mà không có bất kể sự hạn chế nào do chủngtộc, quốc tịch hoặc tôn giáo. Họ được hưởng những quyền bình đẳng khi kết hôn trong thời gianchung sống và khi chia tay ”. Thực hiện nguyên tắc hôn nhân gia đình tự nguyện và văn minh, nguyêntắc bình đẳng giữa vợ và chồng nghĩa là phải bảo vệ quyền tự do kết hôn và quyền tự do lyhôn ”. Pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi họ không yêu nhau thì cũng không bắtbuộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu giữa họ không còn nữa ”. Pháp luật củanhà nước Nước Ta công nhận và bảo vệ quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng. Lyhôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, là hiệu quả của hành vi có ý chí của vợ chồng. Quyềnyêu cầu ly hôn là quyền gắn với nhân thân của vợ chồng, chỉ có vợ hoặc chồng hoặc cả haivợ chồng mới có quyền nhu yếu ly hôn. Thực hiện nguyên tắc hôn nhân gia đình tự nguyện và văn minh, nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng nghĩa là phải bảo vệ quyền tự do kết hôn và quyềntự do ly hôn ”. Việc thừa nhận quyền ly hôn là một mặt tất yếu của hôn nhân gia đình, không có nghĩa là khuyếnkhích vợ chồng bỏ nhau. Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “ tan rã ” nhữngmối quan hệ mái ấm gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dânchủ, những cơ sở duy nhất hoàn toàn có thể có và vững chãi trong một xã hội văn minh. Nhà nước mộtmặt ghi nhận quyền tự do ly hôn, mặt khác bằng pháp lý đặt ra cơ sở pháp lý nhất định xácđịnh thực trạng quan hệ hôn nhân gia đình như thế nào thì được phép ly hôn, trấn áp việc giải quyếtly hôn nhằm mục đích tránh việc sử dụng quyền ly hôn một cách tuỳ tiện. Pháp luật lao lý Toà án làTrang 6K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý việc ly hôn dựa trên nhu yếu của vợ hoặc chồnghoặc của cả hai vợ chồng. Toà án triển khai công dụng xét xử, xử lý những nhu yếu củacông dân theo những trình tự thủ tục luật định. Toà án có quyền ra những phán quyết : Bản ántuyên xử ly hôn, quyết định hành động công nhận đồng ý chấp thuận ly hôn, quyết định hành động bác đơn nhu yếu lyhôn. Việc xử lý ly hôn phải dựa trên địa thế căn cứ ly hôn luật định. Như vậy, ly hôn là việc chấm hết quan hệ vợ chồng theo pháp lý, do một trong hai bênyêu cầu, hoặc cả hai và được quyết định hành động bằng bản án hoặc quyết định hành động công nhận của Tòa án. 1.1.2. Sơ lược lịch sử vẻ vang chế định ly hôn trong pháp lý Nước Ta qua những quy trình tiến độ : Chấm dứt hôn nhân gia đình bằng ly hôn là giải pháp được thừa nhận từ rất sớm trong luật ViệtNam. Tại bộ Quốc Triều hình luật điều 308 có ghi “ phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng màkhông đi lại ( vợ được trình với quan thường trực và xã quan làm chứng ), thì mất vợ. Nếu vợ đã cócon thì cho thời hạn 1 năm. Vì việc quan phải đi xa, thì không theo luật này. Nếu đã bỏ vợ, mà ngăn cản người khác lấy vợ mình, thì phải tội biếm ”. Thật ra điều luật không được viết tốtlắm, nhưng thực tiễn ly hôn vẫn được công nhận. Việc ly hôn cũng được thừa nhận tại Bộluật Gia Long Điều 108 ( đồng ý chấp thuận ly hôn ). Trong thời kỳ lục địa, chính sách ly hôn được thiết kế xây dựng dựa theo pháp luật Pháp. Thời kỳ pháp thuộc ( đến trước năm 1945 ) : Với mục tiêu ship hàng cho chủ trương quản lý, thực dân Pháp đã chia quốc gia ta thành 3 miền : Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ với tổ chứcbộ máy và mạng lưới hệ thống pháp lý riêng. Tại Nam Kỳ đã vận dụng pháp luật của bộ Dân Luật giản yếu 1883 pháp luật quyền xin lyhôn chỉ do người chồng quyết định hành động, người vợ không có quyền xin ly hôn nhưng được ápdụng chính sách “ tam bất khứ ” để hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng. Trong Bộ Dân Luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ thì việc xử lý ly hôn được xác lập trêncơ sở lỗi của vợ chồng liên tục được thừa kế tại Điều 118, 119 Bộ Dân Luật Bắc Kỳ 1931 đểgiải quyết duyên cớ ly hôn cho riêng vợ ( chồng ). Theo Điều 118 Bộ Dân Luật Bắc Kỳ 1931 lao lý người chồng hoàn toàn có thể ly hôn vợ vì : vợ phạm gian, vợ bỏ nhà chồng mà đi, tuy đã bắtphải về mà không về, vợ thứ đánh, chửi, tệ bạc với vợ chính. Điều 119 Bộ Dân Luật Bắc KỳTrang 7K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 20181931 pháp luật người vợ hoàn toàn có thể xin ly hôn vì những duyên cớ sau : chồng không làm đúngnghĩa vụ cam kết sau khi kết hôn, chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có cớ gì chính đángvà không lo liệu việc nuôi sống vợ con. Vấn đề ly hôn thời kỳ này, hầu hết được xây dựngtrên nền tảng Nho giáo phong kiến trước đây và dựa theo Dân Luật của Pháp năm 1804 vớiquan điểm thuần túy coi hôn nhân gia đình là một hợp đồng do Dân Luật kiểm soát và điều chỉnh. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954 : Ngày 10/10/1945 quản trị nước đã ban Sắc lệnh số90 / ST, được cho phép vận dụng những pháp luật trong bộ luật của chính sách cũ có tinh lọc trênnguyên tắc là không được trái với quyền lợi của nhà nước Nước Ta trong đó, có yếu tố hônnhân và mái ấm gia đình và hậu quả của ly hôn. Và trong bản Hiến Pháp tiên phong của nước ta năm1946. Quyền bình đẳng giữa nam và nữ được ghi nhận tại Điều 19 Hiến Pháp : “ Đàn bàngang quyền với đàn ông về mọi phương diện ”. Điều này làm cơ sở pháp lý quan trọngcho việc đấu tranh xóa bỏ chính sách hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình phong kiến, đặt nền móng cho xâydựng chính sách hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình dân chủ, tiến bộGiai đoạn từ năm 1955 đến 1975 : Đây là thời kỳ quốc gia ta trong thời điểm tạm thời bị chia cắt làm haimiền : miền Bắc dưới sự chỉ huy của chính quyền sở tại nhà nước Nước Ta DCCH, miền Namdưới sự quản lý của đế quốc Mỹ và chính quyền sở tại phong kiến TP HCM. Trước tình đó, Đảngvà nhà nước ta đã đề ra trách nhiệm cho mỗi miền. Ở miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 ghi nhận sự bình đẳng dân chủ giữa phụ nữ vànam giới về những mặt, nhà nước bảo lãnh quyền hạn của bà mẹ và trẻ nhỏ, bảo vệ hôn nhân gia đình và giađình. Luật hônnhân và mái ấm gia đình được Quốc hội khóa I trải qua ngày 29/12/1959 và có hiệulực ngày 13/01/1960. Lần tiên phong địa thế căn cứ ly hôn được xác lập trọn vẹn khác. Việc giảiquyết ly hôn không dựa trên yếu tố lỗi của những bên như trước kia mà trên cơ sở thực trạngcủa quan hệ hôn nhân gia đình. Căn cứ ly hôn phản ánh hôn nhân gia đình không hề sống sót được nữa, nếu xétthấy “ thực trạng trầm trọng, đời sống chung không hề lê dài, mục tiêu của hôn nhânkhông đạt được ” thì tòa sẽ cho ly hôn. Ở miền Nam, sau năm 1954, đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp, triển khai cuộcchiến tranh xâm lược kiểu mới. Dưới chủ trương quản lý của đế quốc Mỹ và chính sách ngụyTrang 8K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 quyền Hồ Chí Minh, mạng lưới hệ thống những văn bản pháp lý hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình được phát hành vớinhững nội dung lỗi thời, gồm có : Luật gia đình ngày 02/01/1959 ( Luật số 1-59 ) dưới chính sách Ngô Đình Diệm. Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú và gia tài hội đồng. Bộ Dân Luật ngày 20/12/1972 dưới chính sách Nguyễn Văn Thiệu. Các văn bản trên đều đã pháp luật bãi bỏ chính sách đa thê, tuy nhiên vẫn thực thi nguyên tắc bấtbình đẳng giữa vợ chồng, bảo vệ quyền gia trưởng. Từ năm 1976 dến nay : Sự sinh ra của Hiến Pháp 1980 đã có pháp luật mới về nguyên tắcxây dựng chính sách hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình đã yên cầu Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình phải cónhững lao lý cụ thể hóa những nguyên tắc này. Vì vậy Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm1959 có một số ít lao lý không tương thích. Điều này yên cầu phải có Luật hôn nhân gia đình và giađình mới. Xuất phát từ tình hình trên, tại kỳ họp thứ 12 Quốc hội khóa VII ngày29 / 11/1986 đã trải qua Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm 1986 gồm 10 Chương, 57 Điều. Bộ luật này sinh ra có sự thừa kế có tinh lọc của Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm 1959 đãđược kiến thiết xây dựng trên 5 nguyên tắc sau : Hôn nhân tân tiến, tự nguyện ; hôn nhân gia đình một vợ, một chồng ; vợ chồng bình đẳng ; bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của cha mẹ và con cháu ; bảo vệ bà mẹ vàtrẻ em. Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm 1986 sinh ra khi nhà nước ta mở màn thời kỳ thay đổi toàndiện trên mọi nghành nghề dịch vụ, để cung ứng sự thay đổi trên thì mạng lưới hệ thống pháp lý Nước Ta cũng phảicó sự thay đổi cho tương thích, Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình 1986 trở nên không tương thích với hoàncảnh xã hội hiện tại. Do vậy tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa X ngày 09/6/2000 đã thông quaLuật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình gồm 13 chương, 110 điều. Được kiến thiết xây dựng trên những nguyên tắc : Hôn nhân tự nguyện, tân tiến, một vợ, một chồng, hôn nhân gia đình giữa công dân Nước Ta thuộccác dân tộc bản địa và tôn giáo, giữa công dân Nước Ta và người quốc tế, cha mẹ có nghĩa vụnuôi dạy con cháu, không phân biệt con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong và ngoàigiá thú, bảo vệ phụ nữ, trẻ nhỏ, trợ giúp những bà mẹ thực thi tốt tính năng cao quý của ngườimẹ. Trang 9K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018T ại kỳ họp thứ 7 Quốc Hội khóa XIII Ngày 19/6/2014 đã trải qua luật hôn nhân gia đình và giađình gồm 9 chương, 133 điều. Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm năm trước đã thừa kế, tăng trưởng vàmở rộng hơn, đơn cử hơn, chi tiết cụ thể hơn so với Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm 2000 nhằm mục đích mụcđích xử lý tốt nhất yếu tố ly hôn trong xã hội Nước Ta. 1.2. Những pháp luật của pháp lý hiện hành về ly hôn : 1.2.1. Căn cứ ly hôn : Quan hệ hôn nhân gia đình không những tương quan đến quyền lợi riêng tư của vợ chồng, mái ấm gia đình màcòn ảnh hưởng tác động đến quyền lợi chung của nhà nước và toàn xã hội. Vì thế, việc xử lý ly hônkhông thể thiếu sự trấn áp của nhà nước bằng pháp lý. Theo Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm năm trước, địa thế căn cứ ly hôn là những diễn biến được quy địnhtrong pháp lý và chỉ khi nào Open những diễn biến này Toà án mới được xử cho ly hôn. Có 2 địa thế căn cứ ly hôn sau : Toà án xem xét nhu yếu ly hôn nhưng xét thấy thực trạng trầm trọng, đời sống chungkhông thể lê dài, mục tiêu của hôn nhân gia đình không hề đạt được thì toà án lao lý cho ly hôn. + Tình trạng trầm trọng : Nghĩa là giữa vợ chồng đã có những xích míc nóng bức không thểdung hồ được, tình cảm đã lạnh nhạt ( không còn yêu thương quý trọng nhau nữa … ) + Đời sống chung không hề lê dài : Nghĩa là vợ chồng không hề chung sống bình thườngvới nhau và không hề chịu đựng nhau, tiếp tục sống trong thực trạng căng thẳng mệt mỏi ( cóhành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau .. ) Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị toà án công bố mất tích xin ly hôn thì toàán xử lý cho ly hôn ( điều 89 ) Sau khi Toà án công bố một người ( vợ hoặc chồng ) bị mất tích có quyền nhu yếu xin lyhôn. Như vậy, thực tiễn hoàn toàn có thể xảy ra hai trường hợp nêu trên và khi xử lý cho ly hôn vớingười bị công bố mất tích, toà án cần chú ý quan tâm xử lý việc quản lý tài sản của người bị tuyênbố mất tích theo đúng pháp luật tại điều 89 BLDS. Khi vợ hoặc chồng hoặc cả vợ cả chồng cóTrang 10K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 nhu yếu ly hôn thì Tòa án nhân dân tiến hành xác minh, hòa giải nhằm mục đích đoàn viên mái ấm gia đình. Nếuhòa giải không thành thì Tòa án mới tiến hành xử ly hôn. Tóm lại, trong quy trình kiến thiết xây dựng mái ấm gia đình Open xích míc từ nhiều nguyên do khácnhau, làm cho mục tiêu hôn nhân gia đình không đạt được thì ly hôn là một giải pháp tích cực để giảiphóng vợ và chồng để mỗi bên tự đi tìm và thiết kế xây dựng cho mình niềm hạnh phúc mới, trải qua đóđảm bảo được quyền tự do bình đẳng, và bảo vệ quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của vợ và chồng theoquy định của pháp lý hiện hành. 1.2.2. Các trường hợp hạn chế quyền ly hôn : Ly hôn là một việc không ai mong ước, tuy nhiên trong 1 số ít trường hợp nó lại làphương thức tốt nhất để xử lý thực trạng hôn nhân gia đình khi mà những bên không hề liên tục duytrì mối quan hệ vợ chồng nữa. Pháp luật pháp luật rõ những địa thế căn cứ để ly hôn, tuy nhiên trong mộtsố trường hợp ngoại lệ dù đã có địa thế căn cứ ly hôn, nhưng vẫn không được ly hôn. Đó là cáctrường hợp bị hạn chế ly hôn. Nhằm thực thi nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ nhỏ, cũng như việc thực thi nghĩa vụchăm sóc, giúp sức nhau giữa vợ và chồng, Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm2014 pháp luật : chồng không có quyền nhu yếu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinhcon hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đây là điều kiện kèm theo hạn chế ly hôn vận dụng chongười chồng ngay cả khi con mà người vợ đang mang thai hoặc sinh ra không phải là con củangười chồng. Trong trường hợp người chồng có đơn nhu yếu ly hôn mà chưa thụ lý vụ án thìTòa án trả lại đơn khởi kiện cho người nộp đơn. 1.2.3. Hậu quả pháp lý của ly hôn : Về mặt xã hội, ly hôn ảnh hưởng tác động thâm thúy đến quyền lợi của vợ, chồng, mái ấm gia đình và xã hội. Từ góc nhìn pháp lý, việc ly hôn dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định. Quan hệ nhân thân của vợ, chồng : Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định hành động ly hôn của toà án có hiệu lực thực thi hiện hành, quan hệ vợ, chồng được chấm hết. Người vợ, ( chồng ) đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác. TrênTrang 11K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 trong thực tiễn, có không ít cặp vợ, chồng đã ly hôn lại quay trở lại chung sống với nhau trong quanhệ vợ, chồng thì cũng phải thực thi đăng ký kết hôn theo thủ tục pháp lý lao lý nhằmbảo vệ quyền và quyền lợi hợp pháp của những bên, bảo vệ mái ấm gia đình và xã hội. Bởi sau khi ly hôn, những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm nhân thân giữa vợ, chồng sẽ chấm hết trọn vẹn ( như nghĩa vụ và trách nhiệm yêuthương, quý trọng, chăm nom, giúp sức nhau, quyền đại diện thay mặt cho nhau .. ) Chia gia tài của vợ, chồng khi ly hôn : + Đối với gia tài riêng của mỗi bên : Khi vợ, chồng ly hôn, gia tài riêng của bên nào vẫnthuộc quyền sở hữu của bên đó. Tuy nhiên, người có gia tài riêng phải chứng tỏ được đólà gia tài của riêng mình ( Điều 43 Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm năm trước ). Nếu không chứngminh được gia tài mà vợ chồng đang có tranh chấp là gia tài riêng của mỗi bên thì gia tài đólà gia tài chung ( khoản 3 điều 33 Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm năm trước ). Đối với những tàisản là gia tài riêng của vợ, chồng nhưng vợ, chồng đã nhập vào khối gia tài chung thì khi vợchồng ly hôn, gia tài đó vẫn được xác lập thuộc khối gia tài chung của vợ, chồng. + Đối với gia tài chung : Theo lao lý tại điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm trước thì việc chia tài sảncủa vợ, chồng khi ly hôn do những bên thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì nhu yếu toàán xử lý. Về nguyên tắc, gia tài chung của vợ, chồng sẽ được chia đôi, nhưng có xem xétđến thực trạng của mỗi bên về thực trạng gia tài, công sức của con người góp phần của mỗi bên vào việc tạolập, duy trì, tăng trưởng gia tài này. Trường hợp vợ hoặc chồng có vay mượn tiền của ngườikhác để sử dụng cho mục tiêu chung của mái ấm gia đình thì phải được thanh toán giao dịch bằng tài sảnchung. Tài sản chung của vợ, chồng gồm gia tài do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao độnghoạt động sản xuất kinh doanh thương mại và những thu nhập hợp pháp khác hoàn toàn có thể là tiền trúng thưởngxổ số, tiền trợ cấp .. Khi chia gia tài, Toà án đồng thời dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự thoảthuận của những bên. Theo Khoản 2, 5 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình mái ấm gia đình năm trước, việc chia gia tài chung sau ly hônphải được triển khai trên cơ sở bảo vệ quyền và quyền lợi hợp pháp của vợ, con chưa thành niênhoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lượng hành vi, không có năng lực lao động hoặckhông có gia tài để nuôi sống bản thân, cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của mỗi bênTrang 12K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 trong sản xuất, kinh doanh thương mại, và nghề nghiệp để những bên có điều kiện kèm theo liên tục lao động tạo thunhập. Giải quyết cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn : Quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm cấp dưỡng giữa vợ, chồng là một trong những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm tài sảngắn liền với nhân thân của vợ, chồng được pháp lý thừa nhận và bảo vệ thực thi ngay cảkhi vợ, chồng đã ly hôn. Theo điều 115 Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm trước lao lý “ Khi ly hônnếu một bên khó khăn vất vả hoặc túng thiếu có nhu yếu cấp dưỡng mà có nguyên do chính đáng thì bênkia có nghĩa vụ và trách nhiệm cấp dưỡng theo năng lực của mình ”. Mức cấp dưỡng, phương pháp cấpdưỡng hoàn toàn có thể do những bên thoả thuận hoặc do Toà án quyết định. Các bên có quyền yêu cầuthay đổi mức cấp dưỡng, phương pháp cấp dưỡng khi có nguyên do chính đáng. Việc cấp dưỡnggiữa vợ và chồng chấm hết khi bên được cấp dưỡng kết hôn với người khác hoặc bên đượccấp dưỡng hết khó khăn vất vả túng thiếu hoặc bên cấp dưỡng không còn năng lực triển khai nghĩavụ cấp dưỡng. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ so với con chung khi ly hôn : “ Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ và trách nhiệm trông nom, chăm nom, giáo dục, nuôi dưỡng conchưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lượng hành vi dân sự, bị tàn tật, không cókhả năng lao động, không có gia tài để tự nuôi mình ” ( Khoản 1, điều 81 Luật hôn nhân gia đình vàgia đình năm năm trước ) + Đối với con chung, toà án địa thế căn cứ vào những điều kiện kèm theo đơn cử của từng bên để xác lập việcgiao con chung chưa thành niên hoặc đã thành niên mà bị tàn tật, mất năng lượng hành vi dânsự, không có năng lực lao động và không có gia tài để tự nuôi mình cho đương sự nào đảmbảo cho con có đời sống không thay đổi, thuận tiện cho sự tăng trưởng thông thường của con. “ Về nguyên tắc con dưới 3 tháng được giao cho mẹ trực tiếp nuôi nếu những bên không có thoảthuận khác ” ( khoản 3, điều 81 Luật Hôn nhân và mái ấm gia đình năm trước ) Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên saukhi ly hôn so với con, nếu không thoả thuận được thì Toà án giao con cho một bên trực tiếpnuôi, địa thế căn cứ quyền lợi và nghĩa vụ về mọi mặt của con ( khoản 2, điều 81 Luật Hôn nhân và gia đìnhTrang 13K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 20182014 ). Nếu con từ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con ( khoản 2, điều 81 LuậtHôn nhân và mái ấm gia đình năm trước ). Bên không trực tiếp nuôi dưỡng con có nghĩa vụ và trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Mức – Phươngthức cấp dưỡng hoàn toàn có thể do những bên đương sự thoả thuận, do Toà án quyết định. Trong quá trìnhgiải quyết việc ly hôn, ngoài việc dựa vào sự gắn bó tình cảm của con với cha mẹ, điều kiệnvật chất ý thức cha mẹ hoàn toàn có thể dành cho con. Toà án còn phải dựa vào thiên nhiên và môi trường sống đểquyết định giao đứa trẻ cho ai nuôi. Nếu đứa trẻ đã quen ở một môi trường tự nhiên nhất định, thì khiquyết định đổi khác người trực tiếp nuôi dưỡng phải xem đứa trẻ có chịu ức chế về mặt tìnhcảm hoặc gặp khó khăn vất vả khi hoà nhập thiên nhiên và môi trường sống khác không ? Thông thường đương sựnào đang trực tiếp nuôi con tại thời gian có đơn xin ly hôn thì Toà án giao con cho người đótiếp tục nuôi. Nếu bên đương sự đang nuôi con gặp khó khăn vất vả thì Toà án giao đứa trẻ chongười khác nuôi. Nếu những bên thoả thuận giao con cho người thân thích nuôi dưỡng thì Toàán quyết định hành động giao con của họ cho người thân thích nuôi dưỡng trên cơ sở quyền lợi của đứa trẻ. Điều 82 Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm trước lao lý về nghĩa vụ và trách nhiệm, quyền của cha, mẹ không trựctiếp nuôi con sau khi ly hôn : + Điều 82 Luật hôn nhân gia đình mái ấm gia đình năm trước : “ Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con cóquyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực thi quyền này ”. Quyền thămviếng được triển khai theo ý chí của người có quyền chứ không bị ràng buộc vào những thỏathuận với người nuôi con. Người thăm viếng hoàn toàn có thể thăm viếng liên tục hoặc thămviếng đột xuất, thăm viếng trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên việc triển khai quyền thămviếng phải hòa hợp với lịch trình hoạt động và sinh hoạt của con và của người nuôi con. Quyền thăm viếng không hề bị hạn chế hoặc bị treo, đình chỉ vì người không trực tiếp nuôidưỡng không thực thi đúng nghĩa vụ và trách nhiệm cấp dưỡng. + Nếu bên không trực tiếp nuôi con quá lạm dụng quyền thăm nom con để cản trở hoặc gâyảnh hưởng trực tiếp đến việc chăm nom, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người đang trực tiếpnuôi con có quyền nhu yếu toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó ; + Nếu người đang trực tiếp nuôi con có hành vi cản trở quyền thăm nom con của người kia, thì họ có quyền nhu yếu toà án biến hóa người trực tiếp nuôi con. Trang 14K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 + Nếu con từ 9 tuổi trở lên muốn biến hóa người trực tiếp nuôi dưỡng thì toà án phải thamkhảo quan điểm đứa trẻ trước khi ra quyết định hành động đổi khác người nuôi dưỡng trực tiếp1. 2.4. Thủ tục xử lý ly hôn : Quyền nhu yếu ly hôn là quyền nhân thân của vợ, chồng. Có thể vợ hoặc chồng yêu cầuly hôn ( ly hôn do một bên nhu yếu ) hoặc cả hai vợ chồng nhu yếu ly hôn ( đồng ý chấp thuận ly hôn ). Dù là ly hôn do một bên nhu yếu hay chấp thuận đồng ý ly hôn, khi xử lý phải bảo vệ đúngnguyên tắc : Vừa tôn trọng quyền tự do ly hôn của vợ chồng, vừa bảo vệ xử lý chínhxác, không mắc sai lầm đáng tiếc trong quyết định hành động được cho phép vợ chồng ly hôn. Thủ tục xử lý ly hônphải tuân theo những bước sau : Nộp đơn : + Đứng đơn : người đứng đơn chỉ hoàn toàn có thể là vợ hoặc chồng. Luật không có pháp luật cho phépngười giám hộ, người đại diện thay mặt theo pháp lý ( trong trường hợp vợ hoặc chồng bị hạn chếnăng lực hành vi ) đứng đơn thay cho người được giám hộ hoặc người được đại diện thay mặt. Luậtcũng không dự kiến cho Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức triển khai, cá thể khác nhu yếu ly hônthay cho những đương sự. + Nơi nộp đơn : theo Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm ngoái, Tòa án có thẩm quyền giải quyếtcác vụ án dân sự là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi thao tác của bị đơn. Thực ra, không có yếu tốlỗi trong ly hôn, khó hoàn toàn có thể nói rằng bên này hay bên kia trong vụ án ly hôn là nguyên đơnhay bị đơn. Nếu vợ và chồng cùng đứng đơn xin ly hôn, thì đơn sẽ được nộp cho Tòa án nơicư trú của vợ chồng, hoặc vợ chồng có nơi cư trú riêng, nơi cư trú của bên này hoặc bên kiatheo sự thỏa thuận hợp tác của họ. Trong trường hợp một người đứng đơn xin ly hôn, thì đơn sẽ đượcnộp cho Tòa án nơi cư trú của vợ và chồng, hoặc nếu vợ chồng có nơi cư trú riêng thì đơn sẽđược nộp cho Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn. Hòa giải ở cơ sở : điều 52 Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm trước lao lý : “ Nhà nước và xã hộikhuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có nhu yếu ly hôn. Việc hòa giải được thựchiện theo lao lý của pháp lý về hòa giải ở cơ sở ”. Hòa giải ở cơ sở có ý nghĩa quan trọngnhằm giúp vợ, chồng hoàn toàn có thể nhận thấy những sai lầm đáng tiếc của mình dẫn đến xích míc vợ chồngTrang 15K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 và giúp họ tìm ra những giải pháp nhằm mục đích xử lý những xích míc đó, để họ hoàn toàn có thể trở vềđoàn tụ mái ấm gia đình, mà không cần gửi đơn nhu yếu ly hôn đến cơ quan toà án. Điều 21 Luật hòa giải cơ sở năm trước, việc hòa giải hoàn toàn có thể được thực thi theo quan điểm của tổtrưởng hoặc tổ viên tổ hòa giải, theo đề xuất của cơ quan, tổ chức triển khai hoặc cá thể khác hoặctheo nhu yếu của một bên hoặc những bên tranh chấp. Vậy nghĩa là việc hòa giải hoàn toàn có thể đượctiến hành ngay cả trong trường hợp những bên xin ly hôn không có nhu yếu hòa giải tại cơ sở. Việc mặt triết lý việc hòa giải ở cơ sở hoàn toàn có thể được thực thi song song với hòa giải tạiTòa án, thậm chí còn song song với quy trình xét xử tại Tòa án. Nếu hòa giải thành tại cơ sở, thìcác bên sẽ tự nguyện rút đơn tại Tòa án. Việc hòa giải ở cơ sở cũng hoàn toàn có thể được thực hiệnnhư là trong bước đầu của thủ tục ly hôn, nếu hòa giải không thành, những bên hoặc một bên sẽ chínhthức nộp đơn xin ly hôn cho Tòa án. Hòa giải tại toà án : Trong trường hợp vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng nhu yếu toà án giảiquyết việc ly hôn, toà án xem xét và thực thi thụ lý đơn nhu yếu ly hôn của vợ, chồng hoặcđơn chấp thuận đồng ý ly hôn của vợ, chồng. Hòa giải tại Toà án là thủ tục bắt buộc so với những trườnghợp xét xử ly hôn. Trong những hồ sơ về ly hôn mà thiếu biên bản hòa giải thì bản án, quyết địnhcủa toà án sẽ bị huỷ. Khi xử lý ly hôn, Toà án cần xem xét tổng lực về quyền lợi của vợ, chồng, những con, quyền lợi mái ấm gia đình và quyền lợi xã hội để xem xét và quyết định hành động bác nhu yếu ly hôn hoặc chấpnhận nhu yếu ly hôn của vợ chồng. Trong mọi trường hợp ly hôn, dù vợ, chồng xin ly hônvớibất kỳ nguyên do, nguyên do nào toà án cần phải kiên trì hòa giải, giáo dục, trợ giúp, động viênvợ chồng xử lý xích míc mái ấm gia đình. Nếu đã hòa giải nhiều lần, xét thấy xích míc giữavợ, chồng đã thâm thúy, tình yêu thương giữa vợ, chồng không còn, thực trạng quan hệ vợ, chồng đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không hề lê dài, mục tiêu của hôn nhânkhông đạt được thì toà án xử lý cho vợ, chồng ly hôn ( Điều 55, 56 Luật hôn nhân gia đình và giađình năm trước ). Khi hòa giải, vợ, chồng và những người có quyền và quyền lợi tương quan phải xuất hiện ( khoản 1 Điều 68 Luật tố tụng dân sự năm ngoái ). Trong trường hợp bị đơn được triệu tập hợp lệTrang 16K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử ( khoản 1 Điều 207 Luật tốtụng dân sự năm ngoái ), việc hòa giải coi như không thành. Nếu những đương sự thỏa thuận hợp tác được với nhau về việc xử lý những yếu tố của vợchồng, và liên tục đời sống chung, thì Thẩm phán lập biên bản hòa giải thành. Nếu tronghạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà có đương sự biến hóa quan điểm, thì Tòaán đưa vụ án xét xử. Nếu trong thời hạn đó không có sự biến hóa quan điểm hoặc phản đối, thìTòa án ra quyết định hành động công nhận sự thỏa thuận hợp tác của những đương sự, quyết định hành động này có hiệu lựcpháp luật. Theo pháp luật của Luật hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình năm trước có hai trường hợp ly hôn : Thuận tìnhly hôn và ly hôn do một bên nhu yếu. + Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợ, chồng đều tự nguyện xin ly hôn. Sự tự nguyệncủa hai vợ, chồng nhu yếu chấm hết hôn nhân gia đình là cơ sở để Toà án xét xử. Nhưng như vậy chưađủ, việc xét xử của toà án vẫn phải tuân theo đúng thực chất của vấn đề, phải dựa trên căn cứly hôn theo luật định. Có như vậy mới bảo vệ được quyền lợi của vợ, chồng, con cháu, lợi íchcủa xã hội. Sự tự nguyện ly hôn là sự tự do bày tỏ ý chí của hai vợ, chồng, không ai bị cưỡngép, lừa dối trong việc đồng ý chấp thuận ly hôn. Việc đồng ý chấp thuận ly hôn tương thích với thực chất thật sựcủa quan hệ hôn nhân gia đình, tức là phản ánh tình hình quan hệ vợ, chồng đã tan vỡ, không hề hàngắn được. Có trường hợp cả vợ và chồng cùng đứng đơn xin ly hôn, nhưng sau một thời hạn mộttrong hai người rút lại dự tính xin ly hôn, Thẩm phán phải liên tục thực thi quy trình tố tụngbằng cách chuyển vụ án đồng ý chấp thuận ly hôn thành vụ án ly hôn theo nhu yếu của một bên. + Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng nhu yếu ly hôn thì chỉ có bên nhu yếu mới nhậnthức được quan hệ hôn nhân gia đình tan vỡ, còn bên kia không muốn ly hôn vì không nhận thức đượcmâu thuẫnvợ, chồng đã trầm trọng hoặc hoàn toàn có thể nhận thức được tuy nhiên lại không muốn ly hôn vìđộng cơ nguyên do nào đó. Trong những trường hợp này, Toà án xét xử chỉ địa thế căn cứ vào thực ra quanhệ vợ, chồng. Do đó dù bên không làm đơn nhu yếu ly hôn, không đồng ý chấp thuận ly hôn, Toà án vẫncó thể quyết định hành động cho vợ, chồng ly hôn khi quan hệ hôn nhân gia đình đã thực sự tan vỡ. Khi một bênvợ hoặc chồng nhu yếu ly hôn thì Toà án phải triển khai hoà giải. Sau 7 ngày kể từ ngày lậpTrang 17K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 biên bản hoà giải thành, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiếnthì Toà án ra quyết định hành động công nhận hoà giải đoàn viên thành ( khoản 1, điều 212 Bộ luật Tố tụngDân sự năm ngoái ). Quyết định công nhận hoà giải đoàn viên thành có hiệu lực thực thi hiện hành pháp lý ngay và cácđương sự không có quyền kháng nghị, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị theo thủ tụcphúc thẩm ( khoản 1, điều 213 BLTTDS năm ngoái ). Trong trường hợp hoà giải sum vầy khôngthành thì toà án lập biên bản hoà giải đoàn viên không thành, đồng thời thực thi mở phiên toàxét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Trường hợp ly hôn do một bên nhu yếu là vụ án dânsự theo pháp luật tại điều 184 BLTTDS 2015, thời hạn khởi kiện trong trường hợp này đượcáp dụng theo pháp luật của Bộ Luật Dân Sự. + Ngoài ra, ly hôn đương nhiên trong trường hợp có người bị công bố mất tích, thì chínhquyết định công bố mất tích là địa thế căn cứ để ly hôn, Thẩm phán không cần ( và cũng không cóquyền ) khám phá thêm : đời sống chung không hề lê dài, trước hết vì người nhu yếu khôngcó người để cùng chung sống. Nên ta nói việc ra quyết định hành động ly hôn trong trường hợp này làđương nhiên. Trang 18K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018CH ƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAOHIỆU QUẢ CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN TẠI TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH2. 1. Thực trạng xử lý những vụ án ly hôn tại Tòa án nhân dân Thành phốHồ Chí Minh : Mỗi năm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết khoảng chừng hơn 100 vụ ánhôn nhân mái ấm gia đình, trong đó những vụ án ly hôn chiếm một tỷ suất lớn và có khunh hướng tăngdần qua từng năm. Biểu đồ 2.1 : Thống kê hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình mái ấm gia đình từ năm 2012 – 2017 của Tòa án nhân dânThành phố Hồ Chí Minh. ( Nguồn : Theo báo cáo giải trình công tác làm việc thi đua khen thưởng hàng năm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ ChíMinh từ 2012 – 2017 ) Trang 19K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018Q ua biểu đồ trên ta hoàn toàn có thể thấy được tổng số vụ án ly hôn tăng liên tục qua từng năm, vàchiếm tỷ suất lớn trong số những vụ án hôn nhân gia đình mái ấm gia đình. Cụ thể như sau : Năm 2012, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 606 vụ án hôn nhân gia đình giađình, trong đó có 583 vụ án ly hôn, chiếm tỷ suất 96,20 %. Năm 2013, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 658 vụ án hôn nhângia đình, trong đó có 643 vụ án ly hôn ( tăng 60 vụ so với năm 2012 ), chiếm tỷ lệ97, 72 %. Năm năm trước, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 790 vụ án hôn nhângia đình, trong đó có 779 vụ án ly hôn ( tăng 36 vụ ), chiểm tỷ suất 98,60 %. Năm năm ngoái, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 852 vụ án hôn nhângia đình, trong đó có 808 vụ án ly hôn ( tăng 29 vụ ), chiểm tỷ suất 94,83 %. Năm năm nay, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 938 vụ án hôn nhângia đình, trong đó có 856 vụ án ly hôn ( tăng 48 vụ ), chiểm tỷ suất 91,25 %. Năm 2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý 980 vụ án hôn nhângia đình, trong đó có 913 vụ án ly hôn ( tăng 57 vụ ), chiểm tỷ suất 95,3 %. Qua hiệu quả nghiên cứu và phân tích trên ta hoàn toàn có thể thấy tình hình ly hôn lúc bấy giờ trên địa phận thànhphố Hồ Chí Minh là rất cao. Vậy nguyên do nào dẫn đến thực trạng như vây ? Thực tiễn quan sát tại tòa án nhân dân nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cho thấy phần nhiều những cặp vợchồng ly hôn đều xuất phát từ xích míc lê dài, thậm chí còn có những cặp vợ chồng đã sống lythân 3 năm, nay mới làm thủ tục ly hôn, trong đó nguyên do hầu hết dẫn đến tình trạngmâu thuẫn lê dài như trên là do bạo hành mái ấm gia đình, ngoại tình … Bảng 2.1 : Bảng số liệu thống kê tác dụng xử lý vụ án ly hôn đã thụ lý tại TANDTC thànhphố Hồ Chí Minh ( từ năm 2012 đến năm 2017 ) Trang 20K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018V ụ ÁnNămKết quảCủMớicòn lạithụ lýTổngChuyểnĐìnhHòaCôngXéthồ sơchỉgiảinhận thỏaxửđoàn tụthuận củathànhđương sự20126751658323274277201394549643125934367171201481698779221751033923320159970980817223452114201610675085623244447142201710680791319266441187 ( Nguồn : Thống kê thụ lý và xử lý những vụ án hôn nhân gia đình mái ấm gia đình xét xử sơ thẩm năm 2012 – 2017 của Tòa ánnhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ) Qua bảng thống kê trên, cho thấy số vụ án ly hôn mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ ChíMinh thụ lý mỗi năm càng tăng cao. Nhưng trong đó, số án đình chỉ và chuyển hồ sơ vẫn rấtnhiều. Cụ thể : Số vụ án đình chỉ : Năm 2012 : 1 vụ / 583 vụ = 0,17 % Năm 2013 : 59 vụ / 643 vụ = 9,17 % Trang 21K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018N ăm năm trước : 175 vụ / 779 vụ = 22,47 % Năm năm ngoái : 223 vụ / 808 vụ = 27,60 % Năm năm nay : 244 vụ / 856 vụ = 28,50 % Năm 2017 : 266 vụ / 913 vụ = 29,13 % Các vụ án ly hôn bị đình chỉ nhiều là do : – Trong quy trình hòa giải, những Thẩm phán thường hướng những vụ án ly hôn theo cách đòan tụnếu xét thấy những bên vẫn còn tình cảm với nhau, những đương sự phần đông sau khi được cán bộtòa án tư vấn thì thường tự thỏa thuận hợp tác được và quay lại với nhau, nên rút đơn, vì thế phảiđình chỉ xét xử vụ án. – Có nhiều trường hợp, sau khi hồ sơ vụ án được tòa án nhân dân thụ lý, nhưng sau khi được triệu tậpnhiều lần, những đương sự vẫn không xuất hiện để lấy lời khai và thực thi hòa giải. Nhìn chung Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tuân thủ những lao lý về thủtục tố tụng của Luật tố tụng dân sự trong việc xử lý những vụ án ly hôn, nhận thức rõ tínhđặc thù trong trong việc xử lý những vụ án ly hôn, kiên trì hòa giải, với mong ước hàngắn những giai đình, hạn chế đến mức thấp nhất những vụ án phải đưa ra xét xử. Về cơ bản Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã vận dụng đúng đắn những quy địnhcủa Luật hôn nhân gia đình mái ấm gia đình, Bộ luật dân sự năm ngoái và những văn bản pháp lý khác về hôn nhângia đình, cũng như những hướng dẫn của Tòa án Nhân dân Tối cao ; tuân thủ đường lối, nguyêntắc của Đảng và Nhà nước trong công tác làm việc xử lý những vụ an ly hôn. Chất lượng giải quyếtngày một nâng cao, góp thêm phần không thay đổi trật tự, bảo đảm an toàn xã hội, tăng trưởng kinh tế tài chính, hiệu lực thực thi hiện hành quảnlý của Nhà nước, bảo vệ quyền và quyền lợi hợp pháp của công dân … Phần lớn những bản án, quyết định hành động của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có địa thế căn cứ pháp lý, phù hợphoàn cảnh xã hội và bảo vệ hiệu lực hiện hành thi hành. 2.2. Những chưa ổn còn sống sót trong quy trình xử lý những vụ án ly hôn tạiTòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh : Trang 22K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 – Trong quy trình thực tập, được tham gia quy trình hòa giải, bản thân tôi thấy sự tích cựccủa cán bộ Tòa án khi hòa giải những vụ ly hôn. Họ đã không ngại khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng đi vàođời sống xã hội để tìm hiểu và khám phá ngọn ngành, nghiên cứu và phân tích quyền lợi và nghĩa vụ của người vợ, người chồng mộtcách thấu tình đạt lý, tuy nhiên, hiệu quả đôi lúc vẫn không như mong đợi. – Trong quy trình xử lý ly hôn, việc phân loại gia tài chung vợ chồng, phân chiaquyền sử dụng đất ở, quyền sử dụng đất nông nghiệp là một yếu tố phức tạp và khó khăn vất vả. Trên thực tiễn nhiều khi diện tích quy hoạnh đất thực mà mái ấm gia đình đang sử dụng và diện tích quy hoạnh đất ghi trongsổ địa chính có sự rơi lệch, điều này dẫn đến công tác làm việc phân loại gia tài của Tòa án là rất khókhăn. Đứng trước yếu tố này những cán bộ Tòa án vẫn còn gặp lung túng. – Về phía đương sự, họ có nghĩa vụ và trách nhiệm phải cung ứng những tài liệu chứng cứ tương quan đến vụán và Tòa án chỉ việc xác định, nhưng trên thực tiễn khi xử lý vụ án thì những đương sự cứquanh co, cho rằng Tòa án phải tự mình tích lũy những thông tin tương quan đến vụ án. Đây làmột việc rất khó khăn vất vả phức tạp, gây mất thời hạn cho quy trình xử lý. – Trong nhiều vụ án, bên bị đơn thường cố ý lảng tránh, bất hợp tác, không chịu có mặttại Tòa án, thậm chí còn cán bộ Tòa án phải đến tận nơi để tống đạt, nhưng nhiều bị đơn vẫn gâykhó khăn, làm cho quy trình xử lý bị ngưng trệ, nhiều trường hợp dẫn đến bế tắc. – Có trường hợp, trong quy trình hòa giải tại Tòa án, những bên đương sự vẫn cố ý đùnđẩy nghĩa vụ và trách nhiệm cho nhau, dẫn đến cãi cự, gây mất trật tự tại cơ quan. 2.3. Kiến nghị nhằm mục đích triển khai xong pháp lý và nâng cao hiệu suất cao xử lý lyhôn : – Lượng hóa nội dung tiêu chuẩn về địa thế căn cứ ly hôn theo lao lý tại khoản 1 Điều 56 LuậtHôn nhân và mái ấm gia đình năm năm trước, cần bổ trợ hướng dẫn vận dụng địa thế căn cứ ly hôn khi vợ hoặcchồng có hành vi ngoại tình vào Nghị định số 126 / năm trước / NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy địnhchi tiết 1 số ít điều và giải pháp thi hành Luật Hôn nhân và mái ấm gia đình, đơn cử như sau : “ Trường hợp một bên vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc đãbị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà vẫn liên tục vi phạm hoặc có văn bản củaTrang 23K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 cơ quan tìm hiểu là có tín hiệu tội phạm ( tội vi phạm chính sách một vợ, một chồng ) nhưng chưađến mức truy cứu nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự. Hành vi ngoại tình của vợ hoặc chồng gây ra hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêmtrọng hoàn toàn có thể là gây tổn hại đến tính mạng con người, sức khỏe thể chất, niềm tin của bên còn lại, làm cho giađình tan vỡ. Trường hợp vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình và bỏ nhà đi quá hai năm mà không cótin tức, không có nghĩa vụ và trách nhiệm với mái ấm gia đình, không cùng nhau thiết kế xây dựng mục tiêu hôn nhânlàm cho quan hệ vợ chồng rạn nứt ”. – Nghị định số 126 / năm trước / NĐ-CP cần bổ trợ hướng dẫn vận dụng địa thế căn cứ ly hôn khi vợhoặc chồng có hành vi đấm đá bạo lực mái ấm gia đình, đơn cử như sau : “ Trong trường hợp chồng hoặc vợ có hành vi đấm đá bạo lực mái ấm gia đình thì vợ hoặc chồng đượcTòa án xử lý cho ly hôn khi có địa thế căn cứ sau : Đối với hành vi đấm đá bạo lực vật chất : Vợ, chồng tiếp tục đánh đập, ngược đãi, hành hạlàm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về ý thức hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe thể chất mà chưa đến mức giải quyết và xử lý vềhình sự hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Đối với đấm đá bạo lực ý thức : Vợ, chồng bị chửi bới, sỉ nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩmvà uy tín. Hành vi đấm đá bạo lực của vợ, chồng được lặp đi lặp lại nhiều lần, đã được chính quyền sở tại địaphương nhắc nhở hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc có văn bản của cơ quan điềutra có tín hiệu tội phạm ( tội ngược đãi vợ ; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác ; tội bức tử ) nhưng chưa đến mức truy cứu nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự ”. – Pháp luật Nước Ta cần công nhận ly thân và xem ly thân là một trong những địa thế căn cứ đểcho ly hônCăn cứ ly hôn do ly thân : “ Trong trường hợp vợ chồng đã sống ly thân hơn 3 năm màvẫn không hề quay về với nhau để chung sống niềm hạnh phúc hoặc sống ly thân hơn 3 năm theoTrang 24K hoa Luật – Trường Đại Học Sài GònNăm học 2013 – 2018 quyết định hành động của Tòa án thì Tòa án xử lý cho ly hôn mà không phải xem xét, nhìn nhận thựctrạng quan hệ vợ chồng và những bên không phải chứng tỏ thực trạng trầm trọng của hônnhân ”. – cần bổ trợ pháp luật địa thế căn cứ ly hôn khi chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành ánphạt tùCần bổ trợ pháp luật địa thế căn cứ ly hôn khi chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành ánphạt tù, đơn cử như sau : “ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đang chấp hành án phạttù nhu yếu ly hôn thì Tòa án xử lý cho ly hôn ”. – Cần nâng cao chất lượng, nâng cao trình độ, năng lượng của thẩm phán và cán bộ tư pháp. Thẩm phán là những người “ Cầm cân nảy mực ”, nhân danh Nhà nước ra quyết định hành động liên quanđến quyền và quyền lợi của những đương sự. Với vai trò quan trọng như vậy yên cầu người thẩmphán không những có đạo đức, kinh nghiệm tay nghề thao tác lâu năm mà còn phải có trình độ caotrong nghành nghề dịch vụ pháp lý. Nhà nước cần chăm sóc hơn nữa đến ngành Tòa án, chú trọng nângcao công tác làm việc đào tạo và giảng dạy trình độ nhiệm vụ cho những Thẩm phán, Thư ký, góp thêm phần xét xửcông minh, giảm thực trạng kháng nghị, kháng nghị gây tốn kém tiền của cho người theo kiện. – Cần phải có những giải pháp hữu hiệu, khả thi để thực thi việc tuyển dụng cán bộ, bổnhiệm thẩm phán phải dựa theo năng lực thực sự. Tăng cường bổ trợ biên chế cán bộ choTAND tỉnh Đắk Lắk vì hàng năm số lượng án thụ lý, xử lý của ngành tăng, bổ sungthêm kinh phí đầu tư, văn minh hóa trang thiết bị Giao hàng công tác làm việc xét xử, bảo vệ triển khai xong tốtnhiệm vụ. – Phải thực thi việc báo cáo giải trình, thống kê kịp thời, đồng thời phải ứng dụng công nghệ tiên tiến tinhọc trong công tác làm việc thống kê nhiệm vụ. – Thường xuyên tiến hành việc tập huấn những văn bản pháp lý mới đến cán bộ công chứcngành Tòa án để nâng cao chất lượng trình độ, phân phối nhu yếu của quốc gia. – Chánh án nên phân công Thẩm phán xử lý vụ án theo đúng trình độ và sởtrường của từng người, vừa phát huy được năng lượng của cán bộ, vừa xử lý nhanh gọn, đúng mực vụ án. Trang 25

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập