Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý di tích lịch sử ở huyện thiệu hóa, – Tài liệu text
Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý di tích lịch sử ở huyện thiệu hóa, tỉnh thanh hóa
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.18 MB, 150 trang )
Bạn đang đọc: Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý di tích lịch sử ở huyện thiệu hóa, – Tài liệu text
1
Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH
Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI
********
quản văn hải
Quản lý di tích lịch sử văn hoá
ở huyện thiệu hóa, tỉnh thanh hóa
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
MÃ số: 60310642
LUậN VĂN THạC Sĩ QUảN Lý VĂN HóA
Người hướng dẫn khoa häc: PGS. TS. Trịnh Thị Minh Đức
Hµ Néi, 2015
2
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức. Những nội dung trình bày
trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa
từng được ai cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào. Những chỗ sử dụng kết quả
nghiên cứu của người khác, tơi đều trích dẫn rõ ràng. Tơi hồn tồn chịu trách
nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.
Hà Nội, ngày…..tháng ….. năm 2015
Tác giả luận văn
Quản Văn Hải
3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC …………………………………………………………………………………………. 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ………………………………………………………………… 5
MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………… 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HĨA VÀ
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THIỆU
HÓA, TỈNH THANH HÓA …………………………………………………………………… 13
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý Di tích lịch sử văn hóa ………………………. 13
1.1.1. Nghiên cứu một số khái niệm …………………………………………….. 13
1.1.2. Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ……… 24
1.1.3. Nội dung quản lý Nhà nước về di tích lịch sử văn hóa ……………. 29
1.2. Tổng quan về hệ thống DTLSVH của huyện Thiệu Hóa …………… 31
1.2.1. Khái quát chung về huyện Thiệu Hóa ………………………………….. 31
1.2.2. Hệ thống Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa ……………… 39
Tiểu kết Chương 1 ………………………………………………………………………. 51
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HĨA
Ở HUYỆN THIỆU HĨA ……………………………………………………………………… 52
2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý di tích ……………………………………. 52
2.1.1. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa ………………….. 52
2.1.2. Phịng Văn hóa – Thơng tin huyện Thiệu Hóa ………………………. 54
2.1.3. Ban quản lý di tích tại các xã/ thị trấn ở huyện Thiệu Hóa ………. 55
2.2. Thực trạng cơng tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn
huyện Thiệu Hóa ……………………………………………………………………….. 58
2.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích
lịch sử – văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa ……………………………… 58
2.2.2. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về pháp luật bảo vệ
di tích lịch sử văn hóa ………………………………………………………………… 61
2.2.3. Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn và phát
huy giá trị di tích lịch sử văn hóa …………………………………………………. 64
2.2.4. Cơng tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về di tích lịch sử
văn hóa ……………………………………………………………………………… 75
2.2.5. Tổ chức đào tạo đội ngũ chun mơn về quản lý di tích lịch sử
văn hóa ……………………………………………………………………………… 76
4
2.3. Đánh giá cơng tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu
Hóa trong thời gian qua ………………………………………………………………. 78
2.3.1. Những ưu điểm ………………………………………………………………… 78
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân ………………………………………….. 80
Tiểu kết Chương 2 ………………………………………………………………………. 83
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HĨA Ở HUYỆN THIỆU HÓA ……………….. 85
3.1. Phương hướng ……………………………………………………………………… 85
3.1.1. Tăng cường sự quản lý, đầu tư của Nhà nước và sự phối hợp giữa
các cấp, các ngành trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 85
3.1.2. Đẩy mạnh việc đầu tư kinh phí, vận động các tổ chức xã hội và
đông đảo nhân dân tham gia vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy các giá trị
di sản văn hóa nhằm thực hiện có hiệu quả q trình xã hội hóa các hoạt
động văn hóa ……………………………………………………………………………. 87
3.1.3. Đẩy mạnh việc giao lưu, hợp tác nghiên cứu liên ngành giữa các
cơ quan khoa học ở trung ương và huyện Thiệu Hóa về việc bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa …………………………………………………….. 89
3.1.4. Quản lý di tích lịch sử văn hóa gắn với quy hoạch phát triển kinh
tế, xã hội trên địa bàn huyện Thiệu Hóa ……………………………………….. 90
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý di tích trên địa bàn
huyện Thiệu Hóa ………………………………………………………………………… 91
3.2.1. Nhóm giải pháp về chính sách ……………………………………………. 91
3.2.2. Nhóm giải pháp tăng cường tổ chức và triển khai thực hiện công
tác quản lý và bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa ……………….. 99
3.2.3. Nhóm giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa……………………… 103
3.3. Một số khuyến nghị …………………………………………………………….. 106
3.3.1. Khuyến nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa …. 106
3.3.2. Khuyến nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ……………………. 107
Tiểu kết Chương 3 …………………………………………………………………….. 109
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………….. 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………… 112
PHỤ LỤC ………………………………………………………………………………………. 114
5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
VHTTDL
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
CNH-HĐH
Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
DSVH
Di sản văn hóa
DTLSVH
Di tích lịch sử văn hóa
QLDT
Quản lý di tích
Tr
Trang
UBND
Ủy ban nhân dân
VH – TT
Văn hóa – Thơng tin
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
TN & MT
Tài nguyên và Môi trường
UBMTTQ
Ủy ban Mặt trận tổ quốc
XHH
Xã hội hóa
QLDTLSVH
Quản lý Di tích lịch sử văn hóa
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản vơ giá của đất nước, là một bộ phận
quan trọng của nền văn hóa dân tộc. Ngày nay, vai trị của di tích lịch sử càng
trở nên quan trọng hơn trước những thay đổi nhanh chóng mang tính thời đại
ở về mọi mặt. Kinh nghiệm xây dựng và phát triển văn hóa xã hội ở nhiều
quốc gia trên thế giới đã cho thấy, một dân tộc nào giữ được những giá trị di
tích lịch sử văn hóa thì dân tộc đó sẽ giữ được bản sắc văn hóa của mình, sẽ
khẳng định được “thương hiệu” của quốc gia trên trường quốc tế. Trong nhiều
năm trở lại đây, Nhà nước ta đã có chủ trương đầu tư kinh phí cho việc quản
lý, bảo tồn và khai thác các di tích lịch sử văn hóa.
Lĩnh vực văn hóa ln được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta coi trọng.
Văn hóa khơng chỉ là nền tảng, mục tiêu và động lực phát triển kinh tế – xã
hội, ngày nay, văn hóa được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị. Trong
những năm qua, nền văn hóa Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn
trong lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, cùng với thời gian, do hoàn cảnh và hạn chế
nhất định, những di sản văn hóa được các thế hệ cha ơng để lại đang có nguy
cơ mai một. Giá trị của di sản văn hóa nói chung và của di tích lịch sử văn
hóa nói riêng là vơ cùng to lớn, song điều quan trọng hơn là việc quản lý, bảo
tồn và phát huy những giá trị của nó như thế nào đang là vấn đề cần được
quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành, nhất là những người làm công tác
quản lý văn hóa hiện nay. Nhiều năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành
tựu trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc ở những quy
mơ khác nhau. Hàng loạt di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, tu bổ, tơn
tạo; rất nhiều cổ vật, di vật trong đó được bảo vệ; lễ hội truyền thống, diễn
xướng, trò chơi dân gian, thuần phong, mỹ tục được lưu giữ và phát triển. Tuy
nhiên, công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc cũng còn tồn tại một
7
số hiện tượng đáng quan tâm, gây bức xúc trong xã hội. Đó là tình trạng xâm
hại, phá hoại di tích; lấy cắp cổ vật và đồ thờ tự trong đình, đền, chùa; hiện
tượng mê tín dị đoan gia tăng; lễ hội truyền thống cịn nhiều lộn xộn… Tình
trạng này khiến cho mơi trường văn hóa, xã hội nói chung, mơi trường bảo
tồn di sản văn hóa nói riêng kém lành mạnh, chưa thực sự bền vững. Mặc dù
toàn xã hội và ngành VHTTDL đã có nhiều giải pháp ngăn chặn, can thiệp
song đây vẫn là những thách thức cho toàn xã hội trong việc bảo tồn, phát huy
giá trị di sản văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
và phát triển phù hợp với xu thế mở cửa, hội nhập.
Huyện Thiệu Hóa là vùng đất cổ, một địa danh nổi tiếng của Thanh
Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung. Thiệu Hóa, có sơng Chu – núi Đọ, nơi
cách đây khoảng 30 – 40 vạn năm đã có con người cư trú, đồng thời đây cũng
là địa bàn sinh sống lâu đời của cư dân Việt cổ thuộc nền văn hóa Đơng Sơn.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển cùng với lịch sử quốc gia dân
tộc, bằng đấu tranh, lao động và sáng tạo, con người nơi đây đã phải đổ mồ
hôi công sức kể cả xương máu và nước mắt để tạo dựng nên mảnh đất khơng
ít kì tích này. Vì vậy, khi nhắc đến địa danh Thiệu Hóa ta khơng chỉ biết đến
vùng đất cổ có lịch sử phát triển lâu đời, có bề dày truyền thống lịch sử văn
hóa, mà cịn là vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Nơi đây đã sản sinh ra những
anh hùng, danh nhân văn hóa của dân tộc, tiêu biểu như: Dương Đình Nghệ,
Đinh Lễ, Nguyễn Qn Nho, Lê Văn Hưu.
Tính đến hết tháng 5/2014, huyện Thiệu Hóa có 40 di tích được xếp
hạng, trong đó có 06 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và 34 di tích xếp
hạng cấp Tỉnh. Từ thành lập huyện đến nay, dưới sự lãnh đạo của huyện ủy,
HĐND, UBND huyện Thiệu Hóa, sự vào cuộc của các ngành chuyên môn,
công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện Thiệu Hóa đã đạt được
nhiều kết quả đáng khích lệ, nhiều di tích đã trở thành điểm sáng trong cơng
8
tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử (tiêu biểu như Di tích lịch sử cơ
sở cách mạng của Xứ ủy Bắc kỳ, Trung kỳ và Đảng bộ Thanh Hóa thời kỳ
1930 – 1945 (nhà ơng Tơ Đình Bảng, nhà ơng Tơ Cơng Thanh, nhà ơng Lê
Huy Tốn, di tích lịch sử mộ và đền thờ Nguyễn Quán Nho). Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả đạt được, cơng tác quản lý vẫn cịn nhiều hạn chế, bất
cập: Cơng tác tun truyền Luật Di sản văn hóa chưa được quan tâm đúng
mức, dẫn đến nhận thức của người dân còn hạn chế trong việc bảo vệ di sản;
nguồn kinh phí của nhà nước chi cho cơng tác đầu tư, tu bổ còn hạn hẹp; còn
hiện tượng tự ý tu bổ, sửa chữa làm biến dạng di tích; việc thành lập và hoạt
động Ban quản lý di tích một số nơi cịn hình thức, chưa thực sự quan tâm;
một số di tích cịn hiện tượng bị lấn chiếm đất, hiện tượng xây dựng không
xin phép cơ quan chức năng cịn diễn ra, những di tích chưa xếp hạng bị phá
bỏ nhiều yếu tố nguyên gốc làm ảnh hưởng đến giá trị của di tích, việc đưa các
hiện vật vào di tích chưa cịn phù hợp với qui định và với giá trị của Di tích.
Là một cán bộ đang làm cơng tác quản lý trong ngành Văn hố, Thể
thao và Du lịch, là người con sinh ra trên mảnh đất Thiệu Hóa, với trách
nhiệm, sự say mê nghề nghiệp cùng với sự hiểu biết, xác định rõ vai trị, tầm
quan trọng của cơng tác quản lý văn hóa nói chung, cơng tác quản lý di sản
văn hố nói riêng trong giai đoạn mới hiện nay, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý
di tích lịch sử văn hố ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa” làm Luận văn tốt
nghiệp Cao học chun ngành Quản lý văn hố.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những tập hợp tài liệu bước đầu cho thấy hiện nay chưa có cơng trình
khoa học nào nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý DTLSVH trên địa
bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Trong một số cơng trình đã xuất bản, có một số cơng trình có tình khái
qt như:
9
“Địa chí huyện Thiệu Hóa” của 2 tác giả Phạm Tấn, Phạm Văn Tuấn,
xuất bản năm 2010 đã giới thiệu tổng quan về địa lí tự nhiên, địa lí hành
chính, lịch sử, kinh tế, văn hoá xã hội và nhân vật chí của huyện Thiệu Hóa
tỉnh Thanh Hố.
“Thanh Hố di tích và danh thắng’’ (Tập 3), Nxb Thanh Hố, năm
2004, đã đề cập đến qui mô, kiến trúc của các di tích lịch sử trên địa bàn
huyện Thiệu Hóa. Theo số liệu sách đưa ra, huyện Thiệu Hóa có 05 Di tích
xếp hạng cấp Quốc gia và 31 Di tích xếp hạng cấp tỉnh.
Sách “Tể tướng Vãn Hà’’, Nxb Thanh Hoá, năm 1995, tác giả Lê Bá
Chức đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp của nhân vật
lịch sử của Thiệu Hóa, cũng như những nét khái quát ban đầu về đền thờ và
lăng mộ của các nhân vật lịch sử.
“Khảo sát văn hoá truyền thống Thiệu Hoá’’ Nxb Văn hoá dân tộc,
năm 2003, tác giả Tạ Quang đã có cái nhìn khái qt về văn hoá truyền thống
của huyện Thiệu Hoá trên nhiều lĩnh vực. Sách chủ yếu đi vào sưu tầm các giá
trị văn hố dân gian (truyện kể, phương ngơn, tục ngữ, ca dao, trị diễn…).
“Thiệu Hóa q ta” của các tác giả Hoàng Văn Toàn, Phạm Như Hân,
Lê Văn Tiến, xuất bản năm 2010 bao gồm những bài viết, bài thơ, ảnh viết về
quê hương Thiệu Hoá trên con đường đổi mới, tấm lòng của những người con
xa quê hương mong muốn được đóng góp nhiều hơn nữa cho q hương.
Ngồi ra cịn có một số Luận văn cao học và Khoá luận đại học ngành
Bảo tàng của Trường Đại học Văn hoá Hà Nội như: Luận văn Thạc sĩ Quản lý
di tích lịch sử văn hóa ở huyện Phú Xun – TP. Hà Nội tác giả Vũ Ngọc Hải,
Luận văn Thạc sĩ của Thạc sỹ Kiều Tuấn Đạt viết về “Giá trị văn hóa nghệ
thuật đình Hạ Giẽ”, Khóa luận Đại học của sinh viên Bạch Thị Dung với đề tài
“Tìm hiểu giá trị di tích đình là Tri Chỉ”, các cơng trình này chủ yếu viết về giá
trị một di tích hoặc một cụm di tích cụ thể ở những địa phương khác chứ chưa
10
viết về quản lý di tích ở huyện Thiệu Hóa; trong các đề tài vừa nêu trên, có một
phần viết về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, đó cũng chính là
những nội dung có liên quan đến cơng tác quản lý di tích lịch sử văn hóa.
Các tài liệu liên quan đến đề tài: Hồ sơ di tích được xếp hạng trên địa
bàn huyện Thiệu Hóa từ năm 2008 – 2014; Báo cáo kết quả Danh sách các di
tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa của Phịng Văn hóa và
Thơng tin huyện Thiệu Hóa; Đề án về bảo quản, tu bổ di tích trên địa bàn
huyện Thiệu Hóa của Phịng Văn hóa và Thơng tin huyện Thiệu Hóa được Ủy
ban nhân dân huyện phê duyệt.
Tổng hợp tình hình nghiên cứu của các tác giả đi trước cho thấy có các
cơng trình đã viết về giá trị của di tích, của một số di tích, thậm chí giới thiệu
có hệ thống, tương đối đầy đủ về diện mạo các di tích trên địa bàn huyện
Thiệu Hóa hoặc một số địa phương khác. Tuy vậy, cho tới nay vẫn chưa có
cơng trình nghiên cứu đề cập tồn diện về cơng tác quản lý di tích lịch sử văn
hố trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Trong q trình triển khai đề tài “Quản lý Di tích lịch sử văn hố ở
huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa”, tác giả luận văn đã kế thừa những kết
quả của các tác giả đi trước, trên cơ sở đó việc thực hiện mục tiêu và nhiệm
vụ của đề tài có nhiều thuận lợi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trị của cơng tác quản lý di tích lịch sử
văn hóa trong giai đoạn hiện nay, luận văn đi sâu khảo sát phân tích, đánh giá
những kết quả đạt được cùng những hạn chế trong cơng tác quản lý các di tích
lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, từ đó đề xuất một số giải pháp,
góp phần nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý di tích lịch sử – văn hóa của
huyện Thiệu Hóa trong thời gian tới.
11
3.2. Nhiệm vụ
– Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý di tích, hệ thống di tích lịch sử
văn hóa ở huyện Thiệu Hóa;
– Trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở khoa học và pháp lý trong
cơng tác quản lý di tích lịch sử văn hóa;
– Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng cơng tác quản lý di tích lịch
sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa trong vịng 10 năm trở lại đây.
– Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích
lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu về cơng tác quản lý hệ thống di tích
lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng, cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy, các quan điểm,
định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, đồng
thời vừa bảo tồn, tôn tạo, vừa khai thác phát huy có hiệu quả những giá trị của
các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa.
Phạm vi thời gian: từ năm 2005 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Quản lý văn hóa, Lịch sử, Bảo
tồn di tích, xã hội học…
– Phương pháp tổng hợp tài liệu phân tích, thống kê, phân loại.
– Phương pháp điều tra, khảo sát điền dã về thực trạng hệ thống di tích
và tình trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa.
– Thực hiện phỏng vấn sâu, các nhà quản lý và đại diện cộng đồng để
đánh giá khách quan về hiệu quả quản lý di tích.
12
6. Đóng góp của luận văn
– Luận văn là cơng trình đầu tiên đánh giá thực trạng của hệ thống di
tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa. Chỉ ra được những mặt ưu
điểm, hạn chế, những nguyên nhân yếu kém về công tác quản lý để từ đó có
định hướng phát huy giá trị của hệ thống di tích trong cơng tác bảo tồn giá trị
di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.
– Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công
tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa.
– Kết quả nghiên cứu về thực trạng cũng như các nhóm giải pháp mà
luận văn đưa ra là một trong những cơ sở khoa học giúp các cấp lãnh đạo của
UBND huyện, Phịng Văn hóa và Thơng tin huyện có giải pháp phù hợp trong
việc đổi mới, nâng cao cơng tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện
Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
– Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo về cơng tác quản lý di
tích lịch sử văn hóa cho các huyện và các độc giả muốn tìm hiểu về cơng tác
quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa và tổng
quan hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Chương 2: Thực trạng cơng tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở
huyện Thiệu Hóa
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa.
13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HĨA Ở
HUYỆN THIỆU HĨA, TỈNH THANH HĨA
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý Di tích lịch sử văn hóa
1.1.1. Nghiên cứu một số khái niệm
Cơ sở khoa học và pháp lý là những tiền đề quan trọng trong cơng
tác quản lý di sản văn hóa (DSVH) quốc gia nói chung và cơng tác quản lý
di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) ở huyện Thiệu Hóa nói riêng, nhằm từng
bước giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện quản lý
nhà nước về lĩnh vực DSVH.
Tiếp cận nghiên cứu thực trạng công tác quản lý DTLSVH ở huyện
Thiệu Hóa và những giá trị văn hóa nằm trong tổng thể đó nhận thấy cần
làm rõ những vấn đề lý luận chung về DTLSVH để từ đó đưa ra giải pháp
cho cơng tác quản lý DTLSVH đạt hiệu quả; đồng thời phát huy tốt các giá
trị văn hóa đó tới cộng đồng xã hội.
1.1.1.1. Khái niệm di sản văn hóa
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại” [36,
tr. 254]. Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá
trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để
lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì q giá, có giá
trị. DSVH được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên.
Khái niệm DSVH trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một
q trình hình thành khá lâu dài. Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ
này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp
1789. Quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ
14
giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản
Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát và phá
hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả
sắp xếp, phân loại các cơng trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi
phục và bảo tồn di sản quốc gia. Di sản lúc đó được hiểu như ý niệm về một
tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó
là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia.
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định
nghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho
thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện
nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [26, tr.20].
Như vậy, DSVH được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để
lại cho thế hệ sau. DSVH là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật
dân gian, các cơng trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn
học… mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau.
Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp
quốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003
đã bàn thảo và ra Công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể. Cơng ước đã ghi
nhận: Các q trình tồn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với các
điều kiện khác đã tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng
thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và hủy
hoại các DSVH phi vật thể.
Luật Di sản văn hố của nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác
định: “DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh
thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ
này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [34, tr.17].
15
Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, vận động thay đổi theo thời
gian. Ngày nay khái niệm di sản khơng hồn tồn đồng nhất với khái niệm tài
sản từ quá khứ nữa. Bởi lẽ không phải bất cứ cái gì của quá khứ cũng được coi
là di sản. Di sản là sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ đã được lựa
chọn theo nhu cầu của xã hội hiện đại. Di sản là sự lựa chọn từ quá khứ lịch sử
những ký ức, báu vật của cộng đồng, thể hiện nhu cầu, nguyện vọng, mong
muốn của xã hội hiện đại. Do đó, sự ra đời của Luật DSVH năm 2001 cùng với
các văn bản hướng dẫn đi kèm đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm
tăng cường nhận thức và hành động cho toàn xã hội, tăng cường sự hiểu biết về
di sản và quá trình bảo vệ, phát huy kho tàng DSVH của dân tộc.
Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc phê chuẩn
Công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể năm 2003 của UNESCO và là thành
viên của Ủy ban Liên Chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt động
và các chính sách quốc tế có liên quan đến Cơng ước này. DSVH là yếu tố cốt
lõi của văn hóa, chuyển tải bản sắc văn hóa của một cộng đồng xã hội. DSVH
Việt Nam là tài sản văn hóa quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và
là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trị to lớn trong sự nghiệp dựng
nước và giữ nước của nhân dân ta. Như vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị
DSVH là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ gìn và làm phong
phú cho kho tàng DSVH nhân loại.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước đã ban hành
nhiều chủ trương đường lối và chính sách bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. DSVH Việt Nam khi được bảo tồn, kế thừa và phát huy sẽ có
tác dụng tích cực trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam đương đại, kết
hợp với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
16
1.1.1.2. Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
* Khái niệm DTLSVH: Là bằng chứng không thể phủ nhận về một q
khứ ln có mặt mà cộng đồng, dân tộc đã công nhận và thừa nhận như những
giá trị tiêu biểu cho bản sắc văn hóa của mình. Khái niệm này được các nhà khoa
học rất quan tâm trong thời kỳ chưa có khái niệm trong Hiến chương quốc tế
Venice (1964). Xác định DTLSVH là một loại hình di sản văn hóa vật thể, ln
tồn tại khách quan, được xem là những giá trị văn hóa tiêu biểu cho cộng
đồng dân tộc.
Di tích là “dấu tích” “dấu vết” cịn sót lại khơng ngun vẹn của một
cơng trình nghệ thuật LSVH nào đó đã được xây dựng trong quá khứ (từ thế
kỷ XX trở về trước, lùi sâu cho đến thời tiền, sơ sử, có quy mơ to nhỏ khác
nhau, có chức năng, tác dụng khác nhau). Từ khái niệm nêu ra trên đây có thể
nhận thấy được về giá trị văn hóa vật thể cả một cơng trình kiến trúc. Tuy
nhiên, trải qua thời gian đã có những biến đổi trong một chừng mực nhất
định. Khái niệm đã qui định về khung thời gian cho việc xác định sự hiện
diện của di tích. Tuy nhiên về quy mơ có thể to nhỏ khác nhau, chức năng, tác
dụng khác nhau. Có những kiến trúc phục vụ cho tơn giáo, có những tịa
thành phục vụ cho mục đích qn sự, có những kiến trúc trở thành một bộ
phận của kiến trúc đô thị.
* Khái niệm trong Hiến chương quốc tế: Trong Hiến chương Venice –
Italia năm 1964 quan niệm rằng, DTLSVH không phải là cơng trình kiến trúc
đơn chiếc mà cả khung cảnh cơng trình ở đơ thị hay ở nơng thơn, là bằng
chứng của một nền văn minh riêng biệt, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự
kiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ áp dụng đối với công trình nghệ thuật
to lớn mà cả với những cơng trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng thời gian thâu
nạp được một ý nghĩa văn hóa. Khái niệm trong hiến chương cũng đặc biệt
quan tâm đến các khung cảnh đô thị trong đó có các đơ thị cổ ở nước ta như
17
phố cổ Hội An, Phố Hiến,… Khung cảnh nông thôn là các khu vực có làng
cổ, bản cổ như ở nước ta có làng cổ Đường Lâm ở Hà Nội, làng cổ Phước
Tích ở Huế,…
* Khái niệm trong Luật Di sản văn hóa: Theo Luật Di sản văn hóa năm
2001 quy định tại Chương 3, Điều 4 cho biết: DTLSVH là cơng trình xây
dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc cơng trình, địa
điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật là hiện vật được lưu
truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và có từ 100 năm
tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc
biệt hiếm về các mặt lịch sử, văn hóa, khoa học.
* Tiêu chí để trở thành di tích lịch sử văn hóa
Điều 28 Luật Di sản văn hóa quy định:
1. Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
a) Cơng trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong
q trình dựng nước và giữ nước;
b) Cơng trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế, sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;
c) Cơng trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của
các thời kỳ cách mạng, kháng chiến;
d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;
đ) Quần thể các cơng trình kiến trúc hoặc cơng trình kiến trúc đơn lẻ có
giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
2. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:
a) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan
thiên nhiên với cơng trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu;
18
b) Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,
đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng
những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.
* Các loại hình di tích
Căn cứ Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, di tích được phân
ra thành 04 loại hình, bao gồm:
Một là, di tích khảo cổ học gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị
nổi bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ. Loại
hình di tích khảo cổ có thể phân chia thành các loại di tích sau đây:
1/ Loại di chỉ cư trú; 2/ Loại di chỉ mộ táng; 3/ Loại di chỉ cư trí –
mộ táng. Ngồi ra, cịn có thể phân chia theo thời đại khảo cổ: 1/
Loại di tích/ di chỉ thời đại đồ Đá; 2/ Loại di tích/ di chỉ thời đại đồ
Đồng; 3/ Loại di tích/ di chỉ thời đại đồ Sắt [20, tr.15].
Hai là, loại hình di tích lịch sử bao gồm những cơng trình xây
dựng. địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc,
của địa phương hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt
động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh
hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc [20]. Loại
hình di tích lịch sử có 3 loại di tích: 1/ Loại di tích gắn với sự kiện
lịch sử tiêu biểu trong q trình dựng nước, giữ nước; 2/ Loại di
tích gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân
đất nước; 3/ Loại di tích gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các
thời kỳ cách mạng [20, tr.15].
Ba là, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: cơng trình
kiến trúc, nghệ thuật quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và
19
địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển
kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam. Loại hình di tích kiến trúc nghệ
thuật có thể chia ra các loại khác nhau, cụ thể được chia làm 06
loại: 1/ Các đơ thị đã hình thành trong lịch sử và các thành phần của
chúng. Các phế tích của các đô thị cổm các phối hợp và tổng thể đô
thị lớn thể hiện bộ mặt đô thị và các khu dân cư. 2/ Di tích kiến trúc
cư trú, gồm các ngôi nhà ở thành thị và nông thôn, các cung thất,
dinh thự. 3/ Di tích kiến trúc dân dụng như các cơng sở, các cơng
trình văn hóa, các cơng trình phục vụ đời sống. 4/ Di tích kiến trúc
tơn giáo (đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ,…), lăng tẩm cũng có thể
đưa vào loại hình này. 5/ Di tích kiến trúc quân sự như: thành, lũy,
hào… 6/ Di tích kiến trúc phong cảnh – phần những cảnh quan
thiên nhiên cónhững cơng trình kiến trúc được lồng ghép vào các
cơng viên, vườn hoa, khu sinh thái [20, tr.16].
Bốn là, loại hình di tích danh lam, thắng cảnh. Cảnh quan thiên
nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên
với cơng trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá
trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh
thái đặc thù [20]. Loại di tích này có thể phân chia thành 2 loại: 1/
Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,
đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên
chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của
Việt Nam và thế giới. 2/ Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự
kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với cơng trình kiến trúc có giá
trị thẩm mỹ tiêu biểu [20, tr.16].
Mặc dù trong các văn bản phân chia DTLSVH làm 04 loại hình, trong
từng loại hình lại phân chia thành các loại di tích thuộc loại hình cụ thể, nhưng
20
trên thực tế khi căn cứ vào các giá trị tiêu biểu chứa đựng ở từng trường hợp cụ
thể thì q trình phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối. Trong khi tiếp cận
phân loại, điều cơ bản chúng ta cần xác định được giá trị tiêu biểu của di tích
để tiến hành phân loại các di tích, dù ở phạm vi của loại hình nào.
Nếu căn cứ vào giá trị lịch sử văn hóa, khoa học thẩm mỹ và cấp độ
quản lý, di tích được xếp hạng và chia thành ba loại, gồm:
Một là, di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu
của quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xếp hạng.
Hai là, di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ
trưởng Bộ VH, TT& DL ra quyết định xếp hạng.
Ba là, di tích cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) là di tích
có giá trị tiêu biểu trong phạm vi địa phương do Chủ tịch UBND tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương ra quyết định xếp hạng.
Việc hiểu rõ nội hàm khái niệm di tích và các hình thức phân loại di
tích có ý nghĩa quan trọng để xác định sự quan tâm của các cơ quan quản lý di
tích cho từng loại hình di tích. Đây cũng là một trong những cơ sở khoa học
cho việc hoạch định chính sách và xây dựng hệ thống văn bản pháp luật trong
việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý
Thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo
nghĩa thông thường, trong tiếng Việt thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là trông
nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, theo dõi; nếu hiểu theo nghĩa Hán – Việt
thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trơng nom, coi sóc. Ở phương tây
người ta dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bản tay hoặc liên quan
đến hoạt động của bàn tay, tức là hành động theo một quan điểm tác động để
dẫn dắt.
21
Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý ở một góc độ riêng nào đó
thì chúng đều có những định nghĩa riêng về quản lý. Khái niệm quản lý trong
điều khiển học được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để
điều khiển, chỉ đạo sự vận động của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt
được những mục đích hay kế hoạch mà người quản lý đã đề ra từ trước.
Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rõ bản chất của quản lý và
hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý là
một hoạt đơng khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện
mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vu
lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Đối với xã hội có trình độ phát triển càng cao,
u cầu quản lý càng lớn và vai trò của quản lý ngày một tăng lên.
Theo ý nghĩa thông thường, phổ biến, thuật ngữ “Quản lý” được hiểu
là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ
thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội
và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối
tượng theo những mục tiêu đã định.
Với cách hiểu về khái niệm quản lý như đã trình bày ở trên, về mặt Nhà
nước, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
+ Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể luôn
là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý
bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc
nhất định.
+ Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản
lý. Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản
lý khác nhau.
+ Khách thể quản lý chịu sự tác động hay điều chỉnh của chủ thể quản
lý, đó là hành vi của con người hoặc quá trình xã hội.
22
+ Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định
do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các
động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp. Quản lý
ra đời chính là hướng đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc.
1.1.1.4. Khái niệm quản lý di tích lịch sử văn hóa
Quản lý DTLSVH chính là sự đinh hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều
hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLSVH, làm cho các giá trị của di tích được
phát huy theo chiều hướng tích cực. Các DTLSVH cần được tơn trọng và bảo
vệ vì đây là tài sản vơ giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt
nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học. Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng
có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền
thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng
nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân. Đặc biệt trong nên kinh tế thj
trường có sự quản lý của Nhà nước như đặc thù của nước ta hiện nay thì văn
hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển KT –
XG của đất nước, đồng thời bảo tồn được giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc.
Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, xét cho cùng cũng là một phần của
công tác quản lý DSVH nói chung và quản lý DTLSVH nói riêng. Theo nghĩa
thông thường trong tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là trơng nom,
sắp đặt cơng việc hoặc gìn giữ, trơng nom, theo dõi. Cụ thể, “quản lý” có hai
nghĩa là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan;
trơng coi, giữ gìn và theo dõi những hoạt động cụ thể. Trường hợp quản lý
DTLSVH có thể hiểu là tổ chức, điều khiển hoạt động của cơ quan quản lý di
tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể.
Trong lĩnh vực DTLSVH, cơ quan quản lý di tích có trách nhiệm trơng coi,
giữ gìn, tổ chức các hoạt động bảo quản, tu bổ, tô tạo di tích; tổ chức bảo vệ
di tích với mục tiêu chống xuống cấp cho di tích, để di tích tồn tại lâu dài, tổ
chức lập hồ sơ, xếp hạng các giá trị và cơ sở pháp lý bảo vệ di tích…
23
Phát huy giá trị DTLSVH gồm các hoạt động: Tổ chức tham quan tại di
tích; quảng bá di tích trên các phương tiện truyền thông đại chúng; xuất bản
các ấn phẩm giới thiệu di tích; đưa di tích đến với ngành công nghiệp du lịch
Phát huy giá trị DSVH là một hoạt động nhằm khai thác những giá trị của di
sản để phục vụ và đáp ứng nhu cầu của xã hội, góp phần phát triển KT-XH
của đất nước, đồng thời góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân
đối với việc bảo vệ DSVH dân tộc. Phát huy làm cho cái hay, cái tốt nhân
thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn.
Phát huy cũng có thể hiểu là tập trung sự chú ý của cơng chúng một
cách tích cực tới các mặt giá trị của DSVH. Quản lý DSVH là một quá trình
theo dõi, định hướng, điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các DSVH
trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng;
đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư, chủ nhân của
các DSVH đó. Quản lý DSVH là một hoạt động nằm trong công tác quản lý
DSVH. Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý DSVH không
chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể mà quan trọng hơn là người làm
công tác quản lý phải quan tâm đến những giá trị văn hóa phi vật thể để có tác
động tích cực đến đời sống cộng đồng. Đặc biệt hơn là các DT DSVH luôn tổ
chức lễ hội tại không gian thiêng và không gian tự nhiên của di tích.
Từ những khái niệm quản lý, quản lý nhà nước về văn hóa, quản lý di
tích lịch sử văn hóa có thể hiểu là một hoạt động ln có hướng đích giữa chủ
thể quản lý và đối tượng quản lý theo đúng những đường hướng mà Đảng và
Nhà nước đề ra. Đó chính là q trình tác động giữa chủ thể quản lý tới đối
tượng quản lý. Để công tac quản lý có hiệu quả cần thơng qua những biện
pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hồn thiện hóa hoặc làm thay
đổi tình trạng hiện hữu. Trong trường hợp cụ thể với các đối tượng là
24
DTLSVH thì mục tiêu cần hướng tới là bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH
phục vụ cộng đồng trong nước và quốc tế.
1.1.2. Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa
1.1.2.1. Các văn bản của Đảng và Nhà nước là cơ sở pháp lý cho quản
lý di tích lịch sử văn hóa
Trong khi tiến hành nhiệm vụ quản lý di tích cần phải tuân thủ theo
đường lối của Đảng và Nhà nước đã đề ra, đó là các văn bản quản lý được ban
hành- cơ sở pháp lý cho công tác quản lý DTLSVH. Dưới đây, xin điểm qua
một số văn bản pháp lý về công tác QLDTLSVH, đặc biệt là các văn bản
ban hành trong thời gian gần đây.
+ Nghị định số 519-TTg ban hành ngày 29 tháng 10 năm 1957 của Thủ
tướng Chính phủ về việc “Quy định các luật lệ cơ bản cho hoạt động bảo tồn di
tích”: Đây là một văn bản pháp lý quan trọng có giá trị nền tảng cho hoạt động
bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn bảo tàng nói chung. Nghị định số 519-TTg
ngày 29 tháng 10 năm 1957 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký, quy định các
điều luật cơ bản cho hoạt động bảo tồn di tích thời gian này. Nghị định gồm 7
mục 12 điều trong đó mục II quy định về liệt hạng di tích; Mục III quy định về
sưu tầm và khai quật; Mục IV quy định về bảo quản; Mục V quy định về trùng
tu, sửa chữa; Mục VI quy định về xuất nhập khẩu những di vật có giá trị lịch sử.
+ Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN ban hành ngày 04 tháng 4 năm 1984 của
Hội đồng Nhà nước về việc “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hố và danh
lam thắng cảnh”, Pháp lệnh là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích sau
khi đất nước hồn tồn thống nhất và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Đây là bước tiến lớn của ngành bảo tồn bảo tàng, nhằm thống nhất quản lý
và chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích bằng các điều luật cụ thể. Nhờ có Pháp
lệnh và một cơ chế quản lý mới, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng
25
làm”, hàng ngàn di tích đã được cứu vãn bởi sự huỷ hoại và những vi phạm về
đất đai liên quan đến di tích cũng được góp phần ngăn chặn.
+ Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra
Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 1998 về việc “Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”: Nghị
quyết Trung ương Đảng lần thứ V, khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã khẳng định: DSVH là
tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở
để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Bảo tồn và phát huy các
DSVH được coi là 1 trong 10 nhiệm vụ cụ thể trong sự nghiệp xây dựng phát
triển văn hóa. Bản sắc dân tộc ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng được bồi đắp
thêm bởi nhiều nhân tố, những giá trị văn hóa bền vững, những tinh hoa kết
đọng qua từng thời kỳ lịch sử dân tộc, thể hiện ở các DSVH bao giờ cũng là
cái cốt lõi. Chính với ý nghĩa đó, Nghị quyết nhấn mạnh: “Phải hết sức coi
trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân
gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”.
+ Luật Di sản Văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành năm 2001 và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hoá năm 2009: Những
nội dung cơ bản của Luật đã bám sát và đáp ứng được những nhu cầu trong cơ
chế điều hành đất nước ta trong giai đoạn hiện nay là Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ; toàn dân sống, học tập và làm việc theo pháp luật.
Luật DSVH ra đời đã tạo ra những cơ sở pháp lý để triển khai một loạt các hoạt
động cần thiết trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; xác định rõ quyền
hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với DSVH, chỉ rõ
những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ
chế khen thưởng, tôn vinh những người có cơng, xử phạt các hành vi vi phạm
di tích; quy định trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương
điều tra và nghiên cứu của người khác, tơi đều trích dẫn rõ ràng. Tơi hồn tồn chịu tráchnhiệm trước nhà trường về sự cam kết này. Thành Phố Hà Nội, ngày … .. tháng … .. năm 2015T ác giả luận vănQuản Văn HảiMỤC LỤCLỜI CAM ĐOANMỤC LỤC …………………………………………………………………………………………. 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ………………………………………………………………… 5M Ở ĐẦU …………………………………………………………………………………………… 6C hương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HĨA VÀTỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THIỆUHÓA, TỈNH THANH HÓA …………………………………………………………………… 131.1. Cơ sở lý luận về quản trị Di tích lịch sử văn hóa truyền thống ………………………. 131.1.1. Nghiên cứu 1 số ít khái niệm …………………………………………….. 131.1.2. Cơ sở pháp lý cho công tác làm việc quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống ……… 241.1.3. Nội dung quản trị Nhà nước về di tích lịch sử văn hóa truyền thống ……………. 291.2. Tổng quan về mạng lưới hệ thống DTLSVH của huyện Thiệu Hóa …………… 311.2.1. Khái quát chung về huyện Thiệu Hóa ………………………………….. 311.2.2. Hệ thống Di tích lịch sử văn hóa truyền thống ở huyện Thiệu Hóa ……………… 39T iểu kết Chương 1 ………………………………………………………………………. 51C hương 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HĨAỞ HUYỆN THIỆU HĨA ……………………………………………………………………… 522.1. Cơ cấu tổ chức triển khai cỗ máy quản trị di tích ……………………………………. 522.1.1. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa ………………….. 522.1.2. Phịng Văn hóa – Thơng tin huyện Thiệu Hóa ………………………. 542.1.3. Ban quản trị di tích tại những xã / thị xã ở huyện Thiệu Hóa ………. 552.2. Thực trạng cơng tác quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống trên địa bànhuyện Thiệu Hóa ……………………………………………………………………….. 582.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tíchlịch sử – văn hóa truyền thống trên địa phận huyện Thiệu Hóa ……………………………… 582.2.2. Tổ chức tuyên truyền, phổ cập trong nhân dân về pháp lý bảo vệdi tích lịch sử văn hóa truyền thống ………………………………………………………………… 612.2.3. Tổ chức triển khai những hoạt động giải trí nhiệm vụ nhằm mục đích giữ gìn và pháthuy giá trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống …………………………………………………. 642.2.4. Cơng tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết và xử lý vi phạm về di tích lịch sửvăn hóa ……………………………………………………………………………… 752.2.5. Tổ chức huấn luyện và đào tạo đội ngũ chun mơn về quản trị di tích lịch sửvăn hóa ……………………………………………………………………………… 762.3. Đánh giá cơng tác quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống ở huyện ThiệuHóa trong thời hạn qua ………………………………………………………………. 782.3.1. Những ưu điểm ………………………………………………………………… 782.3.2. Những hạn chế và nguyên do ………………………………………….. 80T iểu kết Chương 2 ………………………………………………………………………. 83C hương 3 : PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁCQUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HĨA Ở HUYỆN THIỆU HÓA ……………….. 853.1. Phương hướng ……………………………………………………………………… 853.1.1. Tăng cường sự quản trị, góp vốn đầu tư của Nhà nước và sự phối hợp giữacác cấp, những ngành trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống 853.1.2. Đẩy mạnh việc góp vốn đầu tư kinh phí đầu tư, hoạt động những tổ chức triển khai xã hội vàđông hòn đảo nhân dân tham gia vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy những giá trịdi sản văn hóa truyền thống nhằm mục đích triển khai có hiệu suất cao q trình xã hội hóa những hoạtđộng văn hóa truyền thống ……………………………………………………………………………. 873.1.3. Đẩy mạnh việc giao lưu, hợp tác điều tra và nghiên cứu liên ngành giữa cáccơ quan khoa học ở TW và huyện Thiệu Hóa về việc bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống …………………………………………………….. 893.1.4. Quản lý di tích lịch sử văn hóa truyền thống gắn với quy hoạch tăng trưởng kinhtế, xã hội trên địa phận huyện Thiệu Hóa ……………………………………….. 903.2. Giải pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao quản trị di tích trên địa bànhuyện Thiệu Hóa ………………………………………………………………………… 913.2.1. Nhóm giải pháp về chủ trương ……………………………………………. 913.2.2. Nhóm giải pháp tăng cường tổ chức triển khai và tiến hành triển khai côngtác quản trị và bảo tồn, phát huy những giá trị di sản văn hóa truyền thống ……………….. 993.2.3. Nhóm giải pháp tăng cường công tác làm việc quản trị nhà nước đối vớihoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống ……………………… 1033.3. Một số khuyến nghị …………………………………………………………….. 1063.3.1. Khuyến nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa …. 1063.3.2. Khuyến nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ……………………. 107T iểu kết Chương 3 …………………………………………………………………….. 109K ẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 110T ÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………… 112PH Ụ LỤC ………………………………………………………………………………………. 114DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮTChữ viết tắtChữ viết đầy đủVHTTDLVăn hóa, Thể thao và Du lịchCNH-HĐHCơng nghiệp hóa, tân tiến hóaDSVHDi sản văn hóaDTLSVHDi tích lịch sử văn hóaQLDTQuản lý di tíchTrTrangUBNDỦy ban nhân dânVH – TTVăn hóa – Thơng tinXHCNXã hội chủ nghĩaTN và MTTài nguyên và Môi trườngUBMTTQỦy ban Mặt trận tổ quốcXHHXã hội hóaQLDTLSVHQuản lý Di tích lịch sử văn hóaMỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiDi tích lịch sử văn hóa truyền thống là gia tài vơ giá của quốc gia, là một bộ phậnquan trọng của nền văn hóa truyền thống dân tộc bản địa. Ngày nay, vai trị của di tích lịch sử càngtrở nên quan trọng hơn trước những đổi khác nhanh gọn mang tính thời đạiở về mọi mặt. Kinh nghiệm kiến thiết xây dựng và tăng trưởng văn hóa truyền thống xã hội ở nhiềuquốc gia trên quốc tế đã cho thấy, một dân tộc bản địa nào giữ được những giá trị ditích lịch sử văn hóa truyền thống thì dân tộc bản địa đó sẽ giữ được truyền thống văn hóa truyền thống của mình, sẽkhẳng định được “ tên thương hiệu ” của vương quốc trên trường quốc tế. Trong nhiềunăm trở lại đây, Nhà nước ta đã có chủ trương góp vốn đầu tư kinh phí đầu tư cho việc quảnlý, bảo tồn và khai thác những di tích lịch sử văn hóa truyền thống. Lĩnh vực văn hóa truyền thống ln được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta coi trọng. Văn hóa khơng chỉ là nền tảng, tiềm năng và động lực tăng trưởng kinh tế tài chính – xãhội, thời nay, văn hóa truyền thống được đặt ngang tầm với kinh tế tài chính, chính trị. Trongnhững năm qua, nền văn hóa truyền thống Nước Ta đã đạt được những thành tựu to lớntrong lịch sử dân tộc bản địa. Tuy nhiên, cùng với thời hạn, do thực trạng và hạn chếnhất định, những di sản văn hóa truyền thống được những thế hệ cha ơng để lại đang có nguycơ mai một. Giá trị của di sản văn hóa truyền thống nói chung và của di tích lịch sử vănhóa nói riêng là vơ cùng to lớn, tuy nhiên điều quan trọng hơn là việc quản trị, bảotồn và phát huy những giá trị của nó như thế nào đang là yếu tố cần đượcquan tâm đúng mức của những cấp, những ngành, nhất là những người làm công tácquản lý văn hóa truyền thống lúc bấy giờ. Nhiều năm qua, tất cả chúng ta đã đạt được nhiều thànhtựu trong công tác làm việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống dân tộc bản địa ở những quymơ khác nhau. Hàng loạt di tích lịch sử văn hóa truyền thống đã được xếp hạng, trùng tu, tơntạo ; rất nhiều cổ vật, di vật trong đó được bảo vệ ; tiệc tùng truyền thống lịch sử, diễnxướng, game show dân gian, thuần phong, mỹ tục được lưu giữ và tăng trưởng. Tuynhiên, công tác làm việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa truyền thống dân tộc bản địa cũng còn sống sót mộtsố hiện tượng kỳ lạ đáng chăm sóc, gây bức xúc trong xã hội. Đó là thực trạng xâmhại, phá hoại di tích ; lấy cắp cổ vật và đồ thờ tự trong đình, đền, chùa ; hiệntượng mê tín dị đoan dị đoan ngày càng tăng ; liên hoan truyền thống cuội nguồn cịn nhiều lộn xộn … Tìnhtrạng này khiến cho mơi trường văn hóa truyền thống, xã hội nói chung, mơi trường bảotồn di sản văn hóa truyền thống nói riêng kém lành mạnh, chưa thực sự vững chắc. Mặc dùtoàn xã hội và ngành VHTTDL đã có nhiều giải pháp ngăn ngừa, can thiệpsong đây vẫn là những thử thách cho toàn xã hội trong việc bảo tồn, phát huygiá trị di sản văn hóa truyền thống, kiến thiết xây dựng nền văn hóa truyền thống tiên tiến và phát triển, đậm đà truyền thống dân tộcvà tăng trưởng tương thích với xu thế Open, hội nhập. Huyện Thiệu Hóa là vùng đất cổ, một địa điểm nổi tiếng của ThanhHóa nói riêng và Nước Ta nói chung. Thiệu Hóa, có sơng Chu – núi Đọ, nơicách đây khoảng chừng 30 – 40 vạn năm đã có con người cư trú, đồng thời đây cũnglà địa phận sinh sống truyền kiếp của dân cư Việt cổ thuộc nền văn hóa truyền thống Đơng Sơn. Trong suốt quy trình hình thành và tăng trưởng cùng với lịch sử vương quốc dântộc, bằng đấu tranh, lao động và phát minh sáng tạo, con người nơi đây đã phải đổ mồhôi sức lực lao động kể cả xương máu và nước mắt để tạo dựng nên mảnh đất khơngít kì tích này. Vì vậy, khi nhắc đến địa điểm Thiệu Hóa ta khơng chỉ biết đếnvùng đất cổ có lịch sử tăng trưởng truyền kiếp, có bề dày truyền thống cuội nguồn lịch sử vănhóa, mà cịn là vùng đất “ địa linh nhân kiệt ”. Nơi đây đã sản sinh ra nhữnganh hùng, danh nhân văn hóa của dân tộc bản địa, tiêu biểu vượt trội như : Dương Đình Nghệ, Đinh Lễ, Nguyễn Qn Nho, Lê Văn Hưu. Tính đến hết tháng 5/2014, huyện Thiệu Hóa có 40 di tích được xếphạng, trong đó có 06 di tích đã được xếp hạng cấp vương quốc và 34 di tích xếphạng cấp Tỉnh. Từ xây dựng huyện đến nay, dưới sự chỉ huy của huyện ủy, HĐND, Ủy Ban Nhân Dân huyện Thiệu Hóa, sự vào cuộc của những ngành trình độ, công tác làm việc quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống tại huyện Thiệu Hóa đã đạt đượcnhiều hiệu quả đáng khuyến khích, nhiều di tích đã trở thành điểm sáng trong cơngtác quản trị, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử ( tiêu biểu vượt trội như Di tích lịch sử cơsở cách mạng của Xứ ủy Bắc kỳ, Trung kỳ và Đảng bộ Thanh Hóa thời kỳ1930 – 1945 ( nhà ơng Tơ Đình Bảng, nhà ơng Tơ Cơng Thanh, nhà ơng LêHuy Tốn, di tích lịch sử mộ và đền thờ Nguyễn Quán Nho ). Tuy nhiên, bêncạnh những tác dụng đạt được, cơng tác quản trị vẫn cịn nhiều hạn chế, bấtcập : Cơng tác tun truyền Luật Di sản văn hóa truyền thống chưa được chăm sóc đúngmức, dẫn đến nhận thức của người dân còn hạn chế trong việc bảo vệ di sản ; nguồn kinh phí đầu tư của nhà nước chi cho cơng tác góp vốn đầu tư, trùng tu còn hạn hẹp ; cònhiện tượng tự ý trùng tu, thay thế sửa chữa làm biến dạng di tích ; việc xây dựng và hoạtđộng Ban quản trị di tích 1 số ít nơi cịn hình thức, chưa thực sự chăm sóc ; 1 số ít di tích cịn hiện tượng kỳ lạ bị lấn chiếm đất, hiện tượng kỳ lạ kiến thiết xây dựng khôngxin phép cơ quan chức năng cịn diễn ra, những di tích chưa xếp hạng bị phábỏ nhiều yếu tố nguyên gốc làm tác động ảnh hưởng đến giá trị của di tích, việc đưa cáchiện vật vào di tích chưa cịn tương thích với qui định và với giá trị của Di tích. Là một cán bộ đang làm cơng tác quản trị trong ngành Văn hố, Thểthao và Du lịch, là người con sinh ra trên mảnh đất Thiệu Hóa, với tráchnhiệm, sự mê hồn nghề nghiệp cùng với sự hiểu biết, xác lập rõ vai trị, tầmquan trọng của cơng tác quản trị văn hóa truyền thống nói chung, cơng tác quản trị di sảnvăn hố nói riêng trong quy trình tiến độ mới lúc bấy giờ, tôi đã chọn đề tài : “ Quản lýdi tích lịch sử văn hố ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa ” làm Luận văn tốtnghiệp Cao học chun ngành Quản lý văn hố. 2. Tình hình nghiên cứu và điều tra đề tàiNhững tập hợp tài liệu trong bước đầu cho thấy lúc bấy giờ chưa có cơng trìnhkhoa học nào nghiên cứu và điều tra về tình hình công tác làm việc quản trị DTLSVH trên địabàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trong một số ít cơng trình đã xuất bản, có một số ít cơng trình có tình kháiqt như : “ Địa chí huyện Thiệu Hóa ” của 2 tác giả Phạm Tấn, Phạm Văn Tuấn, xuất bản năm 2010 đã trình làng tổng quan về địa lí tự nhiên, địa lí hànhchính, lịch sử, kinh tế tài chính, văn hoá xã hội và nhân vật chí của huyện Thiệu Hóatỉnh Thanh Hố. “ Thanh Hố di tích và danh thắng ’ ’ ( Tập 3 ), Nxb Thanh Hố, năm2004, đã đề cập đến qui mô, kiến trúc của những di tích lịch sử trên địa bànhuyện Thiệu Hóa. Theo số liệu sách đưa ra, huyện Thiệu Hóa có 05 Di tíchxếp hạng cấp Quốc gia và 31 Di tích xếp hạng cấp tỉnh. Sách “ Tể tướng Vãn Hà ’ ’, Nxb Thanh Hoá, năm 1995, tác giả Lê BáChức đã điều tra và nghiên cứu một cách khá vừa đủ về cuộc sống, sự nghiệp của nhân vậtlịch sử của Thiệu Hóa, cũng như những nét khái quát khởi đầu về đền thờ vàlăng mộ của những nhân vật lịch sử. “ Khảo sát văn hoá truyền thống lịch sử Thiệu Hoá ’ ’ Nxb Văn hoá dân tộc bản địa, năm 2003, tác giả Tạ Quang đã có cái nhìn khái qt về văn hoá truyền thốngcủa huyện Thiệu Hoá trên nhiều nghành nghề dịch vụ. Sách hầu hết đi vào sưu tầm những giátrị văn hố dân gian ( truyện kể, phương ngơn, tục ngữ, ca dao, trị diễn … ). “ Thiệu Hóa q ta ” của những tác giả Hoàng Văn Toàn, Phạm Như Hân, Lê Văn Tiến, xuất bản năm 2010 gồm có những bài viết, bài thơ, ảnh viết vềquê hương Thiệu Hoá trên con đường thay đổi, tấm lòng của những người conxa quê nhà mong ước được góp phần nhiều hơn nữa cho q hương. Ngồi ra cịn có 1 số ít Luận văn cao học và Khoá luận ĐH ngànhBảo tàng của Trường Đại học Văn hoá TP. Hà Nội như : Luận văn Thạc sĩ Quản lýdi tích lịch sử văn hóa truyền thống ở huyện Phú Xun – TP. TP. Hà Nội tác giả Vũ Ngọc Hải, Luận văn Thạc sĩ của Thạc sỹ Kiều Tuấn Đạt viết về “ Giá trị văn hóa truyền thống nghệthuật đình Hạ Giẽ ”, Khóa luận Đại học của sinh viên Bạch Thị Dung với đề tài “ Tìm hiểu giá trị di tích đình là Tri Chỉ ”, những cơng trình này hầu hết viết về giátrị một di tích hoặc một cụm di tích đơn cử ở những địa phương khác chứ chưa10viết về quản trị di tích ở huyện Thiệu Hóa ; trong những đề tài vừa nêu trên, có mộtphần viết về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống, đó cũng chính lànhững nội dung có tương quan đến cơng tác quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống. Các tài liệu tương quan đến đề tài : Hồ sơ di tích được xếp hạng trên địabàn huyện Thiệu Hóa từ năm 2008 – năm trước ; Báo cáo tác dụng Danh sách những ditích lịch sử văn hóa truyền thống trên địa phận huyện Thiệu Hóa của Phịng Văn hóa vàThơng tin huyện Thiệu Hóa ; Đề án về dữ gìn và bảo vệ, trùng tu di tích trên địa bànhuyện Thiệu Hóa của Phịng Văn hóa và Thơng tin huyện Thiệu Hóa được Ủyban nhân dân huyện phê duyệt. Tổng hợp tình hình điều tra và nghiên cứu của những tác giả đi trước cho thấy có cáccơng trình đã viết về giá trị của di tích, của 1 số ít di tích, thậm chí còn giới thiệucó mạng lưới hệ thống, tương đối rất đầy đủ về diện mạo những di tích trên địa phận huyệnThiệu Hóa hoặc một số ít địa phương khác. Tuy vậy, cho tới nay vẫn chưa cócơng trình điều tra và nghiên cứu đề cập tồn diện về cơng tác quản trị di tích lịch sử vănhố trên địa phận huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trong q trình tiến hành đề tài “ Quản lý Di tích lịch sử văn hố ởhuyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa ”, tác giả luận văn đã thừa kế những kếtquả của những tác giả đi trước, trên cơ sở đó việc thực thi tiềm năng và nhiệmvụ của đề tài có nhiều thuận tiện. 3. Mục đích và trách nhiệm nghiên cứu3. 1. Mục đíchTrên cơ sở nhận thức thâm thúy vai trị của cơng tác quản trị di tích lịch sửvăn hóa trong tiến trình lúc bấy giờ, luận văn đi sâu khảo sát nghiên cứu và phân tích, đánh giánhững hiệu quả đạt được cùng những hạn chế trong cơng tác quản trị những di tíchlịch sử văn hóa truyền thống trên địa phận huyện Thiệu Hóa, từ đó đề xuất kiến nghị 1 số ít giải pháp, góp thêm phần nâng cao hiệu suất cao cơng tác quản trị di tích lịch sử – văn hóa truyền thống củahuyện Thiệu Hóa trong thời hạn tới. 113.2. Nhiệm vụ – Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản trị di tích, mạng lưới hệ thống di tích lịch sửvăn hóa ở huyện Thiệu Hóa ; – Trình bày những yếu tố cơ bản về cơ sở khoa học và pháp lý trongcơng tác quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống ; – Khảo sát, nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận tình hình cơng tác quản trị di tích lịchsử văn hóa truyền thống ở huyện Thiệu Hóa trong vịng 10 năm trở lại đây. – Đề xuất giải pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao công tác làm việc quản trị di tíchlịch sử văn hóa truyền thống trên địa phận huyện Thiệu Hóa trong thời hạn tới. 4. Đối tượng, khoanh vùng phạm vi nghiên cứu4. 1. Đối tượngLuận văn tập trung điều tra và nghiên cứu về cơng tác quản trị mạng lưới hệ thống di tíchlịch sử văn hóa truyền thống trên địa phận huyện Thiệu Hóa. 4.2. Phạm vi nghiên cứuNghiên cứu tình hình, chính sách quản trị, tổ chức triển khai cỗ máy, những quan điểm, xu thế và giải pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao của công tác làm việc quản trị, đồngthời vừa bảo tồn, tôn tạo, vừa khai thác phát huy có hiệu suất cao những giá trị củacác di tích lịch sử văn hóa truyền thống trên địa phận huyện Thiệu Hóa. Phạm vi thời hạn : từ năm 2005 đến nay. 5. Phương pháp điều tra và nghiên cứu – Phương pháp nghiên cứu và điều tra liên ngành : Quản lý văn hóa truyền thống, Lịch sử, Bảotồn di tích, xã hội học … – Phương pháp tổng hợp tài liệu nghiên cứu và phân tích, thống kê, phân loại. – Phương pháp tìm hiểu, khảo sát điền dã về tình hình mạng lưới hệ thống di tíchvà thực trạng quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống. – Thực hiện phỏng vấn sâu, những nhà quản trị và đại diện thay mặt hội đồng đểđánh giá khách quan về hiệu suất cao quản trị di tích. 126. Đóng góp của luận văn – Luận văn là cơng trình tiên phong nhìn nhận tình hình của mạng lưới hệ thống ditích lịch sử văn hóa truyền thống trên địa phận huyện Thiệu Hóa. Chỉ ra được những mặt ưuđiểm, hạn chế, những nguyên do yếu kém về công tác làm việc quản trị để từ đó cóđịnh hướng phát huy giá trị của mạng lưới hệ thống di tích trong cơng tác bảo tồn giá trịdi sản văn hóa truyền thống gắn với tăng trưởng kinh tế tài chính, xã hội ở địa phương. – Đề xuất những giải pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu suất cao của côngtác quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống trên địa phận huyện Thiệu Hóa. – Kết quả nghiên cứu và điều tra về tình hình cũng như những nhóm giải pháp màluận văn đưa ra là một trong những cơ sở khoa học giúp những cấp chỉ huy củaUBND huyện, Phịng Văn hóa và Thơng tin huyện có giải pháp tương thích trongviệc thay đổi, nâng cao cơng tác quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống tại huyệnThiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. – Luận văn hoàn toàn có thể dùng làm tài liệu tìm hiểu thêm về cơng tác quản trị ditích lịch sử văn hóa truyền thống cho những huyện và những fan hâm mộ muốn tìm hiểu và khám phá về cơng tácquản lý di tích lịch sử văn hóa truyền thống trên địa phận huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 7. Bố cục của luận vănNgoài phần mở màn, Kết luận, tài liệu tìm hiểu thêm và phụ lục, nội dungluận văn gồm 3 chương : Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống và tổngquan mạng lưới hệ thống di tích lịch sử văn hóa truyền thống ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh HóaChương 2 : Thực trạng cơng tác quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống ởhuyện Thiệu HóaChương 3 : Phương hướng, giải pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao côngtác quản trị di tích lịch sử văn hóa truyền thống ở huyện Thiệu Hóa. 13C hương 1C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀTỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HĨA ỞHUYỆN THIỆU HĨA, TỈNH THANH HĨA1. 1. Cơ sở lý luận về quản trị Di tích lịch sử văn hóa1. 1.1. Nghiên cứu 1 số ít khái niệmCơ sở khoa học và pháp lý là những tiền đề quan trọng trong cơngtác quản trị di sản văn hóa truyền thống ( DSVH ) vương quốc nói chung và cơng tác quản lýdi tích lịch sử văn hóa truyền thống ( DTLSVH ) ở huyện Thiệu Hóa nói riêng, nhằm mục đích từngbước xử lý những yếu tố phát sinh trong quy trình thực thi quản lýnhà nước về nghành nghề dịch vụ DSVH.Tiếp cận nghiên cứu và điều tra tình hình công tác làm việc quản trị DTLSVH ở huyệnThiệu Hóa và những giá trị văn hóa truyền thống nằm trong tổng thể và toàn diện đó nhận thấy cầnlàm rõ những yếu tố lý luận chung về DTLSVH để từ đó đưa ra giải phápcho cơng tác quản trị DTLSVH đạt hiệu suất cao ; đồng thời phát huy tốt những giátrị văn hóa truyền thống đó tới hội đồng xã hội. 1.1.1. 1. Khái niệm di sản văn hóaTừ điển tiếng Việt định nghĩa : “ Di sản là cái của thời trước để lại ” [ 36, tr. 254 ]. Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những gia tài văn hóa truyền thống có giátrị của quá khứ còn sống sót trong đời sống đương đại và tương lai. Di là đểlại, còn lại, di dời, chuyển lại. Sản là gia tài, là những gì q giá, có giátrị. DSVH được hiểu bằng sự tổng hợp của những ý nghĩa nói trên. Khái niệm DSVH trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có mộtq trình hình thành khá vĩnh viễn. Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữnày lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp1789. Quá trình tịch thu được gia tài của những tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ14giáo hội để tập trung chuyên sâu tổng thể lại thành gia tài vương quốc sau cách mạng tư sảnPháp đã từ từ hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát và pháhoại loại gia tài này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã thực thi kiểm kê, mô tảsắp xếp, phân loại những cơng trình lịch sử để xác lập thứ tự ưu tiên nhằm mục đích khôiphục và bảo tồn di sản vương quốc. Di sản lúc đó được hiểu như ý niệm về mộttài sản chung, gia tài của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đólà ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản vương quốc. Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn nước của Vương quốc Anh đã địnhnghĩa : “ Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao chothế hệ lúc bấy giờ và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiệnnay mong ước chuyển giao cho thế hệ tương lai ” [ 26, tr. 20 ]. Như vậy, DSVH được hiểu như thể gia tài, là bảo vật của thế hệ trước đểlại cho thế hệ sau. DSVH là những gia tài văn hóa truyền thống như những tác phẩm nghệ thuậtdân gian, những cơng trình kiến trúc, những tác phẩm điêu khắc, những tác phẩm vănhọc … mà những thế hệ trước để lại cho hậu thế tương lai. Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục đào tạo, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợpquốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003 đã đàm đạo và ra Công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể. Cơng ước đã ghinhận : Các q trình tồn cầu hóa và quy đổi cơ cấu tổ chức xã hội cùng với cácđiều kiện khác đã tạo nhiều thời cơ đối thoại mới giữa những hội đồng, đồngthời cũng làm phát sinh những mối rình rập đe dọa về sự suy thoái biến mất và hủyhoại những DSVH phi vật thể. Luật Di sản văn hố của nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xácđịnh : “ DSVH gồm có DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là mẫu sản phẩm tinhthần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống, khoa học, được lưu truyền từ thế hệnày qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ” [ 34, tr. 17 ]. 15K hái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, hoạt động biến hóa theo thờigian. Ngày nay khái niệm di sản khơng hồn tồn như nhau với khái niệm tàisản từ quá khứ nữa. Bởi lẽ không phải bất kể cái gì của quá khứ cũng được coilà di sản. Di sản là mẫu sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ đã được lựachọn theo nhu yếu của xã hội văn minh. Di sản là sự lựa chọn từ quá khứ lịch sửnhững ký ức, bảo vật của hội đồng, bộc lộ nhu yếu, nguyện vọng, mongmuốn của xã hội văn minh. Do đó, sự sinh ra của Luật DSVH năm 2001 cùng vớicác văn bản hướng dẫn đi kèm đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, nhằmtăng cường nhận thức và hành vi cho toàn xã hội, tăng cường sự hiểu biết vềdi sản và quy trình bảo vệ, phát huy kho tàng DSVH của dân tộc bản địa. Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc phê chuẩnCông ước về bảo vệ DSVH phi vật thể năm 2003 của UNESCO và là thànhviên của Ủy ban Liên Chính phủ tham gia thiết kế xây dựng phương hướng hoạt độngvà những chủ trương quốc tế có tương quan đến Cơng ước này. DSVH là yếu tố cốtlõi của văn hóa truyền thống, chuyển tải truyền thống văn hóa truyền thống của một hội đồng xã hội. DSVHViệt Nam là gia tài văn hóa truyền thống quý giá của hội đồng những dân tộc bản địa Nước Ta vàlà một bộ phận của DSVH trái đất, có vai trị to lớn trong sự nghiệp dựngnước và giữ nước của nhân dân ta. Như vậy, bảo tồn và phát huy những giá trịDSVH là hoạt động giải trí thiết thực nhằm mục đích hướng tới thiết kế xây dựng nền văn hóa truyền thống ViệtNam tiến tiến đậm đà truyền thống dân tộc bản địa và góp phần vào việc giữ gìn và làm phongphú cho kho tàng DSVH trái đất. Trong thời kỳ tăng cường CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước đã ban hànhnhiều chủ trương đường lối và chủ trương bảo vệ và phát huy giá trị DSVHnhằm nâng cao đời sống ý thức của nhân dân, góp thêm phần tăng trưởng kinh tế tài chính xãhội của quốc gia. DSVH Nước Ta khi được bảo tồn, thừa kế và phát huy sẽ cótác dụng tích cực trong kiến thiết xây dựng và tăng trưởng văn hóa truyền thống Nước Ta đương đại, kếthợp với quy trình tăng nhanh CNH, HĐH, tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội của quốc gia. 161.1.1.2. Khái niệm di tích lịch sử văn hóa truyền thống * Khái niệm DTLSVH : Là vật chứng không hề phủ nhận về một qkhứ ln xuất hiện mà hội đồng, dân tộc bản địa đã công nhận và thừa nhận như nhữnggiá trị tiêu biểu vượt trội cho truyền thống văn hóa truyền thống của mình. Khái niệm này được những nhà khoahọc rất chăm sóc trong thời kỳ chưa có khái niệm trong Hiến chương quốc tếVenice ( 1964 ). Xác định DTLSVH là một mô hình di sản văn hóa truyền thống vật thể, lntồn tại khách quan, được xem là những giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu vượt trội cho cộngđồng dân tộc bản địa. Di tích là “ dấu tích ” “ dấu vết ” cịn sót lại khơng ngun vẹn của mộtcơng trình nghệ thuật và thẩm mỹ LSVH nào đó đã được thiết kế xây dựng trong quá khứ ( từ thếkỷ XX trở lại trước, lùi sâu cho đến thời tiền, sơ sử, có quy mơ to nhỏ khácnhau, có công dụng, tính năng khác nhau ). Từ khái niệm nêu ra trên đây có thểnhận thấy được về giá trị văn hóa truyền thống vật thể cả một cơng trình kiến trúc. Tuynhiên, trải qua thời hạn đã có những biến hóa trong một chừng mực nhấtđịnh. Khái niệm đã qui định về khung thời hạn cho việc xác lập sự hiệndiện của di tích. Tuy nhiên về quy mơ hoàn toàn có thể to nhỏ khác nhau, công dụng, tácdụng khác nhau. Có những kiến trúc ship hàng cho tơn giáo, có những tịathành Giao hàng cho mục tiêu qn sự, có những kiến trúc trở thành một bộphận của kiến trúc đô thị. * Khái niệm trong Hiến chương quốc tế : Trong Hiến chương Venice – Italia năm 1964 ý niệm rằng, DTLSVH không phải là cơng trình kiến trúcđơn chiếc mà cả khung cảnh cơng trình ở đơ thị hay ở nơng thơn, là bằngchứng của một nền văn minh riêng không liên quan gì đến nhau, một tăng trưởng có ý nghĩa hoặc một sựkiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ vận dụng so với khu công trình nghệ thuậtto lớn mà cả với những cơng trình nhã nhặn hơn vốn đã cùng thời hạn thâunạp được một ý nghĩa văn hóa truyền thống. Khái niệm trong hiến chương cũng đặc biệtquan tâm đến những khung cảnh đô thị trong đó có những đơ thị cổ ở nước ta như17phố cổ Hội An, Phố Hiến, … Khung cảnh nông thôn là những khu vực có làngcổ, bản cổ như ở nước ta có làng cổ Đường Lâm ở TP. Hà Nội, làng cổ PhướcTích ở Huế, … * Khái niệm trong Luật Di sản văn hóa truyền thống : Theo Luật Di sản văn hóa truyền thống năm2001 pháp luật tại Chương 3, Điều 4 cho biết : DTLSVH là cơng trình xâydựng, khu vực và những di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc cơng trình, địađiểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống, khoa học ; Cổ vật là hiện vật được lưutruyền lại, có giá trị tiêu biểu vượt trội về lịch sử, văn hóa truyền thống, khoa học và có từ 100 nămtuổi trở lên ; Bảo vật vương quốc là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặcbiệt hiếm về những mặt lịch sử, văn hóa truyền thống, khoa học. * Tiêu chí để trở thành di tích lịch sử văn hóaĐiều 28 Luật Di sản văn hóa truyền thống lao lý : 1. Di tích lịch sử văn hóa truyền thống phải có một trong những tiêu chuẩn sau đây : a ) Cơng trình kiến thiết xây dựng, khu vực gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu vượt trội trongq trình dựng nước và giữ nước ; b ) Cơng trình kiến thiết xây dựng, khu vực gắn với thân thế, sự nghiệp của anhhùng dân tộc bản địa, danh nhân của quốc gia ; c ) Cơng trình thiết kế xây dựng, khu vực gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu vượt trội củacác thời kỳ cách mạng, kháng chiến ; d ) Địa điểm có giá trị tiêu biểu vượt trội về khảo cổ ; đ ) Quần thể những cơng trình kiến trúc hoặc cơng trình kiến trúc đơn lẻ cógiá trị tiêu biểu vượt trội về kiến trúc, nghệ thuật và thẩm mỹ của một hoặc nhiều tiến trình lịch sử. 2. Danh lam thắng cảnh phải có một trong những tiêu chuẩn sau đây : a ) Cảnh quan vạn vật thiên nhiên hoặc khu vực có sự tích hợp giữa cảnh quanthiên nhiên với cơng trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ tiêu biểu vượt trội ; 18 b ) Khu vực vạn vật thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc trưng hoặc khu vực vạn vật thiên nhiên chứa đựngnhững dấu tích vật chất về những quy trình tiến độ tăng trưởng của toàn cầu. * Các mô hình di tíchCăn cứ Điều 11 Nghị định số 98/2010 / NĐ-CP ngày 21/9/2010 củaChính phủ pháp luật cụ thể thi hành 1 số ít điều của Luật Di sản văn hóa truyền thống vàLuật sửa đổi, bổ trợ 1 số ít điều của Luật Di sản văn hóa truyền thống, di tích được phânra thành 04 mô hình, gồm có : Một là, di tích khảo cổ học gồm những khu vực khảo cổ có giá trịnổi bật, lưu lại những tiến trình tăng trưởng của văn hóa truyền thống khảo cổ. Loạihình di tích khảo cổ hoàn toàn có thể phân loại thành những loại di tích sau đây : 1 / Loại di chỉ cư trú ; 2 / Loại di chỉ mộ táng ; 3 / Loại di chỉ cư trí – mộ táng. Ngồi ra, cịn hoàn toàn có thể phân loại theo thời đại khảo cổ : 1 / Loại di tích / di chỉ thời đại đồ Đá ; 2 / Loại di tích / di chỉ thời đại đồĐồng ; 3 / Loại di tích / di chỉ thời đại đồ Sắt [ 20, tr. 15 ]. Hai là, mô hình di tích lịch sử gồm có những cơng trình xâydựng. khu vực ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc bản địa, của địa phương hoặc gắn với anh hùng dân tộc bản địa, danh nhân, nhà hoạtđộng chính trị, văn hóa truyền thống, nghệ thuật và thẩm mỹ, khoa học nổi tiếng có ảnhhưởng quan trọng so với tiến trình lịch sử của dân tộc bản địa [ 20 ]. Loạihình di tích lịch sử có 3 loại di tích : 1 / Loại di tích gắn với sự kiệnlịch sử tiêu biểu vượt trội trong q trình dựng nước, giữ nước ; 2 / Loại ditích gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc bản địa, danh nhânđất nước ; 3 / Loại di tích gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu vượt trội của cácthời kỳ cách mạng [ 20, tr. 15 ]. Ba là, mô hình di tích kiến trúc thẩm mỹ và nghệ thuật gồm có : cơng trìnhkiến trúc, thẩm mỹ và nghệ thuật quần thể kiến trúc, toàn diện và tổng thể kiến trúc đô thị và19địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu vượt trội trong những quy trình tiến độ phát triểnkiến trúc, nghệ thuật và thẩm mỹ Nước Ta. Loại hình di tích kiến trúc nghệthuật hoàn toàn có thể chia ra những loại khác nhau, đơn cử được chia làm 06 loại : 1 / Các đơ thị đã hình thành trong lịch sử và những thành phần củachúng. Các phế tích của những đô thị cổm những phối hợp và tổng thể và toàn diện đôthị lớn bộc lộ bộ mặt đô thị và những khu dân cư. 2 / Di tích kiến trúccư trú, gồm những ngôi nhà ở thành thị và nông thôn, những cung thất, dinh thự. 3 / Di tích kiến trúc gia dụng như những cơng sở, những cơngtrình văn hóa truyền thống, những cơng trình ship hàng đời sống. 4 / Di tích kiến trúctơn giáo ( đình, chùa, đền, miếu, nhà thời thánh, … ), lăng tẩm cũng có thểđưa vào mô hình này. 5 / Di tích kiến trúc quân sự chiến lược như : thành, lũy, hào … 6 / Di tích kiến trúc cảnh sắc – phần những cảnh quanthiên nhiên cónhững cơng trình kiến trúc được lồng ghép vào cáccơng viên, vườn hoa, khu sinh thái xanh [ 20, tr. 16 ]. Bốn là, mô hình di tích danh lam, thắng cảnh. Cảnh quan thiênnhiên đẹp hoặc khu vực có sự phối hợp giữa cảnh sắc thiên nhiênvới cơng trình kiến trúc, thẩm mỹ và nghệ thuật hoặc khu vực vạn vật thiên nhiên có giátrị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinhthái đặc trưng [ 20 ]. Loại di tích này hoàn toàn có thể phân loại thành 2 loại : 1 / Khu vực vạn vật thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc trưng hoặc khu vực thiên nhiênchứa đựng những dấu tích vật chất về những tiến trình tăng trưởng củaViệt Nam và quốc tế. 2 / Cảnh quan vạn vật thiên nhiên hoặc khu vực có sựkết hợp giữa cảnh sắc vạn vật thiên nhiên với cơng trình kiến trúc có giátrị nghệ thuật và thẩm mỹ tiêu biểu vượt trội [ 20, tr. 16 ]. Mặc dù trong những văn bản phân loại DTLSVH làm 04 mô hình, trongtừng mô hình lại phân loại thành những loại di tích thuộc mô hình đơn cử, nhưng20trên trong thực tiễn khi địa thế căn cứ vào những giá trị tiêu biểu vượt trội tiềm ẩn ở từng trường hợp cụthể thì q trình phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối. Trong khi tiếp cậnphân loại, điều cơ bản tất cả chúng ta cần xác lập được giá trị tiêu biểu vượt trội của di tíchđể thực thi phân loại những di tích, dù ở khoanh vùng phạm vi của mô hình nào. Nếu địa thế căn cứ vào giá trị lịch sử văn hóa truyền thống, khoa học thẩm mỹ và nghệ thuật và cấp độquản lý, di tích được xếp hạng và chia thành ba loại, gồm : Một là, di tích vương quốc đặc biệt quan trọng là di tích có giá trị đặc biệt quan trọng tiêu biểucủa vương quốc do Thủ tướng nhà nước ra quyết định hành động xếp hạng. Hai là, di tích vương quốc là di tích có giá trị tiêu biểu vượt trội của vương quốc do Bộtrưởng Bộ VH, TT và DL ra quyết định hành động xếp hạng. Ba là, di tích cấp tỉnh ( tỉnh, thành phố thường trực Trung ương ) là di tíchcó giá trị tiêu biểu vượt trội trong khoanh vùng phạm vi địa phương do quản trị Ủy Ban Nhân Dân tỉnh, thànhphố thường trực Trung ương ra quyết định hành động xếp hạng. Việc hiểu rõ nội hàm khái niệm di tích và những hình thức phân loại ditích có ý nghĩa quan trọng để xác lập sự chăm sóc của những cơ quan quản trị ditích cho từng mô hình di tích. Đây cũng là một trong những cơ sở khoa họccho việc hoạch định chủ trương và kiến thiết xây dựng mạng lưới hệ thống văn bản pháp lý trongviệc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống dân tộc bản địa. 1.1.1. 3. Khái niệm quản lýThuật ngữ “ Quản lý ” hoàn toàn có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theonghĩa thường thì, trong tiếng Việt thuật ngữ “ Quản lý ” được hiểu là trôngnom, sắp xếp việc làm hoặc gìn giữ, theo dõi ; nếu hiểu theo nghĩa Hán – Việtthì “ Quản ” là chỉ huy một việc, “ Lý ” là trơng nom, coi sóc. Ở phương tâyngười ta dùng từ “ Management ” có nghĩa là quản trị, là bản tay hoặc liên quanđến hoạt động giải trí của bàn tay, tức là hành vi theo một quan điểm ảnh hưởng tác động đểdẫn dắt. 21M ỗi ngành khoa học điều tra và nghiên cứu về quản trị ở một góc nhìn riêng nào đóthì chúng đều có những định nghĩa riêng về quản trị. Khái niệm quản trị trongđiều khiển học được hiểu là sự ảnh hưởng tác động vào một mạng lưới hệ thống hay một quy trình đểđiều khiển, chỉ huy sự hoạt động của nó theo những quy luật nhất định nhằm mục đích đạtđược những mục tiêu hay kế hoạch mà người quản trị đã đề ra từ trước. Điểm qua 1 số ít quan điểm, tất cả chúng ta thấy rõ thực chất của quản trị vàhoạt động quản trị bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý làmột hoạt đơng khách quan phát sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiệnmục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức triển khai, từ khoanh vùng phạm vi nhỏ đến phạm vulớn, từ đơn thuần đến phức tạp. Đối với xã hội có trình độ tăng trưởng càng cao, u cầu quản trị càng lớn và vai trò của quản trị ngày một tăng lên. Theo ý nghĩa thường thì, phổ cập, thuật ngữ “ Quản lý ” được hiểulà hoạt động giải trí nhằm mục đích ảnh hưởng tác động một cách có tổ chức triển khai và có khuynh hướng của chủthể quản trị vào một đối tượng người dùng nhất định để kiểm soát và điều chỉnh những quy trình xã hộivà hành vi của con người nhằm mục đích duy trì tính không thay đổi và tăng trưởng của đốitượng theo những tiềm năng đã định. Với cách hiểu về khái niệm quản trị như đã trình diễn ở trên, về mặt Nhànước, quản trị gồm có những yếu tố sau : + Chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra những ảnh hưởng tác động quản trị. Chủ thể luônlà con người hoặc tổ chức triển khai. Chủ thể quản trị ảnh hưởng tác động lên đối tượng người tiêu dùng quản lýbằng những công cụ với những chiêu thức thích hợp theo những nguyên tắcnhất định. + Đối tượng quản trị tiếp đón trực tiếp sự tác động ảnh hưởng của chủ thể quảnlý. Tùy từng loại đối tượng người tiêu dùng khác nhau mà người ta chia thành những dạng quảnlý khác nhau. + Khách thể quản trị chịu sự ảnh hưởng tác động hay kiểm soát và điều chỉnh của chủ thể quảnlý, đó là hành vi của con người hoặc quy trình xã hội. 22 + Mục tiêu của quản trị là cái đích phải đạt tới tại một thời gian nhất địnhdo chủ thể quản trị định trước. Đây là địa thế căn cứ để chủ thể quản trị thực thi cácđộng tác quản trị cũng như lựa chọn những chiêu thức quản trị thích hợp. Quản lýra đời chính là hướng đến hiệu suất cao nhiều hơn, hiệu suất cao hơn trong việc làm. 1.1.1. 4. Khái niệm quản trị di tích lịch sử văn hóaQuản lý DTLSVH chính là sự đinh hướng, tạo điều kiện kèm theo tổ chức triển khai, điềuhành việc bảo vệ, gìn giữ những DTLSVH, làm cho những giá trị của di tích đượcphát huy theo chiều hướng tích cực. Các DTLSVH cần được tơn trọng và bảovệ vì đây là gia tài vơ giá, là tài nguyên kinh tế tài chính du lịch không khi nào cạn kiệtnếu tất cả chúng ta biết khai thác một cách khoa học. Việc bảo vệ, khai thác, sử dụngcó hiệu suất cao những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyềnthống, ship hàng cho công tác làm việc nghiên cứu và điều tra khoa học, thăm quan du lịch, đáp ứngnhu cầu nghệ thuật và thẩm mỹ và văn hóa truyền thống của nhân dân. Đặc biệt trong nên kinh tế tài chính thjtrường có sự quản trị của Nhà nước như đặc trưng của nước ta lúc bấy giờ thì vănhóa cần được quản trị và xu thế để ship hàng cho tiềm năng tăng trưởng KT – XG của quốc gia, đồng thời bảo tồn được giá trị của truyền thống văn hóa truyền thống dân tộc bản địa. Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, xét cho cùng cũng là một phần củacông tác quản trị DSVH nói chung và quản trị DTLSVH nói riêng. Theo nghĩathông thường trong tiếng Việt, thuật ngữ “ quản trị ” được hiểu là trơng nom, sắp xếp cơng việc hoặc gìn giữ, trơng nom, theo dõi. Cụ thể, “ quản trị ” có hainghĩa là : Tổ chức, tinh chỉnh và điều khiển hoạt động giải trí của 1 số ít đơn vị chức năng, một cơ quan ; trơng coi, giữ gìn và theo dõi những hoạt động giải trí đơn cử. Trường hợp quản lýDTLSVH hoàn toàn có thể hiểu là tổ chức triển khai, tinh chỉnh và điều khiển hoạt động giải trí của cơ quan quản trị ditích ở những Lever khác nhau, tùy theo lao lý về công dụng, trách nhiệm đơn cử. Trong nghành DTLSVH, cơ quan quản trị di tích có nghĩa vụ và trách nhiệm trơng coi, giữ gìn, tổ chức triển khai những hoạt động giải trí dữ gìn và bảo vệ, trùng tu, tô tạo di tích ; tổ chức triển khai bảo vệdi tích với tiềm năng chống xuống cấp trầm trọng cho di tích, để di tích sống sót vĩnh viễn, tổchức lập hồ sơ, xếp hạng những giá trị và cơ sở pháp lý bảo vệ di tích … 23P hát huy giá trị DTLSVH gồm những hoạt động giải trí : Tổ chức du lịch thăm quan tại ditích ; tiếp thị di tích trên những phương tiện đi lại tiếp thị quảng cáo đại chúng ; xuất bảncác ấn phẩm ra mắt di tích ; đưa di tích đến với ngành công nghiệp du lịchPhát huy giá trị DSVH là một hoạt động giải trí nhằm mục đích khai thác những giá trị của disản để Giao hàng và phân phối nhu yếu của xã hội, góp thêm phần tăng trưởng KT-XHcủa quốc gia, đồng thời góp thêm phần nâng cao ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân dânđối với việc bảo vệ DSVH dân tộc bản địa. Phát huy làm cho cái hay, cái tốt nhânthêm công dụng, thôi thúc liên tục nảy nở nhiều hơn. Phát huy cũng hoàn toàn có thể hiểu là tập trung chuyên sâu sự quan tâm của cơng chúng mộtcách tích cực tới những mặt giá trị của DSVH. Quản lý DSVH là một quá trìnhtheo dõi, xu thế, điều tiết quy trình sống sót và tăng trưởng của những DSVHtrên một địa phận đơn cử nhằm mục đích bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng ; đem lại quyền lợi to lớn, nhiều mặt, lâu dài hơn cho hội đồng dân cư, gia chủ củacác DSVH đó. Quản lý DSVH là một hoạt động giải trí nằm trong công tác làm việc quản lýDSVH. Theo quan điểm khoa học phổ cập lúc bấy giờ, quản trị DSVH khôngchỉ đơn thuần là quản trị những giá trị vật thể mà quan trọng hơn là người làmcông tác quản trị phải chăm sóc đến những giá trị văn hóa truyền thống phi vật thể để có tácđộng tích cực đến đời sống hội đồng. Đặc biệt hơn là những DT DSVH luôn tổchức liên hoan tại khoảng trống thiêng và khoảng trống tự nhiên của di tích. Từ những khái niệm quản trị, quản trị nhà nước về văn hóa truyền thống, quản trị ditích lịch sử văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể hiểu là một hoạt động giải trí ln có hướng đích giữa chủthể quản trị và đối tượng người tiêu dùng quản trị theo đúng những đường hướng mà Đảng vàNhà nước đề ra. Đó chính là q trình ảnh hưởng tác động giữa chủ thể quản trị tới đốitượng quản trị. Để công tac quản trị có hiệu suất cao cần thơng qua những biệnpháp, giải pháp, phương tiện đi lại quản trị nhằm mục đích hồn thiện hóa hoặc làm thayđổi thực trạng hiện hữu. Trong trường hợp đơn cử với những đối tượng người dùng là24DTLSVH thì tiềm năng cần hướng tới là bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVHphục vụ hội đồng trong nước và quốc tế. 1.1.2. Cơ sở pháp lý cho công tác làm việc quản trị di tích lịch sử văn hóa1. 1.2.1. Các văn bản của Đảng và Nhà nước là cơ sở pháp lý cho quảnlý di tích lịch sử văn hóaTrong khi triển khai trách nhiệm quản trị di tích cần phải tuân thủ theođường lối của Đảng và Nhà nước đã đề ra, đó là những văn bản quản trị được banhành – cơ sở pháp lý cho công tác làm việc quản trị DTLSVH. Dưới đây, xin điểm quamột số văn bản pháp lý về công tác làm việc QLDTLSVH, đặc biệt quan trọng là những văn bảnban hành trong thời hạn gần đây. + Nghị định số 519 – TTg phát hành ngày 29 tháng 10 năm 1957 của Thủtướng nhà nước về việc “ Quy định những luật lệ cơ bản cho hoạt động giải trí bảo tồn ditích ” : Đây là một văn bản pháp lý quan trọng có giá trị nền tảng cho hoạt độngbảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn kho lưu trữ bảo tàng nói chung. Nghị định số 519 – TTgngày 29 tháng 10 năm 1957 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký, lao lý cácđiều luật cơ bản cho hoạt động giải trí bảo tồn di tích thời hạn này. Nghị định gồm 7 mục 12 điều trong đó mục II pháp luật về liệt hạng di tích ; Mục III pháp luật vềsưu tầm và khai thác ; Mục IV lao lý về dữ gìn và bảo vệ ; Mục V pháp luật về trùngtu, sửa chữa thay thế ; Mục VI pháp luật về xuất nhập khẩu những di vật có giá trị lịch sử. + Pháp lệnh số 14 – LCT / HĐNN phát hành ngày 04 tháng 4 năm 1984 củaHội đồng Nhà nước về việc “ Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hố và danhlam thắng cảnh ”, Pháp lệnh là địa thế căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích saukhi quốc gia hồn tồn thống nhất và trong công cuộc kiến thiết xây dựng chủ nghĩa xãhội. Đây là bước tiến lớn của ngành bảo tồn kho lưu trữ bảo tàng, nhằm mục đích thống nhất quản lývà chỉ huy mọi hoạt động giải trí bảo vệ di tích bằng những điều luật đơn cử. Nhờ có Pháplệnh và một chính sách quản trị mới, với mục tiêu “ Nhà nước và nhân dân cùng25làm ”, hàng ngàn di tích đã được cứu vãn bởi sự huỷ hoại và những vi phạm vềđất đai tương quan đến di tích cũng được góp thêm phần ngăn ngừa. + Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã raNghị quyết số 03 – NQ / TW ngày 16 tháng 7 năm 1998 về việc “ Xây dựng vàphát triển nền văn hóa truyền thống Nước Ta tiên tiến và phát triển, đậm đà truyền thống dân tộc bản địa ” : Nghịquyết Trung ương Đảng lần thứ V, khóa VIII về “ Xây dựng và tăng trưởng nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến và phát triển, đậm đà truyền thống dân tộc bản địa ” đã chứng minh và khẳng định : DSVH làtài sản vô giá, kết nối hội đồng dân tộc bản địa, là cốt lõi của truyền thống dân tộc bản địa, cơ sởđể phát minh sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa truyền thống. Bảo tồn và phát huy cácDSVH được coi là 1 trong 10 trách nhiệm đơn cử trong sự nghiệp kiến thiết xây dựng pháttriển văn hóa truyền thống. Bản sắc dân tộc bản địa ở mỗi quá trình lịch sử cũng được bồi đắpthêm bởi nhiều tác nhân, những giá trị văn hóa truyền thống vững chắc, những tinh hoa kếtđọng qua từng thời kỳ lịch sử dân tộc bản địa, bộc lộ ở những DSVH khi nào cũng làcái cốt lõi. Chính với ý nghĩa đó, Nghị quyết nhấn mạnh vấn đề : “ Phải rất là coitrọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống truyền thống cuội nguồn ( bác học và dângian ), văn hóa truyền thống cách mạng gồm có cả văn hóa truyền thống vật thể và phi vật thể ”. + Luật Di sản Văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành năm 2001 vàLuật sửa đổi, bổ trợ một số ít điều của Luật Di sản Văn hoá năm 2009 : Nhữngnội dung cơ bản của Luật đã bám sát và phân phối được những nhu yếu trong cơchế quản lý và điều hành quốc gia ta trong quy trình tiến độ lúc bấy giờ là Đảng chỉ huy, Nhà nướcquản lý, nhân dân làm chủ ; toàn dân sống, học tập và thao tác theo pháp lý. Luật DSVH sinh ra đã tạo ra những cơ sở pháp lý để tiến hành một loạt những hoạtđộng thiết yếu trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH ; xác lập rõ quyềnhạn và nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức triển khai, cá thể và chủ sở hữu so với DSVH, chỉ rõnhững việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơchế khen thưởng, tôn vinh những người có cơng, xử phạt những hành vi vi phạmdi tích ; lao lý nghĩa vụ và trách nhiệm của những Bộ, ban, ngành có tương quan ở TW
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


