Bài thảo luận – nhóm 7 – Đặc trưng vùng văn hóa Nam Bộ – K7B2,3KD – Mã lớp HP 2189 – NHÓM: 7 BÀI – StuDocu

NHÓM: 7
BÀI THẢO LUẬN

BỘ MÔN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ:

THÀNH VIÊN MSV

  1. Vũ Văn Quyết 21D
  2. Nguyễn Như Quỳnh 21D

  3. Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh 21D
  4. Trần Thị Diễm Quỳnh 21D
  5. Lê Huyền Sa 21D
  6. Phùng Thị Thanh Tâm 21D
  7. Vũ Hoàng Thiên Tân 21D
  8. Nguyễn Chí Thắng 21D
  9. Trần Danh Thắng 21D

Phạm Thị Thanh 21D Vũ Thị Diệu Thanh 21D

ĐẶC

TRƯNG

VÙNG

VĂN

HÓA

NAM

BỘ

1 2 3 4 56

Trong nền văn hóa chung của hội đồng những dân tộc bản địa Nước Ta thì mỗi dân tộc bản địa, mỗi vùng miền lại có nét văn hóa riêng rất độc lạ, phong phú và nhiều mẫu mã. Nam Bộ tuy là vùng đất tổ tiên ta mới khám phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn hóa của nông thôn Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của hội đồng dân tộc bản địa Nước Ta có hơn 4000 năm lịch sử vẻ vang .

I. ĐẶC TRƯNG VỀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

1. Vị trí địa lí
Về phạm vi, vùng văn hoá này bao gồm địa bàn 19 tỉnh thành: Đồng Nai, Bình
Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh,
Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, TP. Cần Thơ,
Hâu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.̣
Có thể chia thành ba tiểu vùng văn hoá: tiểu vùng Đông Nam Bô, tiểu vùng̣
Tây Nam Bô, và tiểu vùng Sài Gòn.̣
Về địa hình, đây là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng, có diên tícḥ
và đô phì nhiêu cao nhất trong tất cả các đồng bằng nước ta.̣
Toàn vùng có đến 4 kênh rạch, dài tổng công 5.̣
Địa hình và thổ nhưỡng của hai tiểu vùng có khác nhau:
 Đông Nam Bô có độ cao 100m-200m là vùng đất đỏ bazan và đất phù sa cổ.̣
 Tây Nam Bô có độ cao trung bình chưa đầy 2m, là vùng đất phù sa mới.̣
 Đồi núi trong vùng không nhiều và tập trung ở miền Đông, như núi Bà Rá
(Bình Phước, 736m), núi Chứa Chan (Đồng Nai, 839m), núi Bao Quan (Bà
Rịa – Vũng Tàu, 529m), núi Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu, 461m), núi Bà Đen
(Tây Ninh, 986m)…
 Ở miền Tây chỉ có hai điểm cao là dãy Thất Sơn (An Giang, cao nhất là núi
Cấm 718m), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang, cao nhất là núi Chúa 602m).
 Hai hệ thống sông lớn nhất của vùng là hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống
sông Cửu Long:
o Hệ thống sông Đồng Nai ở khu vực Đông Nam Bộ có lượng phù sa khá thấp,
tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm, nhưng nhờ lòng sông sâu nên là nơi tập
trung các cảng chính của khu vực như cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái, cảng Hiệp
Phước, cảng Phú Mỹ…

41 42 43 44 4546 47 4849 50 51 5253 5455 565758596061 62 63 6465 6667 686970 71 72

o Hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình
thành đồng bằng sông Cửu Long mà diện tích lên tới 39². Với lượng
nước trung bình hằng năm vào khoảng 4 tỷ mét khối, vận chuyển khoảng
100 triệu tấn phù sa, sông Cửu Long đã phối hợp với biển Đông để tạo ra
những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông, các giồng cát ven biển
và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ
giác Long Xuyên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau. Điểm bất lợi là
lượng phù sa bồi lắng quá lớn làm cạn các luồng lạch và cửa biển.
Các hồ lớn ở miền Đông như Thác Mơ trên sông Bé, Trị An trên sông Đồng
Nai, Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, là những hồ nước nhân tạo trữ nước cho
thuỷ điện và điều hoà lưu lượng cho hệ thống sông Đồng Nai.
 Các vùng trũng ở miền Tây như Đồng Tháp Mười ở hai bên sông Tiền, tứ giác
Long Xuyên ở phía Tây sông Hậu, là những hồ nước thiên nhiên góp phần
điều hoà lưu lượng cho sông Cửu Long vào mùa nước nổi tháng 9, tháng 10.
Ngoài khơi là vùng biển nông, có nhiều đảo và quần đảo như Côn Sơn, Thổ
Chu, Nam Du, Phú Quốc…
2. Khí hậu
Nam Bộ là vùng tương đối điều hoà, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có
mùa lạnh. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4.
3. Tiến trình lịch sử
Nam Bô là vùng văn hóa trẻ.̣
 Khoảng 5.000-4 năm trước, người Indonesian đã đến đây khai phá, tạo
nên văn hoá Đồng Nai.
 Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VIII, người Indonesian và nhiều lớp người
ngoại nhâp (Thiên Trúc, Nguyệ t Thị, Nam Dương…) tạo lậ p nền văn hoá Óc̣
Eo ở đồng bằng Nam Bô và Đông Campuchia, dựng nên vương quốc Phụ̀
Nam hùng mạnh.
 Ngoài trung tâm Óc Eo, nhà nước Phù Nam còn có một trung tâm chính trị,
văn hoá và tôn giáo nữa trên vùng đất Long An, nơi có tới 100 di tích văn hoá
Óc Eo với 12 hiện vật, đặc biệt là quần thể di tích Bình Tả, gồm ba cụm di
tích: Gò Xoài, Gò Đồn và Gò Năm Tước, có niên đại từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ
thứ VII.

73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104

dân số toàn tỉnh, 27,6% dân số cả nước), An Hiang, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Kiên
Giang, Tây Ninh…, với dân số hơn 1 triệu người.
Người Hoa cư trú ở TP. Hồ Chí Minh (khoảng 430 000 người) Vĩnh Long, Trà
Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ, Kiên Giang, Bạc Liêu… với dân số khoảng 860 000
người.
Người Chăm có dân số khoảng 130 000 người, cư trú chủ yếu Nam Trung Bộ,
nhưng ở địa bàn Nam Bộ cũng có khoảng 24 000 người ở các tỉnh An Giang,
TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Kiên Giang, Bạc Liêu, Bình Phước,….
Các tộc người khác thì di dân vào Nam Bộ theo 3 đợt chính: di dân có tổ chức
vào các năm 1954, 1975 và di dân ồ ạt từ năm 1994.
Do vậy, Nam Bộ là một vùng đất đa tộc người. Chủ thể văn hoá chính của vùng vẫn là
người Việt, dân số lên đến hơn 26 triệu người, chiếm 90,9% dân số của vùng. Riêng ở
tiểu vùng Tây Nam Bộ, chủ thể văn hoá chính bên cạnh người Việt còn có người
Khmer và người Hoa.

III. Đặc trưng văn hóa vùng Nam Bộ
Nam Bộ vừa có bề dày tiến trình lịch sử văn hóa lại vừa là vùng đất giàu sức trẻ do
các tộc người ở đây đang dày công xây dựng nên. Từ vị thế địa lý, văn hóa Nam Bộ,
đang giúp trở thành trung tâm của quá trình tiếp biến văn hóa, phần nào tạo cho vùng
có những nét đặc thù, diện mạo mới đối với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam. Hệ giá
trị văn hóa Nam Bộ là truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị cốt lõi hình
thành phong cách văn hóa riêng vùng

* * * Đặc điểm văn hóa chung toàn miền A. Văn hóa vật chất

  1. Văn hóa cư trú**
    • Vùng đất Nam bộ là vùng đất trũng có hơn phân nửa diện tích ven biển là vùng
      đất nước lợ, điều kiện môi trường rất thích hợp cho các lọai cây sú, vẹt, đước,
      bần, tràm, dừa nước.. sống. Người dân ở đây đã tận dụng các sản vật tự
      nhiên này làm vật liệu xây dựng cho ngôi nhà của mình.
    • Nam Bộ có ít bão tố, nhiều kênh rạch, con người phải dồn sự chăm chút cho
      ghe xuồng và vườn tượt nên nhà của khá tạm bợ. Một ít cây làm cột, làm kèo,
      một ít lá dừa nước vừa lợp mái, vừa thưng vách là đã có một ngôi nhà ấm cúng.

139 140141 142 143144 145 146147 148149 150 151 152153154 155 156 157 158 159 160161162 163164 165 166 167168 169 170

  • Nhà ở của người Việt Nam Bô có ba loại chính: ̣
     Nhà đất cất dọc theo ven lộ
     Nhà sàn cất dọc theo kinh rạch
     Nhà nổi trên sông nước.
    2. Văn hóa ẩm thực
    Vì đây là nơi được thiên nhiên ưu đãi cho con người, con người không phải làm
    lụng nhiều mà vẫn có cái ăn gặp gì ăn nấy, từ những cây cỏ trên bờ, con cá dưới
    sông, con chim trên trời, cho đến các loài sinh vật khác. Tính hoang dã trong
    văn hóa ẩm thực của người Nam Bộ đã được định hình từ đây.
     Điều dễ nhận thấy nhất ở tính hoang dã này là người Nam Bộ ăn rất nhiều rau ,
    đây là loại thức ăn có sẵn ở vùng sông nước, ao hồ, ruộng vườn rất dễ tìm
    không cần nhiều thời gian chế biến, có loại chỉ cần hái vào rửa sạch là ăn được.
    Người ta có thể ăn các loại rau từ rau đắng, rau dền, rau răm, cải xanh, tía tô,
    hành, hẹ, ngò gai, … đến các loại cây bông như: bông điên điển, thiên lí, bông
    kim châm…
     Trong danh mục này có thứ dùng để ăn sống, có thứ dùng để nấu canh, có thứ
    luộc lên chấm với cá kho thịt kho hay nước chấm.
    Do nguồn thuỷ sản dồi dào, thành phần thuỷ sản như cá, tôm, cua, rùa, rắn,
    nghêu, sò, ốc, hến, lươn… giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu bữa ăn.
     Do môi trường lắm tôm cá, nên các loại mắm nơi đây phong phú hơn hẳn các
    vùng miền khác: mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm tôm chua, mắm
    rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc, mắm nêm…
    Bên cạnh đó, mỗi địa phương lại có những đặc sản nổi tiếng của mình.
     Tây Ninh có bánh canh Trảng Bàng, bánh tráng Trảng Bàng…
     Long An có dưa hấu Long Trì, dứa Bến Lức, rượu đế nếp Gò Đen
     Đồng Tháp có bánh phồng tôm Sa Giang, nem Lai Vung, quýt hồng Lai Vung,
    chuột đồng Cao Lãnh, sen…
     Trà Vinh có cốm dẹp trộn dừa kiểu Khmer, các món đuông như đuông chà là,
    đuông đất, đuông dừa, mắm rươi, rượu Xuân Thạnh…
     Sóc Trăng có bánh pía, lạp xưởng, bún nước lèo, bánh cống Đại Tâm (Mỹ
    Xuyên), bò nướng ngói Mỹ Xuyên, bún xào Thạnh Trị, bún gỏi già…
     Hậu Giang có khóm Cầu Đúc (Vị Thanh), bưởi Năm Roi (Châu Thành), cá thát
    lát mình trắng (Long Mỹ)…

171172173 174175176 177 178 179180 181 182 183 184 185 186 187188 189190 191 192193194 195 196 197 198 199 200 201 202 203

4. Văn hóa kiến trúc, điêu khắc
a. Kiến trúc đình chùa:

Gỗ dùng trong kiến trúc đình, chùa Nam Bộ do dân làng tận dụng gỗ tại chỗ
trong quá trình khai hoang, giá thành không đáng kể.
Vì có ít bão nên bộ khung sườn gỗ dùng trong kiến trúc đình chùa ở đây thanh
mảnh hơn so với Bắc Bộ
Đình Nam Bộ là một quần thể kiến trúc nghệ thuật gồm nhiều nhà vuông có 4
cột cái rất to (tứ cột). Nhà vuông là một loại hình kiến trúc tôn giáo đặc trưng
cho Nam Bộ. Nhà này nóc ngắn so với chiều dài diềm mái và có 4 mái trải rộng
ra 4 phía. Một ngôi đình Nam Bộ khi bước qua cổng thì có một bệ gạch được
xây ở giữa sân đình gọi là đàn xã tắc
b. Nghệ thuật điêu khắc
Chất liệu sa thạch mịn, gỗ bằng lăng
5. Văn hóa đi lại
Để đi lại, vận chuyển, các tộc người cư trú nơi đây đều phải lựa chọn những
phương tiện phù hợp với các địa hình đặc trưng của không gian Nam Bộ.
 Ở trên đất liền thì các cư dân Nam Bộ dùng xe bò, xe ngựa, xe đạp, xe thồ, xe
tải…
 Ở vùng sông nước thì dùng xuồng, ghe, tắc ráng, vỏ lãi, tàu, bè, bắc (phà), cộ…
 Ở miền Tây sông nước, xuồng ghe có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là phương
tiện vận chuyển tiện dụng cho tất cả mọi người, vừa là phương tiện mưu sinh và
phương tiện cư trú của một số lớn cư dân làm nghề đò ngang, đò dọc, buôn bán
và nuôi cá trên sông.
 Hình ảnh dòng sông, con đò vì vậy đã phổ biến đến mức trở thành một hình
tượng văn học, một biểu tượng của không gian Nam Bộ.
 Trong thời Pháp thuộc, khi giao thông đường bộ bước đầu phát triển, người
Nam Bộ đã gọi các chuyến xe khách liên tỉnh, liên vùng là xe đò.
6. Làng nghề truyền thống
Bên cạnh nghề dệt vải, nhuộm vải truyền thống, nghề dệt chiếu thì nghề gốm
cũng là một nghề rất phát triển ở Nam Bộ, Có rất nhiều những làng gốm nổi
tiếng với nhiều sản phẩm đẹp, được làm rất khéo léo và tỉ mỉ như làng Bàu
Trúc…

237 238239 240241 242243 244 245 246 247248249250251 252253 254 255 256 257 258 259 260 261 262 263264265 266 267 268* * B. Văn hóa niềm tin

  1. Tôn giáo – tín ngưỡng**
    Nam Bộ là vùng đất đa tộc người, là nơi gặp gỡ các tín ngưỡng tôn giáo sẵn có
    từ Bắc Bộ, Trung Bộ, đồng thời là cái nôi sinh thành tín ngưỡng tôn giáo mới.
    Vì vậy, đây chính là vùng đất phong phú nhất về tín ngưỡng tôn giáo ở Việt
    Nam
    Đạo Phật kết hợp với đạo Lão, đạo Khổng, đạo Kito, đạo Thánh Mẫu… là cơ sở
    hình thành đạo Hòa Hảo
    Các tôn giáo trên cũng là cơ sở làm hình thành nhiều đạo khác như: đạo Ông
    Trần, đạo Dừa..
    Ngoài ra đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành cũng có không ít tín đồ
    2. Phong tục tập quán, lễ hội truyền thống

    • Gồm 4 loại lễ hội chính:
       Lễ hội tín ngưỡng – tôn giáo: bao gồm các lễ hội thường niên của đạo Phật, đạo
      Cao Đài, đạo Hoà Hảo, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, hội đền Linh Sơn Thánh
      mẫu ở núi Bà Đen…
       Lễ hội nông nghiệp.
       Lễ hội ngư nghiệp: lễ hội Nghinh Ông là sự kiện quan trọng bậc nhất trong đời
      sống văn hoá và tâm linh của cư dân.
       Lễ hội văn hoá – lịch sử : Ở các đình làng, thường xuyên có các lễ hội Kỳ yên
      tiến hành vào đầu năm và cuối năm, để tạ ơn Thành hoàng Bổn cảnh, thần linh
      và các bậc tiền hiền, hậu hiền có công khai khẩn, khai cơ, giúp dân an cư lạc
      nghiệp. Lễ tết cổ truyền như tết Nguyên đán, tết Đoan ngọ…,
    • Có các tục như: Tục thờ cúng ông Đia, tục thờ Thông Thiên, tục làm đám giỗ
      3. Các hủ tục
    • Trước hết, có thể kể đến các quan niệm “trọng nam khinh nữ”. Thực tế còn
      nhiều gia đình phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Trong quan hệ gia đình, người
      nam vẫn được ưu tiên và chiếu cố nhiều hơn người nữ. Dân gian có câu “con
      gái là con người ta”…
    • Liên quan đến quan niệm “trọng nam, khinh nữ”, còn có tục “cầu tự” của những
      gia đình hiếm muộn hoặc mong muốn có con trai để “nối dõi tông đường”…
    • Hủ tục nguy hiểm nhất trong đời sống cộng đồng có lẽ là tuc chữa bệnh bằng
      bùa chú: Thầy cúng, thầy pháp, thầy bói còn xuất hiện nhiều trong sinh hoạt

269 270271 272 273 274275 276277 278279280281282 283 284 285 286 287 288 289 290 291

292

293294 295 296 297298 299300 301

6. Sự tiếp biến văn hóa
– Không gian văn hóa Nam Bộ là phần mở rộng của không gian văn hóa Việt
Nam trên một vùng đất mới mà ở đó, chung tay khai phá với người Việt còn có
các tộc người bản địa và các tộc người di dân. Vì vậy, trên vùng đất này, ngay từ
đầu văn hóa của cư dân Việt, mà trong đó đã có sẵn yếu tố Chăm, đã giao lưu
mật thiết với văn hóa của các cư dân Kmer, Hoa..
– Trong thời cận đại và hiện đại, trong suốt một thời gian dài vùng đất này chịu
ảnh hưởng của văn hóa Pháp rồi tiếp đó là văn hóa Mỹ. Và từ năm 1975, nơi
đây cũng trở thành một địa bàn biến động mạnh mẽ về thành phần tộc người
không kém Tây Nguyên. Vì vậy, Nam Bộ cũng là một vùng đất mà giao lưu,
tiếp biến văn hóa đã và đang diễn ra với tốc độ rất nhanh
– Hệ quả và hầu như không có hiện tượng văn hóa nào ở đây còn nguyên chất
thuần Việt. Cho nên, giao thoa văn hóa chính là một trong những bản sác văn
hóa Nam Bộ. Nó khiến cho văn hóa Nam Bộ vừa tương đồng, lại vừa khác biệt
với cội nguồn của nó là văn hóa Việt ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ
– Trong quá trình giao thoa văn hóa, cư dân Việt nơi đây không tự đánh mất mình
mà chỉ tái tạo các giá trị văn hóa mà thu nạp theo hướng làm cho nó thích ứng
với văn hóa Việt, với như cầu của người Việt trên vùng đất mới. Có thể nói, sự
tái tạo các giá trị văn hóa đó cũng là một bản sắc văn hóa nơi đây.
– Bên cạnh sự tiếp biến văn hóa, văn hóa Nam Bộ còn mang đặc trưng đồng bằng
sông nước. Hai đặc trưng văn hóa chủ đạo này đã buộc tất cả các nền văn hóa
sinh tụ nơi đây đều phải tự cấu trúc lại, lược bỏ những giá trị không còn phù
hợp với môi trường mới, phát triển hoặc sáng tạo những giá trị mới.
Vì vậy, uyển chuyển, linh động, phóng khoáng, bao dung dần dà đã trở thành bản sắc
thứ ba của văn hóa Việt ở Nam Bộ và văn hóa Nam Bộ nói chung.

Văn hóa Nam Bộ là sự kết hợp giữa truyền thống văn hóa trong tiềm thức, trong dòng
máu và điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất mới, nó phát triển trong điều kiện cách
xa vùng đất cội nguồn cả về không gian và thời gian. nền văn hóa này, vừa có nét
giống, lại vừa có nét khác với nên văn hóa ở vùng đất cội nguồn, của cùng một tộc
người.
*Văn hóa đặc trưng riêng của từng nhóm người
Người Việt (kinh) Người Hoa Người Khơme

335336 337 338 339 340341 342 343 344 345346 347 348 349350 351 352 353354 355 356 357358 359360 361 362 363 364 365366

Văn hóa cư trú

  • Trước đây ở nhà sàn, nhưng ngày này phần đông chuyển qua nhà đất
  • Nhà ở của người Hoa ở Nam Bộ thường sâu, kín kẽ, một mặt do tâm ý của dân ngụ cư, mặt khác do sự thừa kế mô hình kiến trúc của kiểu nhà xứ lạnh phương Bắc .
    • Nhà được xây theo
      một quần thể: nhà chính,
      nhà phụ bao quanh sân,
      giữa sân thường có một
      giếng trời (thiên tỉnh).
  • Trước đây đều ở nhà sàn, nhưng thời nay phần lớn đã chuyển thành nhà đất
  • Nếu sống trên đất cao thì thường làm nhà đất
  • Nơi đất thấp họ cất nhà sàn
  • Nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng lá dừa nước, ở những vùng gần biên giới thì dùng lá dừa chằm để lợp .

Văn hóa trang phục

  • Trang phục truyền thống cuội nguồn của người Việt ( Kinh ) : Áo dài truyền thống cuội nguồn, áo bà ba, khăn rằn
  • Trang phục truyền thống cuội nguồn của người Hoa : Áo xá xẩu, quần tiêu ( nam ) và sườn xám ( nữ ) ; đặc trưng phục trang còn ở hoa văn trên vải, cài nút thắt ….
  • Trang phục truyền thống lịch sử của người Khơ-me : váy xampot, áo wên, áo srây, áo tằm wong, khăn rằn kama … với sắc tố, hoa văn đặc trưng

Văn hóa ẩm thực

  • Các món ăn phong phú, biến hóa khôn lường với vị ngọt, cay, béo do sử dụng nước dừa .
  • Các món đặc trưng là : cá lóc nướng trui, gỏi cuốn, bún mắm, hủ tiếu
  • Mặc dù hòa nhập vậy nhưng mỗi dân tộc bản địa Hoa – Việt vẫn giữ được truyền thống riêng trong nét văn hóa nhà hàng siêu thị của mình .
  • Nhiều món ăn hấp
  • Văn hóa nhà hàng của người Khmer rất là đa dạng chủng loại và phong phú .
    • Từ các món ăn
      trong sinh hoạt thường
      ngày, đến các món ăn
      trong các dịp lễ Tết, giỗ

Kiến trúc đình chùa

  • Đình Nam Bộ là một quần thể kiến trúc thẩm mỹ và nghệ thuật gồm nhiều nhà vuông có 4 cột cái rất to ( tứ cột )
  • Một ngôi đình Nam Bộ khi bước qua cổng thì có một bệ gạch được xây ở giữa sân đình gọi là đàn xã tắc .
  • Trên mái mặt trước của ngôi chùa có những phù điêu bằng gốm sứ hình tượng nét văn hóa, tín ngưỡng của người Hoa như : Lưỡng Long tranh Châu, sự tích cá chép vàng hóa thành rồng, và những phù điêu biểu lộ phong tục tập quán của người Nước Trung Hoa .
    • Ngôi chùa có tổng
      cộng bốn dãy nhà liên tiếp
      nhau. Ba dãy cuối được
      gọi là Tiền điện, Trung
      điện, Hậu điện. Cách biệt
      giữa các dãy nhà là Thiên
      Tĩnh hay còn gọi là Giếng
      trời. Theo kiến trúc của
      người Hoa thì Giếng trời
      có chức năng tạo cho
      không gian của căn nhà
      luôn thoáng mát và tạo ra
      ánh sáng tự nhiên cho
      ngôi nhà.
  • Chùa Khơme được thiết kế xây dựng trên một khu đất rộng, được phủ bọc bởi những hàng cây dầu, cây thốt nốt ay rừng tràm xanh tươi
  • Mặt ngoài chính điện thường được trang trí điêu đắp nổi, bộc lộ những hình tượng tiên nữ xinh đẹp, chim thần krud nâng đỡ mái chùa, chằng Yeak hung tàn, đầu thần Bayon bốn mặt … được lấy từ tín ngưỡng dân gian của người Khơme

Văn học nghệ thuật

  • Nói đến nghệ thuật và thẩm mỹ ca hát dân ca truyền thống tất cả chúng ta sẽ nghĩ ngay đến những mô hình nghệ thuật và thẩm mỹ thông dụng như : đờn ca tài tử, cải lương, tuồng, lý … Và một kho tàng dân ca nhạc cổ phong phú .
  • Ngoài ra, còn có một số ít thể loại văn học dân gian rực rỡ khác là nói vè, nói tuồng, nói thơ
  • Người Hoa ở Nam Bộ có nền văn học, thẩm mỹ và nghệ thuật rất tăng trưởng, gồm đủ những bộ môn : văn học, âm nhạc truyền thống lịch sử, tân nhạc, ca kịch, hí kịch, múa hầu, múa lân – sư – rồng, tạp kỹ, kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, thư pháp, tranh kiếng, v .
  • Người Khmer Nam Bộ có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú và đa dạng gồm có nhiều thể loại như truyện cổ tích ( rương prêng ), truyền thuyết thần thoại ( rương boran ), tục ngữ ( sopheaset ), bài ca ( châm riêng ) … ,
  • Nghệ thuật múa được chú ý quan tâm nhiều nhất, gồm có múa dân gian và múa chuyên nghiệp. Ram vong, lâm lêv và sarvan là ba điệu múa dân gian đại trà phổ thông nhất, hầu hết bất kỳ người Khmer nào cũng biết .

Tóm lại, Nam Bộ có nhiều nét riêng so với các vùng khác. Vùng đất vừa có bề dày
trong diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam lại là vùng đất giàu sức trẻ của cả các
tộc người nơi đây. Chính những điều đó tạo cho vùng văn hóa Nam Bộ có những đặc
thù riêng và trở thành một gương mặt riêng biệt khó lẫn trong diện mạo của các vùng
văn hóa ở nước ta.

IV. Khai thác văn hóa trong du lịch, nhà hàng…
– Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, mang ý nghĩa to
lớn trong quá trình khai thác tiềm năng du lịch của một quốc gia hay của một
địa phương, vùng miền.
 Du lịch sinh thái rừng:
o Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh là những nơi có một hệ thống
rừng quốc gia với sự đa dạng về sinh học rất cao, là nơi thích hợp để phát triển
loại hình du lịch sinh thái rừng gắn liền với văn hóa của cộng đồng cư dân địa
phương.

367368 369 370 371 372373374 375 376377378379 380 381

o Các công trình kiến trúc nổi tiếng ở nam bộ thu hút nhiều du khách và có tiềm
năng lớn để phát triển. Như kiến trúc sông nước thì có Cần Thơ, Sa Đéc, Trà
Vinh… Di sản kiến trúc của vùng Nam bộ nếu bắt đầu từ văn hóa tín ngưỡng
như đình, chùa, đền, miếu, thánh, thất hay lăng tẩm thì có thể chỉ ra không ít
như các công trình Chùa Bà, chùa Vĩnh Nghiêm, Xá lợi ở Sài Gòn…
o Chợ nổi ở Nam Bộ là một nét văn hóa không thể thiếu của người dân Nam Bộ,
không chỉ phục vụ cho việc trao đổi kinh tế nơi đây còn là địa điểm thu hút
nhiều khách du lịch trong vùng. Một số chợ nổi khá được du khách quan tâm
như: chợ nổi cái răng, chợ nổi cái bè, chợ nổi Long Xuyên…
– Du lịch ẩm thực:
 Du lịch ẩm thực là một trong các loại hình du lịch hướng tới sự trải nghiệm các
món ngon, đồ ăn, đặc sản gắn liền với truyền thống, bản sắc văn hóa của điểm
đến đó. Với xu hướng du lịch này, khách du lịch sẽ được hòa mình cùng cuộc
sống, các hoạt động văn hóa ẩm thực đậm đà bản sắc dân tộc một cách vô cùng
chân thực.
 Được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu quanh năm ấm áp, phong phú các loại sản vật
nên các món ăn cũng được người phương Nam sáng tạo với sự kết hợp các
nguyên liệu rất đa dạng, dồi dào. Đối với hoạt động du lịch, đây chính là nguồn
tài sản vô giá, tiềm năng góp phần định vị điểm đến, ghi dấu ấn cho du khách
trong và ngoài nước.
o Tại Thành phố Hồ Chí Minh – một trong những trung tâm du lịch lớn của cả
nước, ẩm thực luôn được coi là một trong những sản phẩm chiến lược để thu
hút du khách khách có dịp đến thành phố này khó có thể bỏ qua cơ hội
thưởng thức các món ăn đơn giản nhưng lại có sức thu hút, hấp dẫn bởi sự kết
hợp hài hòa, sáng tạo trong từng món ăn giản dị có thể nhắc tới như: Cơm tấm
sườn bì, bánh mì Sài Gòn, gỏi cuốn, bò bía, hủ tiếu gõ, phá lấu, bánh canh cua,
canh bún, bánh tráng nướng, bánh tráng trộn…
o Các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai lại hấp dẫn du khách bởi các khu du lịch sinh
thái nghỉ dưỡng dịp cuối tuần cùng nhiều món ăn mang hương vị của nhà vườn
miền Đông Nam Bộ từ các loại gỏi trái cây miệt vườn Lái Thiêu (Bình Dương)
hay Long Khánh (Đồng Nai) như gỏi gà măng cụt, gỏi bưởi, gỏi xoài cho đến
bánh bèo bì, bún tôm, xôi phồng, gà nướng sầu riêng, gà hấp bưởi…

413414 415 416 417418419 420 421422423 424 425 426 427428 429 430 431 432433434 435 436 437 438 439440441 442 443 444

o Xuôi về vùng Tây Nam Bộ – nơi có hệ thống kênh rạch chẳng chịt với những
vườn cây ăn trái sum suê, nét văn hóa ẩm thực lại được định hình gắn liền với
đời sống sông nước vùng đồng bằng châu thổ có khí hậu, phân chia rõ rệt mùa
mưa và mùa khô, cho nguồn sản vô cùng phong phú. Một số món ăn nổi tiếng
như: Bánh ít khoai mì, bánh lá dứa, bánh chuối đập…
Vì vậy, để tiếp tục phát huy vốn quý ẩm thực gắn với hoạt động du lịch, tạo thêm nhiều
điểm nhấn cho du khách khi đến đất nước Việt Nam nói chung, vùng đất phương Nam
nói riêng, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở những kết quả đã đạt được mà cần có
những giải pháp đột phá hơn, khai thác bền vững các giá trị văn hóa ẩm thực gắn với
phát triển du lịch.
Danh sách nguồn tham khảo:
Sách “Đặc Trưng Văn Hóa Vùng Nam Bộ” của tác giả: Nguyễn Ngọc
Thanh
Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam – Trần Quốc Vượng
(tailieumienphi/doc/giao-trinh-co-so-van-hoa-viet-nam-tran-
quoc-vuong-fhw1tq)
Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam – Trần Ngọc Thêm
(academia/34750627/CƠ_SỞ_VĂN_HÓA_VIỆT_NAM_
TRẦN_NGỌC_THÊM_PDF)
Cơ sở văn hóa Việt Nam – Chu Xuân Biên (123docz/timkiem/c
%C6%A1+s%E1%BB%9F+v%C4%83n+h%C3%B3a+vi%E1%BB
%87t+nam+c%E1%BB%A7a+chu+xu%C3%A2n+di%C3%AAn )

445446 447 448 449450 451 452 453 454455456 457458459 460

461

462 463464 465 466467

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập