TIỂU LUẬN TRẢI NGHIỆM SÁNG tạo – Tài liệu text
TIỂU LUẬN TRẢI NGHIỆM SÁNG tạo
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (248.59 KB, 49 trang )
Bạn đang đọc: TIỂU LUẬN TRẢI NGHIỆM SÁNG tạo – Tài liệu text
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
KHOA ĐỊA LÝ
BÀI TIỂU LUẬN
Học phần: NHỮNG VẤN DỀ DẠY HỌC ĐỊA LÍ HIỆN Ở PHỔ THÔNG
Đề tài:
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
TRONG DẠY HỌC NGOÀI GIỜ MÔN ĐỊA LÍ 10 THPT
GVHD :
PGS.TS Nguyễn Đức Vũ
HVTH :
Phạm Thị Sao Mai
Khóa :
K25
Khoa :
Địa lý
Chuyên ngành: LL & PPDH BM ĐỊA LÝ
Huế – 2017
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo thế hệ trẻ toàn diện, đáp ứng nguồn nhân lực cho xã hội và đáp ứng yêu cầu
hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chú trọng vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục.
Nghị quyết 29 của Đảng về “Đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông sau 2015 ” đã xác định
3 phẩm chất và 8 năng lực của người công dân trong điều kiện mới. Cùng với đó việc tăng
cường môn học Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường học với mục đích phát triển
năng lực của người học trong thời đại mới.
Từ những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa vào chương trình học một
nội dung mới: Trải nghiệm sáng tạo (TNST). Mục tiêu chính của hoạt động này là nhằm
giáo dục tư tưởng, ý thức, tình cảm, thái độ của học sinh (HS), giúp các em thực sự trở
thành những người vừa có đức có tài để làm chủ tương lai của Đất nước. Thực tế hoạt
động này không quá xa lạ với chúng ta. Trước đây, đó có thể là những giờ ngoại khóa,
những buổi tham quan, các câu lạc bộ đội nhóm mà bất kỳ trường nào cũng có. Tuy nhiên,
những năm trở lại đây, cùng với việc đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa, các
hoạt động TNST được chú trọng khá nhiều. Khi đưa vào chương trình, hoạt động này trở
nên mới mẻ, nên gặp không ít những khó khăn. Nội dung giáo dục vẫn phần nào thô cứng
và mang nặng tính lý thuyết, hình thức tổ chức còn hạn chế, đơn điệu, khiến cho học sinh
khó tiếp nhận. Bản thân giáo viên (GV) còn rất lúng túng vì chương trình mới, lại chưa có
một khóa học nào hướng dẫn cách tổ chức cho thật hiệu quả.
Vấn đề đang được các ban ngành quan tâm hiện nay là làm thế nào để những hoạt
động giáo dục TNST thực sự là những hoạt động đa dạng nhằm giúp cho học sinh chiếm
lĩnh tri thức, kỹ năng sống. Đặc biệt, thời gian gần đây, Bộ GD-ĐT vừa công bố dự
thảo chương trình giáo dục phổ thông mới áp dụng từ năm học 2018-2019; được xây dựng
theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù
hợp cho học sinh. Trong đó tại cấp THPT, hoạt động trải nghiệm sáng tạo nằm trong hệ
thống các môn học bắt buộc, với số lượng tiết ở lớp 10 là 75 tiết, lớp 11 và 12 là 105 tiết.
Môn Địa lý 10 là môn học chứa đựng nhiều nội dung, kiến thức, qua đó giáo viên
có thể giáo dục cho học sinh các kiến thức và kỹ năng sống.. Đồng thời lứa tuổi học sinh
10 đang ở tuổi năng động, thích tìm tòi, khám phá và luôn muốn khẳng định chính mình,
vì thế đòi hỏi các em phải có những kỹ năng cơ bản để tự làm chủ bản thân, làm chủ cuộc
sống.
Hoạt động TNST (HDDTNST) có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó không những góp
phần vào việc nâng cao, mở rộng kiến thức mà còn góp phần rèn luyện các kỹ năng học
tập, tạo sự tự tin, mạnh dạn, làm cho việc học tập nhà trường gắn liền với thực tế cuộc
sống hơn. Tuy nhiên, việc lựa chọn những nội dung, hình thức tổ chức nào cho phù hợp
với hoàn cảnh của từng trường học là một vấn đề đáng quan tâm.
2. Mục tiêu và nhệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế và tổ chức một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học ngoài giờ
phần Địa lí tự nhiên môn Địa lí 10 THPT nhằm đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao
chất lượng và hiệu quả dạy học Địa lí lớp 10 ở trường phổ thông.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học
ngoài giờ phần Địa lí tự nhiên môn Địa lí 10 THPT.
– Nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn Địa lí ở
trường THPT.
– Nghiên cứu phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học
ngoại khóa phần Địa lý tự nhiên môn Địa lý 10 THPT.
– Giải pháp việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học ngoài giờ
môn địa lí 10 THPT
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy ngoài giờ phần Địa lí tự nhiên môn Địa lí
10 THPT.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
– Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
– Tổ chức một số hình thức hoạt động trải nghiệm sáng tạo (tổ chức trò chơi và hoạt
động giao lưu).
4. Phương pháp nghiên cứu:
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
4.1.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài để chọn lọc những kiến thức cơ bản phục vụ
cho việc nghiên cứu đề tài.
4.1.2. Phương pháp hệ thống hóa
Nghiên cứu các tài liệu, phân chia thành những mục theo mục đích mà mình nghiên
cứu.
4.1.3. Phương pháp lịch sử
Qua việc tiếp thu, kế thừa từ các đề tài tài liệu trước đây để làm cơ sở hoàn thành đề
tài này.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
4.2.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
Dựa trên cơ sở mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tiến hành thu tập các tài
liệu liên quan đến hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Địa lí. Bên cạnh đó, các
tài liệu về nội dung, chuẩn chương trình Địa lí lớp 10 THPT. Thu thập tài liệu từ các nguồn
như: sách chuyên khảo, các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí, luận vặn, đề tài khoa
học và thông tin trên mạng internet. Dựa trên tài liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành
các thao tác phân tích, tổng hợp để xây dựng cơ sở lí luận, nền tảng khái niệm cho việc
triển khai nghiên cứu đề tài.
4.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp được thực hiện nhằm tìm hiểu các nguyên nhân về thực trạng tổ chức
hoạt động TNST ở trường THPT và tìm hiểu quan điểm của các đối tượng được phỏng vấn
vè việc tổ chức hoạt động TNST. Phương pháp được thực hiện chủ yếu với các giáo viên
và học sinh THPT.
4.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức nhằm tính toán, phân tích các phiếu điều tra hiện trạng và xử
lý các kết quả thực nghiệm sư phạm.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần nội dụng
được trình bày theo cấu trúc 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học
ngoài giờ phần Địa lí môn Địa lí 10 THPT.
Chương 2: Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học ngoài giờ phần
Địa lý môn Địa lí 10 THPT.
Chương 3: Giải pháp việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học
ngoài giờ môn địa lí 10 THPT
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
TRONG DẠY HỌC NGOÀI GIỜ MÔN ĐỊA LÍ 10 THPT
1.1. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.1.1. Khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo
* Hoạt động
Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để
tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể).
Trong mối quan hệ đó có 2 quá trình: quá trình đối tượng hóa và quá trình chủ thể
hóa.
Quá trình đối tượng hóa (xuất tâm)
+ Chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm hoạt động.
+ Tâm lý của con người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra
sản phẩm.
Quá trình chủ thể hóa (nhập tâm)
Là quá trình con người chiếm lĩnh (lĩnh hội thế giới).
Như vậy trong quá trình con người tham gia, thực hiện hoạt động con người vừa tạo
ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói cách khác tâm lý, ý thức,
nhân cách được bộc lộ, hình thành trong hoạt động.
* Trải nghiệm: Là quá trình người học được tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó
phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị
sống và phát triển tiềm năng của bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã
hội.
* Sáng tạo: Là một tổ hợp các năng lực cho phép con người tạo ra cái mới (sản
phẩm, hành động hay những giải pháp mới) độc đáo, thích hợp, có ý nghĩa đối với sự phát
triển cá nhân (sáng tạo trên bình diện cá nhân) và có ý nghĩa xã hội (trên bình diện xã hội).
* Hoạt động trải nghiệm sáng tạo:
Nghiên cứu về vấn đề hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đã có nhiều tác giả đưa ra
nhiều quan điểm khác nhau. Dưới đây là một số quan điểm:
Theo PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa – chủ nhiệm khoa các khoa học giáo dục, Trường
Đại học Giáo dục (ĐHQGHN) cho rằng: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động
giáo dục. Trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được
tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài
xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm
chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình”.
Trong báo cáo tại Hội thảo Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS phổ thông do Bộ
giáo dục và Đào tạo tổ chức (2015) có đề cập: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có ý nghĩa
tăng cường khả năng thực hành cho học sinh, học đi đôi với hành. Mỗi học sinh phải được
hành động theo kinh nghiệm cá nhân, đưa ra các sáng kiến, trải nghiệm từ thực tế, không
ngừng sáng tạo, nuôi dưỡng tính sáng tạo, ham học hỏi của bản thân.
Theo TS. Ngô Thị Tuyên lại có ý kiến trên Diễn đàn Công nghệ giáo dục: Hoạt
động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có động cơ, có đối
tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện
trong thực tế được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường. Đối tượng để trải nghiệm
nằm trong thực tiễn. Qua trải nghiệm thực tiễn, người học có được kiến thức, kỹ năng, tình
cảm và ý chí nhất định. Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn
phải vận dụng kiến thức, kỹ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống
mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự,
độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và phân tích được các yếu tố của
đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm giải pháp thay thế và kết
hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề.
Trên cơ sở tiếp nhận các quan điểm của các tác giả, chúng ta có thể hiểu hoạt động
trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường là những hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền
với kinh nghiệm cuộc sống để học sinh trải nghiệm và sáng tạo. Dưới sự hướng dẫn của
nhà giáo dục thì người học tự hoạt động, trải nghiệm là chính, qua đó giúp phát huy được
năng lực phẩm chất của người học.
1.1.2. Vai trò của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông
HĐTNST nhằm góp phần hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất
năng lực chung nhất là trách nhiệm với bản thân, cộng đồng đất nước, nhân loại và môi
trường tự nhiên; tính tự lập, tự tin, tự chủ; các năng lực sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, tự
quản lí bản thân.
HĐTNST tập trung hình thành cho học sinh thói quen chủ động trong giao tiếp; biết
tự khẳng định và tự quản lý bản thân; tiếp cận được với nghề nghiệp phù hợp với năng
khiếu, sở thích và hướng phát triển của bản thân…
HĐTNST có vai trò rất to lớn trong việc nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí 10 THPT
ở nhà trường, nó góp phần tích cực vào việc nâng cao, mở rộng vốn kiến thức của các em,
rèn luyện kỹ năng Địa lí 10 THPT, tăng cường hứng thú học tập bộ môn và giáo dục lòng
yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước.
Nhờ vào các HĐTNST mà các em được mở rộng, bổ sung, cập nhật các kiến thức
Địa lí cần thiết; các kỹ năng Địa lí của học sinh có được trong học tập ở lớp học có điều
kiện để rèn luyện và củng cố vững chắc nhiều kiến thức Địa lí 10 THPT được các em tìm
tòi, khám phá, sưu tầm hoặc hệ thống hóa sẽ làm giàu vốn tri thức, vốn sống của các em.
1.1.3. Bản chất của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
HĐTNST được phân biệt cới các hình thức tổ chức dạy học khác bởi những đặc
điểm chủ yếu sau đây:
– Là hoạt động và được coi là hoạt động chính khóa của học sinh trong chương
trình.
– Là hoạt động tự nguyện của các nhân hay nhóm học sinh có cùng hứng thú, sở
thích, mối quan tâm về một vấn đề nào đó trong nội dung học tập.
– Giáo viên không cần trực tiếp hoạt động cùng học sinh, học sinh là người tự nhận
thức tri thức; học sinh tự hoạt động; trải nghiêm là chính. Có thể trong nhiều trường hợp
cần thiết còn là người chỉ đạo, điều khiển các HĐTNST của học sinh.
Như vậy bản chất của HĐTNST nhằm góp phần hình thành và phát triển cho học
sinh những phẩm chất, năng lực chung, nhất là trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất
nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; tính tự lập, tự tin, tự chủ; các năng lực sáng tạo;
hợp tác; giao tiếp; tự quản lí bản thân.
1.1.4. Mục tiêu của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Mục tiêu chung: HĐTNST nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các
năng lực tâm lý – xã hội…; giúp học sinh tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy
tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình, làm tiền đề cho mỗi cá nhân tự tạo dựng được sự
nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau này.
Có các mục tiêu cụ thể dưới đây:
1.1.4.1. Mục tiêu về nhận thức kiến thức
– Bổ sung, mở rộng, củng cố tri thức.
– Liên hệ kiến thức vào thực tế cuộc sống lao động.
1.1.4.2. Mục tiêu về giáo dục thái độ
– Tạo hứng thú cho HS trong hoạt động học tập.
– Hình thành cho học sinh niềm tin vào giá trị cuộc sống hiện tại và tương lai, có
tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước.
– Có thái độ đúng đắn trước những vấn đề nhạy cảm được đặt ra, phát huy được
những giá trị tốt đẹp, kiên quyết loại bỏ những cái xấu xa, nguy hại.
– Bồi dưỡng tính tích cực, chủ động sáng tạo, sẵn sàng tham gia các hoạt động xã
hội của tập thể, của trường và lớp cho HS.
1.1.4.3. Mục tiêu về rèn luyện kĩ năng
– Hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, ý chí, giá trị, kỹ
năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hộ hiện đại.
– Rèn luyện cho HS kỹ năng giao tiếp, ứng xử có văn hóa.
– Tích lũy kinh nghiệm tổ chức, điều khiển hoạt động.
– Rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động.
– Rèn luyện kỹ năng thực hiện theo nhóm, khả năng tự điều chỉnh và tự hòa nhập để
thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
1.1.5. Nội dung của tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Trong tài liệu hội thảo “ Những nội dung chính của chương trình giáo dục phổ
thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới” của Bộ Giáo dục và Đào tạo
(2015) có đề cập về nội dung tổ chức HĐTNST trong nhà trường là:
– HĐTNST thuộc loại tự chọn và dành cho HS từ lớp 1 đến lớp 12.
– Nội dung HĐTNST gắn bó với đời sống, địa phương, cộng đồng, đất nước và dễ
vận dụng vào thực tế; được tích hợp từ nhiều lĩnh vực giáo dục, môn học và thiết kế thành
các chủ đề mang tính chất mở và tương đối độc lập với nhau để học sinh và nhà trường lựa
chọn, tổ chức thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp.
– Không tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả HĐTNST với các hình thức tương tự
trên lớp. Mà nhấn mạnh đến kinh nghiệm, năng lực thực hiện, tính trải nghiệm, theo những
yêu cầu riêng, mang tính cá biệt hóa, phân hóa. Thường đánh giá kết quả đạt được bằng
nhận xét.
1.1.5.1. Thời gian tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
HĐTNST rất linh hoạt, đa dạng có thể tiến hành trong học kỳ I hoặc học kỳ II, đầu,
giữa, cuối học kỳ trong năm…Tùy nội dung và đặc điểm của đối tượng tham gia mà quy
định thời gian, tránh gò bó, máy móc ảnh hưởng đến việc thi cử của học sinh.
1.1.5.2. Kế hoạch tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Muốn hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao, người dạy và người học cần xác định
được tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động. Việc tổ chức các HĐTNST cho HS là rất
phức tạp, không chỉ là một loại hình đơn giản mà đòi hỏi có sự kết hợp nhiều hình thức
khác nhau. Những khó khăn và hạn chế của hoạt động sẽ được khắc phục nếu giáo viên và
học sinh biết xây dựng cho mình một hoạt động phù hợp, có khoa học.
Kế hoạch HĐTNST đó là xác định ý tưởng, mục tiêu và những nội dung cần giải
quyết trong từng hoạt động tổ chức. Tuy nhiên, phụ thuộc vào năng lực và phẩm chất của
từng đối tượng HS mà kết quả của hoạt động mang lại cũng khác nhau.
Muốn xây dựng được một kế hoạch HĐTNST phải đảm bảo các yêu cầu chung sau:
– Kế hoạch HĐTNST phải đảm bảo tính khoa học và tính khả thi.
– Đảm bảo sự cân đối giữa học tập, lao động, vui chơi, giải trí và đặc biệt là giáo
dục được kỹ năng, thái độ gì cho HS sau mỗi hoạt động.
Sau khi xây dựng được kế hoạch cho hoạt động thì HS phải chủ động thực hiện kế
hoạch đã đề ra, GV chủ nhiệm và GV bộ môn cần có kế hoạch cụ thể để hướng dẫn và
kiểm tra việc thực hiện hoạt động của HS.
1.1.5.3. Địa điểm tổ chức hoạt động trải nghệm sáng tạo
Địa điểm tổ chức HĐTNST là không gian mà người học thực hiện được quá trình
trải nghiệm của mình. Không gian đa dạng, phong phú, linh hoạt, mở về không gian, thời
gian, quy mô, đối tượng và số lượng, ở trường thì một số địa điểm chủ yếu thường hay tổ
chức như:
– Tổ chức HĐTNST trong lớp học và nội khóa. Theo hình thức này HĐTNST
thường được tổ chức trong lớp học, trong khuôn viên trường (vườn địa lý, sân trường…)
– Tổ chức HĐTNST ngoài lớp và ngoại khóa. Theo hình thức này HĐTNST thường
được tổ chức ở khuôn viên trường (ngoài thiên nhiên, các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp,
đến các thôn, xóm, bản làng…)
1.1.5.4. Phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
HĐTNST là những hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm cuộc
sống để HS trải nghiệm và sáng tạo, chính điều này đòi hỏi các phương pháp tổ chức các
hoạt động đó phải đa dạng, linh hoạt mang tính mở, HS tự hoạt động, tự trải nghiệm là
chính. Cụ thể với một số phương pháp chính tỏng tổ chức HĐTNST ở trường phổ thông
được hai tác giả Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn Thị Hằng – Viện NCSP, Trường ĐHSP
Hà Nội cho rằng các phương pháp thường dùng là:
– Phương pháp giải quyết vấn đề
– Phương pháp đóng vai
– Phương pháp trò chơi
– Phương pháp làm việc nhóm
– Phương pháp đàm thoại
– Phương pháp thuyết trình
1.1.5.5. Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong và lên lớp
Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất đa dạng, phong phú, linh hoạt,
mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng, và số lượng…Một số hình thức tổ chức
các HĐTNST trong nhà trường phổ thông được tác giả Bùi Ngọc Diệp ở Viện Khoa học
Giáo dục Việt Nam đề cập đến như:
– Hoạt động Câu lạc bộ
– Tổ chức trò chơi
– Tổ chức diễn đàn
– Sân khấu tương tác
– Hội thi, cuộc thi
– Tổ chức sự kiện
– Hoạt động giao lưu
– Hoạt động nhân đạo
– Báo cáo chuyên đề
– Sinh hoạt tập thể
-…
Như vậy, HĐTNST trong nhà trường phổ thông được thực hiện nhằm mục tiêu đào
tạo ra những con người có chí hướng, có đạo đức, có định hướng tương lai, có khả năng
sáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tiễn, đồng thời
biết chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh. HĐTNST về cơ bản mang tính chất là
các hoạt động tập thể trên tunh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực nhằm phát triển khả
năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi các nhân trong tập thể.
HĐTNST coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của học sinh, vì vậy
nên tổ chức cho HS và GV cùng tham gia bàn bạc, nêu ý kiến hoặc tự HS xây dựng kế
hoạch và phân chia công việc, nhiệm vụ rồi thực hiện. Tùy thuộc vào đặc trưng về văn
hóa, khí hậu, đặc điểm vùng miền, điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi địa phương, nhà
trường có thể lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức cho phù hợp và hiệu quả. Các hình
thức tổ chức HĐTNST được trình bày ở trên là những gợi ý để nhà trường tổ chức có hiệu
quả nhất hoạt động giáo dục của mình, đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục.
Có nhiều lực lượng tham gia chỉ đạo, tổ chức các hoạt động trải nghiệm với các
mức độ khác nhau (GV, phụ huynh, nhà hoạt động xã hội, chính quyền, doanh nghiệp…)
1.1.5.6. Chất lượng tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Chất lượng HĐTNST là kết quả thu được của bản thân sau một quá trình tham gia
HĐTNST. Chất lượng của HĐTNST phụ thuộc trước hết vào năng lực của bản thân, những
biểu hiện của chất lượng HĐTNST là:
– Kiến thức: là sự hiểu biết, nắm vững, sâu, rộng những kiến thức từ thực tế.
– Kĩ năng, mức độ ảnh thành thạo các kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng làm việc tập
thể, kĩ năng tham gia vào lao động, sản xuất…
– Phẩm chất năng lực: là tính tự giác, độc lập, chủ động và sáng tạo.
1.1.6. Hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.1.6.1 Phân biệt môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình
giáo dục phổ thông mới
Bảng 1.1. Phân biệt môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Yếu tố so sánh
Môn học
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hình thành và phát triển tri Hình thành và phát triển những
Mục đích chính thức khoa học, năng lực nhận phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm,
thức và hành động của HS
giá trị, kỹ năng sống và những năng
lực chung cần có ở con người trong
xã hội hiện đại
– Kiến thức khoa học, nội – Kiến thức thực tiễn gắn bó với đời
dung gắn với các kĩnh vực sống địa phương, cộng đồng, đất
chuyên môn.
nước, mang tính tổng hợp, nhiều lĩnh
– Được thiết kế thành các vực giáo dục, nhiều môn học, để vận
Nội dung
phần, chương, bài, có mối dụng vào thực tế.
quan hệ logic chặt chẽ các – Được thiết kế thành các chủ điểm
modune tương đối hoàn chỉnh mang tính mở, không yêu cầu mối
liên hệ chặt chẽ giữa các chủ điểm.
– Đa dạng có quy trình chặt – Đa dạng phong phú, mềm dẻo, linh
chẽ, hạn chế về không gian, hoạt, mở về không gian, thời gian,
thời gian, quy mô và đối quy mô, đối tượng và số lượng…
tượng tham gia,…
– HS có nhiều cơ hội trải nghiệm cá
Các hình thức
– HS ít có cơ hội trải nghiệm nhân.
cá nhân.
tổ chức
– Có nhiều lưc lượng tham gia chỉ
– Người chỉ đạo, tổ chức hoạt đạo, tổ chức các hoạt động trải
động học tập chủ yếu là GV.
nghiệm với các mức độ khác nhau
(GV, phụ huynh, nhà hoạt động xã
hội, chính quyền, doanh nghiệp,…)
– Chủ yếu là thầy – trò
– Đa chiều
Tương tác,
– Thầy chỉ đạo hướng dẫn, trò – HS tự hoạt động, trải nghiệm là
phương pháp
hoạt động là chính.
chính.
– Nhấn mạnh đến năng lực tư – Nhấn mạnh đến kinh nghiệm, năng
duy.
lực thể hiện, tính trải nghiệm.
– Theo chuẩn chung.
– Theo những yêu cầu riêng, mang
Kiểm tra,
– Thường đánh giá kết quả tính cá biệt hóa, phân hóa.
đánh giá
bằng điểm số.
– Thường đánh giá kết quả đạt được
bằng nhận xét.
Ngoài những HĐTNST được thiết kế thành hoạt động riêng, trong từng môn học
cũng cần coi trọng việc tổ chức, hướng dẫn các HĐTNST phù hợp với đặc trưng nội dung
môn học và điều kiện dạy học.
Bảng 1.2. Sự khác nhau giữa hoạt động dạy học và HĐTNST
Yếu tố so sánh
Mục đích
Chức năng,
Hoạt động dạy học
HĐTNST
Nhằm chủ yếu hình hành: Năng Nhằm chủ yếu hình thành: Phẩm
lực trí tuệ, kỹ năng trí tuệ
chất nhân cách, giá trị, kỹ năng sống
– Chủ yếu nhằm thực hiện – Chủ yếu nhằm thực hiện nhiệm vụ
nhiệm vụ
Đối tượng
nhiệm vụ giáo dục trí tuệ.
– Có thế mạnh về mặt phát triển
trí tuệ, nhận thức, hình thành
các biểu tượng, khái niệm, định
luật, lý thuyết, các kỹ năng, kỹ
xảo…
– Hệ thống khái niệm
– Hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo được quy định chặt chẽ,
phù hợp logic nhận thức, tuân
theo nội dung chương trình, kế
hoạch dạy học nhằm đạt được
mục tiêu giáo dục xác định
Lĩnh vực
Môn học/ khoa học
Cơ chế
hình thành
Thời gian
Con đường nghiên cứu khoa
học, logic cao
Chiếm lĩnh nhanh hơn
Lớp/bài
Hệ thống bài lên lớp (theo thời
khóa biểu), xemina, thực hành,
thí nghiệm.
Hình thức
chủ yếu
Không gian
Phòng học là chủ yếu
Phương thức
– Truyền đạt, phân tích, giảng
giải…
– Hình thức: chủ yếu cá nhân
Mục đích
trải nghiệm
Chủ động chiếm lĩnh kiến thức,
lý luận thông qua việc giải
quyết nhiệm vụ của thực tiễn
giáo dục đào tạo, thẩm mĩ, sức khỏe,
lao động…
– Có thế mạnh về mặt xúc cảm, thái
độ: Hình thành niềm tin, chuẩn mực,
lý tưởng, động cơ, nguyên tắc, hành
vi, lối sống.
– Hệ thống giá trị, chuẩn mực.
– Hệ thống các chuẩn mực xã hội
(các định hướng giá trị về đạo đức,
văn hóa, thẩm mĩ…), có tính không
chắc chắn chủ yếu dựa theo nhu cầu
xã hội, nguyện vọng và hứng thú của
đối tượng
Chủ đề chủ điểm, nội dung giáo dục
(nghĩa hẹp) đa dạng phong phú
Tác động vào cảm xúc, nhiều khi phí
logic
Lâu dài hơn, bền bỉ hơn
Nhóm/ nội dung giáo dục
Các sinh hoạt tập thể, hoạt động xã
hội, tham quan, lao động công ích,
các sinh hoạt thường nhật
Ngoài lớp học thông thường, tỏng
nhà máy, trong cuộc sống xã hội…
– Trải nghiệm, biểu diễn, chiêm
nghiệm…
– Hình thức: chủ yếu HĐ tập thể
Chủ động chiếm lĩnh kiến thức, tích
lũy kinh nghiệm quan hệ, hoạt động,
ứng xử, giải quyết vấn đề… để thích
ứng với sự đa dạng của cuộc sống
luôn vận động.
– Chủ yếu đánh giá kiến thức
– Nhấn mạnh đến kinh nghiệm, thái
khoa học học được đã được vận
Kiểm tra
độ thực hiện, tính trải nghiệm, cảm
dụng như thế nào vào thực tiễn.
xúc, giá trị, niềm tin, thói quen…
đánh giá
– Thường sử dụng đánh giá
– Thường sử dụng đánh giá định tính.
định lượng
1.1.7. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.1.7.1. Giáo viên
GV là chủ thể tổ chức hoạt động nhận thức của HS trong bài dạy học trên lớp. Do
vậy GV là người quyết định các cách thức tổ chức HĐTNST của HS. Các cách thức tổ
chức HĐTNST của HS do GV đưa ra chịu sự chi phối của các yếu tố: trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, và tình yêu nghề nghiệp của GV.
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV định hướng khả năng tổ chức các HĐ
nhận thức của HS khả năng truyền đạt kiến thức, lập luận và giảng giải các vấn đề,…
Đồng thời với yếu tố trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, yếu tố tình yêu nghề nghiệp
là động lực thúc đẩy GV tổ chức hoạt động nhận thức của HS tốt hơn. Khi GV yêu nghề
họ sẽ tìm mọi cách để đạt kết quả cao nhất. Với lòng yêu nghề GV sẽ đầu tư và say mê hơn
với công việc. Từ đó nảy sinh những yếu tố sáng tạo trong tổ chức HĐTNST của người
GV.
1.1.7.2. Học sinh
HS là đối tượng để GV tổ chức các hoạt động nhận thức, là đối tượng tác động trực
tiếp đễn cách thức tổ chức hoạt động nhận thức trông mỗi bài dạy học Địa lí 10 THPT.
Khả năng nhận thức của HS là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc tổ chức
hoạt động nhận thức của các em. Chính khả năng của các nhóm HS khá giỏi, trung bình
hay yếu kém đã tác động đến hình thức tổ chức HĐTNST.
Yếu tố hứng thú, nhiệt tình, sáng tạo của HS cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy công
tác tổ chức HĐTNST trong nhà trường phổ thông.
1.1.7.3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho môn học Địa lí 10 THPT
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho môn học cũng là nhân tố ảnh hưởng đến
tổ chức hoạt động nhận thức cho HS. Cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị dạy học môn Địa
lí 10 THPT thiếu thốn, lạc hậu sẽ làm cho việc sử dụng các hình thức tổ chức dạy học nói
chung, tổ chức HĐTNST nói riêng. Phương pháp dạy học của thầy sẽ không giống như
nếu có phương tiện đầy đủ, hiện đại. Ví dụ: Muốn tổ chức HS toàn lớp bằng phương pháp
quan sát trên băng hình về những hình ảnh ô nhiễm môi trường để từ đó cho HS HĐTNST
về ý thức bảo vệ môi trường sống mà không có máy chiếu thì rất khó thực hiện thật tốt các
HĐTNST được.
1.1.7.4. Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đối với môn học Địa lí 10 THPT
Mặc dù là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng đến việc tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh,
song sự quan tâm của các cấp lãnh đạo nhà trường đã ảnh hưởng không nhỏ đối với tổ
chức hoạt động nhận thức cho HS. Đây là nhân tố động viên, khích lệ việc thực hiện nhiệm
vụ của GV. Nếu như các cấp lãnh đạo thường xuyên động viên, tạo điều kiện cho GV thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học sẽ giúp cho GV thực hiện tốt tổ chức dạy học Địa lí 10
THPT theo hướng phát huy tính tích cực của HS.
1.2. Dạy học ngoài giờ lên lớp
1.2.1. Khái niệm dạy học ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) là những hoạt động giáo dục
được thực hiện ngoài thời gian hoc tập, nhằm lôi cuốn đông đảo HS tham gia để mở rộng
hiểu biết, tạo không khí vui tươi lành mạnh, tạo cơ hội để HS rèn luyện thói quen sống
trong cộng đồng và phát huy tối đa năng lực, sở thích của từng cá nhân.
HĐGDNGLL là một mặt hoạt động giáo dục cơ bản được thực hiện một cách có
mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần hình thành nhân cách học sinh theo mục
tiêu đào tạo, đáp ứng nhu cầu đa dạng xã hội.
HĐGDNGLL được phân chia hai mức độ do phạm vi tác động của lực lượng tổ
chức các hoạt động chi phối. Đó là hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và hoạt động giáo
dục ngoài nhà trường. HĐGDNGLL do nhà trường quản lí chỉ đạo, với sự tham gia của
các lực lượng xã hội. Nó được tiến hành xen kẽ hoặc tiếp nối hoạt động dạy học trong
phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội. Hoạt động này diễn ra trong suốt năm học
và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình đào tạo, làm cho quá trình này được thực hiện
ở mọi nơi mọi lúc.
HĐGDNGLL là tổ chức cuộc sống của thanh thiếu niên để giáo dục, là cuộc sống
thực của họ về học tập, lao động, vui chơi…giáo dục ngoài nhà trường là trách nhiệm của
toàn xã hội, của gia đình học sinh, nhà trường đóng vai trò cố vấn sư phạm và phối hợp tổ
chức.
1.2.2. Đặc điểm dạy học ngoài giờ
Về bản chất:
– Việc tổ chức dạy học ngoài giờ nặng về tự nguyện tùy hứng thú HS.
– Dạy học ngoài giờ nhằm phát huy năng khiếu, tính linh hoạt, phù hợp với tâm sinh
lí của HS.
– Tổ chức dạy học ngoài giờ có khả năng thu hút nhiều HS tham gia.
Về nội dung:
– Tổ chức hoạt động ngoài giờ có tính chất bổ sung, mở rộng nội khóa.
– Ngoại khóa không phụ thuộc vào chương trình nội khóa.
– Ngoại khóa có thể đi sâu, mở rộng một bộ phận cần thiết, một nội dung hay một
chương của chương trình học cho các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn nghệ, thể thao.
Về hình thức: Có hình thức tổ chức rất linh hoạt theo toàn trường, toàn lớp, nhóm,
tổ…Do đó có thể huy động nhiều người tham gia thực hiện.
Về thời gian: Linh hoạt đa dạng có thể tiến hành trong học kỳ I, học kỳ II, đầu,
giữa, cuối học kỳ…
1.2.3. Vai trò của dạy học ngoài giờ
HĐNGLL có vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục. Quá trình giáo dục đối với
học sinh THPT có nhiều thú vị nhưng cũng không ít phức tạp, đòi hỏi phải có sự khéo léo,
kịp thời đúng đắn, lôi cuốn các em hoạt động, nhằm phát huy khuynh hướng tự lập, sáng
tạo, tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật. Vì vậy có thể nói HĐNGLL có vị trí then chốt
trong quá trình giáo dục nhằm định hướng, điểu chỉnh quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao.
Hoạt động giáo dục kỹ năng ngoài giờ là một bộ phận bắt buộc trong kế hoạch dạy
học ở trường phổ thông đã được Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành, là một nội dung trong
công tác quản lý của các cấp chỉ đạo và quản lý giáo dục. Hoạt động giáo dục kỹ năng
ngoài giờ có quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy học, tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực
hành, thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần quan trọng vào sự hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện của HS trong giai đoạn hiện nay.
Hoạt động giáo dục kỹ năng ngoài giờ là dịp để HS củng cố kiến thức đã học trên
lớp, biến tri thức thành niềm tin ở mỗi HS. Đây là điểm rất cơ bản của Hoạt động giáo dục
kỹ năng ngoài giờ, khác với hoạt động ngoại khóa môn học.
1.2.4. Nguyên tắc của dạy học ngoài giờ
Để đảm bảo hiệu quả cao của hoạt động này, quá trình tổ chức phải tuân theo các
nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính mục đích và tính kế hoạch của toàn bộ hoạt động.
– Hoạt động được nằm trong kế hoạch của toàn năm học.
– Mục đích, hình thức, nội dung dã có dự kiến trong kế hoạch.
Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính thích hợp và tính hiệu quả
– Kế hoạch hoạt động phải khả thi: vừa sức, phù hợp với điều kiện (năng lực của
học sinh, kinh tế, cơ sở vật chất, thời gian…)
– Trong quá trình tổ chức hoạt động cần tránh những câu hỏi quá dễ gây ra sự nhàm
chán hay những vấn đề quá khó gây ra sự ức chế làm cho HS bế tắc.
Nguyên tắc 3: Đảm bảo sự thống nhất của ngoại khóa và nội khóa.
Nguyên tắc 4: Đảm bảo sự thống nhất giữa chỉ đạo của GV với tính tự quản của HS
Hoạt động có tổ chức, kỷ cương, nhưng phải phát huy tối đa sáng kiến, sáng tạo, tự
giác, tích cực, chủ động của HS.
Nguyên tắc 5: Nội dung sinh hoạt phải linh hoạt, phong phú nhưng cân đối giữa các
loại hình.
Các hình thức phải đa dạng, có thể kết hợp các nội dung giáo dục.
Nguyên tắc 6: Trong điều kiện khách quan cho phép, huy động tối đa HS tham gia
không phân biệt giỏi, kém.
Nguyên tắc 7: Có sự tự nguyện, chủ động và hứng thú của HS.
– Khi đã tự nguyện, tự giác HS sẽ khắc phục được mọi khó khăn để hoàn thành
nhiệm vụ được giao; mặt khác gặp thất bại các em sẽ không nản chí.
– Các nhóm HS tự nguyện tham gia ngoại khóa là nhóm bạn tâm đắc về ý thức và sở
trường, như vậy sẽ hình thành các tập thể HS liên kết với nhau theo hứng thú. Trong tập
thể tự nguyện này, HS sẽ tự bộc lộ đầy đủ hơn những kỹ năng, năng lực mà trong quá trình
học tập các em ít bộc lộ.
Nguyên tắc 8: Huy động sự tham gia, giúp đỡ của nhà trường, chính quyền địa
phương, hội phụ huynh HS…
1.2.5. Các hình thức tổ chức dạy học ngoài giờ
Để tổ chức dạy học ngoài giờ lên lớp, có các hình thức sau:
– Tổ chức Câu lạc bộ Địa lí.
– Tổ chức tham quan Địa lí.
– Tổ chức triển lãm Địa lí.
– Tổ chức báo cáo chuyên đề Địa lí.
– Tổ chức dự án Địa lí.
1.3. Phân biệt giữa hoạt động trải nghiệm sáng tạo và hoạt động ngoài giờ lên lớp
Bảng 1.3. Bảng phân biệt giữa hoạt động TNST và hoạt động ngoài giờ lên lớp
Vị trí, vai
trò
Mục tiêu
Nội dung
Hoạt động TNST
Hoạt động GDNGLL
– Là bộ phận của chương trình; có – Là một bộ phận của chương trình;
quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy có quan hệ chặt chẽ với hoạt động
học.
dạy học.
– Gắn lý thuyết với thực tiễn phát – Gắn lý thuyết với thực tiễn, phát
triển phẩm chất nhân cách và năng triển nhân cách toàn diện của HS.
lực chung, năng lực đặc thù.
– Được tổ chức ngoài giờ học các
môn văn hóa.
HĐ TNST nhằm hình thành và phát – Kiến thức: củng cố, mở rộng,
triển nhân cách, các năng lực tâm lý khắc sâu kiến thức đã học; nâng
– xã hội…; giúp HS tích lũy kinh cao hiểu biết về các kĩnh vực của
nghiệm riêng cũng như phát huy đời sống xã hội và giá trị truyền
tiềm năng sáng tạo của cá nhân thống, giá trị nhân loại.
mình; làmt iền đề cho mỗi cá nhân – Kỹ năng: góp phần hình thành
tạo dựng được sự nghiệp và cuộc năng lực chủ yếu như tự hoàn thiện,
sống hạnh phúc sau này.
thích ứng, hợp tác, giao tiếp ứng
xử, có lối sống phù hợp với các giá
trị xã hội.
Lĩnh vực nội dung:
Mạch nội dung:
– Giáo dục và phát triển cá nhân.
– Giáo dục truyền thống
– Quê hương đất nước và hòa bình – Ý thức học tập
thế giới
– Tổ quốc, Đảng, Đoàn
– Tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc – Tình bạn, tình yêu, gia đình.
gia đình.
– Hòa bình, hữu nghị, hợp tác.
– Thế giới nghề nghiệp.
– Tình nguyện.
– Khoa học và nghệ thuật.
Được thể hiện trong 9 hoặc 10 chủ
Được thể hiện qua các chủ đề đa đề theo tháng.
dạng, phong phú vừa đảm bảo yêu
Chương
trình tự
chọn hay
bắt buộc
Phương
pháp và
hình thức
tổ chức
Đánh giá
Sử dụng
kết quả
đánh giá
cầu chung vừa phù hợp với đặc điểm
của từng địa phương.
– Song song 2 chương trình: chương – Một chương trình chung cho tất
trình bắt buộc đối với 100% HS và cả.
chương trình tự chọn.
– Hình thức giống nhau. Phương
pháp: Thiết kế nhiệm vụ rõ ràng
hướng tới mục tiêu hình thành các
năng lực cụ thể.
– Đánh giá năng lực cụ thể thông qua
các chỉ số hành vi và tiêu chí chất
lượng.
– Thông qua các công cụ cho mỗi
hình thức.
– Đánh giá quá trình và kết quả hoạt
động trên từng cá nhân và xác định
được vị trí của mỗi HS trên đường
phát triển năng lực.
– Minh chứng: bộ hồ sơ hoạt động
của HS.
– Để báo cáo kết quả hoạt động của
HS cho các bên liên quan.
– Điều chỉnh các yếu tố giúp HS
nâng cao mức độ năng lực trên
đường phát triển.
– Là điều kiện cần của đánh giá xếp
loại toàn diện HS để xét trên lớp,
chuyển cấp và xét tuyển cho những
hoạt động đặc thù.
– Hình thức giống nhau
Phương pháp: Hướng dẫn hoạt
động chung, phát huy vai trò chủ
thể của học sinh trong hoạt động.
– Đánh giá sự phát triển về nhận
thức, kỹ năng, thái độ.
– Thực hiện bằng nhiều con đường:
tự nhận xét, nhận xét của tập thể,
của các giáo viên qua quan sát hoạt
động, trò chuyện, qua sản phẩm.
Như vậy, hai hoạt động này có vị trí và vai trò và hình thức tổ chức khá thống nhất.
Tuy nhiên, sự khác nhau cơ bản ở chỗ là trong HĐ TNST, mục tiêu được diễn đạt dưới
dạng năng lực và các năng lực này được đánh giá thông qua phương pháp và công cụ
chuyên biệt; cách thức tổ chức hoạt động phải làm sao để 100% HS tham gia trong các
hoạt động bắt buộc và được tự chọn tham gia những nội dung mình yêu thích; từng cá
nhân phải được đánh giá và xếp loại với minh chứng là hồ sơ về quá trình hoạt động
(giống như kết quả học tập) và kết quả đánh giá được sử dụng cho việc xếp loại hay xét
tuyển…
1.4. Cấu trúc và đặc điểm chương trình SGK Địa lí 10 THPT 10
1.4.1. Đặc điểm về cấu trúc
– Sách có cấu trúc chia làm 2 phần: Địa lí tự nhiên đại cương và Địa lí kinh tế – xã
hội đại cương.
– Sách chuẩn có 10 chương, 42 bài học. Sách nâng cao có 13 chương, 58 bài học
1.4.2. Đặc điểm về nội dung
– Sách có tên gọi: Địa lí đại cương, sách xây dựng theo các bài học, mỗi bài học
được trình bày trong một tiết.
– Sách có hai kênh: kênh hình và kênh chữ.
– Kênh hình:
+ Hệ thống kênh hình trong SGK Địa lí10 rất phong phú và đa dạng như: hình vẽ,
bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, bảng số liệu,… trong đó chủ yếu là các hình vẽ, biểu đồ,
tranh ảnh.
+ Số lượng kênh hình trong SGK nhiều (Địa lí là một trong những môn học mà có
số lượng kênh hình trong SGK nhiều nhất). Nó không chỉ là những hình ảnh, biểu đồ, lược
đồ…minh họa kiến thức cho kênh chữ mà còn là nguồn tri thức yêu cầu HS phải khai thác
và nắm bắt.
+ Kênh hình phong phú đa dạng đi từ mức độ dễ (minh họa kiến thức cho kênh chữ)
đến mức độ khó (là nguồn tri thức yêu cầu HS phải khai thác và nắm bắt) đối với HS, đó là
một hệ thống logic kết hợp chặt chẽ với kênh chữ.
+ Được in màu chất lượng tốt, mang tính thẩm mỹ, khoa học, sư phạm.
– Kênh chữ:
+ Được trình bày dưới dạng các đoạn văn ngắn ở phần giới thiệu bài, những đoạn
văn tường minh trong bài mới, câu hỏi giữa bài, phần tóm tắt bài, phần câu hỏi bài tập cuối
bài. Trong đó SGK cơ bản có 108 câu hỏi giữa bài, SGK nâng cao có 143 câu hỏi giữa bài.
+ Kênh chữ được trình bày ngắn gọn, súc tích và rất logic, những câu hỏi giữa bài
và câu hỏi bài tập cuối bài phù hợp với trình độ của HS, phát huy được tư duy logic và sự
sáng tạo của HS.
+ Có sự kết hợp 2 phương thức trình bày là diễn dịch và quy nạp
+ Nêu khái niệm, phân tích và giải thích khái niệm.
– SGK Địa lí 10 có số lượng bài thực hành tương đối lớn. Sau mỗi chương, đều có 1
đến 2 bài thực hành:
+ Sách cơ bản có 7 bài thực hành trên tổng số 42 bài chiếm 16,6%
+ Sách nâng cao có 14 bài thực hành trên tổng số 58 bài chiếm 24,13%.
+ Bài thực hành rèn luyện cho HS kỹ năng xác định một số yếu tố trên bản đồ (kỹ
năng bản đồ), phân tích biểu đồ, phân tích một số yếu tố tự nhiên, mối quan hệ qua lại,
nhân quả giữa các yếu tố, kỹ năng xây dựng (vẽ) biểu đồ, kỹ năng vẽ lược đồ, phân tích số
liệu thống kê, tìm hiểu một số vấn đề về môi trường địa phương.
– Sách Địa 10 có hệ thống câu hỏi giữa bài, cuối bài. Các câu hỏi giữa bài nhằm
chốt kiến thức cơ bản hoặc giúp HS tự nghiên cứu, hay rèn luyện kỹ năng Địa lí 10 THPT
cho HS.
1.4.3. Đặc điểm về phương pháp
– Cấu trúc, đặc điểm chương trình SGK 10 có khả năng tạo điều kiện cho GV sử
dụng các phương pháp dạy học tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tư duy của HS.
– Kênh hình và kênh chữ trong SGK Địa lí 10 đã tạo điều kiện thuận lợi cho GV sử
dụng phối hợp nhiều hình thức tổ chức dạy học như: dạy học theo lớp, theo nhóm và cá
nhân, đặc biệt là nhóm lớn và nhóm nhỏ.
– Tạo điều kiện cho GV sử dụng các phương tiện dạy học theo hướng hướng dẫn HS
tự khai thác tri thức trên phương tiện.
– Tạo điều kiện cho GV hướng dẫn HS phương pháp tự học, tự nghiên cứu trong
học tập môn Địa lí 10 THPT.
1.4.4. Những thuận lợi và khó khăn của chương trình SGK Địa lí 10 THPT 10 đến các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.4.4.1. Thuận lợi
Khi tổ chức HĐ TNST thì GV không cần phải giải thích, phân tích các khái niệm đã
học ở lớp 10 vì hệ thống kênh chữ trong SGK đã thể hiện một cách rõ ràng và đầy đủ rất
thuận lợi cho HS nhận thức được vấn đề.
Nhờ hệ thống kênh hình mà HS có thể xây dựng các tình huống một cách ngắn gọn,
trực quan để giải quyết vấn đề nhanh hơn.
1.4.4.2. Khó khăn
Kiến thức Địa lí THPT nói chung và kiến thức Địa lí 10 nói riêng, bên cạnh những
kiến thức chung thì có những kiến thức cụ thể có liên quan đến những vấn đề chung của
thế giới hoặc đến các khu vực, các quốc gia…nên không thuận lợi cho các HĐ TNST.
Có khá nhiều thuật ngữ, khái niệm mới về Địa lí mà HS chưa nắm được. Như vậy,
khiến HS khó có thể áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế khi tham gia các
HĐTNST.
Khi xây dựng các tình huống trong các hoạt động dạy học rất khó vì tình huống xảy
ra thường chứa mâu thuẫn, nhưng kênh hình mang tính trực quan, ít mâu thuẫn xảy ra, dẫn
đến kết quả phương pháp dạy học không cao.
1.5. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 10 THPT
1.5.1. Đặc điểm về tâm lý lứa tuổi
Học sinh lớp 10 thường có độ tuổi từ 14 – 15 tuổi, đây là độ tuổi thanh thiếu niên
mới lớn, sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi này chịu tác động của hai yếu tố: sinh lí và xã hội.
Sự phát triển về mặt cơ thể, các em thể hiện mình như một người lớn, do đó có tính
độc lập, tự chủ trong hoạt động của mình, hình thành ở các em ý thức lao động, học tập,
tinh thần và làm chủ tập thể.
Sự phát triển về mặt tâm lý, đặc biệt phát triển về mặt xã hội nên các em có cơ hội
tiếp nhận nhiều thông tin, có sự chín chắn về mặt kinh nghiệm hơn các em thiếu niên, khả
năng tiếp thu của các em cũng nhạy bén và sáng tạo hơn.
1.5.2. Đặc điểm về học tập và hoạt động trí tuệ
– Trong hoạt động học tập:
+ Về nội dung: Phương pháp, mục đích, cách thức học tập khác xa với các lớp học
trước, hoạt động tự học, tự nghiên cứu được phát triển cao.
+ Thái độ có ý thức hoch tập của học sinh đối với học tập ngày càng phát triển,
được thúc đẩy bằng động cơ và mục đích học tập. Ngoài các môn học chính các em còn
học nhiều môn học khác phù hợp với chức năng, hứng thú học tập và gắn liền với định
hướng nghề nghiệp, ý thức thái độ học tập cũng đã tốt hơn đã thúc đẩy sự phát triển có chủ
định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân trong quá trình học tập.
– Đặc điểm về hoạt động trí tuệ:
+ Sự phát triển trí tuệ ở lứa tuổi này là tính chủ định đóng vai trò thống trị, tính chủ
định được phát triển mạnh mẽ ở tất cả các quá trình nhận thức, vai trò của ghi nhớ logic,
ghi nhớ ý nghĩa ngày càng tăng lên một cách rõ rệt.
+ Khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo, tư duy
ngày càng chặt chẽ, có căn cứ và ngày càng nhất quán hơn. Đồng thời tính phê bình của tư
duy ngày càng phát triển, thế giới quan dần dần được hình thành.
+ Tri thức có mục đích đã đạt tới mức cao, tri giác có mục đích trở nên có hệ thống
và hoàn thiện hơn.
1.5.3. Đặc điểm về nhân cách chủ yếu
– Về sự tự ý thức: ở lứa tuổi này đã phát triển tốt, các em thể hiện thái độ của cá
nhân đối với những công việc xung quanh như bằng lòng hay không bằng lòng.
– Giao tiếp và đời sống tình cảm: Giao tiếp thường xảy ra trong các nhóm tâm lý có
cùng sở thích, nhu cầu hoặc đôi bạn, tình bạn đã đi vào chiều sâu so với lứa tuổi trước.
Như vậy đặc điểm tâm sinh lí và hoạt động nhận thức của các em học sinh lớp 10
hiện nay đã hoàn thiện đến một khả năng hoàn thiện nhất định.
Năng lực quan sát của các em trở nên sâu sắc và nhạy bén, không dừng ở chỗ chỉ
giúp các em ghi nhớ các sự kiện mà còn tạo cơ sở để các em suy luận, so sánh, phân tích
các đối tượng Địa lí trong quá trình nhận thức.
Đây là lứa tuổi quyết định hình thành nhân sinh quan, thế giới quan xã hội, tự
nhiên, các nguyên tắc và các quy tắc ứng xử.
Vì vậy, việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong môn Địa lí lớp 10
THPT, không những đáp ứng về nhu cầu giáo dục của môn học mà còn đáp ứng nhu cầu
về tâm lý lứa tuổi của HS, giúp các em có khả năng tìm hiểu, phát triển và giải quyết các
vấn đề dựa trên cơ sở tự giác, được tự do, được tạo khả năng và điều kiện chủ động trong
hoạt động học tập, nghiên cứu và giải quyết vấn đề.
1.5.4. Những thuận lợi và khó khăn của đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 10 đến việc
tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.5.4.1. Thuận lợi
Đối với HS lớp 10, đây là lứa tuổi mới lớn, các em đã dần hoàn thiện cả về thể chất
và nhân cách nên rất thuận lợi trong việc tổ chức hoạt động TNST trong dạy học ngoài giờ
cũng như trên lớp. Ở lứa tuổi này, các em đã hình thành được ý thức, phát triển tư duy lý
luận, óc sáng tạo và tính phê phán. Các em rất hứng thú với các hoạt động có sự va chạm
thực tế. Do đó, việc tổ chức HĐ TNST là rất thích hợp.
Khi tổ chức HĐ TNST thì GV không cần phải giải thích, phân tích các khái niệm đã
học ở lớp 10 vì hệ thống kênh chữ trong SGK đã thể hiện một cách rõ ràng và đầy đủ rất
thuận lợi cho HS nhận thức được vấn đề.
Trong hệ thống sơ đồ, lược đồ, các hiện tượng Địa lí 10 THPT kinh tế – xã hội được
biểu hiện gắn liền với vùng lãnh thổ cụ thể. Do đó, khi GV tổ chức HĐ TNST trên lớp có
thể cho HS dùng kiến thức kênh hình để giải quyết vấn đề GV đưa ra một cách thuận lợi
hơn.
Nhờ hệ thống kênh hình mà HS có thể xây dựng các tình huống một cách ngắn gọn,
trực quan để giải quyết vấn đề nhanh hơn.
1.5.4.2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi, ở lứa tuổi này, tư duy độc lập của các em chưa phát triển
hoàn thiện, suy nghĩ và kết luận vội vàng, theo cảm tính. Vì vậy, các em chưa nhận thức
hết về HĐ TNST
Kiến thức Địa lí 10 THPT lớp 10 cơ bản là kiến thức chung nên khó khăn trong việc
xác định các chủ đề tổ chức HĐ TNST trên lớp.
Có khá nhiều thuật ngữ, khái niệm mới về Địa lí 10 THPT mà HS chưa nắm được.
Như vậy, khiến HS khó có thể áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế khi tham gia
các hoạt động TNST.
Khi xây dựng các tình huống trong các hoạt động dạy học rất khó vì tình huống xảy
ra thường chứa mâu thuẫn, nhưng kênh hình mang tính trực quan, ít mâu thuẫn xảy ra, dẫn
đến kết quả phương pháp dạy học không cao.
Thời gian dạy học, phương tiện, thiết bị dạy học chưa thật sự được đảm bảo để tổ
chức có hiệu quả HĐ TNST.
CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
TRONG DẠY HỌC NGOÀI GIỜ MÔN ĐỊA LÍ 10 THPT 10 THPT
2.1. Khả năng môn Địa lí 10 THPT 10 để tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
trong dạy học
2.1.1. Môn Địa lí 10 THPT
Chương trình Địa lí 10 bao gồm hai nội dung chính: Địa lí tự nhiên đại cương và
Địa lí kinh tế – xã hội, các kiến thức Địa lí 10 có liên quan chặt chẽ đến thực tế, mang tính
thời sự, nhiều đường lối, chính sách kinh tế – xã hội, điều này rất thuận lợi cho các em thực
hiện được các hình thức của HĐTNST trong dạy học như: câu lạc bộ, trò chơi Địa lí 10
THPT…Từ đó giúp HS dễ dàng liên hệ thực tế để giải quyết vấn đề một cách logic và chặt
chẽ.
Các hiện tượng về Địa lí tự nhiên và kinh tế – xã hội được biểu hiện bằng hệ thống
kiến thức sơ đồ, lược đồ gắn liền với từng vùng lãnh thổ cụ thể. Khi GV tổ chức các
HĐTNST học sinh có thể dễ dàng nhận biết để giải quyết vấn đề do GV đưa ra một cách
thuận lợi.
Những kiến thức chung về dân cư, dân số, phân bố dân cư, các loại hình tổ chức sản
xuất phổ biến trên thế giới hay Việt Nam (nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải,
thông tin liên lạc, thương mại…), mối quan hệ giữa môi trường, tài nguyên thiên nhiên và
sự phát triển bền vững…là những nội dung rất phong phú đa dạng và rất phù hợp để tổ
chức HĐTNST trong dạy học .
2.2. Điều kiện để tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Địa lí
2.2.1. Đối với giáo viên
Có thể nói thành công của mỗi lần tổ chức HĐTNST có hay không phụ thuộc rất
lớn vào người GV. Vì thế GV ở trường phổ thông cần tích cực, nhiệt tình và năng nổ trong
việc tổ chức hoạt động ngoại khóa nói chung và tổ chức HĐTNST nói riêng.
– GV cần xác định được chủ đề thích hợp với nội dung bài học trong SGK, phù hợp
với đối tượng HS và phù hợp với co sở vật chất hiện có của nhà trường.
– GV cần mạnh dạn đề xuất ý kiến đối với ban giám hiệu nhà trường, cũng như phụ
huynh để tăng cường việc tổ chức HĐTNST cho các em hơn.
– GV phải tích cực đổi mới, đa dạng hơn nữa các hình thức, phương pháp, địa điểm
tổ chức cũng như mở rộng thêm thời lượng tổ chức hoạt động theo hướng phát huy tính
tích cực và phát triển năng lực người học. Đặc biệt cần đẩy mạnh việc tổ chức cho tất cả
các em HS trong trường đều tham gia. Từ đó, phát huy được hiệu quả trong tổ chức các
hoạt động.
– GV cần sắp xếp, bố trí, cân đối thời gian cho HS giữa việc học chính khóa và thời
gian tham gia vào hoạt động để việc tổ chức các HĐTNST không bị chồng chéo.
– Chú trọng hơn nữa đến hiệu quả tổ chức hoạt động và rút kinh nghiệm để hoàn
thành tốt hơn cho những lần hoạt động sau.
2.3.2. Đối với học sinh
– HS là chủ thể của hoạt động, muốn học tập đạt hiệu quả thì đòi hỏi người học xác
định động cơ học tập đúng đắn, phải thấy được HĐTNST trong môn Địa lí 10 là một cơ
hội để rèn kiến thức và trau dồi thêm kiến thức.
– Trong mọi hoạt động, HS phải nhận thức được về tầm quan trọng của việc tham
gia HĐTNST.
– Để đạt hiệu quả, HS phải tự giác, tích cực, chủ động và nhiệt tình tham gia trong
mọi hoạt động mà GV tổ chức để chiếm lĩnh tri thức, hoàn thiện kỹ năng.
2.4. Xác định cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn
Địa lí 10 THPT
2.4.1. Nguyên tắc xác định cách thức
* Nguyên tắc 1: Tổ chức HĐTNST trong dạy học phải đảm bảo tính khoa học và
tính thống nhất.
Tổ chức HĐTNST trong dạy học môn Địa lí 10 THPT phải đảm bảo sự thống nhất,
chặt chẽ và logic; phù hợp với trình độ, hoàn cảnh học tập của HS và các điều kiện của nhà
trường. Yêu cầu ủa nguyên tắc này là khi thực hiện các bước trong tổ chức HĐTNST là
phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa các bước và phải tuân theo trình tự hợp lý.
Nội dung HĐTNST trong dạy học phải kết hợp chặt chẽ với chương trình chính
khóa. Một mặt, nhằm bổ sung, củng cố và mở rộng kiến thức. Mặt khác gây hứng thú học
tập và phát huy những năng lực sở trường của HS.
* Nguyên tắc 2: Tổ chức HĐTNST trong dạy học phải đảm bảo tính thực tiễn.
Ngoài việc phải đảm bảo các điều kiện sẵn có thì cáh thức tổ chức HĐTNST trong
dạy học phải phù hợp với yêu cầu, mục tiêu cần đạt được của hoạt động; đồng thời phải
đảm bảo các điều kiện thực tế của nhà trường.
Tổ chức HĐTNST trong dạy học phải tạo điều kiện, lôi cuốn tất cả HS trong lớp
tham gia tùy vào trình độ, hoàn cảnh và năng lực ở mỗi HS.
* Nguyên tắc 3: Tổ chức HĐTNST trong dạy học phải đảm bảo tính sư phạm.
Yêu cầu của nguyên tắc này là khi thực hiện phải phù hợp với mục tiêu giáo dục.
Tạo điều kiện, cơ hội để lôi cuốn HS tham gia nhằm kích thích tinh thần ham học hỏi của
các em.
* Nguyên tắc 4: Tùy vào từng hoạt động cụ thể, phải có sự phối hợp chặt chẽ của
GV – HS, HS – HS. GV hướng dẫn; HS chủ động tích cực, sáng tạo, trải nghiệm bản thân.
* Nguyên tắc 5: Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nhà trường để
tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ.
2.4.2. Yêu cầu tổ chức dạy học
– Hoạt động cần hấp dẫn và sinh động, tránh quan niệm nặng về hoạt động dạy học
trên lớp, nhẹ về dạy học .
– Nhà trường cần đổi mới, nâng cấp cơ sở vật chất…để đáp ứng nhu cầu dạy học .
– Nhà trường cần thành lập các câu lạc bộ đội nhóm, nhất là các câu lạc bộ chuyên
môn của từng tổ để thu hút HS tham gia. Qua đó, HS có thể khám phá năng lực bản thân
trong nhiều môn, nhiều lĩnh vực và sau đó chọn cho mình môn yêu thích.
– Ngoài hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tiến hành theo từng tháng trong
năm, nên gộp những hoạt động nhỏ lẻ vào phân phối chương trình thành một hoạt động
lớn và đặ biệt hoạt động này cần được xem là một hoạt động thường niên, nằm trong sự
quản lý chuyên môn ở nhà trường phổ thông. Có như vậy, hoạt động ngoại khóa trong
trường phổ thông mới được duy trì một cách thường xuyên và có hiệu quả.
2.4.3. Các phương pháp để tổ chức
2.4.3.1. Phương pháp giải quyết vấn đề
– Đây là phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy, snags tạo giải
quyết vấn đề cuả HS. Các em được đặt trong tình huống có vấn đề, thông qua việc giải
quyết vấn đề giúp các em lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp. Phương pháp này
thường được vận dụng khi HS phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một
hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động.
2.4.3.2. Phương pháp đóng vai
Đây là phương pháp giáo dục giúp HS thực hành cách ứng xử, bày tỏ thái độ trong
những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em.
Đây là phương pháp giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào cách
ứng xử cụ thể mà các em quan sát được. Việc “diễn” không quan trọng mà quan trọng ở
phần xử lí tình huống khi diễn và thảo luận sau phần diễn đó.
2.4.3.3. Phương pháp trò chơi
– Là tổ chức HS tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành động, việc làm hoặc
hình thành thái độ thông qua một trò chơi nào đó. Trò chơi không phải là thật nhưng làm
một cái gì đó mang tính chân thật và đặc biệt, đây là một hoạt động tự nguyện và nó được
giới hạn bằng không gian và thời gian, có qui luật tổ chức trò chơi. Thông qua phương
pháp này giúp các em phát triển toàn diện, nâng cao tầm hiểu biết về thế giới xung quanh,
kích thích trí thông minh, lòng ham hiểu biết…của các em.
2.4.3.4. Phương pháp thảo luận nhóm
– Là phương pháp tổ chức dạy học – giáo dục. Trong đó, GV sắp xếp HS thành
những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, từ đó HS
trong nhóm trao đổi, giúp đỡ cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung
của nhóm. Phương pháp này giúp HS phát uy cao độ vai trò chủ thể, giúp HS hình thành
các kỹ năng xã hội và phẩm chất, nhân cách cần thiết.
2.4.4. Quy trình thiết kế HĐTNST trong dạy học Địa lí 10 THPT
Việc xây dựng kế hoạch HĐTNST được gọi là thiết kế HĐTNST cụ thể. Đây là việc
quan trọng, quyết định tới một phần sự thành công của hoạt động. Việc thiết kế các
HĐTNST cụ thể được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Xác định tên (chủ đề) của HĐTNST
Đặt tên cho hoạt động là một việc làm cần thiết vì tên hoạt động tự nó đã nói lên
được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động. Tên hoạt động cũng tạo ra được
sự hấp dẫn, lôi cuốn, tạo ra được trạng thái tâm lí đầy hứng khởi và tích cực của HS. Vì
vậy, cần có sự tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn.
Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
– Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn.
– Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động.
– Tạo được ấn tượng ban đầu cho HS.
Bước 2: Xác định mục tiêu của HĐTNST
Mỗi hoạt động đều được thực hiện mục đích chung của mỗi chủ đề theo từng tháng
nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó.
Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động.
MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiĐào tạo thế hệ trẻ tổng lực, cung ứng nguồn nhân lực cho xã hội và cung ứng yêu cầuhội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chú trọng yếu tố nâng cao chất lượng giáo dục. Nghị quyết 29 của Đảng về “ Đổi mới tổng lực giáo dục phổ thông sau năm ngoái ” đã xác định3 phẩm chất và 8 năng lượng của người công dân trong điều kiện kèm theo mới. Cùng với đó việc tăngcường môn học Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường học với mục tiêu phát triểnnăng lực của người học trong thời đại mới. Từ những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa vào chương trình học mộtnội dung mới : Trải nghiệm sáng tạo ( TNST ). Mục tiêu chính của hoạt động giải trí này là nhằmgiáo dục tư tưởng, ý thức, tình cảm, thái độ của học viên ( HS ), giúp những em thực sự trởthành những người vừa có đức có tài để làm chủ tương lai của Đất nước. Thực tế hoạtđộng này không quá lạ lẫm với tất cả chúng ta. Trước đây, đó hoàn toàn có thể là những giờ ngoại khóa, những buổi thăm quan, những câu lạc bộ đội nhóm mà bất kể trường nào cũng có. Tuy nhiên, những năm trở lại đây, cùng với việc thay đổi chương trình, nội dung sách giáo khoa, cáchoạt động TNST được chú trọng khá nhiều. Khi đưa vào chương trình, hoạt động giải trí này trởnên mới lạ, nên gặp không ít những khó khăn vất vả. Nội dung giáo dục vẫn phần nào thô cứngvà mang nặng tính triết lý, hình thức tổ chức triển khai còn hạn chế, đơn điệu, khiến cho học sinhkhó đảm nhiệm. Bản thân giáo viên ( GV ) còn rất lúng túng vì chương trình mới, lại chưa cómột khóa học nào hướng dẫn cách tổ chức triển khai cho thật hiệu suất cao. Vấn đề đang được những ban ngành chăm sóc lúc bấy giờ là làm thế nào để những hoạtđộng giáo dục TNST thực sự là những hoạt động giải trí phong phú nhằm mục đích giúp cho học viên chiếmlĩnh tri thức, kỹ năng và kiến thức sống. Đặc biệt, thời hạn gần đây, Bộ GD-ĐT vừa công bố dựthảo chương trình giáo dục phổ thông mới vận dụng từ năm học 2018 – 2019 ; được xây dựngtheo xu thế tăng trưởng phẩm chất và năng lượng, khuynh hướng lựa chọn nghề nghiệp phùhợp cho học viên. Trong đó tại cấp trung học phổ thông, hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo nằm trong hệthống những môn học bắt buộc, với số lượng tiết ở lớp 10 là 75 tiết, lớp 11 và 12 là 105 tiết. Môn Địa lý 10 là môn học tiềm ẩn nhiều nội dung, kiến thức và kỹ năng, qua đó giáo viêncó thể giáo dục cho học viên những kỹ năng và kiến thức và kỹ năng và kiến thức sống. . Đồng thời lứa tuổi học sinh10 đang ở tuổi năng động, thích tìm tòi, tò mò và luôn muốn chứng minh và khẳng định chính mình, cho nên vì thế yên cầu những em phải có những kỹ năng và kiến thức cơ bản để tự làm chủ bản thân, làm chủ cuộcsống. Hoạt động TNST ( HDDTNST ) có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó không những gópphần vào việc nâng cao, lan rộng ra kỹ năng và kiến thức mà còn góp thêm phần rèn luyện những kỹ năng và kiến thức họctập, tạo sự tự tin, mạnh dạn, làm cho việc học tập nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộcsống hơn. Tuy nhiên, việc lựa chọn những nội dung, hình thức tổ chức triển khai nào cho phù hợpvới thực trạng của từng trường học là một yếu tố đáng chăm sóc. 2. Mục tiêu và nhệm vụ nghiên cứu2. 1 Mục tiêu nghiên cứuThiết kế và tổ chức triển khai 1 số ít hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy học ngoài giờphần Địa lí tự nhiên môn Địa lí 10 THPT nhằm mục đích thay đổi chiêu thức dạy học, nâng caochất lượng và hiệu suất cao dạy học Địa lí lớp 10 ở trường đại trà phổ thông. 2.2 Nhiệm vụ điều tra và nghiên cứu – Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy họcngoài giờ phần Địa lí tự nhiên môn Địa lí 10 THPT. – Nghiên cứu tình hình tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong môn Địa lí ởtrường THPT. – Nghiên cứu giải pháp tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy họcngoại khóa phần Địa lý tự nhiên môn Địa lý 10 THPT. – Giải pháp việc tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy học ngoài giờmôn địa lí 10 THPT3. Đối tượng, khoanh vùng phạm vi nghiên cứu và điều tra của đề tài : 3.1 Đối tượng nghiên cứuHoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy ngoài giờ phần Địa lí tự nhiên môn Địa lí10 THPT. 3.2 Phạm vi điều tra và nghiên cứu – Thiết kế một số ít hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo. – Tổ chức 1 số ít hình thức hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo ( tổ chức triển khai game show và hoạtđộng giao lưu ). 4. Phương pháp điều tra và nghiên cứu : 4.1. Phương pháp điều tra và nghiên cứu lý thuyết4. 1.1. Phương pháp nghiên cứu và phân tích, tổng hợpĐọc những tài liệu tương quan đến đề tài để tinh lọc những kiến thức và kỹ năng cơ bản phục vụcho việc nghiên cứu và điều tra đề tài. 4.1.2. Phương pháp mạng lưới hệ thống hóaNghiên cứu những tài liệu, phân loại thành những mục theo mục tiêu mà mình nghiêncứu. 4.1.3. Phương pháp lịch sửQua việc tiếp thu, thừa kế từ những đề tài tài liệu trước kia để làm cơ sở hoàn thành xong đềtài này. 4.2. Phương pháp điều tra và nghiên cứu thực tiễn4. 2.1. Phương pháp nghiên cứu và phân tích, tổng hợp tài liệuDựa trên cơ sở tiềm năng và trách nhiệm nghiên cứu và điều tra của đề tài, thực thi thu tập những tàiliệu tương quan đến hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Địa lí. Bên cạnh đó, cáctài liệu về nội dung, chuẩn chương trình Địa lí lớp 10 THPT. Thu thập tài liệu từ những nguồnnhư : sách chuyên khảo, những bài báo khoa học đăng trên những tạp chí, luận vặn, đề tài khoahọc và thông tin trên mạng internet. Dựa trên tài liệu tích lũy được, chúng tôi tiến hànhcác thao tác nghiên cứu và phân tích, tổng hợp để thiết kế xây dựng cơ sở lí luận, nền tảng khái niệm cho việctriển khai nghiên cứu và điều tra đề tài. 4.2.2. Phương pháp phỏng vấnPhương pháp được thực thi nhằm mục đích khám phá những nguyên do về tình hình tổ chứchoạt động TNST ở trường trung học phổ thông và tìm hiểu và khám phá quan điểm của những đối tượng người tiêu dùng được phỏng vấnvè việc tổ chức triển khai hoạt động giải trí TNST. Phương pháp được thực thi hầu hết với những giáo viênvà học viên THPT. 4.2.3. Phương pháp thống kê toán họcSử dụng những công thức nhằm mục đích thống kê giám sát, nghiên cứu và phân tích những phiếu tìm hiểu thực trạng và xửlý những tác dụng thực nghiệm sư phạm. 5. Bố cục luận vănNgoài phần khởi đầu, Tóm lại, tài liệu tìm hiểu thêm và phần phụ lục, phần nội dụngđược trình diễn theo cấu trúc 3 chương : Chương 1 : Cơ sở lý luận về tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy họcngoài giờ phần Địa lí môn Địa lí 10 THPT.Chương 2 : Tổ chức hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy học ngoài giờ phầnĐịa lý môn Địa lí 10 THPT.Chương 3 : Giải pháp việc tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy họcngoài giờ môn địa lí 10 THPTCHƯƠNG 1C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠOTRONG DẠY HỌC NGOÀI GIỜ MÔN ĐỊA LÍ 10 THPT1. 1. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo1. 1.1. Khái niệm hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo * Hoạt độngHoạt động là mối quan hệ tác động ảnh hưởng qua lại giữa con người và quốc tế ( khách thể ) đểtạo ra loại sản phẩm cả về phía quốc tế và cả về phía con người ( chủ thể ). Trong mối quan hệ đó có 2 quy trình : quy trình đối tượng người tiêu dùng hóa và quy trình chủ thểhóa. Quá trình đối tượng người dùng hóa ( xuất tâm ) + Chủ thể chuyển năng lượng của mình thành mẫu sản phẩm hoạt động giải trí. + Tâm lý của con người được thể hiện, được khách quan hóa trong quy trình làm rasản phẩm. Quá trình chủ thể hóa ( nhập tâm ) Là quy trình con người sở hữu ( lĩnh hội quốc tế ). Như vậy trong quy trình con người tham gia, triển khai hoạt động giải trí con người vừa tạora mẫu sản phẩm về phía quốc tế, vừa tạo ra tâm ý của mình, hay nói cách khác tâm ý, ý thức, nhân cách được thể hiện, hình thành trong hoạt động giải trí. * Trải nghiệm : Là quy trình người học được tham gia trải nghiệm thực tiễn, sau đóphản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, tăng trưởng kiến thức và kỹ năng, định hình những giá trịsống và tăng trưởng tiềm năng của bản thân, tiến tới góp phần tích cực cho hội đồng và xãhội. * Sáng tạo : Là một tổng hợp những năng lượng được cho phép con người tạo ra cái mới ( sảnphẩm, hành vi hay những giải pháp mới ) độc lạ, thích hợp, có ý nghĩa so với sự pháttriển cá thể ( sáng tạo trên bình diện cá thể ) và có ý nghĩa xã hội ( trên bình diện xã hội ). * Hoạt động trải nghiệm sáng tạo : Nghiên cứu về yếu tố hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo, đã có nhiều tác giả đưa ranhiều quan điểm khác nhau. Dưới đây là 1 số ít quan điểm : Theo PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa – chủ nhiệm khoa những khoa học giáo dục, TrườngĐại học Giáo dục đào tạo ( ĐHQGHN ) cho rằng : “ Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt độnggiáo dục. Trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá thể học viên đượctham gia trực tiếp vào những hoạt động giải trí khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoàixã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động giải trí, qua đó tăng trưởng năng lượng thực tiễn, phẩmchất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá thể mình ”. Trong báo cáo giải trình tại Hội thảo Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS đại trà phổ thông do Bộgiáo dục và Đào tạo tổ chức triển khai ( năm ngoái ) có đề cập : Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có ý nghĩatăng cường năng lực thực hành thực tế cho học viên, học song song với hành. Mỗi học viên phải đượchành động theo kinh nghiệm tay nghề cá thể, đưa ra những sáng tạo độc đáo, trải nghiệm từ thực tiễn, khôngngừng sáng tạo, nuôi dưỡng tính sáng tạo, ham học hỏi của bản thân. Theo TS. Ngô Thị Tuyên lại có quan điểm trên Diễn đàn Công nghệ giáo dục : Hoạtđộng trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động giải trí có động cơ, có đốitượng để sở hữu, được tổ chức triển khai bằng những việc làm đơn cử của học viên, được thực hiệntrong trong thực tiễn được sự khuynh hướng, hướng dẫn của nhà trường. Đối tượng để trải nghiệmnằm trong thực tiễn. Qua trải nghiệm thực tiễn, người học có được kiến thức và kỹ năng, kỹ năng và kiến thức, tìnhcảm và ý chí nhất định. Sự sáng tạo sẽ có được khi phải xử lý những trách nhiệm thực tiễnphải vận dụng kỹ năng và kiến thức, kỹ năng và kiến thức đã có để xử lý yếu tố, ứng dụng trong tình huốngmới, không theo chuẩn đã có, hoặc phân biệt được yếu tố trong những trường hợp tựa như, độc lập nhận ra công dụng mới của đối tượng người dùng, tìm kiếm và nghiên cứu và phân tích được những yếu tố củađối tượng trong những mối đối sánh tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm giải pháp thay thế sửa chữa và kếthợp được những giải pháp đã biết để đưa ra hướng xử lý mới cho một yếu tố. Trên cơ sở tiếp đón những quan điểm của những tác giả, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể hiểu hoạt độngtrải nghiệm sáng tạo trong nhà trường là những hoạt động giải trí giáo dục được tổ chức triển khai gắn liềnvới kinh nghiệm tay nghề đời sống để học viên trải nghiệm và sáng tạo. Dưới sự hướng dẫn củanhà giáo dục thì người học tự hoạt động giải trí, trải nghiệm là chính, qua đó giúp phát huy đượcnăng lực phẩm chất của người học. 1.1.2. Vai trò của hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thôngHĐTNST nhằm mục đích góp thêm phần hình thành và tăng trưởng cho học viên những phẩm chấtnăng lực chung nhất là nghĩa vụ và trách nhiệm với bản thân, hội đồng quốc gia, quả đât và môitrường tự nhiên ; tính tự lập, tự tin, tự chủ ; những năng lượng sáng tạo, hợp tác, tiếp xúc, tựquản lí bản thân. HĐTNST tập trung chuyên sâu hình thành cho học viên thói quen dữ thế chủ động trong tiếp xúc ; biếttự chứng minh và khẳng định và tự quản lý bản thân ; tiếp cận được với nghề nghiệp tương thích với năngkhiếu, sở trường thích nghi và hướng tăng trưởng của bản thân … HĐTNST có vai trò rất to lớn trong việc nâng cao hiệu suất cao dạy học Địa lí 10 THPTở nhà trường, nó góp thêm phần tích cực vào việc nâng cao, lan rộng ra vốn kỹ năng và kiến thức của những em, rèn luyện kiến thức và kỹ năng Địa lí 10 THPT, tăng cường hứng thú học tập bộ môn và giáo dục lòngyêu vạn vật thiên nhiên, quê nhà, quốc gia. Nhờ vào những HĐTNST mà những em được lan rộng ra, bổ trợ, update những kiến thứcĐịa lí thiết yếu ; những kỹ năng và kiến thức Địa lí của học viên có được trong học tập ở lớp học có điềukiện để rèn luyện và củng cố vững chãi nhiều kiến thức và kỹ năng Địa lí 10 THPT được những em tìmtòi, mày mò, sưu tầm hoặc hệ thống hóa sẽ làm giàu vốn tri thức, vốn sống của những em. 1.1.3. Bản chất của hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạoHĐTNST được phân biệt cới những hình thức tổ chức triển khai dạy học khác bởi những đặcđiểm đa phần sau đây : – Là hoạt động giải trí và được coi là hoạt động giải trí chính khóa của học viên trong chươngtrình. – Là hoạt động giải trí tự nguyện của những nhân hay nhóm học viên có cùng hứng thú, sởthích, mối chăm sóc về một yếu tố nào đó trong nội dung học tập. – Giáo viên không cần trực tiếp hoạt động giải trí cùng học viên, học viên là người tự nhậnthức tri thức ; học viên tự hoạt động giải trí ; trải nghiêm là chính. Có thể trong nhiều trường hợpcần thiết còn là người chỉ huy, điều khiển và tinh chỉnh những HĐTNST của học viên. Như vậy thực chất của HĐTNST nhằm mục đích góp thêm phần hình thành và tăng trưởng cho họcsinh những phẩm chất, năng lượng chung, nhất là nghĩa vụ và trách nhiệm với bản thân, hội đồng, đấtnước, quả đât và thiên nhiên và môi trường tự nhiên ; tính tự lập, tự tin, tự chủ ; những năng lượng sáng tạo ; hợp tác ; tiếp xúc ; tự quản lí bản thân. 1.1.4. Mục tiêu của hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạoMục tiêu chung : HĐTNST nhằm mục đích hình thành và tăng trưởng phẩm chất nhân cách, cácnăng lực tâm lý – xã hội … ; giúp học viên tích góp kinh nghiệm tay nghề riêng cũng như phát huytiềm năng sáng tạo của cá thể mình, làm tiền đề cho mỗi cá thể tự tạo dựng được sựnghiệp và đời sống niềm hạnh phúc sau này. Có những tiềm năng đơn cử dưới đây : 1.1.4. 1. Mục tiêu về nhận thức kiến thức và kỹ năng – Bổ sung, lan rộng ra, củng cố tri thức. – Liên hệ kỹ năng và kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động. 1.1.4. 2. Mục tiêu về giáo dục thái độ – Tạo hứng thú cho HS trong hoạt động giải trí học tập. – Hình thành cho học viên niềm tin vào giá trị đời sống hiện tại và tương lai, cótình yêu vạn vật thiên nhiên, quê nhà, quốc gia. – Có thái độ đúng đắn trước những yếu tố nhạy cảm được đặt ra, phát huy đượcnhững giá trị tốt đẹp, nhất quyết vô hiệu những cái xấu xa, nguy cơ tiềm ẩn. – Bồi dưỡng tính tích cực, dữ thế chủ động sáng tạo, chuẩn bị sẵn sàng tham gia những hoạt động giải trí xãhội của tập thể, của trường và lớp cho HS. 1.1.4. 3. Mục tiêu về rèn luyện kĩ năng – Hình thành và tăng trưởng những phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, ý chí, giá trị, kỹnăng sống và những năng lượng chung cần có ở con người trong xã hộ văn minh. – Rèn luyện cho HS kỹ năng và kiến thức tiếp xúc, ứng xử có văn hóa truyền thống. – Tích lũy kinh nghiệm tay nghề tổ chức triển khai, tinh chỉnh và điều khiển hoạt động giải trí. – Rèn luyện kỹ năng và kiến thức nhận xét, nhìn nhận hiệu quả hoạt động giải trí. – Rèn luyện kiến thức và kỹ năng thực thi theo nhóm, năng lực tự kiểm soát và điều chỉnh và tự hòa nhập đểthực hiện tốt trách nhiệm được giao. 1.1.5. Nội dung của tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạoTrong tài liệu hội thảo chiến lược “ Những nội dung chính của chương trình giáo dục phổthông toàn diện và tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới ” của Bộ Giáo dục và Đào tạo ( năm ngoái ) có đề cập về nội dung tổ chức triển khai HĐTNST trong nhà trường là : – HĐTNST thuộc loại tự chọn và dành cho HS từ lớp 1 đến lớp 12. – Nội dung HĐTNST gắn bó với đời sống, địa phương, hội đồng, quốc gia và dễvận dụng vào trong thực tiễn ; được tích hợp từ nhiều nghành giáo dục, môn học và phong cách thiết kế thànhcác chủ đề mang đặc thù mở và tương đối độc lập với nhau để học viên và nhà trường lựachọn, tổ chức triển khai thực thi một cách hiệu suất cao, tương thích. – Không tổ chức triển khai kiểm tra, nhìn nhận hiệu quả HĐTNST với những hình thức tương tựtrên lớp. Mà nhấn mạnh vấn đề đến kinh nghiệm tay nghề, năng lượng thực thi, tính trải nghiệm, theo nhữngyêu cầu riêng, mang tính riêng biệt hóa, phân hóa. Thường nhìn nhận hiệu quả đạt được bằngnhận xét. 1.1.5. 1. Thời gian tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạoHĐTNST rất linh động, phong phú hoàn toàn có thể thực thi trong học kỳ I hoặc học kỳ II, đầu, giữa, cuối học kỳ trong năm … Tùy nội dung và đặc thù của đối tượng người tiêu dùng tham gia mà quyđịnh thời hạn, tránh gò bó, máy móc tác động ảnh hưởng đến việc thi tuyển của học viên. 1.1.5. 2. Kế hoạch tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạoMuốn hoạt động giải trí giáo dục đạt hiệu suất cao cao, người dạy và người học cần xác địnhđược tầm quan trọng của việc tổ chức triển khai hoạt động giải trí. Việc tổ chức triển khai những HĐTNST cho HS là rấtphức tạp, không riêng gì là một mô hình đơn thuần mà yên cầu có sự tích hợp nhiều hình thứckhác nhau. Những khó khăn vất vả và hạn chế của hoạt động giải trí sẽ được khắc phục nếu giáo viên vàhọc sinh biết kiến thiết xây dựng cho mình một hoạt động giải trí tương thích, có khoa học. Kế hoạch HĐTNST đó là xác lập sáng tạo độc đáo, tiềm năng và những nội dung cần giảiquyết trong từng hoạt động giải trí tổ chức triển khai. Tuy nhiên, nhờ vào vào năng lượng và phẩm chất củatừng đối tượng người dùng HS mà hiệu quả của hoạt động giải trí mang lại cũng khác nhau. Muốn thiết kế xây dựng được một kế hoạch HĐTNST phải bảo vệ những nhu yếu chung sau : – Kế hoạch HĐTNST phải bảo vệ tính khoa học và tính khả thi. – Đảm bảo sự cân đối giữa học tập, lao động, đi dạo, vui chơi và đặc biệt quan trọng là giáodục được kỹ năng và kiến thức, thái độ gì cho HS sau mỗi hoạt động giải trí. Sau khi thiết kế xây dựng được kế hoạch cho hoạt động giải trí thì HS phải dữ thế chủ động triển khai kếhoạch đã đề ra, GV chủ nhiệm và GV bộ môn cần có kế hoạch đơn cử để hướng dẫn vàkiểm tra việc thực thi hoạt động giải trí của HS. 1.1.5. 3. Địa điểm tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghệm sáng tạoĐịa điểm tổ chức triển khai HĐTNST là khoảng trống mà người học triển khai được quá trìnhtrải nghiệm của mình. Không gian phong phú, nhiều mẫu mã, linh động, mở về khoảng trống, thờigian, quy mô, đối tượng người dùng và số lượng, ở trường thì 1 số ít khu vực đa phần thường hay tổchức như : – Tổ chức HĐTNST trong lớp học và nội khóa. Theo hình thức này HĐTNSTthường được tổ chức triển khai trong lớp học, trong khuôn viên trường ( vườn địa lý, sân trường … ) – Tổ chức HĐTNST ngoài lớp và ngoại khóa. Theo hình thức này HĐTNST thườngđược tổ chức triển khai ở khuôn viên trường ( ngoài vạn vật thiên nhiên, những cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, đến những thôn, xóm, bản làng … ) 1.1.5. 4. Phương pháp tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạoHĐTNST là những hoạt động giải trí giáo dục được tổ chức triển khai gắn liền với kinh nghiệm tay nghề cuộcsống để HS trải nghiệm và sáng tạo, chính điều này yên cầu những giải pháp tổ chức triển khai cáchoạt động đó phải phong phú, linh động mang tính mở, HS tự hoạt động giải trí, tự trải nghiệm làchính. Cụ thể với 1 số ít phương pháp chính tỏng tổ chức triển khai HĐTNST ở trường phổ thôngđược hai tác giả Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn Thị Hằng – Viện NCSP, Trường ĐHSPHà Nội cho rằng những chiêu thức thường dùng là : – Phương pháp xử lý yếu tố – Phương pháp đóng vai – Phương pháp game show – Phương pháp thao tác nhóm – Phương pháp đàm thoại – Phương pháp thuyết trình1. 1.5.5. Hình thức tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong và lên lớpHình thức tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo rất phong phú, đa dạng và phong phú, linh động, mở về khoảng trống, thời hạn, quy mô, đối tượng người dùng, và số lượng … Một số hình thức tổ chứccác HĐTNST trong nhà trường đại trà phổ thông được tác giả Bùi Ngọc Diệp ở Viện Khoa họcGiáo dục Nước Ta đề cập đến như : – Hoạt động Câu lạc bộ – Tổ chức game show – Tổ chức forum – Sân khấu tương tác – Hội thi, cuộc thi – Tổ chức sự kiện – Hoạt động giao lưu – Hoạt động nhân đạo – Báo cáo chuyên đề – Sinh hoạt tập thể – … Như vậy, HĐTNST trong nhà trường đại trà phổ thông được thực thi nhằm mục đích tiềm năng đàotạo ra những con người có chí hướng, có đạo đức, có khuynh hướng tương lai, có khả năngsáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức và kỹ năng đã học vào thực tiễn, đồng thờibiết san sẻ và chăm sóc tới mọi người xung quanh. HĐTNST về cơ bản mang đặc thù làcác hoạt động giải trí tập thể trên tunh thần tự chủ cá thể, với sự nỗ lực nhằm mục đích tăng trưởng khảnăng sáng tạo và đậm cá tính riêng của mỗi những nhân trong tập thể. HĐTNST coi trọng những hoạt động giải trí thực tiễn mang tính tự chủ của học viên, vì vậynên tổ chức triển khai cho HS và GV cùng tham gia luận bàn, nêu quan điểm hoặc tự HS kiến thiết xây dựng kếhoạch và phân loại việc làm, trách nhiệm rồi thực thi. Tùy thuộc vào đặc trưng về vănhóa, khí hậu, đặc thù vùng miền, điều kiện kèm theo kinh tế tài chính – xã hội của mỗi địa phương, nhàtrường hoàn toàn có thể lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức triển khai cho tương thích và hiệu suất cao. Các hìnhthức tổ chức triển khai HĐTNST được trình diễn ở trên là những gợi ý để nhà trường tổ chức triển khai có hiệuquả nhất hoạt động giải trí giáo dục của mình, cung ứng nhu yếu và tiềm năng giáo dục. Có nhiều lực lượng tham gia chỉ huy, tổ chức triển khai những hoạt động giải trí trải nghiệm với cácmức độ khác nhau ( GV, cha mẹ, nhà hoạt động giải trí xã hội, chính quyền sở tại, doanh nghiệp … ) 1.1.5. 6. Chất lượng tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạoChất lượng HĐTNST là hiệu quả thu được của bản thân sau một quy trình tham giaHĐTNST. Chất lượng của HĐTNST nhờ vào trước hết vào năng lượng của bản thân, nhữngbiểu hiện của chất lượng HĐTNST là : – Kiến thức : là sự hiểu biết, nắm vững, sâu, rộng những kiến thức và kỹ năng từ thực tiễn. – Kĩ năng, mức độ ảnh thành thạo những kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng thao tác tậpthể, kĩ năng tham gia vào lao động, sản xuất … – Phẩm chất năng lượng : là tính tự giác, độc lập, dữ thế chủ động và sáng tạo. 1.1.6. Hoạt động dạy học và hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo1. 1.6.1 Phân biệt môn học và hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong chương trìnhgiáo dục phổ thông mớiBảng 1.1. Phân biệt môn học và hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạoYếu tố so sánhMôn họcHoạt động trải nghiệm sáng tạoHình thành và tăng trưởng tri Hình thành và tăng trưởng nhữngMục đích chính thức khoa học, năng lượng nhận phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, thức và hành vi của HSgiá trị, kỹ năng và kiến thức sống và những nănglực chung cần có ở con người trongxã hội văn minh – Kiến thức khoa học, nội – Kiến thức thực tiễn gắn bó với đờidung gắn với những kĩnh vực sống địa phương, hội đồng, đấtchuyên môn. nước, mang tính tổng hợp, nhiều lĩnh – Được phong cách thiết kế thành những vực giáo dục, nhiều môn học, để vậnNội dungphần, chương, bài, có mối dụng vào trong thực tiễn. quan hệ logic ngặt nghèo những – Được phong cách thiết kế thành những chủ điểmmodune tương đối hoàn hảo mang tính mở, không nhu yếu mốiliên hệ ngặt nghèo giữa những chủ điểm. – Đa dạng có tiến trình chặt – Đa dạng đa dạng chủng loại, mềm dẻo, linhchẽ, hạn chế về khoảng trống, hoạt, mở về khoảng trống, thời hạn, thời hạn, quy mô và đối quy mô, đối tượng người dùng và số lượng … tượng tham gia, … – HS có nhiều thời cơ trải nghiệm cáCác hình thức – HS ít có thời cơ trải nghiệm nhân. cá thể. tổ chức triển khai – Có nhiều lưc lượng tham gia chỉ – Người chỉ huy, tổ chức triển khai hoạt đạo, tổ chức triển khai những hoạt động giải trí trảiđộng học tập đa phần là GV.nghiệm với những mức độ khác nhau ( GV, cha mẹ, nhà hoạt động giải trí xãhội, chính quyền sở tại, doanh nghiệp, … ) – Chủ yếu là thầy – trò – Đa chiềuTương tác, – Thầy chỉ huy hướng dẫn, trò – HS tự hoạt động giải trí, trải nghiệm làphương pháphoạt động là chính. chính. – Nhấn mạnh đến năng lượng tư – Nhấn mạnh đến kinh nghiệm tay nghề, năngduy. lực biểu lộ, tính trải nghiệm. – Theo chuẩn chung. – Theo những nhu yếu riêng, mangKiểm tra, – Thường nhìn nhận hiệu quả tính riêng biệt hóa, phân hóa. đánh giábằng điểm số. – Thường nhìn nhận tác dụng đạt đượcbằng nhận xét. Ngoài những HĐTNST được phong cách thiết kế thành hoạt động giải trí riêng, trong từng môn họccũng cần coi trọng việc tổ chức triển khai, hướng dẫn những HĐTNST tương thích với đặc trưng nội dungmôn học và điều kiện kèm theo dạy học. Bảng 1.2. Sự khác nhau giữa hoạt động giải trí dạy học và HĐTNSTYếu tố so sánhMục đíchChức năng, Hoạt động dạy họcHĐTNSTNhằm hầu hết hình hành : Năng Nhằm hầu hết hình thành : Phẩmlực trí tuệ, kiến thức và kỹ năng trí tuệchất nhân cách, giá trị, kỹ năng và kiến thức sống – Chủ yếu nhằm mục đích triển khai – Chủ yếu nhằm mục đích thực thi nhiệm vụnhiệm vụĐối tượngnhiệm vụ giáo dục trí tuệ. – Có thế mạnh về mặt phát triểntrí tuệ, nhận thức, hình thànhcác hình tượng, khái niệm, địnhluật, triết lý, những kỹ năng và kiến thức, kỹxảo … – Hệ thống khái niệm – Hệ thống tri thức, kỹ năng và kiến thức, kỹxảo được pháp luật ngặt nghèo, tương thích logic nhận thức, tuântheo nội dung chương trình, kếhoạch dạy học nhằm mục đích đạt đượcmục tiêu giáo dục xác địnhLĩnh vựcMôn học / khoa họcCơ chếhình thànhThời gianCon đường điều tra và nghiên cứu khoahọc, logic caoChiếm lĩnh nhanh hơnLớp / bàiHệ thống bài lên lớp ( theo thờikhóa biểu ), xemina, thực hành thực tế, thí nghiệm. Hình thứcchủ yếuKhông gianPhòng học là chủ yếuPhương thức – Truyền đạt, nghiên cứu và phân tích, giảnggiải … – Hình thức : hầu hết cá nhânMục đíchtrải nghiệmChủ động sở hữu kiến thức và kỹ năng, lý luận trải qua việc giảiquyết trách nhiệm của thực tiễngiáo dục huấn luyện và đào tạo, thẩm mĩ, sức khỏe thể chất, lao động … – Có thế mạnh về mặt xúc cảm, tháiđộ : Hình thành niềm tin, chuẩn mực, lý tưởng, động cơ, nguyên tắc, hànhvi, lối sống. – Hệ thống giá trị, chuẩn mực. – Hệ thống những chuẩn mực xã hội ( những xu thế giá trị về đạo đức, văn hóa truyền thống, thẩm mĩ … ), có tính khôngchắc chắn hầu hết dựa theo nhu cầuxã hội, nguyện vọng và hứng thú củađối tượngChủ đề chủ điểm, nội dung giáo dục ( nghĩa hẹp ) phong phú phong phúTác động vào cảm hứng, nhiều khi phílogicLâu dài hơn, bền chắc hơnNhóm / nội dung giáo dụcCác hoạt động và sinh hoạt tập thể, hoạt động giải trí xãhội, thăm quan, lao động công ích, những hoạt động và sinh hoạt thường nhậtNgoài lớp học thường thì, tỏngnhà máy, trong đời sống xã hội … – Trải nghiệm, màn biểu diễn, chiêmnghiệm … – Hình thức : hầu hết hợp đồng tập thểChủ động sở hữu kỹ năng và kiến thức, tíchlũy kinh nghiệm tay nghề quan hệ, hoạt động giải trí, ứng xử, xử lý yếu tố … để thíchứng với sự phong phú của cuộc sốngluôn hoạt động. – Chủ yếu nhìn nhận kỹ năng và kiến thức – Nhấn mạnh đến kinh nghiệm tay nghề, tháikhoa học học được đã được vậnKiểm trađộ triển khai, tính trải nghiệm, cảmdụng như thế nào vào thực tiễn. xúc, giá trị, niềm tin, thói quen … nhìn nhận – Thường sử dụng nhìn nhận – Thường sử dụng nhìn nhận định tính. định lượng1. 1.7. Các tác nhân ảnh hưởng tác động tới việc tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo1. 1.7.1. Giáo viênGV là chủ thể tổ chức triển khai hoạt động giải trí nhận thức của HS trong bài dạy học trên lớp. Dovậy GV là người quyết định hành động những phương pháp tổ chức triển khai HĐTNST của HS. Các phương pháp tổchức HĐTNST của HS do GV đưa ra chịu sự chi phối của những yếu tố : trình độ chuyênmôn, nhiệm vụ, và tình yêu nghề nghiệp của GV.Trình độ trình độ, nhiệm vụ của GV khuynh hướng năng lực tổ chức triển khai những HĐnhận thức của HS năng lực truyền đạt kiến thức và kỹ năng, lập luận và giảng giải những yếu tố, … Đồng thời với yếu tố trình độ trình độ, nhiệm vụ, yếu tố tình yêu nghề nghiệplà động lực thôi thúc GV tổ chức triển khai hoạt động giải trí nhận thức của HS tốt hơn. Khi GV yêu nghềhọ sẽ tìm mọi cách để đạt hiệu quả cao nhất. Với lòng yêu nghề GV sẽ góp vốn đầu tư và mê hồn hơnvới việc làm. Từ đó phát sinh những yếu tố sáng tạo trong tổ chức triển khai HĐTNST của ngườiGV. 1.1.7. 2. Học sinhHS là đối tượng người dùng để GV tổ chức triển khai những hoạt động giải trí nhận thức, là đối tượng người tiêu dùng tác động ảnh hưởng trựctiếp đễn phương pháp tổ chức triển khai hoạt động giải trí nhận thức trông mỗi bài dạy học Địa lí 10 THPT.Khả năng nhận thức của HS là tác nhân quan trọng nhất ảnh hưởng tác động đến việc tổ chứchoạt động nhận thức của những em. Chính năng lực của những nhóm HS khá giỏi, trung bìnhhay yếu kém đã tác động ảnh hưởng đến hình thức tổ chức triển khai HĐTNST.Yếu tố hứng thú, nhiệt tình, sáng tạo của HS cũng là tác nhân tích cực thôi thúc côngtác tổ chức triển khai HĐTNST trong nhà trường đại trà phổ thông. 1.1.7. 3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị Giao hàng cho môn học Địa lí 10 THPTCơ sở vật chất, trang thiết bị ship hàng cho môn học cũng là tác nhân tác động ảnh hưởng đếntổ chức hoạt động giải trí nhận thức cho HS. Cơ sở vật chất, phương tiện đi lại thiết bị dạy học môn Địalí 10 trung học phổ thông thiếu thốn, lỗi thời sẽ làm cho việc sử dụng những hình thức tổ chức triển khai dạy học nóichung, tổ chức triển khai HĐTNST nói riêng. Phương pháp dạy học của thầy sẽ không giống nhưnếu có phương tiện đi lại không thiếu, văn minh. Ví dụ : Muốn tổ chức triển khai HS toàn lớp bằng phương phápquan sát trên băng hình về những hình ảnh ô nhiễm môi trường tự nhiên để từ đó cho HS HĐTNSTvề ý thức bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống mà không có máy chiếu thì rất khó thực thi thật tốt cácHĐTNST được. 1.1.7. 4. Sự chăm sóc của những cấp chỉ huy so với môn học Địa lí 10 THPTMặc dù là tác nhân gián tiếp ảnh hưởng đến việc tổ chức triển khai hoạt động giải trí nhận thức của học viên, tuy nhiên sự chăm sóc của những cấp chỉ huy nhà trường đã ảnh hưởng tác động không nhỏ so với tổchức hoạt động giải trí nhận thức cho HS. Đây là tác nhân động viên, khuyến khích việc thực thi nhiệmvụ của GV. Nếu như những cấp chỉ huy liên tục động viên, tạo điều kiện kèm theo cho GV thựchiện thay đổi giải pháp dạy học sẽ giúp cho GV triển khai tốt tổ chức triển khai dạy học Địa lí 10THPT theo hướng phát huy tính tích cực của HS. 1.2. Dạy học ngoài giờ lên lớp1. 2.1. Khái niệm dạy học ngoài giờ lên lớpHoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ( HĐGDNGLL ) là những hoạt động giải trí giáo dụcđược triển khai ngoài thời hạn hoc tập, nhằm mục đích hấp dẫn phần đông HS tham gia để mở rộnghiểu biết, tạo không khí sung sướng lành mạnh, tạo thời cơ để HS rèn luyện thói quen sốngtrong hội đồng và phát huy tối đa năng lượng, sở trường thích nghi của từng cá thể. HĐGDNGLL là một mặt hoạt động giải trí giáo dục cơ bản được triển khai một cách cómục đích, có kế hoạch, có tổ chức triển khai nhằm mục đích góp thêm phần hình thành nhân cách học viên theo mụctiêu huấn luyện và đào tạo, cung ứng nhu yếu phong phú xã hội. HĐGDNGLL được phân loại hai mức độ do khoanh vùng phạm vi ảnh hưởng tác động của lực lượng tổchức những hoạt động giải trí chi phối. Đó là hoạt động giải trí giáo dục ngoài giờ lên lớp và hoạt động giải trí giáodục ngoài nhà trường. HĐGDNGLL do nhà trường quản lí chỉ huy, với sự tham gia củacác lực lượng xã hội. Nó được thực thi xen kẽ hoặc tiếp nối hoạt động giải trí dạy học trongphạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội. Hoạt động này diễn ra trong suốt năm họcvà cả thời hạn nghỉ hè để khép kín quy trình đào tạo và giảng dạy, làm cho quy trình này được thực hiệnở mọi nơi mọi lúc. HĐGDNGLL là tổ chức triển khai đời sống của thanh thiếu niên để giáo dục, là cuộc sốngthực của họ về học tập, lao động, đi dạo … giáo dục ngoài nhà trường là nghĩa vụ và trách nhiệm củatoàn xã hội, của mái ấm gia đình học viên, nhà trường đóng vai trò cố vấn sư phạm và phối hợp tổchức. 1.2.2. Đặc điểm dạy học ngoài giờVề thực chất : – Việc tổ chức triển khai dạy học ngoài giờ nặng về tự nguyện tùy hứng thú HS. – Dạy học ngoài giờ nhằm mục đích phát huy năng khiếu sở trường, tính linh động, tương thích với tâm sinhlí của HS. – Tổ chức dạy học ngoài giờ có năng lực lôi cuốn nhiều HS tham gia. Về nội dung : – Tổ chức hoạt động giải trí ngoài giờ có đặc thù bổ trợ, lan rộng ra nội khóa. – Ngoại khóa không phụ thuộc vào vào chương trình nội khóa. – Ngoại khóa hoàn toàn có thể đi sâu, lan rộng ra một bộ phận thiết yếu, một nội dung hay mộtchương của chương trình học cho những nghành nghề dịch vụ khoa học, kỹ thuật, văn nghệ, thể thao. Về hình thức : Có hình thức tổ chức triển khai rất linh động theo toàn trường, toàn lớp, nhóm, tổ … Do đó hoàn toàn có thể kêu gọi nhiều người tham gia triển khai. Về thời hạn : Linh hoạt phong phú hoàn toàn có thể thực thi trong học kỳ I, học kỳ II, đầu, giữa, cuối học kỳ … 1.2.3. Vai trò của dạy học ngoài giờHĐNGLL có vị trí quan trọng trong quy trình giáo dục. Quá trình giáo dục đối vớihọc sinh trung học phổ thông có nhiều mê hoặc nhưng cũng không ít phức tạp, yên cầu phải có sự khôn khéo, kịp thời đúng đắn, hấp dẫn những em hoạt động giải trí, nhằm mục đích phát huy khuynh hướng tự lập, sángtạo, niềm tin tập thể, ý thức tổ chức triển khai kỷ luật. Vì vậy hoàn toàn có thể nói HĐNGLL có vị trí then chốttrong quy trình giáo dục nhằm mục đích xu thế, điểu chỉnh quy trình giáo dục đạt hiệu suất cao cao. Hoạt động giáo dục kiến thức và kỹ năng ngoài giờ là một bộ phận bắt buộc trong kế hoạch dạyhọc ở trường đại trà phổ thông đã được Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành, là một nội dung trongcông tác quản trị của những cấp chỉ huy và quản trị giáo dục. Hoạt động giáo dục kỹ năngngoài giờ có quan hệ ngặt nghèo với hoạt động giải trí dạy học, tạo điều kiện kèm theo gắn kim chỉ nan với thựchành, thống nhất giữa nhận thức và hành vi, góp thêm phần quan trọng vào sự hình thành vàphát triển nhân cách tổng lực của HS trong tiến trình lúc bấy giờ. Hoạt động giáo dục kiến thức và kỹ năng ngoài giờ là dịp để HS củng cố kiến thức và kỹ năng đã học trênlớp, biến tri thức thành niềm tin ở mỗi HS. Đây là điểm rất cơ bản của Hoạt động giáo dụckỹ năng ngoài giờ, khác với hoạt động giải trí ngoại khóa môn học. 1.2.4. Nguyên tắc của dạy học ngoài giờĐể bảo vệ hiệu suất cao cao của hoạt động giải trí này, quy trình tổ chức triển khai phải tuân theo cácnguyên tắc sau : Nguyên tắc 1 : Đảm bảo tính mục tiêu và tính kế hoạch của hàng loạt hoạt động giải trí. – Hoạt động được nằm trong kế hoạch của toàn năm học. – Mục đích, hình thức, nội dung dã có dự kiến trong kế hoạch. Nguyên tắc 2 : Đảm bảo tính thích hợp và tính hiệu suất cao – Kế hoạch hoạt động giải trí phải khả thi : vừa sức, tương thích với điều kiện kèm theo ( năng lượng củahọc sinh, kinh tế tài chính, cơ sở vật chất, thời hạn … ) – Trong quy trình tổ chức triển khai hoạt động giải trí cần tránh những câu hỏi quá dễ gây ra sự nhàmchán hay những yếu tố quá khó gây ra sự ức chế làm cho HS bế tắc. Nguyên tắc 3 : Đảm bảo sự thống nhất của ngoại khóa và nội khóa. Nguyên tắc 4 : Đảm bảo sự thống nhất giữa chỉ huy của GV với tính tự quản của HSHoạt động có tổ chức triển khai, kỷ cương, nhưng phải phát huy tối đa sáng tạo độc đáo, sáng tạo, tựgiác, tích cực, dữ thế chủ động của HS.Nguyên tắc 5 : Nội dung hoạt động và sinh hoạt phải linh động, phong phú và đa dạng nhưng cân đối giữa cácloại hình. Các hình thức phải phong phú, hoàn toàn có thể phối hợp những nội dung giáo dục. Nguyên tắc 6 : Trong điều kiện kèm theo khách quan được cho phép, kêu gọi tối đa HS tham giakhông phân biệt giỏi, kém. Nguyên tắc 7 : Có sự tự nguyện, dữ thế chủ động và hứng thú của HS. – Khi đã tự nguyện, tự giác HS sẽ khắc phục được mọi khó khăn vất vả để hoàn thànhnhiệm vụ được giao ; mặt khác gặp thất bại những em sẽ không nản chí. – Các nhóm HS tự nguyện tham gia ngoại khóa là nhóm bạn tâm đắc về ý thức và sởtrường, như vậy sẽ hình thành những tập thể HS link với nhau theo hứng thú. Trong tậpthể tự nguyện này, HS sẽ tự thể hiện khá đầy đủ hơn những kiến thức và kỹ năng, năng lượng mà trong quá trìnhhọc tập những em ít thể hiện. Nguyên tắc 8 : Huy động sự tham gia, giúp sức của nhà trường, chính quyền sở tại địaphương, hội cha mẹ HS … 1.2.5. Các hình thức tổ chức triển khai dạy học ngoài giờĐể tổ chức triển khai dạy học ngoài giờ lên lớp, có những hình thức sau : – Tổ chức Câu lạc bộ Địa lí. – Tổ chức du lịch thăm quan Địa lí. – Tổ chức triển lãm Địa lí. – Tổ chức báo cáo giải trình chuyên đề Địa lí. – Tổ chức dự án Bất Động Sản Địa lí. 1.3. Phân biệt giữa hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo và hoạt động giải trí ngoài giờ lên lớpBảng 1.3. Bảng phân biệt giữa hoạt động giải trí TNST và hoạt động giải trí ngoài giờ lên lớpVị trí, vaitròMục tiêuNội dungHoạt động TNSTHoạt động GDNGLL – Là bộ phận của chương trình ; có – Là một bộ phận của chương trình ; quan hệ ngặt nghèo với hoạt động giải trí dạy có quan hệ ngặt nghèo với hoạt độnghọc. dạy học. – Gắn kim chỉ nan với thực tiễn phát – Gắn kim chỉ nan với thực tiễn, pháttriển phẩm chất nhân cách và năng triển nhân cách tổng lực của HS.lực chung, năng lượng đặc trưng. – Được tổ chức triển khai ngoài giờ học cácmôn văn hóa truyền thống. HĐ TNST nhằm mục đích hình thành và phát – Kiến thức : củng cố, lan rộng ra, triển nhân cách, những năng lượng tâm ý khắc sâu kiến thức và kỹ năng đã học ; nâng – xã hội … ; giúp HS tích góp kinh cao hiểu biết về những kĩnh vực củanghiệm riêng cũng như phát huy đời sống xã hội và giá trị truyềntiềm năng sáng tạo của cá thể thống, giá trị trái đất. mình ; làmt iền đề cho mỗi cá thể – Kỹ năng : góp thêm phần hình thànhtạo dựng được sự nghiệp và cuộc năng lượng đa phần như tự hoàn thành xong, sống niềm hạnh phúc sau này. thích ứng, hợp tác, tiếp xúc ứngxử, có lối sống tương thích với những giátrị xã hội. Lĩnh vực nội dung : Mạch nội dung : – Giáo dục đào tạo và tăng trưởng cá thể. – Giáo dục đào tạo truyền thống lịch sử – Quê hương quốc gia và độc lập – Ý thức học tậpthế giới – Tổ quốc, Đảng, Đoàn – Tình yêu, hôn nhân gia đình và niềm hạnh phúc – Tình bạn, tình yêu, mái ấm gia đình. mái ấm gia đình. – Hòa bình, hữu nghị, hợp tác. – Thế giới nghề nghiệp. – Tình nguyện. – Khoa học và nghệ thuật và thẩm mỹ. Được biểu lộ trong 9 hoặc 10 chủĐược bộc lộ qua những chủ đề đa đề theo tháng. dạng, phong phú và đa dạng vừa bảo vệ yêuChươngtrình tựchọn haybắt buộcPhươngpháp vàhình thứctổ chứcĐánh giáSử dụngkết quảđánh giácầu chung vừa tương thích với đặc điểmcủa từng địa phương. – Song song 2 chương trình : chương – Một chương trình chung cho tấttrình bắt buộc so với 100 % HS và cả. chương trình tự chọn. – Hình thức giống nhau. Phươngpháp : Thiết kế trách nhiệm rõ rànghướng tới tiềm năng hình thành cácnăng lực đơn cử. – Đánh giá năng lượng đơn cử thông quacác chỉ số hành vi và tiêu chuẩn chấtlượng. – Thông qua những công cụ cho mỗihình thức. – Đánh giá quy trình và hiệu quả hoạtđộng trên từng cá thể và xác địnhđược vị trí của mỗi HS trên đườngphát triển năng lượng. – Minh chứng : bộ hồ sơ hoạt độngcủa HS. – Để báo cáo giải trình hiệu quả hoạt động giải trí củaHS cho những bên tương quan. – Điều chỉnh những yếu tố giúp HSnâng cao mức độ năng lượng trênđường tăng trưởng. – Là điều kiện kèm theo cần của nhìn nhận xếploại tổng lực HS để xét trên lớp, chuyển cấp và xét tuyển cho nhữnghoạt động đặc trưng. – Hình thức giống nhauPhương pháp : Hướng dẫn hoạtđộng chung, phát huy vai trò chủthể của học viên trong hoạt động giải trí. – Đánh giá sự tăng trưởng về nhậnthức, kiến thức và kỹ năng, thái độ. – Thực hiện bằng nhiều con đường : tự nhận xét, nhận xét của tập thể, của những giáo viên qua quan sát hoạtđộng, trò chuyện, qua loại sản phẩm. Như vậy, hai hoạt động giải trí này có vị trí và vai trò và hình thức tổ chức triển khai khá thống nhất. Tuy nhiên, sự khác nhau cơ bản ở chỗ là trong HĐ TNST, tiềm năng được diễn đạt dướidạng năng lượng và những năng lượng này được nhìn nhận trải qua giải pháp và công cụchuyên biệt ; phương pháp tổ chức triển khai hoạt động giải trí phải làm thế nào để 100 % HS tham gia trong cáchoạt động bắt buộc và được tự chọn tham gia những nội dung mình yêu dấu ; từng cánhân phải được nhìn nhận và xếp loại với dẫn chứng là hồ sơ về quy trình hoạt động giải trí ( giống như tác dụng học tập ) và tác dụng nhìn nhận được sử dụng cho việc xếp loại hay xéttuyển … 1.4. Cấu trúc và đặc thù chương trình SGK Địa lí 10 trung học phổ thông 101.4.1. Đặc điểm về cấu trúc – Sách có cấu trúc chia làm 2 phần : Địa lí tự nhiên đại cương và Địa lí kinh tế tài chính – xãhội đại cương. – Sách chuẩn có 10 chương, 42 bài học kinh nghiệm. Sách nâng cao có 13 chương, 58 bài học1. 4.2. Đặc điểm về nội dung – Sách có tên gọi : Địa lí đại cương, sách kiến thiết xây dựng theo những bài học kinh nghiệm, mỗi bài họcđược trình diễn trong một tiết. – Sách có hai kênh : kênh hình và kênh chữ. – Kênh hình : + Hệ thống kênh hình trong SGK Địa lí10 rất đa dạng chủng loại và phong phú như : hình vẽ, map, tranh vẽ, sơ đồ, biểu đồ, bảng số liệu, … trong đó đa phần là những hình vẽ, biểu đồ, tranh vẽ. + Số lượng kênh hình trong SGK nhiều ( Địa lí là một trong những môn học mà cósố lượng kênh hình trong SGK nhiều nhất ). Nó không chỉ là những hình ảnh, biểu đồ, lượcđồ … minh họa kiến thức và kỹ năng cho kênh chữ mà còn là nguồn tri thức nhu yếu HS phải khai thácvà chớp lấy. + Kênh hình đa dạng và phong phú phong phú đi từ mức độ dễ ( minh họa kỹ năng và kiến thức cho kênh chữ ) đến mức độ khó ( là nguồn tri thức nhu yếu HS phải khai thác và chớp lấy ) so với HS, đó làmột mạng lưới hệ thống logic phối hợp ngặt nghèo với kênh chữ. + Được in màu chất lượng tốt, mang tính nghệ thuật và thẩm mỹ, khoa học, sư phạm. – Kênh chữ : + Được trình diễn dưới dạng những đoạn văn ngắn ở phần trình làng bài, những đoạnvăn tường minh trong bài mới, câu hỏi giữa bài, phần tóm tắt bài, phần câu hỏi bài tập cuốibài. Trong đó SGK cơ bản có 108 câu hỏi giữa bài, SGK nâng cao có 143 câu hỏi giữa bài. + Kênh chữ được trình diễn ngắn gọn, súc tích và rất logic, những câu hỏi giữa bàivà câu hỏi bài tập cuối bài tương thích với trình độ của HS, phát huy được tư duy logic và sựsáng tạo của HS. + Có sự phối hợp 2 phương pháp trình diễn là diễn dịch và quy nạp + Nêu khái niệm, nghiên cứu và phân tích và lý giải khái niệm. – SGK Địa lí 10 có số lượng bài thực hành thực tế tương đối lớn. Sau mỗi chương, đều có 1 đến 2 bài thực hành thực tế : + Sách cơ bản có 7 bài thực hành thực tế trên tổng số 42 bài chiếm 16,6 % + Sách nâng cao có 14 bài thực hành thực tế trên tổng số 58 bài chiếm 24,13 %. + Bài thực hành thực tế rèn luyện cho HS kiến thức và kỹ năng xác lập 1 số ít yếu tố trên map ( kỹnăng map ), nghiên cứu và phân tích biểu đồ, nghiên cứu và phân tích một số ít yếu tố tự nhiên, mối quan hệ qua lại, nhân quả giữa những yếu tố, kiến thức và kỹ năng thiết kế xây dựng ( vẽ ) biểu đồ, kiến thức và kỹ năng vẽ lược đồ, nghiên cứu và phân tích sốliệu thống kê, tìm hiểu và khám phá 1 số ít yếu tố về môi trường tự nhiên địa phương. – Sách Địa 10 có mạng lưới hệ thống câu hỏi giữa bài, cuối bài. Các câu hỏi giữa bài nhằmchốt kiến thức và kỹ năng cơ bản hoặc giúp HS tự nghiên cứu và điều tra, hay rèn luyện kỹ năng và kiến thức Địa lí 10 THPTcho HS. 1.4.3. Đặc điểm về chiêu thức – Cấu trúc, đặc thù chương trình SGK 10 có năng lực tạo điều kiện kèm theo cho GV sửdụng những chiêu thức dạy học tích cực, phát huy tính dữ thế chủ động, sáng tạo, tư duy của HS. – Kênh hình và kênh chữ trong SGK Địa lí 10 đã tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho GV sửdụng phối hợp nhiều hình thức tổ chức triển khai dạy học như : dạy học theo lớp, theo nhóm và cánhân, đặc biệt quan trọng là nhóm lớn và nhóm nhỏ. – Tạo điều kiện kèm theo cho GV sử dụng những phương tiện đi lại dạy học theo hướng hướng dẫn HStự khai thác tri thức trên phương tiện đi lại. – Tạo điều kiện kèm theo cho GV hướng dẫn HS giải pháp tự học, tự điều tra và nghiên cứu tronghọc tập môn Địa lí 10 THPT. 1.4.4. Những thuận tiện và khó khăn vất vả của chương trình SGK Địa lí 10 trung học phổ thông 10 đến cáchoạt động trải nghiệm sáng tạo1. 4.4.1. Thuận lợiKhi tổ chức triển khai HĐ TNST thì GV không cần phải lý giải, nghiên cứu và phân tích những khái niệm đãhọc ở lớp 10 vì hệ thống kênh chữ trong SGK đã biểu lộ một cách rõ ràng và vừa đủ rấtthuận lợi cho HS nhận thức được yếu tố. Nhờ hệ thống kênh hình mà HS hoàn toàn có thể thiết kế xây dựng những trường hợp một cách ngắn gọn, trực quan để xử lý yếu tố nhanh hơn. 1.4.4. 2. Khó khănKiến thức Địa lí THPT nói chung và kỹ năng và kiến thức Địa lí 10 nói riêng, bên cạnh nhữngkiến thức chung thì có những kiến thức và kỹ năng đơn cử có tương quan đến những yếu tố chung củathế giới hoặc đến những khu vực, những vương quốc … nên không thuận tiện cho những HĐ TNST.Có khá nhiều thuật ngữ, khái niệm mới về Địa lí mà HS chưa nắm được. Như vậy, khiến HS khó hoàn toàn có thể vận dụng những kỹ năng và kiến thức đã học vào trong thực tiễn khi tham gia cácHĐTNST. Khi kiến thiết xây dựng những trường hợp trong những hoạt động giải trí dạy học rất khó vì trường hợp xảyra thường chứa xích míc, nhưng kênh hình mang tính trực quan, ít xích míc xảy ra, dẫnđến hiệu quả giải pháp dạy học không cao. 1.5. Đặc điểm tâm sinh lý học viên lớp 10 THPT1. 5.1. Đặc điểm về tâm ý lứa tuổiHọc sinh lớp 10 thường có độ tuổi từ 14 – 15 tuổi, đây là độ tuổi thanh thiếu niênmới lớn, sự tăng trưởng tâm ý ở lứa tuổi này chịu ảnh hưởng tác động của hai yếu tố : sinh lí và xã hội. Sự tăng trưởng về mặt khung hình, những em bộc lộ mình như một người lớn, do đó có tínhđộc lập, tự chủ trong hoạt động giải trí của mình, hình thành ở những em ý thức lao động, học tập, niềm tin và làm chủ tập thể. Sự tăng trưởng về mặt tâm ý, đặc biệt quan trọng tăng trưởng về mặt xã hội nên những em có cơ hộitiếp nhận nhiều thông tin, có sự chín chắn về mặt kinh nghiệm tay nghề hơn những em thiếu niên, khảnăng tiếp thu của những em cũng nhạy bén và sáng tạo hơn. 1.5.2. Đặc điểm về học tập và hoạt động giải trí trí tuệ – Trong hoạt động giải trí học tập : + Về nội dung : Phương pháp, mục tiêu, phương pháp học tập khác xa với những lớp họctrước, hoạt động giải trí tự học, tự điều tra và nghiên cứu được tăng trưởng cao. + Thái độ có ý thức hoch tập của học viên so với học tập ngày càng tăng trưởng, được thôi thúc bằng động cơ và mục tiêu học tập. Ngoài những môn học chính những em cònhọc nhiều môn học khác tương thích với công dụng, hứng thú học tập và gắn liền với địnhhướng nghề nghiệp, ý thức thái độ học tập cũng đã tốt hơn đã thôi thúc sự tăng trưởng có chủđịnh của những quy trình nhận thức và năng lượng tinh chỉnh và điều khiển bản thân trong quy trình học tập. – Đặc điểm về hoạt động giải trí trí tuệ : + Sự tăng trưởng trí tuệ ở lứa tuổi này là tính chủ định đóng vai trò thống trị, tính chủđịnh được tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ ở toàn bộ những quy trình nhận thức, vai trò của ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa ngày càng tăng lên một cách rõ ràng. + Khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo, tư duyngày càng ngặt nghèo, có địa thế căn cứ và ngày càng đồng điệu hơn. Đồng thời tính phê bình của tưduy ngày càng tăng trưởng, quốc tế quan từ từ được hình thành. + Tri thức có mục tiêu đã đạt tới cả cao, tri giác có mục tiêu trở nên có hệ thốngvà hoàn thành xong hơn. 1.5.3. Đặc điểm về nhân cách đa phần – Về sự tự ý thức : ở lứa tuổi này đã tăng trưởng tốt, những em biểu lộ thái độ của cánhân so với những việc làm xung quanh như bằng lòng hay không bằng lòng. – Giao tiếp và đời sống tình cảm : Giao tiếp thường xảy ra trong những nhóm tâm ý cócùng sở trường thích nghi, nhu yếu hoặc đôi bạn, tình bạn đã đi vào chiều sâu so với lứa tuổi trước. Như vậy đặc điểm tâm sinh lí và hoạt động giải trí nhận thức của những em học viên lớp 10 lúc bấy giờ đã hoàn thành xong đến một năng lực triển khai xong nhất định. Năng lực quan sát của những em trở nên thâm thúy và nhạy bén, không dừng ở chỗ chỉgiúp những em ghi nhớ những sự kiện mà còn tạo cơ sở để những em suy luận, so sánh, phân tíchcác đối tượng người dùng Địa lí trong quy trình nhận thức. Đây là lứa tuổi quyết định hành động hình thành nhân sinh quan, thế giới quan xã hội, tựnhiên, những nguyên tắc và những quy tắc ứng xử. Vì vậy, việc sử dụng những giải pháp dạy học tích cực trong môn Địa lí lớp 10THPT, không những cung ứng về nhu yếu giáo dục của môn học mà còn phân phối nhu cầuvề tâm ý lứa tuổi của HS, giúp những em có năng lực khám phá, tăng trưởng và xử lý cácvấn đề dựa trên cơ sở tự giác, được tự do, được tạo năng lực và điều kiện kèm theo dữ thế chủ động tronghoạt động học tập, nghiên cứu và điều tra và xử lý yếu tố. 1.5.4. Những thuận tiện và khó khăn vất vả của đặc điểm tâm sinh lý học viên lớp 10 đến việctổ chức hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo1. 5.4.1. Thuận lợiĐối với HS lớp 10, đây là lứa tuổi mới lớn, những em đã dần hoàn thành xong cả về thể chấtvà nhân cách nên rất thuận tiện trong việc tổ chức triển khai hoạt động giải trí TNST trong dạy học ngoài giờcũng như trên lớp. Ở lứa tuổi này, những em đã hình thành được ý thức, tăng trưởng tư duy lýluận, óc sáng tạo và tính phê phán. Các em rất hứng thú với những hoạt động giải trí có sự va chạmthực tế. Do đó, việc tổ chức triển khai HĐ TNST là rất thích hợp. Khi tổ chức triển khai HĐ TNST thì GV không cần phải lý giải, nghiên cứu và phân tích những khái niệm đãhọc ở lớp 10 vì hệ thống kênh chữ trong SGK đã biểu lộ một cách rõ ràng và vừa đủ rấtthuận lợi cho HS nhận thức được yếu tố. Trong mạng lưới hệ thống sơ đồ, lược đồ, những hiện tượng kỳ lạ Địa lí 10 THPT kinh tế tài chính – xã hội đượcbiểu hiện gắn liền với vùng chủ quyền lãnh thổ đơn cử. Do đó, khi GV tổ chức triển khai HĐ TNST trên lớp cóthể cho HS dùng kỹ năng và kiến thức kênh hình để xử lý yếu tố GV đưa ra một cách thuận lợihơn. Nhờ hệ thống kênh hình mà HS hoàn toàn có thể thiết kế xây dựng những trường hợp một cách ngắn gọn, trực quan để xử lý yếu tố nhanh hơn. 1.5.4. 2. Khó khănBên cạnh những thuận tiện, ở lứa tuổi này, tư duy độc lập của những em chưa phát triểnhoàn thiện, tâm lý và Kết luận hấp tấp vội vàng, theo cảm tính. Vì vậy, những em chưa nhận thứchết về HĐ TNSTKiến thức Địa lí 10 trung học phổ thông lớp 10 cơ bản là kiến thức và kỹ năng chung nên khó khăn vất vả trong việcxác định những chủ đề tổ chức triển khai HĐ TNST trên lớp. Có khá nhiều thuật ngữ, khái niệm mới về Địa lí 10 THPT mà HS chưa nắm được. Như vậy, khiến HS khó hoàn toàn có thể vận dụng những kỹ năng và kiến thức đã học vào thực tiễn khi tham giacác hoạt động giải trí TNST.Khi kiến thiết xây dựng những trường hợp trong những hoạt động giải trí dạy học rất khó vì trường hợp xảyra thường chứa xích míc, nhưng kênh hình mang tính trực quan, ít xích míc xảy ra, dẫnđến tác dụng giải pháp dạy học không cao. Thời gian dạy học, phương tiện đi lại, thiết bị dạy học chưa thật sự được bảo vệ để tổchức có hiệu suất cao hợp đồng TNST.CHƯƠNG 2T Ổ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠOTRONG DẠY HỌC NGOÀI GIỜ MÔN ĐỊA LÍ 10 trung học phổ thông 10 THPT2. 1. Khả năng môn Địa lí 10 trung học phổ thông 10 để tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạotrong dạy học2. 1.1. Môn Địa lí 10 THPTChương trình Địa lí 10 gồm có hai nội dung chính : Địa lí tự nhiên đại cương vàĐịa lí kinh tế tài chính – xã hội, những kiến thức và kỹ năng Địa lí 10 có tương quan ngặt nghèo đến thực tiễn, mang tínhthời sự, nhiều đường lối, chủ trương kinh tế tài chính – xã hội, điều này rất thuận tiện cho những em thựchiện được những hình thức của HĐTNST trong dạy học như : câu lạc bộ, game show Địa lí 10THPT … Từ đó giúp HS thuận tiện liên hệ trong thực tiễn để xử lý yếu tố một cách logic và chặtchẽ. Các hiện tượng kỳ lạ về Địa lí tự nhiên và kinh tế tài chính – xã hội được biểu lộ bằng hệ thốngkiến thức sơ đồ, lược đồ gắn liền với từng vùng chủ quyền lãnh thổ đơn cử. Khi GV tổ chức triển khai cácHĐTNST học viên hoàn toàn có thể thuận tiện phân biệt để xử lý yếu tố do GV đưa ra một cáchthuận lợi. Những kỹ năng và kiến thức chung về dân cư, dân số, phân bổ dân cư, những mô hình tổ chức triển khai sảnxuất thông dụng trên quốc tế hay Nước Ta ( nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải vận tải đường bộ, thông tin liên lạc, thương mại … ), mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, tài nguyên vạn vật thiên nhiên vàsự tăng trưởng bền vững và kiên cố … là những nội dung rất đa dạng chủng loại phong phú và rất tương thích để tổchức HĐTNST trong dạy học. 2.2. Điều kiện để tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Địa lí2. 2.1. Đối với giáo viênCó thể nói thành công xuất sắc của mỗi lần tổ chức triển khai HĐTNST có hay không nhờ vào rấtlớn vào người GV. Vì thế GV ở trường đại trà phổ thông cần tích cực, nhiệt tình và năng nổ trongviệc tổ chức triển khai hoạt động giải trí ngoại khóa nói chung và tổ chức triển khai HĐTNST nói riêng. – GV cần xác lập được chủ đề thích hợp với nội dung bài học kinh nghiệm trong SGK, phù hợpvới đối tượng người tiêu dùng HS và tương thích với co sở vật chất hiện có của nhà trường. – GV cần mạnh dạn yêu cầu quan điểm so với BGH nhà trường, cũng như phụhuynh để tăng cường việc tổ chức triển khai HĐTNST cho những em hơn. – GV phải tích cực thay đổi, phong phú hơn nữa những hình thức, giải pháp, địa điểmtổ chức cũng như lan rộng ra thêm thời lượng tổ chức triển khai hoạt động giải trí theo hướng phát huy tínhtích cực và tăng trưởng năng lượng người học. Đặc biệt cần tăng nhanh việc tổ chức triển khai cho tất cảcác em HS trong trường đều tham gia. Từ đó, phát huy được hiệu suất cao trong tổ chức triển khai cáchoạt động. – GV cần sắp xếp, sắp xếp, cân đối thời hạn cho HS giữa việc học chính khóa và thờigian tham gia vào hoạt động giải trí để việc tổ chức triển khai những HĐTNST không bị chồng chéo. – Chú trọng hơn nữa đến hiệu suất cao tổ chức triển khai hoạt động giải trí và rút kinh nghiệm tay nghề để hoànthành tốt hơn cho những lần hoạt động giải trí sau. 2.3.2. Đối với học viên – HS là chủ thể của hoạt động giải trí, muốn học tập đạt hiệu suất cao thì yên cầu người học xácđịnh động cơ học tập đúng đắn, phải thấy được HĐTNST trong môn Địa lí 10 là một cơhội để rèn kỹ năng và kiến thức và trau dồi thêm kỹ năng và kiến thức. – Trong mọi hoạt động giải trí, HS phải nhận thức được về tầm quan trọng của việc thamgia HĐTNST. – Để đạt hiệu suất cao, HS phải tự giác, tích cực, dữ thế chủ động và nhiệt tình tham gia trongmọi hoạt động giải trí mà GV tổ chức triển khai để sở hữu tri thức, triển khai xong kỹ năng và kiến thức. 2.4. Xác định phương pháp tổ chức triển khai hoạt động giải trí trải nghiệm sáng tạo trong dạy học mônĐịa lí 10 THPT2. 4.1. Nguyên tắc xác lập phương pháp * Nguyên tắc 1 : Tổ chức HĐTNST trong dạy học phải bảo vệ tính khoa học vàtính thống nhất. Tổ chức HĐTNST trong dạy học môn Địa lí 10 THPT phải bảo vệ sự thống nhất, ngặt nghèo và logic ; tương thích với trình độ, thực trạng học tập của HS và những điều kiện kèm theo của nhàtrường. Yêu cầu ủa nguyên tắc này là khi thực thi những bước trong tổ chức triển khai HĐTNST làphải có mối liên hệ ngặt nghèo giữa những bước và phải tuân theo trình tự hài hòa và hợp lý. Nội dung HĐTNST trong dạy học phải tích hợp ngặt nghèo với chương trình chínhkhóa. Một mặt, nhằm mục đích bổ trợ, củng cố và lan rộng ra kỹ năng và kiến thức. Mặt khác gây hứng thú họctập và phát huy những năng lượng sở trường của HS. * Nguyên tắc 2 : Tổ chức HĐTNST trong dạy học phải bảo vệ tính thực tiễn. Ngoài việc phải bảo vệ những điều kiện kèm theo sẵn có thì cáh thức tổ chức triển khai HĐTNST trongdạy học phải tương thích với nhu yếu, tiềm năng cần đạt được của hoạt động giải trí ; đồng thời phảiđảm bảo những điều kiện kèm theo thực tiễn của nhà trường. Tổ chức HĐTNST trong dạy học phải tạo điều kiện kèm theo, hấp dẫn tổng thể HS trong lớptham gia tùy vào trình độ, thực trạng và năng lượng ở mỗi HS. * Nguyên tắc 3 : Tổ chức HĐTNST trong dạy học phải bảo vệ tính sư phạm. Yêu cầu của nguyên tắc này là khi thực thi phải tương thích với tiềm năng giáo dục. Tạo điều kiện kèm theo, thời cơ để hấp dẫn HS tham gia nhằm mục đích kích thích ý thức ham học hỏi củacác em. * Nguyên tắc 4 : Tùy vào từng hoạt động giải trí đơn cử, phải có sự phối hợp ngặt nghèo củaGV – HS, HS – HS. GV hướng dẫn ; HS dữ thế chủ động tích cực, sáng tạo, trải nghiệm bản thân. * Nguyên tắc 5 : Phối hợp với những tổ chức triển khai, đoàn thể trong và ngoài nhà trường đểtranh thủ sự trợ giúp, ủng hộ. 2.4.2. Yêu cầu tổ chức triển khai dạy học – Hoạt động cần mê hoặc và sinh động, tránh ý niệm nặng về hoạt động giải trí dạy họctrên lớp, nhẹ về dạy học. – Nhà trường cần thay đổi, tăng cấp cơ sở vật chất … để phân phối nhu yếu dạy học. – Nhà trường cần xây dựng những câu lạc bộ đội nhóm, nhất là những câu lạc bộ chuyênmôn của từng tổ để lôi cuốn HS tham gia. Qua đó, HS hoàn toàn có thể mày mò năng lượng bản thântrong nhiều môn, nhiều nghành nghề dịch vụ và sau đó chọn cho mình môn yêu dấu. – Ngoài hoạt động giải trí giáo dục ngoài giờ lên lớp được triển khai theo từng tháng trongnăm, nên gộp những hoạt động giải trí nhỏ lẻ vào phân phối chương trình thành một hoạt độnglớn và đặ biệt hoạt động giải trí này cần được xem là một hoạt động giải trí thường niên, nằm trong sựquản lý trình độ ở nhà trường đại trà phổ thông. Có như vậy, hoạt động giải trí ngoại khóa trongtrường đại trà phổ thông mới được duy trì một cách liên tục và có hiệu suất cao. 2.4.3. Các giải pháp để tổ chức2. 4.3.1. Phương pháp xử lý yếu tố – Đây là giải pháp giáo dục nhằm mục đích tăng trưởng năng lượng tư duy, snags tạo giảiquyết yếu tố cuả HS. Các em được đặt trong trường hợp có yếu tố, trải qua việc giảiquyết yếu tố giúp những em lĩnh hội tri thức, kiến thức và kỹ năng và giải pháp. Phương pháp nàythường được vận dụng khi HS nghiên cứu và phân tích, xem xét và yêu cầu những giải pháp trước mộthiện tượng, vấn đề phát sinh trong quy trình hoạt động giải trí. 2.4.3. 2. Phương pháp đóng vaiĐây là giải pháp giáo dục giúp HS thực hành cách ứng xử, bày tỏ thái độ trongnhững trường hợp giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của những em. Đây là chiêu thức giúp HS tâm lý thâm thúy về một yếu tố bằng cách tập trung chuyên sâu vào cáchứng xử đơn cử mà những em quan sát được. Việc “ diễn ” không quan trọng mà quan trọng ởphần xử lí trường hợp khi diễn và bàn luận sau phần diễn đó. 2.4.3. 3. Phương pháp game show – Là tổ chức triển khai HS tìm hiểu và khám phá một yếu tố hay thực thi những hành vi, việc làm hoặchình thành thái độ trải qua một game show nào đó. Trò chơi không phải là thật nhưng làmmột cái gì đó mang tính chân thực và đặc biệt quan trọng, đây là một hoạt động giải trí tự nguyện và nó đượcgiới hạn bằng khoảng trống và thời hạn, có qui luật tổ chức triển khai game show. Thông qua phươngpháp này giúp những em tăng trưởng tổng lực, nâng cao tầm hiểu biết về quốc tế xung quanh, kích thích trí mưu trí, lòng ham hiểu biết … của những em. 2.4.3. 4. Phương pháp tranh luận nhóm – Là chiêu thức tổ chức triển khai dạy học – giáo dục. Trong đó, GV sắp xếp HS thànhnhững nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa những thành viên, từ đó HStrong nhóm trao đổi, trợ giúp cùng nhau phối hợp thao tác để hoàn thành xong trách nhiệm chungcủa nhóm. Phương pháp này giúp HS phát uy cao độ vai trò chủ thể, giúp HS hình thànhcác kiến thức và kỹ năng xã hội và phẩm chất, nhân cách thiết yếu. 2.4.4. Quy trình phong cách thiết kế HĐTNST trong dạy học Địa lí 10 THPTViệc thiết kế xây dựng kế hoạch HĐTNST được gọi là phong cách thiết kế HĐTNST đơn cử. Đây là việcquan trọng, quyết định hành động tới một phần sự thành công xuất sắc của hoạt động giải trí. Việc phong cách thiết kế cácHĐTNST đơn cử được triển khai theo những bước sau : Bước 1 : Xác định tên ( chủ đề ) của HĐTNSTĐặt tên cho hoạt động giải trí là một việc làm thiết yếu vì tên hoạt động giải trí tự nó đã nói lênđược chủ đề, tiềm năng, nội dung, hình thức của hoạt động giải trí. Tên hoạt động giải trí cũng tạo ra đượcsự mê hoặc, hấp dẫn, tạo ra được trạng thái tâm lí đầy hứng khởi và tích cực của HS. Vìvậy, cần có sự tìm tòi, tâm lý để đặt tên hoạt động giải trí sao cho tương thích và mê hoặc. Việc đặt tên cho hoạt động giải trí cần phải bảo vệ những nhu yếu sau : – Rõ ràng, đúng mực, ngắn gọn. – Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động giải trí. – Tạo được ấn tượng khởi đầu cho HS.Bước 2 : Xác định tiềm năng của HĐTNSTMỗi hoạt động giải trí đều được thực thi mục tiêu chung của mỗi chủ đề theo từng thángnhưng cũng có những tiềm năng đơn cử của hoạt động giải trí đó. Mục tiêu của hoạt động giải trí là dự kiến trước tác dụng của hoạt động giải trí .
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


