Luận văn thạc sỹ Kế toán tài sản cố định tại công ty cổ phần du lịch đồ sơn – Tài liệu text
Luận văn thạc sỹ Kế toán tài sản cố định tại công ty cổ phần du lịch đồ sơn
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.99 MB, 296 trang )
Bạn đang đọc: Luận văn thạc sỹ Kế toán tài sản cố định tại công ty cổ phần du lịch đồ sơn – Tài liệu text
1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là quá trình lao động thực sự của tôi, số
liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực và do đơn vị thực tế cung cấp. Nếu sai sót,
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả thực hiện
DƯƠNG THU HƯỜNG
2
2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS. Lê Thị Thanh Hải, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, cùng các thầy
cô trường Đại học Thương mại đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để giúp
tôi hoàn thành khóa học.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban lãnh đạo, cán bộ, nhân viên phòng
Kế toán – Tài chính cùng các cán bộ phòng, ban khác trong Công ty Cổ phần du
lịch Đồ Sơn đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra, khảo sát thực tế, thu
thập số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu để viết luận văn này.
Mặc dù đã cố gắng nỗ lực hết mình nhưng do khả năng, kiến thức và thời
gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những sai sót. Tác giả rất
mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
3
3
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
bq: bình quân
BCTC: Báo cáo tài chính
BTC: Bộ Tài chính
BVHTTDL: Bộ văn hóa thể thao du lịch
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
CCDC: Công cụ dụng cụ
DN: Doanh nghiệp
DT: Doanh thu
GTCL: Giá trị còn lại
GTHM: Giá trị hao mòn
GTGT: Giá trị gia tăng
KH: Khấu hao
NG: Nguyên giá
NVL: Nguyên vật liệu
QĐ: Quyết định
SC: Sửa chữa
SD: Sử dụng
SXKD: Sản xuất kinh doanh
TK: Tài khoản
TT: Thông tư
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ: Tài sản cố định
TSCĐHH: Tài sản cố định hữu hình
TSCĐVH: Tài sản cố định vô hình
4
4
XDCB: Xây dựng cơ bản
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
5
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
1. Sơ đồ kế toán tổng hợp tình hình tăng, giảm TSCĐ
2. Sơ đồ kế toán khấu hao TSCĐ
3. Sơ đồ kế toán sửa chữa nhỏ TSCĐ
4. Sơ đồ kế toán sửa chữa lớn TSCĐ
5. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty
6. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty
7. Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán của công ty
8. Bảng cơ cấu TSCĐ của công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn
9. Danh mục TSCĐ không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ theo thông tư 45/2013BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tổng quan các công trình nghiên cứu
TSCĐ và kế toán TSCĐ luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát
triển của doanh nghiệp. Vì vậy, trong thời gian qua ở Việt Nam đã có không ít các
công trình khoa học, bài viết của các tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Hầu hết các tác
giả đều tập trung hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán TSCĐ, phân
tích thực trạng và đưa ra giải pháp hoàn thiện tại những đơn vị, những loại hình doanh
nghiệp mà đề tài nghiên cứu. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
– Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác kế toán TSCĐ tại Công ty điện lực Thừa Thiên
Huế”, của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang – Học viện tài chính – năm 2012. Đề tài đã
nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản và chỉ ra thực trạng cũng như đề xuất các giải
pháp hoàn thiện về phương pháp khấu hao TSCĐ, hoàn thiện đánh giá TSCĐ, hoàn
thiện kế toán quản trị TSCĐ… Các giải pháp đưa ra dựa trên những bất cập trong kế
toán TSCĐ tại đơn vị khảo sát nhưng chưa bám sát vào thực trạng một số vấn đề còn
–
tồn tại để đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại đơn vị.
Luận văn thạc sĩ “Kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành
Nam”, của tác giả Nguyễn Thị Cúc – Trường đại học Thương mại – năm 2012. Đề tài
tập trung nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp hoàn thiện về hạch toán khấu
hao TSCĐ, hạch toán nâng cấp, sửa chữa TSCĐ, đề xuất áp dụng kế toán quản trị vào
công tác kế toán TSCĐ … Có thể thấy tác giả đã rất cố gắng đưa ra các giải pháp hoàn
thiện công tác kế toán TSCĐ tuy nhiên các giải pháp đó còn mang tính lý thuyết, chưa
–
giải quyết triệt để, khó áp dụng trong điều kiện thực tế tại đơn vị.
Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác kế toán TSCĐ tại Công ty liên doanh khách
sạn Kinh Thành”, của tác giả Dương Thị Lệ Thủy – Học viện tài chính – năm 2012.
Đề tài đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản, thực trạng và một số giải pháp hoàn
thiện như về hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán, trình tự hạch toán, lập kế hoạch
nâng cấp sửa chữa lớn TSCĐ hàng năm… Có thể thấy các giải pháp luận văn đưa ra
đều rất chung chung, không thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện cụ thể phù hợp với
–
thực trạng công tác kế toán TSCĐ tại công ty.
Luận văn thạc sĩ “Kế toán TSCĐ tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị –
7
UDIC”, của tác giả Tạ Văn Hưng – Trường đại học Thương mại – năm 2012. Đề tài
đi sâu vào thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện về chế độ kế toán như:
theo dõi hao mòn và phương pháp tính khấu hao TSCĐ, kiểm kê tài sản, đánh giá
lại tài sản, sửa chữa TSCĐ… Tác giả cơ bản đã đề xuất được những giải pháp hoàn
thiện dựa trên thực tế tại đơn vị mặc dù những giải pháp đó còn chưa đầy đủ, thiếu
sức thuyết phục, chưa mang tính khả thi để có thể áp dụng tại đơn vị.
Hầu hết các luận văn đều đã cơ bản giải quyết được những vấn đề tồn tại
trong kế toán TSCĐ theo phạm vi nghiên cứu, nhưng chưa thật cụ thể, sát với thực
tế kế toán tại đơn vị, nhiều giải pháp chưa đầy đủ, chưa hệ thống giúp người đọc dễ
hiểu và vận dụng phù hợp. Các luận văn đều tương tự nhau và chủ yếu nghiên cứu
trên phương diện kế toán tài chính TSCĐ, trong đó có kết hợp một số nội dung của kế
toán quản trị TSCĐ nhưng chưa có luận văn nào đi theo hướng hoàn thiện kế toán quản
trị TSCĐ một cách đầy đủ, đồng bộ.
Mặc dù đây là một đề tài mang tính truyền thống nhưng ở Công ty cổ phần
du lịch Đồ Sơn vẫn chưa có ai nghiên cứu, đây là một cơ hội cũng là một thách thức
cho tác giả để có thể mở ra hướng nghiên cứu vấn đề này cho Công ty.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự can thiệp của nhà
nước là con đường phát triển đúng đắn. Từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nước ta đã có nhiều thay đổi tích cực.
Theo đó nền kinh tế ngày một phát triển, cùng với đó là sự phát triển tất yếu của các
thành phần kinh tế mà cụ thể là từng doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển, lợi
nhuận trở thành mục tiêu hàng đầu và mang tính sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Song song với sự thay đổi về kinh tế, các doanh nghiệp cũng đã tích luỹ được nhiều
kinh nghiệm hơn trong việc quản lý tài chính nhằm đạt hiệu quả kinh doanh ngày
càng cao, đáp ứng yêu cầu khắc nghiệt của thị trường. Vì vậy, sự đổi mới của chế
độ kế toán mang lại thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp trong việc áp dụng một
cơ chế quản lý khoa học và hiệu quả, đồng thời là một bước tiến quan trọng trong
công tác quản lý vĩ mô của Nhà nước.
8
Trong các khâu quản lý tại doanh nghiệp thì có thể nói công tác quản lý hạch
toán TSCĐ là một trong những mắt xích quan trọng nhất của doanh nghiệp. TSCĐ
không chỉ là điều kiện cơ bản, là nền tảng của quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh mà còn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số tài sản, vốn của doanh nghiệp.
Giá trị tài sản ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trong
điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, giá trị TSCĐ ngày càng lớn thì
yêu cầu quản lý sử dụng ngày càng chặt chẽ, khoa học và hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp là vấn đề
cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quản lý và sử dụng tốt TSCĐ không chỉ có
tác dụng nâng cao chất lượng năng lực hoạt động, tiết kiệm vốn mà còn là một biện
pháp quan trọng khắc phục những tổn thất do hao mòn TSCĐ gây ra.
Mặt khác, trong doanh nghiệp TSCĐ còn là thước đo trình độ quản lý của
doanh nghiệp, khẳng định uy thế, quy mô và tiềm lực vốn của doanh nghiệp. Vì
vậy, công tác kế toán TSCĐ càng thể hiện rõ vai trò của nó, đặc biệt khi gắn công
tác kế toán TSCĐ với việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp.
Trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong
việc tiếp thu chuẩn mực kế toán quốc tế vào hoàn thiện chế độ kế toán nói chung và
kế toán TSCĐ nói riêng để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế. Hiện
nay, Bộ Tài chính đã ban hành các chuẩn mực và chế độ về kế toán TSCĐ nhưng
vẫn trong giai đoạn hoàn thiện, do đó việc vận dụng vào các doanh nghiệp vẫn còn
những bất cập, hạn chế nhất định.
Về mặt thực tiễn trong những năm qua, kế toán TSCĐ ở các DN còn có
nhiều tồn tại, việc áp dụng các phương pháp kế toán còn có sự khác biệt so với chế
độ quy định. Đối với công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn, kế toán TSCĐ theo quan
điểm kế toán tài chính còn có nhiều bất cập trong việc xác định nguyên giá, trong
việc áp dụng các phương pháp tính khấu hao TSCĐ, trong việc sử dụng tài khoản
kế toán, các sổ kế toán, hệ thống báo cáo kế toán… Mặt khác kế toán TSCĐ theo
quan điểm kế toán quản trị tại công ty qua khảo sát đã có nhưng chưa hình thành rõ,
chưa có tính hệ thống. Kế toán quản trị chưa trở thành một bộ phận kế toán độc lập,
9
vai trò của kế toán quản trị còn mờ nhạt. Giá trị của TSCĐ trong công ty chiếm
một phần lớn trong tổng chi phí SXKD. Đặc điểm của TSCĐ sử dụng trong công ty
là những tài sản có giá trị lớn, được dùng nhiều, dễ bị hỏng hóc. Chính vì vậy, một
yêu cầu tất yếu đặt ra là làm thế nào để quản lý và sử dụng có hiệu quả TSCĐ trong
công ty. Muốn vậy bên cạnh việc tổ chức hạch toán TSCĐ sao cho khoa học, hiệu
quả đúng quy định của Nhà nước còn phải thu thập thông tin xung quanh vấn đề
đầu tư TSCĐ, sử dụng TSCĐ như thế nào, khi chúng hư hỏng thì sửa chữa hay
thanh lý đó là vấn đề rất quan trọng các nhà quản lý cấp cao trong công ty cũng rất
quan tâm.
Xuất phát từ thực trạng đó, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Kế toán tài sản
cố định tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn” cho luận văn thạc sĩ của mình nhằm
góp phần giải quyết những bất cập còn tồn tại thuộc vấn đề nghiên cứu, để kế toán
thực sự trở thành công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu của các doanh nghiệp trong việc
quản lý và sử dụng TSCĐ sao cho hiệu quả, đảm bảo năng lực cạnh tranh trong điều
kiện hội nhập.
3. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung
Đề tài tập trung nghiên cứu về kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ
Sơn với các mục tiêu cụ thể sau:
b. Mục tiêu cụ thể
Về mặt lý luận: luận văn sẽ phân tích và hệ thống hóa những vấn đề lý luận
cơ bản về kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp.
Về mặt thực tế: luận văn tập trung tổng hợp, phân tích những kết quả thu
được từ quá trình khảo sát thực tế kế toán TSCĐ tại công ty cổ phần du lịch Đồ
Sơn. Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá ưu, nhược điểm, những tồn tại và nguyên
nhân để đề xuất những giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm hoàn thiện và nâng cao
chất lượng kế toán TSCĐ tại công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
10
a. Đối tượng nghiên cứu:
Lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ và thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty cổ
phần du lịch Đồ Sơn.
b. Phạm vi nghiên cứu:
– Nội dung: Đề tài nghiên cứu 2 loại TSCĐ là TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình dưới
góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị.
– Không gian: tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn
– Thời gian: số liệu sử dụng trong luận văn được thu thập trong 2 năm: 2013 và 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp luận:
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng để xem xét
vấn đề nghiên cứu là kế toán TSCĐ từ lý thuyết đến thực tế tại Công ty cổ phần du
lịch Đồ Sơn.
– Phương pháp thu thập thông tin:
• Phương pháp điều tra:
Hình thức điều tra là phát các phiếu khảo sát tới các nhà quản lý và những
người trực tiếp thực hiện công tác kế toán TSCĐ tại công ty.
Mục đích của các phiếu điều tra là khảo sát thực trạng kế toán TSCĐ tại
công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn qua nhận xét của chính những người liên quan
trong công ty đó.
Nội dung các phiếu điều tra là đặt ra các câu hỏi trắc nghiệm để người được
khảo sát trả lời theo tình hình thực tế của công ty mình. Nội dung các câu hỏi theo
sát các vấn đề nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là các câu hỏi liên quan đến quá trình
thực hiện kế toán TSCĐ tại doanh nghiệp. Các câu hỏi tập trung khảo sát về kế toán
TSCĐ theo cả hai phương diện kế toán tài chính và kế toán quản trị. Về phương
diện kế toán tài chính TSCĐ có các câu hỏi về các loại chứng từ, tài khoản, sổ sách
kế toán TSCĐ, các phương pháp trích khấu hao TSCĐ, kế hoạch sửa chữa nâng cấp
TSCĐ, kiểm kê TSCĐ… Về phương diện kế toán quản trị TSCĐ có các câu hỏi tập
trung nghiên cứu về tình trạng sử dụng TSCĐ, công tác đánh giá hiệu quả sử dụng
11
TSCĐ, kế hoạch đầu tư TSCĐ hàng năm… Các phiếu khảo sát được thiết kế dạng
câu hỏi với các phương án trả lời có sẵn, câu hỏi dạng có/không hoặc sắp xếp mức
độ quan trọng của vấn đề.
Sau khi phát phiếu điều tra cho các đối tượng người được điều tra và thu lại
phiếu điều tra từ những người này, tôi tiến hành tổng hợp thông tin thu thập được từ
phiếu điều tra. Đây chính là cơ sở để phản ánh đúng thực trạng của công ty, từ đó có
thể đánh giá được ưu điểm cũng như những tồn tại cần khắc phục của công tác kế
toán TSCĐ.
Tác giả biên soạn phiếu điều tra và gửi trực tiếp đến các đối tượng cần
khảo sát và thu về các phiếu khảo sát sau khi được hoàn thành bằng đường bưu
điện. Tổng số phiếu phát ra là 11 phiếu, thu về được 10 phiếu. Mẫu phiếu điều
tra được trình bày ở Phụ lục số 01; Bảng tổng hợp kết quả từ các phiếu điều tra
được trình bày ở Phụ lục số 02.
• Phương pháp phỏng vấn:
Phương pháp phỏng vấn được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp hoặc
phỏng vấn qua điện thoại một số nhà quản lý cũng như những người trực tiếp thực
hiện công tác kế toán TSCĐ tại công ty và một số bộ phận liên quan.
Mục đích của các cuộc phỏng vấn là tìm hiểu những vấn đề liên quan mà
phương pháp điều tra chưa đề cập hết về thực trạng kế toán TSCĐ tại công ty cổ phần
du lịch Đồ Sơn qua nhận xét của chính những người liên quan trong công ty đó.
Để thực hiện phương pháp này, tác giả đã thiết lập các câu hỏi phỏng vấn và
tiến hành phỏng vấn các đối tượng đã định rồi ghi lại các câu trả lời của người được
phỏng vấn. Nội dung các cuộc phỏng vấn được tác giả chuẩn bị trước và nội dụng
không hoàn toàn giống nhau giữa những người được phỏng vấn và xoay quanh
những nội dung chính của kế toán TSCĐ. Ngoài ra trong quá trình thực hiện luận
văn, nếu phát sinh những thắc mắc ngoài các nội dung đã được phỏng vấn tác giả
thực hiện phỏng vấn bổ sung qua điện thoại. Nội dung phỏng vấn tác giả tập trung
phỏng vấn các vấn đề về kế toán TSCĐ như: phương pháp hạch toán về tăng giảm
12
TSCĐ, khấu hao TSCĐ, sửa chữa nâng cấp và xây dựng cơ bản TSCĐ, tình hình
quản lý và sử dụng TSCĐ trong công ty.
Các cuộc phỏng vấn được thực hiện trong suốt quá trình lựa chọn và thực
hiện đề tài. Tác giả đã phỏng vấn 10 người, trong đó có cấp quản lý công ty, cán bộ
kế toán công ty.
Qua các cuộc phỏng vấn tác giả có cái nhìn tổng quan, đầy đủ hơn về nhận
thức của các đối tượng được phỏng vấn và thực trạng kế toán TSCĐ tại công ty cổ
phần du lịch Đồ Sơn.
Bảng câu hỏi phỏng vấn được trình bày ở Phụ lục số 03.
• Phương pháp quan sát: quan sát tác phong làm việc, cách mà những người nhân
viên phòng kế toán xử lý công việc của họ.
• Phương pháp nghiên cứu tài liệu: để nắm vững và hiểu một cách chuyên sâu, đầy đủ
về những vấn đề lý luận chung của kế toán TSCĐ qua việc nghiên cứu, tham khảo
các giáo trình chuyên ngành kế toán, chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế, chế
độ kế toán doanh nghiệp hiện hành, các công trình nghiên cứu khoa học và các bài
báo, tạp chí có liên quan.
– Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin:
Từ những kết quả nghiên cứu thu thập được qua các phương pháp trên, tiến
hành hệ thống hóa, phân tích dữ liệu để hiểu và chọn lọc được những thông tin
chính xác, cần thiết sử dụng cho bài luận văn.
6. Ý nghĩa đề tài
Về mặt lý luận
Đề tài góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ
trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Về mặt thực tiễn
Qua nghiên cứu thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ
Sơn, đề tài đã chỉ ra những mặt hạn chế, tích cực, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
khắc phục những bất cập, yếu kém trong tổ chức kế toán TSCĐ tại Công ty, góp
phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán TSCĐ từ đó cung cấp
13
thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ cho nhà quản lý trong việc ra quyết định đầu
tư, mua sắm, đổi mới, sửa chữa, nâng cấp TSCĐ sử dụng tại đơn vị.
Về bản thân tác giả
Trong quá trình thực hiện, tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài “Kế toán TSCĐ tại
Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn”, tác giả có điều kiện hệ thống hóa và hoàn thiện
hơn các kiến thức đã tiếp thu được trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại Nhà
trường, kiến thức chuyên môn về kế toán doanh nghiệp nói chung và kế toán TSCĐ
nói riêng. Bên cạnh đó, tác giả còn có cơ hội tiếp cận với các nhà quản lý, các
chuyên gia kế toán giàu kinh nghiệm, có điều kiện học hỏi chuyên môn vững vàng
của cô giáo hướng dẫn khoa học. Từ đó, tích lũy cho bản thân những kinh nghiệm
học tập và nghiên cứu quý báu để có thể hoàn thành tốt công việc được giao, tạo
nền tàng vững chắc cho quá trình nghiên cứu tiếp theo của mình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, ký hiệu viết
tắt, phụ lục, bài luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ trong doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn
Chương 3: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công
ty cổ phần du lịch Đồ Sơn
14
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TSCĐ
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. TSCĐ, vai trò và nhiệm vụ kế toán TSCĐ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại TSCĐ
a. Một số khái niệm cơ bản về TSCĐ
Bất kể một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
đều phải có một số nguồn lực nhất định. Nguồn lực của doanh nghiệp có thể được
hình thành từ chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc từ các nguồn tài trợ bên ngoài và được
sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Trong số tài sản đầu tư sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp không thể không kể đến TSCĐ.
Theo thông lệ quốc tế, TSCĐ là những tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai
tiêu chuẩn: Chắc chắn doanh nghiệp sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do
sử dụng tài sản đó và giá trị của tài sản đối với doanh nghiệp có thể được xác định
một cách đáng tin cậy. TSCĐ là một bộ phận chính trong tổng tài sản của doanh
nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Việc xác định một khoản chi phí là tài sản hay chi phí có ảnh hưởng đáng
kể đến thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Với tiêu
chuẩn thứ nhất, để xác định một yếu tố có được ghi nhận là tài sản hay không doanh
nghiệp phải đánh giá mức độ chắc chắn của việc thu được lợi ích kinh tế trong
tương lai trên cơ sở các bằng chứng hiện có tại thời điểm hạch toán ban đầu. Lợi ích
kinh tế thu được từ việc sử dụng tài sản chính là các lợi ích nhận được hoặc rủi ro
mà doanh nghiệp phải gánh chịu liên quan đến tài sản. Tiêu chuẩn thứ hai đề cập
đến bằng chứng chứng minh cho việc xác định nguyên giá của TSCĐ.
Các nhà nghiên cứu, xây dựng chế độ kế toán cho rằng: TSCĐ là biểu hiện
của một nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, được phát sinh từ các sự kiện trong
quá khứ và doanh nghiệp chắc chắn sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ
việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Theo quan điểm này, TSCĐ bao gồm
những nguồn lực hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp đã đầu tư nhằm tạo ra lợi
ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp.
15
Theo các nhà nghiên cứu kế toán ở Mỹ: TSCĐ là những tài sản có thời gian
sử dụng lâu dài, được đầu tư sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, không phải đầu tư để bán cho khách hàng. Khái niệm về TSCĐ này nhấn
mạnh đến thời gian phát huy tác dụng của TSCĐ đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, đồng thời TSCĐ đã đầu tư sẽ hình thành nên cơ sở vật
chất kỹ thuật cho doanh nghiệp và TSCĐ hoàn toàn khác biệt với hàng hóa.
Các nhà nghiên cứu kế toán tại Anh cho rằng: Một tài sản được ghi nhận là
TSCĐ khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện: Có thời gian sử dụng lâu dài; Được sử
dụng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và không phục vụ mục đích kinh
doanh thương mại. Khái niệm này tương đồng với quan điểm của các nhà nghiên
cứu kế toán Mỹ.
Ở Việt Nam, khái niệm về kế toán nói chung, TSCĐ nói riêng khác nhau tùy
vào mục đích nghiên cứu, trình độ phát triển kinh tế – xã hội ở các thời kỳ khác
nhau và sự thay đổi tương ứng phù hợp của chế độ tài chính và kế toán.
Theo Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam:
“TSCĐ là bộ phận tài sản của doanh nghiệp, phục vụ sản xuất trong một thời kỳ dài,
tham gia nhiều lần vào sản xuất sản phẩm theo mức độ hao mòn. TSCĐ bao gồm:
nhà cửa, công trình kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng
cụ, đường ống …”.Quan điểm này nhấn mạnh đến thời gian sử dụng lâu dài và tính
dịch chuyển dần giá trị vào sản phẩm, dịch vụ của TSCĐ.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 03; VAS 04): “Các tài sản được
ghi nhận là TSCĐ phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau:
–
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
Thời gian sử dụng ước tính trên một năm;
Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Tiêu chuẩn thứ nhất đề cập đến việc phát huy tác dụng của TSCĐ đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là lợi ích kinh tế thu được hoặc
rủi ro mà doanh nghiệp phải gánh chịu gắn liền với việc sử dụng tài sản. Tiêu chuẩn
thứ hai nhấn mạnh việc xác định giá trị ban đầu của TSCĐ phải trên cơ sở các bằng
16
chứng pháp lý gắn với các giao dịch kinh tế cụ thể như mua sắm, trao đổi hoặc tự
xây dựng. Thời gian sử dụng TSCĐ có thể là thời gian mà doanh nghiệp dự tính sử
dụng TSCĐ hoặc là số lượng sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp dự tính thu được
từ việc sử dụng tài sản, thời gian sử dụng TSCĐ là một trong những căn cứ cho việc
tính khấu hao TSCĐ. Giá trị tối thiểu của TSCĐ được quy định cụ thể trong chế độ
tài chính gắn với từng thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội nhất định nhằm đơn giản
hóa trong quản lý và hạch toán. Khái niệm về TSCĐ theo chuẩn mực kế toán Việt
Nam đề cập toàn diện đến lợi ích thu được từ tài sản đầu tư, tính tin cậy của việc
xác định nguyên giá tài sản, độ dài thời gian sử dụng và giá trị của tài sản.
Như vậy, các khái niệm về TSCĐ phần lớn cho rằng TSCĐ là những tài sản
có giá trị đủ lớn, có thời gian sử dụng lâu dài và được đầu tư, sử dụng để mang lại
lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Mỗi một quốc gia, tùy vào trình độ
phát triển kinh tế, trình độ quản lý và sức mua của đồng tiền ở những thời điểm
khác nhau có thể quy định giá trị tối thiểu để ghi nhận TSCĐ. Giá trị tối thiểu để ghi
nhận là TSCĐ còn phụ thuộc vào quy mô hoạt động, đặc điểm về lĩnh vực, ngành
nghề kinh doanh và năng lực tài chính của mỗi doanh nghiệp. Thời gian sử dụng
của TSCĐ phụ thuộc vào mức độ hao mòn, trình độ khai thác, quản lý của doanh
nghiệp và những tiến bộ khoa học kỹ thuật chi phối. Thông thường, thời gian sử
dụng của TSCĐ là một năm trở lên.
Từ những phân tích trên đây, có thể kết luận rằng: TSCĐ là những tài sản có
hình thái vật chất hoặc không có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử
dụng lâu dài, được đầu tư sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, không phải để bán.
b. Đặc điểm của TSCĐ
– TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp.
Xuất phát từ đặc điểm này, doanh nghiệp cần theo dõi, quản lý chặt chẽ TSCĐ về hiện
vật và chất lượng, tránh hiện tượng mất mát hay không sử dụng được, làm ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp cần lựa
chọn hình thức đầu tư TSCĐ cho phù hợp với nhu cầu, đặc điểm hoạt động sản xuất
17
–
kinh doanh cũng như khả năng tài chính của doanh nghiệp.
TSCĐ được đầu tư sử dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc nhiều năm
hoạt động của doanh nghiệp. Không phải TSCĐ đầu tư sử dụng cho sản xuất sản
phẩm một lần là hư hỏng và giá trị được chuyển toàn bộ vào giá thành sản phẩm.
Chính vì vậy, doanh nghiệp phải quan tâm đến việc bảo vệ, sửa chữa TSCĐ và lựa
chọn phương pháp tính khấu hao TSCĐ thích hợp nhằm đánh giá sát nhất mức độ
–
hao mòn để thu hồi giá trị đã đầu tư của TSCĐ.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh cho đến khi bị hư
hỏng, TSCĐ giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, đồng thời bị giảm dần về
mặt giá trị và giá trị sử dụng (hiện tượng hao mòn TSCĐ). Doanh nghiệp thực hiện
thu hồi giá trị TSCĐ đã đầu tư để tái sản xuất thông qua việc tính trích khấu hao
–
TSCĐ.
TSCĐ là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của
doanh nghiệp. TSCĐ có vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình hình tài chính
của doanh nghiệp và ảnh hưởng đáng kể đến thông tin được trình bày trên bảng cân
đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Chính vì vậy, doanh nghiệp
cần quan tâm quản lý tốt và tổ chức hạch toán TSCĐ phù hợp nhằm nâng cao hiệu
năng công tác quản lý và hiệu quả hoạt động kinh doanh.
c. Phân loại TSCĐ
Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện:
Theo phương pháp phân loại này TSCĐ của doanh nghiệp bao gồm 02 loại,
đó là:
– TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình – TK211)
– TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ vô hình – TK213)
+ TSCĐ hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất
thỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia nhiều vào chu kỳ kinh doanh
nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy
móc, thiết bị, phương tiện vận tải….
+ TSCĐ vô hình : Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một
lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ vô hình, tham gia
18
nhiều vào chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng,
chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả…..
Với cách phân loại này giúp cho nhà quản lý có được cái nhìn tổng quát về
cơ cấu đầu tư vào TSCĐ của doanh nghiệp. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng
hoặc tư điều chỉnh phương hướng đầu tư cho phù hợp với thực tế.Đồng thời các nhà
quản lý có thể căn cứ vào tiêu thức phân loại này để đưa ra biện pháp quản lý tài
sản, quản lý vốn và tính khấu hao chính xác và hợp lý.
Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành:
Theo cách phân loại này TSCĐ được phân loại thành:
– TSCĐ được mua sắm do vốn nhà nước cấp
– TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn vay
– TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung
– TSCĐ nhận góp vốn, vốn liên doanh bằng hiện vật
Với cách phân loại này giúp cho người sử dụng phân biệt được quyền –
nghĩa vụ của đơn vị trong quản lý TSCĐ, giúp doanh nghiệp ra quyết định sử dụng
nguồn vốn khấu hao một cách hợp lý.
Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu:
Theo phương pháp này TSCĐ được chia thành 02 loại, đó là :
– TSCĐ tự có : Là những TSCĐ được mua sắm và đầu tư bằng nguồn vốn tự
có (ngân sách cấp, do đi vay của ngân hàng hoặc trích quỹ đầu tư phát triển của
doanh nghiệp) để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
– TSCĐ thuê ngoài: Là những TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành do việc doanh nghiệp đi
thuê sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng thuê TSCĐ. TSCĐ thuê
ngoài có 02 loại:
+ TSCĐ thuê tài chính: Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công ty
thuê tài chính, theo đó bên cho thuê có quyền chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích
gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê, quyền sở hữu tài sản có thể chuyển
giao vào cuối thời hạn thuê.
19
+ TSCĐ thuê hoạt động: Là tất cả tài sản thuê không thỏa mãn các quy định
về thuê tài chính đều được coi là tài sản cố định thuê hoạt động.
Với cách phân loại này giúp cho việc tổ chức và hạch toán TSCĐ được chặt
chẽ, chính xác và sử dụng TSCĐ có hiệu quả nhất.
Phân loại TSCĐ theo công dụng:
* TSCĐ hữu hình
Căn cứ vào công dụng kinh tế của TSCĐ, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp
có thể được chia thành các loại như sau:
– Nhà cửa, vật kiến trúc (TK2111): Là những TSCĐ của doanh nghiệp được
hình thành sau quá trình thi công xây dựng như: Trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào,
tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống,đường
sắt, đường băng sân bay, cầu tầu, cầu cảng, ụ triền đà.
– Máy móc, thiết bị (TK2112): Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như:máy móc chuyên dùng,
thiết bị công tác, giàn khoan trong lĩnh vực dầu khí, cần cẩu, dây truyền công nghệ,
những máy móc đơn lẻ.
– Phương tiện vận tải, truyền dẫn (TK2113): Là các loại phương tiện vận tải
như phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường không, đường
ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống
nước, băng tải.
– Thiết bị dụng cụ quản lý (TK2114): Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong
công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Máy tính
phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng,
máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt.
– Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm (TK2115): Là
các loại vườn cây lâu năm như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su,vườn cây ăn
quả, thảm cỏ, thảm cây xanh…; Súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm đàn voi, đàn
ngựa, đàn trâu, đàn bò…
– Các loại TSCĐ khác (TK2118): Là toàn bộ các loại TSCĐ khác chưa liệt
20
kê vào 5 loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật,………
* Tài sản cố định vô hình:
– Quyền sử dụng đất
– Quyền phát hành
– Bản quyền, bằng sáng chế phát minh
– Nhãn hiệu hàng hóa
– Phần mềm máy tính
– Giấy phép và giấy chuyển nhượng
– TSCĐ vô hình khác
Với cách phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ trong
doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý TSCĐ và tính toán khấu hao
TSCĐ một cách chính xác.
Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ người ta chia TSCĐ trong doanh nghiệp
ra thành 3 loại. Đó là :
– TSCĐ đang được sử dụng: Đó là những TSCĐ của doanh nghiệp đang dược sử
dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp
an ninh quốc phòng của doanh nghiệp.
– TSCĐ chưa cần dùng: Là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh
hay các hoạt động khác của doanh nghiệp, song hiện tại chưa cần dùng tới, đang
được dự trữ chờ sử dụng sau này.
– TSCĐ không dùng chờ thanh lý, nhượng bán:
+ Là những TSCĐ không cần dùng đến
+ Tài sản sử dụng không có hiệu quả cần bán đi để tái đầu tư
+ Tài sản bán có lãi nên doanh nghiệp bán để kiếm lời
+ Tài sản bị hư hỏng không thể sử dụng được
+ Tài sản sử dụng không có hiệu quả do lạc hậu về kỹ thuật, không còn phù
hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
21
+ Tài sản không còn phù hợp với nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp mà
không thể nhượng bán thì doanh nghiệp tiến hành thanh lý.
Với cách phân loại này nhằm thấy được mức độ sử dụng hiệu quả các TSCĐ
của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ của
doanh nghiệp trong tương lai.
1.1.2. Vai trò TSCĐ
TSCĐ là tư liệu lao động không thể thiếu đối với hoạt động của bất kỳ tổ
chức nào. Trên bình diện quốc gia, TSCĐ cấu thành nên cơ sở hạ tầng của nền kinh
tế, nó đánh giá mức độ văn minh, trình độ phát triển của xã hội và sức mạnh kinh tế,
quốc phòng của một nước. Trong phạm vi doanh nghiệp, TSCĐ phản ánh trình độ
trang bị kỹ thuật, khả năng sản xuất kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường. Vai trò của TSCĐ chỉ thể hiện khi nó được đầu tư
đúng, sử dụng hợp lý và quản lý tốt để phát huy nguồn lực tài sản và mang lại giá trị
sử dụng. Vai trò của TSCĐ trong doanh nghiệp được thể hiện trên những khía cạnh
chủ yếu sau:
Một là, TSCĐ thể hiện trình độ trang bị kỹ thuật của doanh nghiệp, trực tiếp
ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm. Số lượng, chủng loại TSCĐ cũng
như mức độ hiện đại hay lạc hậu của TSCĐ quyết định tính ổn định của sản xuất và
hình thức, chất lượng của sản phẩm.
Hai là, TSCĐ góp phần giải phóng lao động chân tay của con người, tăng
tính chuyên môn hóa của quá trình sản xuất, tăng năng suất lao động. Đồng thời,
với tính đồng bộ và hiện đại của TSCĐ, doanh nghiệp có thể giảm chi phí đầu vào,
hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và vị thế của
mình trên thị trường.
Ba là, TSCĐ góp phần thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao trình độ quản lý,
tạo động lực khuyến khích người lao động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn
và tay nghề làm chủ khoa học kỹ thuật hiện đại. Cơ cấu, số lượng, chủng loại và
chức năng TSCĐ chi phối tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức bộ máy
quản lý của doanh nghiệp. Đồng thời, để thích ứng với TSCĐ đã được đầu tư và
22
trang bị cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi người lao động phải học tập,
nâng cao tay nghề chuyên môn, tăng năng suất lao động, cải thiện thu nhập và triển
vọng phát triển nghề nghiệp.
1.1.3. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán TSCĐ
a. Yêu cầu quản lý TSCĐ
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn đầu
tư nói riêng và vốn sản xuất nói chung. TSCĐ thường chiếm một tỷ trọng lớn so với
tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, chúng được coi là cơ sở vật chất kỹ thuật
của quá trình sản xuất kinh doanh.
TSCĐ là một bộ phận của tư liệu sản xuất, giữ vai trò là công cụ lao động
chủ yếu trong quá trình sản xuất, được coi là cơ sở vật chất, kỹ thuật, trình độ công
nghệ, thế mạnh của doanh nghiệp.
Trong sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, với trình độ khoa học luôn luôn đổi mới không ngừng việc tạo ra các
sản phẩm có chất lượng tốt và giá cả hợp lý thì vấn đề đổi mới cơ sở vật chất kỹ
thuật cho quá trình sản xuất là rất cần thiết. Muốn vậy việc quản lý TSCĐ phải đáp
ứng được những yêu cầu sau:
– Mọi TSCĐ trong doanh nghiệp phải có bộ hồ sơ riêng.TSCĐ phải được phân loại,
thống kê, đánh số và có thẻ riêng, được theo dõi chi tiết cho từng đối tượng ghi
TSCĐ và được phản ánh trong sổ theo dõi TSCĐ.
– Giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ.
– Quản lý chặt chẽ tình hình hao mòn, việc trích và phân bổ khấu hao một cách khoa
học và hợp lý để thu hồi vốn đầu tư phục vụ cho việc tái đầu tư TSCĐ, xác định giá
trị còn lại của TSCĐ một cách chính xác giúp doanh nghiệp kịp thời đổi mới trang
thiết bị phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
– Thường xuyên theo dõi và quản lý TSCĐ để phát hiện sai hỏng kịp thời tiến hành
sửa chữa, nâng cấp TSCĐ phục vụ kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh đảm
bảo cung cấp đầy đủ sản phẩm về chất lượng cũng như số lượng.
b. Nhiệm vụ của kế toán TSCĐ
23
Kế toán TSCĐ phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
– Ghi chép, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời về tình hình hiện có và tình hình
biến động tăng, giảm các loại TSCĐ của toàn doanh nghiệp trên các mặt: Số lượng,
chất lượng, giá trị, cơ cấu… đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc bảo quản, bảo dưỡng,
nâng cấp và sử dụng TSCĐ ở các bộ phận khác nhau nhằm nâng cao hiệu suất sử
dụng TSCĐ.
– Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách và báo cáo kế toán phù hợp
phục vụ cho việc thu nhận, hệ thống hóa, tổng hợp và cung cấp thông tin về tình
hình hiện có và sự biến động của TSCĐ trong doanh nghiệp.
– Tính toán chính xác kịp thời số khấu hao TSCĐ đồng thời phân bổ đúng đắn chi phí
khấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh.
– Phản ánh, kiểm tra chặt chẽ TSCĐ, cũng như các khoản chi phí sửa chữa TSCĐ,
tham gia lập và tổ chức thực hiện dự toán đầu tư XDCB, dự toán sửa chữa lớn
TSCĐ.
– Theo dõi, ghi chép, kiểm tra chặt chẽ quá trình thanh lý, nhượng bán TSCĐ nhằm
đảm bảo việc quản lý sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả.
– Lập các báo cáo về TSCĐ, tham gia phân tích tình hình trang bị, sử dụng và bảo
quản các loại TSCĐ.
1.2. Kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp trên phương diện kế toán tài chính
1.2.1. Kế toán TSCĐ theo quy định của chuẩn mực kế toán
1.2.1.1. Chuẩn mực kế toán Việt Nam về kế toán TSCĐ
Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được xây dựng dựa trên các chuẩn
mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) từ những năm 2000 đến năm 2005 theo nguyên
tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế và
trình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm ban hành chuẩn mực.
Đến nay, Việt Nam đã xây dựng và ban hành được 26 chuẩn mực kế toán.
Việc được xây dựng dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế là nhằm đảm bảo hệ
thống chuẩn mực kế toán Việt Nam góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch
trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, phản ánh được các giao dịch của nền
24
kinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Nằm trong hệ thống 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam có các chuẩn mực
VAS 03 và chuẩn mực VAS 04 ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC
liên quan đến TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
a. Chuẩn mực số 03 – “Tài sản cố định hữu hình”
Định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình :
Theo VAS 03 thì “TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do
doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với
tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.”
VAS 03 cũng nêu tiêu chuẩn để ghi nhận TSCĐ hữu hình như sau:
“Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời cả
bốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau :
(a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản
đó;
(b) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
(c) Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm;
(d) Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.”
Đối với điều kiện thứ nhất, mức độ chắc chắn của việc thu được lợi ích kinh
tế trong tương lai từ tài sản phải dựa trên những bằng chứng sẵn có tại thời điểm ghi
nhận ban đầu. Doanh nghiệp cần đảm bảo rằng mọi lợi ích và rủi ro đã được thực sự
chuyển giao cho doanh nghiệp tại thời điểm doanh nghiệp ghi nhận tài sản là TSCĐ
hữu hình của doanh nghiệp.
Đối với điều kiện thứ hai, việc xác định giá trị của tài sản thường là dựa trên
giá trị chuyển giao (transfer amount) khi mua sắm tài sản hoặc nếu tài sản được
hình thành trong nội bộ doanh nghiệp thì nguyên giá của tài sản là toàn bộ chi phí
mà doanh nghiệp phải trả ra bên ngoài để tạo nên tài sản đó (chi phí nguyên vật
liệu, chi phí lao động, chi phí sản xuất chung,…). Việc xác định giá trị sẽ khó khăn
hơn tài sản được hình thành từ việc trao đổi tài sản và doanh nghiệp phải xác định
giá trị thị trường của tài sản tham gia vào trao đổi. Việc xác định giá trị của tài sản
25
sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần xác định giá trị ban đầu.
Điều kiện thứ ba “thời gian sử dụng hữu ích lớn hơn một kỳ kế toán” là tiêu
chuẩn chung cho bất kỳ tài sản nào được phân loại vào lớp tài sản dài hạn.
Còn điều kiện thứ tư “có hình thái vật chất cụ thể ” được nêu rõ trong định
nghĩa của chuẩn mực kế toán Việt Nam.
Xác định giá trị ban đầu:
Nguyên tắc ghi nhận: “TSCĐ hữu hình phải được xác định giá trị ban đầu
theo nguyên giá.” Các trường hợp xác định nguyên giá TSCĐ hữu hình:
– TSCĐ hữu hình mua sắm: nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm bao gồm giá mua
(trừ (-) các khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá), các khoản thuế
(không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp
đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, như: Chi phí chuẩn bị mặt
bằng; Chi phí vận chuyển và bốc xếp ban đầu; Chi phí lắp đặt, chạy thử (trừ (-) các
khoản thu hồi về sản phẩm, phế liệu do chạy thử); Chi phí chuyên gia và các chi phí
liên quan trực tiếp khác.
Đối với TSCĐ hữu hình hình thành do đầu tư xây dựng theo phương thức
giao thầu, nguyên giá là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng, các chi phí liên
quan trực tiếp khác và lệ phí trước bạ (nếu có).
– TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế: nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng
hoặc tự chế là giá thành thực tế của TSCĐ tự xây dựng, hoặc tự chế cộng (+) chi phí
lắp đặt, chạy thử. Trường hợp doanh nghiệp dùng sản phẩm do mình sản xuất ra để
chuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó cộng (+) các chi
phí trực tiếp liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Trong
các trường hợp trên, mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên giá của các
tài sản đó. Các chi phí không hợp lý, như nguyên liệu, vật liệu lãng phí, lao động
hoặc các khoản chi phí khác sử dụng vượt quá mức bình thường trong quá trình tự
–
xây dựng hoặc tự chế không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình.
TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi: nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dưới
hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không tương tự hoặc tài sản khác được
Xin chân thành cảm ơn ! MỤC LỤCDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTbq : bình quânBCTC : Báo cáo tài chínhBTC : Bộ Tài chínhBVHTTDL : Bộ văn hóa truyền thống thể thao du lịchCBCNV : Cán bộ công nhân viênCCDC : Công cụ dụng cụDN : Doanh nghiệpDT : Doanh thuGTCL : Giá trị còn lạiGTHM : Giá trị hao mònGTGT : Giá trị gia tăngKH : Khấu haoNG : Nguyên giáNVL : Nguyên vật liệuQĐ : Quyết địnhSC : Sửa chữaSD : Sử dụngSXKD : Sản xuất kinh doanhTK : Tài khoảnTT : Thông tưTNHH : Trách nhiệm hữu hạnTSCĐ : Tài sản cố địnhTSCĐHH : Tài sản cố định hữu hìnhTSCĐVH : Tài sản cố định vô hìnhXDCB : Xây dựng cơ bảnXHCN : Xã hội chủ nghĩaDANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ1. Sơ đồ kế toán tổng hợp tình hình tăng, giảm TSCĐ2. Sơ đồ kế toán khấu hao TSCĐ3. Sơ đồ kế toán sửa chữa thay thế nhỏ TSCĐ4. Sơ đồ kế toán thay thế sửa chữa lớn TSCĐ5. Sơ đồ tổ chức triển khai cỗ máy quản trị của công ty6. Sơ đồ tổ chức triển khai cỗ máy kế toán của công ty7. Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán của công ty8. Bảng cơ cấu tổ chức TSCĐ của công ty CP du lịch Đồ Sơn9. Danh mục TSCĐ không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ theo thông tư 45/2013 BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chínhPHẦN MỞ ĐẦU1. Tổng quan những khu công trình nghiên cứuTSCĐ và kế toán TSCĐ luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quan trọng so với sự pháttriển của doanh nghiệp. Vì vậy, trong thời hạn qua ở Nước Ta đã có không ít cáccông trình khoa học, bài viết của những tác giả nghiên cứu và điều tra về yếu tố này. Hầu hết những tácgiả đều tập trung chuyên sâu hệ thống hóa những yếu tố lý luận cơ bản của kế toán TSCĐ, phântích tình hình và đưa ra giải pháp hoàn thành xong tại những đơn vị chức năng, những mô hình doanhnghiệp mà đề tài điều tra và nghiên cứu. Có thể kể đến những khu công trình nghiên cứu và điều tra sau : – Luận văn thạc sĩ “ Hoàn thiện công tác làm việc kế toán TSCĐ tại Công ty điện lực Thừa ThiênHuế ”, của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang – Học viện kinh tế tài chính – năm 2012. Đề tài đãnêu lên những yếu tố lý luận cơ bản và chỉ ra tình hình cũng như yêu cầu những giảipháp triển khai xong về chiêu thức khấu hao TSCĐ, triển khai xong nhìn nhận TSCĐ, hoànthiện kế toán quản trị TSCĐ … Các giải pháp đưa ra dựa trên những chưa ổn trong kếtoán TSCĐ tại đơn vị chức năng khảo sát nhưng chưa bám sát vào tình hình một số ít yếu tố còntồn tại để đề xuất kiến nghị giải pháp triển khai xong kế toán TSCĐ tại đơn vị chức năng. Luận văn thạc sĩ “ Kế toán TSCĐ tại Công ty CP Đầu tư và Xây dựng ThànhNam ”, của tác giả Nguyễn Thị Cúc – Trường ĐH Thương mại – năm 2012. Đề tàitập trung điều tra và nghiên cứu tình hình và đề ra những giải pháp hoàn thành xong về hạch toán khấuhao TSCĐ, hạch toán tăng cấp, sửa chữa thay thế TSCĐ, đề xuất kiến nghị vận dụng kế toán quản trị vàocông tác kế toán TSCĐ … Có thể thấy tác giả đã rất cố gắng nỗ lực đưa ra những giải pháp hoànthiện công tác làm việc kế toán TSCĐ tuy nhiên những giải pháp đó còn mang tính triết lý, chưagiải quyết triệt để, khó vận dụng trong điều kiện kèm theo thực tiễn tại đơn vị chức năng. Luận văn thạc sĩ “ Hoàn thiện công tác làm việc kế toán TSCĐ tại Công ty liên kết kinh doanh kháchsạn Kinh Thành ”, của tác giả Dương Thị Lệ Thủy – Học viện kinh tế tài chính – năm 2012. Đề tài đưa ra những yếu tố lý luận cơ bản, tình hình và một số ít giải pháp hoànthiện như về mạng lưới hệ thống chứng từ, thông tin tài khoản kế toán, trình tự hạch toán, lập kế hoạchnâng cấp thay thế sửa chữa lớn TSCĐ hàng năm … Có thể thấy những giải pháp luận văn đưa rađều rất chung chung, không hề đưa ra những giải pháp triển khai xong đơn cử tương thích vớithực trạng công tác làm việc kế toán TSCĐ tại công ty. Luận văn thạc sĩ “ Kế toán TSCĐ tại Tổng công ty góp vốn đầu tư tăng trưởng hạ tầng đô thị – UDIC ”, của tác giả Tạ Văn Hưng – Trường ĐH Thương mại – năm 2012. Đề tàiđi sâu vào tình hình và yêu cầu những giải pháp triển khai xong về chính sách kế toán như : theo dõi hao mòn và giải pháp tính khấu hao TSCĐ, kiểm kê tài sản, đánh giálại tài sản, thay thế sửa chữa TSCĐ … Tác giả cơ bản đã đề xuất kiến nghị được những giải pháp hoànthiện dựa trên trong thực tiễn tại đơn vị chức năng mặc dầu những giải pháp đó còn chưa không thiếu, thiếusức thuyết phục, chưa mang tính khả thi để hoàn toàn có thể vận dụng tại đơn vị chức năng. Hầu hết những luận văn đều đã cơ bản xử lý được những yếu tố tồn tạitrong kế toán TSCĐ theo khoanh vùng phạm vi nghiên cứu và điều tra, nhưng chưa thật đơn cử, sát với thựctế kế toán tại đơn vị chức năng, nhiều giải pháp chưa rất đầy đủ, chưa mạng lưới hệ thống giúp người đọc dễhiểu và vận dụng tương thích. Các luận văn đều tương tự như nhau và hầu hết nghiên cứutrên phương diện kế toán kinh tế tài chính TSCĐ, trong đó có tích hợp một số ít nội dung của kếtoán quản trị TSCĐ nhưng chưa có luận văn nào đi theo hướng triển khai xong kế toán quảntrị TSCĐ một cách vừa đủ, đồng nhất. Mặc dù đây là một đề tài mang tính truyền thống cuội nguồn nhưng ở Công ty cổ phầndu lịch Đồ Sơn vẫn chưa có ai điều tra và nghiên cứu, đây là một thời cơ cũng là một thách thứccho tác giả để hoàn toàn có thể mở ra hướng nghiên cứu và điều tra yếu tố này cho Công ty. 2. Tính cấp thiết của đề tàiNền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩa có sự can thiệp của nhànước là con đường tăng trưởng đúng đắn. Từ khi quy đổi sang nền kinh tế tài chính thịtrường xu thế xã hội chủ nghĩa, kinh tế tài chính nước ta đã có nhiều biến hóa tích cực. Theo đó nền kinh tế tài chính ngày một tăng trưởng, cùng với đó là sự tăng trưởng tất yếu của cácthành phần kinh tế tài chính mà đơn cử là từng doanh nghiệp. Để sống sót và tăng trưởng, lợinhuận trở thành tiềm năng số 1 và mang tính sống còn của mỗi doanh nghiệp. Song song với sự đổi khác về kinh tế tài chính, những doanh nghiệp cũng đã tích luỹ được nhiềukinh nghiệm hơn trong việc quản lý tài chính nhằm mục đích đạt hiệu suất cao kinh doanh thương mại ngàycàng cao, phân phối nhu yếu khắc nghiệt của thị trường. Vì vậy, sự thay đổi của chếđộ kế toán mang lại thuận tiện rất lớn cho những doanh nghiệp trong việc vận dụng mộtcơ chế quản trị khoa học và hiệu suất cao, đồng thời là một bước tiến quan trọng trongcông tác quản trị vĩ mô của Nhà nước. Trong những khâu quản trị tại doanh nghiệp thì hoàn toàn có thể nói công tác làm việc quản trị hạchtoán TSCĐ là một trong những mắt xích quan trọng nhất của doanh nghiệp. TSCĐkhông chỉ là điều kiện kèm theo cơ bản, là nền tảng của quy trình hoạt động giải trí sản xuất kinhdoanh mà còn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số tài sản, vốn của doanh nghiệp. Giá trị tài sản tác động ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động giải trí của doanh nghiệp, nhất là trongđiều kiện khoa học kỹ thuật tăng trưởng như lúc bấy giờ, giá trị TSCĐ ngày càng lớn thìyêu cầu quản trị sử dụng ngày càng ngặt nghèo, khoa học và hiệu suất cao hơn. Bên cạnh đó, nâng cao hiệu suất cao sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp là vấn đềcơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quan trọng, quản trị và sử dụng tốt TSCĐ không chỉ cótác dụng nâng cao chất lượng năng lượng hoạt động giải trí, tiết kiệm ngân sách và chi phí vốn mà còn là một biệnpháp quan trọng khắc phục những tổn thất do hao mòn TSCĐ gây ra. Mặt khác, trong doanh nghiệp TSCĐ còn là thước đo trình độ quản trị củadoanh nghiệp, chứng minh và khẳng định uy thế, quy mô và tiềm lực vốn của doanh nghiệp. Vìvậy, công tác làm việc kế toán TSCĐ càng biểu lộ rõ vai trò của nó, đặc biệt quan trọng khi gắn côngtác kế toán TSCĐ với việc nâng cao hiệu suất cao sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Trong những năm qua, Nước Ta đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trongviệc tiếp thu chuẩn mực kế toán quốc tế vào triển khai xong chính sách kế toán nói chung vàkế toán TSCĐ nói riêng để cung ứng nhu yếu của quy trình hội nhập kinh tế tài chính. Hiệnnay, Bộ Tài chính đã phát hành những chuẩn mực và chính sách về kế toán TSCĐ nhưngvẫn trong quá trình triển khai xong, do đó việc vận dụng vào những doanh nghiệp vẫn cònnhững chưa ổn, hạn chế nhất định. Về mặt thực tiễn trong những năm qua, kế toán TSCĐ ở những Doanh Nghiệp còn cónhiều sống sót, việc vận dụng những giải pháp kế toán còn có sự độc lạ so với chếđộ lao lý. Đối với công ty CP du lịch Đồ Sơn, kế toán TSCĐ theo quanđiểm kế toán kinh tế tài chính còn có nhiều chưa ổn trong việc xác lập nguyên giá, trongviệc vận dụng những giải pháp tính khấu hao TSCĐ, trong việc sử dụng tài khoảnkế toán, những sổ kế toán, mạng lưới hệ thống báo cáo giải trình kế toán … Mặt khác kế toán TSCĐ theoquan điểm kế toán quản trị tại công ty qua khảo sát đã có nhưng chưa hình thành rõ, chưa có tính mạng lưới hệ thống. Kế toán quản trị chưa trở thành một bộ phận kế toán độc lập, vai trò của kế toán quản trị còn mờ nhạt. Giá trị của TSCĐ trong công ty chiếmmột hầu hết trong tổng ngân sách SXKD. Đặc điểm của TSCĐ sử dụng trong công tylà những tài sản có giá trị lớn, được dùng nhiều, dễ bị hỏng hóc. Chính vì thế, mộtyêu cầu tất yếu đặt ra là làm thế nào để quản trị và sử dụng có hiệu suất cao TSCĐ trongcông ty. Muốn vậy bên cạnh việc tổ chức triển khai hạch toán TSCĐ sao cho khoa học, hiệuquả đúng lao lý của Nhà nước còn phải tích lũy thông tin xung quanh vấn đềđầu tư TSCĐ, sử dụng TSCĐ như thế nào, khi chúng hư hỏng thì sửa chữa thay thế haythanh lý đó là yếu tố rất quan trọng những nhà quản trị cấp cao trong công ty cũng rấtquan tâm. Xuất phát từ tình hình đó, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “ Kế toán tài sảncố định tại Công ty CP du lịch Đồ Sơn ” cho luận văn thạc sĩ của mình nhằmgóp phần xử lý những chưa ổn còn sống sót thuộc yếu tố nghiên cứu và điều tra, để kế toánthực sự trở thành công cụ quản trị kinh tế tài chính hữu hiệu của những doanh nghiệp trong việcquản lý và sử dụng TSCĐ sao cho hiệu suất cao, bảo vệ năng lượng cạnh tranh đối đầu trong điềukiện hội nhập. 3. Mục tiêu nghiên cứua. Mục tiêu chungĐề tài tập trung chuyên sâu nghiên cứu và điều tra về kế toán TSCĐ tại Công ty CP du lịch ĐồSơn với những tiềm năng đơn cử sau : b. Mục tiêu cụ thểVề mặt lý luận : luận văn sẽ nghiên cứu và phân tích và hệ thống hóa những yếu tố lý luậncơ bản về kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp. Về mặt thực tiễn : luận văn tập trung tổng hợp, nghiên cứu và phân tích những hiệu quả thuđược từ quy trình khảo sát trong thực tiễn kế toán TSCĐ tại công ty CP du lịch ĐồSơn. Trên cơ sở đó đưa ra những nhìn nhận ưu, điểm yếu kém, những sống sót và nguyênnhân để yêu cầu những giải pháp đơn cử có tính khả thi nhằm mục đích triển khai xong và nâng caochất lượng kế toán TSCĐ tại công ty CP du lịch Đồ Sơn. 4. Đối tượng và khoanh vùng phạm vi nghiên cứu10a. Đối tượng điều tra và nghiên cứu : Lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ và tình hình kế toán TSCĐ tại Công ty cổphần du lịch Đồ Sơn. b. Phạm vi điều tra và nghiên cứu : – Nội dung : Đề tài nghiên cứu và điều tra 2 loại TSCĐ là TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình dung dướigóc độ kế toán kinh tế tài chính và kế toán quản trị. – Không gian : tại Công ty CP du lịch Đồ Sơn – Thời gian : số liệu sử dụng trong luận văn được tích lũy trong 2 năm : 2013 và 2014.5. Phương pháp nghiên cứu và điều tra – Phương pháp luận : Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng để xem xétvấn đề điều tra và nghiên cứu là kế toán TSCĐ từ triết lý đến trong thực tiễn tại Công ty CP dulịch Đồ Sơn. – Phương pháp tích lũy thông tin : • Phương pháp tìm hiểu : Hình thức tìm hiểu là phát những phiếu khảo sát tới những nhà quản trị và nhữngngười trực tiếp thực thi công tác làm việc kế toán TSCĐ tại công ty. Mục đích của những phiếu tìm hiểu là khảo sát tình hình kế toán TSCĐ tạicông ty CP du lịch Đồ Sơn qua nhận xét của chính những người liên quantrong công ty đó. Nội dung những phiếu tìm hiểu là đặt ra những câu hỏi trắc nghiệm để người đượckhảo sát vấn đáp theo tình hình trong thực tiễn của công ty mình. Nội dung những câu hỏi theosát những yếu tố nghiên cứu và điều tra của đề tài, đặc biệt quan trọng là những câu hỏi tương quan đến quá trìnhthực hiện kế toán TSCĐ tại doanh nghiệp. Các câu hỏi tập trung chuyên sâu khảo sát về kế toánTSCĐ theo cả hai phương diện kế toán kinh tế tài chính và kế toán quản trị. Về phươngdiện kế toán kinh tế tài chính TSCĐ có những câu hỏi về những loại chứng từ, thông tin tài khoản, sổ sáchkế toán TSCĐ, những giải pháp trích khấu hao TSCĐ, kế hoạch thay thế sửa chữa nâng cấpTSCĐ, kiểm kê TSCĐ. .. Về phương diện kế toán quản trị TSCĐ có những câu hỏi tậptrung nghiên cứu và điều tra về thực trạng sử dụng TSCĐ, công tác làm việc nhìn nhận hiệu suất cao sử dụng11TSCĐ, kế hoạch góp vốn đầu tư TSCĐ hàng năm … Các phiếu khảo sát được phong cách thiết kế dạngcâu hỏi với những giải pháp vấn đáp có sẵn, câu hỏi dạng có / không hoặc sắp xếp mứcđộ quan trọng của yếu tố. Sau khi phát phiếu tìm hiểu cho những đối tượng người dùng người được tìm hiểu và thu lạiphiếu tìm hiểu từ những người này, tôi thực thi tổng hợp thông tin tích lũy được từphiếu tìm hiểu. Đây chính là cơ sở để phản ánh đúng tình hình của công ty, từ đó cóthể nhìn nhận được ưu điểm cũng như những sống sót cần khắc phục của công tác làm việc kếtoán TSCĐ.Tác giả biên soạn phiếu tìm hiểu và gửi trực tiếp đến những đối tượng người dùng cầnkhảo sát và thu về những phiếu khảo sát sau khi được hoàn thành xong bằng đường bưuđiện. Tổng số phiếu phát ra là 11 phiếu, thu về được 10 phiếu. Mẫu phiếu điềutra được trình diễn ở Phụ lục số 01 ; Bảng tổng hợp tác dụng từ những phiếu điều trađược trình diễn ở Phụ lục số 02. • Phương pháp phỏng vấn : Phương pháp phỏng vấn được triển khai trải qua phỏng vấn trực tiếp hoặcphỏng vấn qua điện thoại cảm ứng một số ít nhà quản trị cũng như những người trực tiếp thựchiện công tác làm việc kế toán TSCĐ tại công ty và một số ít bộ phận tương quan. Mục đích của những cuộc phỏng vấn là tìm hiểu và khám phá những yếu tố tương quan màphương pháp tìm hiểu chưa đề cập hết về tình hình kế toán TSCĐ tại công ty cổ phầndu lịch Đồ Sơn qua nhận xét của chính những người tương quan trong công ty đó. Để thực thi giải pháp này, tác giả đã thiết lập những câu hỏi phỏng vấn vàtiến hành phỏng vấn những đối tượng người tiêu dùng đã định rồi ghi lại những câu vấn đáp của người đượcphỏng vấn. Nội dung những cuộc phỏng vấn được tác giả chuẩn bị sẵn sàng trước và nội dụngkhông trọn vẹn giống nhau giữa những người được phỏng vấn và xoay quanhnhững nội dung chính của kế toán TSCĐ. Ngoài ra trong quy trình triển khai luậnvăn, nếu phát sinh những vướng mắc ngoài những nội dung đã được phỏng vấn tác giảthực hiện phỏng vấn bổ trợ qua điện thoại cảm ứng. Nội dung phỏng vấn tác giả tập trungphỏng vấn những yếu tố về kế toán TSCĐ như : chiêu thức hạch toán về tăng giảm12TSCĐ, khấu hao TSCĐ, sửa chữa thay thế tăng cấp và thiết kế xây dựng cơ bản TSCĐ, tình hìnhquản lý và sử dụng TSCĐ trong công ty. Các cuộc phỏng vấn được triển khai trong suốt quy trình lựa chọn và thựchiện đề tài. Tác giả đã phỏng vấn 10 người, trong đó có cấp quản trị công ty, cán bộkế toán công ty. Qua những cuộc phỏng vấn tác giả có cái nhìn tổng quan, vừa đủ hơn về nhậnthức của những đối tượng người tiêu dùng được phỏng vấn và tình hình kế toán TSCĐ tại công ty cổphần du lịch Đồ Sơn. Bảng câu hỏi phỏng vấn được trình diễn ở Phụ lục số 03. • Phương pháp quan sát : quan sát tác phong thao tác, cách mà những người nhânviên phòng kế toán giải quyết và xử lý việc làm của họ. • Phương pháp điều tra và nghiên cứu tài liệu : để nắm vững và hiểu một cách nâng cao, đầy đủvề những yếu tố lý luận chung của kế toán TSCĐ qua việc nghiên cứu và điều tra, tham khảocác giáo trình chuyên ngành kế toán, chuẩn mực kế toán Nước Ta và quốc tế, chếđộ kế toán doanh nghiệp hiện hành, những khu công trình nghiên cứu và điều tra khoa học và những bàibáo, tạp chí có tương quan. – Phương pháp tổng hợp, nghiên cứu và phân tích thông tin : Từ những hiệu quả điều tra và nghiên cứu tích lũy được qua những giải pháp trên, tiếnhành hệ thống hóa, nghiên cứu và phân tích tài liệu để hiểu và tinh lọc được những thông tinchính xác, thiết yếu sử dụng cho bài luận văn. 6. Ý nghĩa đề tàiVề mặt lý luậnĐề tài góp thêm phần hệ thống hóa những yếu tố lý luận cơ bản về kế toán TSCĐtrong những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thương mại. Về mặt thực tiễnQua nghiên cứu và điều tra tình hình kế toán TSCĐ tại Công ty CP du lịch ĐồSơn, đề tài đã chỉ ra những mặt hạn chế, tích cực, từ đó đề xuất kiến nghị những giải pháp nhằmkhắc phục những chưa ổn, yếu kém trong tổ chức triển khai kế toán TSCĐ tại Công ty, gópphần nâng cao chất lượng và hiệu suất cao của công tác làm việc kế toán TSCĐ từ đó cung cấp13thông tin đúng chuẩn, kịp thời, rất đầy đủ cho nhà quản trị trong việc ra quyết định hành động đầutư, shopping, thay đổi, sửa chữa thay thế, tăng cấp TSCĐ sử dụng tại đơn vị chức năng. Về bản thân tác giảTrong quy trình thực thi, khám phá, nghiên cứu và điều tra về đề tài “ Kế toán TSCĐ tạiCông ty CP du lịch Đồ Sơn ”, tác giả có điều kiện kèm theo hệ thống hóa và hoàn thiệnhơn những kiến thức và kỹ năng đã tiếp thu được trong suốt quy trình học tập, rèn luyện tại Nhàtrường, kỹ năng và kiến thức trình độ về kế toán doanh nghiệp nói chung và kế toán TSCĐnói riêng. Bên cạnh đó, tác giả còn có thời cơ tiếp cận với những nhà quản trị, cácchuyên gia kế toán giàu kinh nghiệm tay nghề, có điều kiện kèm theo học hỏi trình độ vững vàngcủa cô giáo hướng dẫn khoa học. Từ đó, tích góp cho bản thân những kinh nghiệmhọc tập và điều tra và nghiên cứu quý báu để hoàn toàn có thể hoàn thành xong tốt việc làm được giao, tạonền tàng vững chãi cho quy trình nghiên cứu và điều tra tiếp theo của mình. 7. Kết cấu của luận vănNgoài phần khởi đầu, Tóm lại và hạng mục tài liệu tìm hiểu thêm, ký hiệu viếttắt, phụ lục, bài luận văn gồm 3 chương : Chương 1 : Một số yếu tố lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ trong doanhnghiệpChương 2 : Thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty CP du lịch Đồ SơnChương 3 : Các Tóm lại và giải pháp triển khai xong kế toán TSCĐ tại Côngty CP du lịch Đồ Sơn14CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TSCĐTRONG DOANH NGHIỆP1. 1. TSCĐ, vai trò và trách nhiệm kế toán TSCĐ1. 1.1. Khái niệm, đặc thù và phân loại TSCĐa. Một số khái niệm cơ bản về TSCĐBất kể một doanh nghiệp nào muốn triển khai hoạt động giải trí sản xuất kinh doanhđều phải có một số ít nguồn lực nhất định. Nguồn lực của doanh nghiệp hoàn toàn có thể đượchình thành từ chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc từ những nguồn hỗ trợ vốn bên ngoài và đượcsử dụng để góp vốn đầu tư cơ sở vật chất cung ứng nhu yếu sản xuất kinh doanh thương mại của doanhnghiệp. Trong số tài sản góp vốn đầu tư sử dụng cho hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại củadoanh nghiệp không hề không kể đến TSCĐ.Theo thông lệ quốc tế, TSCĐ là những tài sản phải thỏa mãn nhu cầu đồng thời haitiêu chuẩn : Chắc chắn doanh nghiệp sẽ thu được quyền lợi kinh tế tài chính trong tương lai dosử dụng tài sản đó và giá trị của tài sản so với doanh nghiệp hoàn toàn có thể được xác địnhmột cách đáng an toàn và đáng tin cậy. TSCĐ là một bộ phận chính trong tổng tài sản của doanhnghiệp, có vai trò quan trọng trong việc bộc lộ tình hình kinh tế tài chính của doanhnghiệp. Việc xác lập một khoản ngân sách là tài sản hay ngân sách có tác động ảnh hưởng đángkể đến thông tin được trình diễn trên báo cáo giải trình kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Với tiêuchuẩn thứ nhất, để xác lập một yếu tố có được ghi nhận là tài sản hay không doanhnghiệp phải nhìn nhận mức độ chắc như đinh của việc thu được quyền lợi kinh tế tài chính trongtương lai trên cơ sở những dẫn chứng hiện có tại thời gian hạch toán bắt đầu. Lợi íchkinh tế thu được từ việc sử dụng tài sản chính là những quyền lợi nhận được hoặc rủi romà doanh nghiệp phải gánh chịu tương quan đến tài sản. Tiêu chuẩn thứ hai đề cậpđến dẫn chứng chứng tỏ cho việc xác lập nguyên giá của TSCĐ.Các nhà điều tra và nghiên cứu, kiến thiết xây dựng chính sách kế toán cho rằng : TSCĐ là biểu hiệncủa một nguồn lực do doanh nghiệp trấn áp, được phát sinh từ những sự kiện trongquá khứ và doanh nghiệp chắc như đinh sẽ thu được quyền lợi kinh tế tài chính trong tương lai từviệc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Theo quan điểm này, TSCĐ bao gồmnhững nguồn lực hữu hình và vô hình dung mà doanh nghiệp đã góp vốn đầu tư nhằm mục đích tạo ra lợiích kinh tế tài chính trong tương lai cho doanh nghiệp. 15T heo những nhà nghiên cứu kế toán ở Mỹ : TSCĐ là những tài sản có thời giansử dụng vĩnh viễn, được góp vốn đầu tư sử dụng cho hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại của doanhnghiệp, không phải góp vốn đầu tư để bán cho người mua. Khái niệm về TSCĐ này nhấnmạnh đến thời hạn phát huy công dụng của TSCĐ so với hoạt động giải trí sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, đồng thời TSCĐ đã góp vốn đầu tư sẽ hình thành nên cơ sở vậtchất kỹ thuật cho doanh nghiệp và TSCĐ trọn vẹn độc lạ với sản phẩm & hàng hóa. Các nhà nghiên cứu kế toán tại Anh cho rằng : Một tài sản được ghi nhận làTSCĐ khi thỏa mãn nhu cầu đồng thời những điều kiện kèm theo : Có thời hạn sử dụng lâu dài hơn ; Được sửdụng cho hoạt động giải trí kinh doanh thương mại của doanh nghiệp và không ship hàng mục tiêu kinhdoanh thương mại. Khái niệm này tương đương với quan điểm của những nhà nghiêncứu kế toán Mỹ. Ở Nước Ta, khái niệm về kế toán nói chung, TSCĐ nói riêng khác nhau tùyvào mục tiêu nghiên cứu và điều tra, trình độ tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội ở những thời kỳ khácnhau và sự biến hóa tương ứng tương thích của chính sách kinh tế tài chính và kế toán. Theo Hội đồng Quốc gia chỉ huy biên soạn từ điển bách khoa Nước Ta : “ TSCĐ là bộ phận tài sản của doanh nghiệp, ship hàng sản xuất trong một thời kỳ dài, tham gia nhiều lần vào sản xuất loại sản phẩm theo mức độ hao mòn. TSCĐ gồm có : nhà cửa, khu công trình kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện đi lại vận tải đường bộ, công cụ, dụngcụ, đường ống … ”. Quan điểm này nhấn mạnh vấn đề đến thời hạn sử dụng vĩnh viễn và tínhdịch chuyển dần giá trị vào mẫu sản phẩm, dịch vụ của TSCĐ.Theo chuẩn mực kế toán Nước Ta ( VAS 03 ; VAS 04 ) : “ Các tài sản đượcghi nhận là TSCĐ phải thỏa mãn nhu cầu đồng thời toàn bộ bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau : Chắc chắn thu được quyền lợi kinh tế tài chính trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó ; Nguyên giá tài sản phải được xác lập một cách đáng đáng tin cậy ; Thời gian sử dụng ước tính trên một năm ; Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo pháp luật hiện hành. Tiêu chuẩn thứ nhất đề cập đến việc phát huy công dụng của TSCĐ đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp, đó là quyền lợi kinh tế tài chính thu được hoặcrủi ro mà doanh nghiệp phải gánh chịu gắn liền với việc sử dụng tài sản. Tiêu chuẩnthứ hai nhấn mạnh vấn đề việc xác lập giá trị khởi đầu của TSCĐ phải trên cơ sở những bằng16chứng pháp lý gắn với những thanh toán giao dịch kinh tế tài chính đơn cử như shopping, trao đổi hoặc tựxây dựng. Thời gian sử dụng TSCĐ hoàn toàn có thể là thời hạn mà doanh nghiệp dự trù sửdụng TSCĐ hoặc là số lượng mẫu sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp dự trù thu đượctừ việc sử dụng tài sản, thời hạn sử dụng TSCĐ là một trong những địa thế căn cứ cho việctính khấu hao TSCĐ. Giá trị tối thiểu của TSCĐ được lao lý đơn cử trong chế độtài chính gắn với từng thời kỳ tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội nhất định nhằm mục đích đơn giảnhóa trong quản trị và hạch toán. Khái niệm về TSCĐ theo chuẩn mực kế toán ViệtNam đề cập tổng lực đến quyền lợi thu được từ tài sản góp vốn đầu tư, tính an toàn và đáng tin cậy của việcxác định nguyên giá tài sản, độ dài thời hạn sử dụng và giá trị của tài sản. Như vậy, những khái niệm về TSCĐ hầu hết cho rằng TSCĐ là những tài sảncó giá trị đủ lớn, có thời hạn sử dụng vĩnh viễn và được góp vốn đầu tư, sử dụng để mang lạilợi ích kinh tế tài chính trong tương lai cho doanh nghiệp. Mỗi một vương quốc, tùy vào trình độphát triển kinh tế tài chính, trình độ quản trị và nhu cầu mua sắm của đồng xu tiền ở những thời điểmkhác nhau hoàn toàn có thể lao lý giá trị tối thiểu để ghi nhận TSCĐ. Giá trị tối thiểu để ghinhận là TSCĐ còn nhờ vào vào quy mô hoạt động giải trí, đặc thù về nghành, ngànhnghề kinh doanh thương mại và năng lượng kinh tế tài chính của mỗi doanh nghiệp. Thời gian sử dụngcủa TSCĐ phụ thuộc vào vào mức độ hao mòn, trình độ khai thác, quản trị của doanhnghiệp và những văn minh khoa học kỹ thuật chi phối. Thông thường, thời hạn sửdụng của TSCĐ là một năm trở lên. Từ những nghiên cứu và phân tích trên đây, hoàn toàn có thể Tóm lại rằng : TSCĐ là những tài sản cóhình thái vật chất hoặc không có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời hạn sửdụng vĩnh viễn, được góp vốn đầu tư sử dụng cho hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại của doanhnghiệp, không phải để bán. b. Đặc điểm của TSCĐ – TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, thuộc quyền quản trị, sử dụng của doanh nghiệp. Xuất phát từ đặc thù này, doanh nghiệp cần theo dõi, quản trị ngặt nghèo TSCĐ về hiệnvật và chất lượng, tránh hiện tượng kỳ lạ mất mát hay không sử dụng được, làm ảnh hưởngđến hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp cần lựachọn hình thức góp vốn đầu tư TSCĐ cho tương thích với nhu yếu, đặc thù hoạt động sản xuất17kinh doanh cũng như năng lực kinh tế tài chính của doanh nghiệp. TSCĐ được góp vốn đầu tư sử dụng cho nhiều chu kỳ luân hồi sản xuất kinh doanh thương mại hoặc nhiều nămhoạt động của doanh nghiệp. Không phải TSCĐ góp vốn đầu tư sử dụng cho sản xuất sảnphẩm một lần là hư hỏng và giá trị được chuyển hàng loạt vào giá tiền mẫu sản phẩm. Chính thế cho nên, doanh nghiệp phải chăm sóc đến việc bảo vệ, sửa chữa thay thế TSCĐ và lựachọn giải pháp tính khấu hao TSCĐ thích hợp nhằm mục đích nhìn nhận sát nhất mức độhao mòn để tịch thu giá trị đã góp vốn đầu tư của TSCĐ.Trong quy trình tham gia vào hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại cho đến khi bị hưhỏng, TSCĐ giữ nguyên được hình thái vật chất khởi đầu, đồng thời bị giảm dần vềmặt giá trị và giá trị sử dụng ( hiện tượng kỳ lạ hao mòn TSCĐ ). Doanh nghiệp thực hiệnthu hồi giá trị TSCĐ đã góp vốn đầu tư để tái sản xuất trải qua việc tính trích khấu haoTSCĐ. TSCĐ là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản củadoanh nghiệp. TSCĐ có vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp và ảnh hưởng tác động đáng kể đến thông tin được trình diễn trên bảng cânđối kế toán và báo cáo giải trình tác dụng hoạt động giải trí kinh doanh thương mại. Chính thế cho nên, doanh nghiệpcần chăm sóc quản trị tốt và tổ chức triển khai hạch toán TSCĐ tương thích nhằm mục đích nâng cao hiệunăng công tác làm việc quản trị và hiệu suất cao hoạt động giải trí kinh doanh thương mại. c. Phân loại TSCĐ Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu lộ : Theo chiêu thức phân loại này TSCĐ của doanh nghiệp gồm có 02 loại, đó là : – TSCĐ có hình thái vật chất ( TSCĐ hữu hình – TK211 ) – TSCĐ không có hình thái vật chất ( TSCĐ vô hình – TK213 ) + TSCĐ hữu hình : Là những tư liệu lao động hầu hết có hình thái vật chấtthỏa mãn những tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia nhiều vào chu kỳ luân hồi kinh doanhnhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất bắt đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máymóc, thiết bị, phương tiện đi lại vận tải đường bộ …. + TSCĐ vô hình dung : Là những tài sản không có hình thái vật chất, bộc lộ mộtlượng giá trị đã được góp vốn đầu tư thỏa mãn nhu cầu những tiêu chuẩn của TSCĐ vô hình dung, tham gia18nhiều vào chu kỳ luân hồi kinh doanh thương mại, như một số ít ngân sách tương quan trực tiếp tới đất sử dụng, ngân sách về quyền phát hành, bằng ý tưởng, văn bằng bản quyền trí tuệ, bản quyền tác giả … .. Với cách phân loại này giúp cho nhà quản trị có được cái nhìn tổng quát vềcơ cấu góp vốn đầu tư vào TSCĐ của doanh nghiệp. Đây là địa thế căn cứ quan trọng để xây dựnghoặc tư kiểm soát và điều chỉnh phương hướng góp vốn đầu tư cho tương thích với thực tiễn. Đồng thời những nhàquản lý hoàn toàn có thể địa thế căn cứ vào tiêu thức phân loại này để đưa ra giải pháp quản trị tàisản, quản trị vốn và tính khấu hao đúng mực và hài hòa và hợp lý. Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành : Theo cách phân loại này TSCĐ được phân loại thành : – TSCĐ được shopping do vốn nhà nước cấp – TSCĐ được shopping, thiết kế xây dựng bằng nguồn vốn vay – TSCĐ được shopping, thiết kế xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ trợ – TSCĐ nhận góp vốn, vốn liên kết kinh doanh bằng hiện vậtVới cách phân loại này giúp cho người sử dụng phân biệt được quyền – nghĩa vụ và trách nhiệm của đơn vị chức năng trong quản trị TSCĐ, giúp doanh nghiệp ra quyết định hành động sử dụngnguồn vốn khấu hao một cách hài hòa và hợp lý. Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu : Theo giải pháp này TSCĐ được chia thành 02 loại, đó là : – TSCĐ tự có : Là những TSCĐ được shopping và góp vốn đầu tư bằng nguồn vốn tựcó ( ngân sách cấp, do đi vay của ngân hàng nhà nước hoặc trích quỹ góp vốn đầu tư tăng trưởng củadoanh nghiệp ) để ship hàng cho sản xuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp. – TSCĐ thuê ngoài : Là những TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp, là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành do việc doanh nghiệp đithuê sử dụng trong một thời hạn nhất định theo hợp đồng thuê TSCĐ. TSCĐ thuêngoài có 02 loại : + TSCĐ thuê kinh tế tài chính : Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công tythuê kinh tế tài chính, theo đó bên cho thuê có quyền chuyển giao phần đông rủi ro đáng tiếc và lợi íchgắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê, quyền sở hữu tài sản hoàn toàn có thể chuyểngiao vào cuối thời hạn thuê. 19 + TSCĐ thuê hoạt động giải trí : Là tổng thể tài sản thuê không thỏa mãn nhu cầu những quy địnhvề thuê kinh tế tài chính đều được coi là tài sản cố định thuê hoạt động giải trí. Với cách phân loại này giúp cho việc tổ chức triển khai và hạch toán TSCĐ được chặtchẽ, đúng mực và sử dụng TSCĐ có hiệu suất cao nhất. Phân loại TSCĐ theo hiệu quả : * TSCĐ hữu hìnhCăn cứ vào hiệu quả kinh tế tài chính của TSCĐ, hàng loạt TSCĐ của doanh nghiệpcó thể được chia thành những loại như sau : – Nhà cửa, vật kiến trúc ( TK2111 ) : Là những TSCĐ của doanh nghiệp đượchình thành sau quy trình thiết kế kiến thiết xây dựng như : Trụ sở thao tác, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, những khu công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu và cống, đườngsắt, đường sân bay trường bay, cầu tầu, cầu cảng, ụ triền đà. – Máy móc, thiết bị ( TK2112 ) : Là hàng loạt những loại máy móc, thiết bị dùngtrong hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp như : máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác làm việc, giàn khoan trong nghành dầu khí, cần cẩu, dây truyền công nghệ tiên tiến, những máy móc đơn lẻ. – Phương tiện vận tải đường bộ, truyền dẫn ( TK2113 ) : Là những loại phương tiện đi lại vận tảinhư phương tiện đi lại vận tải đường bộ đường tàu, đường thủy, đường đi bộ, đường không, đườngống và những thiết bị truyền dẫn như mạng lưới hệ thống thông tin, mạng lưới hệ thống điện, đường ốngnước, băng tải. – Thiết bị dụng cụ quản trị ( TK2114 ) : Là những thiết bị, dụng cụ dùng trongcông tác quản trị hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp như : Máy tínhphục vụ quản trị, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ giám sát, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt. – Vườn cây nhiều năm, súc vật thao tác và / hoặc cho mẫu sản phẩm ( TK2115 ) : Làcác loại vườn cây nhiều năm như vườn cafe, vườn chè, vườn cao su đặc, vườn cây ănquả, thảm cỏ, thảm cây xanh … ; Súc vật thao tác hoặc cho loại sản phẩm đàn voi, đànngựa, đàn trâu, đàn bò … – Các loại TSCĐ khác ( TK2118 ) : Là hàng loạt những loại TSCĐ khác chưa liệt20kê vào 5 loại trên như tranh vẽ, tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật, ……… * Tài sản cố định vô hình dung : – Quyền sử dụng đất – Quyền phát hành – Bản quyền, văn bằng bản quyền trí tuệ ý tưởng – Nhãn hiệu sản phẩm & hàng hóa – Phần mềm máy tính – Giấy phép và giấy chuyển nhượng ủy quyền – TSCĐ vô hình dung khácVới cách phân loại này cho thấy tác dụng đơn cử của từng loại TSCĐ trongdoanh nghiệp tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho việc quản trị TSCĐ và đo lường và thống kê khấu haoTSCĐ một cách đúng mực. Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụngCăn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ người ta chia TSCĐ trong doanh nghiệpra thành 3 loại. Đó là : – TSCĐ đang được sử dụng : Đó là những TSCĐ của doanh nghiệp đang dược sửdụng cho những hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại hoặc những hoạt động giải trí phúc lợi, sự nghiệpan ninh quốc phòng của doanh nghiệp. – TSCĐ chưa cần dùng : Là những TSCĐ thiết yếu cho hoạt động giải trí sản xuất kinh doanhhay những hoạt động giải trí khác của doanh nghiệp, tuy nhiên hiện tại chưa cần dùng tới, đangđược dự trữ chờ sử dụng sau này. – TSCĐ không dùng chờ thanh lý, nhượng bán : + Là những TSCĐ không cần dùng đến + Tài sản sử dụng không có hiệu suất cao cần bán đi để tái đầu tư + Tài sản bán có lãi nên doanh nghiệp bán để kiếm lời + Tài sản bị hư hỏng không hề sử dụng được + Tài sản sử dụng không có hiệu suất cao do lỗi thời về kỹ thuật, không còn phùhợp với hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp21 + Tài sản không còn tương thích với nhu yếu sản xuất của doanh nghiệp màkhông thể nhượng bán thì doanh nghiệp thực thi thanh lý. Với cách phân loại này nhằm mục đích thấy được mức độ sử dụng hiệu suất cao những TSCĐcủa doanh nghiệp, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu suất cao sử dụng TSCĐ củadoanh nghiệp trong tương lai. 1.1.2. Vai trò TSCĐTSCĐ là tư liệu lao động không hề thiếu so với hoạt động giải trí của bất kể tổchức nào. Trên bình diện vương quốc, TSCĐ cấu thành nên hạ tầng của nền kinhtế, nó nhìn nhận mức độ văn minh, trình độ tăng trưởng của xã hội và sức mạnh kinh tế tài chính, quốc phòng của một nước. Trong khoanh vùng phạm vi doanh nghiệp, TSCĐ phản ánh trình độtrang bị kỹ thuật, năng lực sản xuất kinh doanh thương mại cũng như năng lượng cạnh tranh đối đầu củadoanh nghiệp trên thị trường. Vai trò của TSCĐ chỉ bộc lộ khi nó được đầu tưđúng, sử dụng hài hòa và hợp lý và quản trị tốt để phát huy nguồn lực tài sản và mang lại giá trịsử dụng. Vai trò của TSCĐ trong doanh nghiệp được bộc lộ trên những khía cạnhchủ yếu sau : Một là, TSCĐ biểu lộ trình độ trang bị kỹ thuật của doanh nghiệp, trực tiếpảnh hưởng đến số lượng và chất lượng mẫu sản phẩm. Số lượng, chủng loại TSCĐ cũngnhư mức độ tân tiến hay lỗi thời của TSCĐ quyết định tính không thay đổi của sản xuất vàhình thức, chất lượng của mẫu sản phẩm. Hai là, TSCĐ góp thêm phần giải phóng lao động chân tay của con người, tăngtính chuyên môn hóa của quy trình sản xuất, tăng hiệu suất lao động. Đồng thời, với tính đồng điệu và tân tiến của TSCĐ, doanh nghiệp hoàn toàn có thể giảm ngân sách nguồn vào, hạ giá tiền mẫu sản phẩm, dịch vụ, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh đối đầu và vị thế củamình trên thị trường. Ba là, TSCĐ góp thêm phần thôi thúc doanh nghiệp nâng cao trình độ quản trị, tạo động lực khuyến khích người lao động học tập, nâng cao trình độ chuyên mônvà kinh nghiệm tay nghề làm chủ khoa học kỹ thuật văn minh. Cơ cấu, số lượng, chủng loại vàchức năng TSCĐ chi phối tổ chức triển khai hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại và tổ chức triển khai bộ máyquản lý của doanh nghiệp. Đồng thời, để thích ứng với TSCĐ đã được góp vốn đầu tư và22trang bị cho hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại, yên cầu người lao động phải học tập, nâng cao kinh nghiệm tay nghề trình độ, tăng hiệu suất lao động, cải tổ thu nhập và triểnvọng tăng trưởng nghề nghiệp. 1.1.3. Yêu cầu quản trị và trách nhiệm của kế toán TSCĐa. Yêu cầu quản trị TSCĐTrong những doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn đầutư nói riêng và vốn sản xuất nói chung. TSCĐ thường chiếm một tỷ trọng lớn so vớitổng vốn kinh doanh thương mại của doanh nghiệp, chúng được coi là cơ sở vật chất kỹ thuậtcủa quy trình sản xuất kinh doanh thương mại. TSCĐ là một bộ phận của tư liệu sản xuất, giữ vai trò là công cụ lao độngchủ yếu trong quy trình sản xuất, được coi là cơ sở vật chất, kỹ thuật, trình độ côngnghệ, thế mạnh của doanh nghiệp. Trong sự tăng trưởng nhanh gọn của nền kinh tế thị trường khuynh hướng xãhội chủ nghĩa, với trình độ khoa học luôn luôn thay đổi không ngừng việc tạo ra cácsản phẩm có chất lượng tốt và Ngân sách chi tiêu hài hòa và hợp lý thì yếu tố thay đổi cơ sở vật chất kỹthuật cho quy trình sản xuất là rất thiết yếu. Muốn vậy việc quản trị TSCĐ phải đápứng được những nhu yếu sau : – Mọi TSCĐ trong doanh nghiệp phải có bộ hồ sơ riêng. TSCĐ phải được phân loại, thống kê, đánh số và có thẻ riêng, được theo dõi chi tiết cụ thể cho từng đối tượng người dùng ghiTSCĐ và được phản ánh trong sổ theo dõi TSCĐ. – Giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng bắt đầu của TSCĐ. – Quản lý ngặt nghèo tình hình hao mòn, việc trích và phân chia khấu hao một cách khoahọc và hài hòa và hợp lý để tịch thu vốn góp vốn đầu tư ship hàng cho việc tái đầu tư TSCĐ, xác lập giátrị còn lại của TSCĐ một cách đúng chuẩn giúp doanh nghiệp kịp thời thay đổi trangthiết bị Giao hàng nhu yếu sản xuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp. – Thường xuyên theo dõi và quản trị TSCĐ để phát hiện sai hỏng kịp thời tiến hànhsửa chữa, tăng cấp TSCĐ Giao hàng kịp thời cho quy trình sản xuất kinh doanh thương mại đảmbảo cung ứng không thiếu loại sản phẩm về chất lượng cũng như số lượng. b. Nhiệm vụ của kế toán TSCĐ23Kế toán TSCĐ phải triển khai tốt những trách nhiệm sau đây : – Ghi chép, phản ánh đúng chuẩn, không thiếu, kịp thời về tình hình hiện có và tình hìnhbiến động tăng, giảm những loại TSCĐ của toàn doanh nghiệp trên những mặt : Số lượng, chất lượng, giá trị, cơ cấu tổ chức … đồng thời trấn áp ngặt nghèo việc dữ gìn và bảo vệ, bảo trì, tăng cấp và sử dụng TSCĐ ở những bộ phận khác nhau nhằm mục đích nâng cao hiệu suất sửdụng TSCĐ. – Tổ chức vận dụng mạng lưới hệ thống chứng từ, thông tin tài khoản, sổ sách và báo cáo giải trình kế toán phù hợpphục vụ cho việc thu nhận, hệ thống hóa, tổng hợp và phân phối thông tin về tìnhhình hiện có và sự dịch chuyển của TSCĐ trong doanh nghiệp. – Tính toán đúng chuẩn kịp thời số khấu hao TSCĐ đồng thời phân chia đúng đắn chi phíkhấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh thương mại. – Phản ánh, kiểm tra ngặt nghèo TSCĐ, cũng như những khoản ngân sách thay thế sửa chữa TSCĐ, tham gia lập và tổ chức triển khai triển khai dự trù góp vốn đầu tư XDCB, dự trù thay thế sửa chữa lớnTSCĐ. – Theo dõi, ghi chép, kiểm tra ngặt nghèo quy trình thanh lý, nhượng bán TSCĐ nhằmđảm bảo việc quản trị sử dụng vốn đúng mục tiêu, có hiệu suất cao. – Lập những báo cáo giải trình về TSCĐ, tham gia nghiên cứu và phân tích tình hình trang bị, sử dụng và bảoquản những loại TSCĐ. 1.2. Kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp trên phương diện kế toán tài chính1. 2.1. Kế toán TSCĐ theo lao lý của chuẩn mực kế toán1. 2.1.1. Chuẩn mực kế toán Nước Ta về kế toán TSCĐChuẩn mực kế toán Nước Ta ( VAS ) được kiến thiết xây dựng dựa trên những chuẩnmực kế toán quốc tế ( IAS / IFRS ) từ những năm 2000 đến năm 2005 theo nguyêntắc vận dụng có tinh lọc thông lệ quốc tế, tương thích với đặc thù nền kinh tế tài chính vàtrình độ quản trị của doanh nghiệp Nước Ta tại thời gian phát hành chuẩn mực. Đến nay, Nước Ta đã thiết kế xây dựng và phát hành được 26 chuẩn mực kế toán. Việc được thiết kế xây dựng dựa trên những chuẩn mực kế toán quốc tế là nhằm mục đích bảo vệ hệthống chuẩn mực kế toán Nước Ta góp thêm phần nâng cao tính công khai minh bạch, minh bạchtrong báo cáo giải trình kinh tế tài chính của những doanh nghiệp, phản ánh được những thanh toán giao dịch của nền24kinh tế thị trường, cung ứng nhu yếu hội nhập quốc tế. Nằm trong mạng lưới hệ thống 26 chuẩn mực kế toán Nước Ta có những chuẩn mựcVAS 03 và chuẩn mực VAS 04 phát hành theo quyết định hành động số 149 / 2001 / QĐ-BTCliên quan đến TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình dung. a. Chuẩn mực số 03 – “ Tài sản cố định hữu hình ” Định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình : Theo VAS 03 thì “ TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất dodoanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động giải trí sản xuất, kinh doanh thương mại tương thích vớitiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. ” VAS 03 cũng nêu tiêu chuẩn để ghi nhận TSCĐ hữu hình như sau : “ Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn nhu cầu đồng thời cảbốn ( 4 ) tiêu chuẩn ghi nhận sau : ( a ) Chắc chắn thu được quyền lợi kinh tế tài chính trong tương lai từ việc sử dụng tài sảnđó ; ( b ) Nguyên giá tài sản phải được xác lập một cách đáng đáng tin cậy ; ( c ) Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm ; ( d ) Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo lao lý hiện hành. ” Đối với điều kiện kèm theo thứ nhất, mức độ chắc như đinh của việc thu được quyền lợi kinhtế trong tương lai từ tài sản phải dựa trên những vật chứng sẵn có tại thời gian ghinhận bắt đầu. Doanh nghiệp cần bảo vệ rằng mọi quyền lợi và rủi ro đáng tiếc đã được thực sựchuyển giao cho doanh nghiệp tại thời gian doanh nghiệp ghi nhận tài sản là TSCĐhữu hình của doanh nghiệp. Đối với điều kiện kèm theo thứ hai, việc xác lập giá trị của tài sản thường là dựa trêngiá trị chuyển giao ( transfer amount ) khi shopping tài sản hoặc nếu tài sản đượchình thành trong nội bộ doanh nghiệp thì nguyên giá của tài sản là hàng loạt chi phímà doanh nghiệp phải trả ra bên ngoài để tạo nên tài sản đó ( ngân sách nguyên vậtliệu, ngân sách lao động, chi phí sản xuất chung, … ). Việc xác lập giá trị sẽ khó khănhơn tài sản được hình thành từ việc trao đổi tài sản và doanh nghiệp phải xác địnhgiá trị thị trường của tài sản tham gia vào trao đổi. Việc xác lập giá trị của tài sản25sẽ được nghiên cứu và phân tích kỹ hơn ở phần xác lập giá trị bắt đầu. Điều kiện thứ ba “ thời hạn sử dụng hữu dụng lớn hơn một kỳ kế toán ” là tiêuchuẩn chung cho bất kỳ tài sản nào được phân loại vào lớp tài sản dài hạn. Còn điều kiện kèm theo thứ tư “ có hình thái vật chất đơn cử ” được nêu rõ trong địnhnghĩa của chuẩn mực kế toán Nước Ta. Xác định giá trị bắt đầu : Nguyên tắc ghi nhận : “ TSCĐ hữu hình phải được xác lập giá trị ban đầutheo nguyên giá. ” Các trường hợp xác lập nguyên giá TSCĐ hữu hình : – TSCĐ hữu hình shopping : nguyên giá TSCĐ hữu hình shopping gồm có giá mua ( trừ ( – ) những khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá ), những khoản thuế ( không gồm có những khoản thuế được hoàn trả ) và những ngân sách tương quan trực tiếpđến việc đưa tài sản vào trạng thái chuẩn bị sẵn sàng sử dụng, như : giá thành sẵn sàng chuẩn bị mặtbằng ; Chi tiêu luân chuyển và bốc xếp bắt đầu ; Chi tiêu lắp ráp, chạy thử ( trừ ( – ) cáckhoản tịch thu về loại sản phẩm, phế liệu do chạy thử ) ; giá thành chuyên viên và những chi phíliên quan trực tiếp khác. Đối với TSCĐ hữu hình hình thành do góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng theo phương thứcgiao thầu, nguyên giá là giá quyết toán khu công trình góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng, những ngân sách liênquan trực tiếp khác và lệ phí trước bạ ( nếu có ). – TSCĐ hữu hình tự kiến thiết xây dựng hoặc tự chế : nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựnghoặc tự chế là giá tiền thực tiễn của TSCĐ tự thiết kế xây dựng, hoặc tự chế cộng ( + ) chi phílắp đặt, chạy thử. Trường hợp doanh nghiệp dùng loại sản phẩm do mình sản xuất ra đểchuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất mẫu sản phẩm đó cộng ( + ) những chiphí trực tiếp tương quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái chuẩn bị sẵn sàng sử dụng. Trongcác trường hợp trên, mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên giá của cáctài sản đó. Các ngân sách không hài hòa và hợp lý, như nguyên vật liệu, vật tư tiêu tốn lãng phí, lao độnghoặc những khoản ngân sách khác sử dụng vượt quá mức thông thường trong quy trình tựxây dựng hoặc tự chế không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình. TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi : nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dướihình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không tựa như hoặc tài sản khác được
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập














![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


