Luận văn thạc sỹ Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện tứ kỳ – tỉnh hải – Tài liệu text

Luận văn thạc sỹ Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện tứ kỳ – tỉnh hải dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (675.23 KB, 121 trang )

i
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Lê Thị Khuyên
Sinh ngày: 03/03/1983
Học viên lớp CH18A – Quản lý kinh tế
Niên khóa 2012 – 2014; Trường Đại học Thương Mại
Tôi xin cam đoan:
1. Luận văn Thạc sĩ kinh tế: “Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tứ
Kỳ – Tỉnh Hải Dương” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
của TS. Vũ Xuân Dũng;
2. Các số liệu mà tôi sử dụng trong luận văn là trung thực, những kết quả
trong luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
3. Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Khuyên

MỤC LỤC

ii
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan………………………………………..2
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài…………………………………………………4
7. Kết cấu khóa luận văn:…………………………………………………………………………….5
CHƯƠNG I………………………………………………………………………………………………..6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH XÃ VÀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ…..6

1.1. Lý luận chung về ngân sách xã……………………………………………………6
1.1.1. Khái niệm, bản chất ngân sách xã……………………………………………………6
1.1.2. Vai trò của ngân sách xã…………………………………………………………………8

1.1.3. Đặc điểm của ngân sách xã…………………………………………………………….9
1.1.4. Nội dung ngân sách xã………………………………………………………………….10

1.2. Quản lý ngân sách xã………………………………………………………………..13
1.2.1. Khái niệm bản chất của quản lý ngân sách xã………………………………….13
1.2.2. Vai trò của quản lý ngân sách xã……………………………………………………14
1.2.3. Đặc điểm của quản lý ngân sách xã………………………………………………..14
1.2.4. Mục tiêu của quản lý ngân sách xã…………………………………………………16
1.1.5. Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách xã…………………………………………….17
1.3.1. Lập dự toán ngân sách xã……………………………………………………………..18
1.3.2. Chấp hành dự toán ngân sách xã……………………………………………………21
1.3.3. Quyết toán ngân sách xã……………………………………………………………….24

1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ngân sách xã……26
1.4.1. Nguồn thu ngân sách xã………………………………………………………………..26
1.4.2. Nhận thức của các đối tượng nộp thuế, phí………………………………………29
1.4.3. Chính sách của Nhà nước……………………………………………………………..31
1.4.4. Nhận thức, năng lực của lãnh đạo xã, thị trấn………………………………….32
1.4.5. Sự phát triển kinh tế – xã hội………………………………………………………….33

1.5. Kinh nghiệm quản lý ngân sách xã của một số địa phương…………34
1.5.1. Kinh nghiệm quản lý NSX tại huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương………….34
1.5.2. Kinh nghiệm quản lý NSX tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang……….35
1.5.3. Bài học kinh nghiệm về quản lý NSX ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.. .37
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG……………………………………………………….39

2.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và tổ chức bộ máy quản lý
ngân sách xã của huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương………………………………….39

iii
2.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Tứ Kỳ………………………………………………39
2.1.2. Tổ chức quản lý ngân sách xã của huyện Tứ Kỳ……………………………….40
2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ…………………………………………………………………42

2.2. Thực trạng công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tứ
Kỳ, tỉnh Hải Dương……………………………………………………………………………42
2.2.1. Thực trạng công tác lập dự toán NSX……………………………………………..42
2.2.2. Thực trạng chấp hành NSX……………………………………………………………50
* Thực trạng chấp hành thu NSX…………………………………………………………….50
* Thực trạng chấp hành chi NSX…………………………………………………………….56
2.2.3. Thực trạng công tác quyết toán NSX……………………………………………….65
2.3.1. Chính sách của Nhà nước……………………………………………………………..69
2.3.2. Nhận thức của lãnh đạo xã, thị trấn………………………………………………..71
2.3.3. Sự phát triển kinh tế của huyện Tứ Kỳ…………………………………………….71
2.3.4. Số lượng nguồn thu, nhiệm vụ chi NSX……………………………………………74
2.3.5. Trình độ của cán bộ quản lý NSX…………………………………………………..75

2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn
huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương…………………………………………………………….78
2.4.1. Về lập dự toán ngân sách xã………………………………………………………….78
2.4.2. Về chấp hành dự toán ngân sách xã………………………………………………..80
2.4.3. Về quyết toán ngân sách xã……………………………………………………………83
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG……………………………………………………….86

3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
huyện Tứ Kỳ……………………………………………………………………………………..86
3.1.1. Mục tiêu tổng quát……………………………………………………………………….86

3.1.2. Định hướng phát triển kinh tế xã hội và quản lý ngân sách xã……………88

3.2. Quan điểm hoàn thiện quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện
Tứ Kỳ………………………………………………………………………………………………..90
3.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách xã trên địa bàn…………….91
3.3.1. Hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách xã………………………………………91
3.3.2. Nâng cao chất lượng lập dự toán ngân sách xã………………………………..92
3.3.3. Nâng cao hiệu quả việc chấp hành ngân sách xã………………………………93
3.3.3.1. Tiếp tục đổi mới quản lý thu ngân sách xã…………………………………….93

iv
3.3.3.2. Tiếp tục đổi mới quản lý chi ngân sách xã…………………………………….95
3.3.4. Nâng cao hiệu quả công tác quyết toán ngân sách xã………………………..98
3.3.5. Nâng cao nhận thức, năng lực của lãnh đạo xã, thị trấn……………………99
3.3.6. Ổn định nguồn thu, tăng cường nhiệm vụ chi ngân sách xã………………100
3.3.7. Hoàn thiện bộ máy quản lý ngân sách xã……………………………………….102

3.4. Kiến nghị………………………………………………………………………………..104
PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………………………………………….106
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………………..107

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
CNH- HĐH
HLCS
KBNN
KH
MLNS
NTM

NS

Diễn giải
Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Hoa lợi cộng sản
Kho bạc nhà nước
Kế hoạch
Mục lục ngân sách
Nông thôn mới
Ngân sách

v
NSH
NSNN
NST
NSX
TTCN
TW
QLNN
VAT
UBND
XDCB

Ngân sách huyện
Ngân sách nhà nước
Ngân sách tỉnh
Ngân sách xã
Tiểu thủ công nghiệp
Trung ương

Quản lý nhà nước
Thuế giá trị gia tăng
Ủy ban nhân dân
Xây dựng cơ bản

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Trang
Sơ đồ 1.1. Mô hình phân cấp ngân sách nhà nước…………………………………………7
Bảng 2.1: Dự toán thu ngân sách xã huyện Tứ Kỳ……………………………………….47
Bảng 2.2: Dự toán chi ngân sách xã huyện Tứ Kỳ……………………………………….48
Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả điều tra công tác lập dự toán NSX trên địa bàn
huyện Tứ Kỳ…………………………………………………………………………………………….49
Bảng 2.4: Quy mô và cơ cấu các khoản thu ngân sách xã trên địa bàn huyện
Tứ Kỳ………………………………………………………………………………………………………. 51
Bảng 2.5: Tình hình hoàn thành dự toán các khoản thu ngân sách xã trên địa
bàn huyện…………………………………………………………………………………………………53
Bảng 2.6: Tổng hợp kết quả điều tra công tác thực hiện quản lý thu NSX trên
địa bàn huyện Tứ Kỳ…………………………………………………………………………………54
Bảng 2.7: Tình hình nợ thuế, đấu thầu quỹ đất công ích và HLCS……………….55

vi
Bảng 2.8: Chi và cơ cấu các khoản chi ngân sách xã trên địa bàn huyện Tứ Kỳ
………………………………………………………………………………………………………………… 57
Bảng 2.9: Tình hình hoàn thành dự toán các khoản chi ngân sách xã trên địa
bàn huyện Tứ Kỳ………………………………………………………………………………………59
Bảng 2.10: Tình hình hoàn thành dự toán các khoản chi thường xuyên ngân
sách xã……………………………………………………………………………………………………..62
Bảng 2.11: Tổng hợp kết quả điều tra công tác thực hiện quản lý chi ngân sách

xã trên địa bàn huyện Tứ Kỳ……………………………………………………………………..63
Bảng 2.12: Tình hình nợ xây dựng cơ bản tại các xã, thị trấn………………………64
Bảng 2.13: Tổng hợp cân đối quyết toán ngân sách xã…………………………………67
Bảng 2.14: Tổng hợp kết quả điều tra công tác kế toán và quyết toán ngân sách
xã trên địa bàn huyện Tứ Kỳ……………………………………………………………………..68
Bảng 2.15: Tổng hợp các hộ được miễn thuế từ năm 2011-2012……………………70
Bảng 2.16: Tổng hợp tình hình đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi………73
Bảng 2.17: Tổng hợp tình hình biến động nguồn thu…………………………………..74
Bảng 2.18. Tổng hợp trình độ của cán bộ quản lý ngân sách xã……………………76

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, Tứ Kỳ là huyện có nguồn thu ngân sách liên tục
tăng. Đạt được kết quả đó là do Tứ Kỳ đã thực hiện các cơ chế, chính sách có hiệu
quả, tốc độ tăng trưởng kinh tế có những biến chuyển đáng kể. Sản xuất kinh doanh
phát triển mạnh mẽ ở tất cả các khu vực, thuộc mọi thành phần kinh tế. Thu nhập
bình quân đầu người là khoảng 1.100 USD/ người/ năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm
mạnh. Có được những thành tựu đó là do có những biến đổi về cơ cấu kinh tế, cơ
chế quản lý tài chính cả về nhận thức, lý luận cũng như thực tiễn. Từ khi thực hiện Luật
ngân sách (NS) đến nay thời gian chưa phải là dài, song cũng đủ để khẳng định tính
đúng đắn của đường lối đổi mới, được chứng minh bằng những kết quả đầy tính thuyết
phục mà chúng ta đã đạt được trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước thời gian qua.
Đó là những động lực rất quan trọng góp phần thực hiện chủ trương công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu,
đã có tác động sâu sắc đến hoạt động quản lý ngân sách Nhà nước (NSNN) và đặc biệt
là ngân sách xã (NSX), là điều kiện để làm số thu chi của NSX ngày càng tăng.
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với chương trình Quốc gia về xây dựng nông
thôn mới hiện nay, yêu cầu tìm ra những giải pháp quản lý NSNN nói chung và
ngân sách xã nói riêng góp phần tạo nguồn lực cho chính quyền cấp xã thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, công tác xây dựng và quản lý
NSX ở Tứ Kỳ, đã có những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào công
cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ở cấp cơ sở, bộ mặt nông thôn khởi sắc từng
ngày, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, đời sống nhân dân ngày càng được nâng
cao. Những thành quả kinh tế mà xã đạt được, đã có tác động sâu sắc đến hoạt động
quả lý NSNN, vì nguồn thu NS phụ thuộc vào sự điều tiết, cách quản lý của cấp cơ
sở, vì thế công tác quản lý NSX phải có sự vận động đi lên mới có thể bao quát khai

2

thác được nguồn thu, vừa đảm bảo chi tiêu đạt hiệu quả, lại giữ được trật tự trị an và
công bằng xã hội. Hơn bao giờ hết mục tiêu tăng cường công tác quản lý NSX được
đặt ra như một nhiệm vụ hàng đầu của công tác quản lý NSNN vì NSX là cấp ngân
sách trực tiếp, là công cụ tài chính quan trọng để chính quyền Nhà nước cấp xã tổ
chức nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội đảm bảo an ninh quốc phòng, chăm lo đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Nhận thức được tầm quan trọng, sự cần thiết trong việc tăng cường công tác
quản lý NSX trong điều kiện hiện nay, tôi chọn đề tài “Quản lý ngân sách xã trên
địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Trong thời gian qua cũng có nhiều bài liên quan đến quản lý
ngân sách xã như:
Bài ” Quản lý thu chi NSX qua KBNN, thực trạng và giải pháp” của tác giả
Vũ Quyến trên tạp chí KBNN năm 2000. Hay đề tài luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện
công tác kế toán ngân sách xã, phường trên địa bàn thành phố Hội An” của Vũ

Minh Nhật Phương năm 2010. Hay đề tài “ Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
ngân sách xã trên địa bàn huyện Lạng Sơn” của Nguyễn Minh Anh năm 2010.
Hoặc bài ” Một bước tiến khả quan trong thu chi NSX ở tỉnh Bình Dương ” đăng
trên tạp chí Tài chính năm 2000 của tác giả Trần Dũng…
Những đề tài trên đã nghiên cứu về vấn đề quản lý NSX. Những đề tài cũng
nêu được một cách tiếp cận đến lý luận ngân sách xã, những vấn đề khái quát về
công tác quản lý ngân sách xã. Mặt khác đề tài cũng nêu ra được những khó khăn
trong quá trình thực hiện q,uản lý ngân sách xã. Tuy nhiên, những vấn đề về quản lý
NSX của các tác giả nghiên cứu mới chỉ đề cập đến trong phạm vi của từng tỉnh
theo các đặc điểm riêng có của từng vùng (Bình Dương, Đà Nẵng … ) chưa có
những giải pháp khái quát chung để có thể vận dụng ở Hải Dương và các tỉnh khác.
Hơn nữa, những đề tài trên chỉ nghiên cứu ở một số lĩnh vực hẹp mà tác giả
quan tâm mà chưa bao quát được toàn diện vấn đề quản lý NSX. Hơn nữa thời
điểm nghiên cứu trong thời gian năm 2000 chưa sửa luật NSNN và chưa có thông

3

tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính “ Quy định về quản lý
NSX và các hoạt động tài chính khác ở xã, phường, thị trấn “ nên những giải pháp
đưa ra là không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay và không phù hợp với đặc thù
của tỉnh Hải Dương, đặc biệt là các huyện, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Do
vậy, đề tài “Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương” sẽ đi
sâu nghiên cứu vấn đề quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện, thị trấn cụ thể là
huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý ngân sách xã nhưng những
công trình nghiên cứu trên đề cập đến vấn đề quản lý ngân sách xã cấp trung ương
và cấp tỉnh, hay có những công trình chỉ nghiên cứu về góc độ thu, chi trong ngân
sách xã mà chưa đề cập đến việc quản lý ngân sách xã ở cấp huyện và cấp, xã. Nên

việc quản lý ngân sách xã cấp huyện và xã còn nhiều hạn chế.
Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã chú trọng tìm ra những giải pháp quản lý
ngân sách xã trên nhiều mặt: như trong quản lý thu – chi ngân sách, hoàn thiện bộ
máy tổ chức quản lý và nâng cao năng lực cán bộ. Nhờ đó quản lý ngân sách xã đã
thu được một số kết quả quan trọng: đảm bảo được nguồn thu, thu đúng, thu đủ và
nuôi dưỡng nguồn thu, đồng thời đảm bảo chi ngân sách đúng nguyên tắc, đúng
mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và có hiệu quả.
Bên cạnh những kết quả đạt được rất đáng khích lệ trong việc đảm bảo các
nhiệm vụ cho bộ máy chính quyền địa phương hoạt động, chính sách phúc lợi xã
hội và nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Công tác quản lý Ngân sách xã
cũng còn bộc lộ những yếu kém và hạn chế nhất định. Cho nên một số câu hỏi được
đặt ra đối với công tác quản lý Ngân sách xã là: Thực trạng công tác quản lý ngân
sách xã như thế nào? Việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã đã đáp ứng
được yêu cầu chưa? Giải pháp nào cho việc quản lý ngân sách xã? Mặt khác tại địa
bàn huyện cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu nghiên cứu về việc
quản lý hoạt động thu, chi Ngân sách xã trên địa bàn từ đó đưa ra giải pháp hoàn
thiện NSX của huyện.

4

4. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tứ
Kỳ– tỉnh Hải Dương.
Mục tiêu cụ thể:
– Hệ thống hoá cơ sở lý luận về ngân sách xã và quản lý ngân sách xã,chức năng,
nhiệm vụ của bộ máy quản lý ngân sách xã.
– Đánh giá thực trạng công tác quản lý Ngân sách xã trên địa bàn huyện Tứ
Kỳ trong thời gian qua.
– Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý ngân sách xã đối với

các các xã trên địa bàn huyện Tứ Kỳ – tỉnh Hải Dương như:
+ Hoàn thiện hoạt động phân cấp ngân sách xã trên địa bàn huyện.
+ Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bộ máy quản lý đối với ngân sách xã.
+ Hoàn thiện công tác lập, chấp hành dự toán và quyết công tác quản lý ngân
sách xã.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
– Về nội dung: Nghiên cứu các nguồn thu, các khoản thu chi và quyết toán
ngân sách trong thời gian qua và đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường công
tác quản lý thu – chi ngân sách xã trong thời gian tới.
– Về không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu một số xã tiêu biểu trên
địa bàn Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương.
– Về thời gian: khảo sát số liệu về thu – chi ngân sách xã trên địa bàn huyện Tứ Kỳ
năm 2008 – 2012.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
* Phương pháp luận: Bằng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
kết hợp với đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước.
* Phương pháp thu thập số liệu:
– Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Thông qua phát phiếu điều tra trắc nghiệm
và phiều phỏng vấn cho các Phòng như: Phòng tài chính, Phòng Thống kê….

5

– Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp thông qua các nguồn số liệu từ UBND
huyện Tứ Kỳ như Chi cục Thống kê, Phòng tài chính kế toán huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải
Dương, và từ các công trình nghiên cứu, bài viết, báo cáo… đề tài nghiên cứu khoa học
có liên quan của các tổ chức cá nhân trên tạp chí, sách báo và trên mạng Internet.
* Phương pháp xử lý số liệu:
Những dữ liệu sơ cấp, thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm các

sách, báo, tạp chí, các văn kiện, nghị quyết, các công trình đã được xuất bản, các số
liệu về tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu, số liệu thống kê, điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội. Những số liệu này được thu thập bằng cách sao chép, đọc,
trích dẫn như trích dẫn tài liệu tham khảo.
Sử dụng báo cáo tổng hợp quyết toán thu, chi NSX hàng năm do phòng Tài
chính- Kế hoạch huyện tổng hợp, báo cáo thu chi, NSX của KBNN và của các xã,
thị trấn.
Sử dụng phần mềm Word, Excel để tổng hợp, đánh giá phân tích những số
liệu thu thập được trong quá trình điều tra, đưa ra những đề xuất cho giải pháp quản
lý ngân sách xã của huyện.
– Phương pháp lượng hóa: Bằng cách sử dụng các phần mềm như Excel,
Word, sử dụng phương pháp thống kê…để tổng hợp và phân tích các dữ liệu thu
thập được từ quá trình điều tra.
7. Kết cấu khóa luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục và phụ
lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về ngân sách xã và công tác quản lý ngân sách xã.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tứ
Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách xã huyện Tứ Kỳ, tỉnh
Hải Dương.

6

CHƯƠNG I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH XÃ VÀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
1.1. Lý luận chung về ngân sách xã
1.1.1. Khái niệm, bản chất ngân sách xã
Trước khi có luật NSNN việc quản lý NSX thực hiện theo điều lệ NSX và các

văn bản hướng dẫn. Điều lệ NSX ban hành tháng 04/1972. Quan niệm về NSX theo
điều lệ: “NSX là kế hoạch thu chi tài chính của chính quyền cấp xã, để đảm bảo
điều kiện vật chất cho Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính xã làm tròn trách
nhiệm, nhiệm vụ của mình: đảm bảo việc chấp hành pháp luật, giữ vững trật tự trị
an, bảo vệ tài sản công cộng, bảo hộ quyền lợi hợp pháp của công dân, quản lý mọi
hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội trong xã, động viên và giám sát các hợp tác xã và
công dân thi hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đối với Nhà nước”.
Xét theo một góc độ khác thông tư số 14/NSNN ngày 28/03/1997 của Bộ Tài
chính về “Hướng dẫn quản lý thu, chi ngân sách xã, phường, thị trấn” cho rằng:
“NSX là một bộ phận của NSNN do UBND xã xây dựng, quản lý và Hội đồng nhân
dân xã quyết định, giám sát thực hiện”.
Như vậy có thể khái niệm về NSX như sau:
NSX là toàn bộ các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình
hình thành tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp
xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp
xã trong khuôn khổ đã được luật pháp quy định.
Một trong những công cụ hữu hiệu để đảm bảo điều kiện vật chất cho bộ máy
chính quyền cấp xã hoạt động đã chính là NSX. Ngoài ra NSX còn đảm bảo nguồn lực
vật chất cho việc xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương : Trường học, nhà văn
hoá, trạm y tế, đường giao thông liên thôn, xã… và đảm bảo các hoạt động về an ninh,
quốc phòng, các dịch vụ tư vấn, xác nhận pháp lý…
Theo luật NSNN tổ chức hệ thống NSNN bao gồm Ngân sách Trung ương và
Ngân sách các cấp chính quyền địa phương. Trong đã Ngân sách địa phương
bao gồm:

7

– Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (gọi là Ngân sách
cấp tỉnh)

– Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi là Ngân sách
cấp huyện)
– Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi là Ngân sách cấp xã).
Như vậy ngân sách cấp xã là ngân sách cấp cơ sở, cấp ngân sách cuối cùng
trong hệ thống NSNN. Chính quyền xã thể hiện rõ nhất các quan hệ giữa Nhà nước
với nhân dân, là nơi trực tiếp tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện mọi chủ trương,
đường lối, chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước. Hay nói cách khác về bản
chất của NSX là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế
khác, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước
chính quyền cấp xã nhằm phục vụ cho các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền
nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ đã được phân công, phân cấp quản lý. Do đó
ngân sách xã có vị trí rất quan trọng trong hệ thống NSNN, biểu hiện ở các mặt:
Sơ đồ 1.1. Mô hình phân cấp ngân sách nhà nước
NSNN

NS ĐỊA PHƯƠNG

NS TRUNG ƯƠNG

NS CẤP TỈNH

NS CẤP HUYỆN

NS CẤP XÃ

Thứ nhất : Xã là một đơn vị hành chính cơ sở, Hội đồng nhân dân xã là cơ
quan quyền lực Nhà nước tại địa phương, triển khai thực hiện mọi chủ trương
đường lối của Đảng và Nhà nước cấp trên, ngoài ra HĐND xã còn được quyền ban

8

hành các Nghị quyết về phát triển kinh tế xã hội và quản lý ngân sách trên địa bàn,
vì vậy NSX thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân.
Thứ hai: Xã là cấp chính quyền trực tiếp liên hệ với dân giải quyết các mối
quan hệ lợi ích giữa Nhà nước với dân bằng pháp luật. NSX cung cấp điều kiện vật
chất cho chính quyền xã thực hiện các nhiệm vụ đó. Vì vậy xét theo giác độ kinh tế
thì quy mô và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền xã phụ thuộc rất lớn
vào nguồn vốn NSX.
Thứ ba: Nguồn thu và nhiệm vụ chi của NSX thể hiện hầu hết các khoản thu,
chi thuộc nhiệm vụ của ngân sách địa phương. Đối với một số khoản thu như: thuế
sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thu hoa lợi công sản… chỉ có cấp xã trực tiếp
quản lý và khai thác mới đạt hiệu quả cao. Một số khoản chi mà chỉ có NSX thực
hiện mới hợp lý như: chi để thực hiện chính sách đãi ngộ của Nhà nước với những
người có công với cách mạng, chi chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại trạm y tế xã…
1.1.2. Vai trò của ngân sách xã
Có thể nói NSX có vai trò đặc biệt quan trong trong hệ thống NSNN, ngân
sách xã mang đầy đủ vai trò của ngân sách nhà nước:
Ngân sách xã là một cấp của ngân sách nhà nước nên cũng có vai trò rất quan
trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của
đất nước. Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò
của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân
sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội.
Ngân sách xã là công cụ tham gia điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định
hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống
xã hội. Huy động các nguồn tài chính của ngân sách để đảm bảo nhu cầu chi tiêu
của nhà nước. Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh
tế đòi hỏi phải hợp lí nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy cần phải xác định mức huy động vào ngân
sách một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền

kinh tế của mỗi vùng, miền.

9

Bên cạnh đó ngân sách xã cũng có những vai trò riêng được thể
hiện như sau:
-Thứ nhất : NSX là công cụ tài chính quan trọng đảm bảo sự tồn tại và hoạt
động của bộ máy Nhà nước ở cơ sở.
Sự ra đời của Nhà nước sẽ kéo theo sự tập trung nguồn lực tài chính vào trong
tay Nhà nước nhằm đảm bảo phương tiện vật chất, của cải để nuôi sống bộ máy và
thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước. Nguồn để trang trải các
khoản chi phí đó chính là NSNN. NSX là một cấp trong hệ thống NSNN thì đương
nhiên chi phí của bộ máy Nhà nước ở cấp xã phải do NSX đảm nhận. Nhờ NSX đó
mà các khoản lương cán bộ xã; các khoản chi tiêu cho quản lý hành chính hay mua
sắm các tài sản phục vụ hoạt động của chính quyền xã mới được đảm bảo.
-Thứ hai : NSX chính là một công cụ đặc biệt quan trọng để chính quyền
xã thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế xã hội tại địa phương.Điều
này thể hiện xã là một cấp chính quyền cơ sở của bộ máy quản lý Nhà nước, trực
tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với dân, đồng thời đảm bảo
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội và thực thi mọi chính sách, chế độ của Nhà nước trên địa bàn. NSX chính là
công cụ, phương tiện vật chất hữu hiệu nhất giúp chính quyền xã giải quyết tốt
các quan hệ trên.
– Thứ ba: NSX chính là một cấp của ngân sách nhà nước do đó NSX cũng có
vai trò của một ngân sách nhà nước là tham gia điều tiết về kinh tế, xã hội, thị
trường nhưng trên bình diện của chính quyền xã. Vai trò này thể hiện rõ nhất thông
qua nội dung của NSX.
1.1.3. Đặc điểm của ngân sách xã
Ngân sách xã có vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động của xã, phường được

thể hiện qua đặc điểm của ngân sách xã. Đặc điểm đó được khái quát như sau:
-Thứ nhất: NSX là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền Nhà nước cấp
cơ sở. Hoạt động của quỹ này thể hiện trên hai phương diện: huy động nguồn thu (thu
ngân sách xã) và phân phối sử dụng vốn, quỹ đã (chi ngân sách xã)

10

-Thứ hai: Hoạt động thu, chi NSX luôn gắn chặt với chức năng, nhiệm vụ của
chính quyền xã đã được phân cấp; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan
quyền lực Nhà nước ở cấp xã và chính quyền cấp trên. Vì vậy các chỉ tiêu thu chi
NSX mang tính pháp lý cao.
-Thứ ba: Các hoạt động thu, chi NSX chính là thể hiện quan hệ về lợi ích
giữa một bên là lợi ích chung của nhân dân mà chính quyền xã là người đại diện với
một bên là lợi ích của các chủ thể kinh tế xã hội khác.
– Thứ tư: Quan hệ thu chi NSX rất đa dạng và biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau. Nhưng số thu, số chi theo từng hình thức chỉ có thể được thực hiện khi
nó đã được ghi vào dự toán và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
đây cũng chính là đặc điểm của ngân sách nói chung .
1.1.4. Nội dung ngân sách xã
Nội dung cơ bản của ngân sách xã bao gồm các khoản thu NSX và chi NSX.
Nội dung đó được đề cập như sau:
– Đối với thu NSX
Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, mỗi quốc gia đã đặt ra các
khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ
tiền tệ của mình. Thực chất, thu ngân sách là việc nhà nước dùng quyền lực của
mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách
nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mỗi nước.
Thông qua thu NSX mà các nguồn thu được tập trung hình thành nên quỹ
NSX, đảm bảo nhu cầu chi tiêu của chính quyền xã. Thông qua thu chính quyền xã

đã thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh
và các hoạt động khác trên địa bàn xã, đảm bảo cho các hoạt động này tuân thủ theo
đúng quy định của pháp luật.
Thông qua hoạt động thu NSX, chính quyền xã biến những chính sách điều
chỉnh vĩ mô nền kinh tế, hướng dẫn sản xuất tiêu dùng từ công cụ thuế của Nhà
nước. Với những ngành hàng, mặt hàng cần khuyến khích phát triển, phù hợp với
đời sống của người dân địa phương như các mặt hàng thiết yếu thì có thể giảm thuế

11

và ngược lại sẽ tăng thuế suất cao đối với những mặt hàng không có lợi cho đời sống
tinh thần, vật chất của người dân cũng như ảnh hưởng không tốt đến đời sống xã hội.
Ngoài ra thu NSX góp phần thực hiện tốt các chính sách xã hội như: đảm bảo
công bằng giữa những người có nghĩa vụ đóng góp cho NSX, có sự trợ giúp cho các
đối tượng nộp khi họ gặp khó khăn hoặc thuộc diện cần ưu đãi theo chính sách của
Nhà nước thông qua xét miễn, giảm số thu.
Việc áp dụng đúng các hình thức thu và mức thu còn giúp nhân dân nâng cao
được ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng và giữ gìn kỷ cương phép nước.
Các quốc gia đều có những khoản thu được quy định trong luật pháp của mỗi
nước. Tùy từng quốc gia mà các khoản đó được cụ thể hóa, các khoản thu bao gồm:
– Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định
của pháp luật.
– Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;
– Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;
– Các khoản viện trợ;
– Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy có thể nói, thu NSX đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội tại địa bàn do Nhà nước cấp xã quản lý. Xét trên
phương diện quan hệ giữa hai mặt thu và chi NSX thì thu NSX còn ảnh hưởng

mang tính quyết định đến chi ngân sách xã vì “lường thu mà chi” đã trở thành một
nguyên tắc để điều hành ngân sách.
– Đối với chi NSX
Chi NSX để đảm bảo phương tiện vật chất cho chính quyền ở xã được tồn tại
và phát triển. Cũng như thu ngân sách thì các khoản chi ngân sách cũng tùy theo
quy định của từng quốc gia, mỗi quốc gia đưa ra căn cứ chi ngân sách của quốc gia
mình và định hướng cho hoạt động chi của mình:
Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách gồm:
1. Chi tích lũy: Chi cho tăng cường cơ sở vật chất như đầu tư phát triển kinh
tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội

12

2. Chi tiêu dùng: Không tạo ra sản phẩm vật chất để xã hội sử dụng trong
tương lai (chi đảm bảo xã hội), bao gồm:
Giáo dục, y tế, công tác dân số, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin đại
chúng, thể thao, lương hưu và trợ cấp xã hội, các khoản liên quan đến can thiệp của
nhà nước vào hoạt động kinh tế, quản lý hành chính, an ninh quốc phòng, các
khoản chi khac, dự trữ tài chính, trả nợ vay nước ngoài, lãi vay nước ngoài.
Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước được chia ra:
1. Chi thường xuyên
2. Chi đầu tư phát triển
3. Chi dự trữ
4. Chi trả nợ
Như vậy, có thể nói mỗi một cách tiếp cận chi ngân sách có thể đem lại cách
nhìn khác nhau về ngân sách nhà nước.
Chi NSX cho sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp y tế đã thiết thực góp phần
nâng cao dân trí và sức khoẻ cho người dân lao động. Nhờ đó mà các mục tiêu xoá
mù, phổ cập giáo dục các bậc kế hoạch hoá gia đình, phòng dịch bệnh,… được thực

hiện. Khoản chi này không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai;
bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh…
Thông qua chi NSX mà các chính sách xã hội được thực hiện như: Chi cứu tế
xã hội, chi trợ cấp giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công với cách
mạng ….
Qua việc đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống truyền thanh ở xã đã góp
phần nâng cao trình độ dân trí ở khu vực nông thôn, qua hệ thống truyền thanh cơ
sở người dân có thể nhanh chóng tiếp thu đựơc kinh nghiệm về trồng trọt, chăn
nuôi, phát triển sản xuất, nắm được các chủ trương chính sách nhà nước.
– Thông qua chi NSX cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội ở xã đã được hình thành và
phát triển. Hệ thống Trường học, trạm xá, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống giao thông…
đã tạo đà cho sự giao lưu, phát triển kinh tế, rút ngắn dần khoảng cách giữa nông
thôn với thành thị.

13

Nhờ chi NSX cho phát triển cơ sở hạ tầng xã đã từng bước làm thay đổi cơ
cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng từ kinh tế thuần nông chuyển sang cơ cấu kinh
tế nông nghiệp – công nghiệp – thương mại và dịch vụ sản xuất hàng hoá. Đây là
điều kiện thuận lợi để tiến hành sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Như vậy, chi NSX có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội ở nông thôn. Nếu xét trong mối quan hệ biện chứng giữa thu và chi thì chi
NSX tốt sẽ tác động trực tiếp tới việc bồi dưỡng và phát triển nguồn thu của xã.
1.2. Quản lý ngân sách xã
1.2.1. Khái niệm bản chất của quản lý ngân sách xã
Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước, là nguồn tài chính tập
trung quan trọng trong hệ thống ngân sách nhà nước. Ngân sách xã là tiềm lực tài
chính, là sức mạnh về mặt tài chính của chính quyền cấp xã.
Quản lý và điều hành ngân sách xã có tác dụng chi phối trực tiếp đến các hoạt

động tài chính khác ở cơ sở. Quản lý ngân sách xã có phạm vi hẹp hơn khái niệm về
quản lý ngân sách nhà nước.
Từ các cách tiếp cận ngân sách xã trên có thể hiểu quản lý ngân sách xã là
hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đã là sự tác động có tổ chức và
điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các hoạt động thu, chi ngân
sách xã, là hành vi hoạt động của con người trong các cơ quan nhà nước từ Trung
ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng nhiệm vụ của nhà nước
nhằm duy trì, xây dựng và phát triển ngân sách xã đáp ứng được nhu cầu quản lý
nhà nước của chính quyền cấp xã và nhu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở
địa phương.
Quản lý NSX là quá trình tác động của chính quyền nhà nước các cấp vào các
quan hệ thu, chi NSX nhằm hướng nó phục vụ các hoạt động của chính quyền cấp
xã để thực hiện mục tiêu, kế hoạch kinh tế xã hội của cấp xã đặt ra trong từng thời
kỳ. Quản lý NSX cũng đồng thời là quá trình sử dụng nguồn lực tài chính NSX như
là một công cụ để quản lý và điều hành kinh tế cấp xã, hướng các quan hệ kinh tế,
các hoạt động kinh tế diễn ra trên địa bàn cấp xã phát triển theo ý đồ của nhà nước
trong từng giai đoạn.

14

1.2.2. Vai trò của quản lý ngân sách xã
-Thứ nhất: Quản lý ngân sách xã giúp giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích: Lợi
ích nhà nước, lợi ích của nhân dân theo hướng chú trọng lợi ích của nhân dân trên
cơ sở đáp ứng được các mục tiêu của nhà nước; để có sức mạnh tổng hợp đối với
nhiều lĩnh vực, nhiều công trình phúc lợi có thể huy động và thực hiện tốt phương
châm nhà nước và nhân dân cùng làm.
-Thứ hai: Quản lý ngân sách xã giải quyết tốt quan hệ giữa trước mắt và lâu
dài theo hướng có sự chuẩn bị nguồn tài chính lâu dài, xây dựng nguồn thu lâu dài
để có cơ sở đảm bảo phát triển vững trắc phù hợp với xu thế vận động của nền kinh

tế và quá trình đổi mới của đất nước trên cơ sở không ngừng đầu tư cơ sở vật chất
phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống và tinh thần cho nhân dân.
-Thứ ba: Quản lý NSX sẽ thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá,
rút ngắn dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi với miền
ngược, trên cơ sở dành tỷ lệ tài chính thoả đáng cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ;
đảm bảo đầy đủ nguồn tài chính để giải quyết những nhiệm vụ trọng yếu của chính
quyền cấp xã trong từng thời kỳ, bảo đảm cân đối tích cực trên cơ sở trong khả năng
nguồn thu phân cấp không được bội chi ngân sách.
1.2.3. Đặc điểm của quản lý ngân sách xã
Quản lý ngân sách xã có vai trò quan trọng trong hoạt động của xã, quản lý
ngân sách xã mang đầy đủ đặc điểm của quản lý ngân sách nhà nước.
Thể hiện như sau:
-Thứ nhất: Quản lý NSX mang tính chất thực hiện thường xuyên, liên tục và
toàn diện, từ khâu lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân sách xã. Việc lập dự
toán NSX phải thể hiện đầy đủ các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chính
quốc gia như: cơ cấu động viên các nguồn thu, bố trí các nội dung chi…Trong khâu
chấp hành dự toán ngân sách xã cơ bản phải lập kế hoạch thu, chi quý trong đã chia
ra các tháng để tổ chức thực hiện tốt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ thu, chi NSX
trong từng tháng quý. Trong khâu quyết toán phải kiểm tra chặt chẽ các báo cáo thu
chi NSX tháng, quý, đặc biệt là các báo cáo quyết toán thu, chi NSX năm. Như vậy

15

trong một năm ngân sách phải quản lý tốt đồng thời cả ba khâu, đã là: chấp hành
NSX của chu trình hiện tại, quyết toán NSX của chu trình trước, và lập dự toán
NSX cho chu trình tiếp theo, và cứ lặp đi, lặp lại nh vậy.
-Thứ hai: Quản lý NSX phát huy tính dân chủ, công khai theo phương châm
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Tính dân chủ thể hiện người dân cũng được tham gia quản lý theo luật. Nhân

dân phải được bàn và quyết định trực tiếp các vấn đề sau: chủ trương và mức đóng
góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trường, trạm xá, các công trình văn hoá thể thao…). Đồng thời nhân dân phải kiểm tra,
giám sát các hoạt động của HĐND và UBND xã.
Tính công khai thể hiện: mọi hoạt động thu chi NSX phải rõ ràng minh bạch,
công khai cho dân biết theo chính sách pháp luật của Nhà nước. Các nghị quyết của
HĐND, quyết định của UBND xã và của cấp trên liên quan đến địa phương, dự toán
và quyết toán NSX hàng năm, dự toán và quyết toán thu chi các quỹ, dự án, các
khoản huy động đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng
của xã và kết quả thực hiện các chương trình dự án do nhà nước, các tổ chức cá nhân
đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã, kết quả thanh tra kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu
cực tham nhũng của cán bộ xã… tất cả phải được công khai hoá cho dân biết.
– Thứ ba: Quản lý NSX mang tính khoa học, tiên tiến: quản lý NSX phải ngày
càng được củng cố và hoàn thiện dựa trên những phương thức quản lý khoa học,
tiên tiến phù hợp với điều kiện phát triển của từng giai đoạn. Đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay, việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tin học vào
quản lý NSX một cách đồng bộ là một yêu cầu cấp thiết, tránh tình trạng tụt hậu của
công tác quản lý NSX so với khu vực quản lý nhà nước nói chung.
– Thứ tư: Quản lý ngân sách xã thể hiện bản chất pháp luật của nhà nước đó:
trước hết phải thực hiện đúng theo Luật ngân sách nhà nước, theo quy định chung
của Nhà nước, theo các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn của Bộ
Tài chính. Các khoản thu phải thu đúng, thu đủ, tránh thất thu theo quy định của
pháp luật, chi ngân sách xã phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu quy
định của nhà nước. Thu chi NSX phải được hạch toán đầy đủ vào NSNN qua

16

KBNN, tránh hiện tượng thu để ngoài ngân sách, tự đặt ra các khoản thu trái quy
định, toạ chi, chi tiêu tuỳ tiện, gây lãng phí, thất thoát NSX. Quản lý NSX phải trên
cơ sở luật NSNN, phải thực hiện theo đúng các quy định của luật NSNN. Quản lý

nguồn thu phải trên cơ sở phân cấp theo luật các quy định của luật thuế, các quy
định về pháp lệnh phí và lệ phí ; các khoản thu khác tại xã phải tuân thủ theo đúng
các quy định của nhà nước. Quản lý các khoản chi phải trên cơ sở tiêu chuẩn, định
mức phân bổ ngân sách, các chính sách chế độ của nhà nước.
1.2.4. Mục tiêu của quản lý ngân sách xã
Trên bình diện tổng thể quản lý NSX phải đảm bảo đạt được các mục tiêu ổn
định kinh tế, chính trị khu vực nông thôn, thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp
nông thôn, xoá dần khoảng cách thành thị và nông thôn theo đường lối của Đảng.
Từ những mục tiêu tổng quát trên ta có thể rút ra những mục tiêu cụ thể về quản lý
NSX trong thời gian tới như sau:
Thứ nhất: Xây dựng và hoàn thiện một hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp
với điều kiện thực tế của đất nước và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng,
miền tạo điều kiện cho NSX ngày càng lớn mạnh đủ để thể hiện vai trò của mình
trong quản lý kinh tế, chính trị xã hội của chính quyền cấp xã.
Thứ hai: Nuôi dưỡng, khai thác, tạo lập và phát triển các nguồn thu cho NSX,
sử dụng các nguồn vốn ngân sách xã tiết kiệm hiệu quả đảm bảo cơ cấu chi đầu tư
phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn. Đảm bảo chi thường xuyên
duy trì tốt hoạt động của chính quyền xã.
Thứ ba: Xây dựng NSX nhằm đảm bảo các chính sách xã hội của nhà nước
đối với cấp xã.
Thứ tư: Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo chính sách, kỷ luật
tài chính đảm bảo công bằng xã hội sử dụng hiệu quả tiền vốn của nhà nước, của
nhân dân.
Thứ năm: Đảm bảo tính tự chủ, đảm bảo cân đối chung trong hệ thống ngân
sách giảm dần và tiến tới xoá bỏ diện các xã không tự cân đối được ngân sách. Xây
dựng ngân sách xã lành mạnh tự chủ không phụ thuộc vào ngân sách cấp trên.

17

Thứ sáu: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chế độ, triển khai áp dụng thống
nhất các quy định về công tác hạch toán kế toán NSX. Đảm bảo hệ thống sổ sách
báo cáo kế toán phục vụ tốt yêu cầu quản lý, yêu cầu giám sát, thực hiện tốt chế độ
công khai tài chính ngân sách.
Thứ bẩy: Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý NSX đồng bộ đủ mạnh để thực
hiện nhiệm vụ quản lý hướng dẫn, xây dựng NSX đáp ứng được yêu cầu trong từng
thời kỳ, từng giai đạn cách mạng.
1.1.5. Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách xã
* Cơ cấu bộ máy quản lý NSX
Bộ máy quản lý NSX nằm trong hệ thống các cơ quan quản lý hành chính
ngành Tài chính:
– Ở Trung ương: nằm trong Bộ Tài chính (Vụ NSNN).
– Ở tỉnh: nằm trong Sở Tài chính (Phòng quản lý NSX).
– Ở cấp huyện: nằm trong phòng Tài chính- KH (Bộ phận quản lý NSX).
– Ở cấp xã: nằm trong UBND xã (Gồm Trưởng ban, cán bộ kế toán, thủ quỹ).
* Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý NSX
Bộ máy quản lý NSX các cấp có nhiệm vụ tham mưu giúp UBND và HĐND
cấp mình quản lý tài chính, NSX trên các mặt chủ yếu sau:
– Tham mưu giúp UBND cùng cấp xây dựng kế hoạch dài hạn trung hạn và
đối với việc phát triển NSX trên địa bàn và khu vực, địa phương mình.
– Hướng dẫn các đơn vị thuộc cấp mình xây dựng dự toán thu, chi NSX hằng
năm báo cáo UBND và trình HĐND cùng cấp quyết định.
– Tham mưu đề xuất những biện pháp nhằm triển khai thực hiện hiệu quả dự
toán thu chi NSX hằng năm.
– Tham mưu ban hành các chế độ thu, chi NSX các tiêu chuẩn định mức phân
bổ NSX đảm bảo công bằng tích cực.
– Tham mưu giúp UBND các cấp các biện pháp khai thác nguồn thu, chi tiêu
tiết kiệm hiệu quả. Quản lý tài sản công, bảo đảm cho các hoạt động tài chính ngân
sách xã trên địa bàn lành mạnh và theo đúng quy định của nhà nước.

18

– Tổ chức công tác kế toán và quyết toán NSX theo quy định đảm bảo đúng
các quy định của luật NSNN đảm bảo rõ ràng, công khai minh bạch.
– Thực hiện công tác kiểm tra thường xuyên nhằm uốn nắn những sai phạm
xảy ra trong quá trình quản lý.
– Thực hiện nhiệm vụ báo cáo định kỳ và công khai tài chính theo quy định
1.3. Nội dung của quản lý ngân sách xã
1.3.1. Lập dự toán ngân sách xã
Lập dự toán ngân sách xã là bản kế hoạch thu, chi tài chính của đơn vị trong
khoảng thời gian một năm.
Lập dự toán ngân sách xã là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng nhu
cầu nguồn tài chính của xã từ đó lập chỉ tiêu thu, chi, dự trữ ngân sách một cách
đúng đắn, có căn cứ khoa học, căn cứ thực tiễn. Đồng thời trên cơ sở đó xác lập
biện pháp về mặt kinh tế, xã hội để thực hiện các chỉ tiêu đề ra.
Lập dự toán ngân sách xã có ý nghĩa trên các mặt sau:
– Thông qua việc lập dự toán ngân sách mà các huyện, xã có thể thẩm tra tính
toán một cách chặt chẽ, kỹ lưỡng khả năng về nhu cầu tài chính, tiền tệ, xã hội. Từ
đó, phát huy được ưu thế, thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất khó khăn trở ngại
trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước nói chung và của các xã nói riêng.
– Lập dự toán ngân sách xã là khâu mở đầu của nội dung quản lý ngân sách
xã, nó đặt cơ sở nền tảng cho khâu tiếp theo trong nội dung quản lý ngân sách xã.
Vì vậy, nếu khâu lập dự toán được thực hiện chính xác có cơ sở khoa học, hợp thời
gian… sẽ tạo điều kiện thuận lợi lớn cho các khâu tiếp theo, đặc biệt là khâu chấp
hành dự toán ngân sách xã.
– Mục tiêu cớ bản của việc lập dự toán ngân sách xã nhằm tính toán đúng đắn
ngân sách xã, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các chỉ tiêu thu chi ngân sách
của xã theo kế hoạch. Do đó, trong quá trình lập ngân sách phải đảm bảo các
yêu cầu:

+ Dự toán ngân sách xã phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và có
tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội.

19

+ Dự toán ngân sách phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan
điểm chỉ đạo của chính sách tài chính mỗi quốc gia trong thời kỳ và yêu cầu theo
luật ngân sách của từng quốc gia.
– Để có bản dự toán ngân sách hàng năm vừa đáp ứng được yêu cầu mục tiêu
vừa có tính thực tiễn cao, đòi hỏi khi lập dự toán ngân sách phải có căn cứ:
+ Căn cứ vào phương hướng, chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế văn hóa,
xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi mỗi quốc gia trong năm kế hoạch và những chủ
trương năm tiếp theo. Căn cứ này giúp cho công tác xây dựng dự toán ngân sách có
một cách nhìn tổng quát về những mục tiêu, nhiệm vụ mà ngân sách xã của nhà
nước phải tập trung thông qua động viên khai tác các nguồn thu ngân sách cũng như
phân phối, sử dụng vốn ngân sách một cách đúng đắn, hợp lý cho mỗi kỳ kế hoạch.
+ Lập dự toán ngân sách xã phải được dựa trên bản kế hoạch phát triên kinh
tế, xã hội của nhà nước trong năm kế hoạch. Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội là
cơ sở, căn cứ để đảm bảo các nguồn thu cho ngân sách nhà nước. đồng thời, cũng là
nơi sử dụng các khoản chi tiêu của ngân sách từng xã trong nhà nước. Do vậy, kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội vừa là mục tiêu phục vụ của dự toán ngân sách.
Việc lập dự toán ngân sách phải tính đến các kết quả phân tích, đánh giá tình
hình thực hiện kế hoạch ngân sách của xã các năm trước, đặc biệt là năm báo cáo.
Hoạt động của ngân sách xã thường diễn ra theo các quy luật nhất định trong
một thời kỳ tương đối dài. Do vậy, các tài liệu phản ảnh tình hình thực hiện ngân
sách xã các năm trước đặc biệt là năm báo cáo và những năm trước đó cho phép dự
báo, dự kiến tình hình ngân sách năm kế hoạch theo các quy luật vận động của
những năm trước.
Lập dự toán ngân sách phải dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định

mức cụ thể về thu chi tài chính của xã. Lập dự toán ngân sách là việc xây dựng các
chỉ tiêu thu chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu đó chỉ có thể được xây dựng sát,
đúng, ngoài dựa vào căn cứ nói trên phải đặc biệt tuân thủ theo các chế độ, tiêu
chuẩn, định mức thu chi tài chính nhà nước nói chung và tài chính xã nói riêng
thông qua hệ thống phát luật.

1.1.3. Đặc điểm của ngân sách xã ……………………………………………………………. 91.1.4. Nội dung ngân sách xã …………………………………………………………………. 101.2. Quản lý ngân sách xã ……………………………………………………………….. 131.2.1. Khái niệm thực chất của quản lý ngân sách xã …………………………………. 131.2.2. Vai trò của quản lý ngân sách xã …………………………………………………… 141.2.3. Đặc điểm của quản lý ngân sách xã ……………………………………………….. 141.2.4. Mục tiêu của quản lý ngân sách xã ………………………………………………… 161.1.5. Tổ chức cỗ máy quản lý ngân sách xã ……………………………………………. 171.3.1. Lập dự trù ngân sách xã …………………………………………………………….. 181.3.2. Chấp hành dự trù ngân sách xã …………………………………………………… 211.3.3. Quyết toán ngân sách xã ………………………………………………………………. 241.4. Những tác nhân ảnh hưởng tác động đến công tác làm việc quản lý ngân sách xã …… 261.4.1. Nguồn thu ngân sách xã ……………………………………………………………….. 261.4.2. Nhận thức của những đối tượng người dùng nộp thuế, phí ……………………………………… 291.4.3. Chính sách của Nhà nước …………………………………………………………….. 311.4.4. Nhận thức, năng lượng của chỉ huy xã, thị xã …………………………………. 321.4.5. Sự tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội …………………………………………………………. 331.5. Kinh nghiệm quản lý ngân sách xã của 1 số ít địa phương ………… 341.5.1. Kinh nghiệm quản lý NSX tại huyện Kinh Môn tỉnh Thành Phố Hải Dương …………. 341.5.2. Kinh nghiệm quản lý NSX tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang ………. 351.5.3. Bài học kinh nghiệm tay nghề về quản lý NSX ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Thành Phố Hải Dương. .. 37TH ỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀNHUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG ………………………………………………………. 392.1. Khái quát về đặc thù kinh tế tài chính xã hội và tổ chức triển khai cỗ máy quản lýngân sách xã của huyện Tứ Kỳ, tỉnh Thành Phố Hải Dương …………………………………. 39 iii2. 1.1. Đặc điểm kinh tế tài chính xã hội huyện Tứ Kỳ ……………………………………………… 392.1.2. Tổ chức quản lý ngân sách xã của huyện Tứ Kỳ ………………………………. 402.1.3. Chức năng và trách nhiệm ………………………………………………………………… 422.2. Thực trạng công tác làm việc quản lý ngân sách xã trên địa phận huyện TứKỳ, tỉnh Thành Phố Hải Dương …………………………………………………………………………… 422.2.1. Thực trạng công tác làm việc lập dự trù NSX. ……………………………………………. 422.2.2. Thực trạng chấp hành NSX. ………………………………………………………….. 50 * Thực trạng chấp hành thu NSX. …………………………………………………………… 50 * Thực trạng chấp hành chi NSX. …………………………………………………………… 562.2.3. Thực trạng công tác làm việc quyết toán NSX. ……………………………………………… 652.3.1. Chính sách của Nhà nước …………………………………………………………….. 692.3.2. Nhận thức của chỉ huy xã, thị xã ……………………………………………….. 712.3.3. Sự tăng trưởng kinh tế tài chính của huyện Tứ Kỳ ……………………………………………. 712.3.4. Số lượng nguồn thu, trách nhiệm chi NSX. ………………………………………….. 742.3.5. Trình độ của cán bộ quản lý NSX. …………………………………………………. 752.4. Đánh giá chung về công tác làm việc quản lý ngân sách xã trên địa bànhuyện Tứ Kỳ, tỉnh Thành Phố Hải Dương ……………………………………………………………. 782.4.1. Về lập dự trù ngân sách xã …………………………………………………………. 782.4.2. Về chấp hành dự trù ngân sách xã ……………………………………………….. 802.4.3. Về quyết toán ngân sách xã …………………………………………………………… 83GI ẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀNHUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG ………………………………………………………. 863.1. Mục tiêu và xu thế tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội trên địa bànhuyện Tứ Kỳ …………………………………………………………………………………….. 863.1.1. Mục tiêu tổng quát ………………………………………………………………………. 863.1.2. Định hướng tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội và quản lý ngân sách xã …………… 883.2. Quan điểm hoàn thành xong quản lý ngân sách xã trên địa phận huyệnTứ Kỳ ……………………………………………………………………………………………….. 903.3. Giải pháp triển khai xong quản lý ngân sách xã trên địa phận ……………. 913.3.1. Hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách xã ……………………………………… 913.3.2. Nâng cao chất lượng lập dự trù ngân sách xã ……………………………….. 923.3.3. Nâng cao hiệu suất cao việc chấp hành ngân sách xã ……………………………… 933.3.3.1. Tiếp tục thay đổi quản lý thu ngân sách xã ……………………………………. 93 iv3. 3.3.2. Tiếp tục thay đổi quản lý chi ngân sách xã ……………………………………. 953.3.4. Nâng cao hiệu suất cao công tác làm việc quyết toán ngân sách xã ……………………….. 983.3.5. Nâng cao nhận thức, năng lượng của chỉ huy xã, thị xã …………………… 993.3.6. Ổn định nguồn thu, tăng cường trách nhiệm chi ngân sách xã ……………… 1003.3.7. Hoàn thiện cỗ máy quản lý ngân sách xã ………………………………………. 1023.4. Kiến nghị ……………………………………………………………………………….. 104PH ẦN KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………. 106T ÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………………….. 107DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTTừ viết tắtCNH – HĐHHLCSKBNNKHMLNSNTMNSDiễn giảiCông nghiệp hóa – văn minh hóaHoa lợi cộng sảnKho bạc nhà nướcKế hoạchMục lục ngân sáchNông thôn mớiNgân sáchNSHNSNNNSTNSXTTCNTWQLNNVATUBNDXDCBNgân sách huyệnNgân sách nhà nướcNgân sách tỉnhNgân sách xãTiểu thủ công bằng tay nghiệpTrung ươngQuản lý nhà nướcThuế giá trị gia tăngỦy ban nhân dânXây dựng cơ bảnDANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒTrangSơ đồ 1.1. Mô hình phân cấp ngân sách nhà nước ………………………………………… 7B ảng 2.1 : Dự toán thu ngân sách xã huyện Tứ Kỳ ………………………………………. 47B ảng 2.2 : Dự toán chi ngân sách xã huyện Tứ Kỳ ………………………………………. 48B ảng 2.3 : Tổng hợp tác dụng tìm hiểu công tác làm việc lập dự trù NSX trên địa bànhuyện Tứ Kỳ ……………………………………………………………………………………………. 49B ảng 2.4 : Quy mô và cơ cấu tổ chức những khoản thu ngân sách xã trên địa phận huyệnTứ Kỳ ………………………………………………………………………………………………………. 51B ảng 2.5 : Tình hình hoàn thành xong dự trù những khoản thu ngân sách xã trên địabàn huyện ………………………………………………………………………………………………… 53B ảng 2.6 : Tổng hợp hiệu quả tìm hiểu công tác làm việc thực thi quản lý thu NSX trênđịa bàn huyện Tứ Kỳ ………………………………………………………………………………… 54B ảng 2.7 : Tình hình nợ thuế, đấu thầu quỹ đất công ích và HLCS. ……………… 55 viBảng 2.8 : Chi và cơ cấu tổ chức những khoản chi ngân sách xã trên địa phận huyện Tứ Kỳ ………………………………………………………………………………………………………………… 57B ảng 2.9 : Tình hình hoàn thành xong dự trù những khoản chi ngân sách xã trên địabàn huyện Tứ Kỳ ……………………………………………………………………………………… 59B ảng 2.10 : Tình hình triển khai xong dự trù những khoản chi tiếp tục ngânsách xã …………………………………………………………………………………………………….. 62B ảng 2.11 : Tổng hợp tác dụng tìm hiểu công tác làm việc triển khai quản lý chi ngân sáchxã trên địa phận huyện Tứ Kỳ …………………………………………………………………….. 63B ảng 2.12 : Tình hình nợ thiết kế xây dựng cơ bản tại những xã, thị xã ……………………… 64B ảng 2.13 : Tổng hợp cân đối quyết toán ngân sách xã ………………………………… 67B ảng 2.14 : Tổng hợp tác dụng tìm hiểu công tác làm việc kế toán và quyết toán ngân sáchxã trên địa phận huyện Tứ Kỳ …………………………………………………………………….. 68B ảng 2.15 : Tổng hợp những hộ được miễn thuế từ năm 2011 – 2012 …………………… 70B ảng 2.16 : Tổng hợp tình hình góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng những khu công trình phúc lợi ……… 73B ảng 2.17 : Tổng hợp tình hình dịch chuyển nguồn thu ………………………………….. 74B ảng 2.18. Tổng hợp trình độ của cán bộ quản lý ngân sách xã …………………… 76PH ẦN MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết nghiên cứu và điều tra của đề tàiTrong những năm gần đây, Tứ Kỳ là huyện có nguồn thu ngân sách liên tụctăng. Đạt được tác dụng đó là do Tứ Kỳ đã triển khai những chính sách, chủ trương có hiệuquả, vận tốc tăng trưởng kinh tế tài chính có những biến chuyển đáng kể. Sản xuất kinh doanhphát triển can đảm và mạnh mẽ ở toàn bộ những khu vực, thuộc mọi thành phần kinh tế tài chính. Thu nhậpbình quân đầu người là khoảng chừng 1.100 USD / người / năm, tỷ suất hộ đói nghèo giảmmạnh. Có được những thành tựu đó là do có những biến hóa về cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính, cơchế quản lý tài chính cả về nhận thức, lý luận cũng như thực tiễn. Từ khi triển khai Luậtngân sách ( NS ) đến nay thời hạn chưa phải là dài, tuy nhiên cũng đủ để khẳng định chắc chắn tínhđúng đắn của đường lối thay đổi, được chứng tỏ bằng những tác dụng đầy tính thuyếtphục mà tất cả chúng ta đã đạt được trong sự nghiệp tăng trưởng kinh tế tài chính quốc gia thời hạn qua. Đó là những động lực rất quan trọng góp thêm phần thực thi chủ trương công nghiệp hoá hiện đại hoá quốc gia. Tốc độ tăng trưởng nhanh gọn của nền kinh tế tài chính cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đã có tác động ảnh hưởng thâm thúy đến hoạt động giải trí quản lý ngân sách Nhà nước ( NSNN ) và đặc biệtlà ngân sách xã ( NSX ), là điều kiện kèm theo để làm số thu chi của NSX ngày càng tăng. Trong điều kiện kèm theo kinh tế thị trường khuynh hướng XHCN và tăng cường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với chương trình Quốc gia về thiết kế xây dựng nôngthôn mới lúc bấy giờ, nhu yếu tìm ra những giải pháp quản lý NSNN nói chung vàngân sách xã nói riêng góp thêm phần tạo nguồn lực cho chính quyền sở tại cấp xã thực hiệnnhiệm vụ tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội tại địa phương. Cùng với sự tăng trưởng chung của cả nước, công tác làm việc kiến thiết xây dựng và quản lýNSX ở Tứ Kỳ, đã có những chuyển biến tích cực, góp thêm phần quan trọng vào côngcuộc thay đổi của Đảng và Nhà nước ở cấp cơ sở, bộ mặt nông thôn khởi sắc từngngày, hạ tầng ngày càng hoàn thành xong, đời sống nhân dân ngày càng được nângcao. Những thành quả kinh tế tài chính mà xã đạt được, đã có tác động ảnh hưởng thâm thúy đến hoạt độngquả lý NSNN, vì nguồn thu NS nhờ vào vào sự điều tiết, cách quản lý của cấp cơsở, do đó công tác làm việc quản lý NSX phải có sự hoạt động đi lên mới hoàn toàn có thể bao quát khaithác được nguồn thu, vừa bảo vệ tiêu tốn đạt hiệu suất cao, lại giữ được trật tự trị an vàcông bằng xã hội. Hơn khi nào hết tiềm năng tăng cường công tác làm việc quản lý NSX đượcđặt ra như một trách nhiệm số 1 của công tác làm việc quản lý NSNN vì NSX là cấp ngânsách trực tiếp, là công cụ kinh tế tài chính quan trọng để chính quyền sở tại Nhà nước cấp xã tổchức trách nhiệm tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội bảo vệ bảo mật an ninh quốc phòng, chăm sóc đờisống vật chất và niềm tin cho nhân dân. Nhận thức được tầm quan trọng, sự thiết yếu trong việc tăng cường công tácquản lý NSX trong điều kiện kèm theo lúc bấy giờ, tôi chọn đề tài “ Quản lý ngân sách xã trênđịa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Thành Phố Hải Dương ”. 2. Tổng quan những khu công trình điều tra và nghiên cứu liên quanTrong thời hạn qua cũng có nhiều bài tương quan đến quản lýngân sách xã như : Bài ” Quản lý thu chi NSX qua KBNN, tình hình và giải pháp ” của tác giảVũ Quyến trên tạp chí KBNN năm 2000. Hay đề tài luận văn thạc sỹ “ Hoàn thiệncông tác kế toán ngân sách xã, phường trên địa phận thành phố Hội An ” của VũMinh Nhật Phương năm 2010. Hay đề tài “ Giải pháp triển khai xong công tác làm việc quản lýngân sách xã trên địa phận huyện Thành Phố Lạng Sơn ” của Nguyễn Minh Anh năm 2010. Hoặc bài ” Một bước tiến khả quan trong thu chi NSX ở tỉnh Tỉnh Bình Dương ” đăngtrên tạp chí Tài chính năm 2000 của tác giả Trần Dũng … Những đề tài trên đã điều tra và nghiên cứu về yếu tố quản lý NSX. Những đề tài cũngnêu được một cách tiếp cận đến lý luận ngân sách xã, những yếu tố khái quát vềcông tác quản lý ngân sách xã. Mặt khác đề tài cũng nêu ra được những khó khăntrong quy trình thực thi q, uản lý ngân sách xã. Tuy nhiên, những yếu tố về quản lýNSX của những tác giả điều tra và nghiên cứu mới chỉ đề cập đến trong khoanh vùng phạm vi của từng tỉnhtheo những đặc thù riêng có của từng vùng ( Tỉnh Bình Dương, TP. Đà Nẵng … ) chưa cónhững giải pháp khái quát chung để hoàn toàn có thể vận dụng ở Thành Phố Hải Dương và những tỉnh khác. Hơn nữa, những đề tài trên chỉ nghiên cứu và điều tra ở một số ít nghành nghề dịch vụ hẹp mà tác giảquan tâm mà chưa bao quát được tổng lực yếu tố quản lý NSX. Hơn nữa thờiđiểm điều tra và nghiên cứu trong thời hạn năm 2000 chưa sửa luật NSNN và chưa có thôngtư số 60/2003 / TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính “ Quy định về quản lýNSX và những hoạt động giải trí kinh tế tài chính khác ở xã, phường, thị xã “ nên những giải phápđưa ra là không còn tương thích trong quy trình tiến độ lúc bấy giờ và không tương thích với đặc thùcủa tỉnh Thành Phố Hải Dương, đặc biệt quan trọng là những huyện, thị xã trên địa phận tỉnh Thành Phố Hải Dương. Dovậy, đề tài “ Quản lý ngân sách xã trên địa phận huyện Tứ Kỳ, tỉnh Thành Phố Hải Dương ” sẽ đisâu điều tra và nghiên cứu yếu tố quản lý ngân sách xã trên địa phận huyện, thị xã đơn cử làhuyện Tứ Kỳ, tỉnh Thành Phố Hải Dương. 3. Xác lập và công bố yếu tố nghiên cứuTuy đã có nhiều khu công trình nghiên cứu và điều tra về quản lý ngân sách xã nhưng nhữngcông trình điều tra và nghiên cứu trên đề cập đến yếu tố quản lý ngân sách xã cấp trung ươngvà cấp tỉnh, hay có những khu công trình chỉ nghiên cứu và điều tra về góc nhìn thu, chi trong ngânsách xã mà chưa đề cập đến việc quản lý ngân sách xã ở cấp huyện và cấp, xã. Nênviệc quản lý ngân sách xã cấp huyện và xã còn nhiều hạn chế. Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Thành Phố Hải Dương đã chú trọng tìm ra những giải pháp quản lýngân sách xã trên nhiều mặt : như trong quản lý thu – chi ngân sách, hoàn thành xong bộmáy tổ chức triển khai quản lý và nâng cao năng lượng cán bộ. Nhờ đó quản lý ngân sách xã đãthu được 1 số ít tác dụng quan trọng : bảo vệ được nguồn thu, thu đúng, thu đủ vànuôi dưỡng nguồn thu, đồng thời bảo vệ chi ngân sách đúng nguyên tắc, đúngmục đích, đúng chính sách, tiêu chuẩn, định mức và có hiệu suất cao. Bên cạnh những tác dụng đạt được rất đáng khuyến khích trong việc bảo vệ cácnhiệm vụ cho cỗ máy chính quyền sở tại địa phương hoạt động giải trí, chủ trương phúc lợi xãhội và nhu yếu thiết kế xây dựng kiến trúc nông thôn. Công tác quản lý Ngân sách xãcũng còn thể hiện những yếu kém và hạn chế nhất định. Cho nên một số ít câu hỏi đượcđặt ra so với công tác làm việc quản lý Ngân sách xã là : Thực trạng công tác làm việc quản lý ngânsách xã thế nào ? Việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã đã đáp ứngđược nhu yếu chưa ? Giải pháp nào cho việc quản lý ngân sách xã ? Mặt khác tại địabàn huyện cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu điều tra và nghiên cứu nghiên cứu và điều tra về việcquản lý hoạt động giải trí thu, chi Ngân sách xã trên địa phận từ đó đưa ra giải pháp hoànthiện NSX của huyện. 4. Mục tiêu nghiên cứuMục tiêu chung : Hoàn thiện công tác làm việc quản lý ngân sách xã trên địa phận huyện TứKỳ – tỉnh Thành Phố Hải Dương. Mục tiêu đơn cử : – Hệ thống hoá cơ sở lý luận về ngân sách xã và quản lý ngân sách xã, tính năng, trách nhiệm của cỗ máy quản lý ngân sách xã. – Đánh giá tình hình công tác làm việc quản lý Ngân sách xã trên địa phận huyện TứKỳ trong thời hạn qua. – Đề xuất những giải pháp nhằm mục đích tăng cường công tác làm việc quản lý ngân sách xã đối vớicác những xã trên địa phận huyện Tứ Kỳ – tỉnh Thành Phố Hải Dương như : + Hoàn thiện hoạt động giải trí phân cấp ngân sách xã trên địa phận huyện. + Hoàn thiện và nâng cao hiệu suất cao cỗ máy quản lý so với ngân sách xã. + Hoàn thiện công tác làm việc lập, chấp hành dự trù và quyết công tác làm việc quản lý ngânsách xã. 5. Đối tượng, khoanh vùng phạm vi nghiên cứu và điều tra của đề tài – Về nội dung : Nghiên cứu những nguồn thu, những khoản thu chi và quyết toánngân sách trong thời hạn qua và yêu cầu 1 số ít giải pháp nhằm mục đích tăng cường côngtác quản lý thu – chi ngân sách xã trong thời hạn tới. – Về khoảng trống : Đề tài được tiến hành điều tra và nghiên cứu 1 số ít xã tiêu biểu vượt trội trênđịa bàn Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Thành Phố Hải Dương. – Về thời hạn : khảo sát số liệu về thu – chi ngân sách xã trên địa phận huyện Tứ Kỳnăm 2008 – 2012.6. Phương pháp nghiên cứuLuận văn đã vận dụng những chiêu thức điều tra và nghiên cứu hầu hết sau : * Phương pháp luận : Bằng giải pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sửkết hợp với đường lối, chủ trương tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội của Đảng và Nhà nước. * Phương pháp tích lũy số liệu : – Phương pháp tích lũy số liệu sơ cấp : Thông qua phát phiếu tìm hiểu trắc nghiệmvà phiều phỏng vấn cho những Phòng như : Phòng kinh tế tài chính, Phòng Thống kê …. – Phương pháp tích lũy số liệu thứ cấp trải qua những nguồn số liệu từ UBNDhuyện Tứ Kỳ như Chi cục Thống kê, Phòng kinh tế tài chính kế toán huyện Tứ Kỳ tỉnh HảiDương, và từ những khu công trình điều tra và nghiên cứu, bài viết, báo cáo giải trình … đề tài nghiên cứu và điều tra khoa họccó tương quan của những tổ chức triển khai cá thể trên tạp chí, sách báo và trên mạng Internet. * Phương pháp xử lý số liệu : Những tài liệu sơ cấp, thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu và điều tra gồm có cácsách, báo, tạp chí, những văn kiện, nghị quyết, những khu công trình đã được xuất bản, những sốliệu về tình hình cơ bản của địa phận điều tra và nghiên cứu, số liệu thống kê, điều kiện kèm theo tựnhiên, kinh tế tài chính xã hội. Những số liệu này được tích lũy bằng cách sao chép, đọc, trích dẫn như trích dẫn tài liệu tìm hiểu thêm. Sử dụng báo cáo giải trình tổng hợp quyết toán thu, chi NSX hàng năm do phòng Tàichính – Kế hoạch huyện tổng hợp, báo cáo giải trình thu chi, NSX của KBNN và của những xã, thị xã. Sử dụng ứng dụng Word, Excel để tổng hợp, nhìn nhận nghiên cứu và phân tích những sốliệu tích lũy được trong quy trình tìm hiểu, đưa ra những yêu cầu cho giải pháp quảnlý ngân sách xã của huyện. – Phương pháp lượng hóa : Bằng cách sử dụng những ứng dụng như Excel, Word, sử dụng giải pháp thống kê … để tổng hợp và nghiên cứu và phân tích những tài liệu thuthập được từ quy trình tìm hiểu. 7. Kết cấu khóa luận văn : Ngoài phần mở màn, Tóm lại, hạng mục tài liệu tìm hiểu thêm, mục lục và phụlục, luận văn được kết cấu thành 3 chương : Chương 1 : Cơ sở lý luận về ngân sách xã và công tác làm việc quản lý ngân sách xã. Chương 2 : Thực trạng công tác làm việc quản lý ngân sách xã trên địa phận huyện TứKỳ, tỉnh Thành Phố Hải Dương. Chương 3 : Giải pháp triển khai xong quản lý ngân sách xã huyện Tứ Kỳ, tỉnhHải Dương. CHƯƠNG I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH XÃ VÀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ1. 1. Lý luận chung về ngân sách xã1. 1.1. Khái niệm, thực chất ngân sách xãTrước khi có luật NSNN việc quản lý NSX triển khai theo điều lệ NSX và cácvăn bản hướng dẫn. Điều lệ NSX phát hành tháng 04/1972. Quan niệm về NSX theođiều lệ : ” NSX là kế hoạch thu chi kinh tế tài chính của chính quyền sở tại cấp xã, để đảm bảođiều kiện vật chất cho Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính xã làm tròn tráchnhiệm, trách nhiệm của mình : bảo vệ việc chấp hành pháp lý, giữ vững trật tự trịan, bảo vệ gia tài công cộng, bảo lãnh quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, quản lý mọihoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội trong xã, động viên và giám sát những hợp tác xã vàcông dân thi hành nghiêm chỉnh những nghĩa vụ và trách nhiệm so với Nhà nước “. Xét theo một góc nhìn khác thông tư số 14 / NSNN ngày 28/03/1997 của Bộ Tàichính về ” Hướng dẫn quản lý thu, chi ngân sách xã, phường, thị xã ” cho rằng : ” NSX là một bộ phận của NSNN do Ủy Ban Nhân Dân xã thiết kế xây dựng, quản lý và Hội đồng nhândân xã quyết định hành động, giám sát triển khai “. Như vậy hoàn toàn có thể khái niệm về NSX như sau : NSX là hàng loạt những quan hệ kinh tế tài chính giữa những chủ thể phát sinh trong quá trìnhhình thành tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền sở tại Nhà nước cấpxã nhằm mục đích ship hàng cho việc thực thi những công dụng, trách nhiệm của chính quyền sở tại cấpxã trong khuôn khổ đã được lao lý pháp luật. Một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ điều kiện kèm theo vật chất cho bộ máychính quyền cấp xã hoạt động giải trí đã chính là NSX. Ngoài ra NSX còn bảo vệ nguồn lựcvật chất cho việc kiến thiết xây dựng những khu công trình phúc lợi ở địa phương : Trường học, nhà vănhoá, trạm y tế, đường giao thông vận tải liên thôn, xã … và bảo vệ những hoạt động giải trí về bảo mật an ninh, quốc phòng, những dịch vụ tư vấn, xác nhận pháp lý … Theo luật NSNN tổ chức triển khai mạng lưới hệ thống NSNN gồm có Ngân sách Trung ương vàNgân sách những cấp chính quyền sở tại địa phương. Trong đã Ngân sách địa phươngbao gồm : – Ngân sách cấp tỉnh và thành phố thường trực Trung ương ( gọi là Ngân sáchcấp tỉnh ) – Ngân sách cấp huyện, Q., thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( gọi là Ngân sáchcấp huyện ) – Ngân sách cấp xã, phường, thị xã ( gọi là Ngân sách cấp xã ). Như vậy ngân sách cấp xã là ngân sách cấp cơ sở, cấp ngân sách cuối cùngtrong mạng lưới hệ thống NSNN. Chính quyền xã biểu lộ rõ nhất những quan hệ giữa Nhà nướcvới nhân dân, là nơi trực tiếp tổ chức triển khai tiến hành, chỉ huy triển khai mọi chủ trương, đường lối, chủ trương, lao lý của Đảng và Nhà nước. Hay nói cách khác về bảnchất của NSX là mạng lưới hệ thống những quan hệ kinh tế tài chính giữa nhà nước và những chủ thể kinh tếkhác, phát sinh trong quy trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nướcchính quyền cấp xã nhằm mục đích ship hàng cho những công dụng, trách nhiệm của chính quyềnnhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ đã được phân công, phân cấp quản lý. Do đóngân sách xã có vị trí rất quan trọng trong mạng lưới hệ thống NSNN, biểu lộ ở những mặt : Sơ đồ 1.1. Mô hình phân cấp ngân sách nhà nướcNSNNNS ĐỊA PHƯƠNGNS TRUNG ƯƠNGNS CẤP TỈNHNS CẤP HUYỆNNS CẤP XÃThứ nhất : Xã là một đơn vị chức năng hành chính cơ sở, Hội đồng nhân dân xã là cơquan quyền lực tối cao Nhà nước tại địa phương, tiến hành triển khai mọi chủ trươngđường lối của Đảng và Nhà nước cấp trên, ngoài những HĐND xã còn được quyền banhành những Nghị quyết về tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội và quản lý ngân sách trên địa phận, vì thế NSX biểu lộ rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Thứ hai : Xã là cấp chính quyền sở tại trực tiếp liên hệ với dân xử lý những mốiquan hệ quyền lợi giữa Nhà nước với dân bằng pháp lý. NSX cung ứng điều kiện kèm theo vậtchất cho chính quyền sở tại xã triển khai những trách nhiệm đó. Vì vậy xét theo giác độ kinh tếthì quy mô và mức độ triển khai xong trách nhiệm của chính quyền sở tại xã nhờ vào rất lớnvào nguồn vốn NSX.Thứ ba : Nguồn thu và trách nhiệm chi của NSX biểu lộ hầu hết những khoản thu, chi thuộc trách nhiệm của ngân sách địa phương. Đối với 1 số ít khoản thu như : thuếsử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thu hoa lợi công sản … chỉ có cấp xã trực tiếpquản lý và khai thác mới đạt hiệu suất cao cao. Một số khoản chi mà chỉ có NSX thựchiện mới hài hòa và hợp lý như : chi để triển khai chủ trương đãi ngộ của Nhà nước với nhữngngười có công với cách mạng, chi chăm nom sức khoẻ bắt đầu tại trạm y tế xã … 1.1.2. Vai trò của ngân sách xãCó thể nói NSX có vai trò đặc biệt quan trọng quan trong trong mạng lưới hệ thống NSNN, ngânsách xã mang khá đầy đủ vai trò của ngân sách nhà nước : Ngân sách xã là một cấp của ngân sách nhà nước nên cũng có vai trò rất quantrọng trong hàng loạt hoạt động giải trí kinh tế tài chính, xã hội, bảo mật an ninh, quốc phòng và đối ngoại củađất nước. Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai tròcủa nhà nước theo từng quá trình nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường, ngânsách nhà nước tiếp đón vai trò quản lý vĩ mô so với hàng loạt nền kinh tế tài chính, xã hội. Ngân sách xã là công cụ tham gia kiểm soát và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế tài chính xã hội, địnhhướng tăng trưởng sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn Ngân sách chi tiêu, kiểm soát và điều chỉnh đời sốngxã hội. Huy động những nguồn kinh tế tài chính của ngân sách để bảo vệ nhu yếu chi tiêucủa nhà nước. Mức động viên những nguồn kinh tế tài chính từ những chủ thể trong nguồn kinhtế yên cầu phải hợp lý nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởngđến sự tăng trưởng của nền kinh tế tài chính, vì thế cần phải xác lập mức kêu gọi vào ngânsách một cách tương thích với năng lực góp phần kinh tế tài chính của những chủ thể trong nềnkinh tế của mỗi vùng, miền. Bên cạnh đó ngân sách xã cũng có những vai trò riêng được thểhiện như sau : – Thứ nhất : NSX là công cụ kinh tế tài chính quan trọng bảo vệ sự sống sót và hoạtđộng của cỗ máy Nhà nước ở cơ sở. Sự sinh ra của Nhà nước sẽ kéo theo sự tập trung chuyên sâu nguồn lực kinh tế tài chính vào trongtay Nhà nước nhằm mục đích bảo vệ phương tiện đi lại vật chất, của cải để nuôi sống cỗ máy vàthực hiện những tính năng kinh tế tài chính – xã hội của Nhà nước. Nguồn để giàn trải cáckhoản ngân sách đó chính là NSNN. NSX là một cấp trong mạng lưới hệ thống NSNN thì đươngnhiên ngân sách của cỗ máy Nhà nước ở cấp xã phải do NSX đảm nhiệm. Nhờ NSX đómà những khoản lương cán bộ xã ; những khoản tiêu tốn cho quản lý hành chính hay muasắm những gia tài Giao hàng hoạt động giải trí của chính quyền sở tại xã mới được bảo vệ. – Thứ hai : NSX chính là một công cụ đặc biệt quan trọng quan trọng để chính quyềnxã triển khai quản lý tổng lực những hoạt động giải trí kinh tế tài chính xã hội tại địa phương. Điềunày biểu lộ xã là một cấp chính quyền sở tại cơ sở của cỗ máy quản lý Nhà nước, trựctiếp xử lý những mối quan hệ giữa Nhà nước với dân, đồng thời đảm bảonhiệm vụ tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội, giữ vững bảo mật an ninh chính trị, trật tự bảo đảm an toàn xãhội và thực thi mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước trên địa phận. NSX chính làcông cụ, phương tiện đi lại vật chất hữu hiệu nhất giúp chính quyền sở tại xã xử lý tốtcác quan hệ trên. – Thứ ba : NSX chính là một cấp của ngân sách nhà nước do đó NSX cũng cóvai trò của một ngân sách nhà nước là tham gia điều tiết về kinh tế tài chính, xã hội, thịtrường nhưng trên bình diện của chính quyền sở tại xã. Vai trò này biểu lộ rõ nhất thôngqua nội dung của NSX. 1.1.3. Đặc điểm của ngân sách xãNgân sách xã có vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động giải trí của xã, phường đượcthể hiện qua đặc thù của ngân sách xã. Đặc điểm đó được khái quát như sau : – Thứ nhất : NSX là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền sở tại Nhà nước cấpcơ sở. Hoạt động của quỹ này biểu lộ trên hai phương diện : kêu gọi nguồn thu ( thungân sách xã ) và phân phối sử dụng vốn, quỹ đã ( chi ngân sách xã ) 10 – Thứ hai : Hoạt động thu, chi NSX luôn gắn chặt với tính năng, trách nhiệm củachính quyền xã đã được phân cấp ; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quanquyền lực Nhà nước ở cấp xã và chính quyền sở tại cấp trên. Vì vậy những chỉ tiêu thu chiNSX mang tính pháp lý cao. – Thứ ba : Các hoạt động giải trí thu, chi NSX chính là bộc lộ quan hệ về lợi íchgiữa một bên là quyền lợi chung của nhân dân mà chính quyền sở tại xã là người đại diện thay mặt vớimột bên là quyền lợi của những chủ thể kinh tế tài chính xã hội khác. – Thứ tư : Quan hệ thu chi NSX rất phong phú và biểu lộ dưới nhiều hình thứckhác nhau. Nhưng số thu, số chi theo từng hình thức chỉ hoàn toàn có thể được thực thi khinó đã được ghi vào dự trù và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệtđây cũng chính là đặc thù của ngân sách nói chung. 1.1.4. Nội dung ngân sách xãNội dung cơ bản của ngân sách xã gồm có những khoản thu NSX và chi NSX.Nội dung đó được đề cập như sau : – Đối với thu NSXĐể có kinh phí đầu tư chi cho mọi hoạt động giải trí của mình, mỗi vương quốc đã đặt ra cáckhoản thu ( những khoản thuế khóa ) do mọi công dân góp phần để hình thành nên quỹtiền tệ của mình. Thực chất, thu ngân sách là việc nhà nước dùng quyền lực tối cao củamình để tập trung chuyên sâu một phần nguồn kinh tế tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sáchnhằm thỏa mãn nhu cầu những nhu yếu của mỗi nước. Thông qua thu NSX mà những nguồn thu được tập trung chuyên sâu hình thành nên quỹNSX, bảo vệ nhu yếu tiêu tốn của chính quyền sở tại xã. Thông qua thu chính quyền sở tại xãđã triển khai việc kiểm tra, trấn áp, kiểm soát và điều chỉnh những hoạt động giải trí sản xuất kinh doanhvà những hoạt động giải trí khác trên địa phận xã, bảo vệ cho những hoạt động giải trí này tuân thủ theođúng lao lý của pháp lý. Thông qua hoạt động giải trí thu NSX, chính quyền sở tại xã biến những chủ trương điềuchỉnh vĩ mô nền kinh tế tài chính, hướng dẫn sản xuất tiêu dùng từ công cụ thuế của Nhànước. Với những ngành hàng, mẫu sản phẩm cần khuyến khích tăng trưởng, tương thích vớiđời sống của người dân địa phương như những loại sản phẩm thiết yếu thì hoàn toàn có thể giảm thuế11và ngược lại sẽ tăng thuế suất cao so với những mẫu sản phẩm không có lợi cho đời sốngtinh thần, vật chất của người dân cũng như ảnh hưởng tác động không tốt đến đời sống xã hội. Ngoài ra thu NSX góp thêm phần thực thi tốt những chính sách xã hội như : đảm bảocông bằng giữa những người có nghĩa vụ và trách nhiệm góp phần cho NSX, có sự trợ giúp cho cácđối tượng nộp khi họ gặp khó khăn vất vả hoặc thuộc diện cần tặng thêm theo chủ trương củaNhà nước trải qua xét miễn, giảm số thu. Việc vận dụng đúng những hình thức thu và mức thu còn giúp nhân dân nâng caođược ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm so với hội đồng và giữ gìn kỷ cương phép nước. Các vương quốc đều có những khoản thu được lao lý trong pháp luật của mỗinước. Tùy từng vương quốc mà những khoản đó được cụ thể hóa, những khoản thu gồm có : – Thuế, phí, lệ phí do những tổ chức triển khai và cá thể nộp theo quy địnhcủa pháp lý. – Các khoản thu từ hoạt động giải trí kinh tế tài chính của Nhà nước ; – Các khoản góp phần của những tổ chức triển khai và cá thể ; – Các khoản viện trợ ; – Các khoản thu khác theo pháp luật của pháp lý. Như vậy hoàn toàn có thể nói, thu NSX đóng vai trò quan trọng trong việc góp thêm phần thựchiện những tiềm năng kinh tế tài chính, xã hội tại địa phận do Nhà nước cấp xã quản lý. Xét trênphương diện quan hệ giữa hai mặt thu và chi NSX thì thu NSX còn ảnh hưởngmang tính quyết định hành động đến chi ngân sách xã vì ” lường thu mà chi ” đã trở thành mộtnguyên tắc để quản lý ngân sách. – Đối với chi NSXChi NSX để bảo vệ phương tiện đi lại vật chất cho chính quyền sở tại ở xã được tồn tạivà tăng trưởng. Cũng như thu ngân sách thì những khoản chi ngân sách cũng tùy theoquy định của từng vương quốc, mỗi vương quốc đưa ra địa thế căn cứ chi ngân sách của quốc giamình và xu thế cho hoạt động giải trí chi của mình : Theo tính năng trách nhiệm, chi ngân sách gồm : 1. Chi tích góp : Chi cho tăng cường cơ sở vật chất như góp vốn đầu tư tăng trưởng kinhtế và kiến trúc, trong đó phần nhiều là kiến thiết xây dựng cơ bản, khấu hao gia tài xã hội122. Chi tiêu dùng : Không tạo ra sản phẩm vật chất để xã hội sử dụng trongtương lai ( chi bảo vệ xã hội ), gồm có : Giáo dục đào tạo, y tế, công tác làm việc dân số, khoa học và công nghệ tiên tiến, văn hóa truyền thống, thông tin đạichúng, thể thao, lương hưu và trợ cấp xã hội, những khoản tương quan đến can thiệp củanhà nước vào hoạt động giải trí kinh tế tài chính, quản lý hành chính, bảo mật an ninh quốc phòng, cáckhoản chi khac, dự trữ kinh tế tài chính, trả nợ vay quốc tế, lãi vay quốc tế. Theo đặc thù kinh tế tài chính, chi ngân sách nhà nước được chia ra : 1. Chi thường xuyên2. Chi góp vốn đầu tư phát triển3. Chi dự trữ4. Chi trả nợNhư vậy, hoàn toàn có thể nói mỗi một cách tiếp cận chi ngân sách hoàn toàn có thể đem lại cáchnhìn khác nhau về ngân sách nhà nước. Chi NSX cho sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp y tế đã thiết thực góp phầnnâng cao dân trí và sức khoẻ cho người dân lao động. Nhờ đó mà những tiềm năng xoámù, phổ cập giáo dục những bậc kế hoạch hoá mái ấm gia đình, phòng dịch bệnh, … được thựchiện. Khoản chi này không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai ; gồm có chi cho hoạt động giải trí sự nghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, bảo mật an ninh … Thông qua chi NSX mà những chính sách xã hội được thực thi như : Chi cứu tếxã hội, chi trợ cấp trợ giúp những mái ấm gia đình thương bệnh binh, liệt sĩ, người có công với cáchmạng …. Qua việc góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng và tăng trưởng mạng lưới hệ thống truyền thanh ở xã đã gópphần nâng cao trình độ dân trí ở khu vực nông thôn, qua mạng lưới hệ thống truyền thanh cơsở dân cư hoàn toàn có thể nhanh gọn tiếp thu đựơc kinh nghiệm tay nghề về trồng trọt, chănnuôi, tăng trưởng sản xuất, nắm được những chủ trương chủ trương nhà nước. – Thông qua chi NSX hạ tầng kinh tế tài chính – xã hội ở xã đã được hình thành vàphát triển. Hệ thống Trường học, trạm xá, mạng lưới hệ thống thuỷ lợi, mạng lưới hệ thống giao thông vận tải … đã tạo đà cho sự giao lưu, tăng trưởng kinh tế tài chính, rút ngắn dần khoảng cách giữa nôngthôn với thành thị. 13N hờ chi NSX cho tăng trưởng hạ tầng xã đã từng bước làm biến hóa cơcấu kinh tế tài chính ở nông thôn theo hướng từ kinh tế tài chính thuần nông chuyển sang cơ cấu tổ chức kinhtế nông nghiệp – công nghiệp – thương mại và dịch vụ sản xuất hàng hoá. Đây làđiều kiện thuận tiện để tiến hành sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn. Như vậy, chi NSX có vai trò quan trọng so với sự tăng trưởng kinh tế tài chính, văn hoá, xã hội ở nông thôn. Nếu xét trong mối quan hệ biện chứng giữa thu và chi thì chiNSX tốt sẽ ảnh hưởng tác động trực tiếp tới việc tu dưỡng và tăng trưởng nguồn thu của xã. 1.2. Quản lý ngân sách xã1. 2.1. Khái niệm thực chất của quản lý ngân sách xãNgân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước, là nguồn kinh tế tài chính tậptrung quan trọng trong mạng lưới hệ thống ngân sách nhà nước. Ngân sách xã là tiềm lực tàichính, là sức mạnh về mặt kinh tế tài chính của chính quyền sở tại cấp xã. Quản lý và quản lý ngân sách xã có tính năng chi phối trực tiếp đến những hoạtđộng kinh tế tài chính khác ở cơ sở. Quản lý ngân sách xã có khoanh vùng phạm vi hẹp hơn khái niệm vềquản lý ngân sách nhà nước. Từ những cách tiếp cận ngân sách xã trên hoàn toàn có thể hiểu quản lý ngân sách xã làhoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đã là sự tác động ảnh hưởng có tổ chức triển khai vàđiều chỉnh bằng quyền lực tối cao pháp lý nhà nước so với những hoạt động giải trí thu, chi ngânsách xã, là hành vi hoạt động giải trí của con người trong những cơ quan nhà nước từ Trungương đến cơ sở thực thi để thực thi những công dụng trách nhiệm của nhà nướcnhằm duy trì, thiết kế xây dựng và tăng trưởng ngân sách xã cung ứng được nhu yếu quản lýnhà nước của chính quyền sở tại cấp xã và nhu yếu tăng trưởng kinh tế tài chính, văn hoá, xã hội ởđịa phương. Quản lý NSX là quy trình tác động ảnh hưởng của chính quyền sở tại nhà nước những cấp vào cácquan hệ thu, chi NSX nhằm mục đích hướng nó Giao hàng những hoạt động giải trí của chính quyền sở tại cấpxã để triển khai tiềm năng, kế hoạch kinh tế tài chính xã hội của cấp xã đặt ra trong từng thờikỳ. Quản lý NSX cũng đồng thời là quy trình sử dụng nguồn lực kinh tế tài chính NSX nhưlà một công cụ để quản lý và điều hành kinh tế cấp xã, hướng những quan hệ kinh tế tài chính, những hoạt động giải trí kinh tế tài chính diễn ra trên địa phận cấp xã tăng trưởng theo ý đồ của nhà nướctrong từng tiến trình. 141.2.2. Vai trò của quản lý ngân sách xã-Thứ nhất : Quản lý ngân sách xã giúp xử lý hài hoà quan hệ quyền lợi : Lợiích nhà nước, quyền lợi của nhân dân theo hướng chú trọng quyền lợi của nhân dân trêncơ sở cung ứng được những tiềm năng của nhà nước ; để có sức mạnh tổng hợp đối vớinhiều nghành nghề dịch vụ, nhiều khu công trình phúc lợi hoàn toàn có thể kêu gọi và thực thi tốt phươngchâm nhà nước và nhân dân cùng làm. – Thứ hai : Quản lý ngân sách xã xử lý tốt quan hệ giữa trước mắt và lâudài theo hướng có sự chuẩn bị sẵn sàng nguồn kinh tế tài chính vĩnh viễn, kiến thiết xây dựng nguồn thu lâu dàiđể có cơ sở bảo vệ tăng trưởng vững trắc tương thích với xu thế hoạt động của nền kinhtế và quy trình thay đổi của quốc gia trên cơ sở không ngừng góp vốn đầu tư cơ sở vật chấtphục vụ nhu yếu cải tổ đời sống và ý thức cho nhân dân. – Thứ ba : Quản lý NSX sẽ thôi thúc sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, rút ngắn dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi với miềnngược, trên cơ sở dành tỷ suất kinh tế tài chính thoả đáng cho góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng hạ tầng ; bảo vệ không thiếu nguồn kinh tế tài chính để xử lý những trách nhiệm trọng điểm của chínhquyền cấp xã trong từng thời kỳ, bảo vệ cân đối tích cực trên cơ sở trong khả năngnguồn thu phân cấp không được bội chi ngân sách. 1.2.3. Đặc điểm của quản lý ngân sách xãQuản lý ngân sách xã có vai trò quan trọng trong hoạt động giải trí của xã, quản lýngân sách xã mang rất đầy đủ đặc thù của quản lý ngân sách nhà nước. Thể hiện như sau : – Thứ nhất : Quản lý NSX mang đặc thù triển khai liên tục, liên tục vàtoàn diện, từ khâu lập dự trù, chấp hành đến quyết toán ngân sách xã. Việc lập dựtoán NSX phải biểu lộ khá đầy đủ những quan điểm đa phần của chủ trương tài chínhquốc gia như : cơ cấu tổ chức động viên những nguồn thu, sắp xếp những nội dung chi … Trong khâuchấp hành dự trù ngân sách xã cơ bản phải lập kế hoạch thu, chi quý trong đã chiara những tháng để tổ chức triển khai triển khai tốt, đồng thời trấn áp ngặt nghèo thu, chi NSXtrong từng tháng quý. Trong khâu quyết toán phải kiểm tra ngặt nghèo những báo cáo giải trình thuchi NSX tháng, quý, đặc biệt quan trọng là những báo cáo giải trình quyết toán thu, chi NSX năm. Như vậy15trong một năm ngân sách phải quản lý tốt đồng thời cả ba khâu, đã là : chấp hànhNSX của quy trình hiện tại, quyết toán NSX của quy trình trước, và lập dự toánNSX cho quy trình tiếp theo, và cứ lặp đi, lặp lại nh vậy. – Thứ hai : Quản lý NSX phát huy tính dân chủ, công khai minh bạch theo mục tiêu “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra ”. Tính dân chủ biểu lộ người dân cũng được tham gia quản lý theo luật. Nhândân phải được bàn và quyết định hành động trực tiếp những yếu tố sau : chủ trương và mức đónggóp thiết kế xây dựng hạ tầng và những khu công trình phúc lợi công cộng ( điện, đường, trường, trạm xá, những khu công trình văn hoá thể thao … ). Đồng thời nhân dân phải kiểm tra, giám sát những hoạt động giải trí của HĐND và Ủy Ban Nhân Dân xã. Tính công khai minh bạch biểu lộ : mọi hoạt động giải trí thu chi NSX phải rõ ràng minh bạch, công khai minh bạch cho dân biết theo chủ trương pháp lý của Nhà nước. Các nghị quyết củaHĐND, quyết định hành động của Ủy Ban Nhân Dân xã và của cấp trên tương quan đến địa phương, dự toánvà quyết toán NSX hàng năm, dự trù và quyết toán thu chi những quỹ, dự án Bất Động Sản, cáckhoản kêu gọi góp phần thiết kế xây dựng hạ tầng, những khu công trình phúc lợi công cộngcủa xã và tác dụng triển khai những chương trình dự án Bất Động Sản do nhà nước, những tổ chức triển khai cá nhânđầu tư, hỗ trợ vốn trực tiếp cho xã, tác dụng thanh tra kiểm tra, xử lý những vấn đề tiêucực tham nhũng của cán bộ xã … toàn bộ phải được công khai hoá cho dân biết. – Thứ ba : Quản lý NSX mang tính khoa học, tiên tiến và phát triển : quản lý NSX phải ngàycàng được củng cố và hoàn thành xong dựa trên những phương pháp quản lý khoa học, tiên tiến và phát triển tương thích với điều kiện kèm theo tăng trưởng của từng tiến trình. Đặc biệt trong giaiđoạn lúc bấy giờ, việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến tin học vàoquản lý NSX một cách đồng nhất là một nhu yếu cấp thiết, tránh thực trạng tụt hậu củacông tác quản lý NSX so với khu vực quản lý nhà nước nói chung. – Thứ tư : Quản lý ngân sách xã biểu lộ thực chất pháp lý của nhà nước đó : trước hết phải triển khai đúng theo Luật ngân sách nhà nước, theo pháp luật chungcủa Nhà nước, theo những Nghị định của nhà nước, những Thông tư hướng dẫn của BộTài chính. Các khoản thu phải thu đúng, thu đủ, tránh thất thu theo pháp luật củapháp luật, chi ngân sách xã phải đúng chính sách, tiêu chuẩn, định mức tiêu tốn quyđịnh của nhà nước. Thu chi NSX phải được hạch toán vừa đủ vào NSNN qua16KBNN, tránh hiện tượng kỳ lạ thu để ngoài ngân sách, tự đặt ra những khoản thu trái quyđịnh, toạ chi, tiêu tốn tuỳ tiện, gây tiêu tốn lãng phí, thất thoát NSX. Quản lý NSX phải trêncơ sở luật NSNN, phải thực thi theo đúng những pháp luật của luật NSNN. Quản lýnguồn thu phải trên cơ sở phân cấp theo luật những pháp luật của luật thuế, những quyđịnh về pháp lệnh phí và lệ phí ; những khoản thu khác tại xã phải tuân thủ theo đúngcác pháp luật của nhà nước. Quản lý những khoản chi phải trên cơ sở tiêu chuẩn, địnhmức phân chia ngân sách, những chủ trương chính sách của nhà nước. 1.2.4. Mục tiêu của quản lý ngân sách xãTrên bình diện toàn diện và tổng thể quản lý NSX phải bảo vệ đạt được những tiềm năng ổnđịnh kinh tế tài chính, chính trị khu vực nông thôn, triển khai công nghiệp hoá nông nghiệpnông thôn, xoá dần khoảng cách thành thị và nông thôn theo đường lối của Đảng. Từ những tiềm năng tổng quát trên ta hoàn toàn có thể rút ra những tiềm năng đơn cử về quản lýNSX trong thời hạn tới như sau : Thứ nhất : Xây dựng và hoàn thành xong một mạng lưới hệ thống chính sách, chủ trương phù hợpvới điều kiện kèm theo trong thực tiễn của quốc gia và tương thích với điều kiện kèm theo đơn cử của từng vùng, miền tạo điều kiện kèm theo cho NSX ngày càng vững mạnh đủ để biểu lộ vai trò của mìnhtrong quản lý kinh tế tài chính, chính trị xã hội của chính quyền sở tại cấp xã. Thứ hai : Nuôi dưỡng, khai thác, tạo lập và tăng trưởng những nguồn thu cho NSX, sử dụng những nguồn vốn ngân sách xã tiết kiệm chi phí hiệu suất cao bảo vệ cơ cấu tổ chức chi đầu tưphát triển cung ứng nhu yếu tăng trưởng kinh tế tài chính nông thôn. Đảm bảo chi thường xuyênduy trì tốt hoạt động giải trí của chính quyền sở tại xã. Thứ ba : Xây dựng NSX nhằm mục đích bảo vệ những chủ trương xã hội của nhà nướcđối với cấp xã. Thứ tư : Tăng cường công tác làm việc kiểm tra, trấn áp, bảo vệ chủ trương, kỷ luậttài chính bảo vệ công minh xã hội sử dụng hiệu suất cao tiền vốn của nhà nước, củanhân dân. Thứ năm : Đảm bảo tính tự chủ, bảo vệ cân đối chung trong mạng lưới hệ thống ngânsách giảm dần và tiến tới xoá bỏ diện những xã không tự cân đối được ngân sách. Xâydựng ngân sách xã lành mạnh tự chủ không nhờ vào vào ngân sách cấp trên. 17T hứ sáu : Xây dựng và hoàn thành xong mạng lưới hệ thống chính sách, tiến hành vận dụng thốngnhất những pháp luật về công tác làm việc hạch toán kế toán NSX. Đảm bảo mạng lưới hệ thống sổ sáchbáo cáo kế toán Giao hàng tốt nhu yếu quản lý, nhu yếu giám sát, triển khai tốt chế độcông khai kinh tế tài chính ngân sách. Thứ bẩy : Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý NSX đồng điệu đủ mạnh để thựchiện trách nhiệm quản lý hướng dẫn, kiến thiết xây dựng NSX phân phối được nhu yếu trong từngthời kỳ, từng giai đạn cách mạng. 1.1.5. Tổ chức cỗ máy quản lý ngân sách xã * Cơ cấu cỗ máy quản lý NSXBộ máy quản lý NSX nằm trong mạng lưới hệ thống những cơ quan quản lý hành chínhngành Tài chính : – Ở Trung ương : nằm trong Bộ Tài chính ( Vụ NSNN ). – Ở tỉnh : nằm trong Sở Tài chính ( Phòng quản lý NSX ). – Ở cấp huyện : nằm trong phòng Tài chính – KH ( Bộ phận quản lý NSX ). – Ở cấp xã : nằm trong Ủy Ban Nhân Dân xã ( Gồm Trưởng ban, cán bộ kế toán, thủ quỹ ). * Chức năng, trách nhiệm của cỗ máy quản lý NSXBộ máy quản lý NSX những cấp có trách nhiệm tham mưu giúp Ủy Ban Nhân Dân và HĐNDcấp mình quản lý tài chính, NSX trên những mặt hầu hết sau : – Tham mưu giúp Ủy Ban Nhân Dân cùng cấp kiến thiết xây dựng kế hoạch dài hạn trung hạn vàđối với việc tăng trưởng NSX trên địa phận và khu vực, địa phương mình. – Hướng dẫn những đơn vị chức năng thuộc cấp mình thiết kế xây dựng dự trù thu, chi NSX hằngnăm báo cáo giải trình Ủy Ban Nhân Dân và trình HĐND cùng cấp quyết định hành động. – Tham mưu yêu cầu những giải pháp nhằm mục đích tiến hành thực thi hiệu suất cao dựtoán thu chi NSX hằng năm. – Tham mưu phát hành những chính sách thu, chi NSX những tiêu chuẩn định mức phânbổ NSX bảo vệ công minh tích cực. – Tham mưu giúp Ủy Ban Nhân Dân những cấp những giải pháp khai thác nguồn thu, chi tiêutiết kiệm hiệu suất cao. Quản lý tài sản công, bảo vệ cho những hoạt động giải trí kinh tế tài chính ngânsách xã trên địa phận lành mạnh và theo đúng lao lý của nhà nước. 18 – Tổ chức công tác làm việc kế toán và quyết toán NSX theo lao lý bảo vệ đúngcác lao lý của luật NSNN bảo vệ rõ ràng, công khai minh bạch minh bạch. – Thực hiện công tác làm việc kiểm tra tiếp tục nhằm mục đích uốn nắn những sai phạmxảy ra trong quy trình quản lý. – Thực hiện trách nhiệm báo cáo giải trình định kỳ và công khai minh bạch kinh tế tài chính theo quy định1. 3. Nội dung của quản lý ngân sách xã1. 3.1. Lập dự trù ngân sách xãLập dự trù ngân sách xã là bản kế hoạch thu, chi kinh tế tài chính của đơn vị chức năng trongkhoảng thời hạn một năm. Lập dự trù ngân sách xã là quy trình nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận giữa năng lực nhucầu nguồn kinh tế tài chính của xã từ đó lập chỉ tiêu thu, chi, dự trữ ngân sách một cáchđúng đắn, có địa thế căn cứ khoa học, địa thế căn cứ thực tiễn. Đồng thời trên cơ sở đó xác lậpbiện pháp về mặt kinh tế tài chính, xã hội để triển khai những chỉ tiêu đề ra. Lập dự trù ngân sách xã có ý nghĩa trên những mặt sau : – Thông qua việc lập dự trù ngân sách mà những huyện, xã hoàn toàn có thể thẩm tra tínhtoán một cách ngặt nghèo, kỹ lưỡng năng lực về nhu yếu kinh tế tài chính, tiền tệ, xã hội. Từđó, phát huy được lợi thế, thuận tiện, hạn chế đến mức thấp nhất khó khăn vất vả trở ngạitrong sự nghiệp tăng trưởng kinh tế tài chính quốc gia nói chung và của những xã nói riêng. – Lập dự trù ngân sách xã là khâu khởi đầu của nội dung quản lý ngân sáchxã, nó đặt cơ sở nền tảng cho khâu tiếp theo trong nội dung quản lý ngân sách xã. Vì vậy, nếu khâu lập dự trù được triển khai đúng mực có cơ sở khoa học, hợp thờigian … sẽ tạo điều kiện kèm theo thuận tiện lớn cho những khâu tiếp theo, đặc biệt quan trọng là khâu chấphành dự trù ngân sách xã. – Mục tiêu cớ bản của việc lập dự trù ngân sách xã nhằm mục đích đo lường và thống kê đúng đắnngân sách xã, có địa thế căn cứ khoa học và địa thế căn cứ thực tiễn những chỉ tiêu thu chi ngân sáchcủa xã theo kế hoạch. Do đó, trong quy trình lập ngân sách phải bảo vệ cácyêu cầu : + Dự toán ngân sách xã phải bám sát kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính, xã hội và cótác động tích cực so với việc triển khai kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính, xã hội. 19 + Dự toán ngân sách phải bảo vệ triển khai rất đầy đủ và đúng đắn những quanđiểm chỉ huy của chủ trương kinh tế tài chính mỗi vương quốc trong thời kỳ và nhu yếu theoluật ngân sách của từng vương quốc. – Để có bản dự trù ngân sách hàng năm vừa cung ứng được nhu yếu mục tiêuvừa có tính thực tiễn cao, yên cầu khi lập dự trù ngân sách phải có địa thế căn cứ : + Căn cứ vào phương hướng, chủ trương, trách nhiệm tăng trưởng kinh tế tài chính văn hóa truyền thống, xã hội, bảo mật an ninh quốc phòng của mỗi mỗi vương quốc trong năm kế hoạch và những chủtrương năm tiếp theo. Căn cứ này giúp cho công tác làm việc thiết kế xây dựng dự trù ngân sách cómột cách nhìn tổng quát về những tiềm năng, trách nhiệm mà ngân sách xã của nhànước phải tập trung chuyên sâu trải qua động viên khai tác những nguồn thu ngân sách cũng nhưphân phối, sử dụng vốn ngân sách một cách đúng đắn, hài hòa và hợp lý cho mỗi kỳ kế hoạch. + Lập dự trù ngân sách xã phải được dựa trên bản kế hoạch phát triên kinhtế, xã hội của nhà nước trong năm kế hoạch. Kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính, xã hội làcơ sở, địa thế căn cứ để bảo vệ những nguồn thu cho ngân sách nhà nước. đồng thời, cũng lànơi sử dụng những khoản tiêu tốn của ngân sách từng xã trong nhà nước. Do vậy, kếhoạch tăng trưởng kinh tế tài chính, xã hội vừa là tiềm năng Giao hàng của dự trù ngân sách. Việc lập dự trù ngân sách phải tính đến những tác dụng nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận tìnhhình triển khai kế hoạch ngân sách của xã những năm trước, đặc biệt quan trọng là năm báo cáo giải trình. Hoạt động của ngân sách xã thường diễn ra theo những quy luật nhất định trongmột thời kỳ tương đối dài. Do vậy, những tài liệu phản ảnh tình hình triển khai ngânsách xã những năm trước đặc biệt quan trọng là năm báo cáo giải trình và những năm trước đó được cho phép dựbáo, dự kiến tình hình ngân sách năm kế hoạch theo những quy luật hoạt động củanhững năm trước. Lập dự trù ngân sách phải dựa trên những chủ trương, chính sách, tiêu chuẩn, địnhmức đơn cử về thu chi kinh tế tài chính của xã. Lập dự trù ngân sách là việc thiết kế xây dựng cácchỉ tiêu thu chi cho năm kế hoạch, những chỉ tiêu đó chỉ hoàn toàn có thể được thiết kế xây dựng sát, đúng, ngoài dựa vào địa thế căn cứ nói trên phải đặc biệt quan trọng tuân thủ theo những chính sách, tiêuchuẩn, định mức thu chi kinh tế tài chính nhà nước nói chung và kinh tế tài chính xã nói riêngthông qua mạng lưới hệ thống phát luật .

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập