tiểu luận kinh tế du lịch giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở việt nam – Tài liệu text
tiểu luận kinh tế du lịch giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở việt nam
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (136.01 KB, 21 trang )
Bạn đang đọc: tiểu luận kinh tế du lịch giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở việt nam – Tài liệu text
LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch cộng đồng đang ngày càng phát triển tại Việt Nam, góp phần tạo việc làm,
xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân tại nhiều địa phương, đồng thời góp
phần phát huy thế mạnh văn hóa bản địa. Những năm gần đây, du lịch cộng đồng là xu
hướng phát triển tương đối mạnh với hình thức phong phú. Có không ít địa phương xây
dựng được những mô hình thành công như: Hòa Bình, Quảng Ninh, Hà Giang, Lào Cai,
Vĩnh Phúc…
Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là mỗi địa phương tìm ra nét độc đáo, huy động
cộng đồng cùng tham gia, tạo nên những sản phẩm mà ở đó du khách được trải nghiệm
cuộc sống hằng ngày của cộng đồng, được thụ hưởng, cảm nhận những giá trị văn hóa bản
địa đặc sắc. Mô hình giúp đề cao, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân cư vào hoạt
động du lịch, nhằm giúp du khách có thêm hiểu biết và tình yêu đối với văn hóa, môi
trường, phong tục, nếp sống… của người dân. Bên cạnh việc phát huy, quảng bá những nét
đẹp văn hóa bản địa, điều được lớn nhất của du lịch cộng đồng là đời sống của chính người
dân cải thiện hơn.
Mặc dù việc phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng là phù hợp xu thế và số du
khách tìm đến các sản phẩm du lịch này ngày càng tăng. Nhưng thực tế cho thấy du lịch
cộng đồng ở Việt Nam vẫn mang tính tự phát, chưa được tổ chức bài bản, chưa đi vào thực
chất. Hình thức hoạt động mới chỉ mang ý nghĩa tham quan, ít đạt được mục đích nâng cao
nhận thức, giáo dục môi trường và cảm nhận nét đặc sắc trong văn hóa của cộng đồng bản
địa. Trong khi đó một vài địa phương lại quá chú trọng đến yếu tố phát triển kinh tế nên tổ
chức còn manh mún, chụp giật, chuyển quá nhanh sang dịch vụ du lịch, mà chưa chú trọng
đến vấn đề duy trì bền vững hoạt động này.
Để du lịch cộng đồng phát triển, quan trọng nhất vẫn là cộng đồng của từng địa
phương phải ý thức sâu sắc về giá trị đặc sắc của văn hóa, địa phương mình. Từ đó truyền
tải đến du khách những giá trị này bằng tình yêu, sự tôn trọng và niềm tin. Song song với
việc tháo bỏ các vướng mắc đang hạn chế du lịch cộng đồng, cần hợp nghiên cứu, hướng
dẫn người dân bản địa xây dựng sản phẩm hấp dẫn, không trùng lặp, bảo đảm vấn đề giữ
gìn cảnh quan, môi trường, tránh tình trạng chộp giật, phá hủy dần những nét văn hóa bản
địa đặc sắc.
Vì những lý do nêu trên mà chúng em lựa chọn đề tài:”Giải pháp phát triển du lịch
cộng đồng ở Việt Nam” nhằm phân tích thực trạng cũng như đưa ra một số giải pháp thiết
thực và cần thiết cho nhà nước cũng như các địa phương để giải quyết những hạn chế trong
phát triển du lịch cộng đồng Việt Nam hiện nay.
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
1.1 Cơ sở lý luận về du lịch
1.1.1 Khái niệm du lịch
Du lịch là một ngành “công nghiệp không khói” góp phần tăng thu nhập quốc gia và
giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận lớn lao động. Ngày nay nhiều nước trên thế
giới trong đó có Việt Nam đã ưu tiên phát triển ngành du lịch như một ngành mũi nhọn
quốc gia mình. Vì vậy trước tiên để có thể khai thác hiệu quả ngành này chúng ta cần phải
hiểu được bản chất của nó.
Theo Liên Hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official
Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác
với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức
không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống.
Theo quan niệm đầy đủ về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, Khoa Du lịch và
khách sạn (Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội) đã đưa ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp
những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và Việt Nam trong những
năm gần đây: “Du lịch là một trong những ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ
chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp,
nhằm đáp ứng nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu
khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại những lợi ích kinh tế, chính trị, xã
hội thiết thực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp”.
Trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10, thuật ngữ “du lịch” được hiểu
như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm thỏa mãn
nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: du lịch là một trong những
hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang
một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc, theo góc độ này ta thấy đây
là khái niệm nhằm tránh được sự di cư tự do do từ vùng này sang vùng khác.
2
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm
nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc điểm
của ngành kinh tế, vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội.
1.1.2 Vai trò của du lịch
Trên thế giới, du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế hàng đầu,
phát triển với tốc độ cao, thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia vì những lợi ích to lớn về
kinh tế – xã hội mà nó đem lại. Điều này càng thể hiện rõ hơn trước xu thế toàn cầu hóa,
khu vực hóa với hội nhập quốc tế hiện nay. Với sự tăng trưởng liên tục trong nhiều thập kỷ
qua, du lịch đã khẳng định là một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh nhất
và lớn nhất trên bình diện thế giới, góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của các quốc
gia.
Về mặt kinh tế, sự phát triển của du lịch đã tác động tích cực vào việc làm tăng thu
nhập quốc dân, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Đây
là tác động trực tiếp nhất của du lịch đối với nền kinh tế. Nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới đã thu hàng tỷ USD mỗi năm thông qua phát triển du lịch.
Về mặt xã hội, du lịch góp phần tạo nhiều việc làm, kích thích khôi phục và phát triển
các lễ hội, làng nghề truyền thống. Làm thay đổi diện mạo nhiều địa phương – nơi có các
khu du lịch phát triển.
1.1.3 Phân loại du lịch
Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu chí đưa
ra. Hiện nay, đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo
các tiêu chí cơ bản dưới đây:
●
Phân chia theo môi trường tài nguyên: du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa.
●
Phân loại theo mục đích chuyến đi: du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ
dưỡng, du lịch khám phá, du lịch thể thao, du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo, du lịch
nghiên cứu, du lịch kinh doanh…
●
Phân loại theo lãnh thổ hoạt động: du lịch quốc tế, du lịch nội địa, du lịch quốc gia.
●
Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: du lịch miền biển, du lịch miền núi, du
lịch đô thị, du lịch thôn quê.
3
●
Phân loại theo phương tiện giao thông: du lịch ô tô, du lịch tàu hỏa, du lịch xe máy, du
lịch bằng máy bay…
●
Phân loại theo loại hình lưu trú: khách sạn, nhà trọ thanh niên, camping, ..
●
Phân loại theo độ dài chuyến đi: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày.
●
Phân loại theo hình thức tổ chức: du lịch cá nhân, du lịch tập thể, du lịch gia đình.
●
Phân loại theo phương thức hợp đồng: du lịch trọn gói, du lịch từng phần.
1.2 Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng
1.2.1 Khái niệm du lịch cộng đồng
Du lịch cộng đồng được định nghĩa tại Luật du lịch 2017 (có hiệu lực từ ngày
01/01/2018). Theo đó:
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa
của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi.
Hiện nay, du lịch cộng đồng đang được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi ích
phát triển kinh tế bền vững nhất cho bản địa. Du lịch cộng đồng không chỉ giúp người dân
bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, mà còn là dịp để bảo tồn và phát huy những nét văn
hoá độc đáo của địa phương..
Ở một số địa phương trên cả nước có rất nhiều mô hình du lịch cộng đồng phát triển,
đặc biêtk là khá thành công ở các vùng miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh
sống như ở Lào Cai, Hà Giang v.v.. Những mô hình này đã mang lại hiệu quả thiết thực,
không chỉ phát huy được thế mạnh văn hoá bản địa của các dân tộc, mà còn góp phần xóa
đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhiều người dân địa phương.
Theo các chuyên gia du lịch, việc phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng là phù
hợp với xu thế thời đại, đáp ứng nhu cầu khám phá của đông đảo du khách muốn tìm hiểu
văn hoá dân tộc đặc sắc. Tuy nhiên, các chuyên gia du lịch cũng đưa ra lời khuyến cáo:
Muốn du lịch cộng đồng phát triển cần giữ nguyên gốc, nguyên sơ, chất phác chân thực của
văn hoá bản địa, đó là giá trị cốt lõi của cộng đồng, không để đánh mất nó. Phát triển du
lịch thì phải có trách nhiệm với xã hội. Để phát triển kinh tế địa phương, tôn trọng những
giá trị bản địa, giá trị cộng đồng thì loại hình du lịch có trách nhiệm sẽ là giải pháp để phát
triển du lịch cộng đồng đúng hướng và bền vững. Một nền du lịch bền vững thì người dân
phải được hưởng lợi từ sự phát triển du lịch của địa phương…
4
1.2.2 Điều kiện hình thành và phát triển du lịch sinh thái cộng đồng
Điều kiện tiềm năng về tài nguyên môi trường tự nhiên và nhân văn có ý nghĩa quyết
định đến phát triển du lịch sinh thái cộng đồng.
●
Điều kiện yếu tố cộng đồng dân cư
●
Điều kiện có thị trường khách trong nước và quốc tế.
●
Điều kiện về cơ chế chính sách hợp lý
●
Sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính phủ, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước
1.2.3 Tiêu chí của du lịch sinh thái cộng đồng
Theo UNWTO (2008) cho rằng những tiêu chí mà du lịch sinh thái cộng đồng đang
hướng tới gồm có các tiêu chí sau:
●
Người dân nên được tham gia vào quá trình lên kế hoạch và quản lý hoạt động du lịch
tại cộng đồng.
●
Hoạt động du lịch này phải mang lại lợi ích một cách công bằng cho cộng đồng.
●
Hoạt động du lịch này nên bao gồm tất cả các thành viên của cộng đồng hơn chỉ là sự
tham gia của một vài thành viên.
●
Quan tâm đến sự bền vững của môi trường.
●
Mọi hoạt động du lịch sinh thái cộng đồng phải tôn trọng nền văn hoá và các “cấu trúc
xã hội” tại cộng đồng.
●
Có hệ thống/ phương pháp để giúp người trong cộng đồng có thể “vượt qua” những ảnh
hưởng của những khách du lịch phương tây.
●
Hoạt động du lịch thường được giữ ở quy mô nhỏ nhằm hạn chế tối đa những ảnh
hưởng đến văn hoá và môi trường.
●
Hướng dẫn tổng quan cho khách du lịch về cộng đồng để giúp họ có những hành động
hợp lý trong quá trình du lịch.
●
Không yêu cầu người trong cộng đồng phải thực hiện những hoạt động trái với văn
hoá/tôn giáo của họ.
●
Không yêu cầu người dân trong cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch nếu họ
không muốn.
1.2.4 Nguyên tắc của du lịch sinh thái cộng đồng
Võ Quế (2008) cho rằng các nguyên tắc để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
bao gồm:
5
●
Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực hiện và quản
lý, đầu tư và có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng.
●
Phù hợp với khả năng của cộng đồng.
●
Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng
●
Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với tài nguyên và văn hoá.
Theo tổ chức WTO (2004), các nguyên tắc để phát triển du lịch cộng đồng cần phải
dựa trên các nguyên tắc của du lịch bền vững:
●
Sử dụng tối ưu nguồn môi trường, duy trì các tiến trình sinh thái học chủ yếu và giúp
bảo tồn nguồn tự nhiên và hệ sinh thái được thừa hưởng.
●
Khía cạnh xác thực nền văn hoá – xã hội của cộng đồng địa phương, đảm bảo họ đã xây
dựng, kế thừa văn hoá và giá trị truyền thống, đồng thời góp phần vào sự hiểu biết và
thông cảm đối với các nền văn hoá khác nhau.
●
Đảm bảo sự vận hành nền kinh tế lâu dài ổn định, cung cấp các lợi ích kinh tế – xã hội
đến tất cả những người có liên quan nhằm phân bổ công bằng.
Có sự tương đồng rõ ràng giữa sự phát triển cộng đồng ở góc độ rộng lớn hơn
và cơ sở lập kế hoạch không chỉ có sự tham gia, mà còn có sự kiểm soát của cộng đồng lớn
hơn của các quá trình phát triển ở cấp địa phương.
Như vậy, phát triển cộng đồng rõ ràng đã tìm cách dỡ bỏ các rào cản về cơ cấu, sự
tham gia và phát triển các phản ứng tập thể nhằm giải quyết các vấn đề địa phương. Việc
xây dựng và phát triển năng lực của cộng đồng sẽ đảm bảo tính hợp lý trong việc tiếp cận
với các nguồn lực tự nhiên để đáp ứng nhu cầu không chỉ của khách du lịch mà còn của
chính cộng đồng. Từ góc độ quản lý, việc chia sẻ lợi ích cân bằng trong cộng đồng cũng đặt
ra các thách thức đáng kể trong hệ thống quản lý và điều phối hoạt động du lịch cũng như
sự quan tâm sâu sát của chính phủ và các tổ chức phát triển. Với cộng đồng, không đơn
giản chỉ là việc nâng cao nhận thức mà quan trọng là họ phải thực sự tìm được cảm hứng
và đam mê trong việc khai thác du lịch từ đó hình thành ý thức tôn trọng với chính những
giá trị văn hóa và tự nhiên mà họ đang có.
Một đặc điểm chung đối với các khu vực vùng sâu vùng xa và nông thôn đó là người
dân sống chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao. Vì vậy, nếu đưa
khai thác du lịch vào một cách thụ động thì mức độ thương mại hóa sẽ diễn ra nhanh hơn
bởi họ được tiếp cận với cách làm không bền vững và tốc độ phát triển nóng trong du lịch.
6
Nhằm đảm bảo sự ổn định và lâu dài, cần chuẩn bị cho cộng đồng đủ kiến thức và kỹ năng
để phục vụ du lịch đồng thời cần có những cam kết ràng buộc nhất định về mặt pháp luật
để họ có ý thức tốt hơn đối với các giá trị tài nguyên.
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, yếu tố thị trường luôn là yếu tố quyết định. Việc
này đối với các cộng đồng thường được nhìn nhận khá đơn giản thông qua hoạt động mua
và bán. Cộng đồng có xu hướng “bắt chước” các sản phẩm của nhau trong khi bỏ qua
những yếu tố được khách du lịch cho là “duy nhất” tại mỗi điểm đến. Giúp cho cộng đồng
nhìn rõ những nhu cầu của khách hàng chưa được đáp ứng và xác định các khoảng trống
trên thị trường hay nói một cách khác đó là cộng đồng tìm ra phân khúc thị trường ngách
cho riêng mình chính là cách thức đảm bảo việc khai thác hiệu quả. Mỗi yếu tố khác biệt sẽ
giúp cho cộng đồng tìm được cơ hội trong hoạt động du lịch.Tuy nhiên, họ cần nhìn nó với
một tầm nhìn xa hơn để không chỉ thỏa mãn các nhu cầu hiện tại mà có thể tạo ra sự thay
đổi khi khách du lịch tự thay đổi và thích nghi với điểm đến để tạo nên giá trị trải nghiệm
mới. Để làm được điều này, sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các
viện nghiên cứu về du lịch và các tổ chức phát triển là hết sức cần thiết trong việc thu thập,
phân tích thông tin, định hướng nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm… để cùng với
cộng đồng từng bước xác định các cơ hội thích hợp với địa phương. Bên cạnh đó, cần thấy
rõ vai trò của cộng động cần được khẳng định trong việc lựa chọn và ra quyết định.
7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam
2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên.
a. Địa hình.
Địa hình có ý nghĩa đặc biệt với du lịch. Các dạng địa hình nước ta có tiềm năng lớn về
du lịch chủ yếu là địa hình Karst, địa hình bờ biển và địa hình hải đảo.
– Địa hình Karst: Kiểu địa hình này chiếm khoảng 60.000 km2 tập trung chủ yếu ở Việt
Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, với các dạng Karst hang động, Karst ngập nước
và Karst đồng bằng. Địa hình Karst tạo nên những điểm du lịch hấp dẫn với hệ thống các
hang động, núi đá vôi…
– Điạ hình bờ biển: Bờ biển nước ta dài khoảng 3.260 km với nhiều cảnh quan phong
phú, đa dạng, có nhiều bãi tắm đẹp là một tiềm năng rất có giá trị cho du lịch biển, nghỉ
dưỡng và vui chơi giải trí. Các bãi biển nổi tiếng: Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng Ninh), Cát Bà
(Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Văn Phong (Nha Trang), Vũng Tầu…
– Địa hình hải đảo: Nước ta có hơn 3.000 nghìn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó nhiều đảo có
cảnh quan đẹp đã được đưa vào khai thác phục vụ du lịch: Quan Lạn, Cô Tô (Quảng Ninh),
Cát Bà (Hải Phòng), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tầu)…
b. Khí hậu.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa có sự phân hoá đa dạng theo mùa, theo vĩ tuyến và theo độ
cao nên có ảnh hưởng lớn tới việc tổ chức du lịch. Sự phân hóa của các loại khí hậu đã quy
định sự phát triển của các loại hình du lịch, vì vậy nước ta có cả các hình thức du lịch của đới
nóng và đới lạnh.
Trở ngại chính ảnh hưởng tới du lịch: Nước ta có nhiều bão, lũ lụt vào mùa mưa tàn
phá nặng nề các khu vực nó đi qua, đặc biệt là vùng duyên hải miền Trung; gió mùa đông bắc
vào mùa đông, và một số hiện tượng thời tiết đặc biệt làm các ngưng trệ nhiều hoạt động du
lịch sinh thái, tham quan.
c. Thủy văn:
8
Nước trên mặt: Nước trên mặt có giá trị quan trọng không chỉ cung cấp cho nhu cầu của
các khu du lịch, mà còn tạo ra các loại hình du lịch đa dạng: du lịch hồ, du lịch sông nước…
Có giá trị hơn cả là mạng lưới sông ngòi ở đồng bằng sông Cửu Long và một vài sông khác
như sông Hương, sông Hàn, sông Hồng… Hệ thống hồ cũng có giá trị lớn về du lịch, tiêu biểu
như hồ Tây(Hà Nội), hồ Hoà Bình (Hoà Bình), hồ Ba Bể (Bắc Kạn, hệ thống hồ ở Đà Lạt
(Lâm Đồng)…
Nước dưới đất: Nhìn chung ít có giá trị du lịch. Trong đó tài nguyên nước khoáng có
giá trị đặc biệt đối với du lịch. Nước khoáng chứa một số thành phần vật chất đặc biệt có tác
dụng cho sức khoẻ con người và gắn với loại hình du lịch chữa bệnh. Nước ta đã phát hiện
được khoảng hơn 400 nguồn nước khoáng tự nhiên, trong đó có nhiều nguồn nước đã được
đưa vào khai thác cho mục đích du lịch, tiêu biểu như Kim Bôi (Hòa Bình), Quang Hanh
(Quảng Ninh), Mỹ Lâm (Tuyên Quang), Thanh Hóa, Vũng Tầu…
d. Sinh vật:
Việt Nam nằm ở nơi gặp gỡ giữa các luồng di cư động thực vật, vì thế tài nguyên sinh
vật rất phong phú và đa dạng. Diện tích rừng che phủ ở nước ta khoảng 37 % (2006), chủ yếu
tập trung ở Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đã thống kê được hơn
800 loài cây gỗ, 332 loài thú, trên 1.000 loài chim và 330 loài bò sát, trong đó có nhiều loài
quí hiếm. Nước ta đã thành lập được 105 khu bảo tồn thiên nhiên, bao gồm 27 vườn quốc gia,
44 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử, môi trường. Tài nguyên sinh vật
nước ta ngoài giá trị lớn về môi trường còn có ý nghĩa kinh tế, du lịch to lớn.
2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
a. Di tích lịch sử – văn hóa
Di tích lịch sử – văn hoá là tài nguyên quan trọng hàng đầu của du lịch. Cho đến nay cả
nước có khoảng 4 vạn di tích các loại, trong đó có 2.715 di tích được Bộ Văn hoá – Thông tin
xếp hạng. Đặc biệt đã có những di tích lịch sử – văn hoá được UNESCO công nhận là di sản
của nhân loại như cố đô Huế (1993), phố cổ Hội An (1999), thánh địa Mỹ Sơn (1999)…
Ngoài ra còn một số di tích khác đang đề nghị UNESCO công nhận, như chùa Hương (Hà
Tây), bãi đá cổ Sa Pa (Lào Cai), Hoàng Thành Thăng Long… Các di tích này đã và đang được
khai thác nhất định vào phát triển du lịch.
b. Lễ hội.
9
Việt Nam có một nền văn hoá mang bản sắc riêng độc đáo. Chính những nét riêng đó
đã làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc dân tộc Việt Nam. Nhiều lễ hội ra đời cách ngày nay
hàng nghìn năm vẫn được giữ gìn và duy trì. Các lễ hội văn hóa có sức hút vô cùng to lớn đối
với du khách thập phương.
Các lễ hội của nước ta vẫn luôn mang đến cho du khách những trải nghiệm thú vị và
hấp dẫn như lễ hội Đền Gióng (Hà Nội), hay lễ hội của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên
như: lễ phát rẫy, lễ trỉa lúa, lễ mừng lúa mới, lễ thu hoạch lúa, lễ mở cửa kho lúa.
c. Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn khác.
Nước ta có 54 dân tộc phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam với những phong tục, tập
quán độc đáo, các hoạt động văn hoá – nghệ thuật đa dạng và đặc sắc có sức hút to lớn đối với
khác du lịch trong và ngoài nước.
Dọc chiều dài đất nước có hàng trăm làng nghề thủ công truyền thống, những món đặc
sản đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra cã nước còn có hàng trăm bảo tàng với nhiều hiện vật
và tài liệu lịch sử quý giá đang được lưu giữ
2.2 Thành tựu trong việc phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam
Những năm gần đây, du lịch cộng đồng là xu hướng phát triển tương đối mạnh với
hình thức phong phú. Có không ít địa phương xây dựng được những mô hình thành công
như: Hòa Bình, Quảng Ninh, Hà Giang, Lào Cai, Vĩnh Phúc…
Cụ thể, các hoạt động du lịch cộng đồng tại Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) đã và
đang phát triển khá mạnh, trung bình mỗi năm có 30.000-40.000 lượt khách đến tham
quan, nghỉ lại.
Với cảnh quan đẹp, văn hóa phong phú, ẩm thực đa dạng, mô hình du lịch cộng đồng
ở Bản Dền (Sa Pa, Lào Cai) cũng đón từ 3 đến 3,5 vạn du khách/năm, doanh thu hằng năm
đạt từ 3- 4 tỷ đồng. Các hộ gia đình tổ chức homestay (du khách sẽ ở ngay tại nhà của
người dân địa phương) có thêm thu nhập bình quân từ 1- 3 triệu đồng/tháng.
Ở Quảng Ninh, mô hình du lịch cộng đồng xuất hiện muộn hơn, nhưng cũng đem lại
không ít thành công. Trong đó, đầu tiên phải kể đến mô hình hợp tác xã dịch vụ du lịch
chèo thuyền đưa du khách đi tham quan làng chài Cửa Vạn, Vông Viêng do Công ty CP Du
thuyền Đông Dương triển khai. Bước đầu mô hình này đã mang lại những thành công nhất
định, tạo công ăn việc làm cho bà con ngư dân. Những người ngư dân quanh năm gắn bó
với sông nước, chỉ biết làm công việc đánh bắt cá nay đã được biết thêm một nghề mới, đó
10
là nghề chèo thuyền nan đưa đón khách du lịch đi tham quan, khám phá Vịnh Hạ Long. Từ
khi có dịch vụ du lịch này, một bộ phận người dân nơi đây đã được chuyển đổi ngành nghề,
giảm bớt công việc đánh bắt, khai thác cạn kiệt tài nguyên, nguồn lợi thuỷ sản trên Vịnh,
người dân biết thêm một nghề mới đó là nghề làm dịch vụ du lịch. Bước đầu dịch vụ chèo
đò đưa đón khách tham quan Vịnh đã góp phần nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân
nơi đây…
Tiếp theo thành công của mô hình chèo thuyền đưa khách đi tham quan Vịnh, trải
nghiệm cuộc sống của người dân bản xứ, mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở làng quê
Yên Đức, Đông Triều của Công ty CP Du thuyền Đông Dương cũng được đánh giá cao.
Đây là mô hình phát triển du lịch cộng đồng điểm ở Quảng Ninh, được nhiều địa phương
tham quan học hỏi kinh nghiệm. Điều làm cho du khách thấy bất ngờ khi đến với làng quê
Yên Đức từ khi áp dụng mô hình du lịch cộng đồng là phong cảnh làng quê yên bình,
đường làng, ngõ xóm được phong quang, sạch sẽ, người dân đã nhận thức được việc phát
triển sản xuất gắn với đón khách du lịch đến tham quan và bảo vệ môi trường. Mặc dù
doanh thu từ du lịch cộng đồng chưa cao, nhưng nó đã mở ra một hướng phát triển trong
việc xây dựng nông thôn mới.
Phát triển du lịch cộng đồng, người dân sẽ trực tiếp tham gia và thu lợi, từ đó nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần, giúp người dân có ý thức hơn trong việc giữ gìn cảnh quan
tự nhiên, những giá trị vật chất và văn hoá truyền thống để phục vụ du lịch. Các hoạt động
mà du khách đến đây được khám phá rất bình dị, mộc mạc trong cuộc sống thường nhật
nhưng lại rất sinh động. Du khách được trải nghiệm cuộc sống thường ngày của bà con
nông dân như xay lúa, giã gạo, úp cá … hay tham quan ngôi chùa cổ của làng, xem múa rối
nước … Và điều đặc biệt hơn nữa, khách đến thăm nhà dân, được tìm hiểu những nét đẹp
bản sắc văn hoá, phong tục tập quán và cuộc sống của người dân địa phương. Hiện nay,
trung bình mỗi tháng, khu du lịch làng quê Yên Đức đón khoảng 2.000 khách tham quan du
lịch, chủ yếu là khách châu Âu.
2.3 Hạn chế trong việc phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam
Công nghiệp hoá đã khiến cho các nền văn hoá các dân tộc bị hòa lẫn với thế giới
hiện đại, dẫn đến mất dần bản sắc và truyền thống. Du lịch cộng đồng nhắm đến bảo tồn
các nền văn hoá thông qua hoạt động du lịch bền vững nhằm bảo vệ môi trường và cộng
đồng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các cộng đồng địa phương bị khai thác, thương
mại hóa và sau đó bị bỏ mặc tự xoay sở sau khi các nhà phát triển rời khỏi dự án.
11
Nhiều sản phẩm du lịch cộng đồng còn mang tính đại trà, ít có điểm nhấn thể hiện
bản sắc độc đáo của cộng đồng địa phương.
Điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều điểm du lịch cộng đồng chưa thực sự đảm bảo
để đáp ứng phục vụ khách du lịch.
Vấn đề phân phối, chia sẻ lợi ích từ hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch tại các điểm
du lịch cộng đồng còn nhiều bất cập, nhân lực cho phát triển du lịch cộng đồng hiện nay
chưa đáp ứng được yêu cầu.
12
CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP
ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM
3.1 Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng
3.1.1 Mục tiêu chung
Ngày nay du lịch cộng đồng được nhà nước, chính phủ và các tổ chức kinh tế xã hội
quan tâm nên du lịch cộng đồng đã trở thành một lĩnh vực mới trong ngành du lịch. Du lịch
sinh thái cộng đồng là “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội.
Du lịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép
khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của
họ”.
Ý tưởng đằng sau vế “dựa vào cộng đồng” của chiến lược môi trường là tạo cơ hội
trao quyền cho cộng đồng, tăng cường sự tham gia của họ trong việc ra quyết định, nhưng
cũng chỉ đơn giản là những điều này sẽ khuyến khích sự tham gia từ bản thân cộng đồng.
Mục tiêu chung của phát triển du lịch cộng đồng mà nhà nước ta chủ trương hướng đến đó
là:
Trong giai đoạn tới, du lịch cộng đồng tiếp tục duy trì quan điểm phát triển bền vững
với mục tiêu phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và đưa Việt Nam
trở thành điểm đến hấp dẫn và có đẳng cấp trong khu vực. Xây dựng du lịch sinh thái cộng
đồng đến năm 2025 trở thành ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, góp
phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quốc gia, thúc đẩy các ngành dịch vụ phát
triển, tạo công ăn việc làm cho xã hội.
Nâng cao chất lượng và phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch cộng đồng, xác định
vị trí của du lịch thông qua việc đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến du lịch và nâng cao nhận thức
xã hội về du lịch, định hướng phát triển du lịch bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, góp phần nâng cao cuộc sống nhân dân.
Trong xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và tăng
cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới và khu vực đã
và đang tạo những cơ hội đồng thời cũng là thách thức đối với phát triển du lịch Việt Nam
nói chung, du lịch cộng đồng nói riêng. Trước bối cảnh và xu hướng đó, định hướng phát
triển du lịch cộng đồng phải đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại về tính chuyên
nghiệp, tính hiện đại, hội nhập và hiệu quả đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc,
13
yếu tố truyền thống để phát triển bền vững, tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước
và đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế.
Phát triển các thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu
điểm đến nổi bật để từng bước tạo dựng hình ảnh, thương hiệu cho Du lịch Việt Nam nói
chung, du lịch cộng đồng nói riêng. Trước hết, Nhà nước sẽ tập trung hỗ trợ phát triển các
thương hiệu du lịch cộng đồng có tiềm năng như: du lịch sinh thái cộng đồng Tây Bắc, Tây
Nguyên và Đông Nam Bộ.
Triển khai lập quy hoạch chi tiết các điểm – tuyến du lịch sinh thái cộng đồng trên các
địa bàn các địa phương theo hướng không được thu hẹp đất sản xuất, đảm bảo yêu cầu phát
triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo an ninh quốc phòng, quản lý sử
dụng đất đai có hiệu quả.
Đầu tư và khai thác có hiệu quả những tiềm năng phát triển du lịch sinh thái cộng
đồng tại địa phương, góp phần vào việc bảo tồn, bảo tàng, tôn tạo các di tích lịch sử văn
hoá, bảo vệ môi trường cảnh quan thiên nhiên.
3.1.2 Mục tiêu cụ thể
-Về các chỉ tiêu của ngành
+Khách du lịch: Liên tục tăng trưởng qua các năm, với tốc độ tăng trưởng trên 5%
Ở một số địa phương tiêu biểu cho phát triển du lịch cộng đồng như: Kon Tum, khu
du lịch Kon Plong mục tiêu đến năm 2020 đạt khoảng 15.000 lượt khách quốc tế và trên
150.000 lượt khách nội địa; hay như ở Mộc Châu, mục tiêu đến năm 2020, Khu du lịch
quốc gia Mộc Châu đón trên 1,2 triệu lượt khách, đến năm 2030 đón khoảng 3 triệu lượt
khách, trong đó khách quốc tế đạt khoảng 50.000 lượt; ở các khu du lịch cộng đồng
Sapa, ,mục tiêu đến năm 2020 đón trên 400.000 lượt khách 1
+ Tổng thu từ khách du lịch nói chung: Năm 2020 đạt 372 nghìn tỷ đồng, tương
đương 18,5 tỷ USD; năm 2025 đạt 523 nghìn tỷ đồng, tương đương 26 tỷ USD; năm 2030
đạt 708 nghìn tỷ đồng, tương đương 35,2 tỷ USD.
Ở một số địa phương như Kon Tum : năm 2020 ước đạt gần 30 tỷ đồng, tốc độ tăng
trưởng bình quân 12%/năm giai đoạn 2011-2015 và 13%/năm giai đoạn 2016-2020; khu
du lịch quốc gia Mộc Châu phấn đấu tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 1.500 tỷ đồng
vào năm 2020 và khoảng 6.000 tỷ đồng vào năm 2030.
1 Tổng cục thống kê: http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/29437
14
+ Đóng góp của du lịch trong GDP: du lịch cộng đồng tham gia đóng góp để toàn
ngành du lịch đến năm 2020 chiếm 7%; năm 2025 chiếm 7,2% và năm 2030 chiếm 7,5%.
+ Số lượng cơ sở lưu trú: Năm 2020 có 580.000 buồng; năm 2025 có 754.000 buồng;
năm 2030 có 900.000 buồng.
+ Chỉ tiêu việc làm: Lao động trong mô hình du lịch cộng đồng đóng góp để khiến
tổng số lao động toàn ngành du lịch năm 2020 tăng lên là 2,9 triệu (trong đó 870 nghìn lao
động trực tiếp); năm 2025 là 3,5 triệu (trong đó 1,05 triệu lao động trực tiếp); năm 2030 là
4,7 triệu (trong đó 1,4 triệu lao động trực tiếp).
– Về văn hóa: Góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam; phát triển
thể chất, nâng cao dân trí và đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, tăng cường đoàn kết,
hữu nghị, tinh thần tự tôn dân tộc.
– Về an sinh – xã hội: Tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, góp phần giảm nghèo, đảm
bảo an sinh và giải quyết các vấn đề xã hội.
– Về môi trường: Phát triển du lịch “xanh”, gắn hoạt động du lịch nói chung, du lịch
cộng đồng nói riêng với gìn giữ và phát huy các giá trị tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Đảm bảo môi trường du lịch là yếu tố hấp dẫn, quyết định chất lượng, giá trị thụ hưởng du
lịch và thương hiệu du lịch.
– Về an ninh quốc phòng: Góp phần khẳng định và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc
gia, giữ vững an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
3.2 Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam
3.2.1 Về cơ chế, chính sách
– Về đầu tư phát triển du lịch cộng đồng: Có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng; chính sách khuyến khích đầu tư vào phát triển các khu vực du lịch; thực hiện
chính sách xã hội hóa đầu tư phát triển du lịch cộng đồng.
– Về thuế: Cho vay với lãi suất ưu đãi đối với các dự án ưu tiên được xác định; cho
phép kinh doanh du lịch quốc tế hưởng chế độ ưu đãi của ngành hàng xuất khẩu, có chính
sách thuế phù hợp, đặc biệt về thuế đất đối với các khu du lịch cộng đồng, thuế nhập khẩu
đối với trang thiết bị, phương tiện vận chuyển cao cấp phục vụ du lịch; rà soát, điều chỉnh
phương pháp tính thuế, phí, lệ phí; áp dụng thống nhất chính sách một giá.
– Về thị trường: Hỗ trợ từ ngân sách cho hoạt động nghiên cứu thị trường; tăng cường
hỗ trợ ngân sách và xã hội hóa hoạt động xúc tiến quảng bá; thông qua chính sách và cơ
15
chế phù hợp với giá cả và các điều kiện kèm theo để khai thác tốt thị trường lớn khách du
lịch nội địa.
– Về xuất nhập cảnh, hải quan: Tiếp tục cải tiến các thủ tục xuất nhập cảnh để tạo
điều kiện thuận lợi hơn nữa cho khách du lịch.
– Về chính sách xã hội hóa du lịch: Khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng, du
lịch có trách nhiệm đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo; khuyến khích việc đóng góp từ
thu nhập du lịch cho hoạt động bảo tồn, phục hồi các giá trị về sinh thái, văn hóa và phát
triển du lịch xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.
– Cơ chế phối kết hợp liên vùng, liên ngành: Khuyến khích liên kết trong vùng, liên
vùng trong thực hiện quy hoạch, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá, xúc tiến đầu tư,
xây dựng thương hiệu du lịch; đẩy mạnh các tổ chức phát triển du lịch vùng; xây dựng và
phát huy các cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng, các cơ chế về hỗ trợ giá giữa các ngành
liên quan.
3.2.2 Về huy động vốn đầu tư
– Tăng cường đầu tư và hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch
cộng đồng, cụ thể:
+ Xác định cơ cấu vốn đầu tư hợp lý cho từng khu vực để đảm bảo đủ 8 – 10% trong
cơ cấu nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
+ Tập trung vốn phát triển cơ sở hạ tầng các khu du lịch cộng đồng, lồng ghép các
chương trình mục tiêu quốc gia gắn với phát triển du lịch cộng đồng.
+ Tăng cường huy động nguồn vốn ODA thông qua vay ưu đãi nước ngoài hoặc phát
hành trái phiếu Chính phủ cho các công trình đầu tư lớn như sân bay, đường cao tốc, cảng
tàu du lịch.. tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để kêu gọi tài trợ không hoàn lại cho các
chương trình phát triển dài hạn.
– Huy động tối đa các nguồn vốn đảm bảo nhu cầu đầu tư phát triển du lịch cộng
đồng:
+ Huy động tối đa các nguồn vốn, phát huy triệt để nguồn lực tài chính trong nhân
dân, tiềm lực tài chính của các tổ chức trong và ngoài nước để đảm bảo đủ nguồn vốn với
cơ cấu 90 – 92% vốn đầu tư từ khu vực tư nhân.
3.2.3 Về nguồn nhân lực
– Xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực mô hình du lịch
cộng đồng cả nước và ở các địa phương.
16
– Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về du lịch cộng đồng đáp ứng nhu
càng ngày càng tăng về lực lượng lao động ngành.
– Thực hiện liên kết giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp du lịch để đào tạo
theo nhu cầu của các doanh nghiệp.
– Xây dựng tiêu chuẩn và thực hiện chuẩn hóa nhân lực du lịch.
– Xây dựng, công bố và thực hiện chuẩn trường để nâng cao năng lực đào tạo, bồi
dưỡng du lịch từng bước hội nhập tiêu chuẩn nghề trong khu vực.
3.2.4 Về xúc tiến, quảng bá
-Tăng cường năng lực, bộ máy và cơ chế cho hoạt động xúc tiến quảng bá: Cơ cấu lại
tổ chức bộ máy, tập trung chức năng xúc tiến cho Tổng cục Du lịch, bổ sung nhiệm vụ quản
lý rủi ro; thành lập các trung tâm xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng tại các địa phương
trọng điểm du lịch cộng đồng, các thị trường quốc tế trọng điểm; tăng cường vốn ngân sách
các địa phương cho xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng, xây dựng hình ảnh và thương
hiệu du lịch quốc gia.
– Đẩy mạnh chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng: Tập
trung xúc tiến quảng bá theo chiến dịch trọng điểm, phù hợp định hướng phát triển sản
phẩm, thương hiệu du lịch cộng đồng ở từng địa phương; xây dựng cơ chế hợp tác trong và
ngoài ngành, đẩy mạnh xã hội hóa xúc tiến quảng bá du lịch; tận dụng tối đa sức mạnh
truyền thông, huy động sự hợp tác của các cơ quan đại diện ngoại giao tại các nước, truyền
thông qua các mạng xã hội.
3.2.5 Về tổ chức quản lý quy hoạch
– Hoàn thiện văn bản, quy phạm pháp luật về quy hoạch.
– Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch ở các cấp với việc thành lập các Ban
quản lý các khu, điểm du lịch cộng đồng.
– Thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại và quản lý tài nguyên du lịch cộng đồng.
– Tổ chức xây dựng quy hoạch, kế hoạch.
– Nâng cao trình độ quản lý du lịch theo quy hoạch cho các cấp, các ngành.
3.2.6 Về ứng dụng khoa học, công nghệ
Tích cực ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong việc quản lý và vận hành các
hoạt động du lịch, bao gồm:
– Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và thống kê du lịch.
– Nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ.
17
3.2.7 Về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch
– Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của du lịch cộng
đồng, của tài nguyên và môi trường đối với hoạt động du lịch cộng đồng.
– Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để kiểm soát các vấn đề về môi trường, để quản lý và
phát triển tài nguyên.
– Áp dụng biện pháp khuyến khích đối với hoạt động du lịch thân thiện môi trường,
bảo vệ và phát huy giá trị tài nguyên, môi trường; đồng thời xử phạt thích đáng đối với
những hoạt động làm tổn hại tài nguyên và môi trường du lịch.
– Nhà nước hỗ trợ tài chính cho công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường.
18
KẾT LUẬN
Những năm gần đây tại Việt Nam, du lịch cộng đồng đang phát triển ở nhiều địa
phương như: Hòa Bình, Lào Cai, Quảng Nam… Tuy nhiên nhìn chung so với tiềm năng,
thế mạnh về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, việc phát triển du lịch cộng đồng chưa tương
xứng, có nhiều nơi còn tự phát, thiếu chuyên nghiệp, sự tham gia của cộng đồng địa
phương vào quá trình tổ chức du lịch cộng đồng còn thụ động, chính quyền chưa tạo được
chính sách để người dân được hưởng lợi chính đáng từ những hoạt động du lịch cộng đồng
của mình.
Để phát triển du lịch cộng đồng bền vững cộng đồng địa phương, đặc biệt là những
người tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch phải tự ý thức một cách nghiêm túc về việc
đảm bảo chất lượng sản phẩm du lịch phục vụ cho du khách, chất lượng của sản phẩm du
lịch không chỉ thể hiện ở giá trị vật chất mà còn ở giá trị tinh thần. Cảm nhận tốt của du
khách bắt nguồn từ chính thái độ thân thiện, tiếp đón ân cần, sự am hiểu về môi trường tự
nhiên và nhân văn, sự chân thực của địa phương. Để tạo nên những giá trị văn hóa đích
thực, cộng đồng địa phương cần nhận thức sâu sắc việc gìn giữ, bảo tồn và thực hiện các
thói quen văn hóa một cách đời thường chứ không phải trình diễn văn hóa. Ngoài ra, cần
nâng cấp, sửa chữa điều kiện cơ sở vật chất nhằm đảm bảo những điều kiện tối thiểu về
sinh hoạt hàng ngày dành cho du khách, nhưng tránh làm mới hoàn toàn một cách máy móc
gây nguy hại cho những giá trị vật chất truyền thống.
Các cấp quản lý đóng vai trò đòn bẩy quan trọng, hỗ trợ cho cộng đồng địa phương
và các đơn vị kinh doanh lữ hành hoàn thiện và triển khai các hoạt động du lịch. Các cấp
chính quyền cần chú trọng đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng đến với
du khách trong nước và quốc tế, tăng cường tổ chức đoàn khảo sát giới thiệu sản phẩm cho
các công ty lữ hành quốc tế và lữ hành nội địa, tăng cường quảng bá du lịch cộng đồng trên
các báo, tạp chí, truyền hình trong và ngoài nước để thu hút khách du lịch. Cuối cùng các
cấp có thẩm quyền cần phối hợp khảo sát và đánh giá đúng năng lực của các cộng đồng
nhằm phân cấp và dán nhãn chất lượng một cách thường xuyên, công bằng dựa trên một bộ
tiêu chí phù hợp. Đồng thời, các cấp quản lý cần chú trọng đến công tác nâng cao năng lực
cho cộng đồng địa phương; hỗ trợ các nguồn vốn vay ưu đãi cho các gia đình đủ năng lực
tham gia du lịch cộng đồng; quản lý một cách chặt chẽ các hoạt động và sản phẩm du lịch
nhằm hạn chế các vấn đề tiêu cực và chất chứa các nguy cơ gây tổn thương về mặt kinh tế,
văn hóa – xã hội tại địa phương.
19
20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn bản: Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030;
2.
Luật du lịch 2017
3.
Internet:
https://slideshare.vn/khoahocxahoi/tieu-luan-giai-phap-day-manh-phat-trien-du-lichsinh-thai-cong-dong-o-thanh-pho–o3m7tq.html
http://vcbt-n.com/vi/2018/03/13/du-lich-cong-dong-tai-viet-nam/
http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/18991
http://itdr.org.vn/nghien_cuu/dinh-huong-phat-trien-du-lich-viet-nam-trong-giai-doantoi-2/
https://baomoi.com/du-lich-gop-phan-tang-truong-va-phat-trien-kinh-te/c/28525518.epi
http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/29437
21
cộng đồng ở Nước Ta ” nhằm mục đích nghiên cứu và phân tích tình hình cũng như đưa ra 1 số ít giải pháp thiếtthực và thiết yếu cho nhà nước cũng như những địa phương để xử lý những hạn chế trongphát triển du lịch cộng đồng Nước Ta lúc bấy giờ. CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬNVỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG1. 1 Cơ sở lý luận về du lịch1. 1.1 Khái niệm du lịchDu lịch là một ngành “ công nghiệp không khói ” góp thêm phần tăng thu nhập vương quốc vàgiải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận lớn lao động. Ngày nay nhiều nước trên thếgiới trong đó có Nước Ta đã ưu tiên phát triển ngành du lịch như một ngành mũi nhọnquốc gia mình. Vì vậy thứ nhất để hoàn toàn có thể khai thác hiệu suất cao ngành này tất cả chúng ta cần phảihiểu được thực chất của nó. Theo Liên Hiệp Quốc những tổ chức triển khai lữ hành chính thức ( International Union of OfficialTravel Oragnization : IUOTO ) : Du lịch được hiểu là hành vi du hành đến một nơi khácvới khu vực cư trú liên tục của mình nhằm mục đích mục tiêu không phải để làm ăn, tứckhông phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống. Theo ý niệm vừa đủ về góc nhìn kinh tế tài chính và kinh doanh thương mại của du lịch, Khoa Du lịch vàkhách sạn ( Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Thành Phố Hà Nội ) đã đưa ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợpnhững lý luận và thực tiễn của hoạt động giải trí du lịch trên quốc tế và Nước Ta trong nhữngnăm gần đây : “ Du lịch là một trong những ngành kinh doanh thương mại gồm có những hoạt động giải trí tổchức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm mục đích cung ứng nhu yếu về đi lại, lưu trú, nhà hàng, thăm quan, vui chơi, tìm hiểu và khám phá và nhu cầukhác của khách du lịch. Các hoạt động giải trí đó phải đem lại những quyền lợi kinh tế tài chính, chính trị, xãhội thiết thực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp ”. Trong Pháp lệnh Du lịch của Nước Ta, tại điều 10, thuật ngữ “ du lịch ” được hiểunhư sau : “ Du lịch là hoạt động giải trí của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm mục đích thỏa mãnnhu cầu du lịch thăm quan, vui chơi, nghỉ ngơi trong một khoảng chừng thời hạn nhất định “. Nhìn từ góc nhìn đổi khác về khoảng trống của hành khách : du lịch là một trong nhữnghình thức chuyển dời trong thời điểm tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sangmột nước khác mà không biến hóa nơi cư trú hay nơi thao tác, theo góc nhìn này ta thấy đâylà khái niệm nhằm mục đích tránh được sự di cư tự do do từ vùng này sang vùng khác. Như vậy, tất cả chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động giải trí có nhiều đặc trưng, bao gồmnhiều thành phần tham gia, tạo thành một toàn diện và tổng thể rất là phức tạp. Nó vừa mang đặc điểmcủa ngành kinh tế tài chính, vừa có đặc thù của ngành văn hóa – xã hội. 1.1.2 Vai trò của du lịchTrên quốc tế, du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế tài chính số 1, phát triển với vận tốc cao, lôi cuốn sự chăm sóc của nhiều vương quốc vì những quyền lợi to lớn vềkinh tế – xã hội mà nó đem lại. Điều này càng bộc lộ rõ hơn trước xu thế toàn thế giới hóa, khu vực hóa với hội nhập quốc tế lúc bấy giờ. Với sự tăng trưởng liên tục trong nhiều thập kỷqua, du lịch đã chứng minh và khẳng định là một trong những ngành kinh tế tài chính dịch vụ phát triển nhanh nhấtvà lớn nhất trên bình diện quốc tế, góp thêm phần vào sự phát triển và thịnh vượng của những quốcgia. Về mặt kinh tế tài chính, sự phát triển của du lịch đã ảnh hưởng tác động tích cực vào việc làm tăng thunhập quốc dân, góp phần vai trò to lớn trong việc cân đối cán cân thanh toán giao dịch quốc tế. Đâylà ảnh hưởng tác động trực tiếp nhất của du lịch so với nền kinh tế tài chính. Nhiều nước trong khu vực và trênthế giới đã thu hàng tỷ USD mỗi năm trải qua phát triển du lịch. Về mặt xã hội, du lịch góp thêm phần tạo nhiều việc làm, kích thích Phục hồi và phát triểncác tiệc tùng, làng nghề truyền thống cuội nguồn. Làm đổi khác diện mạo nhiều địa phương – nơi có cáckhu du lịch phát triển. 1.1.3 Phân loại du lịchHoạt động du lịch hoàn toàn có thể phân nhóm theo những nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu chuẩn đưara. Hiện nay, hầu hết những chuyên viên về du lịch Nước Ta phân loại những mô hình du lịch theocác tiêu chuẩn cơ bản dưới đây : Phân chia theo môi trường tự nhiên tài nguyên : du lịch vạn vật thiên nhiên, du lịch văn hóa truyền thống. Phân loại theo mục tiêu chuyến đi : du lịch thăm quan, du lịch vui chơi, du lịch nghỉdưỡng, du lịch mày mò, du lịch thể thao, du lịch liên hoan, du lịch tôn giáo, du lịchnghiên cứu, du lịch kinh doanh thương mại … Phân loại theo chủ quyền lãnh thổ hoạt động giải trí : du lịch quốc tế, du lịch trong nước, du lịch vương quốc. Phân loại theo đặc thù địa lý của điểm du lịch : du lịch miền biển, du lịch miền núi, dulịch đô thị, du lịch thôn quê. Phân loại theo phương tiện đi lại giao thông vận tải : du lịch xe hơi, du lịch tàu hỏa, du lịch xe máy, dulịch bằng máy bay … Phân loại theo mô hình lưu trú : khách sạn, nhà trọ người trẻ tuổi, camping, .. Phân loại theo độ dài chuyến đi : du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày. Phân loại theo hình thức tổ chức triển khai : du lịch cá thể, du lịch tập thể, du lịch mái ấm gia đình. Phân loại theo phương pháp hợp đồng : du lịch trọn gói, du lịch từng phần. 1.2 Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng1. 2.1 Khái niệm du lịch cộng đồngDu lịch cộng đồng được định nghĩa tại Luật du lịch 2017 ( có hiệu lực hiện hành từ ngày01 / 01/2018 ). Theo đó : Du lịch cộng đồng là mô hình du lịch được phát triển trên cơ sở những giá trị văn hóacủa cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản trị, tổ chức triển khai khai thác và hưởng lợi. Hiện nay, du lịch cộng đồng đang được coi là mô hình du lịch mang lại nhiều lợi íchphát triển kinh tế tài chính vững chắc nhất cho địa phương. Du lịch cộng đồng không chỉ giúp người dânbảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, mà còn là dịp để bảo tồn và phát huy những nét vănhoá độc lạ của địa phương .. Ở một số ít địa phương trên cả nước có rất nhiều quy mô du lịch cộng đồng phát triển, đặc biêtk là khá thành công xuất sắc ở những vùng miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinhsống như ở Tỉnh Lào Cai, Hà Giang v.v.. Những quy mô này đã mang lại hiệu suất cao thiết thực, không riêng gì phát huy được thế mạnh văn hoá địa phương của những dân tộc bản địa, mà còn góp thêm phần xóađói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhiều người dân địa phương. Theo những chuyên viên du lịch, việc phát triển những loại sản phẩm du lịch cộng đồng là phùhợp với xu thế thời đại, phân phối nhu yếu tò mò của phần đông hành khách muốn tìm hiểuvăn hoá dân tộc bản địa rực rỡ. Tuy nhiên, những chuyên viên du lịch cũng đưa ra lời khuyến nghị : Muốn du lịch cộng đồng phát triển cần giữ nguyên gốc, nguyên sơ, chất phác chân thực củavăn hoá địa phương, đó là giá trị cốt lõi của cộng đồng, không để đánh mất nó. Phát triển dulịch thì phải có nghĩa vụ và trách nhiệm với xã hội. Để phát triển kinh tế tài chính địa phương, tôn trọng nhữnggiá trị địa phương, giá trị cộng đồng thì mô hình du lịch có nghĩa vụ và trách nhiệm sẽ là giải pháp để pháttriển du lịch cộng đồng đúng hướng và vững chắc. Một nền du lịch bền vững và kiên cố thì người dânphải được hưởng lợi từ sự phát triển du lịch của địa phương … 1.2.2 Điều kiện hình thành và phát triển du lịch sinh thái xanh cộng đồngĐiều kiện tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và môi trường tự nhiên và nhân văn có ý nghĩa quyếtđịnh đến phát triển du lịch sinh thái xanh cộng đồng. Điều kiện yếu tố cộng đồng dân cưĐiều kiện có thị trường khách trong nước và quốc tế. Điều kiện về chính sách chủ trương hợp lýSự tương hỗ, giúp sức của chính phủ nước nhà, tổ chức triển khai phi chính phủ trong và ngoài nước1. 2.3 Tiêu chí của du lịch sinh thái xanh cộng đồngTheo UNWTO ( 2008 ) cho rằng những tiêu chuẩn mà du lịch sinh thái xanh cộng đồng đanghướng tới gồm có những tiêu chuẩn sau : Người dân nên được tham gia vào quy trình lên kế hoạch và quản trị hoạt động giải trí du lịchtại cộng đồng. Hoạt động du lịch này phải mang lại quyền lợi một cách công minh cho cộng đồng. Hoạt động du lịch này nên gồm có toàn bộ những thành viên của cộng đồng hơn chỉ là sựtham gia của một vài thành viên. Quan tâm đến sự bền vững và kiên cố của thiên nhiên và môi trường. Mọi hoạt động giải trí du lịch sinh thái xanh cộng đồng phải tôn trọng nền văn hoá và những ” cấu trúcxã hội ” tại cộng đồng. Có mạng lưới hệ thống / chiêu thức để giúp người trong cộng đồng hoàn toàn có thể ” vượt qua ” những ảnhhưởng của những khách du lịch phương tây. Hoạt động du lịch thường được giữ ở quy mô nhỏ nhằm mục đích hạn chế tối đa những ảnhhưởng đến văn hoá và thiên nhiên và môi trường. Hướng dẫn tổng quan cho khách du lịch về cộng đồng để giúp họ có những hành độnghợp lý trong quy trình du lịch. Không nhu yếu người trong cộng đồng phải thực thi những hoạt động giải trí trái với vănhoá / tôn giáo của họ. Không nhu yếu người dân trong cộng đồng tham gia vào những hoạt động giải trí du lịch nếu họkhông muốn. 1.2.4 Nguyên tắc của du lịch sinh thái xanh cộng đồngVõ Quế ( 2008 ) cho rằng những nguyên tắc để phát triển du lịch dựa vào cộng đồngbao gồm : Cộng đồng được quyền tham gia bàn luận những kế hoạch, quy hoạch, triển khai và quảnlý, góp vốn đầu tư và hoàn toàn có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng. Phù hợp với năng lực của cộng đồng. Chia sẻ quyền lợi từ du lịch cho cộng đồngXác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng so với tài nguyên và văn hoá. Theo tổ chức triển khai WTO ( 2004 ), những nguyên tắc để phát triển du lịch cộng đồng cần phảidựa trên những nguyên tắc của du lịch bền vững và kiên cố : Sử dụng tối ưu nguồn môi trường tự nhiên, duy trì những tiến trình sinh thái học hầu hết và giúpbảo tồn nguồn tự nhiên và hệ sinh thái được thừa kế. Khía cạnh xác nhận nền văn hoá – xã hội của cộng đồng địa phương, bảo vệ họ đã xâydựng, thừa kế văn hoá và giá trị truyền thống lịch sử, đồng thời góp thêm phần vào sự hiểu biết vàthông cảm so với những nền văn hoá khác nhau. Đảm bảo sự quản lý và vận hành nền kinh tế tài chính lâu dài hơn không thay đổi, cung ứng những quyền lợi kinh tế tài chính – xã hộiđến toàn bộ những người có tương quan nhằm mục đích phân chia công minh. Có sự tương đương rõ ràng giữa sự phát triển cộng đồng ở góc nhìn to lớn hơnvà cơ sở lập kế hoạch không chỉ có sự tham gia, mà còn có sự trấn áp của cộng đồng lớnhơn của những quy trình phát triển ở cấp địa phương. Như vậy, phát triển cộng đồng rõ ràng đã tìm cách dỡ bỏ những rào cản về cơ cấu tổ chức, sựtham gia và phát triển những phản ứng tập thể nhằm mục đích xử lý những yếu tố địa phương. Việcxây dựng và phát triển năng lượng của cộng đồng sẽ bảo vệ tính hài hòa và hợp lý trong việc tiếp cậnvới những nguồn lực tự nhiên để phân phối nhu yếu không riêng gì của khách du lịch mà còn củachính cộng đồng. Từ góc nhìn quản trị, việc san sẻ quyền lợi cân đối trong cộng đồng cũng đặtra những thử thách đáng kể trong mạng lưới hệ thống quản trị và điều phối hoạt động giải trí du lịch cũng nhưsự chăm sóc sâu xa của cơ quan chính phủ và những tổ chức triển khai phát triển. Với cộng đồng, không đơngiản chỉ là việc nâng cao nhận thức mà quan trọng là họ phải thực sự tìm được cảm hứngvà đam mê trong việc khai thác du lịch từ đó hình thành ý thức tôn trọng với chính nhữnggiá trị văn hóa truyền thống và tự nhiên mà họ đang có. Một đặc thù chung so với những khu vực vùng sâu vùng xa và nông thôn đó là ngườidân sống đa phần phụ thuộc vào vào nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao. Vì vậy, nếu đưakhai thác du lịch vào một cách thụ động thì mức độ thương mại kinh doanh hóa sẽ diễn ra nhanh hơnbởi họ được tiếp cận với cách làm không bền vững và kiên cố và vận tốc phát triển nóng trong du lịch. Nhằm bảo vệ sự không thay đổi và lâu bền hơn, cần chuẩn bị sẵn sàng cho cộng đồng đủ kỹ năng và kiến thức và kỹ năngđể ship hàng du lịch đồng thời cần có những cam kết ràng buộc nhất định về mặt pháp luậtđể họ có ý thức tốt hơn so với những giá trị tài nguyên. Trong hoạt động giải trí kinh doanh thương mại du lịch, yếu tố thị trường luôn là yếu tố quyết định hành động. Việcnày so với những cộng đồng thường được nhìn nhận khá đơn thuần trải qua hoạt động giải trí muavà bán. Cộng đồng có khuynh hướng “ bắt chước ” những mẫu sản phẩm của nhau trong khi bỏ quanhững yếu tố được khách du lịch cho là “ duy nhất ” tại mỗi điểm đến. Giúp cho cộng đồngnhìn rõ những nhu yếu của người mua chưa được cung ứng và xác lập những khoảng chừng trốngtrên thị trường hay nói một cách khác đó là cộng đồng tìm ra phân khúc thị trường ngáchcho riêng mình chính là phương pháp bảo vệ việc khai thác hiệu suất cao. Mỗi yếu tố độc lạ sẽgiúp cho cộng đồng tìm được thời cơ trong hoạt động giải trí du lịch. Tuy nhiên, họ cần nhìn nó vớimột tầm nhìn xa hơn để không chỉ thỏa mãn nhu cầu những nhu yếu hiện tại mà hoàn toàn có thể tạo ra sự thayđổi khi khách du lịch tự biến hóa và thích nghi với điểm đến để tạo nên giá trị trải nghiệmmới. Để làm được điều này, sự tương hỗ của những cơ quan quản trị nhà nước về du lịch, cácviện điều tra và nghiên cứu về du lịch và những tổ chức triển khai phát triển là rất là thiết yếu trong việc tích lũy, nghiên cứu và phân tích thông tin, xu thế nghiên cứu và điều tra thị trường, phát triển loại sản phẩm … để cùng vớicộng đồng từng bước xác lập những thời cơ thích hợp với địa phương. Bên cạnh đó, cần thấyrõ vai trò của cộng động cần được chứng minh và khẳng định trong việc lựa chọn và ra quyết định hành động. CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂNDU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM2. 1 Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam2. 1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên. a. Địa hình. Địa hình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với du lịch. Các dạng địa hình nước ta có tiềm năng lớn vềdu lịch hầu hết là địa hình Karst, địa hình bờ biển và địa hình hải đảo. – Địa hình Karst : Kiểu địa hình này chiếm khoảng chừng 60.000 km2 tập trung chuyên sâu hầu hết ở ViệtBắc, Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, với những dạng Karst hang động, Karst ngập nướcvà Karst đồng bằng. Địa hình Karst tạo nên những điểm du lịch mê hoặc với mạng lưới hệ thống cáchang động, núi đá vôi … – Điạ hình bờ biển : Bờ biển nước ta dài khoảng chừng 3.260 km với nhiều cảnh sắc phongphú, phong phú, có nhiều bãi tắm đẹp là một tiềm năng rất có giá trị cho du lịch biển, nghỉdưỡng và đi dạo vui chơi. Các bờ biển nổi tiếng : Trà Cổ, Bãi Cháy ( Quảng Ninh ), Cát Bà ( Hải Phòng Đất Cảng ), Sầm Sơn ( Thanh Hóa ), Văn Phong ( Nha Trang ), Vũng Tầu … – Địa hình hải đảo : Nước ta có hơn 3.000 nghìn hòn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó nhiều hòn đảo cócảnh quan đẹp đã được đưa vào khai thác Giao hàng du lịch : Quan Lạn, Đảo Cô Tô ( Quảng Ninh ), Cát Bà ( TP. Hải Phòng ), Côn Đảo ( Bà Rịa – Vũng Tầu ) … b. Khí hậu. Khí hậu nhiệt đới gió mùa gió mùa có sự phân hoá phong phú theo mùa, theo vĩ tuyến và theo độcao nên có ảnh hưởng tác động lớn tới việc tổ chức triển khai du lịch. Sự phân hóa của những loại khí hậu đã quyđịnh sự phát triển của những mô hình du lịch, thế cho nên nước ta có cả những hình thức du lịch của đớinóng và đới lạnh. Trở ngại chính ảnh hưởng tác động tới du lịch : Nước ta có nhiều bão, lũ lụt vào mùa mưa tànphá nặng nề những khu vực nó đi qua, đặc biệt quan trọng là vùng duyên hải miền Trung ; gió mùa đông bắcvào mùa đông, và một số ít hiện tượng kỳ lạ thời tiết đặc biệt quan trọng làm những ngưng trệ nhiều hoạt động giải trí dulịch sinh thái xanh, thăm quan. c. Thủy văn : Nước trên mặt : Nước trên mặt có giá trị quan trọng không chỉ phân phối cho nhu yếu củacác khu du lịch, mà còn tạo ra những mô hình du lịch phong phú : du lịch hồ, du lịch sông nước … Có giá trị hơn cả là mạng lưới sông ngòi ở đồng bằng sông Cửu Long và một vài sông khácnhư sông Hương, sông Hàn, sông Hồng … Hệ thống hồ cũng có giá trị lớn về du lịch, tiêu biểunhư hồ Tây ( Thành Phố Hà Nội ), hồ Hoà Bình ( Hoà Bình ), hồ Ba Bể ( Bắc Kạn, mạng lưới hệ thống hồ ở Đà Lạt ( Lâm Đồng ) … Nước dưới đất : Nhìn chung ít có giá trị du lịch. Trong đó tài nguyên nước khoáng cógiá trị đặc biệt quan trọng so với du lịch. Nước khoáng chứa 1 số ít thành phần vật chất đặc biệt quan trọng có tácdụng cho sức khoẻ con người và gắn với mô hình du lịch chữa bệnh. Nước ta đã phát hiệnđược khoảng chừng hơn 400 nguồn nước khoáng tự nhiên, trong đó có nhiều nguồn nước đã đượcđưa vào khai thác cho mục tiêu du lịch, tiêu biểu vượt trội như Kim Bôi ( Hòa Bình ), Quang Hanh ( Quảng Ninh ), Mỹ Lâm ( Tuyên Quang ), Thanh Hóa, Vũng Tầu … d. Sinh vật : Nước Ta nằm ở nơi gặp gỡ giữa những luồng di cư động thực vật, cho nên vì thế tài nguyên sinhvật rất phong phú và đa dạng và phong phú. Diện tích rừng bao trùm ở nước ta khoảng chừng 37 % ( 2006 ), chủ yếutập trung ở Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đã thống kê được hơn800 loài cây gỗ, 332 loài thú, trên 1.000 loài chim và 330 loài bò sát, trong đó có nhiều loàiquí hiếm. Nước ta đã xây dựng được 105 khu bảo tồn vạn vật thiên nhiên, gồm có 27 vườn vương quốc, 44 khu bảo tồn vạn vật thiên nhiên và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử dân tộc, thiên nhiên và môi trường. Tài nguyên sinh vậtnước ta ngoài giá trị lớn về thiên nhiên và môi trường còn có ý nghĩa kinh tế tài chính, du lịch to lớn. 2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văna. Di tích lịch sử dân tộc – văn hóaDi tích lịch sử vẻ vang – văn hoá là tài nguyên quan trọng số 1 của du lịch. Cho đến nay cảnước có khoảng chừng 4 vạn di tích lịch sử những loại, trong đó có 2.715 di tích lịch sử được Bộ Văn hoá – Thông tinxếp hạng. Đặc biệt đã có những di tích lịch sử lịch sử dân tộc – văn hoá được UNESCO công nhận là di sảncủa quả đât như cố đô Huế ( 1993 ), phố cổ Hội An ( 1999 ), nhà thời thánh Mỹ Sơn ( 1999 ) … Ngoài ra còn một số ít di tích lịch sử khác đang ý kiến đề nghị UNESCO công nhận, như chùa Hương ( HàTây ), bãi đá cổ Sa Pa ( Tỉnh Lào Cai ), Hoàng Thành Thăng Long … Các di tích lịch sử này đã và đang đượckhai thác nhất định vào phát triển du lịch. b. Lễ hội. Việt Nam có một nền văn hoá mang truyền thống riêng độc lạ. Chính những nét riêng đóđã làm ra cốt cách, hình hài và truyền thống dân tộc bản địa Nước Ta. Nhiều tiệc tùng sinh ra cách ngày nayhàng nghìn năm vẫn được giữ gìn và duy trì. Các liên hoan văn hóa truyền thống có sức hút vô cùng to lớn đốivới hành khách thập phương. Các tiệc tùng của nước ta vẫn luôn mang đến cho hành khách những thưởng thức mê hoặc vàhấp dẫn như liên hoan Đền Gióng ( TP. Hà Nội ), hay liên hoan của những đồng bào dân tộc bản địa Tây Nguyênnhư : lễ phát rẫy, lễ trỉa lúa, lễ mừng lúa mới, lễ thu hoạch lúa, lễ Open kho lúa. c. Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn khác. Nước ta có 54 dân tộc bản địa phân bổ rộng khắp từ Bắc vào Nam với những phong tục, tậpquán độc lạ, những hoạt động giải trí văn hoá – nghệ thuật và thẩm mỹ phong phú và rực rỡ có sức hút to lớn đối vớikhác du lịch trong và ngoài nước. Dọc chiều dài quốc gia có hàng trăm làng nghề thủ công truyền thống, những món đặcsản đậm đà truyền thống dân tộc bản địa. Ngoài ra cã nước còn có hàng trăm kho lưu trữ bảo tàng với nhiều hiện vậtvà tài liệu lịch sử dân tộc quý giá đang được lưu giữ2. 2 Thành tựu trong việc phát triển du lịch cộng đồng ở Việt NamNhững năm gần đây, du lịch cộng đồng là khuynh hướng phát triển tương đối mạnh vớihình thức đa dạng và phong phú. Có không ít địa phương thiết kế xây dựng được những mô hình thành côngnhư : Hòa Bình, Quảng Ninh, Hà Giang, Tỉnh Lào Cai, Vĩnh Phúc … Cụ thể, những hoạt động giải trí du lịch cộng đồng tại Bản Lác ( Mai Châu, Hòa Bình ) đã vàđang phát triển khá mạnh, trung bình mỗi năm có 30.000 – 40.000 lượt khách đến thamquan, nghỉ lại. Với cảnh sắc đẹp, văn hóa truyền thống đa dạng và phong phú, nhà hàng siêu thị phong phú, quy mô du lịch cộng đồngở Bản Dền ( Sa Pa, Tỉnh Lào Cai ) cũng đón từ 3 đến 3,5 vạn hành khách / năm, lệch giá hằng nămđạt từ 3 – 4 tỷ đồng. Các hộ mái ấm gia đình tổ chức triển khai homestay ( hành khách sẽ ở ngay tại nhà củangười dân địa phương ) có thêm thu nhập trung bình từ 1 – 3 triệu đồng / tháng. Ở Quảng Ninh, quy mô du lịch cộng đồng Open muộn hơn, nhưng cũng đem lạikhông ít thành công xuất sắc. Trong đó, tiên phong phải kể đến quy mô hợp tác xã dịch vụ du lịchchèo thuyền đưa hành khách đi du lịch thăm quan làng chài Cửa Vạn, Vông Viêng do Công ty CP Duthuyền Đông Dương tiến hành. Bước đầu quy mô này đã mang lại những thành công xuất sắc nhấtđịnh, tạo công ăn việc làm cho bà con ngư dân. Những người ngư dân quanh năm gắn bóvới sông nước, chỉ biết làm việc làm đánh bắt cá cá nay đã được biết thêm một nghề mới, đó10là nghề chèo thuyền nan đưa đón khách du lịch đi du lịch thăm quan, mày mò Vịnh Hạ Long. Từkhi có dịch vụ du lịch này, một bộ phận người dân nơi đây đã được quy đổi ngành nghề, giảm bớt việc làm đánh bắt cá, khai thác hết sạch tài nguyên, nguồn lợi thuỷ sản trên Vịnh, người dân biết thêm một nghề mới đó là nghề làm dịch vụ du lịch. Bước đầu dịch vụ chèođò đưa đón khách thăm quan Vịnh đã góp thêm phần nâng cao thu nhập, đời sống cho người dânnơi đây … Tiếp theo thành công xuất sắc của quy mô chèo thuyền đưa khách đi thăm quan Vịnh, trảinghiệm đời sống của người dân bản xứ, quy mô phát triển du lịch cộng đồng ở làng quêYên Đức, Đông Triều của Công ty CP Du thuyền Đông Dương cũng được nhìn nhận cao. Đây là quy mô phát triển du lịch cộng đồng điểm ở Quảng Ninh, được nhiều địa phươngtham quan học hỏi kinh nghiệm tay nghề. Điều làm cho hành khách thấy giật mình khi đến với làng quêYên Đức từ khi vận dụng quy mô du lịch cộng đồng là cảnh sắc làng quê yên bình, đường làng, ngõ xóm được phong quang, thật sạch, người dân đã nhận thức được việc pháttriển sản xuất gắn với đón khách du lịch đến thăm quan và bảo vệ môi trường tự nhiên. Mặc dùdoanh thu từ du lịch cộng đồng chưa cao, nhưng nó đã mở ra một hướng phát triển trongviệc kiến thiết xây dựng nông thôn mới. Phát triển du lịch cộng đồng, người dân sẽ trực tiếp tham gia và thu lợi, từ đó nângcao đời sống vật chất, niềm tin, giúp dân cư có ý thức hơn trong việc giữ gìn cảnh quantự nhiên, những giá trị vật chất và văn hoá truyền thống cuội nguồn để ship hàng du lịch. Các hoạt độngmà hành khách đến đây được mày mò rất bình dị, mộc mạc trong đời sống thường nhậtnhưng lại rất sinh động. Du khách được thưởng thức đời sống thường ngày của bà connông dân như xay lúa, giã gạo, úp cá … hay du lịch thăm quan ngôi chùa cổ của làng, xem múa rốinước … Và điều đặc biệt quan trọng hơn nữa, khách đến thăm nhà dân, được khám phá những nét đẹpbản sắc văn hoá, phong tục tập quán và đời sống của người dân địa phương. Hiện nay, trung bình mỗi tháng, khu du lịch làng quê Yên Đức đón khoảng chừng 2 nghìn khách du lịch thăm quan dulịch, đa phần là khách châu Âu. 2.3 Hạn chế trong việc phát triển du lịch cộng đồng ở Việt NamCông nghiệp hoá đã khiến cho những nền văn hoá những dân tộc bản địa bị hòa lẫn với thế giớihiện đại, dẫn đến mất dần truyền thống và truyền thống lịch sử. Du lịch cộng đồng nhắm đến bảo tồncác nền văn hoá trải qua hoạt động giải trí du lịch bền vững và kiên cố nhằm mục đích bảo vệ môi trường tự nhiên và cộngđồng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, những cộng đồng địa phương bị khai thác, thươngmại hóa và sau đó bị bỏ mặc tự xoay sở sau khi những nhà phát triển rời khỏi dự án Bất Động Sản. 11N hiều mẫu sản phẩm du lịch cộng đồng còn mang tính đại trà phổ thông, ít có điểm nhấn thể hiệnbản sắc độc lạ của cộng đồng địa phương. Điều kiện vệ sinh thiên nhiên và môi trường ở nhiều điểm du lịch cộng đồng chưa thực sự đảm bảođể phân phối ship hàng khách du lịch. Vấn đề phân phối, san sẻ quyền lợi từ hoạt động giải trí phân phối dịch vụ du lịch tại những điểmdu lịch cộng đồng còn nhiều chưa ổn, nhân lực cho phát triển du lịch cộng đồng hiện naychưa cung ứng được nhu yếu. 12CH ƯƠNG 3 : MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁPĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM3. 1 Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng3. 1.1 Mục tiêu chungNgày nay du lịch cộng đồng được nhà nước, chính phủ nước nhà và những tổ chức triển khai kinh tế tài chính xã hộiquan tâm nên du lịch cộng đồng đã trở thành một nghành mới trong ngành du lịch. Du lịchsinh thái cộng đồng là ” phương pháp tổ chức triển khai du lịch tôn vinh về môi trường tự nhiên, văn hóa truyền thống xã hội. Du lịch sinh thái xanh cộng đồng do cộng đồng chiếm hữu và quản trị, vì cộng đồng và cho phépkhách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về đời sống đời thường củahọ “. Ý tưởng đằng sau vế ” dựa vào cộng đồng ” của kế hoạch môi trường tự nhiên là tạo cơ hộitrao quyền cho cộng đồng, tăng cường sự tham gia của họ trong việc ra quyết định hành động, nhưngcũng chỉ đơn thuần là những điều này sẽ khuyến khích sự tham gia từ bản thân cộng đồng. Mục tiêu chung của phát triển du lịch cộng đồng mà nhà nước ta chủ trương hướng đến đólà : Trong tiến trình tới, du lịch cộng đồng liên tục duy trì quan điểm phát triển bền vữngvới tiềm năng phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế tài chính mũi nhọn và đưa Việt Namtrở thành điểm đến mê hoặc và có đẳng cấp và sang trọng trong khu vực. Xây dựng du lịch sinh thái xanh cộngđồng đến năm 2025 trở thành ngành kinh tế tài chính có vị trí quan trọng trong cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính, gópphần tích cực vào vận động và di chuyển cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính của vương quốc, thôi thúc những ngành dịch vụ pháttriển, tạo công ăn việc làm cho xã hội. Nâng cao chất lượng và phát triển phong phú những mẫu sản phẩm du lịch cộng đồng, xác địnhvị trí của du lịch trải qua việc tăng cường tiếp thị, thực thi du lịch và nâng cao nhận thứcxã hội về du lịch, khuynh hướng phát triển du lịch vững chắc theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, góp thêm phần nâng cao đời sống nhân dân. Trong khuynh hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh đối đầu toàn thế giới, giao lưu lan rộng ra và tăngcường ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong nền kinh tế tri thức trên quốc tế và khu vực đãvà đang tạo những thời cơ đồng thời cũng là thử thách so với phát triển du lịch Việt Namnói chung, du lịch cộng đồng nói riêng. Trước toàn cảnh và khuynh hướng đó, xu thế pháttriển du lịch cộng đồng phải phân phối được những nhu yếu mới của thời đại về tính chuyênnghiệp, tính văn minh, hội nhập và hiệu suất cao đồng thời bảo tồn và phát huy truyền thống dân tộc bản địa, 13 yếu tố truyền thống cuội nguồn để phát triển vững chắc, tương ứng với tiềm năng, lợi thế của đất nướcvà phân phối nhu yếu cạnh tranh đối đầu quốc tế. Phát triển những tên thương hiệu loại sản phẩm, tên thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệuđiểm đến điển hình nổi bật để từng bước tạo dựng hình ảnh, tên thương hiệu cho Du lịch Nước Ta nóichung, du lịch cộng đồng nói riêng. Trước hết, Nhà nước sẽ tập trung chuyên sâu tương hỗ phát triển cácthương hiệu du lịch cộng đồng có tiềm năng như : du lịch sinh thái xanh cộng đồng Tây Bắc, TâyNguyên và Đông Nam Bộ. Triển khai lập quy hoạch cụ thể những điểm – tuyến du lịch sinh thái xanh cộng đồng trên cácđịa bàn những địa phương theo hướng không được thu hẹp đất sản xuất, bảo vệ nhu yếu pháttriển kinh tế tài chính – xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ bảo mật an ninh quốc phòng, quản trị sửdụng đất đai có hiệu suất cao. Đầu tư và khai thác có hiệu suất cao những tiềm năng phát triển du lịch sinh thái xanh cộngđồng tại địa phương, góp thêm phần vào việc bảo tồn, kho lưu trữ bảo tàng, tôn tạo những di tích lịch sử lịch sử vẻ vang vănhoá, bảo vệ thiên nhiên và môi trường cảnh sắc vạn vật thiên nhiên. 3.1.2 Mục tiêu cụ thể-Về những chỉ tiêu của ngành + Khách du lịch : Liên tục tăng trưởng qua những năm, với vận tốc tăng trưởng trên 5 % Ở một số ít địa phương tiêu biểu vượt trội cho phát triển du lịch cộng đồng như : Kon Tum, khudu lịch Kon Plong tiềm năng đến năm 2020 đạt khoảng chừng 15.000 lượt khách quốc tế và trên150. 000 lượt khách trong nước ; hay như ở Mộc Châu, tiềm năng đến năm 2020, Khu du lịchquốc gia Mộc Châu đón trên 1,2 triệu lượt khách, đến năm 2030 đón khoảng chừng 3 triệu lượtkhách, trong đó khách quốc tế đạt khoảng chừng 50.000 lượt ; ở những khu du lịch cộng đồngSapa, , tiềm năng đến năm 2020 đón trên 400.000 lượt khách 1 + Tổng thu từ khách du lịch nói chung : Năm 2020 đạt 372 nghìn tỷ đồng, tươngđương 18,5 tỷ USD ; năm 2025 đạt 523 nghìn tỷ đồng, tương tự 26 tỷ USD ; năm 2030 đạt 708 nghìn tỷ đồng, tương tự 35,2 tỷ USD.Ở 1 số ít địa phương như Kon Tum : năm 2020 ước đạt gần 30 tỷ đồng, vận tốc tăngtrưởng trung bình 12 % / năm tiến trình 2011 – năm ngoái và 13 % / năm quy trình tiến độ năm nay – 2020 ; khudu lịch vương quốc Mộc Châu phấn đấu tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng chừng 1.500 tỷ đồngvào năm 2020 và khoảng chừng 6.000 tỷ đồng vào năm 2030.1 Tổng cục thống kê : http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/2943714+ Đóng góp của du lịch trong GDP : du lịch cộng đồng tham gia góp phần để toànngành du lịch đến năm 2020 chiếm 7 % ; năm 2025 chiếm 7,2 % và năm 2030 chiếm 7,5 %. + Số lượng cơ sở lưu trú : Năm 2020 có 580.000 buồng ; năm 2025 có 754.000 buồng ; năm 2030 có 900.000 buồng. + Chỉ tiêu việc làm : Lao động trong quy mô du lịch cộng đồng góp phần để khiếntổng số lao động toàn ngành du lịch năm 2020 tăng lên là 2,9 triệu ( trong đó 870 nghìn laođộng trực tiếp ) ; năm 2025 là 3,5 triệu ( trong đó 1,05 triệu lao động trực tiếp ) ; năm 2030 là4, 7 triệu ( trong đó 1,4 triệu lao động trực tiếp ). – Về văn hóa truyền thống : Góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Nước Ta ; phát triểnthể chất, nâng cao dân trí và đời sống văn hóa truyền thống ý thức cho nhân dân, tăng cường đoàn kết, hữu nghị, ý thức tự tôn dân tộc bản địa. – Về phúc lợi – xã hội : Tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, góp thêm phần giảm nghèo, đảmbảo phúc lợi và xử lý những yếu tố xã hội. – Về thiên nhiên và môi trường : Phát triển du lịch “ xanh ”, gắn hoạt động giải trí du lịch nói chung, du lịchcộng đồng nói riêng với gìn giữ và phát huy những giá trị tài nguyên và bảo vệ thiên nhiên và môi trường. Đảm bảo thiên nhiên và môi trường du lịch là yếu tố mê hoặc, quyết định hành động chất lượng, giá trị thụ hưởng dulịch và tên thương hiệu du lịch. – Về bảo mật an ninh quốc phòng : Góp phần khẳng định chắc chắn và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ chủ quyền lãnh thổ quốcgia, giữ vững bảo mật an ninh, trật tự và bảo đảm an toàn xã hội. 3.2 Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam3. 2.1 Về chính sách, chủ trương – Về góp vốn đầu tư phát triển du lịch cộng đồng : Có chủ trương ưu tiên góp vốn đầu tư phát triển kếtcấu hạ tầng ; chủ trương khuyến khích góp vốn đầu tư vào phát triển những khu vực du lịch ; thực hiệnchính sách xã hội hóa góp vốn đầu tư phát triển du lịch cộng đồng. – Về thuế : Cho vay với lãi suất vay khuyến mại so với những dự án Bất Động Sản ưu tiên được xác lập ; chophép kinh doanh thương mại du lịch quốc tế hưởng chính sách khuyến mại của ngành hàng xuất khẩu, có chínhsách thuế tương thích, đặc biệt quan trọng về thuế đất so với những khu du lịch cộng đồng, thuế nhập khẩuđối với trang thiết bị, phương tiện đi lại luân chuyển hạng sang Giao hàng du lịch ; thanh tra rà soát, điều chỉnhphương pháp tính thuế, phí, lệ phí ; vận dụng thống nhất chủ trương một giá. – Về thị trường : Hỗ trợ từ ngân sách cho hoạt động giải trí điều tra và nghiên cứu thị trường ; tăng cườnghỗ trợ ngân sách và xã hội hóa hoạt động giải trí triển khai tiếp thị ; trải qua chủ trương và cơ15chế tương thích với Ngân sách chi tiêu và những điều kiện kèm theo kèm theo để khai thác tốt thị trường lớn khách dulịch trong nước. – Về xuất nhập cảnh, hải quan : Tiếp tục nâng cấp cải tiến những thủ tục xuất nhập cảnh để tạođiều kiện thuận tiện hơn nữa cho khách du lịch. – Về chủ trương xã hội hóa du lịch : Khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng, dulịch có nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt quan trọng ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo ; khuyến khích việc góp phần từthu nhập du lịch cho hoạt động giải trí bảo tồn, hồi sinh những giá trị về sinh thái xanh, văn hóa truyền thống và pháttriển du lịch xanh, thích ứng với đổi khác khí hậu. – Cơ chế phối tích hợp liên vùng, liên ngành : Khuyến khích link trong vùng, liênvùng trong triển khai quy hoạch, phát triển mẫu sản phẩm, triển khai tiếp thị, triển khai góp vốn đầu tư, thiết kế xây dựng tên thương hiệu du lịch ; tăng cường những tổ chức triển khai phát triển du lịch vùng ; kiến thiết xây dựng vàphát huy những chính sách phối hợp liên ngành, liên vùng, những chính sách về hỗ trợ giá giữa những ngànhliên quan. 3.2.2 Về kêu gọi vốn góp vốn đầu tư – Tăng cường góp vốn đầu tư và hiệu suất cao góp vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịchcộng đồng, đơn cử : + Xác định cơ cấu tổ chức vốn góp vốn đầu tư hài hòa và hợp lý cho từng khu vực để bảo vệ đủ 8 – 10 % trongcơ cấu nguồn vốn góp vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. + Tập trung vốn phát triển hạ tầng những khu du lịch cộng đồng, lồng ghép cácchương trình tiềm năng vương quốc gắn với phát triển du lịch cộng đồng. + Tăng cường kêu gọi nguồn vốn ODA trải qua vay tặng thêm quốc tế hoặc pháthành trái phiếu nhà nước cho những khu công trình góp vốn đầu tư lớn như trường bay, đường cao tốc, cảngtàu du lịch .. tranh thủ sự tương hỗ của quốc tế để lôi kéo hỗ trợ vốn không hoàn trả cho cácchương trình phát triển dài hạn. – Huy động tối đa những nguồn vốn bảo vệ nhu yếu góp vốn đầu tư phát triển du lịch cộngđồng : + Huy động tối đa những nguồn vốn, phát huy triệt để nguồn lực kinh tế tài chính trong nhândân, tiềm lực kinh tế tài chính của những tổ chức triển khai trong và ngoài nước để bảo vệ đủ nguồn vốn vớicơ cấu 90 – 92 % vốn góp vốn đầu tư từ khu vực tư nhân. 3.2.3 Về nguồn nhân lực – Xây dựng và tiến hành triển khai quy hoạch phát triển nhân lực quy mô du lịchcộng đồng cả nước và ở những địa phương. 16 – Phát triển mạng lưới cơ sở huấn luyện và đào tạo, tu dưỡng về du lịch cộng đồng cung ứng nhucàng ngày càng tăng về lực lượng lao động ngành. – Thực hiện link giữa những cơ sở đào tạo và giảng dạy và những doanh nghiệp du lịch để đào tạotheo nhu yếu của những doanh nghiệp. – Xây dựng tiêu chuẩn và triển khai chuẩn hóa nhân lực du lịch. – Xây dựng, công bố và thực thi chuẩn trường để nâng cao năng lượng giảng dạy, bồidưỡng du lịch từng bước hội nhập tiêu chuẩn nghề trong khu vực. 3.2.4 Về triển khai, quảng bá-Tăng cường năng lượng, cỗ máy và chính sách cho hoạt động giải trí triển khai tiếp thị : Cơ cấu lạitổ chức cỗ máy, tập trung chuyên sâu công dụng thực thi cho Tổng cục Du lịch, bổ trợ trách nhiệm quảnlý rủi ro đáng tiếc ; xây dựng những TT triển khai tiếp thị du lịch cộng đồng tại những địa phươngtrọng điểm du lịch cộng đồng, những thị trường quốc tế trọng điểm ; tăng cường vốn ngân sáchcác địa phương cho thực thi tiếp thị du lịch cộng đồng, kiến thiết xây dựng hình ảnh và thươnghiệu du lịch vương quốc. – Đẩy mạnh chuyên nghiệp hóa hoạt động giải trí thực thi tiếp thị du lịch cộng đồng : Tậptrung thực thi tiếp thị theo chiến dịch trọng điểm, tương thích xu thế phát triển sảnphẩm, tên thương hiệu du lịch cộng đồng ở từng địa phương ; thiết kế xây dựng chính sách hợp tác trong vàngoài ngành, tăng cường xã hội hóa xúc tiến tiếp thị du lịch ; tận dụng tối đa sức mạnhtruyền thông, kêu gọi sự hợp tác của những cơ quan đại diện thay mặt ngoại giao tại những nước, truyềnthông qua những mạng xã hội. 3.2.5 Về tổ chức triển khai quản trị quy hoạch – Hoàn thiện văn bản, quy phạm pháp luật về quy hoạch. – Kiện toàn bộ máy quản trị nhà nước về du lịch ở những cấp với việc xây dựng những Banquản lý những khu, điểm du lịch cộng đồng. – Thực hiện tìm hiểu, nhìn nhận, phân loại và quản trị tài nguyên du lịch cộng đồng. – Tổ chức kiến thiết xây dựng quy hoạch, kế hoạch. – Nâng cao trình độ quản trị du lịch theo quy hoạch cho những cấp, những ngành. 3.2.6 Về ứng dụng khoa học, công nghệTích cực ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến tiên tiến và phát triển trong việc quản trị và quản lý và vận hành cáchoạt động du lịch, gồm có : – Hoàn thiện mạng lưới hệ thống cơ sở tài liệu và thống kê du lịch. – Nâng cao năng lượng nghiên cứu và điều tra và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến. 173.2.7 Về bảo vệ tài nguyên và thiên nhiên và môi trường du lịch – Giáo dục đào tạo, tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của du lịch cộngđồng, của tài nguyên và thiên nhiên và môi trường so với hoạt động giải trí du lịch cộng đồng. – Ứng dụng tân tiến kỹ thuật để trấn áp những yếu tố về thiên nhiên và môi trường, để quản trị vàphát triển tài nguyên. – Áp dụng giải pháp khuyến khích so với hoạt động giải trí du lịch thân thiện thiên nhiên và môi trường, bảo vệ và phát huy giá trị tài nguyên, thiên nhiên và môi trường ; đồng thời xử phạt thích đáng đối vớinhững hoạt động giải trí làm tổn hại tài nguyên và thiên nhiên và môi trường du lịch. – Nhà nước tương hỗ kinh tế tài chính cho công tác làm việc bảo vệ tài nguyên và thiên nhiên và môi trường. 18K ẾT LUẬNNhững năm gần đây tại Nước Ta, du lịch cộng đồng đang phát triển ở nhiều địaphương như : Hòa Bình, Tỉnh Lào Cai, Quảng Nam … Tuy nhiên nhìn chung so với tiềm năng, thế mạnh về cảnh sắc vạn vật thiên nhiên, văn hóa truyền thống, việc phát triển du lịch cộng đồng chưa tươngxứng, có nhiều nơi còn tự phát, thiếu chuyên nghiệp, sự tham gia của cộng đồng địaphương vào quy trình tổ chức triển khai du lịch cộng đồng còn thụ động, chính quyền sở tại chưa tạo đượcchính sách để người dân được hưởng lợi chính đáng từ những hoạt động giải trí du lịch cộng đồngcủa mình. Để phát triển du lịch cộng đồng vững chắc cộng đồng địa phương, đặc biệt quan trọng là nhữngngười tham gia trực tiếp vào hoạt động giải trí du lịch phải tự ý thức một cách tráng lệ về việcđảm bảo chất lượng mẫu sản phẩm du lịch ship hàng cho hành khách, chất lượng của loại sản phẩm dulịch không riêng gì biểu lộ ở giá trị vật chất mà còn ở giá trị ý thức. Cảm nhận tốt của dukhách bắt nguồn từ chính thái độ thân thiện, tiếp đón ân cần, sự am hiểu về môi trường tự nhiên tựnhiên và nhân văn, sự chân thực của địa phương. Để tạo nên những giá trị văn hóa truyền thống đíchthực, cộng đồng địa phương cần nhận thức thâm thúy việc gìn giữ, bảo tồn và thực thi cácthói quen văn hóa truyền thống một cách đời thường chứ không phải trình diễn văn hóa. Ngoài ra, cầnnâng cấp, thay thế sửa chữa điều kiện kèm theo cơ sở vật chất nhằm mục đích bảo vệ những điều kiện kèm theo tối thiểu vềsinh hoạt hàng ngày dành cho hành khách, nhưng tránh làm mới trọn vẹn một cách máy mócgây nguy cơ tiềm ẩn cho những giá trị vật chất truyền thống cuội nguồn. Các cấp quản trị đóng vai trò đòn kích bẩy quan trọng, tương hỗ cho cộng đồng địa phươngvà những đơn vị chức năng kinh doanh thương mại lữ hành triển khai xong và tiến hành những hoạt động giải trí du lịch. Các cấpchính quyền cần chú trọng tăng nhanh công tác làm việc triển khai tiếp thị du lịch cộng đồng đến vớidu khách trong nước và quốc tế, tăng cường tổ chức triển khai đoàn khảo sát trình làng mẫu sản phẩm chocác công ty lữ hành quốc tế và lữ hành trong nước, tăng cường tiếp thị du lịch cộng đồng trêncác báo, tạp chí, truyền hình trong và ngoài nước để lôi cuốn khách du lịch. Cuối cùng cáccấp có thẩm quyền cần phối hợp khảo sát và nhìn nhận đúng năng lượng của những cộng đồngnhằm phân cấp và dán nhãn chất lượng một cách tiếp tục, công minh dựa trên một bộtiêu chí tương thích. Đồng thời, những cấp quản trị cần chú trọng đến công tác làm việc nâng cao năng lựccho cộng đồng địa phương ; tương hỗ những nguồn vốn vay tặng thêm cho những mái ấm gia đình đủ năng lựctham gia du lịch cộng đồng ; quản trị một cách ngặt nghèo những hoạt động giải trí và loại sản phẩm du lịchnhằm hạn chế những yếu tố xấu đi và chất chứa những rủi ro tiềm ẩn gây tổn thương về mặt kinh tế tài chính, văn hóa truyền thống – xã hội tại địa phương. 1920DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Văn bản : Quyết định số 201 / QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng nhà nước phêduyệt Quy hoạch tổng thể và toàn diện phát triển du lịch Nước Ta đến năm 2020, tầm nhìn đến năm2030 ; 2. Luật du lịch 20173. Internet : https://slideshare.vn/khoahocxahoi/tieu-luan-giai-phap-day-manh-phat-trien-du-lichsinh-thai-cong-dong-o-thanh-pho–o3m7tq.htmlhttp://vcbt-n.com/vi/2018/03/13/du-lich-cong-dong-tai-viet-nam/http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/18991http://itdr.org.vn/nghien_cuu/dinh-huong-phat-trien-du-lich-viet-nam-trong-giai-doantoi-2/https://baomoi.com/du-lich-gop-phan-tang-truong-va-phat-trien-kinh-te/c/28525518.epihttp://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/2943721
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


