luận văn thạc sĩ Phát triển du lịch bền vững ở huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc – Tài liệu text

luận văn thạc sĩ Phát triển du lịch bền vững ở huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (531.05 KB, 101 trang )

1

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Du lịch là ngành tổng hợp mang tính chất chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, thu hút hàng triệu người trên thế giới. Bản chất kinh tế của nó là ở chỗ
sản xuất và cung cấp hàng hoá và dịch vụ phục vụ thoả mãn nhu cầu vật chất,
tinh thần của du khách. Khi nhà nước có chiến lược đầu tư thích đáng vào du
lịch; quản lý du lịch; chỉ đạo các chiến lược kinh doanh và hợp tác du lịch…
thì hàng năm du lịch sẽ đem về cho quốc gia lợi nhuận khổng lồ.
Bên cạnh sự phát triển rất nhanh của ngành “công nghiệp không khói”
này, thế giới đã và đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường tại
các khu du lịch, các tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch ngày càng gia tăng.
Điều đó đã trở thành mối lo ngại lớn của các nhà chức trách, của mọi người
dân, thúc dục những người làm du lịch phải tìm hướng đi mới cho mình đó là
phát triển du lịch một cách bền vững.
Tam Đảo là một vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, đồng thời rất giàu
tiềm năng du lịch như: Khu danh thắng Tây Thiên, khu Thiền viện Trúc Lâm
Tây Thiên, Khu du lịch Tam Đảo, Tháp truyền hình Tam Đảo, Đền thờ Thất
vị Đại Vương, Rừng quốc gia Tam Đảo, các hồ nước lớn như: Xạ Hương,
Bản Long, Làng Hà, Vĩnh Ninh, Đồng Mỏ… Xuất phát từ định hướng đẩy
mạnh phát triển kinh tế công nghiệp, lấy du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn
của tỉnh Vĩnh Phúc. Những năm qua, huyện Tam Đảo đã vận dụng và đẩy
mạnh phát triển ngành kinh tế du lịch, bước đầu có những kết quả khả quan,
góp phần không nhỏ trong việc tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy phát triển văn
hoá xã hội.
Do điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn và
yếu kém; kinh doanh du lịch của huyện còn thiếu tính chuyên nghiệp; các tài
nguyên du lịch chưa được khai thác hết… nên việc phát triển du lịch của
huyện còn chưa tương xứng với tiềm năng. Du lịch Tam Đảo cũng đang đứng
trước những thách thức không bền vững nếu không kiểm soát được.

2

Trước thực tế đó, tác giả chọn đề tài “Phát triển du lịch bền vững ở
huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc” với mong muốn đóng góp phần vào việc
phát triển du lịch của huyện, của tỉnh, đáp ứng nhu cầu của hiện tại và tương
lai khi chất lượng cuộc sống ngày một đi lên.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

2.1. Mục đích của đề tài
– Tổng quan cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững.
– Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch bền vững ở huyện Tam Đảo.
– Đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch và đề xuất các giải pháp phát
triển du lịch bền vững ở huyện Tam Đảo.
2.2. Nhiệm vụ của đề tài
– Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển du
lịch bền vững.
– Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng du lịch ở huyện Tam Đảo.
– Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch và đưa ra các giải pháp phát
triển du lịch bền vững ở huyện Tam Đảo.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động phát triển và kinh doanh du lịch ở huyện Tam Đảo.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu toàn bộ lãnh thổ huyện Tam Đảo – nơi có
tiềm năng và các điều kiện phát triển du lịch bền vững ở huyện Tam Đảo.
Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm khai thác hợp lý, tôn trọng mục
tiêu bảo tồn và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nhằm phát triển

bền vững du lịch huyện Tam Đảo.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Phương pháp định tính
Nghiên cứu và phân tích những tài liệu sẵn có thu thập được trong quá
trình nghiên cứu (số liệu thống kê hàng năm, số liệu tổng hợp của Phòng Văn
hóa thông tin…).

3

4.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Dựa trên sự khảo sát thực địa, nghiên cứu tiềm năng, hiện trạng phát
triển du lịch, số lượng khách, về nhu cầu, sở thích của họ và những dịch vụ
mà họ quan tâm thông qua đó cho phép đề ra những giải pháp nhằm khắc
phục những nhược điểm, phát huy những ưu điểm.
4.3. Phương pháp bản đồ
Sơ đồ và bản đồ được sử dụng để phản ánh những đặc điểm về không
gian địa lý, về nguồn tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, hệ
thống kết nối hạ tầng giao thông với các điểm du lịch, các trung tâm kinh tế…
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài xác lập cơ sở khoa học cho việc phát triển du lịch bền vững ở địa
phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân,
đồng thời bảo vệ tài nguyên môi trường…
Những kết quả điều tra, nghiên cứu thực hiện đề tài từ thực tiễn là nguồn
tư liệu cần thiết cho việc nhìn nhận, đánh giá, quy hoạch phát triển du lịch ở
huyện Tam Đảo, nhằm đầu tư khai thác một cách hợp lý và hiệu quả sao cho
tương xứng với nguồn tài nguyên hiện có góp phần phát triển bền vững.
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành 3 chương
sau:
– Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững.
– Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững huyện Tam Đảo.
– Chương 3: Định hướng và những giải pháp phát triển du lịch bền
vững huyện Tam Đảo.

4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
khai thác tiềm năng du lịch, phát triển du lịch bền vững, phát triển du lịch có
trách nhiệm với môi trường và xã hội. Các công trình nghiên cứu này đã được
xuất bản thành các tài liệu, sách chuyên đề giảng dạy, bộ công cụ du lịch, bài
viết được đăng tải trên các trang Website… Các tài liệu, và các tác giả đã làm
sáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển bền vững, phát triển du lịch bền vững, khai
thác tiền năng du lịch, đồng thời giúp cho tác giả luận văn định hướng nghiên
cứu đề tài “Phát triển du lịch bền vững ở huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc”.
Đây là đòi hỏi khách quan và rất cần thiết với huyện Tam Đảo nhưng chưa có
ai nghiên cứu.
1.2. Những vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững
1.2.1. Khái niệm “phát triển”
Phát triển là khuynh hướng chung tất yếu của các sự vật hiện tượng
trong thế giới khách quan, chúng vận động biến đổi chuyển hóa không ngừng
từ trạng thái này sang trạng thái khác. Nguồn gốc của sự phát triển là sự thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong bản thân sự việc, hiện
tượng. Phát triển phổ biến trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy. Tùy theo những

lĩnh vực khác nhau của thế giới vật chất sự phát triển thể hiện dưới những
hình thức khác nhau. Lênin nhấn mạnh rằng: “Sự phát triển không phải là
một sự lớn lên, sự tăng thêm, đơn giản, phổ biến và vĩnh viễn” mà là “sự tiến
hóa, sự chuyển hóa lẫn nhau” [8, tr.86 ].
1.2.2. Phát triển bền vững
1.2.2.1. Khái niệm về phát triển bền vững
“Phát triển bền vững” là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự
phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn đảm bảo sự tiếp tục phát triển
trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc

5

gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, chính trị, văn hoá,
địa lý… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980
trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế – IUCN) với nội dung rất đơn
giản: Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế
mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi
trường sinh thái học.
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo
Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường
và Phát triển Thế giới – WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi
rõ: Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu
hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ tương lai… Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có
sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ,
gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế – xã hội, nhà cầm
quyền, các tổ chức xã hội… phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung

hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế – xã hội – môi trường (Hình 1.1).

Hình 1.1. Mối quan hệ trong phát triển bền vững
– Bền vững về mặt kinh tế: Là phát triển kinh tế nhanh và ổn định trong
một thời gian dài. Tăng trưởng nhanh chưa chắc đã có được phát triển bền

6

vững về mặt kinh tế. Vì thế chúng ta phải luôn duy trì một tốc độ tăng trưởng
ổn định hợp lý và lâu dài không nên chỉ chú trọng và nhấn mạnh vào tăng
trưởng kinh tế nhanh.
– Bền vững về mặt môi trường: Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp
đến sự sống và sự phát triển của mỗi cá thể và của cộng đồng, nó bao gồm
toàn bộ các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học… và xã hội bao quanh. Bền
vững về mặt môi trường là ở đó con người có cuộc sống chất lượng cao dựa
trên nền tảng sinh thái bền vững.
– Bền vững về xã hội: Tính bền vững đó phải mang tính nhân văn hay
nói một cách khác là phải đem lại phúc lợi và chia sẻ công bằng cho mọi cá
nhân trong xã hội. Phát triển phải được gắn liền với một xã hội ổn định, hòa
bình, mở rộng và nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người cùng với đó là
việc nâng cao sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển.
Ngoài ra, phát triển bền vững còn được xem là sự phát triển “bình đẳng
và cân đối”. Bình đẳng được hiểu là bình đẳng giữa các nhóm người trong
cùng một xã hội. Còn tính cân đối được thể hiện ở việc cân đối giữa các mục
tiêu phát triển kinh tế – xã hội – môi trường.
Tiếp sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội
nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái
niệm “phát triển bền vững” này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả
các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp

kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường.
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn
gọi là Hội nghị Rio+10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp
tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo
cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc
gia đã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và
đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe,
nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái.

7

a) Phát triển bền vững tại Việt Nam
Từ sau Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển Rio
1992 đến nay, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện phát triển bền
vững và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế,
xã hội và môi trường. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng VIII (1996)
đã đưa vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên
trở thành một thành phần cấu thành không thể tách dời của phát triển bền
vững ở nước ta.
Để thực hiện cam kết với cộng đồng quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã
ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương
trình Nghị sự 21 của Việt Nam) và thành lập Hội đồng Phát triển bền vững
quốc gia do Phó Thủ tướng Chính phủ đứng đầu. Việt Nam cũng đã xây dựng
và ban hành một số chương trình Nghị sự 21 ngành và địa phương. Quan điểm
phát triển bền vững được khẳng định trong các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam qua các thời kỳ và được tái khẳng định trong chiến lược
phát triển KT-XH 10 năm tới, đó là: “Phát triển nhanh gắn với phát triển bền
vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược.”
Trong tiến trình thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam, nhiều hoạt
động, mô hình, sáng kiến phát triển bền vững đã được triển khai và đạt được

những kết quả tích cực, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
của đất nước. Trong số những hoạt động, mô hình, sáng kiến đã được triển
khai có những mô hình, sáng kiến tốt, được xem như là những điển hình phát
triển bền vững ở Việt Nam [13].
b) Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam bao gồm:
– Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế:
+ Duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định trên cơ sở nâng cao
không ngừng tính hiệu quả, hàm lượng khoa học – công nghệ và sử dụng tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường.

8

+ Thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng theo
hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường.
+ Thực hiện quá trình “công nghiệp hoá sạch”.
+ Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững.
+ Phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương phát
triển bền vững.
– Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội:
+ Tập trung nỗ lực để xoá đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm.
+ Tiếp tục hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăng
dân số và tình trạng thiếu việc làm.
+ Định hướng quá trình đô thị hoá và di dân nhằm phân bố hợp lý dân cư
và lực lượng lao động theo vùng, bảo vệ môi trường bền vững ở các địa
phương, trước hết là các đô thị.
+ Nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí, trình độ nghề
nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước.
+ Tăng số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm sóc sức
khoẻ nhân dân, cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống.

– Mục tiêu Phát triển bền vững trong lĩnh vực tài nguyên – môi trường:
+ Sử dụng hợp lý, bền vững và chống thoái hoá tài nguyên đất.
+ Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên khoáng sản.
+ Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước.
+ Bảo vệ môi trường và tài nguyên biển, ven biển, hải đảo.
+ Bảo vệ và phát triển rừng.
+ Giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp.
+ Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại.
+ Bảo tồn đa dạng sinh học.
+ Giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng có hại của
biến đổi khí hậu, góp phần phòng, chống thiên tai.

9

1.2.2.2. Các thước đo về phát triển bền vững
Phát triển bền vững có thước đo riêng và rất đặc trưng. Tuy nhiên hệ
thống thước đo này rất phức tạp và nhiều thước đo rất khó xác định vì chúng
phải đánh giá trên cả ba phương diện kinh tế – xã hội – môi trường.
Về mặt kinh tế, tính bền vững thể hiện ở các chỉ số như: Tổng sản phẩm
trong nước (GDP), tổng sản phẩm quốc gia (GNP), cơ cấu GDP và GNP,
GDP/người, GNP/người…. Theo tiêu chuẩn quốc tế thì chỉ tiêu GDP/người
phải ở mức 5% mới được coi là phát triển bền vững và cơ cấu GDP mạnh là
cơ cấu có tỷ lệ đóng góp của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu phải cao
hơn tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong cơ cấu.
Về mặt xã hội, có các chỉ tiêu đánh giá như: chỉ số phát triển con người
(HDI), hệ số bất bình đẳng thu nhập, giáo dục, y tế, văn hoá… HDI là chỉ tiêu
đánh giá tổng hợp sự phát triển của con người vì vậy muốn phát triển bền vững
thì yêu cầu đặt ra đối với chỉ tiêu này là phải tăng trưởng và đạt đến mức trung
bình. Chỉ số bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là một trong số các chỉ

tiêu quan trọng trong phát triển bền vững vì bất bình đẳng trong phân phối thu
nhập cũng là nguyên nhân gây ra những xung đột, bất ổn trong xã hội.
Về mặt môi trường các chỉ tiêu đánh giá như: mức độ ô nhiễm (không
khí, nguồn nước…), mức độ che phủ rừng… là những chỉ tiêu quan trọng trong
đánh giá tính bền vững của môi trường. Môi trường bền vững là môi trường
luôn thay đổi nhưng vẫn làm tròn ba chức năng: là không gian sinh tồn; là nơi
cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản suất của
con người; là nơi chứa đựng, xử lý chất thải.
Ngoài ra còn phải quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới; các chỉ tiêu về
giáo dục: tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi, tỷ lệ học trung học, đại
học… các chỉ tiêu về hoạt động văn hoá khác.
Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất
nước. Du lịch có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt

10

các Mục Tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà
Liên Hợp Quốc đã đề ra từ năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm
nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững môi trường và liên doanh quốc tế để
phát triển. Chính vì vậy mà du lịch bền vững (sustainable tourism) là một
phần quan trọng của phát triển bền vững (sustainable development) của Liên
Hợp Quốc và của Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam.
1.2.3. Phát triển du lịch bền vững
1.2.3.1. Các quan niệm về du lịch và du khách
a) Các quan niệm về du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở
thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch đã trở
thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá – xã hội của
các nước. Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế

quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển. Du lịch được coi là ngành
công nghiệp – công nghiệp du lịch và hiện nay ngành “công nghiệp không
khói” này chỉ đứng sau công nghiệp dầu khí và ô tô. Đối với các nước đang
phát triển, du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu của
quốc gia. Có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch, nhận thức đó trải qua quá
trình từ thấp tới cao, từ việc chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
– Quan niệm trước đây về du lịch:
Trước đây người ta mới chỉ quan niệm du lịch là một hoạt động mang
tính chất văn hoá, nhằm thoả mãn nhu cầu giải trí và những nhu cầu hiểu biết
của con người, du lịch không được coi là hoạt động kinh tế, không mang tính
chất kinh doanh và ít được đầu tư để phát triển. Trong nhiều thế kỷ trước đây,
du khách hầu hết là những người hành hương, thương nhân, học viên và cả
nghệ sĩ… Đến đầu thế kỷ 20, du lịch vẫn còn dành riêng cho những người khá
giả, họ đi du lịch là để giải trí. Còn du lịch ngày nay gắn liền với cuộc sống
hàng ngày của hàng triệu người. Mặc dù vậy, khi đề cập đến du lịch, không ít

11

người thường lầm tưởng rằng: Du lịch chỉ là những kỳ nghỉ hè tầm thường,
với các sân bay, bãi biển đầy người, hoặc hình ảnh những xe du lịch chở du
khách tham quan các phố… Do đó, muốn cho du lịch phát triển mạnh mẽ và
đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu ngày càng tăng của đời sống con người,
trước hết cần phải có quan niệm đúng đắn về du lịch.
– Quan niệm khoa học về du lịch:
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du
lịch họp tai Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa như sau về du lịch:
“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế
bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở
bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà

bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [12]. Định nghĩa
này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã được Liên minh quốc tế các tổ chức
du lịch chính thức, tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua.
Các học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam đã tách hai nội
dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo các chuyên gia này,
nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức tham gia tích cực của
con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam
thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật… Theo nghĩa thứ
hai, du lịch được coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về
nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá
dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước
ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực
kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng
hoá và dịch vụ tại chỗ.
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm như trên có ý
nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Du lịch không chỉ là một
ngành kinh tế mà nó còn là một hiện tượng xã hội. Chính vì vậy toàn xã hội

12

phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối
với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác.
Bảng 1.1. Những tác động tích cực và tiêu cực của du lịch
Tích cực
Tiêu cực
– Các kế hoạch quản lý chặt chẽ – Sự phát triển của cơ sở hạ tầng ngành
hơn đối với môi trường tự nhiên du lịch không theo quy định trong
nhằm tạo hành lang quản lý và những hệ sinh thái nhạy cảm.
bảo vệ đầy đủ các hệ sinh thái – Những công trình với kiến trúc nghèo

nhạy cảm.

nàn hoặc bất hợp lý làm hỏng cảnh quan

– Nâng cao nhận thức của người và phá hủy những giá trị không gian.
dân địa phương và khách du lịch – Gây xáo trộn cuộc sống của các loài
về các giá trị tự nhiên và tính động vật hoang dã bởi những chuyến
nhạy cảm của hệ sinh thái để có du lịch có tổ chức và của những du
những hành vi có trách nhiệm khách tò mò trong các vườn quốc gia.
hơn.

– Tiêu thụ nhiều nguồn điện năng,

– Xây dựng các cơ sở xử lý nước nguồn nước cho các hoạt động du lịch.
Môi

thải và chất thải mà đối tượng – Ô nhiễm các dòng sông do thiếu các

trường hưởng lợi chính là khách du lịch hệ thống xử lý chất thải từ khách sạn.
và người dân địa phương.

– Du lịch khiến cho các hoạt động giao

– Tái chế chất thải trong cả nước. thông gia tăng (gây tiếng ồn, ô nhiễm
– Ví dụ tích cực là du lịch có thể không khí) ảnh hưởng xấu tới dân địa
thiết lập nên những tiêu chuẩn phương và động vật hoang dã.
bảo vệ môi trường cao hơn trong
các công trình cũng như các hoạt
động so với những lĩnh vực khác
– Đào tạo nhân viên để nâng cao

nhận thức và trình độ của họ về
các vấn đề bảo vệ môi trường có
thể làm thay đổi thói quen trong
cuộc sống hằng ngày của họ.
Xã hội – Bố trí lại vai trò giới nhằm tạo – Bố trí lại vai trò giới gây ra những
ra những cơ hội mới cho phụ nữ xáo trộn trong xã hội.
và thanh niên.

– Thương mại hóa những truyền thống

13

Tích cực
Tiêu cực
– Các truyền thống văn hóa được và nền văn hóa.
lưu truyền trong cộng đồng và – Thay đổi tập quán văn hóa (ví dụ như
khuyến khích sự sáng tạo trong nghệ thuật, nghề thủ công, trang phục,
nghệ thuật.

lễ hội) để đáp ứng nhu cầu du lịch thực

– Đầu tư mới/mở rộng các dịch sự hay nhận thức (tổn thất văn hóa).
vụ công cộng và tiện nghi.

– Làm trầm trọng hơn những bất bình

– Ổn định nền kinh tế.

đẳng hiện có của xã hội và tạo thêm

– Qua đó gia tăng sử dụng, bảo những bất bình đẳng mới.
tồn tài nguyên thiên nhiên và – Tạo nên những quan niệm mới về đức
văn hóa.

hạnh, quan hệ gia đình, vui chơi giải trí

– Nâng cao chất lượng giáo dục.

trong tổ chức cộng đồng, dẫn đến xung

– Khuyến khích sử dụng ngôn đột giữa các cá nhân hoặc các nhóm xã
ngữ bản địa.

hội.

– Đa dạng hóa sinh kế.

– Các hành động vi phạm của người
dân địa phương (vd. Xâm phạm vào
các khu vực cấm).
– Mất ngôn ngữ.
– Mất dần các giá trị văn hóa, tập quán
bản địa do sự chi phối của giá trị tiền tệ.

Kinh
tế

– Kích thích /tăng cường nền – Hoạt động du lịch được hưởng lợi từ
kinh tế địa phương.

tài nguyên thiên nhiên và văn hóa địa

– Tạo công ăn việc làm và công phương mà không cung cấp phần lợi
việc một cách trực tiếp và gián tiếp. ích thích hợp cho người dân địa
– Tạo cơ hội cho các hoạt động phương.
kinh doanh .

– Tạo ra các căng thẳng xã hội từ tiền

– Kích thích tăng trưởng các lương và thu nhập, gây bất bình đẳng
doanh nghiệp địa phương cả trực giữa chủ và khách, trong cộng đồng
tiếp và gián tiếp.

riêng của mình, và giữa nam giới và

– Đầu tư cơ sở hạ tầng.

phụ nữ (phụ nữ nắm giữ công việc tầm

– Tăng doanh thu thuế.

thường hơn, những công việc có mức

– Cải thiện chất lượng cuộc sống. lương thấp hơn).
– Đa dạng hóa sinh kế.

– Tăng sự phụ thuộc kinh tế vào một khu

14

Tích cực

Tiêu cực
vực hoặc thậm chí là vào một doanh
nghiệp.
– Làm tăng giá đất và chi phí nhà ở /sinh
hoạt.
– Tạo ra những giới hạn, lao động theo
mùa vụ, không có tay nghề hoặc cơ hội
phát triển thấp.
– Gia tăng số người đi tìm việc, tỷ lệ
thất nghiệp và gây ra căng thẳng xã
hội.
– Gây thất thoát cục bộ cao (% chi tiêu
cho nền kinh tế địa phương chủ yếu là
nhập khẩu) như: Nhập nguyên vật liệu
thô và nguồn lao động bên ngoài, các
công ty nước ngoài v.v.
– Khuyến khích sự thống trị của các
công ty đa quốc gia hay “người có ảnh
hưởng lớn tại địa phương” được hưởng
tất cả hoặc phần lớn lợi ích từ các hoạt
động du lịch.
Nguồn: [3]

b) Quan niệm về du khách
Du khách là người từ nơi khác đến vào thời gian rảnh rỗi của họ với
mục đích thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết, phục vụ sức khoẻ, xây dựng

hay tăng cường tình cảm của con người (với nhau hoặc với thiên nhiên), thư
giãn, giải trí hoặc thể hiện mình kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần,
vật chất và các dịch vụ do các cơ sở của ngành du lịch cung ứng. Trong giai
đoạn hiện nay, có thể cụ thể hoá tiêu chí cơ bản này bằng việc nghỉ qua đêm
tại một cơ sở lưu trú của ngành du lịch. Về phương diện kinh tế, du khách là
người sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn
uống… Cần phải phân biệt hai loại du khách cơ bản. Những người mà chuyến

15

đi của họ có mục đích chính là nâng cao hiểu biết tại nơi đến về các điều kiện,
tài nguyên tự nhiên, kinh tế, văn hoá được gọi là du khách thuần tuý. Ngược
lại có những người thực hiện chuyến đi vì một mục đích khác như công tác,
tìm kiếm cơ hội làm ăn, hội họp… Trên đường đi hay tại nơi đến, những người
này sắp xếp được thời gian cho việc thăm quan, nghỉ ngơi. Khi đó họ mới
được coi là du khách. Để nói lên sự kết hợp đó, chuyến đi của họ được gọi là
du lịch công vụ, du lịch thể thao du lịch tôn giáo…
1.2.3.2. Quan niệm về phát triển du lịch bền vững
Du lịch bền vững là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến, nâng
cấp và hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi
người quan tâm trong những năm gần đây.
Phát triển du lịch bền vững (Sustainable Tourism) được Tổ chức Du
lịch thế giới (United National World Tourist Organization, viết tắt
là UNWTO) định nghĩa như sau: “Du lịch bền vững là các hình thức du lịch
đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa
phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế
hệ mai sau. Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà
tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết
cấu xã hội của cộng đồng địa phương” [19, tr.237].

Trong các định nghĩa này thì phát triển du lịch đã được hiểu một cách
đầy đủ hơn nó được xem xét trên cả ba lĩnh vực kinh tế – xã hội – môi trường.
Theo Hội đồng khoa học, Tổng cục Du lịch (2005), Chương trình du lịch
bền vững có 12 mục tiêu (không xếp theo thứ tự ưu tiên) bao gồm:
– Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh để
các doanh nghiệp và các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển phồn
thịnh và đạt lợi nhuận lâu dài.
– Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối lại lợi ích kinh tế và xã hội
thu được từ hoạt động du lịch một cách công bằng và rộng rãi cho tất cả
những người trong cộng đồng đáng được hưởng.

16

– Sự phồn thịnh cho địa phương: Tăng tối đa đóng góp du lịch với sự phát
triển thịnh vượng của nền kinh tế địa phương tại các điểm du lịch, khu du lịch.
– Sự thỏa mãn của khách du lịch: Cung cấp những dịch vụ an toàn, chất
lượng cao thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của du khách. Không phân biệt đối xử
giới, chủng tộc, thu nhập cũng như các mặt khác.
– An sinh cộng đồng: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của
ngườn dân địa phương, bao gồm cơ cấu tổ chức xã hội và cách tiếp cận các
nguồn tài nguyên, hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thác
quá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức.
– Chất lượng việc làm: Tăng cường số lượng và chất lượng việc làm tại
địa phương do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch hỗ trợ, không có sự
phân biệt đối xử về giới và các mặt khác.
– Khả năng kiểm soát của địa phương: Thu hút và trao quyền cho cộng
đồng địa phương xây dựng kế hoạch và đề ra các quyết định về quản lý và
phát triển du lịch, có sự tham khảo tư vấn của các bên liên quan.
– Đa dạng văn hóa: Tôn trọng và tăng cường giá trị các di sản lịch sử,

bản sắc văn hóa dân tộc, truyền thống và những bản sắc đặc biệt của cộng
đồng dân cư địa phương tại các điểm du lịch.
– Đa dạng sinh học: Hỗ trợ bảo tồn khu vực tự nhiên, môi trường sống,
sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại đối với các yếu tố này.
– Thống nhất tự nhiên: Duy trì và nâng cao chất lượng của cảnh vật, kể
cả ở nông thôn cũng như thành thị, tránh để môi trường xuống cấp.
– Hiệu quả của các nguồn lực: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn
tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được trong việc phát triển và triển
khai các cơ sở, phương tiện và dịch vụ du lịch.
– Môi trường trong lành: Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất và
rác thải từ du khách và các hãng du lịch.
Nhiều chuyên gia nghiên cứu về du lịch Việt Nam thống nhất nội hàm
của khái niệm phát triển du lịch bền vững là: hoạt động khai thác có quản lý
các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của

17

khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm
bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự
toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công
tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa
phương.
Kinh doanh du lịch

Du lịch
không
bền
vững

Du lịch biển
Du lịch nông thôn

Du lịch
bền
vững

Du lịch sinh thái
Du lịch văn hóa

Hình 1.2. Quan niệm phát triển du lịch bền vững
Như vậy: Phát triển du lịch bền vững là một vấn đề không thể thiếu
được trong quá trình đi lên của đất nước nói chung và của ngành du lịch nói
riêng. Tuy nhiên bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là yếu tố không
thể tách rời của quá trình phát triển.
1.2.3.3. Những nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Muốn đảm bảo phát triển du lịch bền vững, thì nhất thiết chúng ta phải tuân
thủ chặt chẽ các nguyên tắc của phát triển bền vững theo hai cách tiếp cận sau:
a) Các nguyên tắc theo Chương trình nghị sự 21 Việt Nam
Chương trình nghị sự 21 Việt Nam về tài nguyên và môi trường là định
hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam. Đây là một chiến lược
khung bao gồm các định hướng lớn làm cơ sơ pháp lý cho các Bộ, ngành, địa
phương, các tổ chức, cá nhân phối hợp nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất
nước trong thế kỷ 21. Định hướng chiến lược được xây dựng trên 8 nguyên
tắc cơ bản sau [16]:
– Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững. Đáp ứng
ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân

18

dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là
nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.
– Thứ hai, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát
triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững,
bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý
và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả
tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi
trường lâu bền. Từng bước thực hiện nguyên tắc “mọi mặt kinh tế, xã hội và
môi trường đều cùng có lợi”.
– Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường là một yếu tố
không thể tách rời của quá trình phát triển. Tích cực và chủ động phòng ngừa,
ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con
người gây ra. Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc “người gây thiệt hại đối với tài
nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn”. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng
bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế
tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch,
kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế – xã hội, coi yêu cầu về bảo
vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững.
– Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công
bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các
thế hệ tương lai. Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã
hội có cơ hội bình đẳng để phát triển; được tiếp cận tới những nguồn lực
chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng; tạo ra những
nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai sau; sử
dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được; gìn giữ và cải
thiện môi trường sống; phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi
trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hòa, gần gũi và yêu quý thiên nhiên.
– Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất

nước. Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên

19

sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất. Trước mắt, cần được đẩy mạnh sử
dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả
năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác.
– Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp
chính quyền, các bộ, ngành và địa phương, của các cơ quan, doanh nghiệp,
đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân. Phải huy động tối
đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định
về phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy
mô cả nước. Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng
cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của phụ nữ, thanh niên, đồng
bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về
các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước.
– Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước. Phát triển các quan hệ
song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu
có chọn lọc các tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát
triển bền vững. Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng
lực cạnh tranh. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các tác động xấu đối với môi
trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra.
– Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và
bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
b) Các nguyên tắc cơ bản theo cách tiếp cận của ngành du lịch để không tổn
hại đến môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, và môi trường xã hội
– Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội của địa phương. Phát triển du lịch phải có vai trò hỗ trợ, dẫn dắt kinh tế
địa phương phát triển.

– Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn
một cách bền vững. Giảm thiểu chất thải và tiêu thụ quá mức tài nguyên sẽ

20

góp phần làm giảm chi phí cho việc xử lý ô nhiễm môi trường và nâng cao
chất lượng dịch vụ du lịch.
– Duy trì tính đa dạng tự nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng văn hoá.
– Cung cấp thông tin một cách đầy đủ cho du khách, quảng bá du lịch
một cách có trách nhiệm qua đó giúp du khách thoả mãn tối đa nhu cầu của mình.
– Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch giúp cho
du lịch phát triển đa dạng và bền vững hơn.
– Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương, làm tăng tính trách
nhiệm của cộng đồng trong việc phát triển du lịch và bảo vệ môi trường.
Như vậy, muốn du lịch phát triển bền vững thì nhất thiết phải tôn trọng
các nguyên tắc cơ bản trên để không tổn hại đến môi trường tự nhiên, môi
trường kinh tế, và môi trường xã hội. Du lịch bền vững sẽ tác động tích cực
đến đời sống xã hội và kinh tế. Du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng và là
ngành mũi nhọn chỉ khi nó được phát triển một cách bền vững. Mặt khác cần
triển khai các nguyên tắc trên trong toàn bộ hệ thống của nền kinh tế – xã hội
thì khi đó mới đem lại hiệu quả cao, hiệu quả tốt nhất.
1.2.3.4. Du lịch bền vững du lịch, không bền vững
Trong các loại hình du lịch thì có những loại hình du lịch được coi là
bền vững hơn các loại hình khác. Thực tế ở hầu hết các nước cho thấy, nhiều
loại hình du lịch phát triển với quy mô rất lớn, do đó trở nên không bền vững
như: du lịch tình dục hoặc du lịch 3-S (Sun, Sea and Sand: Nắng, Biển và
Cát). Các nhà nghiên cứu cho rằng, phần lớn các mô hình du lịch có thể làm
cho bền vững hơn thông qua những thay đổi định lượng hoặc định tính.
Bảng 1.2. Loại hình du lịch phân loại theo khả năng tương thích

với khái niệm du lịch bền vững
Tương thích cao
Du lịch sinh thái

Không tương thích
Du lịch bờ biển có thị trường lớn

Du lịch văn hóa thu hút khách tìm hiểu Kỳ nghỉ có tác động tiêu cực tới môi
lịch sử, văn hóa của một khu vực

trường tự nhiên

Điểm du lịch đô thị có sử dụng những Du lịch tình dục
khu vực trống

21

Tương thích cao
Du lịch nông thôn có quy mô nhỏ

Không tương thích
Du lịch săn bắn và câu cá ở những nơi
quản lý kém

Kỳ nghỉ bảo tồn, trong đó du khách thực Đi du lịch ở những nơi có môi trường
hiện công tác bảo tồn trong suốt kỳ nghỉ

nhạy cảm như rừng nhiệt đới, Nam Cực
Nguồn: [19]

Muốn củng cố khái niệm du lịch bền vững, nhiều nhà nghiên cứu đã
nghiên cứu tác động của du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với
các yếu tố được coi là không bền vững trên cả ba lĩnh vực kinh tế, môi trường,
xã hội. Tùy thuộc vào đặc điểm của khu du lịch để sử dụng các yếu tố để đánh
giá tính bền vững của phát triển du lịch cho phù hợp.
Bảng 1.3. Du lịch bền vững và du lịch không bền vững
Du lịch kém bền vững hơn

Khái niệm
chung:

Du lịch bền vững hơn

Phát triển nhanh

Phát triển chậm

Phát triển không kiểm soát

Phát triển có kiểm soát

Quy mô không phù hợp

Quy mô phù hợp

Mục tiêu ngắn hạn

Mục tiêu dài hạn

Phương pháp tiếp cận theo số lượng

Phương pháp tiếp cận theo chất lượng

Tìm kiếm sự tối đa

Tìm kiếm sự cân bằng

Kiểm soát từ xa

Địa phương kiểm soát

Chiến lược

Không lập kế hoạch, triển khai

phát triển:

tùy tiện

Quy hoạch trước, triển khai sau

Kế hoạch theo dự án

Kế hoạch theo quan điểm

Phương pháp tiếp cận theo lĩnh vực

Phương pháp tiếp cận chính luận

Tập trung vào các trọng điểm

Quan tâm tới cả vùng

Áp lực và lợi ích tập trung

Phân tán áp lực và lợi ích

Thời vụ và mùa cao điểm

Quanh năm và cân bằng

Các nhà thầu bên ngoài

Các nhà thầu địa phương

Nhân công bên ngoài

Nhân công địa phương

Kiến trúc theo thị hiếu của khách du lịch

Kiến trúc bản địa

Xúc tiến Marketing tràn lan

Xúc tiến Marketing có tập trung

22

Du lịch kém bền vững hơn

Du lịch bền vững hơn
theo đối tượng.

Sự dụng tài nguyên nước, năng Sử dụng vừa phải tài nguyên

Nguồn lực:

lượng lãng phí

nước, năng lượng

Không tái sinh

Tăng cường tái sinh

Không chú ý tới lãng phí sản xuất

Giảm thiểu lãng phí

Thực phẩm nhập khẩu
Tiền bất hợp pháp, không khai
báo rõ ràng

Thực phẩm sản xuất tại địa
phương
Tiền hợp pháp

Nguồn nhân lực chất lượng kém

Nguồn nhân lực có chất lượng

Số lượng nhiều

Số lượng ít

Không có nhận thức cụ thể

Có thông tin cần thiết bất kỳ lúc
nào

Không học tiếng địa phương

Học tiến địa phương

Khách du

Bị động và bị thuyết phục, bảo thủ

Chủ động và có nhu cầu

lịch:

Không ý tứ và kỹ lưỡng

Thông cảm và lịch thiệp

Tìm kiếm du lịch tình dục

Không tham gia vào du lịch tình
dục

Lặng lẽ, kỳ quặc

Lặng lẽ, riêng biệt

Không trở lại tham quan

Trở lại tham quan
Nguồn: [19]

1.3. Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp với sự tham gia của nhiều thành phần
xã hội. Sự phát triển của du lịch phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế,
chính trị của đất nước cũng như của khu vực, sản phẩm du lịch được hình
thành từ nhiều yếu tố. Vì vậy việc xác định các dấu hiệu nhận biết phát triển
du lịch bền vững là công việc phức tạp. Các tiêu chí cơ bản của phát triển du
lịch bền vững cần được nghiên cứu và xem xét bao gồm.
1.3.1. Tiêu chí về kinh tế
Để phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo sự tăng trưởng liên tục và

23

ổn định lâu dài của các chỉ tiêu kinh tế du lịch (lượng khách, thu nhập, GDP,
cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động…) Theo xu thế chỉ tiêu kinh tế phát triển
mức (7 – 10)% (trên dưới 10 năm) là phát triển bền vững.
– Khách du lịch: Đây là chỉ tiêu quan trọng quyết định thành công hay

thất bại. Để đảm bảo cho du lịch phát triển bền vững thì số lượng về khách
tăng năm này qua năm khác, các tiêu chí khác như thời gian lưu trú, số khách
quay trở lại, mức độ hài lòng…cũng cần được phát triển liên tục và bền vững.
– Thu nhập và tổng số sản phẩm quốc nội ngành du lịch: Sự tăng
trưởng liên tục của khách du lịch sẽ kéo theo sự tăng trưởng về thu nhập. Tỷ
trọng GDP du lịch càng cao, ổ định và tăng trưởng theo thời gian thì ngành du
lịch càng phát triển gần với mục tiêu phát triển bền vững.
– Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Phải được đầu tư đồng bộ,
phát triển về số lượng, chủng loại và chất lượng đáp ứng nhu cầu, hấp dẫn,
thu hút khách du lịch. Bao gồm (cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, điểm/
khu du lịch, y tế, thông tin liên lạc, phương tiện vận chuyển…).
– Nguồn nhân lực du lịch: Phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ
cấu của đội ngũ lao động du lịch sẽ đảm bảo cho sự phát triển về chất lượng
các sản phẩm và dịch vụ du lịch.
– Tuyên truyền quảng bá du lịch: Đây là hoạt động có ý nghĩa quan
trọng trong việc thu hút khách du lịch, cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin
về tuyến điểm, sản phẩm du lịch sẽ tạo lòng tin cho du khách.
1.3.2. Tiêu chí về xã hội
– Tác động đến xã hội: Để đảm bảo phát triển bền vững, các tác động
tiêu cực đến xã hội từ các hoạt động phát triển du lịch cần phải được kiểm
soát và quản lý. Cần thiết phải có văn bản pháp luật nhà nước, quy định của
địa phương và năng lực thực hiện của cả bộ máy. Hiệu quả của hoạt động này
được thể hiện qua số lượng các vụ vi phạm được phát hiện và xử lý.
– Phát triển hệ thống các doanh nghiệp du lịch: Ngoài ý nghĩa về mặt
kinh tế, việc phát triển hệ thống các doanh nghiệp có ý nghĩa cao về mặt xã
hội, tạo điều kiện để một bộ phận lao động địa phương có công ăn việc làm,

24

cải thiện chất lượng cuộc sống nâng cao dân trí, thu hút nguồn lực to lớn của
xã hội (nhân lực, vật lực, trí lực) cho phát triển du lịch.
– Mức độ hài lòng và hợp tác của cộng đồng địa phương: Cộng đồng
dân cư địa phương – chủ nhân của các nguồn tài nguyên du lịch là người bảo
vệ nguồn tài nguyên và môi trường, ủng hộ và hợp tác đối với phát triển du
lịch bền vững. Vai trò – lợi ích – trách nhiệm của họ phải được quan tâm.
(Phát huy vai trò của cộng đồng trong việc xây dựng và triển khai quy hoạch,
Giám sát thực hiện các dự án đầu tư, mức độ tham gia của cộng đồng vào các
hoạt động kinh doanh du lịch, ưu tiên cộng đồng tham gia đầu tư xây dựng và
phát triển du lịch, phúc lợi chung của cộng đồng được nâng cao).
1.3.3. Tiêu chí về môi trường
– Số lượng các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn: Mục
tiêu phát triển bền vững là nhằm hạn chế tối đa việc khai thác quá mức và
lãng phí các nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên tự nhiên không có khả năng
tái tạo. Nơi nào có nhiều khu, điểm du lịch được đầu tư, bảo tồn, tôn tạo thì
chứng tỏ hoạt động phát triển ở nơi đó với mục tiêu phát triển bền vững.
– Số lượng các khu, điểm du lịch được quy hoạch: Là một tiêu chí quan
trọng nhằm xác định các phương án phát triển phù hợp, đảm bảo việc khai
thác có hiệu quả tiềm năng tài nguyên du lịch và đề xuất các giải pháp nhằm
hạn chế tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên môi trường, mang lại
hiệu quả cao về kinh tế xã hội.
– Áp lực lên môi trường: Liên quan đến khả năng sức chứa, đó là quản lý
số lượng khách đến không vượt quá khả năng đáp ứng về tài nguyên và không
làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển của các hệ sinh thái trong khu vực.
– Cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch: Số lượng khách đến
điểm du lịch càng tăng chứng tỏ sự lớn mạnh của điểm du lịch nhưng không
được vượt quá tiêu chuẩn cho phép về môi trường, về tiêu thụ năng lượng và
sức chứa. Việc gia tăng mạnh mẽ về số lượng khách sẽ đồng nghĩa với việc

25

các nguồn tài nguyên du lịch bị khai thác quá mức dẫn đến suy thoái và cạn
kiệt tài nguyên, do đó việc phải giới hạn số lượng khách đến trong một chu kỳ
phát triển là một vấn đề quan trọng và cấp bách.
– Mức độ đóng góp từ du lịch cho công tác bảo tồn, phát triển tài
nguyên và bảo vệ môi trường: Được thể hiện qua tỷ lệ qua tỷ lệ giữa phần
đóng góp và tổng nguồn thu. Tỷ lệ này càng lớn thì mức đóng góp càng cao
và đảm bảo cho việc khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch
theo hướng bền vững.
1.4. Vai trò của phát triển du lịch bền vững trong nền kinh
tế – xã hội hiện nay
Du lịch của một nước phát triển làm tăng ngân sách nhà nước, giải
quyết đời sống xã hội, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế có liên quan phát triển
theo. Theo Báo Nhân Dân [2], trên thế giới nhiều nước do du lịch phát triển
đã đem lại cho ngân sách nguồn thu ngoại tệ lớn. Năm 2012 châu Âu đạt mức
tăng trưởng mạnh nhất 6%, nhất là khu vực Trung, Đông và Nam Âu cũng
như vùng Địa Trung Hải. Tỷ lệ tăng trưởng này vượt ước tính ban đầu và tăng
gấp hai lần mức tăng trưởng du lịch trung bình tới châu Âu năm 2000. Ngành
du lịch Anh đạt doanh thu kỷ lục từ khách du lịch nước ngoài trong năm 2013
với 22 tỷ USD trong tám tháng đầu năm. Tại Hy Lạp, quốc gia bị khủng
hoảng kinh tế nặng nề thì ngành “công nghiệp không khói” nước này đón số
lượng khách quốc tế cao kỷ lục 17 triệu người, với doanh thu trực tiếp tăng
10%, lên mức 11 tỷ Euro. Tại châu Á, Trung Quốc dẫn đầu về tăng trưởng du
lịch, với số khách du lịch nước ngoài tăng 22% và thu nhập du lịch trong
nước của Trung Quốc năm vừa qua đạt 26 nghìn tỷ NDT, tăng 14% so với
năm 2012. Trong khu vực, ngành du lịch Inđônêxia vẫn duy trì được nhịp độ
tăng trưởng hơn 7% trong năm 2013 với lượng khách du lịch quốc tế hơn 8,63
triệu lượt người và đem lại tổng doanh thu ngoại tệ 9,78 tỷ USD, thu hút hơn
10 triệu lao động. Tại châu Mỹ, Mê-hi-cô cũng là một điểm sáng du lịch của

Trước trong thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “ Phát triển du lịch bền vững và kiên cố ởhuyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc ” với mong ước góp thêm phần vào việcphát triển du lịch của huyện, của tỉnh, cung ứng nhu yếu của hiện tại và tươnglai khi chất lượng đời sống ngày một đi lên. 2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI2. 1. Mục đích của đề tài – Tổng quan cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững và kiên cố. – Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch vững chắc ở huyện Tam Đảo. – Đánh giá thực trạng hoạt động giải trí du lịch và đề xuất kiến nghị những giải pháp pháttriển du lịch vững chắc ở huyện Tam Đảo. 2.2. Nhiệm vụ của đề tài – Phân tích những tác nhân ảnh hưởng tác động tới sự hình thành và phát triển dulịch vững chắc. – Nghiên cứu, nhìn nhận tiềm năng du lịch ở huyện Tam Đảo. – Đánh giá tình hình hoạt động giải trí du lịch và đưa ra những giải pháp pháttriển du lịch bền vững và kiên cố ở huyện Tam Đảo. 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU3. 1. Đối tượng nghiên cứuNghiên cứu hoạt động giải trí phát triển và kinh doanh thương mại du lịch ở huyện Tam Đảo. 3.3. Phạm vi nghiên cứuĐề tài thực thi nghiên cứu và điều tra hàng loạt chủ quyền lãnh thổ huyện Tam Đảo – nơi cótiềm năng và những điều kiện kèm theo phát triển du lịch vững chắc ở huyện Tam Đảo. Trên cơ sở đó yêu cầu những giải pháp nhằm mục đích khai thác hài hòa và hợp lý, tôn trọng mụctiêu bảo tồn và tương thích với điều kiện kèm theo trong thực tiễn của địa phương nhằm mục đích phát triểnbền vững du lịch huyện Tam Đảo. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU4. 1. Phương pháp định tínhNghiên cứu và nghiên cứu và phân tích những tài liệu sẵn có tích lũy được trong quátrình điều tra và nghiên cứu ( số liệu thống kê hàng năm, số liệu tổng hợp của Phòng Vănhóa thông tin … ). 4.2. Phương pháp nghiên cứu và điều tra định lượngDựa trên sự khảo sát thực địa, điều tra và nghiên cứu tiềm năng, thực trạng pháttriển du lịch, số lượng khách, về nhu yếu, sở trường thích nghi của họ và những dịch vụmà họ chăm sóc trải qua đó được cho phép đề ra những giải pháp nhằm mục đích khắcphục những điểm yếu kém, phát huy những ưu điểm. 4.3. Phương pháp bản đồSơ đồ và map được sử dụng để phản ánh những đặc thù về khônggian địa lý, về nguồn tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật ship hàng du lịch, hệthống liên kết hạ tầng giao thông vận tải với những điểm du lịch, những TT kinh tế tài chính … 5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀIĐề tài xác lập cơ sở khoa học cho việc phát triển du lịch bền vững và kiên cố ở địaphương, góp thêm phần nâng cao đời sống vật chất và niềm tin cho người dân, đồng thời bảo vệ tài nguyên môi trường tự nhiên … Những hiệu quả tìm hiểu, nghiên cứu và điều tra thực thi đề tài từ thực tiễn là nguồntư liệu thiết yếu cho việc nhìn nhận, nhìn nhận, quy hoạch phát triển du lịch ởhuyện Tam Đảo, nhằm mục đích góp vốn đầu tư khai thác một cách hài hòa và hợp lý và hiệu suất cao sao chotương xứng với nguồn tài nguyên hiện có góp thêm phần phát triển vững chắc. 6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂNNgoài phần khởi đầu và Tóm lại, luận văn được bố cục tổng quan thành 3 chươngsau : – Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển du lịch vững chắc. – Chương 2 : Thực trạng phát triển du lịch vững chắc huyện Tam Đảo. – Chương 3 : Định hướng và những giải pháp phát triển du lịch bềnvững huyện Tam Đảo. Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG1. 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đềTrên quốc tế và ở Nước Ta đã có rất nhiều khu công trình điều tra và nghiên cứu vềkhai thác tiềm năng du lịch, phát triển du lịch vững chắc, phát triển du lịch cótrách nhiệm với môi trường tự nhiên và xã hội. Các khu công trình nghiên cứu và điều tra này đã đượcxuất bản thành những tài liệu, sách chuyên đề giảng dạy, bộ công cụ du lịch, bàiviết được đăng tải trên những trang Website … Các tài liệu, và những tác giả đã làmsáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển bền vững và kiên cố, phát triển du lịch bền vững và kiên cố, khaithác tiền năng du lịch, đồng thời giúp cho tác giả luận văn xu thế nghiêncứu đề tài “ Phát triển du lịch bền vững và kiên cố ở huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc ”. Đây là yên cầu khách quan và rất thiết yếu với huyện Tam Đảo nhưng chưa cóai nghiên cứu và điều tra. 1.2. Những yếu tố lý luận về phát triển du lịch bền vững1. 2.1. Khái niệm “ phát triển ” Phát triển là khuynh hướng chung tất yếu của những sự vật hiện tượngtrong quốc tế khách quan, chúng hoạt động đổi khác chuyển hóa không ngừngtừ trạng thái này sang trạng thái khác. Nguồn gốc của sự phát triển là sự thốngnhất và đấu tranh giữa những mặt trái chiều trong bản thân vấn đề, hiệntượng. Phát triển thông dụng trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy. Tùy theo nhữnglĩnh vực khác nhau của quốc tế vật chất sự phát triển bộc lộ dưới nhữnghình thức khác nhau. Lênin nhấn mạnh vấn đề rằng : “ Sự phát triển không phải làmột sự lớn lên, sự tăng thêm, đơn thuần, phổ cập và vĩnh viễn ” mà là “ sự tiếnhóa, sự chuyển hóa lẫn nhau ” [ 8, tr. 86 ]. 1.2.2. Phát triển bền vững1. 2.2.1. Khái niệm về phát triển vững chắc “ Phát triển bền vững và kiên cố ” là một khái niệm mới nhằm mục đích định nghĩa một sựphát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn bảo vệ sự liên tục phát triểntrong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là tiềm năng hướng tới nhiều quốcgia trên quốc tế, mỗi vương quốc sẽ dựa theo đặc trưng kinh tế tài chính, chính trị, văn hoá, địa lý … riêng để hoạch định kế hoạch tương thích nhất với vương quốc đó. Thuật ngữ ” phát triển bền vững và kiên cố ” Open lần tiên phong vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới ( công bố bởi Thương Hội Bảo tồnThiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế – IUCN ) với nội dung rất đơngiản : Sự phát triển của quả đât không hề chỉ chú trọng tới phát triển kinh tếmà còn phải tôn trọng những nhu yếu tất yếu của xã hội và sự tác động ảnh hưởng đến môitrường sinh thái học. Khái niệm này được phổ cập thoáng đãng vào năm 1987 nhờ Báo cáoBrundtland ( còn gọi là Báo cáo Our Common Future ) của Ủy ban Môi trườngvà Phát triển Thế giới – WCED ( nay là Ủy ban Brundtland ). Báo cáo này ghirõ : Phát triển vững chắc là sự phát triển hoàn toàn có thể cung ứng được những nhu cầuhiện tại mà không ảnh hưởng tác động, tổn hại đến những năng lực cung ứng nhu cầucủa những thế hệ tương lai … Nói cách khác, phát triển vững chắc phải bảo vệ cósự phát triển kinh tế tài chính hiệu suất cao, xã hội công minh và môi trường tự nhiên được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tổng thể những thành phần kinh tế tài chính – xã hội, nhà cầmquyền, những tổ chức triển khai xã hội … phải bắt tay nhau thực thi nhằm mục đích mục tiêu dunghòa 3 nghành nghề dịch vụ chính : kinh tế tài chính – xã hội – thiên nhiên và môi trường ( Hình 1.1 ). Hình 1.1. Mối quan hệ trong phát triển vững chắc – Bền vững về mặt kinh tế tài chính : Là phát triển kinh tế tài chính nhanh và không thay đổi trongmột thời hạn dài. Tăng trưởng nhanh chưa chắc đã có được phát triển bềnvững về mặt kinh tế tài chính. Vì thế tất cả chúng ta phải luôn duy trì một vận tốc tăng trưởngổn định hài hòa và hợp lý và lâu dài hơn không nên chỉ chú trọng và nhấn mạnh vấn đề vào tăngtrưởng kinh tế tài chính nhanh. – Bền vững về mặt môi trường tự nhiên : Môi trường sống có tác động ảnh hưởng trực tiếpđến sự sống và sự phát triển của mỗi thành viên và của hội đồng, nó bao gồmtoàn bộ những điều kiện kèm theo vật lý, hoá học, sinh học … và xã hội bao quanh. Bềnvững về mặt thiên nhiên và môi trường là ở đó con người có đời sống chất lượng cao dựatrên nền tảng sinh thái xanh bền vững và kiên cố. – Bền vững về xã hội : Tính vững chắc đó phải mang tính nhân văn haynói một cách khác là phải đem lại phúc lợi và san sẻ công minh cho mọi cánhân trong xã hội. Phát triển phải được gắn liền với một xã hội không thay đổi, hòabình, lan rộng ra và nâng cao năng lượng lựa chọn cho mọi người cùng với đó làviệc nâng cao sự tham gia của hội đồng vào quy trình phát triển. Ngoài ra, phát triển bền vững và kiên cố còn được xem là sự phát triển “ bình đẳngvà cân đối ”. Bình đẳng được hiểu là bình đẳng giữa những nhóm người trongcùng một xã hội. Còn tính cân đối được biểu lộ ở việc cân đối giữa những mụctiêu phát triển kinh tế tài chính – xã hội – môi trường tự nhiên. Tiếp sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, những đại biểu tham gia Hộinghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại kháiniệm “ phát triển vững chắc ” này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cảcác cấp của những chính phủ nước nhà về sự cấp bách trong việc tăng cường sự hòa hợpkinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ thiên nhiên và môi trường. Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển vững chắc ( còngọi là Hội nghị Rio + 10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg ) nhóm họptại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của những nhà lãnh đạocũng như những chuyên viên về kinh tế tài chính, xã hội và môi trường tự nhiên của gần 200 quốcgia đã tổng kết lại kế hoạch hành vi về phát triển bền vững và kiên cố 10 năm qua vàđưa ra những quyết sách tương quan tới những yếu tố về nước, nguồn năng lượng, sức khỏe thể chất, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái. a ) Phát triển vững chắc tại Việt NamTừ sau Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển Rio1992 đến nay, Nước Ta đã có nhiều nỗ lực trong thực thi phát triển bềnvững và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong những nghành nghề dịch vụ kinh tế tài chính, xã hội và môi trường tự nhiên. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng VIII ( 1996 ) đã đưa yếu tố bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hài hòa và hợp lý nguồn tài nguyêntrở thành một thành phần cấu thành không hề tách dời của phát triển bềnvững ở nước ta. Để triển khai cam kết với hội đồng quốc tế, nhà nước Nước Ta đãban hành Định hướng kế hoạch phát triển bền vững và kiên cố ở Nước Ta ( Chươngtrình Nghị sự 21 của Nước Ta ) và xây dựng Hội đồng Phát triển bền vữngquốc gia do Phó Thủ tướng nhà nước đứng đầu. Việt Nam cũng đã xây dựngvà phát hành 1 số ít chương trình Nghị sự 21 ngành và địa phương. Quan điểmphát triển vững chắc được chứng minh và khẳng định trong những kế hoạch phát triển kinh tế tài chính xã hội của Nước Ta qua những thời kỳ và được tái khẳng định chắc chắn trong chiến lượcphát triển KT-XH 10 năm tới, đó là : “ Phát triển nhanh gắn với phát triển bềnvững, phát triển vững chắc là nhu yếu xuyên thấu trong kế hoạch. ” Trong tiến trình triển khai phát triển vững chắc ở Nước Ta, nhiều hoạtđộng, quy mô, sáng tạo độc đáo phát triển vững chắc đã được tiến hành và đạt đượcnhững tác dụng tích cực, góp thêm phần triển khai những tiềm năng phát triển bền vữngcủa quốc gia. Trong số những hoạt động giải trí, quy mô, sáng tạo độc đáo đã được triểnkhai có những quy mô, sáng tạo độc đáo tốt, được xem như thể những nổi bật pháttriển bền vững và kiên cố ở Nước Ta [ 13 ]. b ) Định hướng Chiến lược Phát triển vững chắc ở Nước Ta gồm có : – Mục tiêu phát triển vững chắc về kinh tế tài chính : + Duy trì tăng trưởng kinh tế tài chính nhanh và không thay đổi trên cơ sở nâng caokhông ngừng tính hiệu suất cao, hàm lượng khoa học – công nghệ và sử dụng tiếtkiệm tài nguyên vạn vật thiên nhiên và cải tổ môi trường tự nhiên. + Thay đổi quy mô và công nghệ tiên tiến sản xuất, quy mô tiêu dùng theohướng sạch hơn và thân thiện với thiên nhiên và môi trường. + Thực hiện quy trình “ công nghiệp hoá sạch ”. + Phát triển nông nghiệp và nông thôn vững chắc. + Phát triển bền vững và kiên cố vùng và thiết kế xây dựng những hội đồng địa phương pháttriển vững chắc. – Mục tiêu phát triển vững chắc về xã hội : + Tập trung nỗ lực để xoá đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm. + Tiếp tục hạ thấp tỷ suất ngày càng tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăngdân số và thực trạng thiếu việc làm. + Định hướng quy trình đô thị hoá và di dân nhằm mục đích phân bổ hài hòa và hợp lý dân cưvà lực lượng lao động theo vùng, bảo vệ môi trường tự nhiên bền vững và kiên cố ở những địaphương, trước hết là những đô thị. + Nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí, trình độ nghềnghiệp thích hợp với nhu yếu của sự nghiệp phát triển quốc gia. + Tăng số lượng và nâng cao chất lượng những dịch vụ y tế và chăm nom sứckhoẻ nhân dân, cải tổ những điều kiện kèm theo lao động và vệ sinh môi trường tự nhiên sống. – Mục tiêu Phát triển vững chắc trong nghành tài nguyên – thiên nhiên và môi trường : + Sử dụng hài hòa và hợp lý, vững chắc và chống thoái hoá tài nguyên đất. + Sử dụng tiết kiệm ngân sách và chi phí, hiệu suất cao và vững chắc tài nguyên tài nguyên. + Bảo vệ thiên nhiên và môi trường nước và sử dụng bền vững và kiên cố tài nguyên nước. + Bảo vệ môi trường tự nhiên và tài nguyên biển, ven biển, hải đảo. + Bảo vệ và phát triển rừng. + Giảm ô nhiễm không khí ở những đô thị và khu công nghiệp. + Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy cơ tiềm ẩn. + Bảo tồn đa dạng sinh học. + Giảm nhẹ đổi khác khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng tác động có hại củabiến đổi khí hậu, góp thêm phần phòng, chống thiên tai. 1.2.2. 2. Các thước đo về phát triển bền vữngPhát triển vững chắc có thước đo riêng và rất đặc trưng. Tuy nhiên hệthống thước đo này rất phức tạp và nhiều thước đo rất khó xác lập vì chúngphải nhìn nhận trên cả ba phương diện kinh tế tài chính – xã hội – môi trường tự nhiên. Về mặt kinh tế tài chính, tính bền vững và kiên cố bộc lộ ở những chỉ số như : Tổng sản phẩmtrong nước ( GDP ), tổng sản phẩm vương quốc ( GNP ), cơ cấu tổ chức GDP và GNP, GDP / người, GNP / người …. Theo tiêu chuẩn quốc tế thì chỉ tiêu GDP / ngườiphải ở mức 5 % mới được coi là phát triển bền vững và kiên cố và cơ cấu tổ chức GDP mạnh làcơ cấu có tỷ suất góp phần của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu tổ chức phải caohơn tỷ suất góp phần của nông nghiệp trong cơ cấu tổ chức. Về mặt xã hội, có những chỉ tiêu nhìn nhận như : chỉ số phát triển con người ( HDI ), thông số bất bình đẳng thu nhập, giáo dục, y tế, văn hoá … HDI là chỉ tiêuđánh giá tổng hợp sự phát triển của con người thế cho nên muốn phát triển bền vữngthì nhu yếu đặt ra so với chỉ tiêu này là phải tăng trưởng và đạt đến mức trungbình. Chỉ số bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là một trong số những chỉtiêu quan trọng trong phát triển vững chắc vì bất bình đẳng trong phân phối thunhập cũng là nguyên do gây ra những xung đột, không ổn định trong xã hội. Về mặt môi trường tự nhiên những chỉ tiêu nhìn nhận như : mức độ ô nhiễm ( khôngkhí, nguồn nước … ), mức độ bao trùm rừng … là những chỉ tiêu quan trọng trongđánh giá tính bền vững và kiên cố của môi trường tự nhiên. Môi trường vững chắc là môi trườngluôn biến hóa nhưng vẫn làm tròn ba công dụng : là khoảng trống sống sót ; là nơicung cấp nguồn tài nguyên thiết yếu cho đời sống và hoạt động sản suất củacon người ; là nơi tiềm ẩn, giải quyết và xử lý chất thải. Ngoài ra còn phải chăm sóc đến yếu tố bình đẳng giới ; những chỉ tiêu vềgiáo dục : tỷ suất biết chữ, tỷ suất nhập học đúng độ tuổi, tỷ suất học trung học, đạihọc … những chỉ tiêu về hoạt động giải trí văn hoá khác. Du lịch là một trong những công nghệ tiên tiến tạo nhiều cống phẩm nhất cho đấtnước. Du lịch hoàn toàn có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp tất cả chúng ta đạt10các Mục Tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ( Millennium Development Goals ) màLiên Hợp Quốc đã đề ra từ năm 2000, đặc biệt quan trọng là những tiềm năng xóa đói giảmnghèo, bình đẳng giới tính, bền vững và kiên cố thiên nhiên và môi trường và liên kết kinh doanh quốc tế đểphát triển. Chính vì thế mà du lịch bền vững và kiên cố ( sustainable tourism ) là mộtphần quan trọng của phát triển bền vững và kiên cố ( sustainable development ) của LiênHợp Quốc và của Định hướng Chiến lược phát triển bền vững và kiên cố ở Nước Ta. 1.2.3. Phát triển du lịch bền vững1. 2.3.1. Các ý niệm về du lịch và du khácha ) Các ý niệm về du lịchTừ rất lâu rồi trong lịch sử vẻ vang trái đất, du lịch đã được ghi nhận như một sởthích, một hoạt động giải trí nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch đã trởthành một nhu yếu không hề thiếu được trong đời sống văn hoá – xã hội củacác nước. Về mặt kinh tế tài chính, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tếquan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển. Du lịch được coi là ngànhcông nghiệp – công nghiệp du lịch và lúc bấy giờ ngành “ công nghiệp khôngkhói ” này chỉ đứng sau công nghiệp dầu khí và xe hơi. Đối với những nước đangphát triển, du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế tài chính ốm yếu củaquốc gia. Có nhiều ý niệm khác nhau về du lịch, nhận thức đó trải qua quátrình từ thấp tới cao, từ việc chưa hoàn thành xong đến triển khai xong. – Quan niệm trước đây về du lịch : Trước đây người ta mới chỉ ý niệm du lịch là một hoạt động giải trí mangtính chất văn hoá, nhằm mục đích thoả mãn nhu yếu vui chơi và những nhu yếu hiểu biếtcủa con người, du lịch không được coi là hoạt động giải trí kinh tế tài chính, không mang tínhchất kinh doanh thương mại và ít được góp vốn đầu tư để phát triển. Trong nhiều thế kỷ trước đây, hành khách hầu hết là những người hành hương, thương nhân, học viên và cảnghệ sĩ … Đến đầu thế kỷ 20, du lịch vẫn còn dành riêng cho những người khágiả, họ đi du lịch là để vui chơi. Còn du lịch ngày này gắn liền với cuộc sốnghàng ngày của hàng triệu người. Mặc dù vậy, khi đề cập đến du lịch, không ít11người thường lầm tưởng rằng : Du lịch chỉ là những kỳ nghỉ hè tầm thường, với những trường bay, bãi biển đầy người, hoặc hình ảnh những xe du lịch chở dukhách thăm quan những phố … Do đó, muốn cho du lịch phát triển can đảm và mạnh mẽ vàđáp ứng một cách rất đầy đủ nhu yếu ngày càng tăng của đời sống con người, trước hết cần phải có ý niệm đúng đắn về du lịch. – Quan niệm khoa học về du lịch : Năm 1963, với mục tiêu quốc tế hoá, tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về dulịch họp tai Roma, những chuyên viên đã đưa ra định nghĩa như sau về du lịch : “ Du lịch là tổng hợp những mối quan hệ, hiện tượng kỳ lạ và những hoạt động giải trí kinh tếbắt nguồn từ những cuộc hành trình dài và lưu trú của những cá thể hay tập thể ởbên ngoài nơi ở liên tục của họ hay ngoài nước họ với mục tiêu hoàbình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi thao tác của họ ” [ 12 ]. Định nghĩanày là cơ sở cho định nghĩa hành khách đã được Liên minh quốc tế những tổ chứcdu lịch chính thức, tiền thân của Tổ chức du lịch quốc tế trải qua. Các học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Nước Ta đã tách hai nộidung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng không liên quan gì đến nhau. Theo những chuyên viên này, nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức tham gia tích cực củacon người ngoài nơi cư trú với mục tiêu : nghỉ ngơi, vui chơi, xem danh lamthắng cảnh, di tích lịch sử lịch sử dân tộc, khu công trình văn hoá, nghệ thuật và thẩm mỹ … Theo nghĩa thứhai, du lịch được coi là một ngành kinh doanh thương mại tổng hợp có hiệu suất cao cao vềnhiều mặt : nâng cao hiểu biết về vạn vật thiên nhiên, truyền thống lịch sử lịch sử dân tộc và văn hoádân tộc, từ đó góp thêm phần làm tăng thêm tình yêu quốc gia ; so với người nướcngoài là tình hữu nghị với dân tộc bản địa mình ; về mặt kinh tế tài chính du lịch là lĩnh vựckinh doanh mang lại hiệu suất cao rất lớn ; hoàn toàn có thể coi là hình thức xuất khẩu hànghoá và dịch vụ tại chỗ. Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm như trên có ýnghĩa góp thêm phần thôi thúc sự phát triển của du lịch. Du lịch không chỉ là mộtngành kinh tế tài chính mà nó còn là một hiện tượng kỳ lạ xã hội. Chính thế cho nên toàn xã hội12phải có nghĩa vụ và trách nhiệm góp phần, tương hỗ, góp vốn đầu tư cho du lịch phát triển như đốivới giáo dục, thể thao hoặc một nghành văn hoá khác. Bảng 1.1. Những tác động ảnh hưởng tích cực và xấu đi của du lịchTích cựcTiêu cực – Các kế hoạch quản trị ngặt nghèo – Sự phát triển của hạ tầng ngànhhơn so với thiên nhiên và môi trường tự nhiên du lịch không theo pháp luật trongnhằm tạo hiên chạy quản trị và những hệ sinh thái nhạy cảm. bảo vệ không thiếu những hệ sinh thái – Những khu công trình với kiến trúc nghèonhạy cảm. nàn hoặc bất hài hòa và hợp lý làm hỏng cảnh sắc – Nâng cao nhận thức của người và hủy hoại những giá trị khoảng trống. dân địa phương và khách du lịch – Gây trộn lẫn đời sống của những loàivề những giá trị tự nhiên và tính động vật hoang dã hoang dã bởi những chuyếnnhạy cảm của hệ sinh thái để có du lịch có tổ chức triển khai và của những dunhững hành vi có nghĩa vụ và trách nhiệm khách tò mò trong những vườn vương quốc. hơn. – Tiêu thụ nhiều nguồn điện năng, – Xây dựng những cơ sở giải quyết và xử lý nước nguồn nước cho những hoạt động giải trí du lịch. Môithải và chất thải mà đối tượng người tiêu dùng – Ô nhiễm những dòng sông do thiếu cáctrường hưởng lợi chính là khách du lịch mạng lưới hệ thống giải quyết và xử lý chất thải từ khách sạn. và người dân địa phương. – Du lịch khiến cho những hoạt động giải trí giao – Tái chế chất thải trong cả nước. thông gia tăng ( gây tiếng ồn, ô nhiễm – Ví dụ tích cực là du lịch hoàn toàn có thể không khí ) ảnh hưởng tác động xấu tới dân địathiết lập nên những tiêu chuẩn phương và động vật hoang dã hoang dã. bảo vệ thiên nhiên và môi trường cao hơn trongcác khu công trình cũng như những hoạtđộng so với những nghành khác – Đào tạo nhân viên cấp dưới để nâng caonhận thức và trình độ của họ vềcác yếu tố bảo vệ thiên nhiên và môi trường cóthể làm đổi khác thói quen trongcuộc sống hằng ngày của họ. Xã hội – Bố trí lại vai trò giới nhằm mục đích tạo – Bố trí lại vai trò giới gây ra nhữngra những thời cơ mới cho phụ nữ trộn lẫn trong xã hội. và người trẻ tuổi. – Thương mại hóa những truyền thống13Tích cựcTiêu cực – Các truyền thống lịch sử văn hóa truyền thống được và nền văn hóa truyền thống. lưu truyền trong hội đồng và – Thay đổi tập quán văn hóa truyền thống ( ví dụ nhưkhuyến khích sự phát minh sáng tạo trong thẩm mỹ và nghệ thuật, nghề bằng tay thủ công, phục trang, thẩm mỹ và nghệ thuật. liên hoan ) để phân phối nhu yếu du lịch thực – Đầu tư mới / lan rộng ra những dịch sự hay nhận thức ( tổn thất văn hóa truyền thống ). vụ công cộng và tiện lợi. – Làm trầm trọng hơn những bất bình – Ổn định nền kinh tế tài chính. đẳng hiện có của xã hội và tạo thêm – Qua đó ngày càng tăng sử dụng, bảo những bất bình đẳng mới. tồn tài nguyên vạn vật thiên nhiên và – Tạo nên những ý niệm mới về đứcvăn hóa. hạnh, quan hệ mái ấm gia đình, đi dạo vui chơi – Nâng cao chất lượng giáo dục. trong tổ chức triển khai hội đồng, dẫn đến xung – Khuyến khích sử dụng ngôn đột giữa những cá thể hoặc những nhóm xãngữ địa phương. hội. – Đa dạng hóa sinh kế. – Các hành vi vi phạm của ngườidân địa phương ( vd. Xâm phạm vàocác khu vực cấm ). – Mất ngôn từ. – Mất dần những giá trị văn hóa truyền thống, tập quánbản địa do sự chi phối của giá trị tiền tệ. Kinhtế – Kích thích / tăng cường nền – Hoạt động du lịch được hưởng lợi từkinh tế địa phương. tài nguyên vạn vật thiên nhiên và văn hóa truyền thống địa – Tạo công ăn việc làm và công phương mà không cung ứng phần lợiviệc một cách trực tiếp và gián tiếp. ích thích hợp cho người dân địa – Tạo thời cơ cho những hoạt động giải trí phương. kinh doanh thương mại. – Tạo ra những căng thẳng mệt mỏi xã hội từ tiền – Kích thích tăng trưởng những lương và thu nhập, gây bất bình đẳngdoanh nghiệp địa phương cả trực giữa chủ và khách, trong cộng đồngtiếp và gián tiếp. riêng của mình, và giữa phái mạnh và – Đầu tư hạ tầng. phụ nữ ( phụ nữ nắm giữ việc làm tầm – Tăng lệch giá thuế. thường hơn, những việc làm có mức – Cải thiện chất lượng đời sống. lương thấp hơn ). – Đa dạng hóa sinh kế. – Tăng sự nhờ vào kinh tế tài chính vào một khu14Tích cựcTiêu cựcvực hoặc thậm chí còn là vào một doanhnghiệp. – Làm tăng giá đất và ngân sách nhà ở / sinhhoạt. – Tạo ra những số lượng giới hạn, lao động theomùa vụ, không có kinh nghiệm tay nghề hoặc cơ hộiphát triển thấp. – Gia tăng số người đi tìm việc, tỷ lệthất nghiệp và gây ra căng thẳng mệt mỏi xãhội. – Gây thất thoát cục bộ cao ( % chi tiêucho nền kinh tế tài chính địa phương hầu hết lànhập khẩu ) như : Nhập nguyên vật liệuthô và nguồn lao động bên ngoài, cáccông ty quốc tế v.v. – Khuyến khích sự thống trị của cáccông ty đa vương quốc hay “ người có ảnhhưởng lớn tại địa phương ” được hưởngtất cả hoặc phần nhiều quyền lợi từ những hoạtđộng du lịch. Nguồn : [ 3 ] b ) Quan niệm về du kháchDu khách là người từ nơi khác đến vào thời hạn rảnh rỗi của họ vớimục đích thoả mãn nhu yếu nâng cao hiểu biết, Giao hàng sức khoẻ, xây dựnghay tăng cường tình cảm của con người ( với nhau hoặc với vạn vật thiên nhiên ), thưgiãn, vui chơi hoặc biểu lộ mình kèm theo việc tiêu thụ những giá trị niềm tin, vật chất và những dịch vụ do những cơ sở của ngành du lịch đáp ứng. Trong giaiđoạn lúc bấy giờ, hoàn toàn có thể cụ thể hoá tiêu chuẩn cơ bản này bằng việc nghỉ qua đêmtại một cơ sở lưu trú của ngành du lịch. Về phương diện kinh tế tài chính, hành khách làngười sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ănuống … Cần phải phân biệt hai loại hành khách cơ bản. Những người mà chuyến15đi của họ có mục tiêu chính là nâng cao hiểu biết tại nơi đến về những điều kiện kèm theo, tài nguyên tự nhiên, kinh tế tài chính, văn hoá được gọi là hành khách thuần tuý. Ngượclại có những người triển khai chuyến đi vì một mục tiêu khác như công tác làm việc, tìm kiếm thời cơ làm ăn, hội họp … Trên đường đi hay tại nơi đến, những ngườinày sắp xếp được thời hạn cho việc thăm quan, nghỉ ngơi. Khi đó họ mớiđược coi là hành khách. Để nói lên sự phối hợp đó, chuyến đi của họ được gọi làdu lịch công vụ, du lịch thể thao du lịch tôn giáo … 1.2.3. 2. Quan niệm về phát triển du lịch bền vữngDu lịch bền vững và kiên cố là khái niệm mới Open trên cơ sở nâng cấp cải tiến, nângcấp và hoàn thành xong khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọingười chăm sóc trong những năm gần đây. Phát triển du lịch vững chắc ( Sustainable Tourism ) được Tổ chức Dulịch quốc tế ( United National World Tourist Organization, viết tắtlà UNWTO ) định nghĩa như sau : “ Du lịch bền vững và kiên cố là những hình thức du lịchđáp ứng nhu yếu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và hội đồng địaphương nhưng không tác động ảnh hưởng tới năng lực phân phối nhu yếu của những thếhệ tương lai. Du lịch khả thi về kinh tế tài chính nhưng không hủy hoại tài nguyên màtương lai của du lịch phụ thuộc vào vào đó, đặc biệt quan trọng là thiên nhiên và môi trường tự nhiên và kếtcấu xã hội của hội đồng địa phương ” [ 19, tr. 237 ]. Trong những định nghĩa này thì phát triển du lịch đã được hiểu một cáchđầy đủ hơn nó được xem xét trên cả ba nghành nghề dịch vụ kinh tế tài chính – xã hội – thiên nhiên và môi trường. Theo Hội đồng khoa học, Tổng cục Du lịch ( 2005 ), Chương trình du lịchbền vững có 12 tiềm năng ( không xếp theo thứ tự ưu tiên ) gồm có : – Hiệu quả kinh tế tài chính : Đảm bảo tính hiệu suất cao kinh tế tài chính và tính cạnh tranh đối đầu đểcác doanh nghiệp và những điểm du lịch có năng lực liên tục phát triển phồnthịnh và đạt doanh thu vĩnh viễn. – Công bằng xã hội : Cần có sự phân phối lại quyền lợi kinh tế tài chính và xã hộithu được từ hoạt động giải trí du lịch một cách công minh và thoáng đãng cho tất cảnhững người trong hội đồng đáng được hưởng. 16 – Sự phồn thịnh cho địa phương : Tăng tối đa góp phần du lịch với sự pháttriển thịnh vượng của nền kinh tế tài chính địa phương tại những điểm du lịch, khu du lịch. – Sự thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch : Cung cấp những dịch vụ bảo đảm an toàn, chấtlượng cao thỏa mãn nhu cầu không thiếu nhu yếu của hành khách. Không phân biệt đối xửgiới, chủng tộc, thu nhập cũng như những mặt khác. – An sinh hội đồng : Duy trì và tăng cường chất lượng đời sống củangườn dân địa phương, gồm có cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai xã hội và cách tiếp cận cácnguồn tài nguyên, mạng lưới hệ thống tương hỗ đời sống, tránh làm suy thoái và khủng hoảng và khai thácquá mức môi trường tự nhiên cũng như xã hội dưới mọi hình thức. – Chất lượng việc làm : Tăng cường số lượng và chất lượng việc làm tạiđịa phương do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch tương hỗ, không có sựphân biệt đối xử về giới và những mặt khác. – Khả năng trấn áp của địa phương : Thu hút và trao quyền cho cộngđồng địa phương kiến thiết xây dựng kế hoạch và đề ra những quyết định hành động về quản trị vàphát triển du lịch, có sự tìm hiểu thêm tư vấn của những bên tương quan. – Đa dạng văn hóa truyền thống : Tôn trọng và tăng cường giá trị những di sản lịch sử vẻ vang, truyền thống văn hóa truyền thống dân tộc bản địa, truyền thống cuội nguồn và những truyền thống đặc biệt quan trọng của cộngđồng dân cư địa phương tại những điểm du lịch. – Đa dạng sinh học : Hỗ trợ bảo tồn khu vực tự nhiên, môi trường tự nhiên sống, sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại so với những yếu tố này. – Thống nhất tự nhiên : Duy trì và nâng cao chất lượng của cảnh vật, kểcả ở nông thôn cũng như thành thị, tránh để môi trường tự nhiên xuống cấp trầm trọng. – Hiệu quả của những nguồn lực : Giảm thiểu mức sử dụng những nguồntài nguyên quý và hiếm và không hề tái tạo được trong việc phát triển và triểnkhai những cơ sở, phương tiện đi lại và dịch vụ du lịch. – Môi trường trong lành : Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất vàrác thải từ hành khách và những hãng du lịch. Nhiều chuyên viên nghiên cứu và điều tra về du lịch Nước Ta thống nhất nội hàmcủa khái niệm phát triển du lịch vững chắc là : hoạt động giải trí khai thác có quản lýcác giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu những nhu yếu phong phú của17khách du lịch, có chăm sóc đến những quyền lợi kinh tế tài chính dài hạn trong khi vẫn đảmbảo sự góp phần cho bảo tồn và tôn tạo những nguồn tài nguyên, duy trì được sựtoàn vẹn về văn hóa truyền thống để phát triển hoạt động giải trí du lịch trong tương lai ; cho côngtác bảo vệ môi trường tự nhiên và góp thêm phần nâng cao mức sống của hội đồng địaphương. Kinh doanh du lịchDu lịchkhôngbềnvữngDu lịch biểnDu lịch nông thônDu lịchbềnvữngDu lịch sinh tháiDu lịch văn hóaHình 1.2. Quan niệm phát triển du lịch bền vữngNhư vậy : Phát triển du lịch vững chắc là một yếu tố không hề thiếuđược trong quy trình đi lên của quốc gia nói chung và của ngành du lịch nóiriêng. Tuy nhiên bảo vệ và cải tổ môi trường tự nhiên phải được coi là yếu tố khôngthể tách rời của quy trình phát triển. 1.2.3. 3. Những nguyên tắc phát triển du lịch bền vữngMuốn bảo vệ phát triển du lịch vững chắc, thì nhất thiết tất cả chúng ta phải tuânthủ ngặt nghèo những nguyên tắc của phát triển vững chắc theo hai cách tiếp cận sau : a ) Các nguyên tắc theo Chương trình nghị sự 21 Việt NamChương trình nghị sự 21 Nước Ta về tài nguyên và môi trường tự nhiên là địnhhướng kế hoạch phát triển vững chắc của Nước Ta. Đây là một chiến lượckhung gồm có những xu thế lớn làm cơ sơ pháp lý cho những Bộ, ngành, địaphương, những tổ chức triển khai, cá thể phối hợp nhằm mục đích bảo vệ phát triển bền vững và kiên cố đấtnước trong thế kỷ 21. Định hướng kế hoạch được thiết kế xây dựng trên 8 nguyêntắc cơ bản sau [ 16 ] : – Thứ nhất, con người là TT của phát triển bền vững và kiên cố. Đáp ứngngày càng không thiếu hơn nhu yếu vật chất và ý thức của mọi những tầng lớp nhân18dân, thiết kế xây dựng quốc gia giàu mạnh, xã hội công minh, dân chủ và văn minh lànguyên tắc không cho đồng điệu trong mọi quy trình tiến độ phát triển. – Thứ hai, phát triển kinh tế tài chính là trách nhiệm TT của quy trình tiến độ pháttriển sắp tới, bảo vệ bảo mật an ninh lương thực, nguồn năng lượng để phát triển vững chắc, bảo vệ vệ sinh và bảo đảm an toàn thực phẩm cho nhân dân ; phối hợp ngặt nghèo, hợp lývà hòa giải với phát triển xã hội ; khai thác hài hòa và hợp lý, sử dụng tiết kiệm ngân sách và chi phí và hiệu quảtài nguyên vạn vật thiên nhiên trong số lượng giới hạn được cho phép về mặt sinh thái xanh và bảo vệ môitrường lâu bền. Từng bước thực thi nguyên tắc “ mọi mặt kinh tế tài chính, xã hội vàmôi trường đều cùng có lợi ”. – Thứ ba, bảo vệ và cải tổ chất lượng môi trường tự nhiên là một yếu tốkhông thể tách rời của quy trình phát triển. Tích cực và dữ thế chủ động phòng ngừa, ngăn ngừa những tác động ảnh hưởng xấu so với thiên nhiên và môi trường do hoạt động giải trí của conngười gây ra. Cần vận dụng thoáng đãng nguyên tắc “ người gây thiệt hại so với tàinguyên và môi trường tự nhiên thì phải bồi hoàn ”. Xây dựng mạng lưới hệ thống pháp lý đồngbộ và có hiệu lực thực thi hiện hành về công tác làm việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường ; dữ thế chủ động kết nối và có chếtài bắt buộc lồng ghép nhu yếu bảo vệ môi trường tự nhiên trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án Bất Động Sản phát triển kinh tế tài chính – xã hội, coi nhu yếu về bảovệ thiên nhiên và môi trường là một tiêu chuẩn quan trọng trong nhìn nhận phát triển vững chắc. – Thứ tư, quy trình phát triển phải bảo vệ cung ứng một cách côngbằng nhu yếu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới đời sống của cácthế hệ tương lai. Tạo lập điều kiện kèm theo để mọi người và mọi hội đồng trong xãhội có thời cơ bình đẳng để phát triển ; được tiếp cận tới những nguồn lựcchung và được phân phối công minh những quyền lợi công cộng ; tạo ra nhữngnền tảng vật chất, tri thức và văn hóa truyền thống tốt đẹp cho những thế hệ tương lai ; sửdụng tiết kiệm ngân sách và chi phí những tài nguyên không hề tái tạo lại được ; gìn giữ và cảithiện thiên nhiên và môi trường sống ; phát triển mạng lưới hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môitrường ; kiến thiết xây dựng lối sống lành mạnh, hòa giải, thân mật và yêu quý vạn vật thiên nhiên. – Thứ năm, khoa học và công nghệ tiên tiến là nền tảng và động lực cho côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, thôi thúc phát triển nhanh, mạnh và bền vững và kiên cố đấtnước. Công nghệ văn minh, sạch và thân thiện với thiên nhiên và môi trường cần được ưu tiên19sử dụng thoáng rộng trong những ngành sản xuất. Trước mắt, cần được tăng cường sửdụng ở những ngành và nghành nghề dịch vụ sản xuất có công dụng Viral mạnh, có khảnăng thôi thúc sự phát triển của nhiều ngành và nghành sản xuất khác. – Thứ sáu, phát triển vững chắc là sự nghiệp của toàn Đảng, những cấpchính quyền, những bộ, ngành và địa phương, của những cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, những hội đồng dân cư và mọi người dân. Phải kêu gọi tốiđa sự tham gia của mọi người có tương quan trong việc lựa chọn những quyết địnhvề phát triển kinh tế tài chính – xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên ở địa phương và trên quymô cả nước. Bảo đảm cho nhân dân có năng lực tiếp cận thông tin và nângcao vai trò của những những tầng lớp nhân dân, đặc biệt quan trọng là của phụ nữ, người trẻ tuổi, đồngbào những dân tộc bản địa ít người trong việc góp phần vào quy trình ra quyết định hành động vềcác dự án Bất Động Sản góp vốn đầu tư phát triển lớn, lâu bền hơn của quốc gia. – Thứ bảy, gắn chặt việc thiết kế xây dựng nền kinh tế tài chính độc lập tự chủ với chủ độnghội nhập kinh tế tài chính quốc tế để phát triển bền vững và kiên cố quốc gia. Phát triển những quan hệsong phương và đa phương, triển khai những cam kết quốc tế và khu vực ; tiếp thucó tinh lọc những tân tiến khoa học công nghệ tiên tiến, tăng cường hợp tác quốc tế để pháttriển vững chắc. Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu suất cao, nănglực cạnh tranh đối đầu. Chủ động phòng ngừa, ngăn ngừa những tác động ảnh hưởng xấu so với môitrường do quy trình toàn thế giới hóa và hội nhập kinh tế tài chính quốc tế gây ra. – Thứ tám, phối hợp ngặt nghèo giữa phát triển kinh tế tài chính, phát triển xã hội vàbảo vệ thiên nhiên và môi trường với bảo vệ quốc phòng, bảo mật an ninh và trật tự bảo đảm an toàn xã hội. b ) Các nguyên tắc cơ bản theo cách tiếp cận của ngành du lịch để không tổnhại đến thiên nhiên và môi trường tự nhiên, môi trường tự nhiên kinh tế tài chính, và thiên nhiên và môi trường xã hội – Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển toàn diện và tổng thể kinh tế tài chính xã hội của địa phương. Phát triển du lịch phải có vai trò tương hỗ, dẫn dắt kinh tếđịa phương phát triển. – Khai thác và sử dụng tài nguyên vạn vật thiên nhiên và tài nguyên nhân vănmột cách bền vững và kiên cố. Giảm thiểu chất thải và tiêu thụ quá mức tài nguyên sẽ20góp phần làm giảm ngân sách cho việc giải quyết và xử lý ô nhiễm môi trường tự nhiên và nâng caochất lượng dịch vụ du lịch. – Duy trì tính phong phú tự nhiên, phong phú xã hội và phong phú văn hoá. – Cung cấp thông tin một cách rất đầy đủ cho hành khách, tiếp thị du lịchmột cách có nghĩa vụ và trách nhiệm qua đó giúp hành khách thoả mãn tối đa nhu yếu của mình. – Chú trọng công tác làm việc giảng dạy nguồn nhân lực ship hàng du lịch giúp chodu lịch phát triển phong phú và bền vững và kiên cố hơn. – Lôi kéo sự tham gia của hội đồng địa phương, làm tăng tính tráchnhiệm của hội đồng trong việc phát triển du lịch và bảo vệ thiên nhiên và môi trường. Như vậy, muốn du lịch phát triển vững chắc thì nhất thiết phải tôn trọngcác nguyên tắc cơ bản trên để không tổn hại đến môi trường tự nhiên tự nhiên, môitrường kinh tế tài chính, và thiên nhiên và môi trường xã hội. Du lịch vững chắc sẽ tác động ảnh hưởng tích cựcđến đời sống xã hội và kinh tế tài chính. Du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng và làngành mũi nhọn chỉ khi nó được phát triển một cách bền vững và kiên cố. Mặt khác cầntriển khai những nguyên tắc trên trong hàng loạt mạng lưới hệ thống của nền kinh tế tài chính – xã hộithì khi đó mới đem lại hiệu suất cao cao, hiệu suất cao tốt nhất. 1.2.3. 4. Du lịch vững chắc du lịch, không bền vữngTrong những mô hình du lịch thì có những mô hình du lịch được coi làbền vững hơn những mô hình khác. Thực tế ở hầu hết những nước cho thấy, nhiềuloại hình du lịch phát triển với quy mô rất lớn, do đó trở nên không bền vữngnhư : du lịch tình dục hoặc du lịch 3 – S ( Sun, Sea and Sand : Nắng, Biển vàCát ). Các nhà nghiên cứu cho rằng, phần đông những quy mô du lịch hoàn toàn có thể làmcho bền vững và kiên cố hơn trải qua những biến hóa định lượng hoặc định tính. Bảng 1.2. Loại hình du lịch phân loại theo năng lực tương thíchvới khái niệm du lịch bền vữngTương thích caoDu lịch sinh tháiKhông tương thíchDu lịch bờ biển có thị trường lớnDu lịch văn hóa truyền thống lôi cuốn khách khám phá Kỳ nghỉ có ảnh hưởng tác động xấu đi tới môilịch sử, văn hóa truyền thống của một khu vựctrường tự nhiênĐiểm du lịch đô thị có sử dụng những Du lịch tình dụckhu vực trống21Tương thích caoDu lịch nông thôn có quy mô nhỏKhông tương thíchDu lịch săn bắn và câu cá ở những nơiquản lý kémKỳ nghỉ bảo tồn, trong đó hành khách thực Đi du lịch ở những nơi có môi trườnghiện công tác làm việc bảo tồn trong suốt kỳ nghỉnhạy cảm như rừng nhiệt đới gió mùa, Nam CựcNguồn : [ 19 ] Muốn củng cố khái niệm du lịch vững chắc, nhiều nhà nghiên cứu đãnghiên cứu tác động ảnh hưởng của du lịch và so sánh những yếu tố được coi là bền vững và kiên cố vớicác yếu tố được coi là không bền vững và kiên cố trên cả ba nghành kinh tế tài chính, môi trường tự nhiên, xã hội. Tùy thuộc vào đặc thù của khu du lịch để sử dụng những yếu tố để đánhgiá tính bền vững và kiên cố của phát triển du lịch cho tương thích. Bảng 1.3. Du lịch bền vững và kiên cố và du lịch không bền vữngDu lịch kém vững chắc hơnKhái niệmchung : Du lịch vững chắc hơnPhát triển nhanhPhát triển chậmPhát triển không kiểm soátPhát triển có kiểm soátQuy mô không phù hợpQuy mô phù hợpMục tiêu ngắn hạnMục tiêu dài hạnPhương pháp tiếp cận theo số lượngPhương pháp tiếp cận theo chất lượngTìm kiếm sự tối đaTìm kiếm sự cân bằngKiểm soát từ xaĐịa phương kiểm soátChiến lượcKhông lập kế hoạch, triển khaiphát triển : tùy tiệnQuy hoạch trước, tiến hành sauKế hoạch theo dự ánKế hoạch theo quan điểmPhương pháp tiếp cận theo lĩnh vựcPhương pháp tiếp cận chính luậnTập trung vào những trọng điểmQuan tâm tới cả vùngÁp lực và quyền lợi tập trungPhân tán áp lực đè nén và lợi íchThời vụ và mùa cao điểmQuanh năm và cân bằngCác nhà thầu bên ngoàiCác nhà thầu địa phươngNhân công bên ngoàiNhân công địa phươngKiến trúc theo thị hiếu của khách du lịchKiến trúc bản địaXúc tiến Marketing tràn lanXúc tiến Marketing có tập trung22Du lịch kém vững chắc hơnDu lịch bền vững và kiên cố hơntheo đối tượng người dùng. Sự dụng tài nguyên nước, năng Sử dụng vừa phải tài nguyênNguồn lực : lượng lãng phínước, năng lượngKhông tái sinhTăng cường tái sinhKhông chú ý quan tâm tới tiêu tốn lãng phí sản xuấtGiảm thiểu lãng phíThực phẩm nhập khẩuTiền phạm pháp, không khaibáo rõ ràngThực phẩm sản xuất tại địaphươngTiền hợp phápNguồn nhân lực chất lượng kémNguồn nhân lực có chất lượngSố lượng nhiềuSố lượng ítKhông có nhận thức cụ thểCó thông tin thiết yếu bất kể lúcnàoKhông học tiếng địa phươngHọc tiến địa phươngKhách duBị động và bị thuyết phục, bảo thủChủ động và có nhu cầulịch : Không ý tứ và kỹ lưỡngThông cảm và lịch thiệpTìm kiếm du lịch tình dụcKhông tham gia vào du lịch tìnhdụcLặng lẽ, kỳ quặcLặng lẽ, riêng biệtKhông trở lại tham quanTrở lại tham quanNguồn : [ 19 ] 1.3. Các tiêu chuẩn nhìn nhận phát triển du lịch bền vữngDu lịch là ngành kinh tế tài chính tổng hợp với sự tham gia của nhiều thành phầnxã hội. Sự phát triển của du lịch nhờ vào nhiều vào những điều kiện kèm theo kinh tế tài chính, chính trị của quốc gia cũng như của khu vực, mẫu sản phẩm du lịch được hìnhthành từ nhiều yếu tố. Vì vậy việc xác lập những tín hiệu nhận ra phát triểndu lịch vững chắc là việc làm phức tạp. Các tiêu chuẩn cơ bản của phát triển dulịch vững chắc cần được nghiên cứu và điều tra và xem xét gồm có. 1.3.1. Tiêu chí về kinh tếĐể phát triển du lịch vững chắc phải bảo vệ sự tăng trưởng liên tục và23ổn định lâu dài hơn của những chỉ tiêu kinh tế tài chính du lịch ( lượng khách, thu nhập, GDP, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động … ) Theo xu thế chỉ tiêu kinh tế tài chính phát triểnmức ( 7 – 10 ) % ( xấp xỉ 10 năm ) là phát triển vững chắc. – Khách du lịch : Đây là chỉ tiêu quan trọng quyết định hành động thành công xuất sắc haythất bại. Để bảo vệ cho du lịch phát triển bền vững và kiên cố thì số lượng về kháchtăng năm này qua năm khác, những tiêu chuẩn khác như thời hạn lưu trú, số kháchquay trở lại, mức độ hài lòng … cũng cần được phát triển liên tục và vững chắc. – Thu nhập và tổng số loại sản phẩm quốc nội ngành du lịch : Sự tăngtrưởng liên tục của khách du lịch sẽ kéo theo sự tăng trưởng về thu nhập. Tỷtrọng GDP du lịch càng cao, ổ định và tăng trưởng theo thời hạn thì ngành dulịch càng phát triển gần với tiềm năng phát triển bền vững và kiên cố. – Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch : Phải được góp vốn đầu tư đồng điệu, phát triển về số lượng, chủng loại và chất lượng cung ứng nhu yếu, mê hoặc, lôi cuốn khách du lịch. Bao gồm ( cơ sở lưu trú, siêu thị nhà hàng, đi dạo vui chơi, điểm / khu du lịch, y tế, thông tin liên lạc, phương tiện đi lại luân chuyển … ). – Nguồn nhân lực du lịch : Phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơcấu của đội ngũ lao động du lịch sẽ bảo vệ cho sự phát triển về chất lượngcác loại sản phẩm và dịch vụ du lịch. – Tuyên truyền tiếp thị du lịch : Đây là hoạt động giải trí có ý nghĩa quantrọng trong việc lôi cuốn khách du lịch, cung ứng vừa đủ, trung thực thông tinvề tuyến điểm, mẫu sản phẩm du lịch sẽ tạo lòng tin cho hành khách. 1.3.2. Tiêu chí về xã hội – Tác động đến xã hội : Để bảo vệ phát triển vững chắc, những tác độngtiêu cực đến xã hội từ những hoạt động giải trí phát triển du lịch cần phải được kiểmsoát và quản trị. Cần thiết phải có văn bản pháp lý nhà nước, pháp luật củađịa phương và năng lượng triển khai của cả cỗ máy. Hiệu quả của hoạt động giải trí nàyđược bộc lộ qua số lượng những vụ vi phạm được phát hiện và giải quyết và xử lý. – Phát triển mạng lưới hệ thống những doanh nghiệp du lịch : Ngoài ý nghĩa về mặtkinh tế, việc phát triển mạng lưới hệ thống những doanh nghiệp có ý nghĩa cao về mặt xãhội, tạo điều kiện kèm theo để một bộ phận lao động địa phương có công ăn việc làm, 24 cải tổ chất lượng đời sống nâng cao dân trí, lôi cuốn nguồn lực to lớn củaxã hội ( nhân lực, vật lực, trí lực ) cho phát triển du lịch. – Mức độ hài lòng và hợp tác của hội đồng địa phương : Cộng đồngdân cư địa phương – gia chủ của những nguồn tài nguyên du lịch là người bảovệ nguồn tài nguyên và thiên nhiên và môi trường, ủng hộ và hợp tác so với phát triển dulịch vững chắc. Vai trò – quyền lợi – nghĩa vụ và trách nhiệm của họ phải được chăm sóc. ( Phát huy vai trò của hội đồng trong việc thiết kế xây dựng và tiến hành quy hoạch, Giám sát triển khai những dự án Bất Động Sản góp vốn đầu tư, mức độ tham gia của hội đồng vào cáchoạt động kinh doanh du lịch, ưu tiên hội đồng tham gia góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng vàphát triển du lịch, phúc lợi chung của hội đồng được nâng cao ). 1.3.3. Tiêu chí về thiên nhiên và môi trường – Số lượng những khu, điểm du lịch được góp vốn đầu tư tôn tạo và bảo tồn : Mụctiêu phát triển bền vững và kiên cố là nhằm mục đích hạn chế tối đa việc khai thác quá mức vàlãng phí những nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên tự nhiên không có khả năngtái tạo. Nơi nào có nhiều khu, điểm du lịch được góp vốn đầu tư, bảo tồn, tôn tạo thìchứng tỏ hoạt động giải trí phát triển ở nơi đó với tiềm năng phát triển vững chắc. – Số lượng những khu, điểm du lịch được quy hoạch : Là một tiêu chuẩn quantrọng nhằm mục đích xác lập những giải pháp phát triển tương thích, bảo vệ việc khaithác có hiệu suất cao tiềm năng tài nguyên du lịch và đề xuất kiến nghị những giải pháp nhằmhạn chế tác động của hoạt động giải trí du lịch đến tài nguyên môi trường tự nhiên, mang lạihiệu quả cao về kinh tế tài chính xã hội. – Áp lực lên môi trường tự nhiên : Liên quan đến năng lực sức chứa, đó là quản lýsố lượng khách đến không vượt quá năng lực cung ứng về tài nguyên và khônglàm tác động ảnh hưởng đến năng lực phát triển của những hệ sinh thái trong khu vực. – Cường độ hoạt động giải trí tại những khu, điểm du lịch : Số lượng khách đếnđiểm du lịch càng tăng chứng tỏ sự vững mạnh của điểm du lịch nhưng khôngđược vượt quá tiêu chuẩn được cho phép về môi trường tự nhiên, về tiêu thụ nguồn năng lượng vàsức chứa. Việc ngày càng tăng can đảm và mạnh mẽ về số lượng khách sẽ đồng nghĩa tương quan với việc25các nguồn tài nguyên du lịch bị khai thác quá mức dẫn đến suy thoái và khủng hoảng và cạnkiệt tài nguyên, do đó việc phải số lượng giới hạn số lượng khách đến trong một chu kỳphát triển là một yếu tố quan trọng và cấp bách. – Mức độ góp phần từ du lịch cho công tác làm việc bảo tồn, phát triển tàinguyên và bảo vệ thiên nhiên và môi trường : Được biểu lộ qua tỷ suất qua tỷ suất giữa phầnđóng góp và tổng nguồn thu. Tỷ lệ này càng lớn thì mức góp phần càng caovà bảo vệ cho việc khai thác những nguồn tài nguyên ship hàng phát triển du lịchtheo hướng vững chắc. 1.4. Vai trò của phát triển du lịch vững chắc trong nền kinhtế – xã hội hiện nayDu lịch của một nước phát triển làm tăng ngân sách nhà nước, giảiquyết đời sống xã hội, thôi thúc nhiều ngành kinh tế tài chính có tương quan phát triểntheo. Theo Báo Nhân Dân [ 2 ], trên quốc tế nhiều nước do du lịch phát triểnđã đem lại cho ngân sách nguồn thu ngoại tệ lớn. Năm 2012 châu Âu đạt mứctăng trưởng mạnh nhất 6 %, nhất là khu vực Trung, Đông và Nam Âu cũngnhư vùng Địa Trung Hải. Tỷ lệ tăng trưởng này vượt ước tính bắt đầu và tănggấp hai lần mức tăng trưởng du lịch trung bình tới châu Âu năm 2000. Ngànhdu lịch Anh đạt lệch giá kỷ lục từ khách du lịch quốc tế trong năm 2013 với 22 tỷ USD trong tám tháng đầu năm. Tại Hy Lạp, vương quốc bị khủnghoảng kinh tế tài chính nặng nề thì ngành “ công nghiệp không khói ” nước này đón sốlượng khách quốc tế cao kỷ lục 17 triệu người, với lệch giá trực tiếp tăng10 %, lên mức 11 tỷ Euro. Tại châu Á, Trung Quốc đứng vị trí số 1 về tăng trưởng dulịch, với số khách du lịch quốc tế tăng 22 % và thu nhập du lịch trongnước của Trung Quốc năm vừa mới qua đạt 26 nghìn tỷ NDT, tăng 14 % so vớinăm 2012. Trong khu vực, ngành du lịch Inđônêxia vẫn duy trì được nhịp độtăng trưởng hơn 7 % trong năm 2013 với lượng khách du lịch quốc tế hơn 8,63 triệu lượt người và đem lại tổng doanh thu ngoại tệ 9,78 tỷ USD, lôi cuốn hơn10 triệu lao động. Tại châu Mỹ, Mê-hi-cô cũng là một điểm sáng du lịch của

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập