Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo – Tài liệu text

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (138.44 KB, 7 trang )

LỜI NÓI ĐẦU
Trong số các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân,
khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong
xét xử được đảm bảo”. Đây là một trong những đổi mới đáng chú ý vì lần đầu
tiên Hiến pháp đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử. Nó
không chỉ là phương tiện, là cách thức để tìm ra chân lý, làm sáng tỏ sự thật
khách quan mà còn là cách thức nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng tranh
tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử được coi là một trong những khâu đột phá
của hoạt động tư pháp. Tạo ra môi trường dân chủ bình đẳng trong quan hệ tố
tụng, buộc các chủ thể có thẩm quyền từ điều tra, truy tố, xét xử nâng cao năng
lực, trình độ, hạn chế được chủ quan, duy ý chí trong đấu tranh phòng chống tội
phạm.
Từ những nhận định trên, em xin chọn đề tài: Phân tích nội dung và ý nghĩa
“nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.

NỘI DUNG
NỘI DUNG “NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ

I.
1.

ĐƯỢC BẢO ĐẢM” (KHOẢN 5 ĐIỀU 103 HIẾN PHÁP 2013)
Định nghĩa “tranh tụng”
Theo từ điển tiếng Việt, tranh tụng có nghĩa là sự kiện cáo lẫn nhau. Còn
theo Hán Việt, thì thuật ngữ tranh tụng được ghép từ hai từ “tranh luận”
và “tố tụng”. Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng.

Quy định của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 về nguyên tắc “Bảo đảm

tranh tụng trong xét xử” thì tranh tụng là hoạt động của các bên tham gia

xét xử đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một
phần hoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia. Tranh tụng là cơ sở để
Tòa án đánh giá toàn bộ nội dung vụ án và đưa ra phán quyết cuối cùng
đảm bảo tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
2. Nội dung nguyên tắc

Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
được bảo đảm” (khoản 5 Điều 103). Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013,
Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Nguyên tắc tranh
tụng trong xét xử được bảo đảm. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho
những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử.
Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo quy định của
luật tố tụng” (Điều 13).

Thứ nhất, tranh tụng thực chất là hình thức tố tụng mà trong đó các bên tham
gia tố tụng thực hiện việc chứng minh các tình tiết của vụ án, cho phép các bên
tham gia tố tụng thực hiện việc chứng minh, đặc biệt là chứng minh tại phiên
tòa. Việc đổi mới thủ tục tranh tụng tại phiên tòa được TAND coi là khâu đột
phá để nâng cao công tác xét xử, đảm bảo những phán quyết của Tòa án đúng
luật, mang lại công lý, niềm tin cho nhân dân và xã hội. Việc đổi mới thủ tục xét
hỏi và tranh luận không chỉ ở các phiên tòa xét xử hình sự mà được áp dụng đối
với cả các phiên tòa xét xử hình sự, dân sự, hành chính.
Trước đây, nguyên tắc tố tụng của Nhà nước ta chỉ là xét hỏi. Khi chủ tọa phiên
tòa chủ động hỏi và bị cáo trả lời tạo ra một sự bất bình đẳng giữa một bên là
Nhà nước, là tòa án và các cơ quan có thẩm quyền còn bên kia là bị cáo, đương
sự hoặc là những người có liên quan, không tạo ra được bầu không khí thật sự

dân chủ. Để khắc phục tình trạng trên, Hiến pháp 2013 đã quy định “nguyên tắc
tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Việc xét xử sơ thẩm của TAND có hội
thẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp theo thủ tục rút gọn. Đây là cơ sở phù

hợp để tạo điều kiện cho cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị,
là cách thức để tìm ra chân lý, làm sáng tỏ sự thật khách quan. Đặc biệt, tranh
tụng sẽ là cách nâng cao nhận thức, tạo ra môi trường dân chủ bình đẳng trong
quan hệ tố tụng, buộc các chủ thể có thẩm quyền từ điều tra, truy tố, xét xử phải
nâng cao năng lực trình độ, hạn chế được chủ quan, duy ý chí trong đấu tranh
phòng chống tội phạm. Nguyên tắc này góp phần rất quan trọng để Tòa án xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan sai, bảo đảm
cho nền tư pháp nước ta là một nền tư pháp dân chủ, công bằng và công lý.
Thứ hai, tranh tụng là một trong những bảo đảm pháp lý để người tham gia
tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình. Trong quá trình tố tụng
cũng như tại phiên tòa, người tham gia tố tụng có các quyền và nghĩa vụ tố tụng
tương ứng. thực hiện tốt việc tranh tụng thực chất là bảo đảm cho người tham
gia tố tụng thực hiện các quyền tố tụng của mình. Chỉ trong quá trình tố tụng có
sự tranh tụng, người tham gia tố tụng mới có các điều kiện pháp lý để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến vụ án. Tính tranh tụng càng
cao thì điều kiện cho người xem xét để ra quyết định đúng đắn, khách quan và
đúng pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố
tụng.
Thứ ba, tranh tụng có vai trò giáo dục quan trọng. Nhiệm vụ của hoạt động
tố tụng không chỉ là giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án, bảo vệ lợi ích xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, mà còn giáo dục công dân tuân thủ
pháp luật, ngăn ngừa vi phạm pháp luật.
Tranh tụng tại phiên tòa đòi hỏi sự có mặt của những người tham gia tố tụng.
Việc tranh luận trực tiếp, công khai tại phiên tòa không hạn chế về thời gian,
nơi những người tiến hành tố tụng đánh giá các hành vi vi phám pháp luật cần

được áp dụng, giúp cho những người tham gia tố tụng và những người tham dự
phiên tòa nâng cao nhận thức về pháp luật, xác định định hướng giá trị trong

hành vi, giúp cho việc tuân thủ pháp luật được thực hiện có hiệu quả và đúng
đắn hơn. Bằng phiên tòa công khai, dân chủ, những người tham gia tố tụng
được tạo mọi điều kiện để thực hiện quyền tố tụng của mình, được xét hỏi, tranh
luận công khai, quyết định của Tòa án được đưa ra trên cơ sở chứng cứ được
xem xét công khai tại phiên tòa, việc phán quyết của Tòa án tạo ra trong quá
trình xét xử làm cho người tham dự phiên tòa và người tham gia tố tụng có long
tin vào pháp luật. Lòng tin đó là cơ sở để công dân tự giác tuân thủ pháp luật,
tích cực tham gia vào hoạt động phòng ngừa vi phạm pháp luật.

II.

Ý NGHĨA
 Thứ nhất, quy định nguyên tắc tranh tụng trong Hiến pháp đã thể chế

hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp.
Từ trước tới nay vấn đề tranh tụng và nâng cao chất lượng tranh tụng được
quan tâm và đề cập tới nhiều. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương về
vấn đề này, cụ thể: tranh tụng là một trong những nội dung quan trọng, mang
tính đột phá trong cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta đã được xác định trong
Nghị quyết 08/NQ/TW của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trong tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới : “Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến
của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn
và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án đúng pháp luật,
có sức thuyết phục và trong thời hạn quy định” và Nghị quyết của Bộ chính trị
số 49/TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “đổi

mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách
nhiệm của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng
bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng

tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Nghị
quyết 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 yêu cầu: “Kiểm sát viên phải chủ động,
tích cực tranh luận, đối đáp tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự… Tòa án
nhân dân tối cao chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên
tòa”.
Mặc dù đã được quy định như vậy nhưng các quy định ở trên còn thiếu tính cụ
thể, nhất là chưa có văn bản pháp lý nào chính thức ghi nhận nguyên tắc bảo
đảm và cơ chế bảo đảm tranh tụng nên thực tiễn hoạt động chưa phát huy hiệu
quả. Do vậy, việc Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể, rõ ràng nguyên tắc bảo
đảm tranh tụng trong xét xử là một bước tiến lớn và rất phù hợp với tinh thần
cải cách tư pháp của Nhà nước ta.
 Thứ hai, quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

trong Hiến pháp 2013 tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức
lẫn hoạt động thực tiễn trong việc xét xử.
Những quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã và đang phát huy
hiệu lực trên thực tiễn của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Công tác
điều tra, truy tố, xét xử ngày càng hiệu quả, việc tranh luận tại phiên tòa bảo
đảm tính dân chủ, khách quan. Tuy nhiên so với tình hình đặt ra thì hoạt động
tranh tụng chưa đáp ứng yêu cầu. Có phiên tòa chưa thực sự bảo đảm quyền bào
chữa của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, số lượng án hủy, sửa còn
nhiều. Về mặt nhận thức vẫn tồn tại quan niệm“án bỏ túi”, “án tại hồ sơ” dẫn
đến tâm lý xem nhẹ hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Nguyên nhân của tình
hình trên có nhiều, trong đó có nguyên nhân từ những quy định của pháp luật về
tranh tụng và bảo đảm tranh tụng chưa rõ ràng, cụ thể nên hiệu lực chưa cao.

Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định chính thức về nguyên tắc bảo đảm tranh
tụng như vậy sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ tư pháp,

của công dân trong quá trình thực hiện các quyền năng khi tham gia tranh tụng.
Đồng thời thực tiễn xét xử sẽ thay đổi, với bước tiến mới trọng tâm là hoạt động
tranh tụng được bảo đảm, phát huy tối đa tính công bằng, dân chủ.
 Thứ ba, việc quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo

đảm trong Hiến pháp 2013 là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện các
quy định về bảo đảm tranh tụng trong các văn bản pháp luật tố tụng.
Hiến pháp là đạo luật gốc, văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất. Do vậy, khi
Hiến pháp quy định về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng như vậy thì những quy
định trong bộ luật, luật, các văn bản dưới luật chưa rõ ràng, không thống nhất
phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, tạo sự thống nhất trong việc vận dụng pháp
luật, đặc biệt đòi hỏi cần xây dựng quy định cụ thể về phương thức bảo đảm
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

KẾT LUẬN
Như vậy, tranh tụng có nội dung, vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong quá
trình tố tụng. Lần đầu tiên Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm, đó là một đổi mới mang tính lịch sử và là cơ sở pháp lý cho
Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính cụ thể
hóa, chi tiết hóa nhằm đảm bảo sự khách quan, công khai, minh bạch trong hoạt
động xét xử của tòa án, giúp tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, khắc
phục hạn chế oan sai đối với các vụ án hình sự hoặc giải quyết đúng đắn đối với
các vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Mục lục

tranh tụng trong xét xử ” thì tranh tụng là hoạt động giải trí của những bên tham giaxét xử đưa ra những quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ mộtphần hoặc hàng loạt quan điểm của phía bên kia. Tranh tụng là cơ sở đểTòa án nhìn nhận hàng loạt nội dung vụ án và đưa ra phán quyết cuối cùngđảm bảo tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp lý. 2. Nội dung nguyên tắcHiến pháp năm 2013 đã bổ trợ “ Nguyên tắc tranh tụng trong xét xửđược bảo vệ ” ( khoản 5 Điều 103 ). Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức triển khai TANDTC nhân dân năm năm trước pháp luật : “ Nguyên tắc tranhtụng trong xét xử được bảo vệ. Tòa án có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ chonhững người tham gia tố tụng thực thi quyền tranh tụng trong xét xử. Việc thực thi nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo lao lý củaluật tố tụng ” ( Điều 13 ). Thứ nhất, tranh tụng thực ra là hình thức tố tụng mà trong đó những bên thamgia tố tụng triển khai việc chứng tỏ những diễn biến của vụ án, được cho phép những bêntham gia tố tụng thực thi việc chứng tỏ, đặc biệt quan trọng là chứng tỏ tại phiêntòa. Việc thay đổi thủ tục tranh tụng tại phiên tòa xét xử được TANDTC coi là khâu độtphá để nâng cao công tác làm việc xét xử, đảm bảo những phán quyết của Tòa án đúngluật, mang lại công lý, niềm tin cho nhân dân và xã hội. Việc thay đổi thủ tục xéthỏi và tranh luận không riêng gì ở những phiên tòa xét xử xét xử hình sự mà được vận dụng đốivới cả những phiên tòa xét xử xét xử hình sự, dân sự, hành chính. Trước đây, nguyên tắc tố tụng của Nhà nước ta chỉ là xét hỏi. Khi chủ tọa phiêntòa dữ thế chủ động hỏi và bị cáo vấn đáp tạo ra một sự bất bình đẳng giữa một bên làNhà nước, là TANDTC và những cơ quan có thẩm quyền còn bên kia là bị cáo, đươngsự hoặc là những người có tương quan, không tạo ra được bầu không khí thật sựdân chủ. Để khắc phục thực trạng trên, Hiến pháp 2013 đã lao lý “ nguyên tắctranh tụng trong xét xử được bảo vệ ”. Việc xét xử xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân có hộithẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp theo thủ tục rút gọn. Đây là cơ sở phùhợp để tạo điều kiện kèm theo cho cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, là phương pháp để tìm ra chân lý, làm sáng tỏ thực sự khách quan. Đặc biệt, tranhtụng sẽ là cách nâng cao nhận thức, tạo ra môi trường tự nhiên dân chủ bình đẳng trongquan hệ tố tụng, buộc những chủ thể có thẩm quyền từ tìm hiểu, truy tố, xét xử phảinâng cao năng lượng trình độ, hạn chế được chủ quan, duy ý chí trong đấu tranhphòng chống tội phạm. Nguyên tắc này góp thêm phần rất quan trọng để Tòa án xétxử đúng người, đúng tội, đúng pháp lý, hạn chế thực trạng oan sai, bảo đảmcho nền tư pháp nước ta là một nền tư pháp dân chủ, công minh và công lý. Thứ hai, tranh tụng là một trong những bảo vệ pháp lý để người tham giatố tụng triển khai rất đầy đủ những quyền tố tụng của mình. Trong quy trình tố tụngcũng như tại phiên tòa xét xử, người tham gia tố tụng có những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm tố tụngtương ứng. triển khai tốt việc tranh tụng thực ra là bảo vệ cho người thamgia tố tụng triển khai những quyền tố tụng của mình. Chỉ trong quy trình tố tụng cósự tranh tụng, người tham gia tố tụng mới có những điều kiện kèm theo pháp lý để bảo vệquyền và quyền lợi hợp pháp của mình tương quan đến vụ án. Tính tranh tụng càngcao thì điều kiện kèm theo cho người xem xét để ra quyết định hành động đúng đắn, khách quan vàđúng pháp lý, bảo vệ những quyền và quyền lợi hợp pháp của người tham gia tốtụng. Thứ ba, tranh tụng có vai trò giáo dục quan trọng. Nhiệm vụ của hoạt độngtố tụng không chỉ là xử lý đúng đắn, khách quan vụ án, bảo vệ quyền lợi xãhội, quyền và quyền lợi hợp pháp của công dân, mà còn giáo dục công dân tuân thủpháp luật, ngăn ngừa vi phạm pháp lý. Tranh tụng tại phiên tòa xét xử yên cầu sự xuất hiện của những người tham gia tố tụng. Việc tranh luận trực tiếp, công khai minh bạch tại phiên tòa xét xử không hạn chế về thời hạn, nơi những người triển khai tố tụng nhìn nhận những hành vi vi phám pháp lý cầnđược vận dụng, giúp cho những người tham gia tố tụng và những người tham dựphiên tòa nâng cao nhận thức về pháp lý, xác lập xu thế giá trị tronghành vi, giúp cho việc tuân thủ pháp lý được thực thi có hiệu suất cao và đúngđắn hơn. Bằng phiên tòa xét xử công khai minh bạch, dân chủ, những người tham gia tố tụngđược tạo mọi điều kiện kèm theo để triển khai quyền tố tụng của mình, được xét hỏi, tranhluận công khai minh bạch, quyết định hành động của Tòa án được đưa ra trên cơ sở chứng cứ đượcxem xét công khai minh bạch tại phiên tòa xét xử, việc phán quyết của Tòa án tạo ra trong quátrình xét xử làm cho người tham gia phiên tòa xét xử và người tham gia tố tụng có longtin vào pháp lý. Lòng tin đó là cơ sở để công dân tự giác tuân thủ pháp lý, tích cực tham gia vào hoạt động giải trí phòng ngừa vi phạm pháp lý. II.Ý NGHĨA  Thứ nhất, lao lý nguyên tắc tranh tụng trong Hiến pháp đã thể chếhóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp. Từ trước tới nay yếu tố tranh tụng và nâng cao chất lượng tranh tụng đượcquan tâm và đề cập tới nhiều. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương vềvấn đề này, đơn cử : tranh tụng là một trong những nội dung quan trọng, mangtính cải tiến vượt bậc trong cải cách tư pháp lúc bấy giờ ở nước ta đã được xác lập trongNghị quyết 08 / NQ / TW của Bộ chính trị về 1 số ít trách nhiệm trong tâm công táctư pháp trong thời hạn tới : “ Việc phán quyết của tòa án nhân dân phải địa thế căn cứ vào kếtquả tranh tụng tại phiên tòa xét xử, trên cơ sở xem xét tổng lực những chứng cứ, ý kiếncủa kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơnvà những người có quyền, quyền lợi hợp pháp để ra những bản án đúng pháp lý, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật ” và Nghị quyết của Bộ chính trịsố 49 / TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 : “ đổimới việc tổ chức triển khai phiên tòa xét xử xét xử, xác lập rõ hơn vị trí, quyền hạn, tráchnhiệm của những người triển khai tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướngbảo đảm tính công khai minh bạch, dân chủ, nghiêm minh ; nâng cao chất lượng tranh tụngtại những phiên tòa xét xử xét xử, coi đây là khâu cải tiến vượt bậc của hoạt động giải trí tư pháp ”. Nghịquyết 37 / NQ-QH13 ngày 23/11/2012 nhu yếu : “ Kiểm sát viên phải dữ thế chủ động, tích cực tranh luận, đối đáp tại phiên tòa xét xử xét xử những vụ án hình sự … Tòa ánnhân dân tối cao chỉ huy những Tòa án liên tục tăng cường việc tranh tụng tại phiêntòa ”. Mặc dù đã được pháp luật như vậy nhưng những lao lý ở trên còn thiếu tính cụthể, nhất là chưa có văn bản pháp lý nào chính thức ghi nhận nguyên tắc bảođảm và chính sách bảo vệ tranh tụng nên thực tiễn hoạt động giải trí chưa phát huy hiệuquả. Do vậy, việc Hiến pháp năm 2013 lao lý đơn cử, rõ ràng nguyên tắc bảođảm tranh tụng trong xét xử là một bước tiến lớn và rất tương thích với tinh thầncải cách tư pháp của Nhà nước ta.  Thứ hai, lao lý nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảmtrong Hiến pháp 2013 tạo sự chuyển biến can đảm và mạnh mẽ cả về nhận thứclẫn hoạt động giải trí thực tiễn trong việc xét xử. Những pháp luật pháp lý tố tụng hình sự hiện hành đã và đang phát huyhiệu lực trên thực tiễn của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Công tácđiều tra, truy tố, xét xử ngày càng hiệu suất cao, việc tranh luận tại phiên tòa xét xử bảođảm tính dân chủ, khách quan. Tuy nhiên so với tình hình đặt ra thì hoạt độngtranh tụng chưa phân phối nhu yếu. Có phiên tòa xét xử chưa thực sự bảo vệ quyền bàochữa của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, số lượng án hủy, sửa cònnhiều. Về mặt nhận thức vẫn sống sót ý niệm “ án bỏ túi ”, “ án tại hồ sơ ” dẫnđến tâm ý xem nhẹ hoạt động giải trí tranh tụng tại phiên tòa xét xử. Nguyên nhân của tìnhhình trên có nhiều, trong đó có nguyên do từ những lao lý của pháp lý vềtranh tụng và bảo vệ tranh tụng chưa rõ ràng, đơn cử nên hiệu lực hiện hành chưa cao. Hiến pháp sửa đổi năm 2013 lao lý chính thức về nguyên tắc bảo vệ tranhtụng như vậy sẽ tạo sự chuyển biến can đảm và mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ tư pháp, của công dân trong quy trình thực thi những quyền lực khi tham gia tranh tụng. Đồng thời thực tiễn xét xử sẽ đổi khác, với bước tiến mới trọng tâm là hoạt độngtranh tụng được bảo vệ, phát huy tối đa tính công minh, dân chủ.  Thứ ba, việc lao lý nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảođảm trong Hiến pháp 2013 là tiền đề để kiến thiết xây dựng và hoàn thành xong cácquy định về bảo vệ tranh tụng trong những văn bản pháp lý tố tụng. Hiến pháp là luật đạo gốc, văn bản pháp lý có hiệu lực thực thi hiện hành cao nhất. Do vậy, khiHiến pháp lao lý về nguyên tắc bảo vệ tranh tụng như vậy thì những quyđịnh trong bộ luật, luật, những văn bản dưới luật chưa rõ ràng, không thống nhấtphải sửa đổi, bổ trợ cho tương thích, tạo sự thống nhất trong việc vận dụng phápluật, đặc biệt quan trọng yên cầu cần kiến thiết xây dựng lao lý đơn cử về phương pháp bảo đảmnguyên tắc tranh tụng trong xét xử. KẾT LUẬNNhư vậy, tranh tụng có nội dung, vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong quátrình tố tụng. Lần tiên phong Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xétxử được bảo vệ, đó là một thay đổi mang tính lịch sử dân tộc và là cơ sở pháp lý choBộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính cụ thểhóa, cụ thể hóa nhằm mục đích đảm bảo sự khách quan, công khai minh bạch, minh bạch trong hoạtđộng xét xử của TANDTC, giúp tòa án nhân dân xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp lý, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, khắcphục hạn chế oan sai so với những vụ án hình sự hoặc xử lý đúng đắn đối vớicác vụ án khác theo lao lý của pháp lý. Mục lục

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập