(Luận văn thạc sĩ) HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – Tài liệu text
(Luận văn thạc sĩ) HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.35 MB, 84 trang )
Bạn đang đọc: (Luận văn thạc sĩ) HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – Tài liệu text
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN LONG
HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội – 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN LONG
HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO
Hà Nội – 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này được thực hiện bởi bản thân
tôi, các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa
công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.
Luận văn có sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các cá nhân tác giả,
cơ quan tổ chức khác nhưng đều có trích dẫn, chú thích ghi rõ nguồn gốc.
Tôi hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu này của mình.
Tác giả luận văn
LÊ VĂN LONG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1
Chương 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT Ở ……………………………………………………………………………………………..7
1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền sử dụng đất…………………………………………….7
1.2. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở ………….16
1.3. Vai trò của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở.Error! Bookmark not
defined.
1.4. Cơ cấu pháp luật điều chỉnh hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. …….22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TẶNG
CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
……………………………………………………………………….. Error! Bookmark not defined.
2.1. Thực trạng của pháp luật về thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
ở …………………………………………………………………………………………………………..29
2.2.Một số hạn chế, vướng mắc của pháp luật thực định khi xác lập, thực hiện
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. …………………………………………………… 52
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TẶNG CHO
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY…..67
3.1.Định hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam ……………………………………………………… 67
3.2.Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao nâng cao hiệu quả của việc thực hiện
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam hiện nay …………69
KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………………..75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………… 76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. QSDĐ
:
Quyền sử dụng đất.
2. GCN QSDĐ :
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3. BLDS
:
Bộ luật dân sự.
4. CP
:
Chính phủ.
5. TW
:
Trung ương.
6. HĐTCTS
:
Hợp đồng tặng cho tài sản.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai có một ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc, gắn liền với mỗi gia đình, cơ
quan, tổ chức, đơn vị kinh tế, xã hội và nhà nước. Dưới góc độ kinh tế quyền sử dụng
đất trở thành một quyền tài sản đặc biệt quan trọng của công dân. Nhà nước ngày
càng tạo thuận lợi cho công dân trong việc đưa quyền sử dụng đất vào giao dịch trong
dân sự góp phần thúc đẩy kinh tế gia đình và xã hội thông qua hệ thống pháp luật. Do
tính ổn định của pháp luật đất đai của nước ta chưa cao, chưa có tính dài lâu, đặc biệt
có thời kỳ pháp luật đất đai chưa phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội đã tạo ra các
hoạt động ngầm trong lĩnh vực đất đai mà nhà nước không kiểm soát được. Nhiều
trường hợp có “xung đột” giữa pháp luật với thực tiễn cuộc sống. Vì vậy sự điều
chỉnh quan hệ đất đai của nhà nước qua từng thời kỳ đều có tác động lên tất cả các
chủ thể trong xã hội…Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở là một trong những
loại hợp đồng quan trọng của giao dịch dân sự, bởi nó là một quan hệ dân sự phổ biến
trong cuộc sống của nhân dân đồng thời cũng là một trong những phương thức pháp
lý hữu hiệu giúp cho các chủ thể có quyền sử dụng đất hợp pháp xác lập và thực hiện
việc chuyển quyền sử dụng đất nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sản xuất kinh doanh
và trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.
Luật đất đai năm 2003(có hiệu lực từ ngày 01/07/2004); Bộ luật dân sự năm
2005(có hiệu lực từ ngày 01/01/2007) đến Luật đất đai năm 2013(có hiệu lực từ ngày
01/07/2014) tiếp sau đó là Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015(có hiệu lực từ ngày
01/01/2017) đã có những quy định cụ thể chi tiết và tương đối hoàn thiện về việc xác
lập, thực hiện cũng như các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất. Với những quy định điều kiện về chủ thể của hợp đồng, đối tượng của hợp
đồng, khi nào thì người sử dụng đất hợp pháp được thực hiện quyền của người sử
dụng đất …đã góp một phần tạo nên sự ổn định về quan hệ tặng cho quyền sử dụng
đất trong giai đoạn hiện nay.
Nhưng việc tặng cho quyền sử dụng đất ở nước ta từ trước cho tới nay diễn ra
rất đa dạng phong phú và trải qua nhiều thời kỳ khác nhau. Thời kỳ từ bản Hiến pháp
năm 1980 tới Luật đất đai năm 1987; Thời kỳ từ bản Hiến pháp năm 1992, Luật đất
1
đai năm 1993 tới Bộ luật dân sự năm 1995; Thời kỳ từ Luật đất đai năm 2003 đến Bộ
luật dân sự năm 2005 và đến nay là bản Hiến pháp năm 2013, Luật đất đai năm 2013
và Bộ luật dân sự năm 2015. Trong mỗi thời kỳ lại có những kế thừa, thay đổi, bổ
sung về pháp luật đất đai nhằm định hướng và tạo động lực thúc đẩy sự phát triển
không ngừng của đời sống kinh tế xã hội. Vì vậy việc nghiên cứu các quy định của
pháp luật về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở nước ta hiện nay để làm rõ cơ
sở lý luận. Đây là công trình chuyên khảo phân tích một cách có hệ thống và toàn
diện về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phần nhiều các nước trên thế giới đều công nhận sở hữu tư nhân về đất đai. Vì
vậy việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa các chủ thể trong xã hội được quy định
tương tự như việc tặng cho tài sản thông thường khác giữa các chủ thể này. Ở nước
ta, tại các Bộ luật Hồng Đức; Bộ dân luật Nam kỳ; Bộ dân luật Bắc kỳ thì việc tặng
cho quyền sử dụng đất giữa các chủ thể trong xã hội là không cấm. Khi Luật đất đai
năm 1987 ra đời thì đã có một sự thay đổi lớn đó là quy định đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý được quy định tại Điều 1. Nhưng lại không
có bất kỳ một điều luật nào trong Luật đất đai năm 1987 quy định về việc tặng cho
quyền sử dụng đất. Đến Luật đất đai năm 1993 cũng không có điều luật nào quy định
về tặng cho quyền sử dụng đất; Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời đã đặt nền móng đầu
tiên và đã có quy định về hợp đồng tặng cho bất động sản nhưng lại không nêu rõ chủ
thể nào; loại đất nào được phép tặng cho. Cho đến khi Luật đất đai năm 2003 và Bộ
luật Dân sự năm 2005 ra đời thì mới có những quy định cụ thể về việc tặng cho quyền
sử dụng đất giữa các chủ thể trong xã hội. Trong đời sống việc tặng cho bao gồm cả việc
tặng cho tài sản giữa cá nhân với cá nhân và việc tặng cho người khác tài sản hợp pháp
của mình là chuyện bình thường. Nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân tặng cho nhà tình
nghĩa, nhà tình thương đối với cá nhân, gia đình người có công đối với đất nước trong
công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước và đối với người có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt
được thực hiện hàng năm để tri ân đối với các gia đình, cá nhân được hưởng chính sách
ưu đãi của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và để gắn bó tình đoàn kết
với người có hoàn cảnh khó khăn.
2
Về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã có một số công trình nghiên cứu
của các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực đất đai và trong
Ngành tòa án. Các luận văn nghiên cứu sinh, luận văn thạc sĩ. Các chuyên đề nghiên
cứu được công bố trên các tạp chí của các chuyên gia đầu ngành như TS. Nguyễn Hải
An (2011), “Cơ sở lý luận và thực tiễn về tặng cho quyền sử dụng đất”, Luận án tiến
sĩ; Lê Xuân Bá: ”Sự hình thành và phát triển của thị trường bất động sản trong công
cuộc đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Khoa học kỹ thuật, 2003; Đỗ Văn Chỉnh (2008),
“Tặng cho quyền sử dụng đất thực tiễn và tồn tại”, Tạp chí tòa án nhân dân tháng 22008; Đỗ Văn Đại (2009), “Thời điểm hợp đồng tặng cho có hiệu lực ở Việt Nam”,
Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II tháng 1 – 2009; Trần Thị Minh (2020), “Tặng cho
quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ…về cơ bản
đã làm rõ về mặt lí luận, thực tiễn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về Hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở thì chưa có nhiều. Vì vậy việc nghiên cứu khoa
học một cách chuyên sâu về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở có ý nghĩa thiết
thực về mặt lý lận, cũng như thực tiễn áp dụng đưa ra những giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định của loại hợp đồng này. Tác giả chọn đề tài “Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cũng
nhắm tới mục đích nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là xây dựng cơ sở lý luận pháp luật
về hợp đồng tặng cho QSDĐ ở. Với cơ sở lý luận đó tác giả luận văn phân tích, đánh
giá các quy định của pháp luật thực định cũng như những phát sinh diễn ra trong thực
tiễn khi áp dụng pháp luật tặng cho QSDĐ ở. Nhận diện mối quan hệ giữa lý luận,
pháp luật và việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn của tặng cho QSDĐ ở. Nhận diện
những bất cập và những nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp hợp đồng tặng cho
QSDĐ ở. Từ đó xác định được những bất cập trong thực tiễn để đưa ra đề xuất, giải
pháp tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới mục đích là nhằm nâng cao hiệu quả của
việc thực hiện quyền tặng cho QSDĐ ở của người sử dụng đất; giải quyết các vấn đề
3
liên quan đến tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở của nước ta một
cách thống nhất, đồng bộ, hiệu quả đồng thời cũng nhằm đảm bảo tính khả thi khi áp
dụng pháp luật trong thực tiễn đúng định hướng của Đảng và Nhà nước về pháp luật
đất đai trong giai đoạn hiện nay.
3.2.Nhiệm vụ:
Nghiên cứu về mặt lý luận, thực tiễn các quy định của pháp luật về chế định
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. Với nhiệm vụ này Luận văn phân tích, lý
giải khái niệm và đặc điểm QSDĐ, khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tặng cho
QSDĐ ở, cơ cấu pháp luật điều chỉnh hợp đồng tặng cho QSDĐ ở; từ việc nghiên
cứu đó nhận diện được những yếu tố tác động đến pháp luật về hợp đồng tặng cho
QSDĐ ở; nhận diện tính đặc thù về mặt lý luận của tặng cho QSDĐ ở từ đó khẳng
định tính tất yếu và cần thiết của việc tặng cho quyền sử dụng đất ở được pháp luật
quy định.
Luận văn đánh giá thực trạng của các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể;
đối tượng; điều kiện; hình thức; quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia xác lập,
thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở; chỉ ra những bất cập, vướng mắc
của pháp luật hiện hành khi các bên xác lập, thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất ở và những khó khăn trong thực tế xét xử của cơ quan tòa án về tranh chấp
hợp đồng tặng cho QSDĐ ở.
Từ đó tác giả luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật phần giúp cho việc hướng dẫn thực hiện các quy của luật về tặng
cho QSDĐ ở phù hợp với thực tế; việc giải quyết các vụ án liên quan đến chế định
hợp đồng tặng cho QSDĐ ở được thống nhất, đồng bộ, có chất lượng hơn trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là hợp đồng tặng cho QSDĐ ở theo pháp
luật Việt Nam hiện nay. Tác giả tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật
thực định về hợp đồng tặng cho QSDĐ ở, không gian nghiên cứu là tại Việt Nam,
thời gian nghiên cứu là thời gian hiệnn nay. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu thì
tác giả có nghiên cứu và đối chiếu luật thực định về tặng cho QSDĐ ở, trong mối
4
quan hệ tặng cho quyền sử dụng các loại đất khác, tài sản khác từ khoảng thời gian
bản Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực, Luật đất đai năm 1987 có hiệu lực cho đến hiện
nay.
Phạm vi nghiên cứu tác giả luận văn nghiên cứu các quy định về tặng cho tài
sản và tặng cho QSDĐ ở được quy định trong bản Hiến pháp năm 2013; Luật đất đai
năm 2013; Bộ luật dân sự năm 2015; các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai
năm 2013 và Bộ luật dân sự năm 2015; Các chế định của một số ngành luật khác có
liên quan như Luật nhà ở năm 2014; Luật công chứng năm 2014; Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000; Luật xây dựng năm 2014; Luật kinh doanh bất động sản năm
2014 với mục đích phân tích, so sánh, đối chiếu vấn đề luân văn đang nghiên cứu.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử; cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu đề tài là triết học
Mác – Lê Nin, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lý luận bắt nguồn từ thực tiễn,
phản ánh khái quát những vấn đề của thực tiễn. Lý luận phải đi sâu nghiên cứu khai
phá và làm rõ sự phát triển của thực tiễn góp phần định hướng, thúc đẩy thực tiễn
phát triển đúng hướng.
Trong khi thực hiện đề tài này tác giả luận văn cũng sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống để tìm hiểu quá trình hình thành tặng
cho quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật Việt Nam từ bản Hiến pháp năm
1980, Luật đất đai năm 1987 cho đến nay; Phương pháp phân tích; tổng hợp để được
sử dụng khi phân tích cơ sở lý luận và nội dung quy định của pháp luật về tặng cho
quyền sử dụng đất ở và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề nghiên cứu
của Luận văn. Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh các quy định của pháp
luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở trong từng thời kỳ gắn liền với Luật
đất đai và Bộ luật dân sự mà cụ thể là từ Luật đất đai năm 1987 đến Luật đất đai năm
2013; Bộ luật dân sự năm 1995 đến Bộ luật dân sự 2015.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Là công trình nghiên cứu khoa học làm sáng tỏ và đầy đủ sâu sắc hơn một cách
có hệ thống lý luận pháp luật về hợp đồng tặng cho QSDĐ ở từ đó đưa ra một số kết
5
luận mang tính khoa học về pháp luật về tặng cho QSDĐ ở phần nào đó góp phần
hoàn thiện về mặt lý luận và thực thi pháp luật về tặng cho QSDĐ ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay.
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật thực định từ luật chung, luật
chuyên ngành và luật có liên quan khác về giao dịch tặng cho QSDĐ ở, tặng cho tài
sản từ đó nhận ra những đặc điểm đặc thù cơ bản của giao dịch tặng cho QSDĐ ở tại
Việt Nam. Nhận diện được những bất cập, chưa thống nhất của một số quy định của
luật nội dung về tặng cho QSDĐ ở. Chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến tranh chấp
hợp đồng tặng cho QSDĐ ở.
Luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị giải pháp nhằm góp phần giúp cho việc
hướng dẫn thực hiện các quy của luật về tặng cho QSDĐ ở phù hợp với thực tế; việc
giải quyết các vụ án liên quan đến chế định hợp đồng tặng cho QSDĐ ở được thống
nhất và đồng bộ.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung
chính của luận văn có kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở.
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm hiệu quả
của việc thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam
hiện nay.
6
Chương 1
LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở
1.1. Khái niệm tài sản.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam năm 2010 do Nhà xuất bản Từ điểm Bách
Khoa, Hà Nội xuất bản, tại trang 127 định nghĩa về tài sản như sau: “Tài sản là của
cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc mục đích tiêu dùng”. Tài sản đóng một
vai trò quan trọng trong Bộ Luật dân sự của Việt Nam, là vấn đề trung tâm của mọi
quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Theo quy định tại Điều 105
BLDS năm 2015 thì tài sản được định nghĩa như sau: “1) Tài sản là vật, tiền, giấy tờ
có giá và quyền tài sản. 2) Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản
và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Căn cứ
theo quy định này thì tài sản được liệt kê và tồn tại ở một trong bốn hình thái lần lượt
là:
Tài sản là vật.
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể
cảm nhận bằng các giác quan của mình. Tuy nhiên, không phải vật nào cũng trở thành
tài sản, vật chỉ trở thành tài sản khi nó trở thành đối tượng trong các quan hệ pháp
luật và là đối tượng con người có thể kiểm soát và chiếm hữu. Những vật mà con
người không thể kiểm soát, chiếm hữu được nó thì cũng đồng nghĩa con người không
thể tác động, định đoạt và sử dụng được nó, có thể lấy ví dụ như: không khí, mặt
trăng… Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam quy định tài sản là “vật” mà không quy
định phải là “vật có thực”. Điều này khiến mở rộng khái niệm tài sản là vật có thể
đang tồn tại ở hiện thực hoặc vật chắc chắn được hình thành trong tương lai. Theo
quan điểm của tác giả luận văn, vật để trở thành tài sản trong quan hệ pháp luật thì
nó còn phải có khả năng lưu thông dân sự, theo đó nó phải xác định được giá trị trao
đổi của mình, được khai thác và sử dụng để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của
con người.
Tài sản là tiền.
7
Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo
giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản được coi là tiền khi nó được Nhà nước
thừa nhận có giá trị và cho phép lưu hành trên thức tế. Tiền dùng để trao đổi lấy hàng
hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người
đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng)[56]. Tiền khác với các loại vật là tài sản khác ở một
số đặc điểm như sau:
Đối với vật, con người có thể trực tiếp khai thác, sử dụng và hưởng các lợi ích từ
chính vật đó như dùng xe để đi lại, dùng quần áo để mặc… còn đối với tiền, con
người không thể khai thác công dụng trực tiếp từ chính bản thân tiền mà chỉ có thể
sử dụng gián tiếp thông qua việc thanh toán, trao đổi. Bên cạnh đó, tiền còn có tác
dụng tích lũy tài sản và là công cụ giúp định giá, đo lường các loại tài sản khác.
Vật có thể do nhiều chủ thể khác nhau tạo ra nhưng tiền chỉ do Nhà nước độc
quyền phát hành, thuộc về quyền chủ quyền của mỗi quốc gia.
Vật được xác định bằng đơn vị đo lường số lượng còn tiền ngoài số lượng còn
được xác định thông qua mệnh giá.
Chủ sở hữu vật có toàn quyền tiêu hủy, thay đổi về hình dáng, chức năng, cải tiến
vật thuộc sở hữu của mình nhưng đối với tiền thì không.
Tài sản là giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá được hiểu là những loại giấy tờ trị giá được bằng tiền và có thể
chuyển giao được trong giao dịch dân sự, Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều
dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu… Cần lưu ý, các loại giấy tờ
xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất, giấy đăng ký xe… không phải là giấy tờ có giá.
Do các loại giấy tờ này chỉ là công cụ để Nhà nước ghi nhận quyền sở hữu đối với tài
sản nhằm quản lý và bảo đảm quyền của chủ sở hữu, không nhằm mục đích thanh
khoản. Vì vậy, bản thận các loại giấy tờ này không trị giá được bằng tiền, việc đơn
thuần chuyển giao các loại giấy tờ này mà không thực hiện đăng ký sẽ không làm
phát sinh việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản nó ghi nhận. Qua đó có thể
thấy, một số thuộc tính để phân biệt giấy tờ có giá với các loại tài sản khác bao gồm:
Thứ nhất, về mặt hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức,
8
trình tự luật định; thứ hai, về nội dung, giấy tờ có giá xác nhận quyền tài sản của một
chủ thể xác định và quyền này được pháp luật ghi nhận và bảo hộ; thứ ba, bản thân
giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển nhượng trực tiếp quyền
tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác. Đây là thuộc tính phân biệt các loại giấy tờ
ghi nhận quyền tài sản khác với giấy tờ có giá.
Tài sản là quyền tài sản.
Được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 tại Điều 115 như sau: “Quyền tài
sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền
sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”.Theo đó, quyền tài sản
để trở thành tài sản phải trị giá được bằng tiền và có thể được chuyển giao trong giao
dịch dân sự. Quyền tài sản ở đây là các quyền của chủ thể hay các hành vi được phép
của chủ thể được xác định trong quan hệ pháp luật nhất định và được pháp luật ghi
nhận và bảo vệ. Theo đó, chủ thể có quyền tài sản được thực hiện các hành vi nhất
định và việc được phép thực hiện các hành vi này được phép chuyển nhượng và được
định giá được thành tiền.
Tóm lại, tài sản là quyền sử dụng đất, một loại tài sản được biểu hiện dưới dạng
“Quyền” được pháp luật Việt Nam bảo hộ, được trị giá thành tiền và hoàn toàn có
quyền được chuyển giao trong giao lưu dân sự, thương mại; được quyền định đoạt
quyền tài sản này theo ý chí và mục đích của người có quyền tài sản, trong đó, tặng
cho quyền sử dụng đất ở cũng là một phương thức chuyển giao tài sản được biểu hiện
dưới dạng “quyền tài sản”.
1.2. Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản.
HĐTCTS là loại hợp đồng thông dụng và phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế
giới; do đó, khái niệm về HĐTCTS đã được luật hoá trong rất nhiều BLDS trên thế
giới cũng như được đề cập trong nhiều công trình khoa học pháp lý.
Trong luận văn “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất – Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn”, tác giả Trần Thị Minh định nghĩa: “Hợp đồng tặng cho tài sản là một
quan hệ tặng cho được hình thành từ sự thoả thuận giữa các bên để thoả mãn các nhu
cầu về sản xuất, kinh doanh hoặc các nhu cầu về sinh hoạt hằng ngày; còn pháp luật
về hợp đồng tặng cho tài sản là sự quy định của Nhà nước đối với các bên trong việc
9
thoả thuận về tặng cho tài sản” [….., tr. 10]. Định nghĩa đã lý giải HĐTCTS dưới góc
độ là một quan hệ pháp luật dân sự và dưới góc độ là một chế định pháp luật. Với
cách tiếp cận tặng cho là một quan hệ pháp luật, định nghĩa trên đã làm sáng tỏ được
cơ sở hình thành HĐTCTS là thông qua sự thoả thuận. Còn với nhận định “tặng cho…
để thoả mãn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh hoặc các nhu cầu về sinh hoạt hằng
ngày” thì tác giả luận văn lại có quan điểm khác. Bởi lẽ, mỗi bên trong HĐTCTS có
mục đích khác nhau khi xác lập HĐTCTS. Mục đích của bên tặng cho hướng tới không
phải nhằm thoả mãn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh hay các nhu cầu về sinh hoạt
hằng ngày mà mục đích là nhằm chuyển giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với
tài sản của họ cho bên được tặng cho. Trên cơ sở kế thừa các điểm hợp lý được xây
dựng trong định nghĩa trên, theo quan điểm của tác giả luận văn khi tiếp cận tặng cho
là một quan hệ pháp luật thì cần làm sáng tỏ hơn các yếu tố đặc trưng liên quan đến
chủ thể, khách thể và nội dung của quan hệ cũng như bản chất không có đền bù của
loại quan hệ này.
Cũng đưa ra định nghĩa về HĐTCTS, tác giả Nguyễn Văn Hiến nhận định:“Hợp
đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận của các bên theo đúng quy định của pháp luật
về tặng cho tài sản, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở
hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý
nhận” [26, tr. 96]. Về cơ bản, định nghĩa này được xây dựng theo quy định tại Điều
465 BLDS năm 2005 và thêm cụm từ “theo đúng quy định của pháp luật về tặng cho
tài sản”. Tác giả Nguyễn Văn Hiến muốn nhấn mạnh đến sự tuân thủ pháp luật của bên
tặng cho và bên được tặng cho khi xác lập, thực hiện HĐTCTS. Đây là yếu tố bảo
đảm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và đúng đắn trên thực tế. Tuy nhiên, tác
giả luận văn lại tiếp cận HĐTCTS dưới một cách nhìn khác, dù bên tặng cho và bên
được tặng cho không tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật thì bản chất giao dịch
các bên xác lập vẫn là HĐTCTS. Như bên tặng cho và bên được tặng xác lập không
đúng với hình thức của HĐTCTS hay ý chí của các bên không tự nguyện khi xác lập
HĐTCTS không làm thay đổi bản chất của giao dịch là HĐTCTS. Thậm chí, trong
những trường hợp này, HĐTCTS vẫn có hiệu lực thi hành đối với cả bên tặng cho và
bên được tặng cho. Ví dụ: Trong lúc say rượu, A tặng cho B 20 triệu đồng. Sau khi
10
tỉnh rượu, A không yêu cầu toà án tuyên bố HĐTC A đã xác lập thực hiện với B là vô
hiệu. Do vậy, hợp đồng tặng cho này vẫn có hi ệu lực mặc dù không thoả mãn đầy đủ
các điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015 hay trường hợp
cha mẹ tặng cho nhà đất cho con cái, hợp đồng đã được lập văn bản nhưng chưa
công chứng, chứng thực nhưng nếu các bên hoặc một trong hai bên đã thực hiện được
tối thiểu 2/3 nghĩa vụ thì HĐTCTS được công nhận (Điều 129 BLDS năm 2015).
Ngoài ra, HĐTCTS còn được định nghĩa “là sự thể hiện ý chí, sự tự nguyện, tự
do thỏa thuận trong khuôn khổ quy định pháp luật của các bên, theo đó bên tặng cho
chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng tài sản của mình theo quy định
của pháp luật cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng
cho đồng ý nhận” [….., tr.12]. Cũng giống như định nghĩa ở trên, định nghĩa này
khẳng định hợp đồng tặng cho tài sản phải theo quy định của pháp luật – Đây là vấn
đề mà tác giả luận văn có góc nhìn khác và đã được trình bày ở trên. Bên cạnh đó, đây
là định nghĩa duy nhất ghi nhận “bên tặng cho chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển
quyền sử dụng tài sản của mình …cho bên được tặng cho”. Nội dung này gây ra rất
nhiều băn khoăn cho tác giả luận văn. Theo các thuật ngữ được dùng trong định nghĩa
trên, tặng cho là “chuyển giao quyền sở hữu” hoặc “chuyển quyền sử dụng” đối với
tài sản. Tuy vậy, HĐTCTS luôn là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối với
mọi loại tài sản nói chung gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản mà không phải
là chuyển giao quyền sử dụng tài sản. Trường hợp tặng cho quyền tài sản như quyền
sử dụng đất thì mục đích của hợp đồng chính là chuyển quyền sở hữu đối với QSDĐ
từ bên tặng cho sang cho bên được tặng cho.
Để đưa ra được khái niệm đầy đủ, hoàn thiện về HĐTCTS, trước hết, cần phải
nghiên cứu bản chất của hợp đồng. Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 385 BLDS năm 2015). Tặng
cho là một trong các loại hợp đồng nên phải theo lý thuyết về sự hình thành hợp đồng;
cụ thể, HĐTCTS là sự thoả thuận, thống nhất ý chí của bên tặng cho và bên được tặng
cho tài sản. Nếu thiếu đi yếu tố “thoả thuận” thì không thể hình thành được HĐTCTS.
Điều này cũng thể hiện rất rõ trong định nghĩa về HĐTCTS được ghi nhận tại Điều
457 BLDS năm 2015: “Hợp đồng tặng cho là sự thoả thuận giữa các bên…” và ngay
11
trong định nghĩa cũng đã đưa ra điều kiện về ý chí của bên được tặng cho “đồng ý
nhận tài sản”.
Trên cơ sở kế thừa các định nghĩa về HĐTCTS đã được các nhà khoa học xây
dựng trước đó và cùng với sự phân tích, bình luận ở trên, tác giả luận văn đưa ra định
nghĩa về HĐTCTS như sau:
“Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng
cho, theo đó khi còn sống, bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu
cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù; còn bên được tặng cho nhận chuyển
giao tài sản. Hợp đồng tặng cho có thể kèm điều kiện tặng cho hoặc không”.
Đối chiếu theo các yếu tố cần được sử dụng khi xây dựng định nghĩa về HĐTCTS
thì định nghĩa HĐTCTS được quy định tại Điều 457 BLDS năm 2015 đã phản ánh và
thể hiện được các nội dung cơ bản trên của loại hợp đồng này:“Hợp đồng tặng cho tài
sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và
chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng
cho đồng ý nhận”. So sánh giữa định nghĩa tác giả luận văn xây dựng và định nghĩa
về HĐTCTS được quy định trong BLDS năm 2015 thì tác giả luận văn đã lược bỏ
cụm “bên được tặng cho đồng ý nhận”. Bởi lẽ, theo như phân tích ở trên, hợp đồng
tặng cho có thể được hình thành từ sự đề xuất của bên tặng cho hoặc của chính bên
được tặng cho. Trường hợp bên tặng cho đưa ra đề xuất tặng cho thì cần có sự đồng ý
của bên được tặng cho. Ngược lại, nếu bên được tặng cho đề nghị một chủ thể tặng
tài sản cho họ thì cần sự đồng ý của người đó. Nếu vậy, định nghĩa đang được ghi
nhận trong BLDS năm 2015 đang chỉ hướng tới trường hợp bên tặng cho đưa ra đề
nghị tặng cho và bên được tặng cho đồng ý nhận mà chưa bao quát được tình huống
bên được tặng cho đề xuất bên tặng cho tặng tài sản cho mình.
1.3. Khái niệm và đặc điểm quyền sử dụng đất
Trước khi Hiến pháp năm 1980 ra đời, trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
khái niệm “quyền sử dụng đất” chưa được sử dụng để chỉ những quyền năng của cá
nhân, hộ gia đình, tổ chức đối với đất đai mà là khái niệm “quyền sở hữu” được sử
dụng. Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá VI đã thông qua Hiến pháp
năm 1980. Một chế độ sở hữu duy nhất đối với đất đai ở nước ta đã được xác lập, đó
12
là chế độ công hữu dưới tên gọi “sở hữu toàn dân”. Trên cơ sở đó, Luật Đất đai năm
1987 được ban hành và khái niệm “quyền sử dụng đất” chính thức được sử dụng. Từ
đó cho đến nay, trải qua nhiều lần thay thế Hiến pháp và Luật Đất đai, chế độ sở hữu
toàn dân về đất đai tiếp tục được duy trì và khái niệm “quyền sử dụng đất” vẫn được
sử dụng. Được ra đời trong bối cảnh như vậy nên “quyền sử dụng đất” là một sự sáng
tạo pháp lý nhằm thực hiện sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta và cũng như là một
công cụ pháp lý để giúp Nhà nước thực hiện được quyền năng chủ sở hữu của mình.
Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý – Bộ tư pháp do Nhà xuất bản từ
điển bách khoa và Nhà xuất bản tư pháp xuất bản năm 2006 định nghĩa: “Quyền sử
dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức
từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những
chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa
kế, tặng cho… từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất”. Nội dung của khái niệm
này xác đã định rõ được nguồn gốc sử dụng đất; xác định được quan hệ giữa Nhà
nước với người sử dụng đất; xác định được quyền khai thác lợi ích từ đất của người
sử dụng đất.
Quyền sử dụng đất là bộ phận cấu thành của quyền sở hữu đất đai. Thông qua
việc Nhà nước được độc quyền trong giao giao đất, cho thuê đất, định giá đất, thu hồi
đất. Nhà nước trao cho người sử dụng đất thực hiện trong thời hạn thuê đất, nhận giao
đất những quyền và nghĩa vụ nhất định; trong đó có sự phân biệt theo loại đất, theo
đối tượng sử dụng đất, theo hình thức thuê hoặc giao đất. Đây là quan điểm của Tiến
sĩ Lê Xuân Bá. Quan điểm này chỉ ra quyền sử dụng đất là một quyền phái sinh từ
quyền sở hữu đất đai, nó xác định quyền năng của chủ sở hữu đại diện và phân rõ
quyền hạn của từng loại chủ thể sử dụng đất. Theo đó chỉ có nhà nước mới là người
sở hữu về đất đai một cách toàn vẹn và đúng nghĩa. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu
đất đai thông qua việc độc quyền giao đất, cho thuê đất, định giá đất, thu hồi đất đối
với người có nhu cầu sử dụng đất. Việc giao đất, cho thuê đất, định giá đất, thu hồi
đất của nhà nước đối với người có nhu cầu sử dụng đất là có thời hạn theo từng loại
đất và đối tượng sử dụng đất.
13
Với các quan điểm trên thì quyền sử dụng đất được nhìn nhận ở hai góc độ đó
là góc độ về kinh tế và góc độ về pháp lý. Nhìn ở góc độ về pháp lý thì quyền sử dụng
đất là thuộc về nhà nước, các quyền năng mà nhà nước thông qua công cụ pháp lý để
quy định, công nhận cho chủ thể sử dụng đất được hưởng, được thực hiện trong quá
trình sử dụng đất. Còn nhìn ở góc độ về kinh tế thì quyền sử dụng đất là quyền khai
thác các lợi ích kinh tế từ đất của các chủ thể sử dụng đất hợp pháp.
Quan điểm về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất tiếp tục được khẳng định
tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong
thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Đảng ta khẳng định quyền sử
dụng đất là “một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu”
[3]. Nhìn từ phương diện kinh tế thì một hàng hoá thông thường bao giờ cũng có giá
trị và giá trị sử dụng, trong đó giá trị của hàng hoá được xác định bằng lao động kết
tinh trong hàng hoá (lao động hao phí phải bỏ ra để tạo ra sản phẩm), nhưng giá trị
của quyền sử dụng đất không được xác định thông qua quy luật thông thường, không
có hao phí lao động nào được bỏ ra để hình thành nên đất (chỉ có lao động bỏ ra để
cải tạo, tu bổ đất). Mặt khác đối tượng của quyền sử dụng đất là đất đai, một tài sản
thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu quản lý; Không giống
với các hàng hoá thông thường mà chủ sở hữu được toàn quyền định đoạt, quyền sử
dụng đất là loại hàng hoá mà sự tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của Nhà nước
(quyết định giao đất, cho thuê đất; quyết định thu hồi đất…). Qua đó, chúng ta có thể
nhận thấy tính chất đặc biệt của loại hàng hoá “quyền sử dụng đất” trên thị trường,
cũng như để quyền sử dụng đất phát huy được vai trò là một loại hàng hoá đặc biệt
trên thị trường thì Nhà nước phải xác lập cơ chế quản lý hữu hiệu, phù hợp nhằm trước
hết là tôn trọng quyền của người có tài sản là quyền sử dụng đất đã được Nhà nước
xác lập và công nhận hợp pháp; theo đó, họ được quyền chủ động và linh hoạt trong
việc khai thác, sử dụng và định đoạt tài sản ấy theo ý chí, nguyện vọng và mong muốn
của mình; cơ chế pháp lý ấy phải hướng tới mục đích tôn trọng và bảo vệ quyền tài
sản cho người có quyền sử dụng đất. Mọi sự can thiệp sâu, cấm đoán hay tạo ra những
14
rào cản pháp lý để gây khó khăn, cản trở cho việc khai thác, sử dụng và thực hiện các
giao dịch về quyền tài sản này cũng đều dẫn đến nguy cơ xâm phạm tới quyền tài sản
của người có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, như trên đã phân tích, cơ sở phát sinh và
nguồn gốc để xác lập cho người có quyền tài sản này là Nhà nước với tư cách là chủ
sở hữu đại diện đối với đất đai nên ý chí và mong muốn của Nhà nước luôn hướng
tới sự chi phối, kiểm soát đối với các hành vi sử dụng tài sản này. Sự quản lý và kiểm
soát đó một mặt thể hiện quyền lực của Nhà nước vừa với chức năng quản lý mọi mặt
đời sống kinh tế, xã hội, vừa với chức năng đại diện chủ sở hữu; song mặt khác còn
với mong muốn định hướng, “kiến tạo” cho quyền sử dụng đất ấy được khai thác, sử
dụng có hiệu quả trên cơ sở quỹ đạo chung thống nhất, hài hòa lợi ích của Nhà nước,
người có tài sản là quyền sử dụng đất và cao hơn là lợi ích chung của xã hội. Ở một
khía cạnh khác, sự quản lý và kiểm soát của Nhà nước còn giúp cho các giao dịch về
quyền sử dụng đất được bảo đảm thực thi một cách hợp pháp, ngăn ngừa việc lợi
dụng sự mở rộng của pháp luật về quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh để thực hiện
những mưu đồ bất hợp pháp, tư lợi cá nhân… làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể khác.
Có thể nhận thấy rằng thông qua mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, đặc biệt là từ cách thức xử lý của pháp luật khi quy
định về các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản, trong đó có
quyền sử dụng đất và phương thức bảo vệ các quyền đối với tài sản của người không
phải là chủ sở hữu đó cũng được thực hiện như bảo vệ đối với chủ sở hữu tài sản, có
thể nhận thấy rõ bản chất của quyền sử dụng đất của người sử dụng đất như
sau: Quyền sử dụng đất là quyền tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân phát sinh trên cơ sở quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng
đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc từ các giao dịch nhận chuyển quyền
sử dụng đất. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất phải tuân thủ các
điều kiện, thủ tục do pháp luật quy định.
Nhận diện được bản chất của quyền sử dụng đất tồn tại trong chế định sở hữu
toàn dân về đất đai mà Nhà nước đóng vai trò là chủ sở hữu đại diện có ý nghĩa vô
cùng quan trọng, là cơ sở tiền đề quan trọng trong việc nghiên cứu và đánh giá về
15
giới hạn của quyền tài sản là quyền sử dụng đất của người có quyền tài sản trong các
giao lưu dân sự, kinh tế trong đời sống xã hội. Đồng thời, đó cũng là cơ sở để nghiên
cứu giới hạn của sự chi phối và kiểm soát của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ
sở hữu đối với tài sản là đất đai quyền tài sản là quyền sử dụng đất của các tổ chức,
cá nhân khi họ thực hiện các quyền đối với tài sản của mình. Tặng cho quyền sử dụng
đất đối với người có quyền hợp pháp đối với tài sản này cũng là quyền vô cùng ý
nghĩa ở cả phương diện kinh tế và văn hóa; quyền này đã và đang được thực hiện vô
cùng rộng rãi trong đời sống dân sự hiện nay.
1.4. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở
Pháp luật hiện hành không có khái niệm về tặng cho QSDĐ, càng không có
khái niệm cụ thể về tặng cho QSDĐ ở. Nội hàm của tặng cho QSDĐ chỉ được đề cập
trong Giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà nội, theo đó “Tặng cho
quyền sử dụng đất thực chất cũng chỉ là một dạng đặc biệt của chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, nhưng việc chuyển nhượng này có giá trị thanh toán bằng không” [51,
tr.212].
Sở dĩ, giáo trình nêu trên cho rằng, tặng cho QSDĐ là một dạng đặc biệt của
quan hệ chuyển nhượng QSDĐ bởi nếu xét về hành vi thì chuyển nhượng hay tặng
cho QSDĐ cũng đều là sự chuyển giao QSDĐ từ người có QSDĐ hợp pháp sang cho
người khác và hệ quả pháp lý của hành vi chuyển giao trong hai trường hợp nêu trên
cũng đều dẫn đến là: Chấm dứt QSDĐ của người chuyển giao và xác lập QSDĐ cho
chủ thể mới là chủ thể nhận chuyển giao trên cơ sở được pháp luật cho phép. Tuy
nhiên, tính khác biệt của hai phương thức giao dịch này thể hiện ở chỗ: trong quan hệ
chuyển nhượng thì sự chuyển giao đó có đền bù một khoản lợi ích vật chất trên cơ sở
thỏa thuận của các bên và tùy thuộc vào thị trường về quyền sử dụng đất tại thời điểm
chuyển nhượng mà giá trị đền bù đó cao hay thấp. Trong khi đó, trong quan hệ tặng
cho, việc chuyển giao đó không được biểu hiện bằng bất kỳ một giá trị vật chất nào,
mà chỉ là sự tự nguyện của người có QSDĐ trao QSDĐ đó cho một người khác mà
họ mong muốn và được chủ thể này chấp nhận. Bởi vậy, quan hệ tặng cho QSDĐ
diễn ra cũng không phụ thuộc và chi phối bởi tình hình thị trường QSĐĐ diễn ra như
16
thế nào tại thời điểm thực hiện quyền này. Đây chính là sự khác biệt căn bản của hai
giao dịch chuyển quyền sử dụng đất: chuyển nhượng và tặng cho.
Dưới góc độ pháp luật đất đai, tặng cho quyền sử dụng là các quy phạm pháp luật
của Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ tặng cho phát sinh trong quá trình dịch
chuyển quyền sử dụng đất giữa các chủ thể với nhau. Đó là các quy định về điều kiện, nội
dung, hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho và bên được
tặng cho. Theo đó, tặng cho quyền sử dụng đất được hiểu là một quyền tài sản trong giao
lưu dân sự, kinh tế của thị trường bất động sản [1, tr.60 – tr.61]. Đây là quyền tài sản được
Nhà nước – đại diện chủ sở hữu – cho phép, thừa nhận và bảo vệ.
Dưới góc độ pháp luật dân sự, tặng cho quyền sử dụng đất là một giao dịch
dân sự, trong đó các bên tự trao đổi, thỏa thuận với nhau về việc tặng cho quyền sử
dụng đất để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định nhằm thỏa mãn
các nhu cầu sử dụng đất. Sự thỏa thuận về việc tặng cho quyền sử dụng đất này là sự
thống nhất ý chí giữa bên tặng cho và bên được tặng cho. Theo đó, bên tặng cho
chuyển giao quyền sử dụng đất của mình cho bên được tặng cho mà không yêu cầu
bên được tặng cho trả cho mình bất kỳ lợi ích vật chất nào; còn bên được tặng cho
đồng ý nhận quyền sử dụng đất mà bên kia cho tặng. Khi hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất có hiệu lực sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc
tặng cho. Như vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không chỉ là sự thỏa thuận
để dịch chuyển quyền sử dụng đất từ bên tặng cho sang bên được tặng cho mà nó còn
là sự thỏa thuận để làm phát sinh hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
[1, tr.58]. Do đó, dưới góc độ pháp luật dân sự, có thể hiểu khái niệm tặng cho quyền
sử dụng đất là sự thỏa thuận làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho và bên được tặng cho.
Nếu tặng cho quyền sử dụng đất dưới góc độ dân sự hướng tới việc định nghĩa
nó như một quan hệ tặng cho tài sản hình thành từ sự thỏa thuận giữa các bên nhằm
phục vụ nhu cầu sử dụng đất thì tặng cho quyền sử dụng dưới góc độ pháp luật đất
đai là sự quy định và yêu cầu của Nhà nước đối với người sử dụng đất khi thực hiện
quyền tặng cho đối với quyền sử dụng đất. Theo đó, chỉ khi người sử dụng đất thực
hiện đúng các quy định của pháp luật thì việc tặng cho quyền sử dụng đất mới được
17
Nhà nước thừa nhận và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mới có hiệu lực; quyền
và nghĩa vụ của các bên trong thỏa thuận mới được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Pháp luật Việt Nam đã đưa ra khái niệm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
tại Điều 722 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho
bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận
theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”. Khái niệm này đã nêu được
một số nét đặc trưng của tặng cho quyền sử dụng đất nhưng vẫn chưa thể hiện được
tính đặc thù dưới góc độ của pháp luật đất đai. Theo đó, tặng cho quyền sử dụng đất
không chỉ là sự thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất đơn
thuần giữa bên tặng cho và bên được tặng cho theo đúng yêu cầu của pháp luật về
dân sự và đất đai mà nó còn là công cụ pháp lý thể hiện quyền của chủ sở hữu đất đai
(Nhà nước) trao quyền cho các chủ thể sử dụng đất được quyền dịch chuyển quyền
sử dụng đất (một trong các quyền của chủ sở hữu đất đai) nhằm đáp ứng các nhu cầu
khai thác và sử dụng đất đai.
QSDĐ ở cũng là một trong các loại QSDĐ được Nhà nước trao cho các chủ
thể sử dụng đất và theo đó, người được trao QSDĐ ở được hưởng quyền và thực hiện
các nghĩa vụ tuân theo pháp luật và ý chí của người có quyền sở hữu là Nhà nước.
Quy định của pháp luật hiện hành không có bất kỳ quy định nào riêng cho tặng cho
QSDĐ ở mà chúng được thực hiện trên cơ sở các quy định chung của pháp luật dân
sự về tặng cho tài sản, tặng cho bất động sản và các quy định về tặng cho QSDĐ nói
chung trong pháp luật đất đai. Tuy nhiên, như đã đề cập, QSDĐ ở có những đặc điểm
khác biệt so với các tài sản khác về nguồn gốc hình thành, về các tài sản khác không
phải là QSDĐ nhưng luôn luôn phải được xem xét và đặt ra khi thực hiện các QSDĐ
ở như: nhà ở, công trình xây dựng, vườn cây và các tài sản khác được hình thành trên
đất ở với tính cách là một khối thống nhất không thể phân chia, không thể tách rời,
hoặc trên thực tế có thể phân chia hoặc tách rời nhưng chúng lại mất hoặc giảm đi
tính năng và giá trị sử dụng. Mặt khác, QSDĐ ở có thể thuộc quyền sở hữu và sử
dụng hợp pháp, duy nhất của một chủ thể, song cũng có thể lại bao gồm nhiều chủ
thể. Vì vậy, nghiên cứu tặng cho QSDĐ ở ngoài việc phải tuân thủ cụ thể các quy định
18
của pháp luật dân sự, pháp luật đất đai về tặng cho tài sản, tặng cho quyền sử dụng đất
nói chung, còn phải xuất phát từ tính chất và đặc điểm riêng có của QSDĐ ở nói riêng
để quan tâm và chú trọng khi thiết lập và thực hiện giao dịch một cách hợp pháp, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, của các chủ thể khác có liên quan và vì trật tự
chung của Nhà nước và toàn xã hội.
Từ quy định về hợp đồng tặng cho QSDĐ được quy định trong Bộ luật dân sự năm
2005; căn cứ vào tính năng sử dụng của từng loại đất theo quy định của nhà nước có thể
định nghĩa “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất ở của mình cho bên được tặng cho mà không yêu
cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận tuân theo các quy định của pháp luật đất
đất đai, pháp luật dân sự và pháp luật khác có liên quan”.
Với những đặc tính đặc biệt của tài sản là QSDĐ ở, hợp đồng tặng cho QSDĐ
ở có một số đặc tính sau đây cần lưu ý:
Những giao dịch tặng cho QSDĐ ở được thiếp lập hợp pháp, tuân thủ đầy đủ
các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật dân sự và pháp luật khác có liên quan
song chúng được biểu hiện ở hai loại tặng cho khác nhau: đó là, tặng cho QSDĐ ở
thông thường và tặng cho QSDĐ ở có điều kiện.
Tặng cho QSDĐ ở thông thường: được thực hiện trong trường hợp bên tặng
cho và bên nhận tặng cho đáp ứng đủ điều kiện chung của pháp luật đất đai về điều
kiện chuyển quyền sử dụng đất nói chung và về tặng cho quyền sử dụng đất nói riêng;
về hình thức và hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng quy định trong Luật
Đất đai, Bộ luật Dân sự và pháp luật khác có liên quan thì quan hệ tặng cho QSDĐ
là quan hệ hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tặng cho QSDĐ ở thông
thường cũng được nhìn nhận ở trường hợp hợp đồng tặng cho QSDĐ ở được xác lập,
thực hiện giữa các bên nhưng trong nội dung của hợp đồng tặng cho không có bất kỳ
điều khoản nào quy định về bên được nhận tặng cho phải đền bù hoặc phải thực hiện
bất kỳ một nghĩa vụ nào.
Tặng cho QSDĐ ở có điều kiện: được thực hiện trong trường hợp mà bản thân
người có QSDĐ ở hợp pháp với tư cách là người tặng cho và cả người được tặng cho
phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt của pháp luật. Đó là QSDĐ ở được quy hoạch
19
nằm trong các địa bàn, khu vực được Nhà nước bảo vệ nghiêm ngặt như: trong phân
khu bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; hay người nhận tặng cho là những chủ thể
mà theo pháp luật hiện hành đang bị hạn chế về QSDĐ ở, quyền sở hữu nhà ở tại Việt
Nam như: người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân người nước ngoài sở hữu
nhà ở gắn liền với QSDĐ ở tại Việt Nam. Tặng cho QSDĐ ở có điều kiện còn đặt ra
trong trường hợp: QSDĐ khi đang thuộc quyền sử dụng hợp pháp người tặng cho thì
chúng là QSDĐ ở, song một số chủ thể nhận tặng cho đặc biệt như: Nhà nước, cộng
đồng dân cư thì liệu các chủ thể này sau khi nhận tặng cho có bắt buộc phải sử dụng
đất vào mục đích để ở hay không? Thực tế cho thấy, việc giữ nguyên mục đích là
QSDĐ ở sau khi nhận tặng cho đối với chủ thể như Nhà nước, cộng đồng dân cư là
không phù hợp với tính chất, đặc điểm và mục đích sử dụng của chủ thể này. Tặng
cho QSDĐ ở có điều kiện còn đặt ra trong trường hợp trong nội dung của hợp đồng
tặng cho QSDĐ ở có điều khoản quy định yêu cầu bên được nhận tặng cho phải đền
bù hoặc phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định và bên nhận tặng cho đồng ý thực
hiện nghĩa vụ này.
Đối tượng tặng cho không chỉ là QSDĐ ở mà có cả tài sản trên đất.
Cần lưu ý về cơ sở pháp lý xác lập đối với tài sản trên đất đó ở một số vấn đề
như: QSDĐ ở và tài sản trên đất như nhà ở, công trình xây dựng có được xác lập đồng
thời cùng một thời điểm hay tách rời? QSDĐ ở và nhà, công trình xây dựng có đồng
thời cùng thuộc sở hữu và sử dụng hợp pháp của bên tặng cho hay thuộc của nhiều
chủ thể.Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp
của chủ thể tặng cho và xác định cụ thể đối tượng tặng cho trong hợp đồng tặng cho
QSDĐ ở.
Chủ thể tặng cho không chỉ là chủ thể duy nhất có QSDĐ ở mà thuộc quyền
sử dụng của nhiều chủ thể khác.
Về nguyên tắc, nếu tất cả các đồng sở hữu đều đồng ý tặng cho QSDĐ ở đó
thì không có vấn đề gì phải bàn cãi; tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nếu
một hoặc một số chủ thể có quyền hợp pháp đối với QSDĐ ở đó không đồng ý, tán
20
Tôi xin cam kết khu công trình nghiên cứu và điều tra này được triển khai bởi bản thântôi, những nội dung điều tra và nghiên cứu, hiệu quả trong đề tài này là trung thực và chưacông bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây. Luận văn có sử dụng một số ít nhận xét, nhìn nhận của những cá thể tác giả, cơ quan tổ chức triển khai khác nhưng đều có trích dẫn, chú thích ghi rõ nguồn gốc. Tôi trọn vẹn nghĩa vụ và trách nhiệm về khu công trình nghiên cứu và điều tra này của mình. Tác giả luận vănLÊ VĂN LONGMỤC LỤCMỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………………….. 1C hương 1 : LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬDỤNG ĐẤT Ở …………………………………………………………………………………………….. 71.1. Khái niệm và đặc thù quyền sử dụng đất ……………………………………………. 71.2. Khái niệm, đặc thù của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở …………. 161.3. Vai trò của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. Error ! Bookmark notdefined. 1.4. Cơ cấu pháp lý kiểm soát và điều chỉnh hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. ……. 22C hương 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TẶNGCHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY. ………………………………………………………………………. Error ! Bookmark not defined. 2.1. Thực trạng của pháp lý về thực thi hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đấtở ………………………………………………………………………………………………………….. 292.2. Một số hạn chế, vướng mắc của pháp lý thực định khi xác lập, thực hiệnhợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. …………………………………………………… 52C hương 3 : ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀNÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TẶNG CHOQUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY. …. 673.1. Định hướng triển khai xong pháp lý, nâng cao hiệu suất cao triển khai hợp đồng tặngcho quyền sử dụng đất ở tại Nước Ta ……………………………………………………… 673.2. Giải pháp triển khai xong pháp lý và nâng cao nâng cao hiệu suất cao của việc thực hiệnhợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở theo pháp lý Nước Ta lúc bấy giờ ………… 69K ẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………….. 75DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………… 76DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT1. QSDĐQuyền sử dụng đất. 2. GCN QSDĐ : Giấy ghi nhận quyền sử dụng đất. 3. BLDSBộ luật dân sự. 4. CPChính phủ. 5. TWTrung ương. 6. HĐTCTSHợp đồng tặng cho gia tài. MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiĐất đai có một ý nghĩa kinh tế tài chính xã hội thâm thúy, gắn liền với mỗi mái ấm gia đình, cơquan, tổ chức triển khai, đơn vị chức năng kinh tế tài chính, xã hội và nhà nước. Dưới góc nhìn kinh tế tài chính quyền sử dụngđất trở thành một quyền gia tài đặc biệt quan trọng quan trọng của công dân. Nhà nước ngàycàng tạo thuận tiện cho công dân trong việc đưa quyền sử dụng đất vào thanh toán giao dịch trongdân sự góp thêm phần thôi thúc kinh tế tài chính mái ấm gia đình và xã hội trải qua mạng lưới hệ thống pháp lý. Dotính không thay đổi của pháp lý đất đai của nước ta chưa cao, chưa có tính lâu bền hơn, đặc biệtcó thời kỳ pháp lý đất đai chưa tương thích với thực tiễn đời sống xã hội đã tạo ra cáchoạt động ngầm trong nghành nghề dịch vụ đất đai mà nhà nước không trấn áp được. Nhiềutrường hợp có “ xung đột ” giữa pháp lý với thực tiễn đời sống. Vì vậy sự điềuchỉnh quan hệ đất đai của nhà nước qua từng thời kỳ đều có ảnh hưởng tác động lên toàn bộ cácchủ thể trong xã hội … Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở là một trong nhữngloại hợp đồng quan trọng của thanh toán giao dịch dân sự, bởi nó là một quan hệ dân sự phổ biếntrong đời sống của nhân dân đồng thời cũng là một trong những phương pháp pháplý hữu hiệu giúp cho những chủ thể có quyền sử dụng đất hợp pháp xác lập và thực hiệnviệc chuyển quyền sử dụng đất nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu những nhu yếu trong sản xuất kinh doanhvà trong đời sống hoạt động và sinh hoạt hàng ngày. Luật đất đai năm 2003 ( có hiệu lực hiện hành từ ngày 01/07/2004 ) ; Bộ luật dân sự năm2005 ( có hiệu lực hiện hành từ ngày 01/01/2007 ) đến Luật đất đai năm 2013 ( có hiệu lực hiện hành từ ngày01 / 07/2014 ) tiếp sau đó là Bộ luật Dân sự Nước Ta năm năm ngoái ( có hiệu lực thực thi hiện hành từ ngày01 / 01/2017 ) đã có những lao lý đơn cử cụ thể và tương đối triển khai xong về việc xáclập, thực thi cũng như những điều kiện kèm theo có hiệu lực hiện hành của hợp đồng tặng cho quyền sửdụng đất. Với những pháp luật điều kiện kèm theo về chủ thể của hợp đồng, đối tượng người dùng của hợpđồng, khi nào thì người sử dụng đất hợp pháp được thực thi quyền của người sửdụng đất … đã góp một phần tạo nên sự không thay đổi về quan hệ tặng cho quyền sử dụngđất trong quá trình lúc bấy giờ. Nhưng việc tặng cho quyền sử dụng đất ở nước ta từ trước cho tới nay diễn rarất phong phú nhiều mẫu mã và trải qua nhiều thời kỳ khác nhau. Thời kỳ từ bản Hiến phápnăm 1980 tới Luật đất đai năm 1987 ; Thời kỳ từ bản Hiến pháp năm 1992, Luật đấtđai năm 1993 tới Bộ luật dân sự năm 1995 ; Thời kỳ từ Luật đất đai năm 2003 đến Bộluật dân sự năm 2005 và đến nay là bản Hiến pháp năm 2013, Luật đất đai năm 2013 và Bộ luật dân sự năm năm ngoái. Trong mỗi thời kỳ lại có những thừa kế, đổi khác, bổsung về pháp lý đất đai nhằm mục đích khuynh hướng và tạo động lực thôi thúc sự phát triểnkhông ngừng của đời sống kinh tế tài chính xã hội. Vì vậy việc nghiên cứu và điều tra những pháp luật củapháp luật về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở nước ta lúc bấy giờ để làm rõ cơsở lý luận. Đây là khu công trình chuyên khảo nghiên cứu và phân tích một cách có mạng lưới hệ thống và toàndiện về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. 2. Tình hình nghiên cứu và điều tra tương quan đến đề tàiPhần nhiều những nước trên quốc tế đều công nhận chiếm hữu tư nhân về đất đai. Vìvậy việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa những chủ thể trong xã hội được quy địnhtương tự như việc tặng cho gia tài thường thì khác giữa những chủ thể này. Ở nướcta, tại những Bộ luật Hồng Đức ; Bộ dân luật Nam kỳ ; Bộ dân luật Bắc kỳ thì việc tặngcho quyền sử dụng đất giữa những chủ thể trong xã hội là không cấm. Khi Luật đất đainăm 1987 sinh ra thì đã có một sự đổi khác lớn đó là pháp luật đất đai thuộc sở hữutoàn dân do nhà nước thống nhất quản trị được pháp luật tại Điều 1. Nhưng lại khôngcó bất kể một điều luật nào trong Luật đất đai năm 1987 pháp luật về việc tặng choquyền sử dụng đất. Đến Luật đất đai năm 1993 cũng không có điều luật nào quy địnhvề tặng cho quyền sử dụng đất ; Bộ luật dân sự năm 1995 sinh ra đã đặt nền móng đầutiên và đã có pháp luật về hợp đồng tặng cho bất động sản nhưng lại không nêu rõ chủthể nào ; loại đất nào được phép tặng cho. Cho đến khi Luật đất đai năm 2003 và Bộluật Dân sự năm 2005 sinh ra thì mới có những lao lý đơn cử về việc tặng cho quyềnsử dụng đất giữa những chủ thể trong xã hội. Trong đời sống việc tặng cho gồm có cả việctặng cho gia tài giữa cá thể với cá thể và việc tặng cho người khác gia tài hợp phápcủa mình là chuyện thông thường. Nhiều cơ quan, tổ chức triển khai và cá thể tặng cho nhà tìnhnghĩa, nhà tình thương so với cá thể, mái ấm gia đình người có công so với quốc gia trongcông cuộc bảo vệ, thiết kế xây dựng quốc gia và so với người có thực trạng khó khăn vất vả đặc biệtđược thực thi hàng năm để tri ân so với những mái ấm gia đình, cá thể được hưởng chính sáchưu đãi của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và để gắn bó tình đoàn kếtvới người có thực trạng khó khăn vất vả. Về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã có 1 số ít khu công trình nghiên cứucủa những nhà khoa học, những chuyên viên nghiên cứu và điều tra trong nghành đất đai và trongNgành tòa án nhân dân. Các luận văn nghiên cứu sinh, luận văn thạc sĩ. Các chuyên đề nghiêncứu được công bố trên những tạp chí của những chuyên viên đầu ngành như TS. Nguyễn HảiAn ( 2011 ), “ Cơ sở lý luận và thực tiễn về tặng cho quyền sử dụng đất ”, Luận án tiếnsĩ ; Lê Xuân Bá : ” Sự hình thành và tăng trưởng của thị trường bất động sản trong côngcuộc thay đổi ở Nước Ta ”, Nxb Khoa học kỹ thuật, 2003 ; Đỗ Văn Chỉnh ( 2008 ), “ Tặng cho quyền sử dụng đất thực tiễn và sống sót ”, Tạp chí TANDTC nhân dân tháng 22008 ; Đỗ Văn Đại ( 2009 ), “ Thời điểm hợp đồng tặng cho có hiệu lực thực thi hiện hành ở Nước Ta ”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II tháng 1 – 2009 ; Trần Thị Minh ( 2020 ), “ Tặng choquyền sử dụng đất ở theo pháp lý Nước Ta lúc bấy giờ ”, Luận án tiến sỹ … về cơ bảnđã làm rõ về mặt lí luận, thực tiễn trong việc xử lý những tranh chấp tương quan đếnhợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, những khu công trình nghiên cứu và điều tra về Hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất ở thì chưa có nhiều. Vì vậy việc điều tra và nghiên cứu khoahọc một cách sâu xa về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở có ý nghĩa thiếtthực về mặt lý lận, cũng như thực tiễn vận dụng đưa ra những giải pháp nhằm mục đích hoànthiện những lao lý của loại hợp đồng này. Tác giả chọn đề tài “ Hợp đồng tặng choquyền sử dụng đất ở theo pháp lý Nước Ta lúc bấy giờ ” làm luận văn tốt nghiệp cũngnhắm tới mục tiêu nêu trên. 3. Mục đích và trách nhiệm nghiên cứu3. 1. Mục đích : Mục đích của việc điều tra và nghiên cứu đề tài này là kiến thiết xây dựng cơ sở lý luận pháp luậtvề hợp đồng tặng cho QSDĐ ở. Với cơ sở lý luận đó tác giả luận văn nghiên cứu và phân tích, đánhgiá những lao lý của pháp lý thực định cũng như những phát sinh diễn ra trong thựctiễn khi vận dụng pháp lý tặng cho QSDĐ ở. Nhận diện mối quan hệ giữa lý luận, pháp lý và việc vận dụng pháp lý trong thực tiễn của tặng cho QSDĐ ở. Nhận diệnnhững chưa ổn và những nguyên do làm phát sinh tranh chấp hợp đồng tặng choQSDĐ ở. Từ đó xác lập được những chưa ổn trong thực tiễn để đưa ra yêu cầu, giảipháp liên tục triển khai xong trong thời hạn tới mục tiêu là nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao củaviệc triển khai quyền tặng cho QSDĐ ở của người sử dụng đất ; xử lý những vấn đềliên quan đến tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở của nước ta mộtcách thống nhất, đồng điệu, hiệu suất cao đồng thời cũng nhằm mục đích bảo vệ tính khả thi khi ápdụng pháp lý trong thực tiễn đúng xu thế của Đảng và Nhà nước về pháp luậtđất đai trong tiến trình lúc bấy giờ. 3.2. Nhiệm vụ : Nghiên cứu về mặt lý luận, thực tiễn những pháp luật của pháp lý về chế địnhhợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. Với trách nhiệm này Luận văn nghiên cứu và phân tích, lýgiải khái niệm và đặc thù QSDĐ, khái niệm và đặc thù của hợp đồng tặng choQSDĐ ở, cơ cấu tổ chức pháp lý kiểm soát và điều chỉnh hợp đồng tặng cho QSDĐ ở ; từ việc nghiêncứu đó nhận diện được những yếu tố tác động ảnh hưởng đến pháp lý về hợp đồng tặng choQSDĐ ở ; nhận diện tính đặc trưng về mặt lý luận của tặng cho QSDĐ ở từ đó khẳngđịnh tính tất yếu và thiết yếu của việc tặng cho quyền sử dụng đất ở được pháp luậtquy định. Luận văn nhìn nhận tình hình của những pháp luật pháp lý hiện hành về chủ thể ; đối tượng người tiêu dùng ; điều kiện kèm theo ; hình thức ; quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của những bên khi tham gia xác lập, thực thi hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở ; chỉ ra những chưa ổn, vướng mắccủa pháp lý hiện hành khi những bên xác lập, triển khai hợp đồng tặng cho quyền sửdụng đất ở và những khó khăn vất vả trong trong thực tiễn xét xử của cơ quan tòa án về tranh chấphợp đồng tặng cho QSDĐ ở. Từ đó tác giả luận văn yêu cầu một số ít giải pháp nhằm mục đích hoàn thành xong những quyđịnh của pháp lý phần giúp cho việc hướng dẫn thực thi những quy của luật về tặngcho QSDĐ ở tương thích với thực tiễn ; việc xử lý những vụ án tương quan đến chế địnhhợp đồng tặng cho QSDĐ ở được thống nhất, đồng điệu, có chất lượng hơn trong thờigian tới. 4. Đối tượng và khoanh vùng phạm vi nghiên cứuĐối tượng mà luận văn nghiên cứu và điều tra là hợp đồng tặng cho QSDĐ ở theo phápluật Nước Ta lúc bấy giờ. Tác giả tập trung chuyên sâu nghiên cứu và điều tra những pháp luật của pháp luậtthực định về hợp đồng tặng cho QSDĐ ở, khoảng trống điều tra và nghiên cứu là tại Nước Ta, thời hạn điều tra và nghiên cứu là thời hạn hiệnn nay. Tuy nhiên trong quy trình điều tra và nghiên cứu thìtác giả có điều tra và nghiên cứu và đối chiếu luật thực định về tặng cho QSDĐ ở, trong mốiquan hệ tặng cho quyền sử dụng những loại đất khác, gia tài khác từ khoảng chừng thời gianbản Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực thực thi hiện hành, Luật đất đai năm 1987 có hiệu lực hiện hành cho đến hiệnnay. Phạm vi nghiên cứu và điều tra tác giả luận văn nghiên cứu và điều tra những pháp luật về tặng cho tàisản và tặng cho QSDĐ ở được pháp luật trong bản Hiến pháp năm 2013 ; Luật đất đainăm 2013 ; Bộ luật dân sự năm năm ngoái ; những văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đainăm 2013 và Bộ luật dân sự năm năm ngoái ; Các chế định của 1 số ít ngành luật khác cóliên quan như Luật nhà ở năm năm trước ; Luật công chứng năm năm trước ; Luật hôn nhân gia đình vàgia đình năm 2000 ; Luật thiết kế xây dựng năm năm trước ; Luật kinh doanh thương mại bất động sản năm2014 với mục tiêu nghiên cứu và phân tích, so sánh, so sánh yếu tố luân văn đang nghiên cứu và điều tra. 5. Cơ sở lý luận và giải pháp nghiên cứuLuận văn được triển khai xong dựa trên nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử vẻ vang ; cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu và điều tra đề tài là triết họcMác – Lê Nin, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh khái quát những yếu tố của thực tiễn. Lý luận phải đi sâu điều tra và nghiên cứu khaiphá và làm rõ sự tăng trưởng của thực tiễn góp thêm phần xu thế, thôi thúc thực tiễnphát triển đúng hướng. Trong khi thực thi đề tài này tác giả luận văn cũng sử dụng một số ít phươngpháp điều tra và nghiên cứu như giải pháp mạng lưới hệ thống để tìm hiểu và khám phá quy trình hình thành tặngcho quyền sử dụng đất ở theo lao lý của pháp lý Nước Ta từ bản Hiến pháp năm1980, Luật đất đai năm 1987 cho đến nay ; Phương pháp nghiên cứu và phân tích ; tổng hợp để đượcsử dụng khi nghiên cứu và phân tích cơ sở lý luận và nội dung pháp luật của pháp lý về tặng choquyền sử dụng đất ở và khái quát những nội dung cơ bản của từng yếu tố nghiên cứucủa Luận văn. Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh những lao lý của phápluật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở trong từng thời kỳ gắn liền với Luậtđất đai và Bộ luật dân sự mà đơn cử là từ Luật đất đai năm 1987 đến Luật đất đai năm2013 ; Bộ luật dân sự năm 1995 đến Bộ luật dân sự 2015.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễnLà khu công trình điều tra và nghiên cứu khoa học làm sáng tỏ và vừa đủ thâm thúy hơn một cáchcó mạng lưới hệ thống lý luận pháp lý về hợp đồng tặng cho QSDĐ ở từ đó đưa ra 1 số ít kếtluận mang tính khoa học về pháp lý về tặng cho QSDĐ ở phần nào đó góp phầnhoàn thiện về mặt lý luận và thực thi pháp lý về tặng cho QSDĐ ở nước ta tronggiai đoạn lúc bấy giờ. Luận văn điều tra và nghiên cứu những pháp luật pháp lý thực định từ luật chung, luậtchuyên ngành và luật có tương quan khác về thanh toán giao dịch tặng cho QSDĐ ở, tặng cho tàisản từ đó nhận ra những đặc thù đặc trưng cơ bản của thanh toán giao dịch tặng cho QSDĐ ở tạiViệt Nam. Nhận diện được những chưa ổn, chưa thống nhất của 1 số ít lao lý củaluật nội dung về tặng cho QSDĐ ở. Chỉ ra 1 số ít nguyên do dẫn đến tranh chấphợp đồng tặng cho QSDĐ ở. Luận văn cũng đưa ra 1 số ít yêu cầu giải pháp nhằm mục đích góp thêm phần giúp cho việchướng dẫn thực thi những quy của luật về tặng cho QSDĐ ở tương thích với trong thực tiễn ; việcgiải quyết những vụ án tương quan đến chế định hợp đồng tặng cho QSDĐ ở được thốngnhất và đồng điệu. 7. Kết cấu của luận vănNgoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tìm hiểu thêm thì nội dungchính của luận văn có cấu trúc gồm ba chương như sau : Chương 1 : Lý luận pháp lý về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. Chương 2 : Thực trạng pháp lý về đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở. Chương 3 : Định hướng, giải pháp hoàn thành xong pháp lý và bảo vệ hiệu quảcủa việc triển khai hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở theo pháp lý Việt Namhiện nay. Chương 1L Ý LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHOQUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở1. 1. Khái niệm gia tài. Theo Từ điển Bách khoa Nước Ta năm 2010 do Nhà xuất bản Từ điểm BáchKhoa, Thành Phố Hà Nội xuất bản, tại trang 127 định nghĩa về gia tài như sau : ” Tài sản là củacải vật chất dùng vào mục tiêu sản xuất hoặc mục tiêu tiêu dùng “. Tài sản đóng mộtvai trò quan trọng trong Bộ Luật dân sự của Nước Ta, là yếu tố TT của mọiquan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp lý nói riêng. Theo pháp luật tại Điều 105BLDS năm năm ngoái thì gia tài được định nghĩa như sau : “ 1 ) Tài sản là vật, tiền, giấy tờcó giá và quyền gia tài. 2 ) Tài sản gồm có bất động sản và động sản. Bất động sảnvà động sản hoàn toàn có thể là gia tài hiện có và gia tài hình thành trong tương lai ”. Căn cứtheo lao lý này thì gia tài được liệt kê và sống sót ở một trong bốn hình thái lần lượtlà : Tài sản là vật. Vật là một bộ phận của quốc tế vật chất, sống sót khách quan mà con người có thểcảm nhận bằng những giác quan của mình. Tuy nhiên, không phải vật nào cũng trở thànhtài sản, vật chỉ trở thành gia tài khi nó trở thành đối tượng người dùng trong những quan hệ phápluật và là đối tượng người dùng con người hoàn toàn có thể trấn áp và chiếm hữu. Những vật mà conngười không hề trấn áp, chiếm hữu được nó thì cũng đồng nghĩa tương quan con người khôngthể tác động ảnh hưởng, định đoạt và sử dụng được nó, hoàn toàn có thể lấy ví dụ như : không khí, mặttrăng … Bên cạnh đó, pháp lý Nước Ta lao lý gia tài là “ vật ” mà không quyđịnh phải là “ vật có thực ”. Điều này khiến lan rộng ra khái niệm gia tài là vật có thểđang sống sót ở hiện thực hoặc vật chắc như đinh được hình thành trong tương lai. Theoquan điểm của tác giả luận văn, vật để trở thành gia tài trong quan hệ pháp lý thìnó còn phải có năng lực lưu thông dân sự, theo đó nó phải xác lập được giá trị traođổi của mình, được khai thác và sử dụng để phân phối nhu yếu vật chất và niềm tin củacon người. Tài sản là tiền. Tiền theo kinh tế tài chính chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đogiá trị của những loại gia tài khác. Một gia tài được coi là tiền khi nó được Nhà nướcthừa nhận có giá trị và được cho phép lưu hành trên thức tế. Tiền dùng để trao đổi lấy hànghóa và dịch vụ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu bản thân và mang tính dễ thu nhận ( nghĩa là mọi ngườiđều sẵn sàng chuẩn bị gật đầu sử dụng ) [ 56 ]. Tiền khác với những loại vật là gia tài khác ở mộtsố đặc thù như sau : Đối với vật, con người hoàn toàn có thể trực tiếp khai thác, sử dụng và hưởng những quyền lợi từchính vật đó như dùng xe để đi lại, dùng quần áo để mặc … còn so với tiền, conngười không hề khai thác tác dụng trực tiếp từ chính bản thân tiền mà chỉ có thểsử dụng gián tiếp trải qua việc thanh toán giao dịch, trao đổi. Bên cạnh đó, tiền còn có tácdụng tích góp gia tài và là công cụ giúp định giá, đo lường và thống kê những loại gia tài khác. Vật hoàn toàn có thể do nhiều chủ thể khác nhau tạo ra nhưng tiền chỉ do Nhà nước độcquyền phát hành, thuộc về quyền chủ quyền lãnh thổ của mỗi vương quốc. Vật được xác lập bằng đơn vị chức năng thống kê giám sát số lượng còn tiền ngoài số lượng cònđược xác lập trải qua mệnh giá. Chủ sở hữu vật có toàn quyền tiêu hủy, biến hóa về hình dáng, công dụng, cải tiếnvật thuộc chiếm hữu của mình nhưng so với tiền thì không. Tài sản là sách vở có giá. Giấy tờ có giá được hiểu là những loại sách vở trị giá được bằng tiền và có thểchuyển giao được trong thanh toán giao dịch dân sự, Giấy tờ có giá lúc bấy giờ sống sót dưới nhiềudạng khác nhau như séc, CP, trái phiếu, hối phiếu … Cần chú ý quan tâm, những loại giấy tờxác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng so với gia tài như giấy ghi nhận quyền sửdụng đất và gia tài gắn liền với đất, giấy ĐK xe … không phải là sách vở có giá. Do những loại sách vở này chỉ là công cụ để Nhà nước ghi nhận quyền sở hữu so với tàisản nhằm mục đích quản trị và bảo vệ quyền của chủ sở hữu, không nhằm mục đích mục tiêu thanhkhoản. Vì vậy, bản thận những loại sách vở này không trị giá được bằng tiền, việc đơnthuần chuyển giao những loại sách vở này mà không thực thi ĐK sẽ không làmphát sinh việc chuyển giao quyền sở hữu so với gia tài nó ghi nhận. Qua đó có thểthấy, 1 số ít thuộc tính để phân biệt sách vở có giá với những loại gia tài khác gồm có : Thứ nhất, về mặt hình thức, sách vở có giá là một chứng từ được lập theo hình thức, trình tự luật định ; thứ hai, về nội dung, sách vở có giá xác nhận quyền gia tài của mộtchủ thể xác lập và quyền này được pháp lý ghi nhận và bảo lãnh ; thứ ba, bản thângiấy tờ có giá có tính thanh toán và là công cụ hoàn toàn có thể chuyển nhượng ủy quyền trực tiếp quyềntài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác. Đây là thuộc tính phân biệt những loại giấy tờghi nhận quyền gia tài khác với sách vở có giá. Tài sản là quyền gia tài. Được lao lý trong Bộ luật dân sự năm năm ngoái tại Điều 115 như sau : “ Quyền tàisản là quyền trị giá được bằng tiền, gồm có quyền gia tài so với đối tượng người dùng quyềnsở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và những quyền gia tài khác. ”. Theo đó, quyền tài sảnđể trở thành gia tài phải trị giá được bằng tiền và hoàn toàn có thể được chuyển giao trong giaodịch dân sự. Quyền gia tài ở đây là những quyền của chủ thể hay những hành vi được phépcủa chủ thể được xác lập trong quan hệ pháp lý nhất định và được pháp lý ghinhận và bảo vệ. Theo đó, chủ thể có quyền gia tài được thực thi những hành vi nhấtđịnh và việc được phép thực thi những hành vi này được phép chuyển nhượng ủy quyền và đượcđịnh giá được thành tiền. Tóm lại, gia tài là quyền sử dụng đất, một loại gia tài được biểu lộ dưới dạng ” Quyền ” được pháp lý Nước Ta bảo lãnh, được trị giá thành tiền và trọn vẹn cóquyền được chuyển giao trong giao lưu dân sự, thương mại ; được quyền định đoạtquyền gia tài này theo ý chí và mục tiêu của người có quyền gia tài, trong đó, tặngcho quyền sử dụng đất ở cũng là một phương pháp chuyển giao gia tài được biểu hiệndưới dạng ” quyền gia tài “. 1.2. Khái niệm hợp đồng tặng cho gia tài. HĐTCTS là loại hợp đồng thông dụng và thông dụng ở Nước Ta cũng như trên thếgiới ; do đó, khái niệm về HĐTCTS đã được luật hoá trong rất nhiều BLDS trên thếgiới cũng như được đề cập trong nhiều khu công trình khoa học pháp lý. Trong luận văn “ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất – Một số yếu tố lý luậnvà thực tiễn ”, tác giả Trần Thị Minh định nghĩa : “ Hợp đồng tặng cho gia tài là mộtquan hệ tặng cho được hình thành từ sự thoả thuận giữa những bên để thoả mãn những nhucầu về sản xuất, kinh doanh thương mại hoặc những nhu yếu về hoạt động và sinh hoạt hằng ngày ; còn pháp luậtvề hợp đồng tặng cho gia tài là sự lao lý của Nhà nước so với những bên trong việcthoả thuận về tặng cho gia tài ” [ … .., tr. 10 ]. Định nghĩa đã lý giải HĐTCTS dưới gócđộ là một quan hệ pháp luật dân sự và dưới góc nhìn là một chế định pháp lý. Vớicách tiếp cận tặng cho là một quan hệ pháp lý, định nghĩa trên đã làm sáng tỏ đượccơ sở hình thành HĐTCTS là trải qua sự thoả thuận. Còn với nhận định và đánh giá “ tặng cho … để thoả mãn những nhu yếu về sản xuất, kinh doanh thương mại hoặc những nhu yếu về hoạt động và sinh hoạt hằngngày ” thì tác giả luận văn lại có quan điểm khác. Bởi lẽ, mỗi bên trong HĐTCTS cómục đích khác nhau khi xác lập HĐTCTS. Mục đích của bên tặng cho hướng tới khôngphải nhằm mục đích thoả mãn những nhu yếu về sản xuất, kinh doanh thương mại hay những nhu yếu về sinh hoạthằng ngày mà mục tiêu là nhằm mục đích chuyển giao gia tài và chuyển quyền sở hữu đối vớitài sản của họ cho bên được tặng cho. Trên cơ sở thừa kế những điểm hài hòa và hợp lý được xâydựng trong định nghĩa trên, theo quan điểm của tác giả luận văn khi tiếp cận tặng cholà một quan hệ pháp lý thì cần làm sáng tỏ hơn những yếu tố đặc trưng tương quan đếnchủ thể, khách thể và nội dung của quan hệ cũng như thực chất không có đền bù củaloại quan hệ này. Cũng đưa ra định nghĩa về HĐTCTS, tác giả Nguyễn Văn Hiến nhận định và đánh giá : “ Hợpđồng tặng cho gia tài là sự thoả thuận của những bên theo đúng lao lý của pháp luậtvề tặng cho gia tài, theo đó bên tặng cho giao gia tài của mình và chuyển quyền sởhữu cho bên được tặng cho mà không nhu yếu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ýnhận ” [ 26, tr. 96 ]. Về cơ bản, định nghĩa này được thiết kế xây dựng theo lao lý tại Điều465 BLDS năm 2005 và thêm cụm từ “ theo đúng pháp luật của pháp lý về tặng chotài sản ”. Tác giả Nguyễn Văn Hiến muốn nhấn mạnh vấn đề đến sự tuân thủ pháp lý của bêntặng cho và bên được tặng cho khi xác lập, triển khai HĐTCTS. Đây là yếu tố bảođảm cho pháp lý được thực thi nghiêm chỉnh và đúng đắn trên thực tiễn. Tuy nhiên, tácgiả luận văn lại tiếp cận HĐTCTS dưới một cách nhìn khác, dù bên tặng cho và bênđược tặng cho không tuân thủ theo đúng pháp luật của pháp lý thì thực chất giao dịchcác bên xác lập vẫn là HĐTCTS. Như bên tặng cho và bên được tặng xác lập khôngđúng với hình thức của HĐTCTS hay ý chí của những bên không tự nguyện khi xác lậpHĐTCTS không làm biến hóa thực chất của thanh toán giao dịch là HĐTCTS. Thậm chí, trongnhững trường hợp này, HĐTCTS vẫn có hiệu lực thực thi hiện hành thi hành so với cả bên tặng cho vàbên được tặng cho. Ví dụ : Trong lúc say rượu, A tặng cho B 20 triệu đồng. Sau khi10tỉnh rượu, A không nhu yếu toà án công bố HĐTC A đã xác lập thực thi với B là vôhiệu. Do vậy, hợp đồng tặng cho này vẫn có hi ệu lực mặc dầu không thoả mãn đầy đủcác điều kiện kèm theo có hiệu lực thực thi hiện hành theo pháp luật tại Điều 117 BLDS năm năm ngoái hay trường hợpcha mẹ tặng cho nhà đất cho con cháu, hợp đồng đã được lập văn bản nhưng chưacông chứng, xác nhận nhưng nếu những bên hoặc một trong hai bên đã triển khai đượctối thiểu 2/3 nghĩa vụ và trách nhiệm thì HĐTCTS được công nhận ( Điều 129 BLDS năm năm ngoái ). Ngoài ra, HĐTCTS còn được định nghĩa “ là sự biểu lộ ý chí, sự tự nguyện, tựdo thỏa thuận hợp tác trong khuôn khổ pháp luật pháp lý của những bên, theo đó bên tặng chochuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng gia tài của mình theo quy địnhcủa pháp lý cho bên được tặng cho mà không nhu yếu đền bù, còn bên được tặngcho đồng ý chấp thuận nhận ” [ … .., tr. 12 ]. Cũng giống như định nghĩa ở trên, định nghĩa nàykhẳng định hợp đồng tặng cho gia tài phải theo lao lý của pháp lý – Đây là vấnđề mà tác giả luận văn có góc nhìn khác và đã được trình diễn ở trên. Bên cạnh đó, đâylà định nghĩa duy nhất ghi nhận “ bên tặng cho chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyểnquyền sử dụng gia tài của mình … cho bên được tặng cho ”. Nội dung này gây ra rấtnhiều do dự cho tác giả luận văn. Theo những thuật ngữ được dùng trong định nghĩatrên, tặng cho là “ chuyển giao quyền sở hữu ” hoặc “ chuyển quyền sử dụng ” đối vớitài sản. Tuy vậy, HĐTCTS luôn là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối vớimọi loại gia tài nói chung gồm vật, tiền, sách vở có giá và quyền gia tài mà không phảilà chuyển giao quyền sử dụng gia tài. Trường hợp tặng cho quyền gia tài như quyềnsử dụng đất thì mục tiêu của hợp đồng chính là chuyển quyền chiếm hữu so với QSDĐtừ bên tặng cho sang cho bên được tặng cho. Để đưa ra được khái niệm khá đầy đủ, hoàn thành xong về HĐTCTS, trước hết, cần phảinghiên cứu thực chất của hợp đồng. Hợp đồng là sự thoả thuận giữa những bên về việc xáclập, đổi khác hoặc chấm hết quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự ( Điều 385 BLDS năm năm ngoái ). Tặngcho là một trong những loại hợp đồng nên phải theo triết lý về sự hình thành hợp đồng ; đơn cử, HĐTCTS là sự thoả thuận, thống nhất ý chí của bên tặng cho và bên được tặngcho gia tài. Nếu thiếu đi yếu tố “ thoả thuận ” thì không hề hình thành được HĐTCTS.Điều này cũng bộc lộ rất rõ trong định nghĩa về HĐTCTS được ghi nhận tại Điều457 BLDS năm năm ngoái : “ Hợp đồng tặng cho là sự thoả thuận giữa những bên … ” và ngay11trong định nghĩa cũng đã đưa ra điều kiện kèm theo về ý chí của bên được tặng cho “ đồng ýnhận gia tài ”. Trên cơ sở thừa kế những định nghĩa về HĐTCTS đã được những nhà khoa học xâydựng trước đó và cùng với sự nghiên cứu và phân tích, phản hồi ở trên, tác giả luận văn đưa ra địnhnghĩa về HĐTCTS như sau : “ Hợp đồng tặng cho gia tài là sự thoả thuận giữa bên tặng cho và bên được tặngcho, theo đó khi còn sống, bên tặng cho giao gia tài của mình và chuyển quyền sở hữucho bên được tặng cho mà không nhu yếu đền bù ; còn bên được tặng cho nhận chuyểngiao gia tài. Hợp đồng tặng cho hoàn toàn có thể kèm điều kiện kèm theo tặng cho hoặc không ”. Đối chiếu theo những yếu tố cần được sử dụng khi kiến thiết xây dựng định nghĩa về HĐTCTSthì định nghĩa HĐTCTS được pháp luật tại Điều 457 BLDS năm năm ngoái đã phản ánh vàthể hiện được những nội dung cơ bản trên của loại hợp đồng này : “ Hợp đồng tặng cho tàisản là sự thoả thuận giữa những bên, theo đó bên tặng cho giao gia tài của mình vàchuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không nhu yếu đền bù, bên được tặngcho đồng ý chấp thuận nhận ”. So sánh giữa định nghĩa tác giả luận văn kiến thiết xây dựng và định nghĩavề HĐTCTS được lao lý trong BLDS năm năm ngoái thì tác giả luận văn đã lược bỏcụm “ bên được tặng cho đồng ý chấp thuận nhận ”. Bởi lẽ, theo như nghiên cứu và phân tích ở trên, hợp đồngtặng cho hoàn toàn có thể được hình thành từ sự yêu cầu của bên tặng cho hoặc của chính bênđược tặng cho. Trường hợp bên tặng cho đưa ra đề xuất kiến nghị tặng cho thì cần có sự đồng ýcủa bên được tặng cho. Ngược lại, nếu bên được tặng cho đề xuất một chủ thể tặngtài sản cho họ thì cần sự đồng ý chấp thuận của người đó. Nếu vậy, định nghĩa đang được ghinhận trong BLDS năm năm ngoái đang chỉ hướng tới trường hợp bên tặng cho đưa ra đềnghị tặng cho và bên được tặng cho đồng ý chấp thuận nhận mà chưa bao quát được tình huốngbên được tặng cho đề xuất kiến nghị bên tặng cho tặng gia tài cho mình. 1.3. Khái niệm và đặc thù quyền sử dụng đấtTrước khi Hiến pháp năm 1980 sinh ra, trong mạng lưới hệ thống pháp lý Nước Ta, khái niệm “ quyền sử dụng đất ” chưa được sử dụng để chỉ những quyền lực của cánhân, hộ mái ấm gia đình, tổ chức triển khai so với đất đai mà là khái niệm “ quyền sở hữu ” được sửdụng. Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá VI đã trải qua Hiến phápnăm 1980. Một chính sách chiếm hữu duy nhất so với đất đai ở nước ta đã được xác lập, đó12là chính sách công hữu dưới tên gọi “ sở hữu toàn dân ”. Trên cơ sở đó, Luật Đất đai năm1987 được phát hành và khái niệm “ quyền sử dụng đất ” chính thức được sử dụng. Từđó cho đến nay, trải qua nhiều lần thay thế sửa chữa Hiến pháp và Luật Đất đai, chính sách sở hữutoàn dân về đất đai liên tục được duy trì và khái niệm “ quyền sử dụng đất ” vẫn đượcsử dụng. Được sinh ra trong toàn cảnh như vậy nên “ quyền sử dụng đất ” là một sự sángtạo pháp lý nhằm mục đích triển khai sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta và cũng như là mộtcông cụ pháp lý để giúp Nhà nước thực thi được thế lực chủ sở hữu của mình. Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý – Bộ tư pháp do Nhà xuất bản từđiển bách khoa và Nhà xuất bản tư pháp xuất bản năm 2006 định nghĩa : ” Quyền sửdụng đất là quyền của những chủ thể được khai thác hiệu quả, hưởng hoa lợi, lợi tứctừ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ nhữngchủ thể khác trải qua việc quy đổi, chuyển nhượng ủy quyền, cho thuê, cho thuê lại, thừakế, tặng cho … từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất “. Nội dung của khái niệmnày xác đã định rõ được nguồn gốc sử dụng đất ; xác lập được quan hệ giữa Nhànước với người sử dụng đất ; xác lập được quyền khai thác quyền lợi từ đất của ngườisử dụng đất. Quyền sử dụng đất là bộ phận cấu thành của quyền sở hữu đất đai. Thông quaviệc Nhà nước được độc quyền trong giao giao đất, cho thuê đất, định giá đất, thu hồiđất. Nhà nước trao cho người sử dụng đất thực thi trong thời hạn thuê đất, nhận giaođất những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm nhất định ; trong đó có sự phân biệt theo loại đất, theođối tượng sử dụng đất, theo hình thức thuê hoặc giao đất. Đây là quan điểm của Tiếnsĩ Lê Xuân Bá. Quan điểm này chỉ ra quyền sử dụng đất là một quyền phái sinh từquyền chiếm hữu đất đai, nó xác lập quyền lực của chủ sở hữu đại diện thay mặt và phân rõquyền hạn của từng loại chủ thể sử dụng đất. Theo đó chỉ có nhà nước mới là ngườisở hữu về đất đai một cách toàn vẹn và đúng nghĩa. Nhà nước triển khai quyền sở hữuđất đai trải qua việc độc quyền giao đất, cho thuê đất, định giá đất, tịch thu đất đốivới người có nhu yếu sử dụng đất. Việc giao đất, cho thuê đất, định giá đất, thu hồiđất của nhà nước so với người có nhu yếu sử dụng đất là có thời hạn theo từng loạiđất và đối tượng người tiêu dùng sử dụng đất. 13V ới những quan điểm trên thì quyền sử dụng đất được nhìn nhận ở hai góc nhìn đólà góc nhìn về kinh tế tài chính và góc nhìn về pháp lý. Nhìn ở góc nhìn về pháp lý thì quyền sử dụngđất là thuộc về nhà nước, những quyền lực mà nhà nước trải qua công cụ pháp lý đểquy định, công nhận cho chủ thể sử dụng đất được hưởng, được thực thi trong quátrình sử dụng đất. Còn nhìn ở góc nhìn về kinh tế tài chính thì quyền sử dụng đất là quyền khaithác những quyền lợi kinh tế tài chính từ đất của những chủ thể sử dụng đất hợp pháp. Quan điểm về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất liên tục được khẳng địnhtại Nghị quyết số 19 – NQ / TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa XI về liên tục thay đổi chủ trương pháp lý về đất đai trongthời kỳ tăng nhanh tổng lực công cuộc thay đổi, tạo nền tảng đến năm 2020 nước tacơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng văn minh. Đảng ta khẳng định chắc chắn quyền sửdụng đất là “ một loại gia tài và hàng hoá đặc biệt quan trọng, nhưng không phải là quyền sở hữu ” [ 3 ]. Nhìn từ phương diện kinh tế tài chính thì một hàng hoá thường thì khi nào cũng có giátrị và giá trị sử dụng, trong đó giá trị của hàng hoá được xác lập bằng lao động kếttinh trong hàng hoá ( lao động hao phí phải bỏ ra để tạo ra mẫu sản phẩm ), nhưng giá trịcủa quyền sử dụng đất không được xác lập trải qua quy luật thường thì, khôngcó hao phí lao động nào được bỏ ra để hình thành nên đất ( chỉ có lao động bỏ ra đểcải tạo, trùng tu đất ). Mặt khác đối tượng người tiêu dùng của quyền sử dụng đất là đất đai, một tài sảnthuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện thay mặt chủ sở hữu quản trị ; Không giốngvới những hàng hoá thường thì mà chủ sở hữu được toàn quyền định đoạt, quyền sửdụng đất là loại hàng hoá mà sự sống sót nhờ vào rất nhiều vào ý chí của Nhà nước ( quyết định hành động giao đất, cho thuê đất ; quyết định hành động tịch thu đất … ). Qua đó, tất cả chúng ta có thểnhận thấy đặc thù đặc biệt quan trọng của loại hàng hoá “ quyền sử dụng đất ” trên thị trường, cũng như để quyền sử dụng đất phát huy được vai trò là một loại hàng hoá đặc biệttrên thị trường thì Nhà nước phải xác lập chính sách quản trị hữu hiệu, tương thích nhằm mục đích trướchết là tôn trọng quyền của người có gia tài là quyền sử dụng đất đã được Nhà nướcxác lập và công nhận hợp pháp ; theo đó, họ được quyền dữ thế chủ động và linh động trongviệc khai thác, sử dụng và định đoạt gia tài ấy theo ý chí, nguyện vọng và mong muốncủa mình ; cơ chế pháp lý ấy phải hướng tới mục tiêu tôn trọng và bảo vệ quyền tàisản cho người có quyền sử dụng đất. Mọi sự can thiệp sâu, không cho hay tạo ra những14rào cản pháp lý để gây khó khăn vất vả, cản trở cho việc khai thác, sử dụng và thực thi cácgiao dịch về quyền gia tài này cũng đều dẫn đến rủi ro tiềm ẩn xâm phạm tới quyền tài sảncủa người có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, như trên đã nghiên cứu và phân tích, cơ sở phát sinh vànguồn gốc để xác lập cho người có quyền gia tài này là Nhà nước với tư cách là chủsở hữu đại diện thay mặt so với đất đai nên ý chí và mong ước của Nhà nước luôn hướngtới sự chi phối, trấn áp so với những hành vi sử dụng gia tài này. Sự quản trị và kiểmsoát đó một mặt biểu lộ quyền lực tối cao của Nhà nước vừa với công dụng quản trị mọi mặtđời sống kinh tế tài chính, xã hội, vừa với công dụng đại diện thay mặt chủ sở hữu ; tuy nhiên mặt khác cònvới mong ước khuynh hướng, ” xây đắp ” cho quyền sử dụng đất ấy được khai thác, sửdụng có hiệu suất cao trên cơ sở quỹ đạo chung thống nhất, hài hòa quyền lợi của Nhà nước, người có gia tài là quyền sử dụng đất và cao hơn là quyền lợi chung của xã hội. Ở mộtkhía cạnh khác, sự quản trị và trấn áp của Nhà nước còn giúp cho những thanh toán giao dịch vềquyền sử dụng đất được bảo vệ thực thi một cách hợp pháp, ngăn ngừa việc lợidụng sự lan rộng ra của pháp lý về quyền gia tài, quyền tự do kinh doanh thương mại để thực hiệnnhững mưu đồ phạm pháp, tư lợi cá thể … làm ảnh hưởng tác động tới quyền và quyền lợi hợppháp của những chủ thể khác. Có thể nhận thấy rằng trải qua mối quan hệ giữa Nhà nước với những tổ chức triển khai, hộ mái ấm gia đình, cá thể sử dụng đất, đặc biệt quan trọng là từ phương pháp giải quyết và xử lý của pháp lý khi quyđịnh về những quyền của người không phải là chủ sở hữu so với gia tài, trong đó cóquyền sử dụng đất và phương pháp bảo vệ những quyền so với gia tài của người khôngphải là chủ sở hữu đó cũng được thực thi như bảo vệ so với chủ sở hữu tài sản, cóthể nhận thấy rõ thực chất của quyền sử dụng đất của người sử dụng đất nhưsau : Quyền sử dụng đất là quyền gia tài thuộc chiếm hữu của tổ chức triển khai, hộ mái ấm gia đình, cánhân phát sinh trên cơ sở quyết định hành động giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụngđất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc từ những thanh toán giao dịch nhận chuyển quyềnsử dụng đất. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất phải tuân thủ cácđiều kiện, thủ tục do pháp lý pháp luật. Nhận diện được thực chất của quyền sử dụng đất sống sót trong chế định sở hữutoàn dân về đất đai mà Nhà nước đóng vai trò là chủ sở hữu đại diện thay mặt có ý nghĩa vôcùng quan trọng, là cơ sở tiền đề quan trọng trong việc nghiên cứu và điều tra và nhìn nhận về15giới hạn của quyền gia tài là quyền sử dụng đất của người có quyền gia tài trong cácgiao lưu dân sự, kinh tế tài chính trong đời sống xã hội. Đồng thời, đó cũng là cơ sở để nghiêncứu số lượng giới hạn của sự chi phối và trấn áp của Nhà nước với tư cách là đại diện thay mặt chủsở hữu so với gia tài là đất đai quyền gia tài là quyền sử dụng đất của những tổ chức triển khai, cá thể khi họ thực thi những quyền so với gia tài của mình. Tặng cho quyền sử dụngđất so với người có quyền hợp pháp so với gia tài này cũng là quyền vô cùng ýnghĩa ở cả phương diện kinh tế tài chính và văn hóa truyền thống ; quyền này đã và đang được triển khai vôcùng thoáng đãng trong đời sống dân sự lúc bấy giờ. 1.4. Khái niệm, đặc thù của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ởPháp luật hiện hành không có khái niệm về tặng cho QSDĐ, càng không cókhái niệm đơn cử về tặng cho QSDĐ ở. Nội hàm của tặng cho QSDĐ chỉ được đề cậptrong Giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà nội, theo đó “ Tặng choquyền sử dụng đất thực ra cũng chỉ là một dạng đặc biệt quan trọng của chuyển nhượng ủy quyền quyềnsử dụng đất, nhưng việc chuyển nhượng ủy quyền này có giá trị thanh toán giao dịch bằng không ” [ 51, tr. 212 ]. Sở dĩ, giáo trình nêu trên cho rằng, tặng cho QSDĐ là một dạng đặc biệt quan trọng củaquan hệ chuyển nhượng ủy quyền QSDĐ bởi nếu xét về hành vi thì chuyển nhượng ủy quyền hay tặngcho QSDĐ cũng đều là sự chuyển giao QSDĐ từ người có QSDĐ hợp pháp sang chongười khác và hệ quả pháp lý của hành vi chuyển giao trong hai trường hợp nêu trêncũng đều dẫn đến là : Chấm dứt QSDĐ của người chuyển giao và xác lập QSDĐ chochủ thể mới là chủ thể nhận chuyển giao trên cơ sở được pháp lý được cho phép. Tuynhiên, tính độc lạ của hai phương pháp thanh toán giao dịch này bộc lộ ở chỗ : trong quan hệchuyển nhượng thì sự chuyển giao đó có đền bù một khoản quyền lợi vật chất trên cơ sởthỏa thuận của những bên và tùy thuộc vào thị trường về quyền sử dụng đất tại thời điểmchuyển nhượng mà giá trị đền bù đó cao hay thấp. Trong khi đó, trong quan hệ tặngcho, việc chuyển giao đó không được biểu lộ bằng bất kể một giá trị vật chất nào, mà chỉ là sự tự nguyện của người có QSDĐ trao QSDĐ đó cho một người khác màhọ mong ước và được chủ thể này gật đầu. Bởi vậy, quan hệ tặng cho QSDĐdiễn ra cũng không nhờ vào và chi phối bởi tình hình thị trường QSĐĐ diễn ra như16thế nào tại thời gian triển khai quyền này. Đây chính là sự độc lạ cơ bản của haigiao dịch chuyển quyền sử dụng đất : chuyển nhượng ủy quyền và tặng cho. Dưới góc nhìn pháp lý đất đai, tặng cho quyền sử dụng là những quy phạm pháp luậtcủa Nhà nước phát hành nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh quan hệ tặng cho phát sinh trong quy trình dịchchuyển quyền sử dụng đất giữa những chủ thể với nhau. Đó là những pháp luật về điều kiện kèm theo, nộidung, hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho và bên đượctặng cho. Theo đó, tặng cho quyền sử dụng đất được hiểu là một quyền gia tài trong giaolưu dân sự, kinh tế tài chính của thị trường bất động sản [ 1, tr. 60 – tr. 61 ]. Đây là quyền gia tài đượcNhà nước – đại diện thay mặt chủ sở hữu – được cho phép, thừa nhận và bảo vệ. Dưới góc nhìn pháp luật dân sự, tặng cho quyền sử dụng đất là một giao dịchdân sự, trong đó những bên tự trao đổi, thỏa thuận hợp tác với nhau về việc tặng cho quyền sửdụng đất để làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự nhất định nhằm mục đích thỏa mãncác nhu yếu sử dụng đất. Sự thỏa thuận hợp tác về việc tặng cho quyền sử dụng đất này là sựthống nhất ý chí giữa bên tặng cho và bên được tặng cho. Theo đó, bên tặng chochuyển giao quyền sử dụng đất của mình cho bên được tặng cho mà không yêu cầubên được tặng cho trả cho mình bất kể quyền lợi vật chất nào ; còn bên được tặng chođồng ý nhận quyền sử dụng đất mà bên kia cho tặng. Khi hợp đồng tặng cho quyềnsử dụng đất có hiệu lực thực thi hiện hành sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của những bên trong việctặng cho. Như vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không chỉ là sự thỏa thuậnđể dịch chuyển quyền sử dụng đất từ bên tặng cho sang bên được tặng cho mà nó cònlà sự thỏa thuận hợp tác để làm phát sinh hay chấm hết những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên [ 1, tr. 58 ]. Do đó, dưới góc nhìn pháp luật dân sự, hoàn toàn có thể hiểu khái niệm tặng cho quyềnsử dụng đất là sự thỏa thuận hợp tác làm phát sinh quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự theo hợp đồngtặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho và bên được tặng cho. Nếu tặng cho quyền sử dụng đất dưới góc nhìn dân sự hướng tới việc định nghĩanó như một quan hệ tặng cho gia tài hình thành từ sự thỏa thuận hợp tác giữa những bên nhằmphục vụ nhu yếu sử dụng đất thì tặng cho quyền sử dụng dưới góc nhìn pháp lý đấtđai là sự pháp luật và nhu yếu của Nhà nước so với người sử dụng đất khi thực hiệnquyền tặng cho so với quyền sử dụng đất. Theo đó, chỉ khi người sử dụng đất thựchiện đúng những lao lý của pháp lý thì việc tặng cho quyền sử dụng đất mới được17Nhà nước thừa nhận và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mới có hiệu lực thực thi hiện hành ; quyềnvà nghĩa vụ và trách nhiệm của những bên trong thỏa thuận hợp tác mới được pháp lý công nhận và bảo vệ. Pháp luật Nước Ta đã đưa ra khái niệm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đấttại Điều 722 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau : “ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụngđất là sự thỏa thuận hợp tác giữa những bên, theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất chobên được tặng cho mà không nhu yếu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý chấp thuận nhậntheo pháp luật của Bộ luật này và pháp lý về đất đai ”. Khái niệm này đã nêu đượcmột số nét đặc trưng của tặng cho quyền sử dụng đất nhưng vẫn chưa biểu lộ đượctính đặc trưng dưới góc nhìn của pháp lý đất đai. Theo đó, tặng cho quyền sử dụng đấtkhông chỉ là sự thỏa thuận hợp tác chuyển giao quyền sở hữu so với quyền sử dụng đất đơnthuần giữa bên tặng cho và bên được tặng cho theo đúng nhu yếu của pháp lý vềdân sự và đất đai mà nó còn là công cụ pháp lý bộc lộ quyền của chủ sở hữu đất đai ( Nhà nước ) trao quyền cho những chủ thể sử dụng đất được quyền di dời quyềnsử dụng đất ( một trong những quyền của chủ sở hữu đất đai ) nhằm mục đích cung ứng những nhu cầukhai thác và sử dụng đất đai. QSDĐ ở cũng là một trong những loại QSDĐ được Nhà nước trao cho những chủthể sử dụng đất và theo đó, người được trao QSDĐ ở được hưởng quyền và thực hiệncác nghĩa vụ và trách nhiệm tuân theo pháp lý và ý chí của người có quyền chiếm hữu là Nhà nước. Quy định của pháp lý hiện hành không có bất kể lao lý nào riêng cho tặng choQSDĐ ở mà chúng được thực thi trên cơ sở những pháp luật chung của pháp lý dânsự về tặng cho gia tài, tặng cho bất động sản và những pháp luật về tặng cho QSDĐ nóichung trong pháp lý đất đai. Tuy nhiên, như đã đề cập, QSDĐ ở có những đặc điểmkhác biệt so với những gia tài khác về nguồn gốc hình thành, về những gia tài khác khôngphải là QSDĐ nhưng luôn luôn phải được xem xét và đặt ra khi thực thi những QSDĐở như : nhà tại, khu công trình thiết kế xây dựng, vườn cây và những gia tài khác được hình thành trênđất ở với tính cách là một khối thống nhất không hề phân loại, không hề tách rời, hoặc trên thực tiễn hoàn toàn có thể phân loại hoặc tách rời nhưng chúng lại mất hoặc giảm đitính năng và giá trị sử dụng. Mặt khác, QSDĐ ở hoàn toàn có thể thuộc quyền sở hữu và sửdụng hợp pháp, duy nhất của một chủ thể, tuy nhiên cũng hoàn toàn có thể lại gồm có nhiều chủthể. Vì vậy, điều tra và nghiên cứu tặng cho QSDĐ ở ngoài việc phải tuân thủ đơn cử những quy định18của pháp luật dân sự, pháp lý đất đai về tặng cho gia tài, tặng cho quyền sử dụng đấtnói chung, còn phải xuất phát từ đặc thù và đặc thù riêng có của QSDĐ ở nói riêngđể chăm sóc và chú trọng khi thiết lập và triển khai thanh toán giao dịch một cách hợp pháp, bảo vệquyền và quyền lợi hợp pháp của những bên, của những chủ thể khác có tương quan và vì trật tựchung của Nhà nước và toàn xã hội. Từ lao lý về hợp đồng tặng cho QSDĐ được lao lý trong Bộ luật dân sự năm2005 ; địa thế căn cứ vào tính năng sử dụng của từng loại đất theo pháp luật của nhà nước có thểđịnh nghĩa “ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở là sự thỏa thuận hợp tác giữa những bên, theođó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất ở của mình cho bên được tặng cho mà không yêucầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý chấp thuận nhận tuân theo những lao lý của pháp lý đấtđất đai, pháp luật dân sự và pháp lý khác có tương quan “. Với những đặc tính đặc biệt quan trọng của gia tài là QSDĐ ở, hợp đồng tặng cho QSDĐở có một số ít đặc tính sau đây cần chú ý quan tâm : Những thanh toán giao dịch tặng cho QSDĐ ở được thiếp lập hợp pháp, tuân thủ đầy đủcác pháp luật của pháp lý đất đai, pháp luật dân sự và pháp lý khác có liên quansong chúng được bộc lộ ở hai loại tặng cho khác nhau : đó là, tặng cho QSDĐ ởthông thường và tặng cho QSDĐ ở có điều kiện kèm theo. Tặng cho QSDĐ ở thường thì : được triển khai trong trường hợp bên tặngcho và bên nhận tặng cho cung ứng đủ điều kiện kèm theo chung của pháp lý đất đai về điềukiện chuyển quyền sử dụng đất nói chung và về tặng cho quyền sử dụng đất nói riêng ; về hình thức và hiệu lực hiện hành của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng lao lý trong LuậtĐất đai, Bộ luật Dân sự và pháp lý khác có tương quan thì quan hệ tặng cho QSDĐlà quan hệ hợp pháp, được pháp lý thừa nhận và bảo vệ. Tặng cho QSDĐ ở thôngthường cũng được nhìn nhận ở trường hợp hợp đồng tặng cho QSDĐ ở được xác lập, triển khai giữa những bên nhưng trong nội dung của hợp đồng tặng cho không có bất kỳđiều khoản nào pháp luật về bên được nhận tặng cho phải đền bù hoặc phải thực hiệnbất kỳ một nghĩa vụ và trách nhiệm nào. Tặng cho QSDĐ ở có điều kiện kèm theo : được thực thi trong trường hợp mà bản thânngười có QSDĐ ở hợp pháp với tư cách là người tặng cho và cả người được tặng chophải phân phối những điều kiện kèm theo khắt khe của pháp lý. Đó là QSDĐ ở được quy hoạch19nằm trong những địa phận, khu vực được Nhà nước bảo vệ khắt khe như : trong phânkhu bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng ; hay người nhận tặng cho là những chủ thểmà theo pháp lý hiện hành đang bị hạn chế về QSDĐ ở, quyền sở hữu nhà ở tại ViệtNam như : người Nước Ta định cư ở quốc tế, cá thể người quốc tế sở hữunhà ở gắn liền với QSDĐ ở tại Nước Ta. Tặng cho QSDĐ ở có điều kiện kèm theo còn đặt ratrong trường hợp : QSDĐ khi đang thuộc quyền sử dụng hợp pháp người tặng cho thìchúng là QSDĐ ở, tuy nhiên một số ít chủ thể nhận tặng cho đặc biệt quan trọng như : Nhà nước, cộngđồng dân cư thì liệu những chủ thể này sau khi nhận tặng cho có bắt buộc phải sử dụngđất vào mục tiêu để ở hay không ? Thực tế cho thấy, việc giữ nguyên mục tiêu làQSDĐ ở sau khi nhận tặng cho so với chủ thể như Nhà nước, hội đồng dân cư làkhông tương thích với đặc thù, đặc thù và mục tiêu sử dụng của chủ thể này. Tặngcho QSDĐ ở có điều kiện kèm theo còn đặt ra trong trường hợp trong nội dung của hợp đồngtặng cho QSDĐ ở có pháp luật pháp luật nhu yếu bên được nhận tặng cho phải đềnbù hoặc phải thực thi một số ít nghĩa vụ và trách nhiệm nhất định và bên nhận tặng cho chấp thuận đồng ý thựchiện nghĩa vụ và trách nhiệm này. Đối tượng tặng cho không chỉ là QSDĐ ở mà có cả gia tài trên đất. Cần quan tâm về cơ sở pháp lý xác lập so với gia tài trên đất đó ở 1 số ít vấn đềnhư : QSDĐ ở và gia tài trên đất như nhà tại, khu công trình thiết kế xây dựng có được xác lập đồngthời cùng một thời gian hay tách rời ? QSDĐ ở và nhà, khu công trình thiết kế xây dựng có đồngthời cùng thuộc chiếm hữu và sử dụng hợp pháp của bên tặng cho hay thuộc của nhiềuchủ thể. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác lập tính hợp phápcủa chủ thể tặng cho và xác lập đơn cử đối tượng người dùng tặng cho trong hợp đồng tặng choQSDĐ ở. Chủ thể tặng cho không chỉ là chủ thể duy nhất có QSDĐ ở mà thuộc quyềnsử dụng của nhiều chủ thể khác. Về nguyên tắc, nếu toàn bộ những đồng sở hữu đều chấp thuận đồng ý tặng cho QSDĐ ở đóthì không có yếu tố gì phải bàn cãi ; tuy nhiên, yếu tố sẽ trở nên phức tạp hơn nếumột hoặc một số ít chủ thể có quyền hợp pháp so với QSDĐ ở đó không chấp thuận đồng ý, tán20
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


