luận văn khoa kinh tế luật Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ – Tài liệu text

luận văn khoa kinh tế luật Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý. Thực tiễn áp dụng tại văn phòng luật sư Interla

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (312.11 KB, 46 trang )

TÓM LƯỢC
Ở Việt Nam, DVPL mới khởi động và phát triển từ những năm 90 của thế kỷ 20 trở
lại đây. So với bề dầy truyền thống nghề luật ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Anh,
Pháp…thì kinh nghiệm hành nghề của giới luật gia Việt Nam là quá ít ỏi và chưa bài bản.
Các tổ chức, cá nhân cũng chưa có thói quen sử dụng DVPL cho các hoạt động của mình.
Tình trạng quan liêu, hách dịch, cửa quyền của một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước
ở Việt Nam vẫn còn, với sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân nên rất cần có sự
trợ giúp của nhà cung cấp DVPL. Pháp luật điều chỉnh HĐDVPL ở Việt Nam hiện nay
còn chưa hoàn chỉnh và được quy định ở rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau, như: Bộ
luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005. Các đạo luật chuyên ngành và một số
văn bản dưới luật, bước đầu đặt cơ sở pháp lý cho hoạt động DVPL của các nhà cung cấp
DVPL ký kết HĐDVPL với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng DVPL.
Các văn bản pháp luật nêu trên quy định về hợp đồng, HĐDV và DVPL chứ
không quy định trực tiếp về HĐDVPL. Điều đó dẫn đến một thực tế là trong một số
trường hợp cùng một vấn đề nhưng lại được điều chỉnh bằng nhiều quy định của các
văn bản khác nhau và những quy định đó lại chồng chéo, mâu thuẫn với nhau. Ngược
lại, có nhiều vấn đề lại không được quy phạm pháp luật nào điều chỉnh hoặc quy định
không rõ ràng hoặc quá chung chung…gây khó khăn, lúng túng cho các chủ thể
HĐDVPL, cho hoạt động QLNN và hoạt động giải quyết tranh chấp về HĐDVPL.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng các
HDDVPL vì vậy để làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về vấn đề giao kết và thực
hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại văn phòng luật sư Interla: Những mặt thuận lợi, tích
cực cũng như những khó khăn, hạn chế. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm góp
phần vào việc hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
trong thương mại nói chung đồng thời nâng cao hiệu quả quá trình giao kết và thực
hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại văn phòng luật sư Interla đối với các khách hàng.
Vấn đề về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý trong thương mại rất rộng lớn và còn
nhiều vấn đề. Với khoảng thời gian nghiên cứu không nhiều, em chưa thể đề cập được chi
tiết, mọi khía cạnh vấn đề nghiên cứu và không tránh khỏi những sai sót, em rất mong
nhận được sự chỉ bảo cũng như ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô. Đây là một đề
tài có tính thời sự và thực tiễn cao. Hoàn thành đề tài này sẽ là một đóng góp đáng kể vào

việc hoàn thiện pháp luật HĐDVPL và phát triển TMDVPL ở Việt Nam.
i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học
Thương Mại, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích
cho em, đó chính là những nền tảng cơ bản, là hành trang vô cùng quý giá, là bước đầu
tiên cho em bước vào sự nghiệp sau này. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến TS. Trần
Thành Thọ, cảm ơn thầy đã tận tình quan tâm, giúp đỡ em trong thời gian qua, nhờ đó
em mới có thể hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này. Sau đó, em cũng xin gửi lời
cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Thương Mại, Khoa Kinh tế – Luật, Bộ môn
Luật Căn Bản Trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành bài
khóa luận này.
Trong thời gian thực tập tại văn phòng luật sư Interla, em đã nhận được sự giúp
đỡ và tạo điều kiện của trưởng văn phòng luật sư, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình
của các cô chú, anh chị của các phòng ban đã giúp em tìm hiểu thực tế về môi trường
làm việc của văn phòng luật sư Interla. Qua đó, em đã có được những kiến thức nhất
định về pháp luật, đây sẽ là hành trang cho sự nghiệp của em sau này. Vì vậy, em xin
chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo, toàn thể các cô chú, anh chị trong thời gian thực
tập vừa qua.
Trong quá trình làm khóa luận vì trình độ của bản thân và thời gian thực tập còn
hạn chế nên em kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía các thầy cô giáo để
kiến thức của em được hoàn thiện hơn và bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
ii
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tăt Giải nghĩa của từ viết tắt
BLDS Bộ luật dân sự
DVPL Dịch vụ pháp lý

HĐDVPL Hợp đồng dịch vụ pháp lý
TMDVPL Thương mại dịch vụ pháp lý
LDN Luật doanh nghiệp
LTM Luật thương mại
LLS Luật luật sư
VPLS Văn phòng luật sư
CCHN Chứng chỉ hành nghề
HĐDV Hợp đồng dịch vụ
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
DN Doanh nghiệp
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
WTO Tổ chức thương mại thế giới
GATS Hiệp định thương mại dịch vụ
iii
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ ngày càng trở nên một yêu cầu tất yếu,
cấp bách đối với Việt nam. Trong bối cảnh đó, các tổ chức và cá nhân cần có sự trợ
giúp pháp lý một cách thường xuyên nhằm đảm bảo sự an toàn về mặt pháp lý cho các
giao dịch của mình. Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển
của DVPL cho các tổ chức và cá nhân ở tầm quốc tế. Các chủ thể tham gia nhiều giao
dịch liên quan đến nhiều lĩnh vực được điều chỉnh bởi pháp luật trong nước và pháp
luật quốc tế. Hình thức pháp lý của các giao dịch đó là hợp đồng. Để các giao dịch của
các chủ thể diễn ra an toàn và hiệu quả thì cần phải có sự trợ giúp pháp lý từ phía các
nhà cung cấp DVPL. Việc trợ giúp pháp lý của nhà cung cấp DVPL đối với bên sử
dụng DVPL được thể hiện dưới hình thức HĐDVPL. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể HĐDVPL, đặc biệt là của bên sử dụng DVPL và phòng ngừa
tranh chấp xảy ra, đòi hỏi pháp luật về HĐDVPL phải không ngừng hoàn thiện. Đồng
thời hệ thống pháp luật quốc gia về HĐDVPL phải phù hợp với các Điều ước quốc tế
mà Việt Nam đã ký kết.

Do đó khi áp dụng các qui phạm pháp luật về DVPL vào thực tế cho thấy còn nhiều
tồn tại. Xuất phát từ thực tế nêu trên và từ thực tiễn trong các hoạt động DVPL mà em
nhận thấy được trong quá trình thực tập văn phòng luật sư Interla. Em cho rằng việc hoàn
thiện các văn bản qui phạm pháp luật về hợp đồng thương mại nói chung và HĐDVPL
nói riêng là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển kinh tế của một
đất nước đang hội nhập kinh tế với nền kinh tế thế giới như Việt Nam ta.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.
Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, DVPL
đã được ghi nhận, cho phép thành lập và hoạt động (tuy chỉ đối với hoạt động của luật
sư) và chỉ được xác lập trở lại và phát triển khá mạnh mẽ từ hơn hai thập kỷ qua.
Trong khoảng thời gian đó, đã có một số nghiên cứu về DVPL ở các khía cạnh khác
nhau với phạm vi nghiên cứu khác nhau, như giáo trình, sách chuyên khảo, chuyên đề,
nhưng chủ yếu tồn tại dưới hình thức những bài viết đăng trên tạp chí, đăng trên kỷ
yếu hội thảo và đề tài nghiên cứu của một số cá nhân, tổ chức về DVPL. Hiện nay,
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về HĐDVPL. Có thể sắp xếp
1
nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan đến HĐDVPL đã được thực hiện ở Việt
Nam trong thời gian qua như sau:
1/ Nguyễn Như Chính (2011), Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý – những
vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội.
2/ Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Mơ – Khoa luật, Trường đại
học Quốc gia Hà Nội (2011), “Những vấn đề pháp lý về hợp đồng dịch vụ – thực tiễn
giải quyết tranh chấp về hợp đồng dịch vụ”. Ngoài việc tìm hiểu những vấn đề pháp
lý về hợp đồng dịch vụ, đề tài đi sâu vào việc phân tích những vụ việc thực tế về giải
quyết tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
3/ Phan Chí Hiếu (2005), Hoàn thiện chế định hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứu
Lập pháp số 4.
4/ Hoàng Thị Vịnh (2014), Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, Luận văn tiến
sĩ luật học. Học viên khoa học xã hội.
5/ Bài viết “Dịch vụ pháp lý và nhu cầu trong nền kinh tế thị trường ở Việt

Nam” của TS. Nguyễn Văn Tuân đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số Chuyên
đề Pháp luật về Doanh nghiệp.
Tóm lại, các nhóm công trình trên đã nghiên cứu, đánh giá những vấn đề có liên
quan đến HĐDVPL ở những khía cạnh khác nhau và là tài liệu tham khảo hữu ích cho
việc nghiên cứu pháp luật HĐDVPL. Tuy nhiên, do có những mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu khác nhau nên các tác giả chưa đề cập một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ
thống các vấn đề lý luận về DVPL cũng như pháp luật về HĐDVPL, mà chưa đi sâu
vào nghiên cứa các qui định về giao kết và thực HĐDVPL nên các thông tin về
HĐDVPL còn bị hạn chế. Do đó có nhiều cách khác nhau trong việc áp dụng các qui
định của pháp luật về HĐDVPL vào thực tiễn cũng là điều tất yếu. Nhằm hiểu và áp
dụng các qui định của pháp luật về giao kết và thực hiện các HĐDVPL trong các hoạt
động thương mại như thế nào? Thực trạng áp dụng các qui định của pháp luật về hợp
đồng dịch vụ pháp lý của văn phòng luật sư Interla diễn ra như thế nào? Các đề xuất
giải pháp hoàn thiện các qui định pháp luật về giao kết và thực HĐDVPL.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Qua thời gian tìm hiểu thực tế từ ngày 05/01/2015 đến ngày 29/04/2015 về các hợp
đồng dịch vụ pháp lý của văn phòng luật sư Interla cho thấy bên cạnh những kết quả đạt
2
được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong việc hoàn thiện về hợp đồng dịch
vụ pháp lý của văn phòng luật sư Interla. Do vậy để vấn đề giao kết và thực hiện hợp
đồng dịch vụ pháp lý trở thành đòn bẩy đối với văn phòng luật sư Interla, thực sự phát huy
vai trò của mình thì cần phải có những biện pháp để hoàn thiện hơn việc giao kết và thực
hiện HĐDVPL của văn phòng luật sư hiện nay là cần thiết. Trên cơ sở đó em lựa chọn đề
tài: “ Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý. Thực tiễn áp dụng tại
văn phòng luật sư Interla” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu của khóa luận
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp là: Các quan điểm, tư tưởng luật
học về DVPL và HĐDVPL, các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về
HĐDVPL, cam kết của Việt Nam trong các Điều ước quốc tế về DVPL, pháp luật

nước ngoài và pháp luật quốc tế về HĐDVPL, thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật
HĐDVPL ở Việt Nam.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài khóa luận
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Việt
Nam.
Thứ hai, phân tích thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại
Văn phòng luật sư Interla. Từ đó, đánh giá những bất cập, hạn chế trong qui định của
pháp luật, của công ty.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, khóa luận đưa ra
một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong giao kết và thực hiện hợp đồng dịch
vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Interla nói riêng, cũng như của Việt Nam nói chung.
4.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài khóa luận
Do kiến thức còn hạn hẹp và thời gian nghiên cứu không nhiều nên khóa luận chỉ
tập trung nghiên cứu:
– Những quy định hiện hành của pháp luật trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý, như
LTM 2005, BLDS 2005, và một số văn bản luật chuyên ngành khác.
– Việc giao kết và thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn
phòng luật sư Interla
3
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là phương pháp luận khoa
học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ khóa luận để đánh giá khách quan sự thể
hiện của các qui định của pháp luật về HĐDVPL. Khóa luận cũng được nghiên cứu
dựa trên đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, phát triển TMDV và hội
nhập kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
cụ thể khác nhau như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
lịch sử cụ thể và phương pháp nghiên cứu trực tiếp qua khảo sát thực tế nhằm minh
chứng cho những lập luận, cho những nhận xét đánh giá, kết luận khoa học của khóa

luận và đặc biệt là phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử được sử dụng
xuyên suốt khóa luận để phân tích, đối chiếu so sánh những quy định pháp luật về
HĐDVPL để thấy sự phát triển của pháp luật về HĐDVPL của nước ta cũng như
những điểm tương đồng và khác biệt, những hạn chế, bất cập của pháp luật về
HĐDVPL của Việt nam so với các quy định của WTO và pháp luật quốc tế. Để hoàn
thành mục đích nghiên cứu thì có sự kết hợp giữa các phương pháp trong từng phần
của khoá luận. Đối với mỗi mục thì có một số phương pháp nghiên cứu chủ đạo để
làm rõ mục đích nghiên cứu.
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết
luận, nội dung khóa luận kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện
hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng
dịch vụ pháp lý tại văn phòng luật sư Interla.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp
đồng dịch vụ pháp lý.
4
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ
GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ
1.1. Một số khái niệm cơ bản của hợp đồng dịch vụ pháp lý.
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng
Hợp đồng là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu và hiện tại có khá nhiều khái
niệm về hợp đồng. Trên thực tế, sự tiếp cận khái niệm hợp đồng trong các hệ thống
pháp luật cũng khác nhau. Quan niệm của các luật gia thuộc hệ thống Civil Law xem
hợp đồng như một kết quả phức hợp của ý chí tự do cá nhân cùng nhiều nguyên tắc
pháp lý cơ bản của Luật Tư. Theo Geoffrey Samuel: “Khái niệm hợp đồng trong hệ
thống Civil law bị chi phối bởi ba nguyên tắc. Thứ nhất, hợp đồng được xem là kết
quả chung của sự gặp gỡ ý chí của các bên. Thứ hai, đó là pháp luật do các bên lập ra
để ràng buộc chính các bên trong hợp đồng. Vì sự ràng buộc của hợp đồng không chỉ

là hiệu lực pháp lý được dự liệu bởi các bên, mà đó còn là hiệu lực được đảm bảo bởi
pháp luật, bởi tập quán hoặc bởi yêu cầu của nguyên tắc thiện chí, nhằm xác lập trách
nhiệm thực thi hợp đồng phù hợp với bản chất của hợp đồng. Nguyên tắc thứ ba là tự
do hợp đồng: các bên được tự do, trong phạm vi giới hạn của luật công và trật tự
công cộng, để tạo ra loại hợp đồng mà họ muốn, thậm chí điều đó có thể là vô lý theo
cách nhìn nhận của người khác
1
Khác với quan niệm của các nước theo hệ thống Civil Law, trong hệ thống
Common Law (Thông luật), ban đầu người ta xem hợp đồng như là kết quả của các
cam kết đơn giản, thể hiện bằng những hành vi pháp lý cụ thể của mỗi bên. Sau
này,“các thẩm phán theo chủ nghĩa thực dụng (pragmatic) ở Anh đã xem xét hợp
đồng như là một nghĩa vụ được tạo ra bởi sự gặp gỡ ý chí giữa các bên”
2

Có thể nói, thuật ngữ ‘Hợp đồng’ là một phạm trù đa nghĩa và có thể được xem
xét nhiều góc độ khác nhau. Các luật gia Việt Nam thường hiểu khái niệm ‘hợp đồng’
theo hai nghĩa: nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan. Theo nghĩa khách quan, ‘hợp
đồng’ là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, bao gồm các “qui
phạm pháp luật được qui định cụ thể trong BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
1
Sammuel, Geoffrey, Law of Obligations and legal Remedies, 2nd ed., Cavendish,
London 2001. (Tr 278)
2
Sammuel, Geoffrey, Law of Obligations and legal Remedies, 2nd ed., Cavendish,
London 2001. (tr.283 – 284).
5
(chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các
chủ thể với nhau”. Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng “là sự ghi nhận kết quả của việc
cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể giao kết hợp đồng” hay “là kết quả của việc thỏa
thuận, thống nhất ý chí của các bên, được thể hiện trong các điều khoản cụ thể về

quyền và nghĩa vụ mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện”.
3

Ở Việt Nam, khái niệm hợp đồng không được định nghĩa cụ thể trong văn bản
pháp luật nào, BLDS 2005 định nghĩa về hợp đồng dân sự như sau: “Hợp đồng dân sự
là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự”.
4

Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên, là kết quả
của quá trình thương thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp
luật có qui định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên. Xét
về vị trí, vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp đồng là một loại giao dịch dân
sự, là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự.
Như vậy: Hợp đồng là phương tiện pháp lý để các bên tạo lập quan hệ nghĩa vụ.
Có thể nói, định nghĩa trên đã hàm chứa tất cả dấu hiệu mang tính bản chất của hợp
đồng và thể hiện rõ chức năng, vai trò của hợp đồng trong việc làm phát sinh, thay
đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật.
1.1.2 Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý
Quan hệ cung ứng DVPL được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý
là HĐDVPL. HĐDVPL có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ cung ứng DVPL.
Theo nguyên tắc áp dụng luật chung và luật chuyên ngành trong trường hợp cùng điều
chỉnh quan hệ HĐDVPL thì các nguyên tắc và quy định đối với HĐDV trong BLDS
và LTM 2005 cũng được áp dụng cho HĐDVPL.
BLDS 2005 định nghĩa: “HĐDV là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên làm
dịch vụ thực hiện một công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả
tiền công cho bên làm dịch vụ” (Điều 518). Điều 74 LTM 2005 không định nghĩa hợp
3

Đinh Văn Thanh, Đặc trưng pháp lý của hợp đồng dân sự, Luật học, số 4/1999,
(Tr.19)
4
Điều 388, BLDS 2005 về: “Hợp đồng dân sự”
6
đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại. Nội dung các quy định về HĐDV trong
LTM được xây dựng theo xu hướng cụ thể hóa các nguyên tắc và quy định về HĐDS
trong BLDS.
LLS 2006 quy định “Luật sư thực hiện DVPL theo HĐDVPL, trừ trường hợp
luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư hành
nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức.
HĐDVPL phải được làm thành văn bản” (Điều 26). Như vậy, đối với hoạt động cung
ứng DVPL của luật sư, pháp luật đã có quy định chính thức về việc quan giữa luật sư
và khách hàng là quan hệ HĐDVPL và phải được thể hiện dưới hình thức văn bản.
Các luật chuyên ngành khác về DVPL, tuy không đưa ra định nghĩa về HĐDVPL
nhưng căn cứ vào bản chất kinh tế cũng như bản chất pháp lý của các quan hệ cung
ứng DVPL cụ thể cũng như xem xét các quan hệ cung ứng này trong sự so sánh với
quan hệ cung ứng DVPL của luật sư, có thể khẳng định quan hệ giữa bên cung ứng
DVPL và bên sử dụng các loại hình DVPL khác là quan hệ HĐDVPL.
Từ các quy định của BLDS, LTM và các luật chuyên ngành về DVPL, có thể
khẳng định HĐDVPL là một dạng của HĐDVTM. HĐDVPL mang đầy đủ các dấu
hiệu của HĐDVTM đó là: i) là sự thỏa thuận giữa hai bên (bên cung ứng DVPL và
bên sử dụng DVPL); ii) Nội dung HĐDVPL chứa đựng quyền và nghĩa vụ của các
bên. Đa số HĐDVPL là loại hợp đồng song vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên
kia và ngược lại. Có một số ít HĐDVPL là loại hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba
(trường hợp thân nhân của bị can, bị cáo bị tạm giam mời luật sư bào chữa cho họ).
Theo đó, bên cung ứng thực hiện cho bên sử dụng DVPL một hoặc nhiều công việc có
liên quan đến pháp luật thuộc lĩnh vực hành nghề đã đăng ký hoạt động cho bên sử
dụng DVPL còn bên sử dụng DVPL có quyền sử dụng DVPL theo thỏa thuận và có
nghĩa vụ thanh toán; iii) Mục đích của bên cung ứng DVPL là nhận thù lao còn mục

đích của bên sử dụng DVPL là nhằm thỏa mãn nhu cầu về DVPL; iv) HĐDVPL không
bắt buộc phải được thể hiện dưới hình thức văn bản.
HĐDVPL là loại HĐTMDV chứa đựng đặc điểm của một số loại HĐTMDV
khác. Cụ thể là một số HĐDVPL có những điểm tương đồng với hợp đồng đại diện
cho thương nhân, đó là bên đại diện được nhân danh và vì lợi ích của bên được đại
diện để tiến hành các công việc do bên được đại diện giao, mang lại quyền và nghĩa vụ
7
cho bên được đại diện. Tuy nhiên, đại diện trong hoạt động DVPL là để thực hiện các
công việc có liên quan đến pháp luật thuộc lĩnh vực hành nghề của bên cung ứng
DVPL (chẳng hạn luật sư đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn để khởi kiện và tham
gia tố tụng trong vụ kiện đòi nợ), còn đại diện cho thương nhân trong hoạt động
thương mại là để thực hiện các công việc thuộc lĩnh vực hoạt động của bên giao đại
diện (hợp đồng đại lý là một điển hình). Bên cạnh đó, hai loại hợp đồng này còn có sự
khác nhau ở yếu tố chủ thể. Chủ thể HĐDVPL chỉ yêu cầu bên cung ứng DVPL là tổ
chức hành nghề chuyên nghiệp (đa số trong số đó là thương nhân), chủ thể hợp đồng
đại diện cho thương nhân bắt buộc hai bên đều phải là thương nhân. HĐDVPL cũng
có nhiều điểm tương đồng với một số HĐDV khác (hợp đồng dịch vụ kiểm toán, hợp
đồng dịch vụ giám định, hợp đồng bán đấu giá hàng hóa ), đó là bên cung ứng dịch
vụ thực hiện cho bên sử dụng dịch vụ một công việc thuộc lĩnh vực hành nghề đã đăng
ký hoạt động của mình và những dịch vụ này phải do những cá nhân có CCHN của
bên cung ứng dịch vụ thực hiện. Tuy nhiên, công việc thuộc lĩnh vực hành nghề của
bên cung ứng dịch vụ trong những hợp đồng nêu trên không phải là DVPL và CCHN
của cá nhân thực hiện công việc là đối tượng hợp đồng không phải là CCHN cung ứng
DVPL. Người thực hiện DVPL trong HĐDVPL là người có CCHN cung ứng một loại
hình DVPL nhất định và để được cấp CCHN, người thực hiện DVPL phải đáp ứng
nhiều điều kiện gắn với nghề luật, trong đó có một điều kiện đặc trưng về trình độ
chuyên môn phải có bằng đại học luật và phải có kỹ năng hành nghề luật qua yêu cầu
phải tốt nghiệp lớp đào tạo nghề cung ứng DVPL (chẳng hạn lớp đào tạo nghề luật sư),
đã trải qua thời gian tập sự hành nghề cung ứng DVPL (để làm thử công việc cung ứng
DVPL dưới sự hướng dẫn của các cá nhân có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cung

ứng DVPL) và phải là thành viên của một tổ chức hành nghề cung ứng DVPL (không
được làm một nghề khác, thể hiện sự chuyên tâm vào việc hành nghề cung ứng
DVPL). Người thực hiện dịch vụ trong các HĐDV nói trên cũng phải đáp ứng những
điều kiện về chuyên môn và kỹ năng hành nghề nhưng không gắn với chuyên môn
“nghề luật” mà gắn với từng chuyên môn khác nhau (nghiệp vụ kiểm toán, nghiệp vụ
giám định các sản phẩm văn học, nghệ thuật, nghiệp vụ đấu giá hàng hóa, ).
Từ những phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa về hợp đồng dịch vụ pháp lý
như sau: Hợp đồng dịch vụ pháp lý là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cung
8
ứng cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ pháp lý cho bên thuê dịch vụ để nhận thù lao,
còn bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
1.1.3. Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ pháp lý.
1.1.3.1. Bên cung ứng DVPL phải là các tổ chức hành nghề có đủ các điều kiện
theo qui định của pháp luật
Để có năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ HĐDVPL với tư cách là bên cung
ứng DVPL, bên cung ứng DVPL phải là các tổ chức hành nghề tồn tại hợp pháp, có
thẩm quyền cung cấp DVPL và có quyền cung ứng loại hình DVPL đã đăng ký. Cụ
thể, bên cung ứng DVPL phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) được tổ chức dưới hình thức các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL hoặc
người cung ứng DVPL hành nghề với tư cách cá nhân (gọi chung là tổ chức cung ứng
DVPL) b) đã đăng ký hoạt động cung ứng DVPL và được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cho phép hoặc cấp giấy phép hoạt động DVPL
c) cung ứng loại DVPL đúng lĩnh vực và đúng loại hình DVPL của tổ chức hành
nghề. Ví dụ. Tổ chức hành nghề luật sư chỉ được đăng ký hành nghề đối với một số
hoặc cả 4 lĩnh vực hành nghề luật sư quy định tại LLS 2006, không được đăng ký và
cung ứng các DVPL thuộc loại hình DVPL (lĩnh vực hành nghề) của công chứng viên
hoặc của thừa phát lại và ngược lại. Ngoài ra, tổ chức cung ứng DVPL không được
đăng ký kinh doanh để hoạt động sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ đối với bất kỳ
ngành, nghề nào khác.
1.1.3.2. Phương thức ký kết và hình thức tồn tại đặc biệt của hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Đa số các HĐDVPL được ký kết theo hai phương thức ký kết HĐDV truyền
thống đó là phương thức trực tiếp và phương thức gián tiếp và tồn tại dưới các hình
thức do pháp luật quy định. Tuy nhiên, có một số loại HĐDVPL, phương thức ký kết
và hình thức tồn tại rất đặc biệt nhưng vẫn thể hiện được đầy đủ sự thỏa thuận của các
bên. Việc đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng được thể hiện bằng những cách thức
và dưới những hình thức rất đặc thù hay nói cách khác hoàn toàn không tồn tại một
bản HĐDVPL độc lập, chứa đựng đầy đủ nội dung của một HĐDVPL và không được
thể hiện dưới một hình thức truyền thống nhất định nào mà tồn tại dưới hình thức sự
pha trộn các hình thức tồn tại của một HĐTMDV. HĐDVPL loại này được giao kết và
phát sinh hiệu lực khi bên sử dụng DVPL có yêu cầu và bên cung ứng chấp nhận thực
9
hiện một hoặc nhiều công việc thuộc lĩnh vực hành nghề của mình cho bên yêu cầu.
Quá trình thực hiện cũng đồng thời là quá trình các bên tiếp tục đưa ra những thỏa
thuận và đề nghị mới thuộc nội dung hợp đồng. HĐDVPL của Công chứng viên và
Thừa phát lại là những loại hợp đồng có phương thức ký kết và hình thức tồn tại điển
hình của trường hợp này.
1.1.3.3. Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính đối nhân và tính rủi ro cao.
Thứ nhất: Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính đối nhân
Tính đối nhân của HĐDVPL thể hiện ngay trong yếu tố hình thức tổ chức của các tổ
chức cung ứng DVPL. Hiện nay, pháp luật qui định cho hầu hết tổ chức hành nghề cung
ứng các loại hình DVPL dưới hình thức Văn phòng hoặc công ty hợp danh. Đối với hình
thức Văn phòng, các luật chuyên ngành qui định “hoạt động như một loại hình doanh
nghiệp tư nhân” (Điều 33 LLS), mà DNTN là loại hình DN phải chịu trách nhiệm vô hạn
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phát sinh trong kinh doanh. Đối với hình thức công ty
hợp danh, cũng đồng nghĩa với việc các thành viên của tổ chức hành nghề phải chịu trách
nhiệm liên đới và vô hạn về các nghĩa vụ tài sản của tổ chức hành nghề. Ngoài ra, pháp
luật cũng cho phép các tổ chức hành nghề tổ chức dưới hình thức Công ty TNHH để được
hưởng chế độ chịu TNHH trong kinh doanh nhưng các công ty luật TNHH đăng ký kinh
doanh DVPL ngoài việc tuân theo các quy định của LDN cho loại hình công ty TNHH thì
còn phải tuân thủ các qui định của các luật chuyên ngành về DVPL để nhà nước quản lý

và kiểm soát chặt chẽ đối với hoạt động hành nghề của nó.
Tính đối nhân của DVPL còn được thể hiện bởi yếu tố người thực hiện DVPL.
Nhà đầu tư thành lập các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL đồng thời là người thực
hiện DVPL (trách nhiệm cao hơn người lao động bình thường). Các công việc thuộc
lĩnh vực đã đăng ký hành nghề của tổ chức hành nghề phải do chính nhà đầu tư hoặc
thành viên của tổ chức hành nghề thực hiện và họ không được giao lại công việc cho
người khác thực hiện nếu không được sự đồng ý của khách hàng.
Thứ hai: Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính rủi ro cao
HĐDVPL hàm chứa yếu tố rủi ro cao hơn các loại HĐDV khác, bởi các nguyên
nhân sau:
– Các bên chủ thể HĐDVPL sự bất cân xứng về kiến thức pháp luật HĐDVPL
10
Xuất phát từ đặc điểm của DVPL là gắn liền với pháp luật và bên cung ứng phải
là tổ chức hành nghề cung ứng DVPL, tất yếu dẫn đến việc có sự bất cân xứng về ý
thức pháp luật giữa các bên đặc biệt là kiến thức pháp luật về HĐDVPL.
Bên cung ứng DVPL thường có lợi thế “tuyệt đối” so với bên sử dụng DVPL,
bởi lẽ, từ bộ máy quản lý và đội ngũ người thực hiện DVPL đều là các chuyên gia
pháp lý, có trình độ chuyên môn và kỹ năng hành nghề luật chuyên nghiệp, hoạt động
cung ứng DVPL là hoạt động nghề nghiệp nhằm mục đích sinh lời. Bên sử dụng
DVPL là tổ chức, cá nhân bất kỳ, có thể có hiểu biết pháp luật ở mức độ nhất định
nhưng không thể so sánh với bên kia.
– Do tính khó xác định của chất lượng DVPL
Xuất phát từ bản chất vô hình của sản phẩm DVPL dẫn đến tính khó xác định
chất lượng của DVPL. Điều này gây rất nhiều khó khăn, lúng túng cho các chủ thể hợp
đồng, đặc biệt là cho bên sử dụng DVPL. Bên sử dụng DVPL trong nhiều trường hợp
thường là thiếu hiểu biết pháp luật nên mới cần đến sự giúp đỡ của bên kia, nhưng khi
thỏa thuận về điều khoản chất lượng thì chính bên sử dụng DVPL cũng không hiểu rõ
DVPL được yêu cầu cung ứng phải đạt chất lượng như thế nào để đáp ứng được mục
đích sử dụng và điều khoản chất lượng phải thỏa thuận như thế nào thì mới đạt được
sự rõ ràng, chính xác và hợp pháp. Việc khó xác định chất lượng DVPL làm cho chủ

thể HĐDVPL không có cơ sở pháp lý để thỏa thuận chất lượng công việc. Mặt khác, là
một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng mà chủ yếu là từ
phía cung ứng DVPL nhưng bên sử dụng DVPL không có căn cứ pháp lý để bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của mình.
– Kết quả DVPL trong một số trường hợp bị phụ thuộc vào trình độ công nghệ
của các phương tiện kỹ thuật có liên quan.
Quá trình cung ứng một số DVPL, bên cung cấp không chỉ cần sử dụng những tri
thức pháp lý và kỹ năng nghề nghiệp, mà còn cần phải dựa trên kết quả hoạt động của
các phương tiện kỹ thuật hoặc kết quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức chuyên môn.
Do đó, chất lượng DVPL phụ thuộc phần lớn vào mức độ hiện đại của khoa học công
nghệ tương ứng (giả thiết kỹ thuật viên khách quan, công tâm và không có bất kỳ tác
động nào đến kết quả). Ví dụ: Dịch vụ tranh tụng của luật sư tại các cơ quan tiến hành tố
tụng hiện nay trong một số trường hợp phải dựa trên kết quả giám định của cơ quan
11
chức năng có thẩm quyền với việc sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại như: Giám định
tâm thần tư pháp, giám định pháp y, giám định ADN,…
– Trong một số trường hợp chủ thể HĐDVPL không kiểm soát được kết quả công
việc. Gồm:
Trường hợp việc thực hiện bị phụ thuộc vào hoạt động của bên thứ ba
Đối với những loại hình DVPL khi thực hiện bị phụ thuộc vào hoạt động của bên
thứ ba thì chủ thể HĐDVPL bị phụ thuộc vào bên thứ ba ngay từ giai đoạn bàn bạc,
thương lượng để đi đến ký kết HĐDVPL. Giai đoạn này, hai bên chủ thể đã phải chú ý
để điều chỉnh những điều khoản của HĐDVPL phù hợp với quy định của pháp luật về
tổ chức và hoạt động của bên thứ ba. Có như vậy thì thỏa thuận của chủ thể HĐDVPL
mới hợp pháp và đảm bảo khả năng thực hiện có hiệu quả trên thực tế. Trong quá trình
thực hiện HĐDVPL, nhiều DVPL là những hoạt động phối hợp với hoạt động của bên
thứ ba trong một hoạt động tổng thể nhất định vì thế kết quả công việc nằm ngoài sự
kiểm soát của chủ thể hợp đồng và phụ thuộc có chất quyết định vào chất lượng hoạt
động của bên thứ ba trong đó có các yếu tố chủ yếu như chất lượng của nền hành
chính nhà nước và nền tư pháp. Bởi lẽ, kết quả công việc không chỉ là kết quả thực

hiện của bên cung ứng mà còn là kết quả hoạt động của bên thứ ba. Nói cách khác,
hoạt động của nhà cung cấp trong một số trường hợp không cho kết quả độc lập mà
cho kết quả tổng hợp, gắn với kết quả hoạt động của bên thứ ba.
Trường hợp công việc được thực hiện bởi nhiều người
Trong trường hợp công việc được thực hiện bởi nhiều người (nhiều luật sư bào
chữa cho một bị can, bị cáo hoặc cùng bảo vệ quyền lợi cho một đương sự) thì kết quả
công việc phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức hành
nghề, sự tận tâm với công việc của mỗi luật sư trong số đó và như vậy kết quả tổng
hợp của việc bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi của các luật sư sẽ không dự liệu trước
được. Việc dự liệu trước kết quả tổng hợp của DVPL càng khó khăn hơn khi những
người thực hiện DVPL hành nghề tại các tổ chức hành nghề khác nhau. Tương tự như
vậy, cùng một DVPL nhưng nếu được thực hiện bởi người thực hiện khác nhau cũng
sẽ cho kết quả rất khác nhau.
12
Khả năng sử dụng DVPL của khách hàng
Trong trường hợp cùng một công việc được thực hiện bởi cùng một cá nhân
nhưng người sử dụng DVPL khác nhau sẽ đạt hiệu quả khác nhau. Bởi lẽ, khả năng
tiếp nhận, thụ hưởng kết quả DVPL và sử dụng kết quả để giải quyết vấn đề của các
khách hàng là khác nhau.
Như vậy, trong những trường hợp nêu trên, các bên chủ thể luôn không kiểm soát
được chất lượng công việc là đối tượng HĐDVPL.
1.1.3.4. Quá trình giao kết và thực hiện hầu hết các HĐDVPL bị phụ thuộc vào
bên thứ ba
Do tính gắn liền với pháp luật nên quá trình giao kết và thực hiện một số
HĐDVPL gắn liền và do đó bị phụ thuộc vào hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng (gọi tắt là bên
thứ ba). Trong những trường hợp này, hoạt động của bên thứ ba là cơ sở để các bên
tham gia quan hệ HĐDVPL thỏa thuận nội dung HĐDVPL, đồng thời cũng thông qua
hoạt động của bên thứ ba HĐDVPL mới có khả năng thực hiện được trên thực tế.
1.1.4. Phân loại hợp đồng dịch vụ pháp lý

1.1.4.1. Căn cứ vào loại hình tổ chức hành nghề cung cấp DVPL
HĐDVPL có thể chia thành 5 loại: HĐDVPL của tổ chức hành nghề luật sư;
HĐDVPL của tổ chức hành nghề công chứng; HĐDVPL của tổ chức hành nghề Thừa
phát lại; HĐDVPL của Trung tâm tư vấn pháp luật và HĐDVPL của các tổ chức khác.
1.1.4.2. Căn cứ vào nội dung của HĐDVPL
HĐDVPL có thể chia thành 8 loại: hợp đồng dịch vụ tranh tụng, hợp đồng dịch
vụ tư vấn pháp luật, hợp đồng dịch vụ công chứng, hợp đồng dịch vụ lập vi bằng, hợp
đồng dịch vụ tống đạt giấy tờ của tòa án và cơ quan thi hành án, hợp đồng xác minh
điều kiện thi hành án, hợp đồng thi hành án và HĐDVPL khác.
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung điều chỉnh vấn đề giao kết và thực hiện hợp
đồng dịch vụ pháp lý.
1.2.1. Pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp
lý.
13
Theo Điều 518 BLDS thì Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa các bên, theo
đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch
vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.
Như vậy hoạt động dịch vụ pháp lý không chỉ chịu sự điều chỉnh của bộ LDS mà
còn chịu sự điều chỉnh của LTM năm 2005. Tùy từng lĩnh vực cụ thể như giám định,
tư vấn, đấu thầu, xúc tiến thương mại chịu sự điều chỉnh của các qui định cụ thể khác
nhau. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có qui định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có
qui định khác với quy định của LTM, BLDS thì áp dụng quy định của Điều ước quốc
tế. Các bên trong giao dịch nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài,
tập quán quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái
với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Như vậyHĐDVPL chịu sự điều chỉnh của LTM 2005, BLDS 2005, Điều ước
quốc tế và tập quán thương mại quốc tế có liên quan.
1.2.2. Một số nội dung cơ bản của pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng
dịch vụ pháp lý.

1.2.2.1. Vấn đề giao kết HĐDVPL.
Việc ký kết hợp đồng phải được xem xét trên các khía cạnh: nguyên tắc giao kết,
căn cứ giao kết, chủ thể của hợp đồng, đối tượng của hợp đồng, nội dung và hình thức
của hợp đồng, nội dung. Cụ thể:
• Nguyên tắc giao kết hợp đồng
Nguyên tắc giao kết hợp đồng đó là những tư tưởng chỉ đạo được quán triệt trong
những quy phạm pháp luật về hợp đồng, có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể
trong khi tiến hành ký kết hợp đồng. Trong nền kinh tế thị trường, việc giao kết hợp
đồng, về nguyên tắc không còn là kỷ luật của nhà nước, là nhiệm vụ của các tổ chức,
cơ quan và các đơn vị kinh tế nữa. Đó là quyền tự do hợp đồng, một trong những nội
dung quan trọng của quyền tự do kinh doanh.
Theo điều 389, BLDS 2005, thì việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ các nguyên
tắc: tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội; Tự
nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
• Căn cứ giao kết hợp đồng
14
Căn cứ để giao kết hợp đồng đó là: theo định hướng kế hoạch của nhà nước, các
chính sách chế độ, các chuẩn mực kinh tế kỹ thuật hiện hành; căn cứ theo nhu cầu thị
trường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng; căn cứ vào khả năng phát triển sản
xuất kinh doanh, chức năng hoạt động kinh tế của đơn vị mình; căn cứ vào tính hợp
pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng bảo đảm về tài sản của các bên
cùng ký kết hợp đồng.
• Chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia quan hệ hợp đồng bình đẳng, tự
nguyện thỏa thuận để xác định những quyền và nghĩa vụ với nhau. Chủ thể của HĐDV
là các thương nhân. Theo điều 6, LTM 2005 thì thương nhân gồm tổ chức kinh tế được
thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và
có đăng ký kinh doanh. Để trở thành thương nhân các cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện để
kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động thương

mại thì cơ quan nhà nước có toàn quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và
trở thành thương nhân.
Ngoài ra, chủ thể của hợp HĐDV có thể là chi nhánh của thương nhân nước
ngoài. Theo khoản 3, điều 19, LTM 2005 thì chi nhánh của thương nhân nước ngoài
có quyền giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt động quy định
trong giấy phép thành lập chi nhánh và theo quy định của pháp luật.
• Đối tượng của hợp đồng
Đối tượng của HĐDV là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật
cấm, không trái với đạo đức xã hội. Theo điều 75, LTM 2005, thương nhân có quyền
cung ứng các dịch vụ sau: cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng
trên lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử
dụng trên lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam và sử
dụng trên lãnh thổ nước ngoài; cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt nam
sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài.
• Hình thức của hợp đồng
Hợp đồng dịch vụ được thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặc được xác lập bằng
hành vi cụ thể.
15
– Đối với các loại hợp HDVĐ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn
bản thì phải tuân theo các quy định đó.
16
• Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng dịch vụ đó là những thỏa thuận của các bên. Các bên có
thể thỏa thuận về các nội dung chủ yếu (theo điều 402 Bộ Luật dân sự 2005) như:
+ Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không
được làm
+ Số lượng, chất lượng
+ Giá, phương thức thanh toán
+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
+ Quyền, nghĩa vụ của các bên

+ Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
+ Phạt vi phạm hợp đồng
+ Các nội dung khác
Sau khi các bên đàm phán và ghi trong hợp đồng, mọi thỏa thuận ghi trong hợp
đồng ràng buộc các bên. Hợp đồng thể hiện rõ quyền lợi cũng như nghĩa vụ mà mỗi
bên trong hợp đồng có được. Các bên bắt đầu tiến hành thực hiện hợp đồng theo đúng
thỏa thuận ghi trong hợp đồng.
1.2.2.2. Vấn đề thực hiện HĐDVPL
• Nguyên tắc thực hiện
Những thỏa thuận HĐDVPL có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên. Các bên
phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng. Để đảm bảo việc thực hiện
hợp đồng thì pháp luật quy định những nguyên tắc bắt buộc các chủ thể phải tuân theo
trong quá trình thực hiện hợp đồng. Đó là:
– Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, thời hạn, phương thức và các thỏa
thuận khác do các bên chủ thể thỏa thuận.
– Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các
bên, đảm bảo tin cậy lẫn nhau.
– Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác.
• Thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ:
Bên cung ứng dịch vụ sau khi giao kết hợp đồng phải có nghĩa vụ cung ứng các
dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy đủ phù hợp những thỏa
thuận như thực hiện công việc đúng số lượng, chất lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa
17
thuận khác. Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc, nếu không có sự
đồng ý của bên thuê dịch vụ. Sau khi hoàn thành công việc, bên cung ứng dịch vụ phải
bảo quản và giao lại cho khách hàng những tài liệu và phương tiện được giao để thực
hiện dịch vụ. Nếu những thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm
để hoàn thành công việc thì phải thông báo ngay cho bên thuê dịch vụ. Trong thỏa thuận

có yêu cầu cần giữ bí mật về thông tin mà mình biết thì trong quá trình cung ứng dịch
vụ phải giữ bí mật theo đúng thỏa thuận. Trường hợp mất mát, hư hỏng tài liệu, phương
tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin thì phải bồi thường thiệt hại.
5
Để thực hiện tốt công việc của mình, bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu
khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện có liên quan. Hoặc được thay đổi
điều kiện dịch vụ vì lợi ích của khách hàng mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của
khách hàng, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho khách hàng, nhưng phải báo ngay
cho khách hàng.
6
Theo điều 82, LTM 2005 quy định về thời hạn hoàn thành dịch vụ. Cụ thể: bên
cung ứng dịch vụ phải hoàn thành đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Trường hợp không có thỏa thuân về thời hạn hoàn thành dịch vụ thì bên cung ứng dịch
vụ phải hoàn thành dịch vụ trong một thời hạn hợp lý trên cơ sở tính đến tất cả các
điều kiện và hoàn cảnh mà bên cung ứng dịch vụ biết được vào thời điểm giao kết hợp
đồng, bao gồm bất kỳ nhu cầu cụ thể nào của khách hàng có liên quan đến thời gian
hoàn thành dịch vụ. Trường hợp một dịch vụ chỉ có thể được hoàn thành khi khách
hàng hoặc bên cung ứng dịch vụ khác đáp ứng các điều kiện nhất định thì bên cung
ứng dịch vụ đó không có nghĩa vụ hoàn thành dịch vụ của mình cho đến khi các điều
kiện đó được đáp ứng.
Sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụ vẫn chưa hoàn
thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tục cung ứng
dịch vụ theo nội dung đã thỏa thuận và phải bồi thường thiệt hại, nếu có.
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ (khách hàng):
Khách hàng phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền cung ứng dịch vụ như đã
thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho
5
Điều 78, LTM 2005 & Điều 522, BLDS 2005 về: “Nghĩa vụ của bên cung ứng
dịch vụ”
6

Điều 523, BLDS 2005 về: “Quyền của bên cung ứng dịch vụ”
18
việc thực hiện thì phải cung cấp kịp thời. Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung
ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng
có nghĩa vụ điều phối hoạt động của bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến
công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào và phải trả tiền dịch vụ cho bên cung
ứng dịch vụ theo như thỏa thuận trong hợp đồng.
7
Theo tinh thần điều 86, LTM 2005 và khoản 3, điều 524, BLDS 2005 thì trường
hợp không có thỏa thuận về giá dịch vụ, không có thỏa thuận về phương pháp tính giá
dịch vụ và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được
xác định theo giá của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thức
cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều
kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ.
Khách hàng phải trả tiền dịch vụ tại thời điểm hoàn thành dịch vụ, nếu không có
thỏa thuận khác. Trường hợp dịch vụ được cung ứng không đạt được như thỏa thuận
hoặc công việc không được hoàn thành đúng thời hạn thì khách hàng có quyền giảm
tiền dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
8
1.3. Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện HĐDVPL
Việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của các bên nhằm thoả mãn những nhu cầu về
vật chất, văn hoá tinh thần của mỗi bên và phải hướng tới lợi ích chung của toàn xã
hội. Ngoài ra các bên còn phải thể hiện việc chấp hành pháp luật, thể hiện tinh thần tôn
trọng truyền thống đạo đức xã hội của trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự.
Khi giao kết và thực hiện HĐDVPL, các bên có liên quan phải tuân theo những
nguyên tắc cơ bản khi giao kết hợp đồng dân sự và những nguyên tắc cơ bản trong
hoạt động thương mại.
– BLDS 2005 quy định việc giao kết hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc sau:
9
Thứ nhất, tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã

hội: Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của hợp đồng. Theo nguyên tắc
này thì các bên đủ tư cách chủ thể có quyền tự do quyết định việc giao kết hợp đồng
theo ý muốn chủ quan và vì lợi ích của chính họ. Các bên chủ thể có quyền tự do lựa
chọn việc giao kết với ai, với nội dung như thế nào, hình thức ra sao. Mọi cam kết thoả
7
Điều 520, BLDS 2005 về: “Nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ”
8
Điều 521, BLDS 2005 về: “Quyền của bên thuê dịch vụ”
9
Điều 389, BLDS 2005 về “Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự”
19
thuận hợp pháp đều được nhà nước bảo hộ và khi không có sự tự nguyện của các bên
có thể bị tuyên bố vô hiệu. Tuy nhiên, sự tự do đó không được trái với pháp luật và
đạo đức xã hội. Khi đó thì hợp đồng giao kết mới được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Thứ hai, nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay
thẳng: Theo nguyên tắc này các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng và
bảo đảm nội dung của quan hệ đó. Hợp đồng phải thể hiện được sự tương ứng về
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các bên. Các bên khi giao kết không được đe
dọa, cưỡng ép bên kia giao kết hợp đồng với mình mà không theo ý chí của họ. Nếu
phát hiện hợp đồng được giao kết mà bị đe dọa, cưỡng ép, lừa dối để giao kết thì hợp
đồng đó sẽ bị vô hiệu.
Bên cạnh đó, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên phải thể
hiện rõ thái độ trung thực và ngay thẳng. Trung thực và ngay thẳng có nghĩa là các
phải nói rõ cho nhau biết về tình trạng và đặc tính của đối tượng, không được lừa dối
nhau, nếu che dấu khuyết tật của đối tượng hợp đồng nhằm mục đích tư lợi mà gây
thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường.
Ngoài ra, các bên phải có tinh thần hợp tác lẫn nhau. Trong quá trình thực hiện hợp
đồng, các bên tương trợ, giúp đỡ và thông tin cho nhau để đáp ứng nhu cầu và bảo đảm
lợi ích cho các bên. Theo nguyên tắc này, các bên phải luôn quan tâm đến nhau, tạo điều
kiện giúp nhau khắc phục khó khăn trong quá trình thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Hơn

nữa, nguyên tắc này đòi hỏi cả hai bên phải cùng nhau tìm và thực hiện mọi biện pháp cần
thiết để ngăn chặn, hạn chế khi có thiệt hại xảy ra. Nếu bên nào có điều kiện mà không
thực hiện các biện pháp ngăn chặn sẽ bị coi là có lỗi và phải gánh chịu thiệt hại.
– LTM 2005 quy định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại từ
Điều 10 đến Điều 15.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT VÀ
THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TẠI VĂN PHÒNG LUẬT SƯ
INTERLA.
20
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến giao kết và thực
hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý.
HĐDVPL là một chế định quan trọng trong Luật Thương mại 2005. Cùng với
đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác, HĐDV là
một hoạt động thương mại được quy định tại chương III của LTM 2005.
HĐDVPL là một chế định được thiết lập nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia thị trường thương mại dịch vụ, từ đó, giúp cho
các chủ thể kinh doanh dịch vụ có được môi trường kinh doanh lành mạnh và bình
đẳng. Khi thị trường thương mại dịch vụ Việt Nam đang tiến tới tiến trình mở cửa theo
WTO sẽ xuất hiện nhiều cơ hội cũng như những thách thức đối với doanh nghiệp
thương mại dịch vụ Việt Nam thì hợp đồng dịch vụ pháp lý này sẽ là cơ sở pháp lý, là
công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp nước ta nâng cao khả năng cạnh tranh trong
nước và thâm nhập thị trường nước ngoài.
Ở Việt Nam, các vấn đề liên quan đến hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động
thương mại được điều chỉnh tương đối toàn diện trong các văn bản quy phạm pháp
luật hiện hành:
Thứ nhất, nhóm các quy định chung về hợp đồng dịch vụ pháp lý: nhóm này quy
định những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc về các hoạt động dịch vụ pháp lý, các
hợp đồng dịch vụ pháp lý. Hiện nay, ta có thể dễ dàng tìm thấy các quy định chung về
hoạt động dịch vụ pháp lý và hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2005 và LTM 2005.
Thứ hai, nhóm các quy định chuyên ngành về hợp đồng dịch vụ pháp lý: Bên

cạnh những quy định chung về hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2005 thì LTM 2005
cũng chứa đựng rất nhiều những quy định về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Ngoài ra còn
một số các văn bản dưới luật khác như thông tư 06/2003/TT-BTP ngày 29 tháng 10
năm 2003 qui định về DVPL nước ngoài tại Việt Nam, Luật công chứng năm 2006,
nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009, về thí điểm thực hiện thừa phát
lại tại thành phố Hồ Chí Minh
Thứ ba, nhóm các quy định về hợp đồng dịch vụ có yếu tố nước ngoài: (điển
hình là hiệp định về thương mại dịch vụ GATS) Cùng với tiến trình tự do hóa thương
mại, Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nên việc thực hiện các giao dịch
có yếu tố nước ngoài là tương đối phổ biến. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
21
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước
ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của LTM
2005, BLDS 2005 thì áp dụng qui định của Điều ước quốc tế. Các bên trong giao dịch
nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế nếu pháp
luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam.
2.2. Thực trạng các qui phạm pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện
hợp đồng dịch vụ pháp lý.
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Đáp ứng nhu cầu hội nhập của nước ta trong những năm gần đây, đặc biệt là khi
Việt Nam trở thành thành viên của WTO, Quốc hội đã ban hành và sửa đổi pháp luật
cho phù hợp với nhu cầu thực tế, trong đó có Luật luật sư theo đó ban hành các quy
định phù hợp với các loại hình luật sư trên thế giới, nhằm giúp cho pháp luật của
chúng ta được thi hành một cách triệt để và chuyên nghiệp. Theo đó, hình thức tổ chức
hành nghề luật sư được mở rộng so với trước kia và phù hợp với thế giới, cụ thể là: tại
điểm b khoản 1 Điều 32 Luật luật sư năm 2006 qui định: Các luật sư có thể hành nghề
luật sư dưới dạng Công ty Luật. Như vậy không giới hạn là Văn phòng luật sư hay
Công ty hợp danh như trước kia mà bây giờ có thêm Công ty trách nhiệm hữu hạn 1
thành viên hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên (theo quy định tại

Điều 34 Luật luật sư 2006). Quy định này góp phần làm nâng cao tính chuyên nghiệp
của các luật sư để dễ dàng hội nhập với luật sư trên thế giới.
Văn phòng luật sư Interla thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội được thành lập
theo Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số 01010547/TP/ĐKHĐ do Sở Tư pháp
thành phố Hà Nội cấp năm 2009. Với các Luật sư có trình độ cao, có nhiều năm kinh
nghiệm, kiến thức hiểu biết sâu rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp cùng đội ngũ
chuyên viên tư vấn trẻ, năng động và đầy nhiệt huyết. Đến nay văn phòng Luật sư
Interla đã và đang khẳng định là một trong những lựa chọn tin cậy của khách hàng
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý cho các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng luật sư Interla
22
việc hoàn thành xong pháp lý HĐDVPL và tăng trưởng TMDVPL ở Nước Ta. LỜI CẢM ƠNLời tiên phong em xin chân thành cảm ơn đến những thầy cô giáo Trường Đại họcThương Mại, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kỹ năng bổ íchcho em, đó chính là những nền tảng cơ bản, là hành trang vô cùng quý giá, là bước đầutiên cho em bước vào sự nghiệp sau này. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến TS. TrầnThành Thọ, cảm ơn thầy đã tận tình chăm sóc, trợ giúp em trong thời hạn qua, nhờ đóem mới hoàn toàn có thể hoàn thành xong được khóa luận tốt nghiệp này. Sau đó, em cũng xin gửi lờicảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học TM, Khoa Kinh tế – Luật, Bộ mônLuật Căn Bản Trường Đại học TM đã tạo điều kiện kèm theo giúp em triển khai xong bàikhóa luận này. Trong thời hạn thực tập tại văn phòng luật sư Interla, em đã nhận được sự giúpđỡ và tạo điều kiện kèm theo của trưởng văn phòng luật sư, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tìnhcủa những cô chú, anh chị của những phòng ban đã giúp em tìm hiểu và khám phá thực tiễn về môi trườnglàm việc của văn phòng luật sư Interla. Qua đó, em đã có được những kỹ năng và kiến thức nhấtđịnh về pháp lý, đây sẽ là hành trang cho sự nghiệp của em sau này. Vì vậy, em xinchân thành cảm ơn tới Ban chỉ huy, toàn thể những cô chú, anh chị trong thời hạn thựctập vừa mới qua. Trong quy trình làm khóa luận vì trình độ của bản thân và thời hạn thực tập cònhạn chế nên em kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía những thầy cô giáo đểkiến thức của em được hoàn thành xong hơn và bài khóa luận được hoàn hảo hơn. Em xin chân thành cảm ơn ! iiMỤC LỤCPHỤ LỤCDANH MỤC TỪ VIẾT TẮTTừ viết tăt Giải nghĩa của từ viết tắtBLDS Bộ luật dân sựDVPL Dịch vụ pháp lýHĐDVPL Hợp đồng dịch vụ pháp lýTMDVPL Thương mại dịch vụ pháp lýLDN Luật doanh nghiệpLTM Luật thương mạiLLS Luật luật sưVPLS Văn phòng luật sưCCHN Chứng chỉ hành nghềHĐDV Hợp đồng dịch vụTNHH Trách nhiệm hữu hạnDN Doanh nghiệpDNTN Doanh nghiệp tư nhânWTO Tổ chức thương mại thế giớiGATS Hiệp định thương mại dịch vụiiiLỜI MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài. Hội nhập kinh tế tài chính quốc tế đã, đang và sẽ ngày càng trở nên một nhu yếu tất yếu, cấp bách so với Việt nam. Trong toàn cảnh đó, những tổ chức triển khai và cá thể cần có sự trợgiúp pháp lý một cách tiếp tục nhằm mục đích bảo vệ sự bảo đảm an toàn về mặt pháp lý cho cácgiao dịch của mình. Quá trình toàn thế giới hóa kinh tế tài chính đã thôi thúc can đảm và mạnh mẽ sự phát triểncủa DVPL cho những tổ chức triển khai và cá thể ở tầm quốc tế. Các chủ thể tham gia nhiều giaodịch tương quan đến nhiều nghành nghề dịch vụ được kiểm soát và điều chỉnh bởi pháp lý trong nước và phápluật quốc tế. Hình thức pháp lý của những thanh toán giao dịch đó là hợp đồng. Để những thanh toán giao dịch củacác chủ thể diễn ra bảo đảm an toàn và hiệu suất cao thì cần phải có sự trợ giúp pháp lý từ phía cácnhà phân phối DVPL. Việc trợ giúp pháp lý của nhà sản xuất DVPL so với bên sửdụng DVPL được bộc lộ dưới hình thức HĐDVPL. Để bảo vệ quyền và quyền lợi hợppháp của những chủ thể HĐDVPL, đặc biệt quan trọng là của bên sử dụng DVPL và phòng ngừatranh chấp xảy ra, yên cầu pháp lý về HĐDVPL phải không ngừng hoàn thành xong. Đồngthời mạng lưới hệ thống pháp lý vương quốc về HĐDVPL phải tương thích với những Điều ước quốc tếmà Nước Ta đã ký kết. Do đó khi vận dụng những qui phạm pháp lý về DVPL vào trong thực tiễn cho thấy còn nhiềutồn tại. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và từ thực tiễn trong những hoạt động giải trí DVPL mà emnhận thấy được trong quy trình thực tập văn phòng luật sư Interla. Em cho rằng việc hoànthiện những văn bản qui phạm pháp lý về hợp đồng thương mại nói chung và HĐDVPLnói riêng là việc làm vô cùng quan trọng và thiết yếu so với sự tăng trưởng kinh tế tài chính của mộtđất nước đang hội nhập kinh tế tài chính với nền kinh tế tài chính quốc tế như Nước Ta ta. 2. Tổng quan những khu công trình nghiên cứu và điều tra tương quan. Ở Nước Ta, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công xuất sắc, DVPLđã được ghi nhận, được cho phép xây dựng và hoạt động giải trí ( tuy chỉ so với hoạt động giải trí của luậtsư ) và chỉ được xác lập trở lại và tăng trưởng khá can đảm và mạnh mẽ từ hơn hai thập kỷ qua. Trong khoảng chừng thời hạn đó, đã có 1 số ít nghiên cứu và điều tra về DVPL ở những góc nhìn khácnhau với khoanh vùng phạm vi điều tra và nghiên cứu khác nhau, như giáo trình, sách chuyên khảo, chuyên đề, nhưng đa phần sống sót dưới hình thức những bài viết đăng trên tạp chí, đăng trên kỷyếu hội thảo chiến lược và đề tài điều tra và nghiên cứu của một số ít cá thể, tổ chức triển khai về DVPL. Hiện nay, chưa có khu công trình nào nghiên cứu và điều tra một cách mạng lưới hệ thống về HĐDVPL. Có thể sắp xếpnhóm những khu công trình nghiên cứu và điều tra có tương quan đến HĐDVPL đã được thực thi ở ViệtNam trong thời hạn qua như sau : 1 / Nguyễn Như Chính ( 2011 ), Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý – nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học. Trường Đại học Luật Thành Phố Hà Nội. 2 / Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Mơ – Khoa luật, Trường đạihọc Quốc gia TP.HN ( 2011 ), “ Những yếu tố pháp lý về hợp đồng dịch vụ – thực tiễngiải quyết tranh chấp về hợp đồng dịch vụ ”. Ngoài việc khám phá những yếu tố pháplý về hợp đồng dịch vụ, đề tài đi sâu vào việc nghiên cứu và phân tích những vấn đề trong thực tiễn về giảiquyết tranh chấp hợp đồng dịch vụ. 3 / Phan Chí Hiếu ( 2005 ), Hoàn thiện chế định hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứuLập pháp số 4.4 / Hoàng Thị Vịnh ( năm trước ), Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Nước Ta, Luận văn tiếnsĩ luật học. Học viên khoa học xã hội. 5 / Bài viết “ Dịch vụ pháp lý và nhu yếu trong nền kinh tế thị trường ở ViệtNam ” của TS. Nguyễn Văn Tuân đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số Chuyênđề Pháp luật về Doanh nghiệp. Tóm lại, những nhóm khu công trình trên đã nghiên cứu và điều tra, nhìn nhận những yếu tố có liênquan đến HĐDVPL ở những góc nhìn khác nhau và là tài liệu tìm hiểu thêm hữu dụng choviệc nghiên cứu và điều tra pháp lý HĐDVPL. Tuy nhiên, do có những mục tiêu và nhiệm vụnghiên cứu khác nhau nên những tác giả chưa đề cập một cách tổng lực, thâm thúy và có hệthống những yếu tố lý luận về DVPL cũng như pháp lý về HĐDVPL, mà chưa đi sâuvào nghiên cứa những qui định về giao kết và thực HĐDVPL nên những thông tin vềHĐDVPL còn bị hạn chế. Do đó có nhiều cách khác nhau trong việc vận dụng những quiđịnh của pháp lý về HĐDVPL vào thực tiễn cũng là điều tất yếu. Nhằm hiểu và ápdụng những qui định của pháp lý về giao kết và triển khai những HĐDVPL trong những hoạtđộng thương mại như thế nào ? Thực trạng vận dụng những qui định của pháp lý về hợpđồng dịch vụ pháp lý của văn phòng luật sư Interla diễn ra như thế nào ? Các đề xuấtgiải pháp hoàn thành xong những qui định pháp lý về giao kết và thực HĐDVPL. 3. Xác lập và công bố yếu tố nghiên cứu và điều tra. Qua thời hạn khám phá trong thực tiễn từ ngày 05/01/2015 đến ngày 29/04/2015 về những hợpđồng dịch vụ pháp lý của văn phòng luật sư Interla cho thấy bên cạnh những tác dụng đạtđược thì vẫn còn sống sót những hạn chế nhất định trong việc hoàn thành xong về hợp đồng dịchvụ pháp lý của văn phòng luật sư Interla. Do vậy để yếu tố giao kết và triển khai hợpđồng dịch vụ pháp lý trở thành đòn kích bẩy so với văn phòng luật sư Interla, thực sự phát huyvai trò của mình thì cần phải có những giải pháp để hoàn thành xong hơn việc giao kết và thựchiện HĐDVPL của văn phòng luật sư lúc bấy giờ là thiết yếu. Trên cơ sở đó em lựa chọn đềtài : “ Pháp luật về giao kết và thực thi hợp đồng dịch vụ pháp lý. Thực tiễn vận dụng tạivăn phòng luật sư Interla ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. 4. Đối tượng, tiềm năng và khoanh vùng phạm vi điều tra và nghiên cứu của đề tài4. 1. Đối tượng nghiên cứu và điều tra của khóa luậnĐối tượng nghiên cứu và điều tra của khóa luận tốt nghiệp là : Các quan điểm, tư tưởng luậthọc về DVPL và HĐDVPL, những văn bản pháp lý thực định của Nước Ta vềHĐDVPL, cam kết của Nước Ta trong những Điều ước quốc tế về DVPL, pháp luậtnước ngoài và pháp lý quốc tế về HĐDVPL, thực tiễn kiến thiết xây dựng, vận dụng pháp luậtHĐDVPL ở Nước Ta. 4.2. Mục tiêu điều tra và nghiên cứu của đề tài khóa luậnThứ nhất, điều tra và nghiên cứu những yếu tố lý luận về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại ViệtNam. Thứ hai, nghiên cứu và phân tích tình hình giao kết và triển khai hợp đồng dịch vụ pháp lý tạiVăn phòng luật sư Interla. Từ đó, nhìn nhận những chưa ổn, hạn chế trong qui định củapháp luật, của công ty. Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu và điều tra những yếu tố lý luận và thực tiễn, khóa luận đưa ramột số yêu cầu nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao trong giao kết và triển khai hợp đồng dịchvụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Interla nói riêng, cũng như của Nước Ta nói chung. 4.3. Phạm vi nghiên cứu và điều tra của đề tài khóa luậnDo kỹ năng và kiến thức còn hạn hẹp và thời hạn nghiên cứu và điều tra không nhiều nên khóa luận chỉtập trung điều tra và nghiên cứu : – Những pháp luật hiện hành của pháp lý trong nghành nghề dịch vụ dịch vụ pháp lý, nhưLTM 2005, BLDS 2005, và 1 số ít văn bản luật chuyên ngành khác. – Việc giao kết và triển khai pháp lý về hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Vănphòng luật sư Interla5. Phương pháp nghiên cứu và điều tra đề tàiĐể làm rõ những yếu tố nghiên cứu và điều tra, khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử vẻ vang của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là phương pháp luận khoahọc được vận dụng điều tra và nghiên cứu trong hàng loạt khóa luận để nhìn nhận khách quan sự thểhiện của những qui định của pháp lý về HĐDVPL. Khóa luận cũng được nghiên cứudựa trên đường lối, chủ trương tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội, tăng trưởng TMDV và hộinhập kinh tế tài chính của Đảng và Nhà nước ta. Trong quy trình điều tra và nghiên cứu đề tài sử dụng những chiêu thức điều tra và nghiên cứu khoa họccụ thể khác nhau như : Phương pháp nghiên cứu và phân tích, chiêu thức tổng hợp, phương pháplịch sử đơn cử và chiêu thức điều tra và nghiên cứu trực tiếp qua khảo sát thực tiễn nhằm mục đích minhchứng cho những lập luận, cho những nhận xét nhìn nhận, Tóm lại khoa học của khóaluận và đặc biệt quan trọng là giải pháp so sánh luật học và giải pháp lịch sử dân tộc được sử dụngxuyên suốt khóa luận để nghiên cứu và phân tích, so sánh so sánh những lao lý pháp lý vềHĐDVPL để thấy sự tăng trưởng của pháp lý về HĐDVPL của nước ta cũng nhưnhững điểm tương đương và độc lạ, những hạn chế, chưa ổn của pháp lý vềHĐDVPL của Việt nam so với những pháp luật của WTO và pháp lý quốc tế. Để hoànthành mục tiêu điều tra và nghiên cứu thì có sự tích hợp giữa những giải pháp trong từng phầncủa khoá luận. Đối với mỗi mục thì có 1 số ít giải pháp nghiên cứu và điều tra chủ yếu đểlàm rõ mục tiêu nghiên cứu và điều tra. 6. Kết cấu khóa luậnNgoài tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, hạng mục tài liệu tìm hiểu thêm, phụ lục, kếtluận, nội dung khóa luận cấu trúc gồm 03 chương : Chương 1 : Những lý luận cơ bản về pháp lý kiểm soát và điều chỉnh về giao kết và thực hiệnhợp đồng dịch vụ pháp lý. Chương 2 : Thực trạng pháp lý kiểm soát và điều chỉnh về giao kết và thực thi hợp đồngdịch vụ pháp lý tại văn phòng luật sư Interla. Chương 3 : Một số đề xuất kiến nghị nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao giao kết và thực thi hợpđồng dịch vụ pháp lý. CHƯƠNG 1 : NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀGIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ1. 1. Một số khái niệm cơ bản của hợp đồng dịch vụ pháp lý. 1.1.1 Khái niệm về hợp đồngHợp đồng là một khái niệm Open từ rất lâu và hiện tại có khá nhiều kháiniệm về hợp đồng. Trên thực tiễn, sự tiếp cận khái niệm hợp đồng trong những hệ thốngpháp luật cũng khác nhau. Quan niệm của những luật gia thuộc mạng lưới hệ thống Civil Law xemhợp đồng như một hiệu quả phức tạp của ý chí tự do cá thể cùng nhiều nguyên tắcpháp lý cơ bản của Luật Tư. Theo Geoffrey Samuel : “ Khái niệm hợp đồng trong hệthống Civil law bị chi phối bởi ba nguyên tắc. Thứ nhất, hợp đồng được xem là kếtquả chung của sự gặp gỡ ý chí của những bên. Thứ hai, đó là pháp lý do những bên lập rađể ràng buộc chính những bên trong hợp đồng. Vì sự ràng buộc của hợp đồng không chỉlà hiệu lực hiện hành pháp lý được dự liệu bởi những bên, mà đó còn là hiệu lực thực thi hiện hành được bảo vệ bởipháp luật, bởi tập quán hoặc bởi nhu yếu của nguyên tắc thiện chí, nhằm mục đích xác lập tráchnhiệm thực thi hợp đồng tương thích với thực chất của hợp đồng. Nguyên tắc thứ ba là tựdo hợp đồng : những bên được tự do, trong khoanh vùng phạm vi số lượng giới hạn của luật công và trật tựcông cộng, để tạo ra loại hợp đồng mà họ muốn, thậm chí còn điều đó hoàn toàn có thể là vô lý theocách nhìn nhận của người khácKhác với ý niệm của những nước theo mạng lưới hệ thống Civil Law, trong hệ thốngCommon Law ( Thông luật ), bắt đầu người ta xem hợp đồng như thể hiệu quả của cáccam kết đơn thuần, bộc lộ bằng những hành vi pháp lý đơn cử của mỗi bên. Saunày, “ những thẩm phán theo chủ nghĩa thực dụng ( pragmatic ) ở Anh đã xem xét hợpđồng như thể một nghĩa vụ và trách nhiệm được tạo ra bởi sự gặp gỡ ý chí giữa những bên ” Có thể nói, thuật ngữ ‘ Hợp đồng ’ là một phạm trù đa nghĩa và hoàn toàn có thể được xemxét nhiều góc nhìn khác nhau. Các luật gia Nước Ta thường hiểu khái niệm ‘ hợp đồng’theo hai nghĩa : nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan. Theo nghĩa khách quan, ‘ hợpđồng ’ là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, gồm có những “ quiphạm pháp lý được qui định đơn cử trong BLDS nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh những quan hệ xã hộiSammuel, Geoffrey, Law of Obligations and legal Remedies, 2 nd ed., Cavendish, London 2001. ( Tr 278 ) Sammuel, Geoffrey, Law of Obligations and legal Remedies, 2 nd ed., Cavendish, London 2001. ( tr. 283 – 284 ). ( đa phần là quan hệ gia tài ) trong quy trình di dời những quyền lợi vật chất giữa cácchủ thể với nhau ”. Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng “ là sự ghi nhận hiệu quả của việccam kết, thỏa thuận hợp tác giữa những chủ thể giao kết hợp đồng ” hay “ là tác dụng của việc thỏathuận, thống nhất ý chí của những bên, được bộc lộ trong những lao lý đơn cử vềquyền và nghĩa vụ và trách nhiệm mỗi bên để có cơ sở cùng nhau triển khai ”. Ở Nước Ta, khái niệm hợp đồng không được định nghĩa đơn cử trong văn bảnpháp luật nào, BLDS 2005 định nghĩa về hợp đồng dân sự như sau : “ Hợp đồng dân sựlà sự thoả thuận giữa những bên về việc xác lập, biến hóa hoặc chấm hết quyền, nghĩa vụdân sự ”. Xét về thực chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận hợp tác của những bên, là kết quảcủa quy trình thương thảo và thống nhất ý chí giữa những bên để làm phát sinh, biến hóa, chấm hết những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm so với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm mà phápluật có qui định là không hề đổi khác hoặc chấm hết bằng thỏa thuận hợp tác của những bên. Xétvề vị trí, vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp đồng là một loại thanh toán giao dịch dânsự, là một địa thế căn cứ pháp lý làm phát sinh, biến hóa, chấm hết quan hệ pháp luật dân sự. Như vậy : Hợp đồng là phương tiện đi lại pháp lý để những bên tạo lập quan hệ nghĩa vụ và trách nhiệm. Có thể nói, định nghĩa trên đã hàm chứa tổng thể tín hiệu mang tính thực chất của hợpđồng và biểu lộ rõ công dụng, vai trò của hợp đồng trong việc làm phát sinh, thayđổi, chấm hết quan hệ pháp lý. 1.1.2 Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lýQuan hệ đáp ứng DVPL được xác lập và thực thi trải qua hình thức pháp lýlà HĐDVPL. HĐDVPL có thực chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận hợp tác nhằm mục đích xáclập, biến hóa hoặc chấm hết những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm trong quan hệ đáp ứng DVPL.Theo nguyên tắc vận dụng luật chung và luật chuyên ngành trong trường hợp cùng điềuchỉnh quan hệ HĐDVPL thì những nguyên tắc và pháp luật so với HĐDV trong BLDSvà LTM 2005 cũng được vận dụng cho HĐDVPL.BLDS 2005 định nghĩa : “ HĐDV là sự thỏa thuận hợp tác giữa những bên, theo đó bên làmdịch vụ triển khai một việc làm cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trảtiền công cho bên làm dịch vụ ” ( Điều 518 ). Điều 74 LTM 2005 không định nghĩa hợpĐinh Văn Thanh, Đặc trưng pháp lý của hợp đồng dân sự, Luật học, số 4/1999, ( Tr. 19 ) Điều 388, BLDS 2005 về : “ Hợp đồng dân sự ” đồng đáp ứng dịch vụ trong thương mại. Nội dung những lao lý về HĐDV trongLTM được kiến thiết xây dựng theo xu thế cụ thể hóa những nguyên tắc và lao lý về HĐDStrong BLDS.LLS 2006 pháp luật “ Luật sư thực thi DVPL theo HĐDVPL, trừ trường hợpluật sư tham gia tố tụng theo nhu yếu của cơ quan thực thi tố tụng và luật sư hànhnghề với tư cách cá thể thao tác theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức triển khai. HĐDVPL phải được làm thành văn bản ” ( Điều 26 ). Như vậy, so với hoạt động giải trí cungứng DVPL của luật sư, pháp lý đã có lao lý chính thức về việc quan giữa luật sưvà người mua là quan hệ HĐDVPL và phải được bộc lộ dưới hình thức văn bản. Các luật chuyên ngành khác về DVPL, tuy không đưa ra định nghĩa về HĐDVPLnhưng địa thế căn cứ vào thực chất kinh tế tài chính cũng như thực chất pháp lý của những quan hệ cungứng DVPL đơn cử cũng như xem xét những quan hệ đáp ứng này trong sự so sánh vớiquan hệ đáp ứng DVPL của luật sư, hoàn toàn có thể chứng minh và khẳng định quan hệ giữa bên cung ứngDVPL và bên sử dụng những mô hình DVPL khác là quan hệ HĐDVPL.Từ những pháp luật của BLDS, LTM và những luật chuyên ngành về DVPL, có thểkhẳng định HĐDVPL là một dạng của HĐDVTM. HĐDVPL mang vừa đủ những dấuhiệu của HĐDVTM đó là : i ) là sự thỏa thuận hợp tác giữa hai bên ( bên đáp ứng DVPL vàbên sử dụng DVPL ) ; ii ) Nội dung HĐDVPL tiềm ẩn quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của cácbên. Đa số HĐDVPL là loại hợp đồng song vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ và trách nhiệm của bênkia và ngược lại. Có một số ít HĐDVPL là loại hợp đồng vì quyền lợi của người thứ ba ( trường hợp thân nhân của bị can, bị cáo bị tạm giam mời luật sư bào chữa cho họ ). Theo đó, bên đáp ứng triển khai cho bên sử dụng DVPL một hoặc nhiều việc làm cóliên quan đến pháp lý thuộc nghành hành nghề đã ĐK hoạt động giải trí cho bên sửdụng DVPL còn bên sử dụng DVPL có quyền sử dụng DVPL theo thỏa thuận hợp tác và cónghĩa vụ giao dịch thanh toán ; iii ) Mục đích của bên đáp ứng DVPL là nhận thù lao còn mụcđích của bên sử dụng DVPL là nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nhu yếu về DVPL ; iv ) HĐDVPL khôngbắt buộc phải được biểu lộ dưới hình thức văn bản. HĐDVPL là loại HĐTMDV tiềm ẩn đặc thù của 1 số ít loại HĐTMDVkhác. Cụ thể là một số ít HĐDVPL có những điểm tương đương với hợp đồng đại diệncho thương nhân, đó là bên đại diện thay mặt được nhân danh và vì quyền lợi của bên được đạidiện để thực thi những việc làm do bên được đại diện thay mặt giao, mang lại quyền và nghĩa vụcho bên được đại diện thay mặt. Tuy nhiên, đại diện thay mặt trong hoạt động giải trí DVPL là để thực thi cáccông việc có tương quan đến pháp lý thuộc nghành hành nghề của bên cung ứngDVPL ( ví dụ điển hình luật sư đại diện thay mặt theo ủy quyền cho nguyên đơn để khởi kiện và thamgia tố tụng trong vụ kiện đòi nợ ), còn đại diện thay mặt cho thương nhân trong hoạt độngthương mại là để triển khai những việc làm thuộc nghành nghề dịch vụ hoạt động giải trí của bên giao đạidiện ( hợp đồng đại lý là một nổi bật ). Bên cạnh đó, hai loại hợp đồng này còn có sựkhác nhau ở yếu tố chủ thể. Chủ thể HĐDVPL chỉ nhu yếu bên đáp ứng DVPL là tổchức hành nghề chuyên nghiệp ( hầu hết trong số đó là thương nhân ), chủ thể hợp đồngđại diện cho thương nhân bắt buộc hai bên đều phải là thương nhân. HĐDVPL cũngcó nhiều điểm tương đương với một số ít HĐDV khác ( hợp đồng dịch vụ truy thuế kiểm toán, hợpđồng dịch vụ giám định, hợp đồng bán đấu giá sản phẩm & hàng hóa ), đó là bên đáp ứng dịchvụ triển khai cho bên sử dụng dịch vụ một việc làm thuộc nghành hành nghề đã đăngký hoạt động giải trí của mình và những dịch vụ này phải do những cá thể có CCHN củabên đáp ứng dịch vụ triển khai. Tuy nhiên, việc làm thuộc nghành hành nghề củabên đáp ứng dịch vụ trong những hợp đồng nêu trên không phải là DVPL và CCHNcủa cá thể triển khai việc làm là đối tượng người tiêu dùng hợp đồng không phải là CCHN cung ứngDVPL. Người triển khai DVPL trong HĐDVPL là người có CCHN đáp ứng một loạihình DVPL nhất định và để được cấp CCHN, người triển khai DVPL phải đáp ứngnhiều điều kiện kèm theo gắn với nghề luật, trong đó có một điều kiện kèm theo đặc trưng về trình độchuyên môn phải có bằng ĐH luật và phải có kiến thức và kỹ năng hành nghề luật qua yêu cầuphải tốt nghiệp lớp huấn luyện và đào tạo nghề đáp ứng DVPL ( ví dụ điển hình lớp huấn luyện và đào tạo nghề luật sư ), đã trải qua thời hạn tập sự hành nghề đáp ứng DVPL ( để làm thử việc làm cung ứngDVPL dưới sự hướng dẫn của những cá thể có nhiều kinh nghiệm tay nghề trong nghành nghề dịch vụ cungứng DVPL ) và phải là thành viên của một tổ chức triển khai hành nghề đáp ứng DVPL ( khôngđược làm một nghề khác, bộc lộ sự chuyên tâm vào việc hành nghề cung ứngDVPL ). Người triển khai dịch vụ trong những HĐDV nói trên cũng phải cung ứng nhữngđiều kiện về trình độ và kiến thức và kỹ năng hành nghề nhưng không gắn với trình độ “ nghề luật ” mà gắn với từng trình độ khác nhau ( nhiệm vụ truy thuế kiểm toán, nghiệp vụgiám định những mẫu sản phẩm văn học, thẩm mỹ và nghệ thuật, nhiệm vụ đấu giá sản phẩm & hàng hóa, ). Từ những nghiên cứu và phân tích ở trên hoàn toàn có thể đưa ra định nghĩa về hợp đồng dịch vụ pháp lýnhư sau : Hợp đồng dịch vụ pháp lý là sự thỏa thuận hợp tác giữa những bên, theo đó, bên cungứng cung ứng một hoặc nhiều dịch vụ pháp lý cho bên thuê dịch vụ để nhận thù lao, còn bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ và trách nhiệm giao dịch thanh toán và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận hợp tác. 1.1.3. Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ pháp lý. 1.1.3. 1. Bên đáp ứng DVPL phải là những tổ chức triển khai hành nghề có đủ những điều kiệntheo qui định của pháp luậtĐể có năng lượng chủ thể tham gia vào quan hệ HĐDVPL với tư cách là bên cungứng DVPL, bên đáp ứng DVPL phải là những tổ chức triển khai hành nghề sống sót hợp pháp, cóthẩm quyền phân phối DVPL và có quyền đáp ứng mô hình DVPL đã ĐK. Cụthể, bên đáp ứng DVPL phải phân phối những điều kiện kèm theo sau : a ) được tổ chức triển khai dưới hình thức những tổ chức triển khai hành nghề đáp ứng DVPL hoặcngười đáp ứng DVPL hành nghề với tư cách cá thể ( gọi chung là tổ chức triển khai cung ứngDVPL ) b ) đã ĐK hoạt động giải trí đáp ứng DVPL và được cơ quan nhà nước có thẩmquyền được cho phép hoặc cấp giấy phép hoạt động giải trí DVPLc ) đáp ứng loại DVPL đúng nghành nghề dịch vụ và đúng mô hình DVPL của tổ chức triển khai hànhnghề. Ví dụ. Tổ chức hành nghề luật sư chỉ được ĐK hành nghề so với một sốhoặc cả 4 nghành nghề dịch vụ hành nghề luật sư pháp luật tại LLS 2006, không được ĐK vàcung ứng những DVPL thuộc mô hình DVPL ( nghành hành nghề ) của công chứng viênhoặc của thừa phát lại và ngược lại. Ngoài ra, tổ chức triển khai đáp ứng DVPL không đượcđăng ký kinh doanh thương mại để hoạt động giải trí sản xuất, kinh doanh thương mại, làm dịch vụ so với bất kỳngành, nghề nào khác. 1.1.3. 2. Phương thức ký kết và hình thức sống sót đặc biệt quan trọng của hợp đồng dịch vụ pháp lý. Đa số những HĐDVPL được ký kết theo hai phương pháp ký kết HĐDV truyềnthống đó là phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp và sống sót dưới những hìnhthức do pháp lý pháp luật. Tuy nhiên, có một số ít loại HĐDVPL, phương pháp ký kếtvà hình thức sống sót rất đặc biệt quan trọng nhưng vẫn bộc lộ được vừa đủ sự thỏa thuận hợp tác của cácbên. Việc ý kiến đề nghị và gật đầu giao kết hợp đồng được bộc lộ bằng những cách thứcvà dưới những hình thức rất đặc trưng hay nói cách khác trọn vẹn không sống sót mộtbản HĐDVPL độc lập, tiềm ẩn khá đầy đủ nội dung của một HĐDVPL và không đượcthể hiện dưới một hình thức truyền thống cuội nguồn nhất định nào mà sống sót dưới hình thức sựpha trộn những hình thức sống sót của một HĐTMDV. HĐDVPL loại này được giao kết vàphát sinh hiệu lực hiện hành khi bên sử dụng DVPL có nhu yếu và bên đáp ứng đồng ý thựchiện một hoặc nhiều việc làm thuộc nghành hành nghề của mình cho bên nhu yếu. Quá trình triển khai cũng đồng thời là quy trình những bên liên tục đưa ra những thỏathuận và ý kiến đề nghị mới thuộc nội dung hợp đồng. HĐDVPL của Công chứng viên vàThừa phát lại là những loại hợp đồng có phương pháp ký kết và hình thức sống sót điểnhình của trường hợp này. 1.1.3. 3. Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính đối nhân và tính rủi ro đáng tiếc cao. Thứ nhất : Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính đối nhânTính đối nhân của HĐDVPL bộc lộ ngay trong yếu tố hình thức tổ chức triển khai của những tổchức đáp ứng DVPL. Hiện nay, pháp lý qui định cho hầu hết tổ chức triển khai hành nghề cungứng những mô hình DVPL dưới hình thức Văn phòng hoặc công ty hợp danh. Đối với hìnhthức Văn phòng, những luật chuyên ngành qui định “ hoạt động giải trí như một mô hình doanhnghiệp tư nhân ” ( Điều 33 LLS ), mà DNTN là mô hình Doanh Nghiệp phải chịu nghĩa vụ và trách nhiệm vô hạnvề những khoản nợ và nghĩa vụ và trách nhiệm gia tài phát sinh trong kinh doanh thương mại. Đối với hình thức công tyhợp danh, cũng đồng nghĩa tương quan với việc những thành viên của tổ chức triển khai hành nghề phải chịu tráchnhiệm trực tiếp và vô hạn về những nghĩa vụ và trách nhiệm gia tài của tổ chức triển khai hành nghề. Ngoài ra, phápluật cũng được cho phép những tổ chức triển khai hành nghề tổ chức triển khai dưới hình thức Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn để đượchưởng chính sách chịu Trách Nhiệm Hữu Hạn trong kinh doanh thương mại nhưng những công ty luật Trách Nhiệm Hữu Hạn ĐK kinhdoanh DVPL ngoài việc tuân theo những lao lý của LDN cho mô hình công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn thìcòn phải tuân thủ những qui định của những luật chuyên ngành về DVPL để nhà nước quản lývà trấn áp ngặt nghèo so với hoạt động giải trí hành nghề của nó. Tính đối nhân của DVPL còn được bộc lộ bởi yếu tố người thực thi DVPL.Nhà góp vốn đầu tư xây dựng những tổ chức triển khai hành nghề đáp ứng DVPL đồng thời là người thựchiện DVPL ( nghĩa vụ và trách nhiệm cao hơn người lao động thông thường ). Các việc làm thuộclĩnh vực đã ĐK hành nghề của tổ chức triển khai hành nghề phải do chính nhà đầu tư hoặcthành viên của tổ chức triển khai hành nghề thực thi và họ không được giao lại việc làm chongười khác triển khai nếu không được sự đồng ý chấp thuận của người mua. Thứ hai : Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính rủi ro đáng tiếc caoHĐDVPL hàm chứa yếu tố rủi ro đáng tiếc cao hơn những loại HĐDV khác, bởi những nguyênnhân sau : – Các bên chủ thể HĐDVPL sự bất phù hợp về kiến thức và kỹ năng pháp lý HĐDVPL10Xuất phát từ đặc thù của DVPL là gắn liền với pháp lý và bên đáp ứng phảilà tổ chức triển khai hành nghề đáp ứng DVPL, tất yếu dẫn đến việc có sự bất phù hợp về ýthức pháp lý giữa những bên đặc biệt quan trọng là kỹ năng và kiến thức pháp lý về HĐDVPL.Bên đáp ứng DVPL thường có lợi thế “ tuyệt đối ” so với bên sử dụng DVPL, bởi lẽ, từ cỗ máy quản trị và đội ngũ người thực thi DVPL đều là những chuyên giapháp lý, có trình độ trình độ và kiến thức và kỹ năng hành nghề luật chuyên nghiệp, hoạt độngcung ứng DVPL là hoạt động giải trí nghề nghiệp nhằm mục đích mục tiêu sinh lời. Bên sử dụngDVPL là tổ chức triển khai, cá thể bất kể, hoàn toàn có thể có hiểu biết pháp lý ở mức độ nhất địnhnhưng không hề so sánh với bên kia. – Do tính khó xác lập của chất lượng DVPLXuất phát từ thực chất vô hình dung của loại sản phẩm DVPL dẫn đến tính khó xác địnhchất lượng của DVPL. Điều này gây rất nhiều khó khăn vất vả, lúng túng cho những chủ thể hợpđồng, đặc biệt quan trọng là cho bên sử dụng DVPL. Bên sử dụng DVPL trong nhiều trường hợpthường là thiếu hiểu biết pháp lý nên mới cần đến sự trợ giúp của bên kia, nhưng khithỏa thuận về lao lý chất lượng thì chính bên sử dụng DVPL cũng không hiểu rõDVPL được nhu yếu đáp ứng phải đạt chất lượng như thế nào để phân phối được mụcđích sử dụng và pháp luật chất lượng phải thỏa thuận hợp tác như thế nào thì mới đạt đượcsự rõ ràng, đúng chuẩn và hợp pháp. Việc khó xác lập chất lượng DVPL làm cho chủthể HĐDVPL không có cơ sở pháp lý để thỏa thuận hợp tác chất lượng việc làm. Mặt khác, làmột trong những nguyên do dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng mà hầu hết là từphía đáp ứng DVPL nhưng bên sử dụng DVPL không có địa thế căn cứ pháp lý để bảo vệquyền lợi hợp pháp của mình. – Kết quả DVPL trong 1 số ít trường hợp bị phụ thuộc vào vào trình độ công nghệcủa những phương tiện kỹ thuật có tương quan. Quá trình đáp ứng 1 số ít DVPL, bên cung ứng không chỉ cần sử dụng những trithức pháp lý và kỹ năng và kiến thức nghề nghiệp, mà còn cần phải dựa trên tác dụng hoạt động giải trí củacác phương tiện kỹ thuật hoặc hiệu quả hoạt động giải trí của những cơ quan, tổ chức triển khai trình độ. Do đó, chất lượng DVPL phụ thuộc vào hầu hết vào mức độ văn minh của khoa học côngnghệ tương ứng ( giả thiết kỹ thuật viên khách quan, công tâm và không có bất kể tácđộng nào đến tác dụng ). Ví dụ : Dịch vụ tranh tụng của luật sư tại những cơ quan triển khai tốtụng lúc bấy giờ trong 1 số ít trường hợp phải dựa trên tác dụng giám định của cơ quan11chức năng có thẩm quyền với việc sử dụng máy móc, thiết bị tân tiến như : Giám địnhtâm thần tư pháp, giám định pháp y, giám định ADN, … – Trong một số ít trường hợp chủ thể HĐDVPL không trấn áp được tác dụng côngviệc. Gồm : Trường hợp việc triển khai bị nhờ vào vào hoạt động giải trí của bên thứ baĐối với những mô hình DVPL khi triển khai bị phụ thuộc vào vào hoạt động giải trí của bênthứ ba thì chủ thể HĐDVPL bị phụ thuộc vào vào bên thứ ba ngay từ tiến trình luận bàn, thương lượng để đi đến ký kết HĐDVPL. Giai đoạn này, hai bên chủ thể đã phải chú ýđể kiểm soát và điều chỉnh những lao lý của HĐDVPL tương thích với pháp luật của pháp lý vềtổ chức và hoạt động giải trí của bên thứ ba. Có như vậy thì thỏa thuận hợp tác của chủ thể HĐDVPLmới hợp pháp và bảo vệ năng lực thực thi có hiệu suất cao trên trong thực tiễn. Trong quá trìnhthực hiện HĐDVPL, nhiều DVPL là những hoạt động giải trí phối hợp với hoạt động giải trí của bênthứ ba trong một hoạt động giải trí toàn diện và tổng thể nhất định vì vậy hiệu quả việc làm nằm ngoài sựkiểm soát của chủ thể hợp đồng và nhờ vào có chất quyết định hành động vào chất lượng hoạtđộng của bên thứ ba trong đó có những yếu tố đa phần như chất lượng của nền hànhchính nhà nước và nền tư pháp. Bởi lẽ, hiệu quả việc làm không chỉ là tác dụng thựchiện của bên đáp ứng mà còn là hiệu quả hoạt động giải trí của bên thứ ba. Nói cách khác, hoạt động giải trí của nhà sản xuất trong 1 số ít trường hợp không cho tác dụng độc lập màcho hiệu quả tổng hợp, gắn với tác dụng hoạt động giải trí của bên thứ ba. Trường hợp việc làm được triển khai bởi nhiều ngườiTrong trường hợp việc làm được thực thi bởi nhiều người ( nhiều luật sư bàochữa cho một bị can, bị cáo hoặc cùng bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ cho một đương sự ) thì kết quảcông việc nhờ vào vào trình độ trình độ, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức hànhnghề, sự tận tâm với việc làm của mỗi luật sư trong số đó và như vậy hiệu quả tổnghợp của việc bào chữa hoặc bảo vệ quyền hạn của những luật sư sẽ không dự liệu trướcđược. Việc dự liệu trước hiệu quả tổng hợp của DVPL càng khó khăn vất vả hơn khi nhữngngười triển khai DVPL hành nghề tại những tổ chức triển khai hành nghề khác nhau. Tương tự nhưvậy, cùng một DVPL nhưng nếu được thực thi bởi người thực thi khác nhau cũngsẽ cho tác dụng rất khác nhau. 12K hả năng sử dụng DVPL của khách hàngTrong trường hợp cùng một việc làm được thực thi bởi cùng một cá nhânnhưng người sử dụng DVPL khác nhau sẽ đạt hiệu suất cao khác nhau. Bởi lẽ, khả năngtiếp nhận, thụ hưởng hiệu quả DVPL và sử dụng tác dụng để xử lý yếu tố của cáckhách hàng là khác nhau. Như vậy, trong những trường hợp nêu trên, những bên chủ thể luôn không kiểm soátđược chất lượng việc làm là đối tượng người dùng HĐDVPL. 1.1.3. 4. Quá trình giao kết và triển khai hầu hết những HĐDVPL bị phụ thuộc vào vàobên thứ baDo tính gắn liền với pháp lý nên quy trình giao kết và triển khai một sốHĐDVPL gắn liền và do đó bị phụ thuộc vào vào hoạt động giải trí của cơ quan nhà nước, tổchức, cá thể có thẩm quyền, đặc biệt quan trọng là những cơ quan triển khai tố tụng ( gọi tắt là bênthứ ba ). Trong những trường hợp này, hoạt động giải trí của bên thứ ba là cơ sở để những bêntham gia quan hệ HĐDVPL thỏa thuận hợp tác nội dung HĐDVPL, đồng thời cũng thông quahoạt động của bên thứ ba HĐDVPL mới có năng lực thực thi được trên trong thực tiễn. 1.1.4. Phân loại hợp đồng dịch vụ pháp lý1. 1.4.1. Căn cứ vào mô hình tổ chức triển khai hành nghề phân phối DVPLHĐDVPL hoàn toàn có thể chia thành 5 loại : HĐDVPL của tổ chức triển khai hành nghề luật sư ; HĐDVPL của tổ chức triển khai hành nghề công chứng ; HĐDVPL của tổ chức triển khai hành nghề Thừaphát lại ; HĐDVPL của Trung tâm tư vấn pháp lý và HĐDVPL của những tổ chức triển khai khác. 1.1.4. 2. Căn cứ vào nội dung của HĐDVPLHĐDVPL hoàn toàn có thể chia thành 8 loại : hợp đồng dịch vụ tranh tụng, hợp đồng dịchvụ tư vấn pháp lý, hợp đồng dịch vụ công chứng, hợp đồng dịch vụ lập vi bằng, hợpđồng dịch vụ tống đạt sách vở của tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án, hợp đồng xác minhđiều kiện thi hành án, hợp đồng thi hành án và HĐDVPL khác. 1.2. Cơ sở phát hành và nội dung kiểm soát và điều chỉnh yếu tố giao kết và triển khai hợpđồng dịch vụ pháp lý. 1.2.1. Pháp luật kiểm soát và điều chỉnh về giao kết và thực thi hợp đồng dịch vụ pháplý. 13T heo Điều 518 BLDS thì Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa những bên, theođó bên đáp ứng dịch vụ thực thi việc làm cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịchvụ phải trả tiền dịch vụ cho bên đáp ứng dịch vụ. Như vậy hoạt động giải trí dịch vụ pháp lý không chỉ chịu sự kiểm soát và điều chỉnh của bộ LDS màcòn chịu sự kiểm soát và điều chỉnh của LTM năm 2005. Tùy từng nghành nghề dịch vụ đơn cử như giám định, tư vấn, đấu thầu, triển khai thương mại chịu sự kiểm soát và điều chỉnh của những qui định đơn cử khácnhau. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thànhviên có qui định vận dụng pháp lý quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hoặc cóqui định khác với pháp luật của LTM, BLDS thì vận dụng pháp luật của Điều ước quốctế. Các bên trong thanh toán giao dịch quốc tế được thỏa thuận hợp tác vận dụng pháp lý quốc tế, tập quán quốc tế nếu pháp lý quốc tế, tập quán thương mại quốc tế đó không tráivới những nguyên tắc cơ bản của pháp lý Nước Ta. Như vậyHĐDVPL chịu sự kiểm soát và điều chỉnh của LTM 2005, BLDS 2005, Điều ướcquốc tế và tập quán thương mại quốc tế có tương quan. 1.2.2. Một số nội dung cơ bản của pháp lý về giao kết và triển khai hợp đồngdịch vụ pháp lý. 1.2.2. 1. Vấn đề giao kết HĐDVPL.Việc ký kết hợp đồng phải được xem xét trên những góc nhìn : nguyên tắc giao kết, địa thế căn cứ giao kết, chủ thể của hợp đồng, đối tượng người dùng của hợp đồng, nội dung và hình thứccủa hợp đồng, nội dung. Cụ thể : • Nguyên tắc giao kết hợp đồngNguyên tắc giao kết hợp đồng đó là những tư tưởng chỉ huy được không cho trongnhững quy phạm pháp luật về hợp đồng, có đặc thù bắt buộc so với những chủ thểtrong khi thực thi ký kết hợp đồng. Trong nền kinh tế thị trường, việc giao kết hợpđồng, về nguyên tắc không còn là kỷ luật của nhà nước, là trách nhiệm của những tổ chức triển khai, cơ quan và những đơn vị chức năng kinh tế tài chính nữa. Đó là quyền tự do hợp đồng, một trong những nộidung quan trọng của quyền tự do kinh doanh thương mại. Theo điều 389, BLDS 2005, thì việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ những nguyêntắc : tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp lý, đạo đức xã hội ; Tựnguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thật. • Căn cứ giao kết hợp đồng14Căn cứ để giao kết hợp đồng đó là : theo xu thế kế hoạch của nhà nước, cácchính sách chính sách, những chuẩn mực kinh tế tài chính kỹ thuật hiện hành ; địa thế căn cứ theo nhu yếu thịtrường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng ; địa thế căn cứ vào năng lực tăng trưởng sảnxuất kinh doanh thương mại, công dụng hoạt động giải trí kinh tế tài chính của đơn vị chức năng mình ; địa thế căn cứ vào tính hợppháp của hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại và năng lực bảo vệ về gia tài của những bêncùng ký kết hợp đồng. • Chủ thể của hợp đồngChủ thể của hợp đồng là những bên tham gia quan hệ hợp đồng bình đẳng, tựnguyện thỏa thuận hợp tác để xác lập những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm với nhau. Chủ thể của HĐDVlà những thương nhân. Theo điều 6, LTM 2005 thì thương nhân gồm tổ chức triển khai kinh tế tài chính đượcthành lập hợp pháp, cá thể hoạt động giải trí thương mại một cách độc lập, tiếp tục vàcó ĐK kinh doanh thương mại. Để trở thành thương nhân những cá thể từ đủ 18 tuổi trở lên cónăng lực hành vi dân sự vừa đủ, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ mái ấm gia đình có đủ điều kiện kèm theo đểkinh doanh thương mại theo lao lý của pháp lý nếu có nhu yếu hoạt động giải trí thươngmại thì cơ quan nhà nước có toàn quyền cấp giấy ghi nhận ĐK kinh doanh thương mại vàtrở thành thương nhân. Ngoài ra, chủ thể của hợp HĐDV hoàn toàn có thể là Trụ sở của thương nhân nướcngoài. Theo khoản 3, điều 19, LTM 2005 thì Trụ sở của thương nhân nước ngoàicó quyền giao kết hợp đồng tại Nước Ta tương thích với nội dung hoạt động giải trí quy địnhtrong giấy phép xây dựng Trụ sở và theo lao lý của pháp lý. • Đối tượng của hợp đồngĐối tượng của HĐDV là việc làm hoàn toàn có thể triển khai được, không bị pháp luậtcấm, không trái với đạo đức xã hội. Theo điều 75, LTM 2005, thương nhân có quyềncung ứng những dịch vụ sau : đáp ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụngtrên chủ quyền lãnh thổ Nước Ta ; đáp ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Nước Ta sửdụng trên chủ quyền lãnh thổ Nước Ta ; đáp ứng dịch vụ cho người cư trú tại Nước Ta và sửdụng trên chủ quyền lãnh thổ quốc tế ; đáp ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt namsử dụng trên chủ quyền lãnh thổ quốc tế. • Hình thức của hợp đồngHợp đồng dịch vụ được biểu lộ bằng lời nói, văn bản hoặc được xác lập bằnghành vi đơn cử. 15 – Đối với những loại hợp HDVĐ mà pháp lý lao lý phải được lập thành vănbản thì phải tuân theo những lao lý đó. 16 • Nội dung của hợp đồngNội dung của hợp đồng dịch vụ đó là những thỏa thuận hợp tác của những bên. Các bên cóthể thỏa thuận hợp tác về những nội dung đa phần ( theo điều 402 Bộ Luật dân sự 2005 ) như : + Đối tượng của hợp đồng là gia tài phải giao, việc làm phải làm hoặc khôngđược làm + Số lượng, chất lượng + Giá, phương pháp thanh toán giao dịch + Thời hạn, khu vực, phương pháp thực thi hợp đồng + Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những bên + Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng + Phạt vi phạm hợp đồng + Các nội dung khácSau khi những bên đàm phán và ghi trong hợp đồng, mọi thỏa thuận hợp tác ghi trong hợpđồng ràng buộc những bên. Hợp đồng bộc lộ rõ quyền lợi và nghĩa vụ cũng như nghĩa vụ và trách nhiệm mà mỗibên trong hợp đồng có được. Các bên mở màn triển khai triển khai hợp đồng theo đúngthỏa thuận ghi trong hợp đồng. 1.2.2. 2. Vấn đề triển khai HĐDVPL • Nguyên tắc thực hiệnNhững thỏa thuận hợp tác HĐDVPL có hiệu lực hiện hành sẽ có giá trị ràng buộc những bên. Các bênphải triển khai nghĩa vụ và trách nhiệm đã thỏa thuận hợp tác theo đúng hợp đồng. Để bảo vệ việc thực hiệnhợp đồng thì pháp lý pháp luật những nguyên tắc bắt buộc những chủ thể phải tuân theotrong quy trình thực thi hợp đồng. Đó là : – Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng người tiêu dùng, thời hạn, phương pháp và những thỏathuận khác do những bên chủ thể thỏa thuận hợp tác. – Thực hiện một cách trung thực, theo niềm tin hợp tác và có lợi nhất cho cácbên, bảo vệ đáng tin cậy lẫn nhau. – Không được xâm phạm đến quyền lợi của Nhà nước, quyền lợi công cộng, quyền vàlợi ích hợp pháp của người khác. • Thực hiện quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của những bênThứ nhất, quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của bên đáp ứng dịch vụ : Bên đáp ứng dịch vụ sau khi giao kết hợp đồng phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đáp ứng cácdịch vụ và thực thi những việc làm có tương quan một cách vừa đủ tương thích những thỏathuận như thực thi việc làm đúng số lượng, chất lượng, thời hạn, khu vực và những thỏa17thuận khác. Không được giao cho người khác thực thi thay việc làm, nếu không có sựđồng ý của bên thuê dịch vụ. Sau khi hoàn thành xong việc làm, bên đáp ứng dịch vụ phảibảo quản và giao lại cho người mua những tài liệu và phương tiện đi lại được giao để thựchiện dịch vụ. Nếu những thông tin, tài liệu không rất đầy đủ, phương tiện đi lại không bảo đảmđể hoàn thành xong việc làm thì phải thông tin ngay cho bên thuê dịch vụ. Trong thỏa thuậncó nhu yếu cần giữ bí hiểm về thông tin mà mình biết thì trong quy trình đáp ứng dịchvụ phải giữ bí hiểm theo đúng thỏa thuận hợp tác. Trường hợp mất mát, hư hỏng tài liệu, phươngtiện được giao hoặc bật mý bí hiểm thông tin thì phải bồi thường thiệt hại. Để triển khai tốt việc làm của mình, bên đáp ứng dịch vụ có quyền yêu cầukhách hàng phân phối thông tin, tài liệu, phương tiện đi lại có tương quan. Hoặc được thay đổiđiều kiện dịch vụ vì quyền lợi của người mua mà không nhất thiết phải chờ quan điểm củakhách hàng, nếu việc chờ quan điểm sẽ gây thiệt hại cho người mua, nhưng phải báo ngaycho người mua. Theo điều 82, LTM 2005 lao lý về thời hạn triển khai xong dịch vụ. Cụ thể : bêncung ứng dịch vụ phải hoàn thành xong đúng thời hạn đã thỏa thuận hợp tác trong hợp đồng. Trường hợp không có thỏa thuân về thời hạn hoàn thành xong dịch vụ thì bên đáp ứng dịchvụ phải triển khai xong dịch vụ trong một thời hạn hài hòa và hợp lý trên cơ sở tính đến toàn bộ cácđiều kiện và thực trạng mà bên đáp ứng dịch vụ biết được vào thời gian giao kết hợpđồng, gồm có bất kể nhu yếu đơn cử nào của người mua có tương quan đến thời gianhoàn thành dịch vụ. Trường hợp một dịch vụ chỉ hoàn toàn có thể được triển khai xong khi kháchhàng hoặc bên đáp ứng dịch vụ khác cung ứng những điều kiện kèm theo nhất định thì bên cungứng dịch vụ đó không có nghĩa vụ và trách nhiệm hoàn thành xong dịch vụ của mình cho đến khi những điềukiện đó được phân phối. Sau khi hết thời hạn hoàn thành xong việc đáp ứng dịch vụ mà dịch vụ vẫn chưa hoànthành, nếu người mua không phản đối thì bên đáp ứng dịch vụ phải liên tục cung ứngdịch vụ theo nội dung đã thỏa thuận hợp tác và phải bồi thường thiệt hại, nếu có. Thứ hai, quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của bên thuê dịch vụ ( người mua ) : Khách hàng phải có nghĩa vụ và trách nhiệm thanh toán giao dịch khá đầy đủ tiền đáp ứng dịch vụ như đãthỏa thuận trong hợp đồng. Nếu có nhu yếu phân phối thông tin, tài liệu thiết yếu choĐiều 78, LTM 2005 và Điều 522, BLDS 2005 về : “ Nghĩa vụ của bên cung ứngdịch vụ ” Điều 523, BLDS 2005 về : “ Quyền của bên đáp ứng dịch vụ ” 18 việc thực thi thì phải phân phối kịp thời. Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cungứng dịch vụ cùng triển khai hoặc phối hợp với bên đáp ứng dịch vụ khác, khách hàngcó nghĩa vụ và trách nhiệm điều phối hoạt động giải trí của bên đáp ứng dịch vụ để không gây cản trở đếncông việc của bất kể bên đáp ứng dịch vụ nào và phải trả tiền dịch vụ cho bên cungứng dịch vụ theo như thỏa thuận hợp tác trong hợp đồng. Theo ý thức điều 86, LTM 2005 và khoản 3, điều 524, BLDS 2005 thì trườnghợp không có thỏa thuận hợp tác về giá dịch vụ, không có thỏa thuận hợp tác về chiêu thức tính giádịch vụ và cũng không có bất kể hướng dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ đượcxác định theo giá của loại dịch vụ đó trong những điều kiện kèm theo tựa như về phương thứccung ứng, thời gian đáp ứng, thị trường địa lý, phương pháp thanh toán giao dịch và những điềukiện khác có tác động ảnh hưởng đến giá dịch vụ. Khách hàng phải trả tiền dịch vụ tại thời gian hoàn thành xong dịch vụ, nếu không cóthỏa thuận khác. Trường hợp dịch vụ được đáp ứng không đạt được như thỏa thuậnhoặc việc làm không được triển khai xong đúng thời hạn thì người mua có quyền giảmtiền dịch vụ và nhu yếu bồi thường thiệt hại. 1.3. Nguyên tắc về pháp lý kiểm soát và điều chỉnh giao kết và thực thi HĐDVPLViệc triển khai nghĩa vụ và trách nhiệm hợp đồng của những bên nhằm mục đích thoả mãn những nhu yếu vềvật chất, văn hoá ý thức của mỗi bên và phải hướng tới quyền lợi chung của toàn xãhội. Ngoài ra những bên còn phải biểu lộ việc chấp hành pháp lý, biểu lộ niềm tin tôntrọng truyền thống cuội nguồn đạo đức xã hội của trong quy trình triển khai những thanh toán giao dịch dân sự. Khi giao kết và thực thi HĐDVPL, những bên có tương quan phải tuân theo nhữngnguyên tắc cơ bản khi giao kết hợp đồng dân sự và những nguyên tắc cơ bản tronghoạt động thương mại. – BLDS 2005 pháp luật việc giao kết hợp đồng phải tuân theo những nguyên tắc sau : Thứ nhất, tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp lý, đạo đức xãhội : Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của hợp đồng. Theo nguyên tắcnày thì những bên đủ tư cách chủ thể có quyền tự do quyết định hành động việc giao kết hợp đồngtheo ý muốn chủ quan và vì quyền lợi của chính họ. Các bên chủ thể có quyền tự do lựachọn việc giao kết với ai, với nội dung như thế nào, hình thức ra làm sao. Mọi cam kết thoảĐiều 520, BLDS 2005 về : “ Nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ ” Điều 521, BLDS 2005 về : “ Quyền của bên thuê dịch vụ ” Điều 389, BLDS 2005 về “ Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự ” 19 thuận hợp pháp đều được nhà nước bảo lãnh và khi không có sự tự nguyện của những bêncó thể bị công bố vô hiệu. Tuy nhiên, sự tự do đó không được trái với pháp lý vàđạo đức xã hội. Khi đó thì hợp đồng giao kết mới được pháp lý thừa nhận và bảo vệ. Thứ hai, nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngaythẳng : Theo nguyên tắc này những bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng vàbảo đảm nội dung của quan hệ đó. Hợp đồng phải bộc lộ được sự tương ứng vềquyền, nghĩa vụ và trách nhiệm và quyền lợi hợp pháp của những bên. Các bên khi giao kết không được đedọa, cưỡng ép bên kia giao kết hợp đồng với mình mà không theo ý chí của họ. Nếuphát hiện hợp đồng được giao kết mà bị rình rập đe dọa, cưỡng ép, lừa dối để giao kết thì hợpđồng đó sẽ bị vô hiệu. Bên cạnh đó, trong quy trình giao kết và triển khai hợp đồng những bên phải thểhiện rõ thái độ trung thực và ngay thật. Trung thực và ngay thật có nghĩa là cácphải nói rõ cho nhau biết về thực trạng và đặc tính của đối tượng người dùng, không được lừa dốinhau, nếu che dấu khuyết tật của đối tượng người tiêu dùng hợp đồng nhằm mục đích mục tiêu tư lợi mà gâythiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường. Ngoài ra, những bên phải có niềm tin hợp tác lẫn nhau. Trong quy trình thực thi hợpđồng, những bên tương hỗ, giúp sức và thông tin cho nhau để cung ứng nhu yếu và bảo đảmlợi ích cho những bên. Theo nguyên tắc này, những bên phải luôn chăm sóc đến nhau, tạo điềukiện giúp nhau khắc phục khó khăn vất vả trong quy trình triển khai nghĩa vụ và trách nhiệm hợp đồng. Hơnnữa, nguyên tắc này yên cầu cả hai bên phải cùng nhau tìm và triển khai mọi giải pháp cầnthiết để ngăn ngừa, hạn chế khi có thiệt hại xảy ra. Nếu bên nào có điều kiện kèm theo mà khôngthực hiện những giải pháp ngăn ngừa sẽ bị coi là có lỗi và phải gánh chịu thiệt hại. – LTM 2005 pháp luật những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động giải trí thương mại từĐiều 10 đến Điều 15. CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT VÀTHỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TẠI VĂN PHÒNG LUẬT SƯINTERLA. 202.1. Tổng quan tình hình và những tác nhân tác động ảnh hưởng đến giao kết và thựchiện hợp đồng dịch vụ pháp lý. HĐDVPL là một chế định quan trọng trong Luật Thương mại 2005. Cùng vớiđầu tư, triển khai thương mại và những hoạt động giải trí nhằm mục đích mục tiêu sinh lợi khác, HĐDV làmột hoạt động giải trí thương mại được pháp luật tại chương III của LTM 2005. HĐDVPL là một chế định được thiết lập nhằm mục đích mục tiêu bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho những chủ thể khi tham gia thị trường thương mại dịch vụ, từ đó, giúp chocác chủ thể kinh doanh thương mại dịch vụ có được thiên nhiên và môi trường kinh doanh thương mại lành mạnh và bìnhđẳng. Khi thị trường thương mại dịch vụ Nước Ta đang tiến tới tiến trình Open theoWTO sẽ Open nhiều thời cơ cũng như những thử thách so với doanh nghiệpthương mại dịch vụ Nước Ta thì hợp đồng dịch vụ pháp lý này sẽ là cơ sở pháp lý, làcông cụ hữu hiệu cho những doanh nghiệp nước ta nâng cao năng lực cạnh tranh đối đầu trongnước và xâm nhập thị trường quốc tế. Ở Nước Ta, những yếu tố tương quan đến hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt độngthương mại được kiểm soát và điều chỉnh tương đối tổng lực trong những văn bản quy phạm phápluật hiện hành : Thứ nhất, nhóm những pháp luật chung về hợp đồng dịch vụ pháp lý : nhóm này quyđịnh những yếu tố chung, mang tính nguyên tắc về những hoạt động giải trí dịch vụ pháp lý, cáchợp đồng dịch vụ pháp lý. Hiện nay, ta hoàn toàn có thể thuận tiện tìm thấy những pháp luật chung vềhoạt động dịch vụ pháp lý và hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2005 và LTM 2005. Thứ hai, nhóm những lao lý chuyên ngành về hợp đồng dịch vụ pháp lý : Bêncạnh những pháp luật chung về hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2005 thì LTM 2005 cũng tiềm ẩn rất nhiều những pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Ngoài ra cònmột số những văn bản dưới luật khác như thông tư 06/2003 / TT-BTP ngày 29 tháng 10 năm 2003 qui định về DVPL quốc tế tại Nước Ta, Luật công chứng năm 2006, nghị định 61/2009 / NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009, về thử nghiệm thực thi thừa phátlại tại thành phố Hồ Chí MinhThứ ba, nhóm những pháp luật về hợp đồng dịch vụ có yếu tố quốc tế : ( điểnhình là hiệp định về thương mại dịch vụ GATS ) Cùng với tiến trình tự do hóa thươngmại, Nước Ta đang tích cực hội nhập kinh tế tài chính quốc tế nên việc triển khai những giao dịchcó yếu tố quốc tế là tương đối thông dụng. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng21hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có pháp luật vận dụng pháp lý nướcngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có lao lý khác với lao lý của LTM2005, BLDS 2005 thì vận dụng qui định của Điều ước quốc tế. Các bên trong giao dịchnước ngoài được thỏa thuận hợp tác vận dụng pháp lý quốc tế, tập quán quốc tế nếu phápluật quốc tế, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với những nguyên tắc cơ bảncủa pháp lý Nước Ta. 2.2. Thực trạng những qui phạm pháp lý kiểm soát và điều chỉnh về giao kết và thực hiệnhợp đồng dịch vụ pháp lý. 2.2.1. Quá trình hình thành và phát triểnĐáp ứng nhu yếu hội nhập của nước ta trong những năm gần đây, đặc biệt quan trọng là khiViệt Nam trở thành thành viên của WTO, Quốc hội đã phát hành và sửa đổi pháp luậtcho tương thích với nhu yếu thực tiễn, trong đó có Luật luật sư theo đó phát hành những quyđịnh tương thích với những mô hình luật sư trên quốc tế, nhằm mục đích giúp cho pháp lý củachúng ta được thi hành một cách triệt để và chuyên nghiệp. Theo đó, hình thức tổ chứchành nghề luật sư được lan rộng ra so với trước kia và tương thích với quốc tế, đơn cử là : tạiđiểm b khoản 1 Điều 32 Luật luật sư năm 2006 qui định : Các luật sư hoàn toàn có thể hành nghềluật sư dưới dạng Công ty Luật. Như vậy không số lượng giới hạn là Văn phòng luật sư hayCông ty hợp danh như trước kia mà giờ đây có thêm Công ty nghĩa vụ và trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên hoặc Công ty nghĩa vụ và trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên ( theo pháp luật tạiĐiều 34 Luật luật sư 2006 ). Quy định này góp thêm phần làm nâng cao tính chuyên nghiệpcủa những luật sư để thuận tiện hội nhập với luật sư trên quốc tế. Văn phòng luật sư Interla thuộc Đoàn Luật sư thành phố Thành Phố Hà Nội được thành lậptheo Giấy ghi nhận ĐK hoạt động giải trí số 01010547 / TP / ĐKHĐ do Sở Tư phápthành phố TP. Hà Nội cấp năm 2009. Với những Luật sư có trình độ cao, có nhiều năm kinhnghiệm, kiến thức và kỹ năng hiểu biết sâu rộng, kỹ năng và kiến thức tư vấn chuyên nghiệp cùng đội ngũchuyên viên tư vấn trẻ, năng động và đầy nhiệt huyết. Đến nay văn phòng Luật sưInterla đã và đang khẳng định chắc chắn là một trong những lựa chọn an toàn và đáng tin cậy của khách hàngtrong nghành cung ứng dịch vụ pháp lý cho những cá thể, tổ chức triển khai trong và ngoài nước. 2.2.2. Chức năng, trách nhiệm của Văn phòng luật sư Interla22

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập