Vấn đề vi phạm đạo đức báo chí của nhà báo trên báo mạng điện tử hiện nay – Tài liệu text

Vấn đề vi phạm đạo đức báo chí của nhà báo trên báo mạng điện tử hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 127 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
—————————————————

HOÀNG MINH HẠNH

VẤN ĐỀ VI PHẠM ĐẠO ĐỨC BÁO CHÍ
CỦA NHÀ BÁO TRÊN BÁO MẠNG
ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội, 2015

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
——————————————————–

HOÀNG MINH HẠNH

VẤN ĐỀ VI PHẠM ĐẠO ĐỨC BÁO CHÍ
CỦA NHÀ BÁO TRÊN BÁO MẠNG
ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60320101
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS,TS. Đinh Văn Hƣờng

Hà Nội, 2015
2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Vấn đề vi phạm đạo đức báo chí của nhà
báo trên báo mạng điện tử hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của PGS,TS. Đinh Văn Hƣờng. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn
này đã đƣợc cảm ơn và những thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc
chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả

Hoàng Minh Hạnh

3

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn “Vấn đề vi phạm đạo đức báo chí
của nhà báo trên báo mạng điện tử hiện nay”, tôi đã nhận đƣợc rất nhiều sự
giúp đỡ quý báu từ các thầy cô bộ môn Báo chí học – Trƣờng Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin trân trọng cảm ơn BGH Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
cùng tập thể thầy cô giáo bộ môn Báo chí học đã hết sức tạo điều kiện cho tôi

thực hiện luận văn của mình.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn PGS,TS. Đinh Văn Hƣờng, ngƣời
đã luôn tận tình chia sẻ những hiểu biết, kiến thức và kinh nghiệm để giúp tôi
định hƣớng đƣợc đƣờng đi, thực hiện luận văn một cách tốt nhất.
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên, động viên, giúp đỡ tôi
trong thời gian vừa qua.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất hy vọng nhận đƣợc những ý kiến góp ý từ
thầy cô, bạn bè, những phóng viên, nhà báo, những nhà nghiên cứu hoặc
ngƣời quan tâm đến vấn đề này để có thể hoàn thiện và phát triển đề tài ở cấp
độ cao hơn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Hoàng Minh Hạnh

4

DANH MỤC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN VĂN

Trang
Hình 2.1: Biểu đồ sử dụng cụm từ “cán chết” và “tử vong”

55

Hình 2.2. Biểu đồ đưa tin về bà Tưng

57

Hình 2.3. Giao diện chuyên trang Tấm Gương báo Tiền phong

59

Hình 2.4. Giao diện trang chủ báo Thanh Niên

60

Hình 2.5. Ảnh chụp giao diện kết quả tìm kiếm google về lá thư gửi

66

bố nơi đảo xa

5

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TÊN BÁO
TÊN MIỀN
VnExpress
VnExpress.net
Vietnamnet
Vietnamnet.vn
Dân trí
Dantri.com.vn
Tuổi Trẻ
Tuoitre.vn
Thanh Niên
www.thanhnien.com.vn
Pháp luật TP.HCM

phapluattp.vn
Lao động
Laodong.com.vn
Ngƣời lao động
Nld.com.vn
Kiến thức
Kienthuc.net.vn
Zing
News.zing.vn
Báo Đất Việt
Baodatviet.vn
Gia đình Việt Nam
www.giadinhvn.vn
Ngôi sao
Ngoisao.net
VTC
Vtc.vn
Năng lƣợng mới
petrotimes.vn
VOV
vov.vn
An Ninh Thủ Đô
anninhthudo.vn
Giáo dục
giaoduc.net.vn
Dân Việt
Danviet.vn
Đời sống pháp luật
www.doisongphapluat.com
Công an nhân dân

cand.com.vn
Infonet
Infonet.vn
Thế giới vi tính
www.pcworld.com.vn
Phụ nữ Việt Nam
http://www.phunuvietnam.com.vn/
Kinh doanh & Pháp luật
kinhdoanhnet.vn
Sức khỏe Đời sống
suckhoedoisong.vn
Gia đình Việt Nam
www.giadinhvn.vn
Phụ nữ Today
phunutoday.vn

6

MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………………….. 9
2. Tình hình nghiên cƣ́u liên quan đến đề tài………………………………………… 11
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cƣ́u ………………………………………………………. 15
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ………………………………………………………. 15
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cƣ́u: ………………………………………. 16
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài: ……………………………………………. 16
7. Cấu trúc của luận văn: ……………………………………………………………………. 17
Chƣơng 1: QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC NHÀ BÁO VÀ LÝ LUẬN
CHUNG VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ …………………………………………………. 18
1.1. Quan niệm về đạo đức nhà báo ……………………………………………………… 18

1.2. Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật ………………………………………….. 28
1.3. Những yêu cầu về đạo đức nhà báo ở Việt Nam ……………………………… 33
1.4. Về Báo mạng điện tử……………………………………………………………………. 40
1.5. Những vấn đề đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trên Báo mạng điện
tử……………………………………………………………………………………………………….41
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1………………………………………………………………………. 54
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ VI PHẠM ĐẠO ĐỨC NHÀ BÁO
TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY ……………………………………….. 56
2.1 Những biểu hiện vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trên báo
mạng điện tử hiện nay …………………………………………………………………………. 56
7

2.2. Nguyên nhân hiện tƣợng vi phạm đạo đức của nhà báo trên báo mạng
điện tử hiện nay ………………………………………………………………………………….. 85
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2………………………………………………………………………. 97
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỂ KHẮC PHỤC
TÌNH TRẠNG VI PHẠM ĐẠO ĐỨC CỦA NHÀ BÁO TRÊN BÁO
MẠNG ĐIỆN TỬ. …………………………………………………………………………….. 98
3.1.Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về báo chí ……………………………….. 98
3.2.Nâng cao trình độ đội ngũ lãnh đạo, quản lý báo chí. ………………………. 105
3.3.Nâng cao trình độ đội ngũ phóng viên/ biên tập viên ……………………….. 107
3.4.Nâng cao văn hóa tiếp nhận và tham gia cho công chúng …………………. 118
KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………….. 124

8

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nghề nghiệp nào cũng cần có những quy định, những chuẩn mực riêng
trong hoạt động của mình và nghề làm báo cũng không phải là một ngoại lệ.
Thật khó hình dung nổi nếu nhƣ đời sống xã hội, nhất là một xã hội văn minh,
lại thiếu đi hoạt động của phƣơng tiện thông tin đại chúng. Tính từ khi tờ báo
đầu tiên ra đời (năm 1690), trong bốn thế kỷ tồn tại, báo chí đã trở thành
phƣơng tiện, đồng thời trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đƣợc của
con ngƣời. Nói cách khác, báo chí đã tự xác định cho mình những chức năng
to lớn phục vụ con ngƣời và phục vụ cho sự tồn tại, phát triển xã hội loài
ngƣời. Ngƣợc lại, con ngƣời càng phát triển, xã hội càng phát triển, càng đòi
hỏi nhiều hơn và tạo ra những khả năng mới, kỳ diệu cho việc thu nhận,
chuyển tải và tái hiện thông tin – tức là cho hoạt động báo chí. Hoạt động báo
chí thuộc về hoạt động chính trị – xã hội liên quan mật thiết đến tƣ tƣởng,
tình cảm của con ngƣời. Ở đó, dù khách quan đến mức nào, ngƣời làm báo
cũng bộc lộ cách nhìn, thái độ, phƣơng pháp tiếp cận và sự bình giá của mình
đối với những gì đang diễn ra trong cuộc sống. Và bằng tầm ảnh hƣởng rộng
lớn của mình, có thể hiểu rằng báo chí góp phần định hƣớng cho sự hình
thành tƣ tƣởng của mỗi ngƣời và sự thống nhất cao trên phạm vi toàn xã hội.
Tìm hiểu, nghiên cứu về đạo đức nhà báo không chỉ cần thiết cho những
ngƣời làm báo chí, truyền thông mà ngay cả đối với những ngƣời tiếp nhận
thông tin điều này cũng vô cùng cần thiết bởi trong xu hƣớng phát triển của
báo chí hiện đại, ranh giới giữa nhà báo và công chúng tiếp nhận đang ngày
càng đƣợc rút ngắn, xóa nhòa.
Trong những thập kỷ gần đây, bƣớc nhảy vọt của kỹ thuật truyền thông
là một trong những hiện tƣợng gây tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội,
9

làm thay đổi bản chất xã hội cũng nhƣ đời sống tâm lý, các chuẩn mực văn
hóa và thói quen của con ngƣời. Sự ra đời và phát triển của Internet đã tạo

tiền đề cho sự ra đời và phát triển của báo mạng điện tử – loại hình báo chí
mới mẻ với những đặc điểm không một loại hình báo chí nào cạnh tranh đƣợc
nhƣ khả năng đa phƣơng tiện (multimedia), tính tƣơng tác cao, khả năng
truyền tải thông tin không hạn chế, tính thời sự và phi định kì khiến cho thông
tin trên báo mạng điện tử là thông tin sống động nhất, nóng nhất, tƣơi mới
nhất vì có thể cập nhật từng giờ, từng phút, thậm chí từng giây. Nhƣng đi kèm
với những tiện ích đó, vấn đề đạo đức báo chí trong môi trƣờng truyền thông
kỹ thuật số lại càng trở thành một vấn đề thời sự nóng bỏng hiện nay. Những
khối lƣợng thông tin lớn đƣợc chuyển tải tin tức từng giây, từng phút trên các
trang báo mạng, trang thông tin điện tử khiến con ngƣời không còn đủ khả
năng kiểm soát thông tin. Hiện tƣợng vi phạm đạo đức nhà báo trên báo mạng
điện tử đang xuất hiện ngày càng nhiều hơn và trở thành nỗi lo của nhiều
ngƣời có trách nhiệm và dƣ luận xã hội.
Trong một vài năm trở lại đây, sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ
thông tin, đặc biệt là sự xuất hiện của Mạng xã hội đã đẩy các trang báo điện
tử ở Việt Nam vào một cuộc đua khốc liệt trong việc truyền tải thông tin. Chỉ
với một chiếc điện thoại thông minh có khả năng truy cập Internet và một
trang cá nhân trên mạng xã hội, bất cứ công dân nào cũng có thể trở thành
ngƣời đƣa tin. Đối với hoạt động báo chí, sự xuất hiện của Mạng xã hội giống
nhƣ con dao hai lƣỡi, và trong cuộc đua khốc liệt để truyền tải thông tin ấy, đã
không ít ngƣời làm báo phạm phải sai lầm khi lạm dụng mạng xã hội mà đánh
mất đi lƣơng tâm nghề nghiệp của ngƣời cầm bút. Luận văn tập trung nghiên
cứu chủ yếu vào sự sa sút về mặt chất lƣợng của báo mạng điện tử hiện nay,
mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do vi phạm đạo đức nghề nghiệp
10

của các nhà báo, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục, hạn chế và
giảm thiểu tối đa hiện tƣợng này.
2. Tình hình nghiên cƣ́u liên quan đến đề tài

2.1. Trên thế giới
Báo chí xuất hiện trên thế giới từ đầu thế kỷ 17. Trải qua quá trình phát
triển vài trăm năm, vấn đề đạo đức, nghề nghiệp của nhà báo luôn đƣợc quan
tâm. Đã có rất nhiều cuốn sác đề cập hoặc nghiên cứu vấn đề này một cách hệ
thống và bài bản. Tiêu biểu phải kể đến những cuốn nhƣ:
+ The Elements of Journalism (Những yếu tố của nghề báo) của tác giả
Bill Kovach & Tom Rosenstiel. Với lời đề tựa: “Điều mà những ngƣời làm
báo nên biết và công chúng nên đòi hỏi”, hai tác giả, bằng ngòi bút sắc sảo
phân tích nền báo chí Mỹ: điểm mạnh và điểm yếu. Các tác giả cũng dành
nhiều trang để nêu những nguyên tắc căn bản của nghề báo trong đó nguyên
tắc tôn trọng sự thật đƣợc đặt lên hàng đầu.
+ The Principles of Multimedia Journalism (Những nguyên tắc của báo
chí đa phƣơng tiện). Tác giả Richard Hernandez và Jeremy Rue đều là những
nhà báo giàu kinh nghiệm. Hai tác giả đã hệ thống hóa, phân loại các đặc tính
của tác phẩm báo chí trên nền tảng kĩ thuật số. Bằng cách đó, các tác giả đã
tạo cơ hội cho các sinh viên báo chí và các chuyên gia một cách để hiểu về
tầm quan trọng trong việc dàn dựng câu chuyện trong một kỷ nguyên hội tụ.
+ Gatekeeping in Transition (Kiểm duyệt báo chí). Tác giả: Tim P.Vos,
Francois Heinderyckx. Báo chí đang thay đổi từng ngày: từ cách sản xuất, loại
hình, phƣơng tiện lẫn các kênh chuyển tải. Với những thực tế thay đổi đó,
việc kiểm duyệt báo chí có thay đổi gì không? Cuốn sách trả lời câu hỏi đó.

11

+ Ethics for Digital Journalists (Đạo đức cho Nhà báo kỹ thuật số). Tác
giả Lawrie Zion, David Craig. Sự phát triển mạnh mẽ của báo mạng điện tử
đã dẫn đến những sự phức tạp trong đạo đức nghề nghiệp của báo chí. Trong
khi những nguyên tắc đạo đức truyền thống không thay đổi nhiều thì việc áp
dụng nó lên một nền tảng điện tử lại đầy khó khăn và thách thức. Trong cuốn

Ethics for Digital Journalists, hai tác giả đã phỏng vấn những nhà báo kinh
nghiệm và các học giả nghiên cứu về báo chí nhằm đƣa ra những cách thực
hành tích cực nhất cho báo chí kỹ thuật số.
+ Journalism Ethics: Arguments and Cases for the 21st Century (Đạo
đức báo chí: Lý luận và Dẫn chứng cho thế kỷ 21 ). Tác giả: Roger Patching,
Martin Hirst. Cuốn sách đề cập cả lý thuyết và thực hành của đạo đức báo chí.
+ Explorations in Global Media Ethics (Khám phá đạo đức truyền
thông thế giới). Tác giả: Muhammad Ayish, Shakuntala Rao. Cuốn sách đƣợc
xuất bản trong series Nghiên cứu về báo chí.
+ Principles of American Journalism: An Introduction (Những nguyên
tắc của Báo chí Mỹ: Phần giới thiệu). Tác giả: Stephanie Craft và Charles
N.Davis. Đây là cuốn sách giới thiệu cho các sinh viên báo chí giá trị cốt lõi
của báo chí và vai trò quan trọng của nó trong xã hội dân chủ.
+ The New Ethics of Journalism: A Guide for the 21 st Century (Những
quy tắc đạo đức mới cho báo chí: Một sự chỉ đƣờng cho thế kỷ 21). Tác giả:
Kelly McBride và Tom Rosenstiel. Tác phẩm bao gồm các chƣơng thể hiện
quyền, trách nghiệm của các nhà báo (vd: giá trị, văn hóa đƣa tin), những bối
cảnh liên quan (chủ sở hữu, độc giả, kinh tế học, công dân) và những điểm áp
lực (sự chính xác, xung đột lợi ích, thành kiến, đƣa tin về những đối tƣợng dễ
bị tổn thƣơng).

12

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu của các học giả ngƣời Nga đƣợc dịch
ra tiếng Việt phải kể đến: “Những vấn đề cơ bản của đạo đức nghề nghiệp
nhà báo” (G.V.Ladutina), “Cơ sở lý luận của báo chí” tập 2 (E.P.Prôkhôrốp),
“Cơ sở hoạt động sáng tạo của nhà báo” (G.V.Lazutina), “Nghiệp vụ báo chí
lý luận và thực tiễn” (V.V.Vôrôsilốp), “Báo chí hiện đại nước ngoài: Những
quy tắc và nghịch lý” (X.A.Mikhailốp), “Giao tiếp trên truyền hình trước ống

kính và sau ống kính camera” (X.A.Muratốp), “Báo chí điều tra”
(A.A.Chertƣchơnƣi), “Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em” (Helena
Thorfinn)
2.2. Ở Việt Nam
Vấn đề đạo đức báo chí từ lâu đã đƣợc nhiều học giả quan tâm nghiên
cứu tại Việt Nam. Có thể kể đến một số cuốn sách tiêu biểu nhƣ: “Nghề báo
nghiệp văn” – tác giả Phan Quang, nhà xuất bản Thông tấn năm 2005, “Cẩm
nang đạo đức báo chí” – tác giả GS, TS Tạ Ngọc Tấn, PGS, TS Đinh Thị
Thúy Hằng, 2009, “Đạo đức về nghề nghiệp của nhà báo” – tác giả Nguyễn
Thị Trƣờng Giang, nhà xuất bản Chính trị – Hành chính năm 2011, “Một số
nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí xuất bản”, Nhiều tác giả, NXB Thông
tin và Truyền thông, 2012, Một số văn bản chỉ đạo và quản lý của Đảng, Nhà
nước về Hoạt động Báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông, NXB Thông tin
và Truyền thông, 2012, “Đạo đức Nghề Báo: Những vấn đề lý luận và thực
tiễn” – tác giả: PGS. TS Hoàng Đình Cúc, NXB Chính trị Quốc gia, “100 quy
tắc đạo đức nghề báo trên thế giới” – tác giả: TS.Nguyễn Thị Trƣờng Giang,
NXB Chính trị Quốc gia, 2014. Tuy nhiên ở các đầu sách này, vấn đề đạo đức
nhà báo đƣợc khái quát là một trong những yêu cầu trong hoạt động nghề
nghiệp của ngƣời làm báo.

13

Ngoài ra, một số Hội thảo khoa học trong nƣớc cũng có bàn về đạo đức
nghề nghiệp của nhà báo nhƣ:
+ Hội thảo “Trách nhiệm xã hội và đạo đức báo chí trong kỷ nguyên
kỹ thuật số” do Khoa Báo chí và Truyền thông (Trƣờng ĐH KHXH&NV,
ĐHQGHN) phối hợp với Viện KAS (CHLB Đức) tổ chức ngày
10/06/2015. Hội thảo là một trong những hoạt động thiết thực kỷ niệm 90
năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam.

+ Hội thảo “90 năm báo chí cách mạng Việt Nam: Truyền thống, bản
lĩnh và trách nhiệm” do Ban Tuyên giáo Trung ƣơng, Bộ Thông tin và Truyền
thông và Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 18/6/2015 tại Hà
Nội.
+ Hội thảo “Đạo đức báo chí trong khai thác và xử lý nguồn tin” do
Hội Nhà báo Khánh Hòa tổ chức ngày 26/09/2014.
+ Hội thảo “Đạo đức nghề báo trong bối cảnh toàn cầu hóa thông tin”
do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Viện KAS (Konrad Adenauer
Stiftung) tổ chức ngày 17/3/2014.
Kế thừa những cơ sở lý luận nền tảng, cập nhật thêm những kiến thức
mới về truyền thông hội tụ, về mạng xã hội, luận văn này tập trung đi sâu vào
một khía cạnh rõ ràng, nhất quán, trong một phạm vi nhất định, đó là Vấn đề
vi phạm đạo đức nhà báo trên báo mạng điện tử hiện nay – dựa trên việc khảo
sát phản ứng của một số báo mạng điện tử trong năm 2013 và 2014 trƣớc một
số hiện tƣợng truyền thông nổi cộm.

14

3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cƣ́u
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu, đánh giá thực trạng vấn đề
đạo đức nhà báo trên báo mạng điện tử hiện nay. Từ đó, đề xuất những giải
pháp để nâng cao đạo đức nghề nghiệp của ngƣời làm báo nói chung và báo
mạng điện tử nói riêng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn tập trung nghiên cứu những nhiệm
vụ sau:

Làm rõ những vấn đề liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn của

Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm đạo đức nghề

đề tài.

nghiệp của những ngƣời làm báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.

Chỉ ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao đạo

đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam nói chung, và đội ngũ làm báo mạng
điện tử nói riêng.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn là vấn đề vi phạm đạo đức báo chí
của nhà báo trên báo mạng điện tử hiện nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát phản ứng của một số báo mạng có số lƣợng
độc giả lớn ở Việt Nam hiện nay với các vấn đề nổi bật trong giới truyền
thông trong năm 2013 và 2014.
15

5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cƣ́u:
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác–Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc Việt

Nam về công tác tƣ tƣởng và báo chí; lý luận báo chí về vai trò, chức năng và
nguyên tắc hoạt động của báo chí; chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp báo chí
và sự tác động qua lại giữa đạo đức và các hình thái ý thức xã hội khác.
5.2 Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể

Phƣơng pháp phân tích nội dung: Dùng để phân tích nội dung

các tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử (bao gồm cả những bài viết, hình
ảnh, những video clip hoặc những đoạn âm thanh) và những câu trả lời thu
đƣợc qua phỏng vấn sâu.

Phƣơng pháp phỏng vấn sâu: Đƣợc sử dụng dùng để phỏng

vấn một số phóng viên, biên tập viên, nhà quản lý báo chí, nghiên cứu báo
chí, công chúng nhằm thu thập ý kiến đánh giá của cá nhân về thực trạng đạo
đức nghề nghiệp của nhà báo hiện nay cũng nhƣ nhận thức của họ về vấn đề
này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đổi mới và làm phong phú
thêm lý luận báo chí, truyền thông hiện đại và thực tiễn của báo mạng điện tử
hiện đại và vấn đề vi phạm đạo đức của nhà báo trên báo mạng điện tử ở Việt
Nam hiện nay.

16

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn là một trong những cơ sở để các tổ
chức, cá nhân sau đây tham khảo và vận dụng:

Các cơ quan chỉ đạo và quản lý báo chí;

Các tòa soạn báo chí;

Các cơ sở đào tạo báo chí;

Các phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí

Những ai quan tâm lĩnh vực này

Cho chính tác giả luận văn

7. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 3 chƣơng, 14 tiết, 116 trang.
Nội dung của luận văn đƣợc trình bày theo thứ tự các chƣơng sau đây:

Chƣơng 1: Quan niệm về đạo đức nhà báo và lý luận chung về báo
mạng điện tử.
Chƣơng 2: Thực trạng vấn đề vi phạm đạo đức nhà báo trên báo mạng
điện tử hiện nay
Chƣơng 3: Bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp, kiến nghị để
khắc phục vấn đề vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trên báo mạng
điện tử.

17

Chƣơng 1: QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC NHÀ BÁO VÀ LÝ LUẬN
CHUNG VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

1.1.

Quan niệm về đạo đức nhà báo

1.1.1 Khái niệm “đạo đức” và “đạo đức nghề nghiệp”
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “Đạo đức”. Theo định
nghĩa của sách giáo khoa Giáo dục công dân bậc Trung học phổ thông, “Đạo
đức là hệ thống các quy tắc chuẩn mực xã hội, mà nhờ đó con người tự giác
điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng và của xã
hội. Mỗi giai đoạn lịch sử nhất định có những quan niệm về đạo đức khác
nhau”. Và cần phân biệt rất rõ khái niệm “đạo đức” và “pháp luật”. Dù cùng
có mục đích để điều chỉnh hành vi của con ngƣời, nhƣng đạo đức đƣợc thực
hiện dựa trên sự tự giác của con ngƣời với các chuẩn mực do xã hội đề ra, còn
pháp luật đƣợc thực thi một cách bắt buộc, theo những quy tắc, quy định bằng
văn bản chính thống do nhà nƣớc đề ra.
Tham khảo trên Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, “ “Đạo đức” là

một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản
thân cuộc sống của con người. Đạo đức là tập hợp những quan điểm của
một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế
giới, về cách sống. Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho
phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội.”.
Đứng trên khía cạnh khác, “Đạo đức” là một hình thái ý thức xã hội, là
tổng hợp các qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con ngƣời tự
giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc
của con ngƣời, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân – cá nhân và quan hệ
18

cá nhân –xã hội. Đạo đức là toàn bộ những qui tắc, chuẩn mực nhằm điều
chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con ngƣời với nhau trong quan hệ xã hội
và quan hệ với tự nhiên.
Theo giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông”, các tác giả Dƣơng Xuân
Sơn, Đinh Văn Hƣờng, Trần Quang thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc
được xã hội thừa nhận, quy định hành vi của con người đối với nhau và đối với xã
hội. Các nguyên tắc đạo đức giống như những chiếc máy điều chỉnh hành vi của con
người, nhưng không mang tính chất cưỡng chế mà mang tính tự giác (…) Trên cơ sở
lí tưởng và trách nhiệm đạo đức đã hình thành nên quan niệm về lương tâm và lòng
tự trọng của nhà báo chuyên nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp bao gồm các nguyên tắc
xử sự đúng đắn để ngăn ngừa những hành vi không đúng đắn. Căn cứ vào những
tiêu chuẩn đạo đức này và dựa vào tính chất của những hành vi, mỗi nhà báo sẽ phải
chịu đựng sự tự xỉ vả, xấu hổ, phải tự kết tội, hoặc được khích lệ, tự hào, phấn khởi
và hạnh phúc” – [19, tr. 252]
Đạo đức nghề nghiệp: là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức cụ
thể trong đạo đức chung của xã hội. Đạo đức nghề nghiệp xuất hiện để là tên
gọi khoa học về cách sử dụng nghề nghiệp của con ngƣời (Déon: bổn phận
cần phải làm, logos: học thuyết – Déontologic đƣợc nhà triết học Anh Bentam

sử dụng có ý nghĩa là nghĩa vụ luận, đạo đức nghề nghiệp).
Đạo đức nghề nghiệp là những yêu cầu đạo đức đặc biệt, có liên quan
đến việc tiến hành một hoạt động nghề nghiệp nào đó; Là tổng hợp của các
quy tắc, các nguyên tắc chuẩn mực của 1 lĩnh vực nghề nghiệp trong đời
sống, nhờ đó mà mọi thành viên của lĩnh vực nghề nghiệp đó tự giác điều
chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ của nó trong
mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể với xã hội,…

19

Tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc
nâng cao chất lƣợng lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp.
Phẩm chất đạo đức cá nhân trong xã hội đều có nét chung, nhƣng đạo
đức trong lĩnh vực nghề nghiệp có những đặc thù và yêu cầu riêng biệt. Ví dụ
nhƣ:
Thầy thuốc phải có lòng trắc ẩn
Thầy giáo phải là ngƣời mô phạm
Nhà báo phải trung thực
Nhà chính trị phải có lòng nhân hậu đặc biệt với nhân dân….
1.1.2 Đạo đức nhà báo
Nghề báo tuy không có một bộ luật đạo đức nghề nghiệp riêng nhƣng
cũng có các văn bản bao gồm các quy tắc đạo đức hành nghề cho báo giới và
đƣợc các hội đoàn báo chí thông qua. “Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo là
những quy tắc, chuẩn mực quy định thái độ và hành vi ứng xử của nhà báo trong các
mối quan hệ nghề nghiệp”.
Các quy tắc này áp dụng trong nhiệm vụ của nhà báo (nghĩa vụ thông
tin, tôn trọng độc giả, lợi ích xã hội, quyền đƣợc biết) và quy định tính chính
đáng cũng nhƣ tính đáng tin cậy của nhiệm vụ báo chí (độc lập với các quyền
lực chính trị hoặc kinh tế, tôn trọng đời tƣ, bảo vệ nguồn cung cấp thông tin

v.v…).
Tóm lại, có thể nói quy tắc đạo đức hành nghề báo chí bao gồm toàn bộ
các tiêu chuẩn nghề nghiệp giám sát lƣơng tâm nghề nghiệp của một thông tin
viên (nhà báo). Các tiêu chuẩn này dựa trên 2 nguyên tắc căn bản: trách
nhiệm xã hội và sự thật thông tin.
20

Mặt khác, quy tắc đạo đức nghề còn góp phần giúp nhà báo tránh đƣợc
các ý đồ lũng đoạn thông tin, tuyên truyền, đánh bóng hay bóp méo thông tin.
Tuyên bố về các quyền và nghĩa vụ của nhà báo đƣợc thông qua năm 1971 ở
Munich có ý nghĩa phổ quát. Nó quy định “quyền tiếp cận thông tin, quyền tự
do ngôn luận và quyền chỉ trích là một trong các quyền tự do căn bản của
toàn thể nhân loại”, và “trách nhiệm của nhà báo đối với công chúng được
đặt lên trên hết, cao hơn cả trách nhiệm đối với chủ bút và chính quyền Nhà
nước”. Ngoài ra nó quy định các nghĩa vụ của nhà báo nhƣ nghĩa vụ tôn trọng
sự thật và đời tƣ cá nhân, nhất thiết chỉ đƣa các tin “có nguồn gốc rõ ràng”,
nghĩa vụ “kiểm tra tất cả các thông tin tỏ ra thiếu chính xác”, “không tiết lộ
nguồn tin lấy được một cách bí mật”.
Nghị quyết 1003 năm 1993 của Hội đồng châu Âu về đạo đức nghề báo
đƣợc thông qua, nhƣng chỉ mang tính chất “khuyến nghị” đối với báo chí các
quốc gia thành viên chứ không bắt buộc.
– Lƣơng tâm: Yếu tố nội tâm tạo cho mỗi ngƣời khả năng tự đánh giá
hành vi của mình về mặt đạo đức, và do đó tự điều chỉnh mọi hành vi của
mình
– Trách nhiệm: Điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về
mình
Theo TS.Trƣơng Minh Tuấn- Thứ trƣởng Bộ Thông tin và Truyền
thông, không cứ là gì phải nghề báo mới đặt vấn đề về đạo đức, mà bất cứ
một nghề nào khác, chuyện đạo đức nghề nghiệp cũng phải đƣợc đặt ra, thậm

chí phải đƣợc đặt lên hàng đầu rồi mới nói đến chuyên môn nghiệp vụ của
ngƣời hàng nghề đó. Vì rằng không có đạo đức khi hành nghề thì khoảng cách
giữa việc hành nghề chính đáng với việc lợi dụng “nghề” để trục lợi hoặc làm

21

những việc bất chính chỉ là tơ tóc. Với nghề báo, do đặc thù của công việc,
câu chuyện về đạo đức lại càng đƣợc chú trọng và đặt lên hàng đầu.
Đạo đức của nhà báo không chỉ là sự dũng cảm, dám xông vào những
nơi nguy hiểm nhất để phanh phui những mặt trái của đời sống mà còn góp
phần trong việc “định hƣớng” dƣ luận, ngòi bút của nhà báo phải là mũi tên
dẫn đƣờng để mọi ngƣời cùng hƣớng thiện. Một nhà báo đƣợc gọi là “có đạo
đức” phải là ngƣời đồng hành cùng nhân dân mình, cùng dân tộc và đất nƣớc
mình, biết chia sẻ những vui, buồn, sƣớng, khổ với đồng bào mình trong cuộc
trƣờng chinh thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu để đến đích ấm no, hạnh phúc.
Đạo đức nhà báo không chỉ là việc đi đến tận cùng của nỗi oan khiên để tìm
ra lẽ phải, lẽ công bằng cho ngƣời bị oan khuất mà cái chính là, bằng ngòi bút
của mình, bằng sự trung thực và trách nhiệm của mình, nhà báo phải làm công
việc của một bác sĩ phẫu thuật, cắt bỏ vĩnh viễn những khối u có thể trở thành
“tiền lệ xấu”, có thể lây nhiễm thói hƣ cho cả cộng đồng.
“Một thông tin bị hiểu sai lệch hoặc bị nhà báo làm cho méo mó đi thì
hệ quả của nó không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của một cá nhân mà còn gây
hệ lụy cho cả cộng đồng. Ngược lại, một thông tin kịp thời, chính xác và
trung thực của nhà báo, với sự lan tỏa của nó sẽ có tác dụng tích cực đến cá
nhân, tập thể và đời sống toàn xã hội. Vì vậy, vấn đề đạo đức của nhà báo là
câu chuyện luôn được đề cao và coi trọng nhất là trong thời đại bùng nổ
thông tin.” [18,tr.15]
Đạo đức nghề báo chính là những nguyên tắc, những chuẩn mực đƣợc
hình thành trong các mối quan hệ ứng xử nghề nghiệp của nhà báo, đƣợc thể

chế hóa, đƣợc nhà báo và dƣ luận xã hội thừa nhận, trở thành những chuẩn
mực điều chỉnh hành vi của nhà báo trong hoạt động thực tiễn nghề
nghiệp.Trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức trong
22

hoạt động nghề nghiệp của nhà báo là 3 mặt của một vấn đề, hòa quyện, liên
kết chặt chẽ, là điều kiện, là tiền đề của nhau, cùng hƣớng tới một mục tiêu
duy nhất là hoàn thành tốt trách nhiệm của nhà báo với sự phát triển của xã
hội, của đất nƣớc.
Đạo đức nghề báo cũng là một nội dung quan trọng của tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh, mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần to lớn vào việc
định hƣớng và đào tạo cho các thế hệ nhà báo Việt nam đủ đức và tài, trở
thành lực lƣợng xung kích trên mặt trận tƣ tƣởng, văn hóa của Đảng.Ngƣời là
tấm gƣơng sáng ngời về đạo đức của ngƣời làm báo.
Đạo đức cách mạng nói chung, đạo đức nghề báo nói riêng theo Hồ Chí
Minh đƣợc hiểu là phẩm chất tốt đẹp nhất, là gốc của mọi vấn đề trong cuộc
sống, là phƣơng tiện điều chỉnh các mối quan hệ xã hội của ngƣời làm báo,
mà phạm trù pháp luật không điều chỉnh đƣợc. Bởi, “Cũng như sông thì có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù
tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Đạo đức báo chí không
chỉ nằm trong phạm vi điều chỉnh thuộc các quy định của luật báo chí hiện
hành, mà còn là tâm thức và phƣơng châm hành nghề của tất cả những ngƣời
làm báo cách mạng. Thực hiện đúng quy định đạo đức nghề nghiệp, ngƣời
làm báo sẽ tránh đƣợc những tác động tiêu cực trong cơ chế thị trƣờng, giữ
vững lòng tin của nhân dân, của xã hội đối với lực lƣợng báo chí cách mạng
nói chung và đối với mỗi ngƣời làm báo nói riêng.
1.1.3 Vai trò của đạo đức nhà báo
Bản lĩnh chính trị của ngƣời làm báo đƣợc thể hiện ngay trong tác

phẩm báo chí. Qua tác phẩm báo chí, nhà báo bày tỏ quan điểm, thái độ với
các sự kiện xảy ra; đấu tranh với các quan điểm sai trái và các tƣ tƣởng thù
23

địch; lên án phê phán, các hiện tƣợng tiêu cực, các thói hƣ tật xấu; bảo vệ
quyền lợi chính đáng của nhân dân. Bản lĩnh chính trị của nhà báo còn đƣợc
thể hiện ở trình độ nhận thức chính trị-xã hội, qua học tập, rèn luyện thực tiễn
của nhà báo, đó là cái tâm, là phẩm chất chính trị của ngƣời làm báo. Cùng
với bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp là yêu cầu hết sức quan trọng với
ngƣời làm báo.
Đạo đức báo chí là đạo đức nghề nghiệp mang tính đặc thù do đặc
trƣng của nghề nghiệp báo chí quy định. Đạo đức nghề nghiệp báo chí đƣợc
thể hiện trong mối quan hệ giữa những ngƣời làm báo với nhau; giữa ngƣời
làm báo với các tổ chức, cá nhân liên quan đến nghề báo và đƣợc biểu hiện
qua hoạt động của nhà báo, đó là lƣơng tâm của nhà báo. Bên cạnh đó, lao
động sáng tạo của ngƣời làm báo là sự tái tạo lại hiện thực khách quan một
cách đúng đắn, chân thực nhƣng không phản ánh một cách thô thiển, máy
móc.
Trƣớc một sự kiện xảy ra nhà báo phải biết chắt lọc thông tin, tìm ra cái
bản chất nhất, mang tính định hƣớng dƣ luận, làm cho công chúng hiểu rõ vấn
đề. Sự sáng tạo không phải là sự thêm thắt, hƣ cấu, thêu dệt trong tác phẩm
của mình về sự kiện xảy ra nhằm mục đích cá nhân. Nếu nhƣ vậy nhà báo đã
tự đánh mất mình và vi phạm Luật Báo chí.
Đạo đức nhà báo không chỉ có ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng tác
phẩm của nhà báo đó, mà còn tác động đến toàn xã hội nói chung và đội ngũ
báo chí nói riêng. Trong hơn mƣời năm qua, vấn để xuống cấp của đạo đức
báo chí trong cơ chế thị trƣờng đã là chủ đề của nhiều cuộc hội thảo do Hội
nhà báo Việt Nam phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức. Nhƣng dƣờng
nhƣ số lƣợng những vụ việc, những biểu hiện tiêu cực về đạo đức báo chí vẫn

không thuyên giảm mà đang có xu hƣớng tăng lên.
24

Trƣớc tiên haỹ cùng trả lời câu hỏi : Vì sao với nghề báo, đạo đức nghề
nghiệp đƣợc đặc biệt coi trọng, đƣợc so sánh với nghề y, nghề luật, an ninh,
tòa án? Có ý kiến cho rằng vì đó là 5 nghề này có vị trí quan trọng đặc biệt và
mối quan hệ rộng rãi với nhiều ngƣời trong xã hội. Thế nhƣng nghề thực
phẩm, nghề nông hay rất nhiều nghề khác đều có mối quan hệ rất rộng với
ngƣời dân; thậm chí còn có tính toàn dân. Nhƣ vậy thì nghề giáo, nghề báo,
nghề y, nghề luật, an ninh, tòa án có gì khác biệt với phầ n lớn nhƣ̃ng nghề còn
lại? Có một sự khác biệt rất lớn về mối tƣơng quan của ngƣời làm nghề và đối
tƣơ ̣ng phu ̣c vu ̣ giƣ̃a 5 nghề này với nhƣ̃ng nghề còn lại. Nếu đặt lên bàn cân
một bên là ngƣời làm nghề và một bên là đối tƣợng phục vụ, thì với 5 nghề
vƣ̀a nêu, đối tƣợng phục vụ nhẹ cân hơn hẳn về vị thế. Dƣờng nhƣ ngƣời làm
nghề có quyền nhiều hơn đối tƣợng của mình. Ở thế yếu hơn, những ngƣời
đƣợc phục vụ khó có khả năng tự bảo vệ mình, họ phải trông chờ vào đạo đức
nghề nghiệp, vào lƣơng tâm của các nhà báo, cũng nhƣ các thẩm phán, bác sĩ,
điều tra viên. Những ngƣời đƣợc phục vụ mong muốn những ngƣời làm nghề
thận trọng và cân nhắc kỹ càng trƣớc mỗi một nhát dao mổ, một kết luận điều
tra, một bản án, một bài báo.
Các nƣớc phát triển trên Thế giới đều có những quy định rất khắt khe
về “đạo đức nhà báo”, thậm chí, ở một số tờ báo lớn còn có những quy định
riêng về đạo đức nghề nghiệp cho mỗi chức danh trong tòa soạn của mình. Ở
Nga, “Quy định về đạo đức nhà báo” đƣợc Hội đồng Nhà báo Nga thông qua
ngày 23/06/1994, tại Moscow với những hạng mục chi tiết về những quy tắc

nhà

báo

phải

tuân

thủ

trong

quá

trình

tác

nghiệp

nhƣ:

“Nhà báo phải tuân thủ chặt chẽ việc tách bạch các sự kiện, thông tin với
những ý kiến, phóng tác, và giả định có trong thông tin. Nhưng nhà báo cũng
không nhất thiết phải giữ tính trung lập công việc.
25

TP.HN, 2015L ỜI CAM ĐOANTôi xin cam kết luận văn “ Vấn đề vi phạm đạo đức báo chí của nhàbáo trên báo mạng điện tử lúc bấy giờ ” là khu công trình điều tra và nghiên cứu của cá nhântôi dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của PGS, TS. Đinh Văn Hƣờng. Các số liệu, tác dụng nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bấtkỳ khu công trình khoa học nào khác. Tôi xin cam kết rằng mọi sự trợ giúp trong việc triển khai luận vănnày đã đƣợc cảm ơn và những thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợcchỉ rõ nguồn gốc. Tác giảHoàng Minh HạnhLỜI CẢM ƠNTrong quy trình thực thi luận văn “ Vấn đề vi phạm đạo đức báo chícủa nhà báo trên báo mạng điện tử lúc bấy giờ ”, tôi đã nhận đƣợc rất nhiều sựgiúp đỡ quý báu từ những thầy cô bộ môn Báo chí học – Trƣờng Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hà Nội. Tôi xin trân trọng cảm ơn BGH Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văncùng tập thể thầy cô giáo bộ môn Báo chí học đã rất là tạo điều kiện kèm theo cho tôithực hiện luận văn của mình. Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn PGS, TS. Đinh Văn Hƣờng, ngƣờiđã luôn tận tình san sẻ những hiểu biết, kỹ năng và kiến thức và kinh nghiệm tay nghề để giúp tôiđịnh hƣớng đƣợc đƣờng đi, thực thi luận văn một cách tốt nhất. Tôi xin cảm ơn mái ấm gia đình, bạn hữu đã luôn ở bên, động viên, trợ giúp tôitrong thời hạn vừa mới qua. Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tuy nhiên chắc như đinh luận văn khôngtránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất kỳ vọng nhận đƣợc những quan điểm góp ý từthầy cô, bè bạn, những phóng viên báo chí, nhà báo, những nhà nghiên cứu hoặcngƣời chăm sóc đến yếu tố này để hoàn toàn có thể hoàn thành xong và tăng trưởng đề tài ở cấpđộ cao hơn. TP.HN, ngày tháng năm 2015T ác giảHoàng Minh HạnhDANH MỤC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN VĂNTrangHình 2.1 : Biểu đồ sử dụng cụm từ “ cán chết ” và “ tử trận ” 55H ình 2.2. Biểu đồ đưa tin về bà Tưng57Hình 2.3. Giao diện chuyên trang Tấm Gương báo Tiền phong59Hình 2.4. Giao diện trang chủ báo Thanh Niên60Hình 2.5. Ảnh chụp giao diện hiệu quả tìm kiếm google về lá thư gửi66bố nơi hòn đảo xaDANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂNTÊN BÁOTÊN MIỀNVnExpressVnExpress. netVietnamnetVietnamnet. vnDân tríDantri. com. vnTuổi TrẻTuoitre. vnThanh Niênwww. thanhnien.com. vnPháp luật TP.HCMphapluattp.vnLao độngLaodong. com. vnNgƣời lao độngNld. com. vnKiến thứcKienthuc. net. vnZingNews. zing. vnBáo Đất ViệtBaodatviet. vnGia đình Việt Namwww. giadinhvn. vnNgôi saoNgoisao. netVTCVtc. vnNăng lƣợng mớipetrotimes. vnVOVvov. vnAn Ninh Thủ Đôanninhthudo. vnGiáo dụcgiaoduc. net. vnDân ViệtDanviet. vnĐời sống pháp luậtwww. doisongphapluat. comCông an nhân dâncand. com. vnInfonetInfonet. vnThế giới vi tínhwww. pcworld.com. vnPhụ nữ Việt Namhttp : / / www.phunuvietnam.com.vn/Kinh doanh và Pháp luậtkinhdoanhnet. vnSức khỏe Đời sốngsuckhoedoisong. vnGia đình Việt Namwww. giadinhvn. vnPhụ nữ Todayphunutoday. vnMỤC LỤC1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………………………………….. 92. Tình hình nghiên cƣ ́ u tương quan đến đề tài ………………………………………… 113. Mục tiêu, trách nhiệm nghiên cƣ ́ u ………………………………………………………. 154. Đối tƣợng, khoanh vùng phạm vi nghiên cứu và điều tra ………………………………………………………. 155. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cƣ ́ u : ………………………………………. 166. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài : ……………………………………………. 167. Cấu trúc của luận văn : ……………………………………………………………………. 17C hƣơng 1 : QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC NHÀ BÁO VÀ LÝ LUẬNCHUNG VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ …………………………………………………. 181.1. Quan niệm về đạo đức nhà báo ……………………………………………………… 181.2. Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp lý ………………………………………….. 281.3. Những nhu yếu về đạo đức nhà báo ở Nước Ta ……………………………… 331.4. Về Báo mạng điện tử ……………………………………………………………………. 401.5. Những yếu tố đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trên Báo mạng điệntử ………………………………………………………………………………………………………. 41TI ỂU KẾT CHƢƠNG 1 ………………………………………………………………………. 54C hƣơng 2 : THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ VI PHẠM ĐẠO ĐỨC NHÀ BÁOTRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY ……………………………………….. 562.1 Những biểu lộ vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trên báomạng điện tử lúc bấy giờ …………………………………………………………………………. 562.2. Nguyên nhân hiện tƣợng vi phạm đạo đức của nhà báo trên báo mạngđiện tử lúc bấy giờ ………………………………………………………………………………….. 85TI ỂU KẾT CHƢƠNG 2 ………………………………………………………………………. 97C hƣơng 3 : ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỂ KHẮC PHỤCTÌNH TRẠNG VI PHẠM ĐẠO ĐỨC CỦA NHÀ BÁO TRÊN BÁOMẠNG ĐIỆN TỬ. …………………………………………………………………………….. 983.1. Nâng cao hiệu suất cao quản trị nhà nƣớc về báo chí ……………………………….. 983.2. Nâng cao trình độ đội ngũ chỉ huy, quản trị báo chí. ………………………. 1053.3. Nâng cao trình độ đội ngũ phóng viên báo chí / biên tập viên ……………………….. 1073.4. Nâng cao văn hóa truyền thống đảm nhiệm và tham gia cho công chúng …………………. 118K ẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 121T ÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………….. 124M Ở ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiNghề nghiệp nào cũng cần có những pháp luật, những chuẩn mực riêngtrong hoạt động giải trí của mình và nghề làm báo cũng không phải là một ngoại lệ. Thật khó tưởng tượng nổi nếu nhƣ đời sống xã hội, nhất là một xã hội văn minh, lại thiếu đi hoạt động giải trí của phƣơng tiện thông tin đại chúng. Tính từ khi tờ báođầu tiên sinh ra ( năm 1690 ), trong bốn thế kỷ sống sót, báo chí đã trở thànhphƣơng tiện, đồng thời trở thành món ăn ý thức không hề thiếu đƣợc củacon ngƣời. Nói cách khác, báo chí đã tự xác lập cho mình những chức năngto lớn Giao hàng con ngƣời và ship hàng cho sự sống sót, tăng trưởng xã hội loàingƣời. Ngƣợc lại, con ngƣời càng tăng trưởng, xã hội càng tăng trưởng, càng đòihỏi nhiều hơn và tạo ra những năng lực mới, kỳ diệu cho việc thu nhận, chuyển tải và tái hiện thông tin – tức là cho hoạt động giải trí báo chí. Hoạt động báochí thuộc về hoạt động giải trí chính trị – xã hội tương quan mật thiết đến tƣ tƣởng, tình cảm của con ngƣời. Ở đó, dù khách quan đến mức nào, ngƣời làm báocũng thể hiện cách nhìn, thái độ, phƣơng pháp tiếp cận và sự bình giá của mìnhđối với những gì đang diễn ra trong đời sống. Và bằng tầm ảnh hƣởng rộnglớn của mình, hoàn toàn có thể hiểu rằng báo chí góp thêm phần định hƣớng cho sự hìnhthành tƣ tƣởng của mỗi ngƣời và sự thống nhất cao trên khoanh vùng phạm vi toàn xã hội. Tìm hiểu, điều tra và nghiên cứu về đạo đức nhà báo không chỉ thiết yếu cho nhữngngƣời làm báo chí, tiếp thị quảng cáo mà ngay cả so với những ngƣời tiếp nhậnthông tin điều này cũng vô cùng thiết yếu bởi trong xu hƣớng tăng trưởng củabáo chí văn minh, ranh giới giữa nhà báo và công chúng đảm nhiệm đang ngàycàng đƣợc rút ngắn, xóa nhòa. Trong những thập kỷ gần đây, bƣớc nhảy vọt của kỹ thuật truyền thônglà một trong những hiện tƣợng gây tác động ảnh hưởng can đảm và mạnh mẽ đến đời sống xã hội, làm đổi khác thực chất xã hội cũng nhƣ đời sống tâm ý, những chuẩn mực vănhóa và thói quen của con ngƣời. Sự sinh ra và tăng trưởng của Internet đã tạotiền đề cho sự sinh ra và tăng trưởng của báo mạng điện tử – mô hình báo chímới mẻ với những đặc thù không một mô hình báo chí nào cạnh tranh đối đầu đƣợcnhƣ năng lực đa phƣơng tiện ( multimedia ), tính tƣơng tác cao, khả năngtruyền tải thông tin không hạn chế, tính thời sự và phi định kì khiến cho thôngtin trên báo mạng điện tử là thông tin sôi động nhất, nóng nhất, tƣơi mớinhất vì hoàn toàn có thể update từng giờ, từng phút, thậm chí còn từng giây. Nhƣng đi kèmvới những tiện ích đó, yếu tố đạo đức báo chí trong môi trƣờng truyền thôngkỹ thuật số lại càng trở thành một yếu tố thời sự nóng bỏng lúc bấy giờ. Nhữngkhối lƣợng thông tin lớn đƣợc chuyển tải tin tức từng giây, từng phút trên cáctrang báo mạng, trang thông tin điện tử khiến con ngƣời không còn đủ khảnăng trấn áp thông tin. Hiện tƣợng vi phạm đạo đức nhà báo trên báo mạngđiện tử đang Open ngày càng nhiều hơn và trở thành nỗi lo của nhiềungƣời có nghĩa vụ và trách nhiệm và dƣ luận xã hội. Trong một vài năm trở lại đây, sự tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ của Công nghệthông tin, đặc biệt quan trọng là sự Open của Mạng xã hội đã đẩy những trang báo điệntử ở Nước Ta vào một cuộc đua quyết liệt trong việc truyền tải thông tin. Chỉvới một chiếc điện thoại thông minh mưu trí có năng lực truy vấn Internet và mộttrang cá thể trên mạng xã hội, bất kể công dân nào cũng hoàn toàn có thể trở thànhngƣời đƣa tin. Đối với hoạt động giải trí báo chí, sự Open của Mạng xã hội giốngnhƣ con dao hai lƣỡi, và trong cuộc đua quyết liệt để truyền tải thông tin ấy, đãkhông ít ngƣời làm báo phạm phải sai lầm đáng tiếc khi lạm dụng mạng xã hội mà đánhmất đi lƣơng tâm nghề nghiệp của ngƣời cầm bút. Luận văn tập trung nghiêncứu đa phần vào sự sa sút về mặt chất lƣợng của báo mạng điện tử lúc bấy giờ, mà một trong những nguyên do đa phần là do vi phạm đạo đức nghề nghiệp10của những nhà báo, từ đó đề xuất kiến nghị 1 số ít giải pháp nhằm mục đích khắc phục, hạn chế vàgiảm thiểu tối đa hiện tƣợng này. 2. Tình hình nghiên cƣ ́ u tương quan đến đề tài2. 1. Trên thế giớiBáo chí Open trên quốc tế từ đầu thế kỷ 17. Trải qua quy trình pháttriển vài trăm năm, yếu tố đạo đức, nghề nghiệp của nhà báo luôn đƣợc quantâm. Đã có rất nhiều cuốn sác đề cập hoặc nghiên cứu và điều tra yếu tố này một cách hệthống và chuyên nghiệp. Tiêu biểu phải kể đến những cuốn nhƣ : + The Elements of Journalism ( Những yếu tố của nghề báo ) của tác giảBill Kovach và Tom Rosenstiel. Với lời đề tựa : “ Điều mà những ngƣời làmbáo nên biết và công chúng nên yên cầu ”, hai tác giả, bằng ngòi bút sắc sảophân tích nền báo chí Mỹ : điểm mạnh và điểm yếu. Các tác giả cũng dànhnhiều trang để nêu những nguyên tắc cơ bản của nghề báo trong đó nguyêntắc tôn trọng thực sự đƣợc đặt lên số 1. + The Principles of Multimedia Journalism ( Những nguyên tắc của báochí đa phƣơng tiện ). Tác giả Richard Hernandez và Jeremy Rue đều là nhữngnhà báo giàu kinh nghiệm tay nghề. Hai tác giả đã hệ thống hóa, phân loại những đặc tínhcủa tác phẩm báo chí trên nền tảng kĩ thuật số. Bằng cách đó, những tác giả đãtạo thời cơ cho những sinh viên báo chí và những chuyên viên một cách để hiểu vềtầm quan trọng trong việc dàn dựng câu truyện trong một kỷ nguyên quy tụ. + Gatekeeping in Transition ( Kiểm duyệt báo chí ). Tác giả : Tim P.Vos, Francois Heinderyckx. Báo chí đang biến hóa từng ngày : từ cách sản xuất, loạihình, phƣơng tiện lẫn những kênh chuyển tải. Với những trong thực tiễn đổi khác đó, việc kiểm duyệt báo chí có đổi khác gì không ? Cuốn sách vấn đáp câu hỏi đó. 11 + Ethics for Digital Journalists ( Đạo đức cho Nhà báo kỹ thuật số ). Tácgiả Lawrie Zion, David Craig. Sự tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ của báo mạng điện tửđã dẫn đến những sự phức tạp trong đạo đức nghề nghiệp của báo chí. Trongkhi những nguyên tắc đạo đức truyền thống cuội nguồn không đổi khác nhiều thì việc ápdụng nó lên một nền tảng điện tử lại đầy khó khăn vất vả và thử thách. Trong cuốnEthics for Digital Journalists, hai tác giả đã phỏng vấn những nhà báo kinhnghiệm và những học giả nghiên cứu và điều tra về báo chí nhằm mục đích đƣa ra những cách thựchành tích cực nhất cho báo chí kỹ thuật số. + Journalism Ethics : Arguments and Cases for the 21 st Century ( Đạođức báo chí : Lý luận và Dẫn chứng cho thế kỷ 21 ). Tác giả : Roger Patching, Martin Hirst. Cuốn sách đề cập cả kim chỉ nan và thực hành thực tế của đạo đức báo chí. + Explorations in Global Media Ethics ( Khám phá đạo đức truyềnthông quốc tế ). Tác giả : Muhammad Ayish, Shakuntala Rao. Cuốn sách đƣợcxuất bản trong series Nghiên cứu về báo chí. + Principles of American Journalism : An Introduction ( Những nguyêntắc của Báo chí Mỹ : Phần ra mắt ). Tác giả : Stephanie Craft và CharlesN. Davis. Đây là cuốn sách trình làng cho những sinh viên báo chí giá trị cốt lõicủa báo chí và vai trò quan trọng của nó trong xã hội dân chủ. + The New Ethics of Journalism : A Guide for the 21 st Century ( Nhữngquy tắc đạo đức mới cho báo chí : Một sự chỉ đƣờng cho thế kỷ 21 ). Tác giả : Kelly McBride và Tom Rosenstiel. Tác phẩm gồm có những chƣơng thể hiệnquyền, trách nghiệm của những nhà báo ( vd : giá trị, văn hóa truyền thống đƣa tin ), những bốicảnh tương quan ( chủ sở hữu, fan hâm mộ, kinh tế học, công dân ) và những điểm áplực ( sự đúng chuẩn, xung đột quyền lợi, thành kiến, đƣa tin về những đối tƣợng dễbị tổn thƣơng ). 12 Ở Nước Ta, 1 số ít điều tra và nghiên cứu của những học giả ngƣời Nga đƣợc dịchra tiếng Việt phải kể đến : “ Những yếu tố cơ bản của đạo đức nghề nghiệpnhà báo ” ( G.V.Ladutina ), “ Cơ sở lý luận của báo chí ” tập 2 ( E.P.Prôkhôrốp ), “ Cơ sở hoạt động giải trí phát minh sáng tạo của nhà báo ” ( G.V.Lazutina ), “ Nghiệp vụ báo chílý luận và thực tiễn ” ( V.V.Vôrôsilốp ), “ Báo chí tân tiến quốc tế : Nhữngquy tắc và nghịch lý ” ( X.A.Mikhailốp ), “ Giao tiếp trên truyền hình trước ốngkính và sau ống kính camera ” ( X.A.Muratốp ), “ Báo chí tìm hiểu ” ( A.A.Chert ƣchơnƣi ), “ Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ nhỏ ” ( HelenaThorfinn ) 2.2. Ở Việt NamVấn đề đạo đức báo chí từ lâu đã đƣợc nhiều học giả chăm sóc nghiêncứu tại Nước Ta. Có thể kể đến một số ít cuốn sách tiêu biểu vượt trội nhƣ : “ Nghề báonghiệp văn ” – tác giả Phan Quang, nhà xuất bản Thông tấn năm 2005, “ Cẩmnang đạo đức báo chí ” – tác giả GS, tiến sỹ Tạ Ngọc Tấn, PGS, tiến sỹ Đinh ThịThúy Hằng, 2009, “ Đạo đức về nghề nghiệp của nhà báo ” – tác giả NguyễnThị Trƣờng Giang, nhà xuất bản Chính trị – Hành chính năm 2011, “ Một sốnội dung cơ bản về nhiệm vụ báo chí xuất bản ”, Nhiều tác giả, NXB Thôngtin và Truyền thông, 2012, Một số văn bản chỉ huy và quản trị của Đảng, Nhànước về Hoạt động Báo chí, Bộ tin tức và Truyền thông, NXB Thông tinvà Truyền thông, 2012, “ Đạo đức Nghề Báo : Những yếu tố lý luận và thựctiễn ” – tác giả : PGS. tiến sỹ Hoàng Đình Cúc, NXB Chính trị Quốc gia, “ 100 quytắc đạo đức nghề báo trên quốc tế ” – tác giả : TS.Nguyễn Thị Trƣờng Giang, NXB Chính trị Quốc gia, năm trước. Tuy nhiên ở những đầu sách này, yếu tố đạo đứcnhà báo đƣợc khái quát là một trong những nhu yếu trong hoạt động giải trí nghềnghiệp của ngƣời làm báo. 13N goài ra, 1 số ít Hội thảo khoa học trong nƣớc cũng có bàn về đạo đứcnghề nghiệp của nhà báo nhƣ : + Hội thảo ” Trách nhiệm xã hội và đạo đức báo chí trong kỷ nguyênkỹ thuật số ” do Khoa Báo chí và Truyền thông ( Trƣờng ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN ) phối hợp với Viện KAS ( CHLB Đức ) tổ chức triển khai ngày10 / 06/2015. Hội thảo là một trong những hoạt động giải trí thiết thực kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí Cách mạng Nước Ta. + Hội thảo ” 90 năm báo chí cách mạng Nước Ta : Truyền thống, bảnlĩnh và nghĩa vụ và trách nhiệm ” do Ban Tuyên giáo Trung ƣơng, Bộ tin tức và Truyềnthông và Hội Nhà báo Nước Ta phối hợp tổ chức triển khai ngày 18/6/2015 tại HàNội. + Hội thảo “ Đạo đức báo chí trong khai thác và giải quyết và xử lý nguồn tin ” doHội Nhà báo Khánh Hòa tổ chức triển khai ngày 26/09/2014. + Hội thảo “ Đạo đức nghề báo trong toàn cảnh toàn thế giới hóa thông tin ” do Hội Nhà báo Nước Ta phối hợp với Viện KAS ( Konrad AdenauerStiftung ) tổ chức triển khai ngày 17/3/2014. Kế thừa những cơ sở lý luận nền tảng, update thêm những kiến thứcmới về truyền thông online quy tụ, về mạng xã hội, luận văn này tập trung chuyên sâu đi sâu vàomột góc nhìn rõ ràng, đồng nhất, trong một khoanh vùng phạm vi nhất định, đó là Vấn đềvi phạm đạo đức nhà báo trên báo mạng điện tử lúc bấy giờ – dựa trên việc khảosát phản ứng của 1 số ít báo mạng điện tử trong năm 2013 và năm trước trƣớc mộtsố hiện tƣợng tiếp thị quảng cáo nổi cộm. 143. Mục tiêu, trách nhiệm nghiên cƣ ́ u3. 1 Mục tiêu nghiên cứuLuận văn tập trung khảo sát, điều tra và nghiên cứu, nhìn nhận tình hình vấn đềđạo đức nhà báo trên báo mạng điện tử lúc bấy giờ. Từ đó, yêu cầu những giảipháp để nâng cao đạo đức nghề nghiệp của ngƣời làm báo nói chung và báomạng điện tử nói riêng. 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứuĐể đạt đƣợc mục tiêu trên, luận văn tập trung điều tra và nghiên cứu những nhiệmvụ sau : Làm rõ những yếu tố tương quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn củaKhảo sát, nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận tình hình vi phạm đạo đức nghềđề tài. nghiệp của những ngƣời làm báo mạng điện tử ở Nước Ta lúc bấy giờ. Chỉ ra nguyên do và đề xuất kiến nghị những giải pháp nhằm mục đích nâng cao đạođức nghề nghiệp của nhà báo Nước Ta nói chung, và đội ngũ làm báo mạngđiện tử nói riêng. 4. Đối tƣợng, khoanh vùng phạm vi nghiên cứu4. 1 Đối tƣợng nghiên cứuĐối tƣợng điều tra và nghiên cứu của Luận văn là yếu tố vi phạm đạo đức báo chícủa nhà báo trên báo mạng điện tử lúc bấy giờ. 4.2 Phạm vi nghiên cứuLuận văn tập trung khảo sát phản ứng của một số ít báo mạng có số lƣợngđộc giả lớn ở Nước Ta lúc bấy giờ với những yếu tố điển hình nổi bật trong giới truyềnthông trong năm 2013 và 2014.155. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cƣ ́ u : 5.1 Cơ sở lý luậnĐề tài đƣợc triển khai trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣtƣởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc ViệtNam về công tác làm việc tƣ tƣởng và báo chí ; lý luận báo chí về vai trò, công dụng vànguyên tắc hoạt động giải trí của báo chí ; chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp báo chívà sự ảnh hưởng tác động qua lại giữa đạo đức và những hình thái ý thức xã hội khác. 5.2 Phƣơng pháp điều tra và nghiên cứu cụ thểPhƣơng pháp nghiên cứu và phân tích nội dung : Dùng để nghiên cứu và phân tích nội dungcác tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử ( gồm có cả những bài viết, hìnhảnh, những video clip hoặc những đoạn âm thanh ) và những câu vấn đáp thuđƣợc qua phỏng vấn sâu. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu : Đƣợc sử dụng dùng để phỏngvấn một số ít phóng viên báo chí, biên tập viên, nhà quản trị báo chí, nghiên cứu và điều tra báochí, công chúng nhằm mục đích tích lũy quan điểm nhìn nhận của cá thể về tình hình đạođức nghề nghiệp của nhà báo lúc bấy giờ cũng nhƣ nhận thức của họ về vấn đềnày. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài : 6.1. Ý nghĩa lý luậnKết quả điều tra và nghiên cứu của luận văn góp thêm phần thay đổi và làm phong phúthêm lý luận báo chí, tiếp thị quảng cáo tân tiến và thực tiễn của báo mạng điện tửhiện đại và yếu tố vi phạm đạo đức của nhà báo trên báo mạng điện tử ở ViệtNam lúc bấy giờ. 166.2. Ý nghĩa thực tiễnKết quả nghiên cứu và điều tra của luận văn là một trong những cơ sở để những tổchức, cá thể sau đây tìm hiểu thêm và vận dụng : Các cơ quan chỉ huy và quản trị báo chí ; Các tòa soạn báo chí ; Các cơ sở đào tạo và giảng dạy báo chí ; Các phóng viên báo chí, biên tập viên những cơ quan báo chíNhững ai chăm sóc nghành nàyCho chính tác giả luận văn7. Cấu trúc của luận văn : Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tìm hiểu thêm, luận vănbao gồm 3 chƣơng, 14 tiết, 116 trang. Nội dung của luận văn đƣợc trình diễn theo thứ tự những chƣơng sau đây : Chƣơng 1 : Quan niệm về đạo đức nhà báo và lý luận chung về báomạng điện tử. Chƣơng 2 : Thực trạng yếu tố vi phạm đạo đức nhà báo trên báo mạngđiện tử hiện nayChƣơng 3 : Bài học kinh nghiệm tay nghề và yêu cầu giải pháp, yêu cầu đểkhắc phục yếu tố vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trên báo mạngđiện tử. 17C hƣơng 1 : QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC NHÀ BÁO VÀ LÝ LUẬNCHUNG VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ1. 1. Quan niệm về đạo đức nhà báo1. 1.1 Khái niệm “ đạo đức ” và “ đạo đức nghề nghiệp ” Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “ Đạo đức ”. Theo địnhnghĩa của sách giáo khoa Giáo dục công dân bậc Trung học đại trà phổ thông, “ Đạođức là mạng lưới hệ thống những quy tắc chuẩn mực xã hội, mà nhờ đó con người tự giácđiều chỉnh hành vi của mình cho tương thích với quyền lợi của hội đồng và của xãhội. Mỗi tiến trình lịch sử dân tộc nhất định có những ý niệm về đạo đức khácnhau ”. Và cần phân biệt rất rõ khái niệm “ đạo đức ” và “ pháp lý ”. Dù cùngcó mục tiêu để kiểm soát và điều chỉnh hành vi của con ngƣời, nhƣng đạo đức đƣợc thựchiện dựa trên sự tự giác của con ngƣời với những chuẩn mực do xã hội đề ra, cònpháp luật đƣợc thực thi một cách bắt buộc, theo những quy tắc, lao lý bằngvăn bản chính thống do nhà nƣớc đề ra. Tham khảo trên Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, “ “ Đạo đức ” làmột hiện tượng kỳ lạ xã hội phản ánh những mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bảnthân đời sống của con người. Đạo đức là tập hợp những quan điểm củamột xã hội, của một những tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thếgiới, về cách sống. Nhờ đó con người kiểm soát và điều chỉnh hành vi của mình sao chophù hợp với quyền lợi của hội đồng xã hội. ”. Đứng trên góc nhìn khác, “ Đạo đức ” là một hình thái ý thức xã hội, làtổng hợp những qui tắc,  nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con ngƣời tựgiác kiểm soát và điều chỉnh hành vi của mình sao cho tương thích với quyền lợi và hạnh phúccủa con ngƣời, với tân tiến xã hội trong quan hệ cá thể – cá thể và quan hệ18cá nhân – xã hội. Đạo đức là hàng loạt những qui tắc, chuẩn mực nhằm mục đích điềuchỉnh và đánh  giá cách ứng xử của con ngƣời với nhau trong quan hệ xã hộivà quan hệ với tự nhiên. Theo giáo trình “ Cơ sở lý luận báo chí tiếp thị quảng cáo ”, những tác giả Dƣơng XuânSơn, Đinh Văn Hƣờng, Trần Quang thì : ” Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắcđược xã hội thừa nhận, pháp luật hành vi của con người so với nhau và so với xãhội. Các nguyên tắc đạo đức giống như những chiếc máy kiểm soát và điều chỉnh hành vi của conngười, nhưng không mang đặc thù cưỡng chế mà mang tính tự giác ( … ) Trên cơ sởlí tưởng và nghĩa vụ và trách nhiệm đạo đức đã hình thành nên ý niệm về lương tâm và lòngtự trọng của nhà báo chuyên nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp gồm có những nguyên tắcxử sự đúng đắn để ngăn ngừa những hành vi không đúng đắn. Căn cứ vào nhữngtiêu chuẩn đạo đức này và dựa vào đặc thù của những hành vi, mỗi nhà báo sẽ phảichịu đựng sự tự xỉ vả, xấu hổ, phải tự kết tội, hoặc được khuyến khích, tự hào, phấn khởivà niềm hạnh phúc ” – [ 19, tr. 252 ] Đạo đức nghề nghiệp : là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức cụthể trong đạo đức chung của xã hội. Đạo đức nghề nghiệp Open để là têngọi khoa học về cách sử dụng nghề nghiệp của con ngƣời ( Déon : bổn phậncần phải làm, logos : học thuyết – Déontologic đƣợc nhà triết học Anh Bentamsử dụng có ý nghĩa là nghĩa vụ và trách nhiệm luận, đạo đức nghề nghiệp ). Đạo đức nghề nghiệp là những nhu yếu đạo đức đặc biệt quan trọng, có liên quanđến việc triển khai một hoạt động giải trí nghề nghiệp nào đó ; Là tổng hợp của cácquy tắc, những nguyên tắc chuẩn mực của 1 nghành nghề nghiệp trong đờisống, nhờ đó mà mọi thành viên của nghành nghề dịch vụ nghề nghiệp đó tự giác điềuchỉnh hành vi của mình cho tương thích với quyền lợi và sự tân tiến của nó trongmối quan hệ giữa cá thể với cá thể, cá thể với tập thể với xã hội, … 19T uân theo những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện kèm theo cho việcnâng cao chất lƣợng lao động trong nghành nghề dịch vụ nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức cá thể trong xã hội đều có nét chung, nhƣng đạođức trong nghành nghề dịch vụ nghề nghiệp có những đặc trưng và nhu yếu riêng không liên quan gì đến nhau. Ví dụnhƣ : Thầy thuốc phải có lòng trắc ẩnThầy giáo phải là ngƣời mô phạmNhà báo phải trung thựcNhà chính trị phải có lòng nhân hậu đặc biệt quan trọng với nhân dân …. 1.1.2 Đạo đức nhà báoNghề báo tuy không có một bộ luật đạo đức nghề nghiệp riêng nhƣngcũng có những văn bản gồm có những quy tắc đạo đức hành nghề cho báo giới vàđƣợc những hội đoàn báo chí trải qua. “ Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo lànhững quy tắc, chuẩn mực pháp luật thái độ và hành vi ứng xử của nhà báo trong cácmối quan hệ nghề nghiệp ”. Các quy tắc này vận dụng trong trách nhiệm của nhà báo ( nghĩa vụ và trách nhiệm thôngtin, tôn trọng fan hâm mộ, quyền lợi xã hội, quyền đƣợc biết ) và quy định tính chínhđáng cũng nhƣ tính đáng đáng tin cậy của trách nhiệm báo chí ( độc lập với những quyềnlực chính trị hoặc kinh tế tài chính, tôn trọng đời tƣ, bảo vệ nguồn phân phối thông tinv. v … ). Tóm lại, hoàn toàn có thể nói quy tắc đạo đức hành nghề báo chí gồm có toàn bộcác tiêu chuẩn nghề nghiệp giám sát lƣơng tâm nghề nghiệp của một thông tinviên ( nhà báo ). Các tiêu chuẩn này dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản : tráchnhiệm xã hội và thực sự thông tin. 20M ặt khác, quy tắc đạo đức nghề còn góp thêm phần giúp nhà báo tránh đƣợccác ý đồ lũng đoạn thông tin, tuyên truyền, đánh bóng hay bóp méo thông tin. Tuyên bố về những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà báo đƣợc trải qua năm 1971 ởMunich có ý nghĩa phổ quát. Nó lao lý ” quyền tiếp cận thông tin, quyền tựdo ngôn luận và quyền chỉ trích là một trong những quyền tự do cơ bản củatoàn thể nhân loại “, và ” nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà báo so với công chúng đượcđặt lên trên hết, cao hơn cả nghĩa vụ và trách nhiệm so với chủ bút và chính quyền sở tại Nhànước “. Ngoài ra nó lao lý những nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà báo nhƣ nghĩa vụ và trách nhiệm tôn trọngsự thật và đời tƣ cá thể, nhất thiết chỉ đƣa những tin ” có nguồn gốc rõ ràng “, nghĩa vụ và trách nhiệm ” kiểm tra toàn bộ những thông tin tỏ ra thiếu đúng chuẩn “, ” không tiết lộnguồn tin lấy được một cách bí hiểm “. Nghị quyết 1003 năm 1993 của Hội đồng châu Âu về đạo đức nghề báođƣợc trải qua, nhƣng chỉ mang đặc thù ” khuyến nghị ” so với báo chí cácquốc gia thành viên chứ không bắt buộc. – Lƣơng tâm : Yếu tố nội tâm tạo cho mỗi ngƣời năng lực tự đánh giáhành vi của mình về mặt đạo đức, và do đó tự kiểm soát và điều chỉnh mọi hành vi củamình – Trách nhiệm : Điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy vềmìnhTheo TS.Tr ƣơng Minh Tuấn – Thứ trƣởng Bộ tin tức và Truyềnthông, không cứ là gì phải nghề báo mới đặt yếu tố về đạo đức, mà bất cứmột nghề nào khác, chuyện đạo đức nghề nghiệp cũng phải đƣợc đặt ra, thậmchí phải đƣợc đặt lên số 1 rồi mới nói đến trình độ nhiệm vụ củangƣời hàng nghề đó. Vì rằng không có đạo đức khi hành nghề thì khoảng chừng cáchgiữa việc hành nghề chính đáng với việc tận dụng “ nghề ” để trục lợi hoặc làm21những việc bất chính chỉ là tơ tóc. Với nghề báo, do đặc trưng của việc làm, câu truyện về đạo đức lại càng đƣợc chú trọng và đặt lên số 1. Đạo đức của nhà báo không chỉ là sự gan góc, dám xông vào nhữngnơi nguy khốn nhất để phanh phui những mặt trái của đời sống mà còn gópphần trong việc “ định hƣớng ” dƣ luận, ngòi bút của nhà báo phải là mũi têndẫn đƣờng để mọi ngƣời cùng hƣớng thiện. Một nhà báo đƣợc gọi là “ có đạođức ” phải là ngƣời sát cánh cùng nhân dân mình, cùng dân tộc bản địa và đất nƣớcmình, biết san sẻ những vui, buồn, sƣớng, khổ với đồng bào mình trong cuộctrƣờng chinh thoát khỏi đói nghèo, lỗi thời để đến đích ấm no, niềm hạnh phúc. Đạo đức nhà báo không chỉ là việc đi đến tận cùng của nỗi oan khiên để tìmra lẽ phải, lẽ công minh cho ngƣời bị oan khuất mà cái chính là, bằng ngòi bútcủa mình, bằng sự trung thực và nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, nhà báo phải làm côngviệc của một bác sĩ phẫu thuật, cắt bỏ vĩnh viễn những khối u hoàn toàn có thể trở thành “ tiền lệ xấu ”, hoàn toàn có thể lây nhiễm thói hƣ cho cả hội đồng. “ Một thông tin bị hiểu xô lệch hoặc bị nhà báo làm cho méo mó đi thìhệ quả của nó không chỉ tác động ảnh hưởng đến quyền lợi của một cá thể mà còn gâyhệ lụy cho cả hội đồng. Ngược lại, một thông tin kịp thời, đúng mực vàtrung thực của nhà báo, với sự lan tỏa của nó sẽ có tính năng tích cực đến cánhân, tập thể và đời sống toàn xã hội. Vì vậy, yếu tố đạo đức của nhà báo làcâu chuyện luôn được tôn vinh và coi trọng nhất là trong thời đại bùng nổthông tin. ” [ 18, tr. 15 ] Đạo đức nghề báo chính là những nguyên tắc, những chuẩn mực đƣợchình thành trong những mối quan hệ ứng xử nghề nghiệp của nhà báo, đƣợc thểchế hóa, đƣợc nhà báo và dƣ luận xã hội thừa nhận, trở thành những chuẩnmực kiểm soát và điều chỉnh hành vi của nhà báo trong hoạt động giải trí thực tiễn nghềnghiệp. Trách nhiệm chính trị, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý, nghĩa vụ và trách nhiệm đạo đức trong22hoạt động nghề nghiệp của nhà báo là 3 mặt của một yếu tố, hòa quyện, liênkết ngặt nghèo, là điều kiện kèm theo, là tiền đề của nhau, cùng hƣớng tới một mục tiêuduy nhất là triển khai xong tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà báo với sự tăng trưởng của xãhội, của đất nƣớc. Đạo đức nghề báo cũng là một nội dung quan trọng của tƣ tƣởng HồChí Minh, mang giá trị lý luận và thực tiễn thâm thúy, góp thêm phần to lớn vào việcđịnh hƣớng và đào tạo và giảng dạy cho những thế hệ nhà báo Việt nam đủ đức và tài, trởthành lực lƣợng xung kích trên mặt trận tƣ tƣởng, văn hóa truyền thống của Đảng. Ngƣời làtấm gƣơng sáng ngời về đạo đức của ngƣời làm báo. Đạo đức cách mạng nói chung, đạo đức nghề báo nói riêng theo Hồ ChíMinh đƣợc hiểu là phẩm chất tốt đẹp nhất, là gốc của mọi yếu tố trong cuộcsống, là phƣơng tiện kiểm soát và điều chỉnh những mối quan hệ xã hội của ngƣời làm báo, mà phạm trù pháp lý không kiểm soát và điều chỉnh đƣợc. Bởi, “ Cũng như sông thì cónguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không cógốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dùtài giỏi mấy cũng không chỉ huy được nhân dân ” ( 1 ). Đạo đức báo chí khôngchỉ nằm trong khoanh vùng phạm vi kiểm soát và điều chỉnh thuộc những lao lý của luật báo chí hiệnhành, mà còn là tâm thức và phƣơng châm hành nghề của toàn bộ những ngƣờilàm báo cách mạng. Thực hiện đúng lao lý đạo đức nghề nghiệp, ngƣờilàm báo sẽ tránh đƣợc những tác động ảnh hưởng xấu đi trong cơ chế thị trƣờng, giữvững lòng tin của nhân dân, của xã hội so với lực lƣợng báo chí cách mạngnói chung và so với mỗi ngƣời làm báo nói riêng. 1.1.3 Vai trò của đạo đức nhà báoBản lĩnh chính trị của ngƣời làm báo đƣợc bộc lộ ngay trong tácphẩm báo chí. Qua tác phẩm báo chí, nhà báo bày tỏ quan điểm, thái độ vớicác sự kiện xảy ra ; đấu tranh với những quan điểm sai lầm và những tƣ tƣởng thù23địch ; lên án phê phán, những hiện tƣợng xấu đi, những thói hƣ tật xấu ; bảo vệquyền lợi chính đáng của nhân dân. Bản lĩnh chính trị của nhà báo còn đƣợcthể hiện ở trình độ nhận thức chính trị-xã hội, qua học tập, rèn luyện thực tiễncủa nhà báo, đó là cái tâm, là phẩm chất chính trị của ngƣời làm báo. Cùngvới bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp là nhu yếu rất là quan trọng vớingƣời làm báo. Đạo đức báo chí là đạo đức nghề nghiệp mang tính đặc trưng do đặctrƣng của nghề nghiệp báo chí pháp luật. Đạo đức nghề nghiệp báo chí đƣợcthể hiện trong mối quan hệ giữa những ngƣời làm báo với nhau ; giữa ngƣờilàm báo với những tổ chức triển khai, cá thể tương quan đến nghề báo và đƣợc biểu hiệnqua hoạt động giải trí của nhà báo, đó là lƣơng tâm của nhà báo. Bên cạnh đó, laođộng phát minh sáng tạo của ngƣời làm báo là sự tái tạo lại hiện thực khách quan mộtcách đúng đắn, chân thực nhƣng không phản ánh một cách thô thiển, máymóc. Trƣớc một sự kiện xảy ra nhà báo phải biết chắt lọc thông tin, tìm ra cáibản chất nhất, mang tính định hƣớng dƣ luận, làm cho công chúng hiểu rõ vấnđề. Sự phát minh sáng tạo không phải là sự thêm thắt, hƣ cấu, thêu dệt trong tác phẩmcủa mình về sự kiện xảy ra nhằm mục đích mục tiêu cá thể. Nếu nhƣ vậy nhà báo đãtự đánh mất mình và vi phạm Luật Báo chí. Đạo đức nhà báo không chỉ có ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng tácphẩm của nhà báo đó, mà còn tác động ảnh hưởng đến toàn xã hội nói chung và đội ngũbáo chí nói riêng. Trong hơn mƣời năm qua, vấn để xuống cấp trầm trọng của đạo đứcbáo chí trong cơ chế thị trƣờng đã là chủ đề của nhiều cuộc hội thảo chiến lược do Hộinhà báo Nước Ta phối hợp với những cơ quan chức năng tổ chức triển khai. Nhƣng dƣờngnhƣ số lƣợng những vấn đề, những bộc lộ xấu đi về đạo đức báo chí vẫnkhông thuyên giảm mà đang có xu hƣớng tăng lên. 24T rƣớc tiên haỹ cùng vấn đáp thắc mắc : Vì sao với nghề báo, đạo đức nghềnghiệp đƣợc đặc biệt quan trọng coi trọng, đƣợc so sánh với nghề y, nghề luật, bảo mật an ninh, TANDTC ? Có quan điểm cho rằng vì đó là 5 nghề này có vị trí quan trọng đặc biệt quan trọng vàmối quan hệ thoáng rộng với nhiều ngƣời trong xã hội. Thế nhƣng nghề thựcphẩm, nghề nông hay rất nhiều nghề khác đều có mối quan hệ rất rộng vớingƣời dân ; thậm chí còn còn có tính toàn dân. Nhƣ vậy thì nghề giáo, nghề báo, nghề y, nghề luật, bảo mật an ninh, TANDTC có gì độc lạ với phầ n lớn nhƣ ̃ ng nghề cònlại ? Có một sự độc lạ rất lớn về mối tƣơng quan của ngƣời làm nghề và đốitƣơ ̣ ng phu ̣ c vu ̣ giƣ ̃ a 5 nghề này với nhƣ ̃ ng nghề còn lại. Nếu đặt lên bàn cânmột bên là ngƣời làm nghề và một bên là đối tƣợng Giao hàng, thì với 5 nghềvƣ ̀ a nêu, đối tƣợng ship hàng nhẹ cân hơn hẳn về vị thế. Dƣờng nhƣ ngƣời làmnghề có quyền nhiều hơn đối tƣợng của mình. Ở thế yếu hơn, những ngƣờiđƣợc ship hàng khó có năng lực tự bảo vệ mình, họ phải trông chờ vào đạo đứcnghề nghiệp, vào lƣơng tâm của những nhà báo, cũng nhƣ những thẩm phán, bác sĩ, tìm hiểu viên. Những ngƣời đƣợc Giao hàng mong ước những ngƣời làm nghềthận trọng và xem xét kỹ càng trƣớc mỗi một nhát dao mổ, một Kết luận điềutra, một bản án, một bài báo. Các nƣớc tăng trưởng trên Thế giới đều có những pháp luật rất khắt khevề “ đạo đức nhà báo ”, thậm chí còn, ở một số ít tờ báo lớn còn có những quy địnhriêng về đạo đức nghề nghiệp cho mỗi chức vụ trong tòa soạn của mình. ỞNga, “ Quy định về đạo đức nhà báo ” đƣợc Hội đồng Nhà báo Nga thông quangày 23/06/1994, tại Moscow với những khuôn khổ chi tiết cụ thể về những quy tắcmànhàbáophảituânthủtrongquátrìnhtácnghiệpnhƣ : “ Nhà báo phải tuân thủ ngặt nghèo việc tách bạch những sự kiện, thông tin vớinhững quan điểm, phóng tác, và giả định có trong thông tin. Nhưng nhà báo cũngkhông nhất thiết phải giữ tính trung lập việc làm. 25

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập