Luận văn Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành – Tài liệu text
Luận văn Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (958.42 KB, 110 trang )
Bạn đang đọc: Luận văn Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành – Tài liệu text
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỦ
THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ……………..6
1.1. Những vấn đề lý luận về chủ thể của tội phạm…………………………………………….6
1.2. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội
phạm…………….18 CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CHỦ THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG………………………………………………………………………..30
2.1. Tình hình chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua…..30
2.2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội
phạm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua ……………………………………………..40
2.3. Đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội
phạm tại thành phố Đà Nẵng………………………………………………………………………….50
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM ………..56
3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm ……….56
3.2. Hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự và tổng kết áp dụng pháp luật hình sự
về chủ thể của tội phạm…………………………………………………………………………………64
3.3. Nâng cao năng lực của cán bộ………………………………………………………………….68
3.4. Các giải pháp khác …………………………………………………………………………………74
KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………………..79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT
Cơ quan điều tra
CTN
Chưa thành niên
CTTP
Cấu thành tội phạm
TA
Tòa án
TAND
Tòa án nhân dân
THTT
Tiến hành tố tụng
TNHS
Trách nhiệm hình sự
TTHS
Tố tụng hình sự
TP
Thành phố
TTHS
Tố tụng hình sự
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
VAHS
Vụ án hình sự
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành từ
năm 1985, là công cụ sắc bén của Nhà nước trong quản lý xã hội, phòng ngừa và
đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và công dân, góp phần có hiệu quả
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trải qua 30 năm thi hành, Bộ luật hình sự có nhiều lần sửa đổi, bổ sung (vào
các năm 1989, 1991, 1992, 1997, 1999 và 2009), gần đây nhất là Bộ luật hình sự năm
2015 nhưng chưa được thi hành. Việc liên tục sửa đổi, bổ sung nhằm giúp BLHS ngày
càng hoàn thiện đáp ứng nhu cầu thực tiễn, nhiều quan hệ xã hội mới nảy sinh trong
đời sống xã hội cần được các quy phạm pháp luật của BLHS điều chỉnh, nhiều quan hệ
xã hội có sự biến đổi đòi hỏi luật phải điều chỉnh cho phù hợp.
Một trong những nội dung quan trọng của luật hình sự đó là vấn đề cấu thành
tội phạm, việc xem xét cấu thành tội phạm giúp xác định một hành vi do một chủ thể
nào đó thực hiện có xâm hại khách thể được luật hình sự bảo vệ hay không, quan hệ xã
hội đó có chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hình sự hay không, chủ thể
thực hiện hành vi có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không… Việc xác định chính
xác các yếu tố cấu thành tội phạm giúp việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội,
không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội. Trong các yếu tố cấu
thành tội phạm, chủ thể của tội phạm là yếu tố có vai trò quan trọng, tuy không phải là
yếu tố đầu tiên được xem xét trong cấu thành tội phạm nhưng lại là yếu tố có tính chất
xuất phát điểm của các yếu tố khác. Không có con người với tư cách là chủ thể của
hành vi, chủ thể của hoạt động thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội, không phải
xem xét đến các yếu tố của mặt chủ quan, không có khách thể nào bị nguy hiểm cho xã
hội tác động đến. Không có chủ thể của tội phạm thì cũng không diễn ra các hoạt động
tố tụng có liên quan. Chủ thể của tội phạm có những đặc điểm, dấu hiệu chung trên cơ
sở những quy định có tính bắt buộc của luật hình sự. Luật hình sự quy định cụ thể
những đặc điểm, dấu hiệu này mà chỉ khi thỏa mãn các dấu hiệu đó thì một người mới
1
phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc xác định chủ thể của tội phạm góp phần quan
trọng trong việc xác định người phạm tội, tội phạm, khung hình phạt và truy cứu
TNHS đối với một cá nhân nhất định.
Xác định được tầm quan trọng của chủ thể của tội phạm như vậy, các nhà làm
luật đã không ngừng nghiên cứu và hoàn thiện hơn pháp luật hình sự Việt Nam về
chủ thể của tội phạm. BLHS Việt Nam hiện hành nhìn chung đã quy định tương đối
đầy đủ về chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển nên những quy
định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm dần phát sinh những bất cập,
vướng mắc không thể áp dụng hoặc áp dụng không phù hợp. Vẫn còn nhiều quan
điểm khác nhau trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về việc
quy định trong chủ thể của tội phạm như các vấn đề về năng lực chịu TNHS, độ tuổi
chịu TNHS, nhân thân của người phạm tội trong các loại tội phạm thông thường và các
tội phạm đặc biệt.
Thành phố Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, là
trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của khu vực miền Trung, Tây nguyên. Thành phố
có diện tích tuy không lớn nhưng dân số càng lúc càng tăng với nhiều thành phần lao
động khác nhau, các mối quan hệ xã hội phức tạp kéo theo mức độ tội phạm ngày càng
tăng, số lượng các loại án hình sự diễn ra ngày càng nhiều và với tính chất phức tạp.
Trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm
cũng phát sinh nhiều vướng mắc và nhiều quan điểm áp dụng khác nhau.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn như trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chủ thể
của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm
luận văn thạc sỹ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi chọn đề tài “Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực
tiễn thành phố Đà Nẵng”, tác giả đã tham khảo BLHS năm 1999 và năm 2015;
BLTTHS năm 2003 và năm 2015; một số nghiên cứu đề cập đến những nội dung có
liên quan đến vấn đề chủ thể của tội phạm như: Giáo trình Luật hình sự (phần chung)
của GS.TS Võ Khánh Vinh; Giáo trình Luật hình sự do PGS.TSKH. Lê Cảm chủ biên;
Luận văn thạc sĩ “Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam” của Lê Đăng
Doanh; “Chủ thể đặc biệt trong luật hình sự Việt Nam” của Nguyễn Thị Hiền; “Bàn về
2
vấn đề quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm trong BLHS Việt Nam” của Phạm
Xuân Khoa, “Bàn về chủ thể của tội tham ô tài sản trong BLHS năm 1999” của
Trương Thị Hằng. Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí Công an
nhân dân, Tòa án nhân dân, Dân chủ và pháp luật, Kiểm sát như: “Nghiên cứu phạm
vi chủ thể của tội phạm rửa tiền trong Luật hình sự Việt Nam” của Nguyễn Ngọc
Minh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, năm 2011, tr. 9-14; “Chủ thể của tội phạm qua
so sánh pháp luật hình sự nước ta với pháp luật hình sự một số nước thuộc hệ
thống châu Âu lục địa” của Hồ Sĩ Sơn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2, năm
2008, tr. 68-72; “Pháp nhân có là chủ thể của tội phạm hay không” của Phạm Hồng
Hải, Tạp chí Luật học, năm 1999, tr. 14-19; “Phạm vi chủ thể của tội phạm BLHS
1999 và một số vấn đề trong công tác điều tra hình sự” của Bùi Kiên Điện, Tạp chí
Luật học, số 4, năm 2000, tr. 7-11; “Bàn về vấn đề quy định pháp nhân là chủ thể
trong BLHS Việt Nam”của Phạm Xuân Khoa, Tạp chí Kiểm sát, số 4, năm 2013, tr.
13-15,23; GS.TS Võ Khánh Vinh (2013) “Lý luận chung về định tội danh”, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội cũng đề cập đến vấn đề này.
Các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến góc độ lý luận chung về yếu tố
chủ thể của tội phạm, ở nhiều bài viết, nhiều công trình phần chủ thể của tội phạm còn
mang tính tham khảo, phần nghiên cứu cũng chưa giải quyết được những hạn chế của
Luật về vấn đề chủ thể của tội phạm, các quy định về vấn đề chủ thể của tội phạm còn
nằm rải rác ở các quy định của luật, nhiều chỗ còn thể hiện gián tiếp, chưa có công
trình nghiên cứu nào mang tính chuyên sâu, tổng hợp, có tính hệ thống về chủ thể của
tội phạm.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Chủ thể của tội phạm theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” cần tiếp tục được nghiên cứu,
để có những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
của pháp luật trên thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả đặt ra các mục đích cần phải đạt được là nghiên cứu các
vấn đề lý luận của chủ thể tội phạm, các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về
3
chủ thể của tội phạm; nghiên cứu việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng; từ đó, đưa ra những vướng
mắc và khó khăn trong việc áp dụng các quy định của chủ thể tội phạm trong pháp luật
hình sự Việt Nam và những kiến nghị nhằm khắc phục.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả đặt ra nhiệm vụ cần giải quyết như sau:
– Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về chủ thể của tội phạm theo
pháp luật hình sự Việt Nam.
– Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể
trong hoạt động áp dụng pháp luật ở thành phố Đà Nẵng.
– Nghiên cứu các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật
hình sự về chủ thể của tội phạm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ thể của tội phạm theo pháp luật
hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
chủ thể của tội phạm. Dựa trên thực tế áp dụng tại thành phố Đà Nẵng tìm ra những
vướng mắc, khó khăn trong quá trình áp dụng, từ đó đề xuất một số quan điểm quy
định cụ thể hơn về chủ thể của tội phạm.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh
phòng và chống tội phạm, quan điểm và đường lối chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước về chính sách hình sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã có sự kết hợp nhiều phương
pháp khác nhau, như khảo sát thực tiễn, thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, phương
4
pháp điều tra xã hội học, …
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn thạc sĩ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện
có hệ thống dưới góc độ pháp luật TTHS về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình
sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, luận văn có thể được dùng làm tài liệu
tham khảo trong quá trình học tập và nghiên cứu của học viên, làm phong phú thêm lý
luận khoa học luật hình sự về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam đã được nhiều tác giả đề
cập trong các bài viết trên sách, báo, các bài luận văn. Tuy nhiên, tác giả dựa trên lý
luận và thực tiễn từ thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 đến 2016 để nghiên cứu và đề
xuất một số giải pháp nhằm áp dụng thống nhất và phù hợp với tiến trình hội nhập
quốc tế của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được cơ cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về chủ thể của tội phạm theo
pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể
trong hoạt động áp dụng pháp luật ở thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật
hình sự về chủ thể của tội phạm
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ
CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Những vấn đề lý luận về chủ thể của tội phạm
1.1.1. Khái niệm chủ thể của tội phạm
Tội phạm trước hết là một hành vi. Chính vì thế, tội phạm bao giờ cũng được
thực hiện bởi chủ thể xác định. Không thể có hành vi xuất hiện ngoài thế giới khách
quan mà không có chủ thể. Các tác động trong thế giới vật chất gây ra những thiệt hại
đáng kể như sấm sét, lũ lụt, núi lửa, động đất… xảy ra tự nhiên thì không được coi
là hành vi. Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội
thì: Hành vi được hiểu là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài
của một con người trong một hoàn cảnh cụ thể [62, tr.23]. Như vậy, tội phạm phải
có chủ thể thực hiện. Luật hình sự trong mọi thời điểm lịch sử đều xây dựng trên
nguyên tắc này. Chủ thể của tội phạm cùng với các yếu tố khách thể, mặt khách
quan, mặt chủ quan của tội phạm cấu thành nên tội phạm. Do đó để xác định một
hành vi có là tội phạm hay không thì chúng ta phải xét đến việc hành vi đó có đủ
các yếu tố cấu thành tội phạm trên không? Nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì
khó có thể coi đó là tội phạm và không thể truy cứu TNHS đối với người thực hiện
hành vi nói trên.
Trong những điều kiện lịch sử khác nhau, chủ thể của tội phạm có thể được xem
là khác nhau, phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị. Ở mỗi một quốc gia khác
nhau trên thế giới thì quy định có sự khác nhau về khái niệm chủ thể của tội phạm
trong luật hình sự.
Theo quan điểm truyền thống thì: Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực TNHS và đạt độ
tuổi do luật hình sự quy định [45, tr.56].
Tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi một người cụ thể, bởi vì chỉ có
con người cụ thể mới có thể thực hiện được một hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong luật hình sự, mới thể hiện được yếu tố lỗi, có thể chịu trách nhiệm cá
nhân cũng như mới thực hiện được các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng trị
và giáo
6
dục, cải tạo mà Nhà nước đã quy định. Do vậy, con người cụ thể thực hiện tội phạm
được gọi là chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể, đang
sống.
Như vậy, để được coi là chủ thể của tội phạm, người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hay vô ý phải: (1) có đủ năng lực TNHS, (2) đạt
độ tuổi nhất định theo luật hình sự quy định. Đây là hai dấu hiệu pháp lý bắt buộc
trong chủ thể của tội phạm ở mọi cấu thành tội phạm, nếu thiếu một trong hai dấu
hiệu này thì không thể coi là chủ thể của tội phạm mà không có chủ thể thì không thể
cấu thành tội phạm.
Bên cạnh các quan điểm truyền thống khi thừa nhận chủ thể của tội phạm là một
thể nhân, hiện nay đã xuất hiện một số học thuyết mới như học thuyết trách nhiệm thay
thế, học thuyết đồng nhất hóa và học thuyết văn hóa pháp nhân đã chỉ ra rằng pháp
nhân có thể là chủ thể của tội phạm. Theo đó, pháp nhân không phải là một thực thể
pháp lý trừu tượng mà pháp nhân là một thực thể xã hội, do đó, pháp Luật hình sự của
một số nước trên thế giới không chỉ dừng lại ở việc xem xét chủ thể của tội phạm là cá
nhân con người mà họ còn xem xét các tổ chức (organization). Theo họ, các tổ chức
mà pháp luật gọi là pháp nhân (legal person) cũng có ðủ tý cách và ðiều kiện trở thành
chủ thể của tội phạm và phải chịu hình phạt. Trên thực tế, hiện nay nhiều quốc gia như
Trung Quốc, Singapore, Úc, Pháp… đã xem pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Việc
truy cứu trách nhiệm đối với pháp nhân là xuất phát từ thực tế: một số công ty, tập
đoàn tư bản vì mục tiêu lợi nhuận, làm giàu một cách nhanh chóng đã sẵn sàng phạm
tội (gây ô nhiễm môi trường, trốn thuế, buôn lậu…). Nếu chỉ xử lý một vài cá nhân với
tư cách là người lãnh đạo, điều hành hoạt động của pháp nhân thì chưa triệt để. Hơn
nữa những cá nhân này nhân danh pháp nhân để phạm tội là mang lợi ích cho toàn
công ty chứ không riêng gì lợi ích của bản thân họ. Chính vì vậy, bên cạnh việc truy
cứu TNHS đối với người đại diện của pháp nhân, đòi hỏi phải truy cứu TNHS đối với
pháp nhân đó bằng các biện pháp như phạt tiền, cấm hoặc hạn chế kinh doanh trong
một số lĩnh vực nhất định, buộc phải giải thể… với tư cách là một biện pháp cưỡng
chế hình sự.
Như vậy, chủ thể của tội phạm hiện nay trên thế giới được thừa nhận rộng hơn
7
vừa là cá nhân vừa có thể là pháp nhân. Việc các quốc gia quy định chủ thể của tội
phạm chỉ là cá nhân hay vừa là cá nhân vừa là pháp nhân nó phụ thuộc vào quan
điểm pháp luật, nhu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như trình độ phát
triển của mỗi quốc gia. BLHS Việt Nam năm 2015 cũng đã quy định chủ thể của
tội phạm là pháp nhân thương mại, việc quy định chủ thể tội phạm là pháp nhân
thương mại đã góp phần đưa pháp luật hình sự của nước ta hội nhập với quốc tế và
là một bước phát triển mới của pháp luật hình sự Việt Nam.
Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đang tiến hành công cuộc
đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với những chính sách
kinh tế thông thoáng, Đà Nẵng ngày càng thu hút nhiều đầu tư trong và ngoài nước,
phát triển mạnh về kinh tế công nghiệp cũng như du lịch…
Theo con số thu thập được, tính đến năm 2015 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
có hơn 13.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Có thể nói doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng cũng góp phần vào
công cuộc đổi mới, đưa thành phố Đà Nẵng phát triển và tạo việc làm cho người lao
động. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy không ít tổ chức kinh tế vì chạy theo lợi nhuận cục
bộ đã có sự thông đồng từ người phụ trách đến nhân viên, thực hiện nhiều hành vi trái
pháp luật mang tính chất tội phạm đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế như trốn lậu thuế,
kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu hoặc vì lợi ích cục bộ nhất thời mà không thực
hiện các biện pháp mà pháp luật đòi hỏi để bảo vệ môi trường, gây ra nhiều hậu quả
nghiêm trọng. Thời gian gần đây, như chúng ta đã biết, việc doanh nghiệp Fomosa đã
có hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường biển khu vực ven biển Duyên
hải Miền Trung trong đó có môi trường biển thành phố Đà Nẵng nhưng cho đến nay
vẫn chưa điều tra làm rõ trách nhiệm này đối với cá nhân cũng như đối với pháp nhân
nào.
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, theo thống kê của tác giả từ việc phân tích số
liệu của TAND thành phố Đà Nẵng thì nhận thấy, tỷ lệ pháp nhân thực hiện hành vi
phạm tội cũng tương đối nhiều nhưng chỉ tham gia trong vụ án với vai trò của bị đơn
dân sự đối với yêu cầu về bồi thường thiệt hại. Theo thống kê từ năm 2012 đến năm
2016 có 46 trường hợp pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
8
người có thẩm quyền gây ra, tập trung chủ yếu ở các vụ án vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ hoặc các tội về lừa đảo, lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản, các tội phạm khác về kinh tế, chức vụ nhằm mục đích
sinh lợi nhuận cho pháp nhân.
Có thể nhận thấy tình hình kinh tế càng phát triển thì tình hình tội phạm do
pháp nhân, tổ chức thực hiện ngày càng tăng và càng nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu pháp
nhân chỉ chịu trách nhiệm bồi thường đối với người đứng đầu, người có quyền gây ra
thì cần thiết phải quy định pháp nhân thương mại là chủ thể chịu TNHS là phù hợp với
tiến trình hòa nhập quốc tế hiện nay.
1.1.2. Các loại chủ thể của tội phạm
Trước đây, khi chưa ban hành BLHS năm 2015, theo quan điểm truyền thống
của pháp luật hình sự, chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam chỉ có thể
là cá nhân và chủ thể đặc biệt. Có nhiều quan điểm khác nhau về loại chủ thể của tội
phạm. Tuy nhiên, theo tác giả hiện nay có 3 loại chủ thể của tội phạm. Đó là: cá nhân,
pháp nhân thương mại và chủ thể đặc biệt.
Chủ thể của tội phạm là cá nhân:
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể nhưng không phải ai cũng có thể trở
thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi được quy định trong luật hình sự. Tội
phạm theo luật hình sự Việt Nam phải có tính có lỗi. Để có thể có lỗi khi thực hiện
hành vi khách quan đòi hỏi chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực nhận thức
và năng lực điều khiển hành vi theo yêu cầu của xã hội. Hai năng lực này có thể được
gọi chung trong luật hình sự là năng lực lỗi. Tuy nhiên, không phải ai có năng lực lỗi
đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm và phải chịu TNHS. TNHS được Nhà nước
quy định và thể hiện chính sách hình sự của quốc gia, trong đó có chính sách về độ
tuổi phải chịu TNHS. Theo đó, chủ thể của tội phạm còn đòi hỏi phải đạt độ tuổi chịu
TNHS.
Như vậy, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực lỗi và đạt độ tuổi
chịu TNHS. Người thỏa mãn cả hai điều kiện này được coi là người có năng lực
TNHS. Trong đó, năng lực lỗi và năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi
và năng lực điều khiển được hành vi theo đòi hỏi của xã hội, còn độ tuổi chịu TNHS
là độ tuổi
9
được luật hình sự quy định tùy thuộc vào chính sách hình sự của quốc gia vào từng
thời điểm.
Xét về độ tuổi chịu TNHS, sẽ được chia thành các mốc tuổi như sau:
Theo quy định BLHS năm 2015, tuổi chịu TNHS được quy định như sau :
– Dưới 14 tuổi: Không phải chịu TNHS.
– Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ
13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội
phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các
điều sau đây:
1/ Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua
bán người dưới 16 tuổi);
2/ Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173
(tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
3/ Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép
chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán
trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
4/ Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);
5/ Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị,
phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương
trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện
điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng
viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy
tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử
dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản);
6/ Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương
tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
10
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân
sự).
+ Không áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi trở lên
nhưng chưa đủ 16 tuổi.
– Từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: phải chịu TNHS về mọi tội phạm tuy
nhiên không áp dụng xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, đối với hình phạt tù thì được
hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng.
– Từ đủ 18 tuổi: phải chịu TNHS với mọi loại tội phạm, và các tất cả các mức
hình phạt.
Chủ thể đặc biệt của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm thông thường đòi hỏi phải đáp ứng dấu hiệu năng
lực TNHS. Tuy nhiên, đối với một số tội phạm cụ thể thì người thực hiện hành vi cần
phải có những dấu hiệu đặc trưng khác mà không có nó thì người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội không thể trở thành chủ thể của tội phạm đó được. Những chủ
thể đòi hỏi dấu hiệu đặc biệt này gọi là chủ thể đặc biệt. Như vậy, chủ thể đặc biệt =
chủ thể thường + các dấu hiệu đặc biệt. Quy định về chủ thể đặc biệt của tội phạm
xuất phát từ một thực tế là có những hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể được
thực hiện bởi những người có đặc điểm riêng biệt. Những dấu hiệu đặc biệt có thể
thuộc một trong các dạng sau:
Các dấu hiệu liên quan đến chức vụ quyền hạn: Đòi hỏi chủ thể phải là người
có chức vụ, quyền hạn trong các tội phạm về tham nhũng quy định tại Mục 1 của
Chương XXIII Các tội phạm về chức vụ và các tội phạm khác như tội Thiếu trách
nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng tại Điều 360 BLHS năm 2015, tội cố ý làm lộ bí mật
công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác tại Điều 361
BLHS năm 2015, tội vô ý làm lộ bí mật công tác, tội làm mất mát tài liệu bí mật công
tác tại Điều 362 BLHS năm 2015, tội đào nhiệm tại Điều 363 BLHS 2015 là những
người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng
lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có
quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Như vậy, những người có chức vụ
quyền hạn phải là người có chức vụ nào đó trong bộ máy công quyền, trong các cơ
11
quan quản lý nhà nước, trong các tổ chức chính trị – xã hội, trong các doanh nghiệp…
Chẳng hạn, ông phó chủ tịch, ông chủ tịch Ủy ban nhân dân từ cấp phường, xã trở
lên, lãnh đạo ngành thuế từ cấp đội phó, đội trưởng đội thu thuế trở lên. Các dấu hiệu
liên quan đến nghề nghiệp công việc, các chủ thể của các tội này phải là những
người có một công việc nhất định. Luật quy định rằng những người có những
công việc này thực hiện các hành vi phạm tội xuất phát từ tính chất công việc họ
đang làm như các tội phạm quy định về cho vay trong các tổ chức tín dụng, tội làm
sai lệch hồ sơ vụ án thì chủ thể phải là những người THTT…
Các dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện như là việc không cứu giúp
người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng hay tội trốn tránh nghĩa vụ
quân sự hay tội không chấp hành án… những chủ thể của các tội này phải là người có
nghĩa vụ phải thực hiện nhưng do họ không thực hiện, do đó họ phải chịu TNHS nếu
tội phạm đã được cấu thành.
Các dấu hiệu liên quan đến tuổi, yếu tố độ tuổi quyết định đến việc thõa mãn
yếu tố cấu thành các tội phạm luật định ngoài việc thỏa mãn các dấu hiệu của chủ thể
thường như các hành vi phạm tội của các tội phạm giao cấu với trẻ em, dâm ô với trẻ
em chủ thể phải là người đã thành niên, còn người chưa thành niên không là chủ thể
của tội này…
Các dấu hiệu liên quan đến giới tính, quan hệ họ hàng. Chủ thể của tội này về
giới tính phải là nam giới như tội hiếp dâm, tội diếp dâm trẻ em… (theo quan điểm của
một số tác giả). Về quan hệ gia đình, họ hàng một số tội đòi hỏi họ phải là người có
quan hệ thân thích, họ hàng như trong mối quan hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái, cháu
người có công nuôi dưỡng mình… như các tội loạn luân, tội ngược đãi hoặc hành hạ
ông bà, cha mẹ, vợ chồng… chủ thể phải là những người có quan hệ gia đình, họ
hàng.
Các đặc điểm của chủ thể đặc biệt là bắt buộc và có ý nghĩa quyết định trong
việc định tội. Tuy nhiên, đối với các vụ phạm tội do đồng phạm, các dấu hiệu của các
chủ thể đặc biệt chỉ đòi hỏi với những người thực hành, những người khác không cần
các dấu hiệu đặc biệt của tội phạm đó.
12
Chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại:
Quan điểm coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm đã có từ lâu và hiện nay nó đã
được chính thức thừa nhận ở một số quốc gia trong đó có cả những quốc gia từ trước
tới nay không những không thừa nhận mà thậm chí còn phê phán. Những quốc gia có
pháp luật hình sự coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm là những quốc gia có nền kinh
tế phát triển hoặc đang phát triển. Các loại hình tổ chức ở mỗi quốc gia rất đa dạng,
trong đó có pháp nhân. Pháp nhân cũng gồm nhiều loại khác nhau như pháp nhân
theo luật công, pháp nhân theo luật tư, pháp nhân gắn với mục đích lợi nhuận và
pháp nhân không có mục đích lợi nhuận… Bên cạnh các pháp nhân còn có nhiều
loại hình tổ chức khác không phải là pháp nhân như doanh nghiệp tư nhân, hiệp hội,
câu lạc bộ… Tất cả các loại hình tổ chức này đều là chủ thể của quan hệ pháp luật
nhưng không phải tất cả đều cần được xác định là chủ thể của tội phạm. Mỗi quốc gia
cần xác định rõ phạm vi các tổ chức có thể là chủ thể của tội phạm để đảm bảo việc
xác định này phù hợp với thực trạng vi phạm pháp luật và các điều kiện thực tế khác
của quốc gia mình. Theo đó, các tổ chức có thể là chủ thể của tội phạm theo Pháp là
các pháp nhân (trừ Nhà nước); theo Áo là pháp nhân, các công ty hợp danh, các hiệp
hội vì lợi ích kinh tế Châu Âu và theo Thụy Sỹ là pháp nhân theo luật tư, pháp nhân
theo luật công (trừ các tổ chức vùng lãnh thổ), các công ty, các doanh nghiệp tư nhân,
theo Trung Quốc là công ty, xí nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể.
Việc xác định phạm vi pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm là quyền lựa
chọn của mỗi quốc gia. Việt Nam ban hành BLHS năm 2015 chỉ quy định pháp nhân
thương mại là chủ thể của tội phạm.
Một pháp nhân thương mại trở thành chủ thể của tội phạm khi thỏa mãn một
trong các điều kiện sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ được pháp luật quy định cho pháp nhân thương mại không
được thực hiện và vi phạm nghĩa vụ này ở mức độ nghiêm trọng. Ví dụ: Doanh nghiệp
không thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước hay nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội
cho người lao động. Đây là các nghĩa vụ được quy định trực tiếp cho doanh nghiệp, là
nghĩa vụ của doanh nghiệp. Khi không thực hiện nghĩa vụ này ở mức độ nghiêm trọng,
doanh nghiệp có thể là chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự quy định. Về hình
13
thức, việc vi phạm pháp luật của tổ chức được thể hiện qua hành vi của cá nhân đại
diện, còn về bản chất, hành vi không thực hiện nghĩa vụ của chủ thể là cá nhân đại
diện cũng chính là hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể là pháp nhân.
Trong trường hợp này, nghĩa vụ của pháp nhân và việc pháp nhân vi phạm
nghĩa vụ này là rõ ràng; hành vi vi phạm nghĩa vụ của pháp nhân được thể hiện qua
hành vi phạm tội của người đại diện pháp nhân, hai hành vi này đồng nhất với nhau. Ở
đây, pháp nhân là chủ thể thực hiện nghĩa vụ cũng như là chủ thể vi phạm nghĩa vụ và
do vậy cũng là chủ thể của tội phạm đồng thời là chủ thể trực tiếp của tội phạm. Người
đại diện là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của pháp nhân nên
cũng phải chịu TNHS cùng với pháp nhân.
Thứ hai, pháp nhân là chủ thể của tội phạm trong trường hợp thành viên của tổ
chức đã phạm tội nhưng tội phạm được thực hiện là nhân danh và có lợi cho tổ chức.
Ví dụ: Người của pháp nhân đã nhân danh pháp nhân đưa hối lộ cho quan chức để
được giải quyết công việc của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, hành vi phạm tội
không phải là hành vi vi phạm nghĩa vụ của pháp nhân như trường hợp thứ nhất mà là
hành vi của cá nhân cụ thể, phạm điều cấm của pháp luật hình sự. Như vậy, hành vi
phạm tội là hành vi của thành viên tổ chức. Tuy nhiên, hành vi phạm tội có những dấu
hiệu đặc biệt liên quan đến pháp nhân và vì những dấu hiệu này mà chủ thể của tội
phạm được quy định cho cả pháp nhân. Ở đây có mối quan hệ giữa thành viên của
pháp nhân với pháp nhân về tội phạm đã thực hiện và TNHS đối với tội phạm đó.
Hành vi phạm tội là hành vi của cá nhân cụ thể, họ là chủ thể của tội
phạm nhưng pháp nhân cũng là chủ thể của tội phạm về tội phạm này vì tội phạm
được thực hiện nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân, thể hiện “lý trí” và “ý chí” của
pháp nhân. Theo đó, có thể coi hành vi mà thành viên đã thực hiện cũng là hành vi của
pháp nhân. Như vậy, hành vi của thành viên pháp nhân có thể được coi là hành vi
của pháp nhân khi hành vi đó thỏa mãn hai dấu hiệu: Nhân danh tổ chức và vì lợi ích
của tổ chức. Để đảm bảo tính “nhân danh” đòi hỏi người thực hiện tội phạm phải là
người lãnh đạo hoặc thuộc cơ quan lãnh đạo của pháp nhân, có quyền quyết định
hoạt động của pháp nhân. Họ có thể trực tiếp thực hiện hoặc giao cho người khác
thực hiện. Hành vi tự ý của các thành viên bình thường của pháp nhân không thể là
hành vi nhân danh pháp
14
nhân. Đặc điểm nhân danh pháp nhân là điều kiện cần cho việc xác định hành vi cụ thể
được coi là hành vi của pháp nhân nhưng chưa phải là điều kiện đủ. Hành vi nhân
danh pháp nhân chỉ được coi là hành vi của pháp nhân khi hành vi được thực hiện là
có lợi hoặc nhằm có lợi cho pháp nhân. Qua đó, pháp nhân có thể nhận được lợi ích
vật chất, lợi ích tinh thần hoặc lợi thế nhất định. Khi hành vi phạm tội được thực
hiện nhân danh pháp nhân nhưng không vì lợi ích của pháp nhân mà vì lợi ích của cá
nhân hoặc nhóm cá nhân thì hành vi đó không thể được coi là hành vi của pháp nhân
nên không thể xem pháp nhân là chủ thể của tội phạm về hành vi phạm tội này.
Thứ ba, pháp nhân là chủ thể của tội phạm trong trường hợp thành viên của
pháp nhân đã phạm tội khi thực hiện công việc được tổ chức giao và việc phạm tội này
có lỗi của pháp nhân. Ví dụ: Trong khi thực hiện công việc được doanh nghiệp giao,
người thực hiện đã gây hỏa hoạn dẫn đến chết người, hủy hoại tài sản của người khác.
Trong trường hợp này, hành vi phạm tội không phải là hành vi vi phạm nghĩa vụ của
pháp nhân như trường hợp thứ nhất và cũng không phải là hành vi nhân danh và vì lợi
ích của pháp nhân như trường hợp thứ hai. Tuy nhiên, hành vi phạm tội này cũng có
dấu hiệu đặc biệt liên quan đến pháp nhân tổ chức và vì những dấu hiệu này mà pháp
nhân có thể chịu TNHS. Trước hết, hành vi phạm tội xảy ra trong khi người phạm tội
thực hiện công việc của pháp nhân và quan trọng hơn, hành vi phạm tội đã xảy ra có
nguyên nhân từ phía pháp nhân. Pháp nhân đã không thực hiện đầy đủ trách nhiệm
phòng ngừa hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra từ hoạt động của các thành viên (và cũng
là hoạt động của pháp nhân). Do vậy, xác định pháp nhân là chủ thể của tội phạm
trong trường hợp này là có cơ sở và cần thiết để răn đe pháp nhân, buộc pháp nhân
phải có biện pháp phòng ngừa hành vi có thể tái diễn trong tương lai.
Như vậy, trong trường hợp thứ ba, việc xác định pháp nhân có phải là chủ thể
của tội phạm hay không phải dựa vào cơ sở thiệt hại đã xảy ra trong hoạt động của
pháp nhân mà nguyên nhân của thiệt hại có phần do sai phạm của pháp nhân. Ở đây có
sự độc lập tương đối giữa sai phạm của thành viên pháp nhân và sai phạm của cả pháp
nhân. Do vậy, TNHS của pháp nhân cũng có sự độc lập tương đối với TNHS của thành
viên pháp nhân.
15
1.1.3. Chủ thể trong cấu thành tội phạm
Cấu thành tội phạm bắt buộc là những yếu tố đặc trưng của các loại tội phạm cụ
thể được quy định trong BLHS, chỉ khi nào có đầy đủ các dấu hiệu bắt buộc này thì
hành vi vi phạm pháp luật mới được coi là hành vi phạm tội. Những dấu hiệu bắt buộc
bao gồm: khách thể, khách quan, chủ thể, chủ quan.
Chủ thể của tội phạm là một cá nhân có khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi của mình và có độ tuổi chịu TNHS. Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của
mình gọi chung là năng lực lỗi và độ tuổi chịu TNHS là hai dấu hiệu của chủ thể của
tội phạm, đây là hai dấu hiệu bắt buộc của CTTP. Ngoài hai dấu hiệu về chủ thể có
tính chất chung cho tất cả các tội phạm và phải có trong tất cả các CTTP, ở một số
CTTP còn có dấu hiệu riêng khác về chủ thể của tội phạm vì chỉ khi có dấu hiệu đó thì
chủ thể mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội nhất định hoặc vì Nhà nước giới
hạn phạm vi phải chịu TNHS về một số tội phạm chỉ đối với chủ thể có đặc điểm nhất
định đó.
Trong ba loại dấu hiệu của chủ thể tội phạm, dấu hiệu có tính chất chung cho tất
cả các tội phạm – năng lực lỗi và tuổi chịu TNHS được mô tả chung trong các điều luật
phần chung của BLHS với hai cách mô tả khác nhau. Tuổi chịu TNHS được quy định
trực tiếp trong điều luật; còn năng lực lỗi được quy định gián tiếp qua quy định về tuổi
chịu TNHS và quy định về tình trạng không có năng lực lỗi.
Luật hình sự không trực tiếp quy định năng lực lỗi mà chỉ quy định tuổi chịu
TNHS và tình trạng không có năng lực lỗi, qua đó gián tiếp quy định năng lực lỗi.
Với cách quy định các dấu hiệu chung của chủ thể của tội phạm, việc kiểm tra
yếu tố chủ thể của tội phạm trong áp dụng đã được đơn giản hóa, người áp dụng chỉ
phải xác định độ tuổi và cá biệt nếu có nghi ngờ mới phải kiểm tra tình trạng không có
năng lực lỗi.
Tình trạng không có năng lực lỗi được quy định trong luật hình sự qua việc mô
tả hai dấu hiệu của tình trạng này là dấu hiệu y học (mắc bệnh) và dấu hiệu tâm lý (mất
năng lực lý trí hoặc mất năng lực ý chí), điều này được quy định tại Điều 21 BLHS
năm 2015: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh
tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
16
vi của mình, thì không phải chịu TNHS”.
Tóm lại, hai dấu hiệu của chủ thể của tội phạm là năng lực TNHS và đạt độ tuổi
chịu TNHS được quy định trong các điều luật phần chung của luật hình sự và quy định
này có giá trị chung cho tất cả các CTTP. Việc quy định chủ thể của tội phạm theo
cách này tránh cho các CTTP khi mô tả tội phạm đều phải nhắc lại các dấu hiệu chung
của chủ thể của tội phạm. Trong CTTP, các dấu hiệu này được thể hiện đơn giản qua
khái niệm “người nào”. Khái niệm này chứa đựng tất cả nội dung của hai dấu hiệu
chung của chủ thể của tội phạm.
Ngoài hai dấu hiệu có tính chất chung cho tất cả các CTTP, chủ thể của tội
phạm còn được mô tả thêm dấu hiệu đặc biệt khác trong một số CTTP. Đó là những
CTTP phản ánh các tội phạm có chủ thể đặc biệt và các tội phạm có chủ thể hạn chế.
Trong CTTP phản ánh tội phạm có chủ thể đặc biệt, nhà làm luật phải mô tả
thêm dấu hiệu đặc biệt của “người nào” để với dấu hiệu đó họ mới có thể thực hiện
được hành vi phạm tội được mô tả trong CTTP. Dấu hiệu đó có thể là:
– Chức vụ, quyền hạn như ở các tội về tham nhũng (tội tham ô tài sản, tội nhận
hối lộ…); các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (tội truy cứu TNHS người không có
tội, tội ra bản án trái pháp luật…);
– Trách nhiệm, nghĩa vụ như ở các tội xâm phạm trách nhiệm, nghĩa vụ của
quân nhân (tội chống mệnh lệnh, tội đào ngũ…); tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự; tội
không chấp hành án…;
– Dấu hiệu về giới (tội hiếp dâm); về quan hệ gia đình (tội loạn luân)…
Trong CTTP phản ánh tội có chủ thể hạn chế, nhà làm luật phải mô tả thêm dấu
hiệu hạn chế của “người nào” để với dấu hiệu đó phạm vi người có thể là chủ thể của
tội phạm được xác định. Sự giới hạn phạm vi chủ thể ở đây chủ yếu là xuất phát từ
chính sách hình sự của Nhà nước. Ví dụ: CTTP tội dâm ô đối với trẻ em giới hạn phạm
vi chủ thể của tội này phải là người thành niên;…
Như vậy, việc xác định chủ thể của tội phạm rất quan trọng trong việc xác
định CTTP. Một hành vi không thể được coi là tội phạm nếu chủ thể thực hiện
hành vi không phải là chủ thể của tội phạm.
17
1.2. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm
1.2.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về năng lực chịu trách
nhiệm hình sự
Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người có lỗi khi
họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ người có năng lực TNHS mới có thể
là chủ thể của tội phạm.
BLHS 2015 quy định chủ thể của tội phạm bao gồm con người và pháp nhân
thương mại.
Năng lực TNHS của cá nhân bao gồm năng lực nhận thức hành vi nguy hiểm
cho xã hội của mình, khả năng điều khiển hành vi đó và khả năng gánh lấy hậu quả
pháp lý là TNHS từ hành vi nguy hiểm gây ra. Như vậy, năng lực TNHS được hợp
thành từ hai yếu tố: (1) khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi và (2) tuổi
chịu TNHS.
(1) Khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Một người có thể là
chủ thể của tội phạm phải có khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành
vi của mình và khả năng điều khiển hành vi đó (khả năng kiềm chế hành vi nguy hiểm
cho xã hội của mình và lựa chọn một hành vi khác trong khi có đủ điều kiện lựa chọn)
theo những yêu cầu chung của xã hội. Năng lực nhận thức có ở mỗi con người từ khi
mới sinh ra. Nó phát triển và hoàn thiện theo sự phát triển của cấu tạo sinh học cơ thể
con người qua quá trình lao động và giáo dục trong xã hội. Đến một thời điểm nhất
định trong đời sống của con người thì năng lực này mới được xem là tương đối đầy đủ.
(2) Tuổi chịu TNHS được quy định dựa trên cơ sở này. Như vậy, năng
lực TNHS hình thành trên hai cơ sở: sự phát triển sinh học của cơ thể và đời sống xã
hội. Con người sống trong xã hội trong một thời gian xác định sẽ nhận thức được
những yêu cầu tất yếu của xã hội. Những yêu cầu đó là những đối tượng mà luật hình
sự bảo vệ. Tuy nhiên, sự phát triển sinh học của con người cũng rất quan trọng vì
đôi khi nó loại bỏ một phần hoặc hoàn toàn năng lực nhận thức (do các bệnh gây
rối loạn hoạt động của bộ não). Vì vậy, BLHS đã quy định các trường hợp mất khả
năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. BLHS không quy định một người
như thế nào là thoả mãn điều kiện về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển
hành vi mà chỉ đề cập
18
BLTTHSBộ luật tố tụng hình sựCQĐTCơ quan điều traCTNChưa thành niênCTTPCấu thành tội phạmTATòa ánTANDTòa án nhân dânTHTTTiến hành tố tụngTNHSTrách nhiệm hình sựTTHSTố tụng hình sựTPThành phốTTHSTố tụng hình sựVKSNDViện kiểm sát nhân dânVKSNDTCViện kiểm sát nhân dân tối caoVAHSVụ án hình sựXHCNXã hội chủ nghĩaMỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiBộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phát hành từnăm 1985, là công cụ sắc bén của Nhà nước trong quản trị xã hội, phòng ngừa vàđấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ vững bảo mật an ninh chính trị, trật tự bảo đảm an toàn xã hội, bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, của những tổ chức triển khai và công dân, góp thêm phần có hiệu quảtrong sự nghiệp kiến thiết xây dựng và bảo vệ vững chãi Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trải qua 30 năm thi hành, Bộ luật hình sự có nhiều lần sửa đổi, bổ trợ ( vàocác năm 1989, 1991, 1992, 1997, 1999 và 2009 ), gần đây nhất là Bộ luật hình sự năm2015 nhưng chưa được thi hành. Việc liên tục sửa đổi, bổ trợ nhằm mục đích giúp BLHS ngàycàng triển khai xong cung ứng nhu yếu thực tiễn, nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh trongđời sống xã hội cần được những quy phạm pháp luật của BLHS kiểm soát và điều chỉnh, nhiều quan hệxã hội có sự đổi khác yên cầu luật phải kiểm soát và điều chỉnh cho tương thích. Một trong những nội dung quan trọng của luật hình sự đó là yếu tố cấu thànhtội phạm, việc xem xét cấu thành tội phạm giúp xác lập một hành vi do một chủ thểnào đó triển khai có xâm hại khách thể được luật hình sự bảo vệ hay không, quan hệ xãhội đó có chịu sự kiểm soát và điều chỉnh của những quy phạm pháp luật hình sự hay không, chủ thểthực hiện hành vi có phải chịu nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự hay không … Việc xác lập chínhxác những yếu tố cấu thành tội phạm giúp việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội. Trong những yếu tố cấuthành tội phạm, chủ thể của tội phạm là yếu tố có vai trò quan trọng, tuy không phải làyếu tố tiên phong được xem xét trong cấu thành tội phạm nhưng lại là yếu tố có tính chấtxuất phát điểm của những yếu tố khác. Không có con người với tư cách là chủ thể củahành vi, chủ thể của hoạt động giải trí thì không có hành vi nguy hại cho xã hội, không phảixem xét đến những yếu tố của mặt chủ quan, không có khách thể nào bị nguy khốn cho xãhội tác động ảnh hưởng đến. Không có chủ thể của tội phạm thì cũng không diễn ra những hoạt độngtố tụng có tương quan. Chủ thể của tội phạm có những đặc thù, tín hiệu chung trên cơsở những pháp luật có tính bắt buộc của luật hình sự. Luật hình sự pháp luật cụ thểnhững đặc thù, tín hiệu này mà chỉ khi thỏa mãn nhu cầu những tín hiệu đó thì một người mớiphải chịu nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự. Việc xác lập chủ thể của tội phạm góp thêm phần quantrọng trong việc xác lập người phạm tội, tội phạm, khung hình phạt và truy cứuTNHS so với một cá thể nhất định. Xác định được tầm quan trọng của chủ thể của tội phạm như vậy, những nhà làmluật đã không ngừng điều tra và nghiên cứu và triển khai xong hơn pháp luật hình sự Nước Ta vềchủ thể của tội phạm. BLHS Nước Ta hiện hành nhìn chung đã lao lý tương đốiđầy đủ về chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, xã hội ngày càng tăng trưởng nên những quyđịnh của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm dần phát sinh những chưa ổn, vướng mắc không hề vận dụng hoặc vận dụng không tương thích. Vẫn còn nhiều quanđiểm khác nhau trong quy trình vận dụng những lao lý của pháp luật hình sự về việcquy định trong chủ thể của tội phạm như những yếu tố về năng lượng chịu TNHS, độ tuổichịu TNHS, nhân thân của người phạm tội trong những loại tội phạm thường thì và cáctội phạm đặc biệt quan trọng. Thành phố Thành Phố Đà Nẵng là một trong năm thành phố thường trực Trung ương, làtrung tâm kinh tế tài chính, chính trị, văn hóa truyền thống của khu vực miền Trung, Tây nguyên. Thành phốcó diện tích quy hoạnh tuy không lớn nhưng dân số càng lúc càng tăng với nhiều thành phần laođộng khác nhau, những mối quan hệ xã hội phức tạp kéo theo mức độ tội phạm ngày càngtăng, số lượng những loại án hình sự diễn ra ngày càng nhiều và với đặc thù phức tạp. Trong quy trình vận dụng những lao lý của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạmcũng phát sinh nhiều vướng mắc và nhiều quan điểm vận dụng khác nhau. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn như trên, tác giả đã lựa chọn đề tài : “ Chủ thểcủa tội phạm theo pháp luật hình sự Nước Ta từ thực tiễn thành phố TP. Đà Nẵng ” làmluận văn thạc sỹ Luật học. 2. Tình hình nghiên cứu và điều tra đề tàiKhi chọn đề tài “ Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Nước Ta từ thựctiễn thành phố Thành Phố Đà Nẵng ”, tác giả đã tìm hiểu thêm BLHS năm 1999 và năm năm ngoái ; BLTTHS năm 2003 và năm năm ngoái ; 1 số ít điều tra và nghiên cứu đề cập đến những nội dung cóliên quan đến yếu tố chủ thể của tội phạm như : Giáo trình Luật hình sự ( phần chung ) của GS.TS Võ Khánh Vinh ; Giáo trình Luật hình sự do PGS.TSKH. Lê Cảm chủ biên ; Luận văn thạc sĩ ” Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Nước Ta ” của Lê ĐăngDoanh ; ” Chủ thể đặc biệt quan trọng trong luật hình sự Nước Ta ” của Nguyễn Thị Hiền ; ” Bàn vềvấn đề lao lý pháp nhân là chủ thể của tội phạm trong BLHS Nước Ta ” của PhạmXuân Khoa, ” Bàn về chủ thể của tội tham ô gia tài trong BLHS năm 1999 ” củaTrương Thị Hằng. Ngoài ra, còn có một số ít bài viết đăng trên những tạp chí Công annhân dân, Tòa án nhân dân, Dân chủ và pháp lý, Kiểm sát như : ” Nghiên cứu phạmvi chủ thể của tội phạm rửa tiền trong Luật hình sự Nước Ta ” của Nguyễn NgọcMinh, Tạp chí Dân chủ và pháp lý, năm 2011, tr. 9-14 ; ” Chủ thể của tội phạm quaso sánh pháp luật hình sự nước ta với pháp luật hình sự 1 số ít nước thuộc hệthống châu Âu lục địa ” của Hồ Sĩ Sơn, Tạp chí Nhà nước và pháp lý, số 2, năm2008, tr. 68-72 ; ” Pháp nhân có là chủ thể của tội phạm hay không ” của Phạm HồngHải, Tạp chí Luật học, năm 1999, tr. 14-19 ; “ Phạm vi chủ thể của tội phạm BLHS1999 và một số ít yếu tố trong công tác làm việc tìm hiểu hình sự ” của Bùi Kiên Điện, Tạp chíLuật học, số 4, năm 2000, tr. 7-11 ; “ Bàn về yếu tố pháp luật pháp nhân là chủ thểtrong BLHS Nước Ta ” của Phạm Xuân Khoa, Tạp chí Kiểm sát, số 4, năm 2013, tr. 13-15, 23 ; GS.TS Võ Khánh Vinh ( 2013 ) “ Lý luận chung về định tội danh ”, NxbKhoa học xã hội, TP.HN cũng đề cập đến yếu tố này. Các khu công trình nghiên cứu và điều tra mới chỉ đề cập đến góc nhìn lý luận chung về yếu tốchủ thể của tội phạm, ở nhiều bài viết, nhiều khu công trình phần chủ thể của tội phạm cònmang tính tìm hiểu thêm, phần nghiên cứu và điều tra cũng chưa xử lý được những hạn chế củaLuật về yếu tố chủ thể của tội phạm, những pháp luật về yếu tố chủ thể của tội phạm cònnằm rải rác ở những lao lý của luật, nhiều chỗ còn bộc lộ gián tiếp, chưa có côngtrình điều tra và nghiên cứu nào mang tính nâng cao, tổng hợp, có tính mạng lưới hệ thống về chủ thể củatội phạm. Tình hình nghiên cứu và điều tra trên cho thấy, yếu tố “ Chủ thể của tội phạm theo phápluật hình sự Nước Ta từ thực tiễn thành phố TP. Đà Nẵng ” cần liên tục được điều tra và nghiên cứu, để có những giải pháp nhằm mục đích triển khai xong và nâng cao hiệu suất cao vận dụng những quy địnhcủa pháp lý trên thực tiễn. 3. Mục đích và trách nhiệm nghiên cứu3. 1. Mục đích nghiên cứuVới đề tài này, tác giả đặt ra những mục tiêu cần phải đạt được là nghiên cứu và điều tra cácvấn đề lý luận của chủ thể tội phạm, những lao lý của pháp luật hình sự hiện hành vềchủ thể của tội phạm ; nghiên cứu và điều tra việc vận dụng những lao lý của pháp luật hình sự ViệtNam về chủ thể của tội phạm tại thành phố Thành Phố Đà Nẵng ; từ đó, đưa ra những vướngmắc và khó khăn vất vả trong việc vận dụng những lao lý của chủ thể tội phạm trong pháp luậthình sự Nước Ta và những đề xuất kiến nghị nhằm mục đích khắc phục. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứuĐể đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả đặt ra trách nhiệm cần xử lý như sau : – Nghiên cứu những yếu tố lý luận và pháp lý về chủ thể của tội phạm theopháp luật hình sự Nước Ta. – Nghiên cứu thực tiễn vận dụng những pháp luật của pháp luật hình sự về chủ thểtrong hoạt động giải trí vận dụng pháp lý ở thành phố TP. Đà Nẵng. – Nghiên cứu những giải pháp bảo vệ vận dụng đúng những lao lý của pháp luậthình sự về chủ thể của tội phạm. 4. Đối tượng và khoanh vùng phạm vi nghiên cứu4. 1. Đối tượng nghiên cứuLà những yếu tố lý luận và thực tiễn về chủ thể của tội phạm theo pháp luậthình sự Nước Ta trên địa phận thành phố TP. Đà Nẵng. 4.2. Phạm vi nghiên cứuĐề tài tập trung chuyên sâu điều tra và nghiên cứu những lao lý của pháp luật hình sự Nước Ta vềchủ thể của tội phạm. Dựa trên thực tiễn vận dụng tại thành phố TP. Đà Nẵng tìm ra nhữngvướng mắc, khó khăn vất vả trong quy trình vận dụng, từ đó đề xuất kiến nghị một số ít quan điểm quyđịnh đơn cử hơn về chủ thể của tội phạm. 5. Phương pháp luận và giải pháp nghiên cứu5. 1. Phương pháp luậnLuận văn được điều tra và nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranhphòng và chống tội phạm, quan điểm và đường lối chủ trương của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước về chủ trương hình sự. 5.2. Phương pháp nghiên cứuĐể đạt được mục tiêu nghiên cứu và điều tra, luận văn đã có sự tích hợp nhiều phươngpháp khác nhau, như khảo sát thực tiễn, thống kê, nghiên cứu và phân tích tổng hợp, so sánh, phươngpháp tìm hiểu xã hội học, … 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn6. 1. Ý nghĩa lý luậnLuận văn thạc sĩ là khu công trình khoa học tiên phong điều tra và nghiên cứu một cách toàn diệncó mạng lưới hệ thống dưới góc nhìn pháp lý TTHS về chủ thể của tội phạm theo pháp lý hìnhsự Nước Ta từ thực tiễn thành phố Thành Phố Đà Nẵng, luận văn hoàn toàn có thể được dùng làm tài liệutham khảo trong quy trình học tập và điều tra và nghiên cứu của học viên, làm nhiều mẫu mã thêm lýluận khoa học luật hình sự về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Nước Ta. 6.2. Ý nghĩa thực tiễnChủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Nước Ta đã được nhiều tác giả đềcập trong những bài viết trên sách, báo, những bài luận văn. Tuy nhiên, tác giả dựa trên lýluận và thực tiễn từ thành phố TP. Đà Nẵng từ năm 2012 đến năm nay để nghiên cứu và điều tra và đềxuất một số ít giải pháp nhằm mục đích vận dụng thống nhất và tương thích với tiến trình hội nhậpquốc tế của pháp luật hình sự Nước Ta về chủ thể của tội phạm. 7. Cơ cấu của luận vănNgoài phần mở màn, Tóm lại và hạng mục tài liệu tìm hiểu thêm, nội dung của luậnvăn được cơ cấu thành 3 chương : Chương 1 : Những yếu tố lý luận và pháp lý về chủ thể của tội phạm theopháp luật hình sự Việt NamChương 2 : Thực tiễn vận dụng những lao lý của pháp luật hình sự về chủ thểtrong hoạt động giải trí vận dụng pháp lý ở thành phố Đà NẵngChương 3 : Các giải pháp bảo vệ vận dụng đúng những lao lý của pháp luậthình sự về chủ thể của tội phạmCHƯƠNG 1NH ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂCỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM1. 1. Những yếu tố lý luận về chủ thể của tội phạm1. 1.1. Khái niệm chủ thể của tội phạmTội phạm trước hết là một hành vi. Chính cho nên vì thế, tội phạm khi nào cũng đượcthực hiện bởi chủ thể xác lập. Không thể có hành vi Open ngoài quốc tế kháchquan mà không có chủ thể. Các ảnh hưởng tác động trong quốc tế vật chất gây ra những thiệt hạiđáng kể như sấm sét, lũ lụt, núi lửa, động đất … xảy ra tự nhiên thì không được coilà hành vi. Theo từ điển lý giải thuật ngữ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nộithì : Hành vi được hiểu là hàng loạt những phản ứng, cách cư xử biểu lộ ra bên ngoàicủa một con người trong một thực trạng đơn cử [ 62, tr. 23 ]. Như vậy, tội phạm phảicó chủ thể thực thi. Luật hình sự trong mọi thời gian lịch sử dân tộc đều kiến thiết xây dựng trênnguyên tắc này. Chủ thể của tội phạm cùng với những yếu tố khách thể, mặt kháchquan, mặt chủ quan của tội phạm cấu thành nên tội phạm. Do đó để xác lập mộthành vi có là tội phạm hay không thì tất cả chúng ta phải xét đến việc hành vi đó có đủcác yếu tố cấu thành tội phạm trên không ? Nếu thiếu một trong những yếu tố đó thìkhó hoàn toàn có thể coi đó là tội phạm và không hề truy cứu TNHS so với người thực hiệnhành vi nói trên. Trong những điều kiện kèm theo lịch sử vẻ vang khác nhau, chủ thể của tội phạm hoàn toàn có thể được xemlà khác nhau, nhờ vào vào ý chí của giai cấp thống trị. Ở mỗi một vương quốc khácnhau trên quốc tế thì lao lý có sự khác nhau về khái niệm chủ thể của tội phạmtrong luật hình sự. Theo quan điểm truyền thống cuội nguồn thì : Chủ thể của tội phạm là con người đơn cử đãthực hiện hành vi nguy khốn cho xã hội trong thực trạng có năng lượng TNHS và đạt độtuổi do luật hình sự lao lý [ 45, tr. 56 ]. Tội phạm khi nào cũng được triển khai bởi một người đơn cử, chính do chỉ cócon người đơn cử mới hoàn toàn có thể triển khai được một hành vi nguy khốn cho xã hội đượcquy định trong luật hình sự, mới biểu lộ được yếu tố lỗi, hoàn toàn có thể chịu nghĩa vụ và trách nhiệm cánhân cũng như mới thực thi được những giải pháp cưỡng chế có đặc thù trừng trịvà giáodục, tái tạo mà Nhà nước đã lao lý. Do vậy, con người đơn cử triển khai tội phạmđược gọi là chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội phạm là con người đơn cử, đangsống. Như vậy, để được coi là chủ thể của tội phạm, người thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hay vô ý phải : ( 1 ) có đủ năng lượng TNHS, ( 2 ) đạtđộ tuổi nhất định theo luật hình sự pháp luật. Đây là hai tín hiệu pháp lý bắt buộctrong chủ thể của tội phạm ở mọi cấu thành tội phạm, nếu thiếu một trong hai dấuhiệu này thì không hề coi là chủ thể của tội phạm mà không có chủ thể thì không thểcấu thành tội phạm. Bên cạnh những quan điểm truyền thống lịch sử khi thừa nhận chủ thể của tội phạm là mộtthể nhân, lúc bấy giờ đã Open 1 số ít học thuyết mới như học thuyết nghĩa vụ và trách nhiệm thaythế, học thuyết đồng nhất hóa và học thuyết văn hóa truyền thống pháp nhân đã chỉ ra rằng phápnhân hoàn toàn có thể là chủ thể của tội phạm. Theo đó, pháp nhân không phải là một thực thểpháp lý trừu tượng mà pháp nhân là một thực thể xã hội, do đó, pháp Luật hình sự củamột số nước trên quốc tế không chỉ dừng lại ở việc xem xét chủ thể của tội phạm là cánhân con người mà họ còn xem xét những tổ chức triển khai ( organization ). Theo họ, những tổ chứcmà pháp lý gọi là pháp nhân ( legal person ) cũng có ðủ tý cách và ðiều kiện trở thànhchủ thể của tội phạm và phải chịu hình phạt. Trên trong thực tiễn, lúc bấy giờ nhiều vương quốc nhưTrung Quốc, Nước Singapore, Úc, Pháp … đã xem pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Việctruy cứu nghĩa vụ và trách nhiệm so với pháp nhân là xuất phát từ thực tiễn : 1 số ít công ty, tậpđoàn tư bản vì tiềm năng doanh thu, làm giàu một cách nhanh gọn đã chuẩn bị sẵn sàng phạmtội ( gây ô nhiễm môi trường tự nhiên, trốn thuế, buôn lậu … ). Nếu chỉ giải quyết và xử lý một vài cá thể vớitư cách là người chỉ huy, điều hành quản lý hoạt động giải trí của pháp nhân thì chưa triệt để. Hơnnữa những cá thể này nhân danh pháp nhân để phạm tội là mang quyền lợi cho toàncông ty chứ không riêng gì quyền lợi của bản thân họ. Chính thế cho nên, bên cạnh việc truycứu TNHS so với người đại diện thay mặt của pháp nhân, yên cầu phải truy cứu TNHS đối vớipháp nhân đó bằng những giải pháp như phạt tiền, cấm hoặc hạn chế kinh doanh thương mại trongmột số nghành nhất định, buộc phải giải thể … với tư cách là một giải pháp cưỡngchế hình sự. Như vậy, chủ thể của tội phạm lúc bấy giờ trên quốc tế được thừa nhận rộng hơnvừa là cá thể vừa hoàn toàn có thể là pháp nhân. Việc những vương quốc pháp luật chủ thể của tộiphạm chỉ là cá thể hay vừa là cá thể vừa là pháp nhân nó phụ thuộc vào vào quanđiểm pháp lý, nhu yếu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như trình độ pháttriển của mỗi vương quốc. BLHS Nước Ta năm năm ngoái cũng đã lao lý chủ thể củatội phạm là pháp nhân thương mại, việc lao lý chủ thể tội phạm là pháp nhânthương mại đã góp thêm phần đưa pháp luật hình sự của nước ta hội nhập với quốc tế vàlà một bước tăng trưởng mới của pháp luật hình sự Nước Ta. Việt Nam nói chung và thành phố Thành Phố Đà Nẵng nói riêng đang thực thi công cuộcđổi mới, kiến thiết xây dựng nền kinh tế thị trường khuynh hướng XHCN, với những chính sáchkinh tế thông thoáng, Thành Phố Đà Nẵng ngày càng lôi cuốn nhiều góp vốn đầu tư trong và ngoài nước, tăng trưởng mạnh về kinh tế tài chính công nghiệp cũng như du lịch … Theo số lượng tích lũy được, tính đến năm năm ngoái trên địa phận thành phố Đà Nẵngcó hơn 13.000 doanh nghiệp đang hoạt động giải trí. Có thể nói doanh nghiệp trên địa bànthành phố Thành Phố Đà Nẵng đa phần là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng cũng góp thêm phần vàocông cuộc thay đổi, đưa thành phố Thành Phố Đà Nẵng tăng trưởng và tạo việc làm cho người laođộng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy không ít tổ chức triển khai kinh tế tài chính vì chạy theo doanh thu cụcbộ đã có sự thông đồng từ người đảm nhiệm đến nhân viên cấp dưới, triển khai nhiều hành vi tráipháp luật mang đặc thù tội phạm đặc biệt quan trọng trong nghành nghề dịch vụ kinh tế tài chính như trốn lậu thuế, kinh doanh thương mại trái phép, đầu tư mạnh, buôn lậu hoặc vì quyền lợi cục bộ nhất thời mà không thựchiện những giải pháp mà pháp lý yên cầu để bảo vệ thiên nhiên và môi trường, gây ra nhiều hậu quảnghiêm trọng. Thời gian gần đây, như tất cả chúng ta đã biết, việc doanh nghiệp Fomosa đãcó hành vi gây ảnh hưởng tác động nghiêm trọng đến thiên nhiên và môi trường biển khu vực ven biển Duyênhải Miền Trung trong đó có thiên nhiên và môi trường biển thành phố TP. Đà Nẵng nhưng cho đến nayvẫn chưa tìm hiểu làm rõ nghĩa vụ và trách nhiệm này so với cá thể cũng như so với pháp nhânnào. Trên địa phận thành phố TP. Đà Nẵng, theo thống kê của tác giả từ việc nghiên cứu và phân tích sốliệu của TANDTC thành phố Thành Phố Đà Nẵng thì nhận thấy, tỷ suất pháp nhân thực hiện hành viphạm tội cũng tương đối nhiều nhưng chỉ tham gia trong vụ án với vai trò của bị đơndân sự so với nhu yếu về bồi thường thiệt hại. Theo thống kê từ năm 2012 đến năm2016 có 46 trường hợp pháp nhân thương mại chịu nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại dongười có thẩm quyền gây ra, tập trung chuyên sâu đa phần ở những vụ án vi phạm lao lý về điềukhiển phương tiện đi lại giao thông vận tải đường đi bộ hoặc những tội về lừa đảo, lạm dụng tínnhiệm chiếm đoạt gia tài, những tội phạm khác về kinh tế tài chính, chức vụ nhằm mục đích mục đíchsinh doanh thu cho pháp nhân. Có thể nhận thấy tình hình kinh tế tài chính càng tăng trưởng thì tình hình tội phạm dopháp nhân, tổ chức triển khai triển khai ngày càng tăng và càng nguy hại. Tuy nhiên, nếu phápnhân chỉ chịu nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường so với người đứng đầu, người có quyền gây rathì thiết yếu phải pháp luật pháp nhân thương mại là chủ thể chịu TNHS là tương thích vớitiến trình hòa nhập quốc tế lúc bấy giờ. 1.1.2. Các loại chủ thể của tội phạmTrước đây, khi chưa phát hành BLHS năm năm ngoái, theo quan điểm truyền thốngcủa pháp luật hình sự, chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Nước Ta chỉ có thểlà cá thể và chủ thể đặc biệt quan trọng. Có nhiều quan điểm khác nhau về loại chủ thể của tộiphạm. Tuy nhiên, theo tác giả lúc bấy giờ có 3 loại chủ thể của tội phạm. Đó là : cá thể, pháp nhân thương mại và chủ thể đặc biệt quan trọng. Chủ thể của tội phạm là cá thể : Chủ thể của tội phạm là con người đơn cử nhưng không phải ai cũng hoàn toàn có thể trởthành chủ thể của tội phạm khi triển khai hành vi được pháp luật trong luật hình sự. Tộiphạm theo luật hình sự Nước Ta phải có tính có lỗi. Để hoàn toàn có thể có lỗi khi thực hiệnhành vi khách quan yên cầu chủ thể của tội phạm phải là người có năng lượng nhận thứcvà năng lượng tinh chỉnh và điều khiển hành vi theo nhu yếu của xã hội. Hai năng lượng này hoàn toàn có thể đượcgọi chung trong luật hình sự là năng lượng lỗi. Tuy nhiên, không phải ai có năng lượng lỗiđều hoàn toàn có thể trở thành chủ thể của tội phạm và phải chịu TNHS. TNHS được Nhà nướcquy định và biểu lộ chủ trương hình sự của vương quốc, trong đó có chủ trương về độtuổi phải chịu TNHS. Theo đó, chủ thể của tội phạm còn yên cầu phải đạt độ tuổi chịuTNHS. Như vậy, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lượng lỗi và đạt độ tuổichịu TNHS. Người thỏa mãn nhu cầu cả hai điều kiện kèm theo này được coi là người có năng lựcTNHS. Trong đó, năng lượng lỗi và năng lượng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vivà năng lượng điều khiển và tinh chỉnh được hành vi theo yên cầu của xã hội, còn độ tuổi chịu TNHSlà độ tuổiđược luật hình sự pháp luật tùy thuộc vào chủ trương hình sự của vương quốc vào từngthời điểm. Xét về độ tuổi chịu TNHS, sẽ được chia thành những mốc tuổi như sau : Theo lao lý BLHS năm năm ngoái, tuổi chịu TNHS được pháp luật như sau : – Dưới 14 tuổi : Không phải chịu TNHS. – Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe thể chất củangười khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp gia tài, tội bắt cóc nhằm mục đích chiếm đoạt gia tài ; về tộiphạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt quan trọng nghiêm trọng pháp luật tại một trong cácđiều sau đây : 1 / Điều 143 ( tội cưỡng dâm ) ; Điều 150 ( tội mua và bán người ) ; Điều 151 ( tội muabán người dưới 16 tuổi ) ; 2 / Điều 170 ( tội cưỡng đoạt gia tài ) ; Điều 171 ( tội cướp giật gia tài ) ; Điều 173 ( tội trộm cắp gia tài ) ; Điều 178 ( tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng gia tài ) ; 3 / Điều 248 ( tội sản xuất trái phép chất ma túy ) ; Điều 249 ( tội tàng trữ trái phépchất ma túy ) ; Điều 250 ( tội luân chuyển trái phép chất ma túy ) ; Điều 251 ( tội mua bántrái phép chất ma túy ) ; Điều 252 ( tội chiếm đoạt chất ma túy ) ; 4 / Điều 265 ( tội tổ chức triển khai đua xe trái phép ) ; Điều 266 ( tội đua xe trái phép ) ; 5 / Điều 285 ( tội sản xuất, mua và bán, trao đổi hoặc Tặng Ngay cho công cụ, thiết bị, ứng dụng để sử dụng vào mục tiêu trái pháp lý ) ; Điều 286 ( tội phát tán chươngtrình tin học gây hại cho hoạt động giải trí của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiện tử ) ; Điều 287 ( tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động giải trí của mạng máy tính, mạngviễn thông, phương tiện đi lại điện tử ) ; Điều 289 ( tội xâm nhập trái phép vào mạng máytính, mạng viễn thông hoặc phương tiện đi lại điện tử của người khác ) ; Điều 290 ( tội sửdụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện đi lại điện tử thực thi hành vi chiếmđoạt gia tài ) ; 6 / Điều 299 ( tội khủng bố ) ; Điều 303 ( tội tàn phá khu công trình, cơ sở, phươngtiện quan trọng về bảo mật an ninh vương quốc ) ; Điều 304 ( tội sản xuất, tàng trữ, luân chuyển, sử10dụng, mua và bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quânsự ). + Không vận dụng hình phạt tiền so với người phạm tội từ đủ 14 tuổi trở lênnhưng chưa đủ 16 tuổi. – Từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi : phải chịu TNHS về mọi tội phạm tuynhiên không vận dụng xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, so với hình phạt tù thì đượchưởng mức án nhẹ hơn mức án vận dụng so với người thành niên phạm tội tương ứng. – Từ đủ 18 tuổi : phải chịu TNHS với mọi loại tội phạm, và những tổng thể những mứchình phạt. Chủ thể đặc biệt quan trọng của tội phạm : Chủ thể của tội phạm thường thì yên cầu phải phân phối tín hiệu nănglực TNHS. Tuy nhiên, so với 1 số ít tội phạm đơn cử thì người thực thi hành vi cầnphải có những tín hiệu đặc trưng khác mà không có nó thì người thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội không hề trở thành chủ thể của tội phạm đó được. Những chủthể yên cầu tín hiệu đặc biệt quan trọng này gọi là chủ thể đặc biệt quan trọng. Như vậy, chủ thể đặc biệt quan trọng = chủ thể thường + những tín hiệu đặc biệt quan trọng. Quy định về chủ thể đặc biệt quan trọng của tội phạmxuất phát từ một trong thực tiễn là có những hành vi nguy khốn cho xã hội hoàn toàn có thể đượcthực hiện bởi những người có đặc thù riêng không liên quan gì đến nhau. Những tín hiệu đặc biệt quan trọng có thểthuộc một trong những dạng sau : Các tín hiệu tương quan đến chức vụ quyền hạn : Đòi hỏi chủ thể phải là ngườicó chức vụ, quyền hạn trong những tội phạm về tham nhũng lao lý tại Mục 1 củaChương XXIII Các tội phạm về chức vụ và những tội phạm khác như tội Thiếu tráchnhiệm gây hậu quả nghiêm trọng tại Điều 360 BLHS năm năm ngoái, tội cố ý làm lộ bí mậtcông tác ; tội chiếm đoạt, mua và bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí hiểm công tác làm việc tại Điều 361BLHS năm năm ngoái, tội vô ý làm lộ bí hiểm công tác làm việc, tội làm mất mát tài liệu bí hiểm côngtác tại Điều 362 BLHS năm năm ngoái, tội đào nhiệm tại Điều 363 BLHS 2015 là nhữngngười do chỉ định, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởnglương hoặc không hưởng lương, được giao thực thi một công vụ nhất định và cóquyền hạn nhất định trong khi triển khai công vụ. Như vậy, những người có chức vụquyền hạn phải là người có chức vụ nào đó trong cỗ máy công quyền, trong những cơ11quan quản trị nhà nước, trong những tổ chức triển khai chính trị – xã hội, trong những doanh nghiệp … Chẳng hạn, ông phó quản trị, ông quản trị Ủy ban nhân dân từ cấp phường, xã trởlên, chỉ huy ngành thuế từ cấp đội phó, đội trưởng đội thu thuế trở lên. Các dấu hiệuliên quan đến nghề nghiệp việc làm, những chủ thể của những tội này phải là nhữngngười có một việc làm nhất định. Luật lao lý rằng những người có nhữngcông việc này triển khai những hành vi phạm tội xuất phát từ đặc thù việc làm họđang làm như những tội phạm quy định về cho vay trong những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán, tội làmsai lệch hồ sơ vụ án thì chủ thể phải là những người THTT … Các tín hiệu tương quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm phải triển khai như thể việc không cứu giúpngười khác đang trong thực trạng nguy hại đến tính mạng con người hay tội trốn tránh nghĩa vụquân sự hay tội không chấp hành án … những chủ thể của những tội này phải là người cónghĩa vụ phải triển khai nhưng do họ không triển khai, do đó họ phải chịu TNHS nếutội phạm đã được cấu thành. Các tín hiệu tương quan đến tuổi, yếu tố độ tuổi quyết định hành động đến việc thõa mãnyếu tố cấu thành những tội phạm luật định ngoài việc thỏa mãn nhu cầu những tín hiệu của chủ thểthường như những hành vi phạm tội của những tội phạm giao cấu với trẻ nhỏ, dâm ô với trẻem chủ thể phải là người đã thành niên, còn người chưa thành niên không là chủ thểcủa tội này … Các tín hiệu tương quan đến giới tính, quan hệ họ hàng. Chủ thể của tội này vềgiới tính phải là phái mạnh như tội hiếp dâm, tội diếp dâm trẻ nhỏ … ( theo quan điểm củamột số tác giả ). Về quan hệ mái ấm gia đình, họ hàng một số ít tội yên cầu họ phải là người cóquan hệ thân thích, họ hàng như trong mối quan hệ cha mẹ, vợ chồng, con cháu, cháungười có công nuôi dưỡng mình … như những tội loạn luân, tội ngược đãi hoặc hành hạông bà, cha mẹ, vợ chồng … chủ thể phải là những người có quan hệ mái ấm gia đình, họhàng. Các đặc thù của chủ thể đặc biệt quan trọng là bắt buộc và có ý nghĩa quyết định hành động trongviệc định tội. Tuy nhiên, so với những vụ phạm tội do đồng phạm, những tín hiệu của cácchủ thể đặc biệt quan trọng chỉ yên cầu với những người thực hành thực tế, những người khác không cầncác tín hiệu đặc biệt quan trọng của tội phạm đó. 12C hủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại : Quan điểm coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm đã có từ lâu và lúc bấy giờ nó đãđược chính thức thừa nhận ở 1 số ít vương quốc trong đó có cả những vương quốc từ trướctới nay không những không thừa nhận mà thậm chí còn còn phê phán. Những vương quốc cópháp luật hình sự coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm là những vương quốc có nền kinhtế tăng trưởng hoặc đang tăng trưởng. Các mô hình tổ chức triển khai ở mỗi vương quốc rất phong phú, trong đó có pháp nhân. Pháp nhân cũng gồm nhiều loại khác nhau như pháp nhântheo luật công, pháp nhân theo luật tư, pháp nhân gắn với mục tiêu doanh thu vàpháp nhân không có mục tiêu doanh thu … Bên cạnh những pháp nhân còn có nhiềuloại hình tổ chức triển khai khác không phải là pháp nhân như doanh nghiệp tư nhân, hiệp hội, câu lạc bộ … Tất cả những mô hình tổ chức triển khai này đều là chủ thể của quan hệ pháp luậtnhưng không phải tổng thể đều cần được xác lập là chủ thể của tội phạm. Mỗi quốc giacần xác lập rõ khoanh vùng phạm vi những tổ chức triển khai hoàn toàn có thể là chủ thể của tội phạm để bảo vệ việcxác định này tương thích với tình hình vi phạm pháp lý và những điều kiện kèm theo thực tiễn kháccủa vương quốc mình. Theo đó, những tổ chức triển khai hoàn toàn có thể là chủ thể của tội phạm theo Pháp làcác pháp nhân ( trừ Nhà nước ) ; theo Áo là pháp nhân, những công ty hợp danh, những hiệphội vì quyền lợi kinh tế tài chính Châu Âu và theo Thụy Sỹ là pháp nhân theo luật tư, pháp nhântheo luật công ( trừ những tổ chức triển khai vùng chủ quyền lãnh thổ ), những công ty, những doanh nghiệp tư nhân, theo Trung Quốc là công ty, xí nghiệp sản xuất, cơ quan, tổ chức triển khai, đoàn thể. Việc xác lập khoanh vùng phạm vi pháp nhân hoàn toàn có thể là chủ thể của tội phạm là quyền lựachọn của mỗi vương quốc. Việt Nam phát hành BLHS năm năm ngoái chỉ lao lý pháp nhânthương mại là chủ thể của tội phạm. Một pháp nhân thương mại trở thành chủ thể của tội phạm khi thỏa mãn nhu cầu mộttrong những điều kiện kèm theo sau : Thứ nhất, nghĩa vụ và trách nhiệm được pháp lý pháp luật cho pháp nhân thương mại khôngđược triển khai và vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm này ở mức độ nghiêm trọng. Ví dụ : Doanh nghiệpkhông thực thi nghĩa vụ và trách nhiệm đóng thuế cho Nhà nước hay nghĩa vụ và trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hộicho người lao động. Đây là những nghĩa vụ và trách nhiệm được pháp luật trực tiếp cho doanh nghiệp, lànghĩa vụ của doanh nghiệp. Khi không thực thi nghĩa vụ và trách nhiệm này ở mức độ nghiêm trọng, doanh nghiệp hoàn toàn có thể là chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự pháp luật. Về hình13thức, việc vi phạm pháp lý của tổ chức triển khai được biểu lộ qua hành vi của cá thể đạidiện, còn về thực chất, hành vi không triển khai nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể là cá thể đạidiện cũng chính là hành vi vi phạm pháp lý của chủ thể là pháp nhân. Trong trường hợp này, nghĩa vụ và trách nhiệm của pháp nhân và việc pháp nhân vi phạmnghĩa vụ này là rõ ràng ; hành vi vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm của pháp nhân được bộc lộ quahành vi phạm tội của người đại diện thay mặt pháp nhân, hai hành vi này như nhau với nhau. Ởđây, pháp nhân là chủ thể triển khai nghĩa vụ và trách nhiệm cũng như là chủ thể vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm vàdo vậy cũng là chủ thể của tội phạm đồng thời là chủ thể trực tiếp của tội phạm. Ngườiđại diện là người chịu nghĩa vụ và trách nhiệm trước pháp lý về hoạt động giải trí của pháp nhân nêncũng phải chịu TNHS cùng với pháp nhân. Thứ hai, pháp nhân là chủ thể của tội phạm trong trường hợp thành viên của tổchức đã phạm tội nhưng tội phạm được thực thi là nhân danh và có lợi cho tổ chức triển khai. Ví dụ : Người của pháp nhân đã nhân danh pháp nhân đưa hối lộ cho quan chức đểđược xử lý việc làm của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, hành vi phạm tộikhông phải là hành vi vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm của pháp nhân như trường hợp thứ nhất mà làhành vi của cá thể đơn cử, phạm điều cấm của pháp luật hình sự. Như vậy, hành viphạm tội là hành vi của thành viên tổ chức triển khai. Tuy nhiên, hành vi phạm tội có những dấuhiệu đặc biệt quan trọng tương quan đến pháp nhân và vì những tín hiệu này mà chủ thể của tộiphạm được pháp luật cho cả pháp nhân. Ở đây có mối quan hệ giữa thành viên củapháp nhân với pháp nhân về tội phạm đã thực thi và TNHS so với tội phạm đó. Hành vi phạm tội là hành vi của cá thể đơn cử, họ là chủ thể của tộiphạm nhưng pháp nhân cũng là chủ thể của tội phạm về tội phạm này vì tội phạmđược thực thi nhân danh và vì quyền lợi của pháp nhân, bộc lộ “ lý trí ” và “ ý chí ” củapháp nhân. Theo đó, hoàn toàn có thể coi hành vi mà thành viên đã triển khai cũng là hành vi củapháp nhân. Như vậy, hành vi của thành viên pháp nhân hoàn toàn có thể được coi là hành vicủa pháp nhân khi hành vi đó thỏa mãn nhu cầu hai tín hiệu : Nhân danh tổ chức triển khai và vì lợi íchcủa tổ chức triển khai. Để bảo vệ tính “ nhân danh ” yên cầu người thực thi tội phạm phải làngười chỉ huy hoặc thuộc cơ quan chỉ huy của pháp nhân, có quyền quyết địnhhoạt động của pháp nhân. Họ hoàn toàn có thể trực tiếp thực thi hoặc giao cho người khácthực hiện. Hành vi tự ý của những thành viên thông thường của pháp nhân không hề làhành vi nhân danh pháp14nhân. Đặc điểm nhân danh pháp nhân là điều kiện kèm theo cần cho việc xác lập hành vi cụ thểđược coi là hành vi của pháp nhân nhưng chưa phải là điều kiện kèm theo đủ. Hành vi nhândanh pháp nhân chỉ được coi là hành vi của pháp nhân khi hành vi được triển khai làcó lợi hoặc nhằm mục đích có lợi cho pháp nhân. Qua đó, pháp nhân hoàn toàn có thể nhận được lợi íchvật chất, quyền lợi niềm tin hoặc lợi thế nhất định. Khi hành vi phạm tội được thựchiện nhân danh pháp nhân nhưng không vì quyền lợi của pháp nhân mà vì quyền lợi của cánhân hoặc nhóm cá thể thì hành vi đó không hề được coi là hành vi của pháp nhânnên không hề xem pháp nhân là chủ thể của tội phạm về hành vi phạm tội này. Thứ ba, pháp nhân là chủ thể của tội phạm trong trường hợp thành viên củapháp nhân đã phạm tội khi thực thi việc làm được tổ chức triển khai giao và việc phạm tội nàycó lỗi của pháp nhân. Ví dụ : Trong khi triển khai việc làm được doanh nghiệp giao, người triển khai đã gây hỏa hoạn dẫn đến chết người, hủy hoại gia tài của người khác. Trong trường hợp này, hành vi phạm tội không phải là hành vi vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm củapháp nhân như trường hợp thứ nhất và cũng không phải là hành vi nhân danh và vì lợiích của pháp nhân như trường hợp thứ hai. Tuy nhiên, hành vi phạm tội này cũng códấu hiệu đặc biệt quan trọng tương quan đến pháp nhân tổ chức triển khai và vì những tín hiệu này mà phápnhân hoàn toàn có thể chịu TNHS. Trước hết, hành vi phạm tội xảy ra trong khi người phạm tộithực hiện việc làm của pháp nhân và quan trọng hơn, hành vi phạm tội đã xảy ra cónguyên nhân từ phía pháp nhân. Pháp nhân đã không thực thi khá đầy đủ trách nhiệmphòng ngừa hậu quả nguy hại hoàn toàn có thể xảy ra từ hoạt động giải trí của những thành viên ( và cũnglà hoạt động giải trí của pháp nhân ). Do vậy, xác lập pháp nhân là chủ thể của tội phạmtrong trường hợp này là có cơ sở và thiết yếu để răn đe pháp nhân, buộc pháp nhânphải có giải pháp phòng ngừa hành vi hoàn toàn có thể tái diễn trong tương lai. Như vậy, trong trường hợp thứ ba, việc xác lập pháp nhân có phải là chủ thểcủa tội phạm hay không phải dựa vào cơ sở thiệt hại đã xảy ra trong hoạt động giải trí củapháp nhân mà nguyên do của thiệt hại có phần do sai phạm của pháp nhân. Ở đây cósự độc lập tương đối giữa sai phạm của thành viên pháp nhân và sai phạm của cả phápnhân. Do vậy, TNHS của pháp nhân cũng có sự độc lập tương đối với TNHS của thànhviên pháp nhân. 151.1.3. Chủ thể trong cấu thành tội phạmCấu thành tội phạm bắt buộc là những yếu tố đặc trưng của những loại tội phạm cụthể được pháp luật trong BLHS, chỉ khi nào có rất đầy đủ những tín hiệu bắt buộc này thìhành vi vi phạm pháp lý mới được coi là hành vi phạm tội. Những tín hiệu bắt buộcbao gồm : khách thể, khách quan, chủ thể, chủ quan. Chủ thể của tội phạm là một cá thể có năng lực nhận thức và điều khiển và tinh chỉnh hànhvi của mình và có độ tuổi chịu TNHS. Khả năng nhận thức và tinh chỉnh và điều khiển hành vi củamình gọi chung là năng lượng lỗi và độ tuổi chịu TNHS là hai tín hiệu của chủ thể củatội phạm, đây là hai tín hiệu bắt buộc của CTTP. Ngoài hai tín hiệu về chủ thể cótính chất chung cho toàn bộ những tội phạm và phải có trong toàn bộ những CTTP, ở một sốCTTP còn có tín hiệu riêng khác về chủ thể của tội phạm vì chỉ khi có tín hiệu đó thìchủ thể mới hoàn toàn có thể triển khai được hành vi phạm tội nhất định hoặc vì Nhà nước giớihạn khoanh vùng phạm vi phải chịu TNHS về một số ít tội phạm chỉ so với chủ thể có đặc thù nhấtđịnh đó. Trong ba loại tín hiệu của chủ thể tội phạm, tín hiệu có đặc thù chung cho tấtcả những tội phạm – năng lượng lỗi và tuổi chịu TNHS được miêu tả chung trong những điều luậtphần chung của BLHS với hai cách diễn đạt khác nhau. Tuổi chịu TNHS được quy địnhtrực tiếp trong điều luật ; còn năng lượng lỗi được pháp luật gián tiếp qua pháp luật về tuổichịu TNHS và pháp luật về thực trạng không có năng lượng lỗi. Luật hình sự không trực tiếp lao lý năng lượng lỗi mà chỉ pháp luật tuổi chịuTNHS và thực trạng không có năng lượng lỗi, qua đó gián tiếp lao lý năng lượng lỗi. Với cách lao lý những tín hiệu chung của chủ thể của tội phạm, việc kiểm trayếu tố chủ thể của tội phạm trong vận dụng đã được đơn giản hóa, người vận dụng chỉphải xác lập độ tuổi và riêng biệt nếu có hoài nghi mới phải kiểm tra thực trạng không cónăng lực lỗi. Tình trạng không có năng lượng lỗi được pháp luật trong luật hình sự qua việc môtả hai tín hiệu của thực trạng này là tín hiệu y học ( mắc bệnh ) và tín hiệu tâm ý ( mấtnăng lực lý trí hoặc mất năng lượng ý chí ), điều này được lao lý tại Điều 21 BLHSnăm năm ngoái : “ Người thực thi hành vi nguy hại cho xã hội trong khi đang mắc bệnhtâm thần, một bệnh khác làm mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển và tinh chỉnh hành16vi của mình, thì không phải chịu TNHS ”. Tóm lại, hai tín hiệu của chủ thể của tội phạm là năng lượng TNHS và đạt độ tuổichịu TNHS được pháp luật trong những điều luật phần chung của luật hình sự và quy địnhnày có giá trị chung cho tổng thể những CTTP. Việc pháp luật chủ thể của tội phạm theocách này tránh cho những CTTP khi miêu tả tội phạm đều phải nhắc lại những tín hiệu chungcủa chủ thể của tội phạm. Trong CTTP, những tín hiệu này được biểu lộ đơn thuần quakhái niệm “ người nào ”. Khái niệm này tiềm ẩn tổng thể nội dung của hai dấu hiệuchung của chủ thể của tội phạm. Ngoài hai tín hiệu có đặc thù chung cho tổng thể những CTTP, chủ thể của tộiphạm còn được miêu tả thêm tín hiệu đặc biệt quan trọng khác trong một số ít CTTP. Đó là nhữngCTTP phản ánh những tội phạm có chủ thể đặc biệt quan trọng và những tội phạm có chủ thể hạn chế. Trong CTTP phản ánh tội phạm có chủ thể đặc biệt quan trọng, nhà làm luật phải mô tảthêm tín hiệu đặc biệt quan trọng của “ người nào ” để với tín hiệu đó họ mới hoàn toàn có thể thực hiệnđược hành vi phạm tội được diễn đạt trong CTTP. Dấu hiệu đó hoàn toàn có thể là : – Chức vụ, quyền hạn như ở những tội về tham nhũng ( tội tham ô gia tài, tội nhậnhối lộ … ) ; những tội xâm phạm hoạt động giải trí tư pháp ( tội truy cứu TNHS người không cótội, tội ra bản án trái pháp lý … ) ; – Trách nhiệm, nghĩa vụ và trách nhiệm như ở những tội xâm phạm nghĩa vụ và trách nhiệm, nghĩa vụ và trách nhiệm củaquân nhân ( tội chống mệnh lệnh, tội đào ngũ … ) ; tội trốn tránh nghĩa vụ và trách nhiệm quân sự chiến lược ; tộikhông chấp hành án … ; – Dấu hiệu về giới ( tội hiếp dâm ) ; về quan hệ mái ấm gia đình ( tội loạn luân ) … Trong CTTP phản ánh tội có chủ thể hạn chế, nhà làm luật phải diễn đạt thêm dấuhiệu hạn chế của “ người nào ” để với tín hiệu đó khoanh vùng phạm vi người hoàn toàn có thể là chủ thể củatội phạm được xác lập. Sự số lượng giới hạn khoanh vùng phạm vi chủ thể ở đây hầu hết là xuất phát từchính sách hình sự của Nhà nước. Ví dụ : CTTP tội dâm ô so với trẻ nhỏ số lượng giới hạn phạmvi chủ thể của tội này phải là người thành niên ; … Như vậy, việc xác lập chủ thể của tội phạm rất quan trọng trong việc xácđịnh CTTP. Một hành vi không hề được coi là tội phạm nếu chủ thể thực hiệnhành vi không phải là chủ thể của tội phạm. 171.2. Các pháp luật của pháp luật hình sự Nước Ta về chủ thể của tội phạm1. 2.1. Quy định của pháp luật hình sự Nước Ta về năng lượng chịu tráchnhiệm hình sựNăng lực TNHS là điều kiện kèm theo thiết yếu để hoàn toàn có thể xác lập con người có lỗi khihọ triển khai hành vi nguy khốn cho xã hội. Chỉ người có năng lượng TNHS mới có thểlà chủ thể của tội phạm. BLHS 2015 lao lý chủ thể của tội phạm gồm có con người và pháp nhânthương mại. Năng lực TNHS của cá thể gồm có năng lượng nhận thức hành vi nguy hiểmcho xã hội của mình, năng lực tinh chỉnh và điều khiển hành vi đó và năng lực gánh lấy hậu quảpháp lý là TNHS từ hành vi nguy khốn gây ra. Như vậy, năng lượng TNHS được hợpthành từ hai yếu tố : ( 1 ) năng lực nhận thức và năng lực tinh chỉnh và điều khiển hành vi và ( 2 ) tuổichịu TNHS. ( 1 ) Khả năng nhận thức và năng lực tinh chỉnh và điều khiển hành vi : Một người hoàn toàn có thể làchủ thể của tội phạm phải có năng lực nhận thức tính nguy hại cho xã hội của hànhvi của mình và năng lực điều khiển và tinh chỉnh hành vi đó ( năng lực kiềm chế hành vi nguy hiểmcho xã hội của mình và lựa chọn một hành vi khác trong khi có đủ điều kiện kèm theo lựa chọn ) theo những nhu yếu chung của xã hội. Năng lực nhận thức có ở mỗi con người từ khimới sinh ra. Nó tăng trưởng và triển khai xong theo sự tăng trưởng của cấu trúc sinh học cơ thểcon người qua quy trình lao động và giáo dục trong xã hội. Đến một thời gian nhấtđịnh trong đời sống của con người thì năng lượng này mới được xem là tương đối rất đầy đủ. ( 2 ) Tuổi chịu TNHS được lao lý dựa trên cơ sở này. Như vậy, nănglực TNHS hình thành trên hai cơ sở : sự tăng trưởng sinh học của khung hình và đời sống xãhội. Con người sống trong xã hội trong một thời hạn xác lập sẽ nhận thức đượcnhững nhu yếu tất yếu của xã hội. Những nhu yếu đó là những đối tượng người tiêu dùng mà luật hìnhsự bảo vệ. Tuy nhiên, sự tăng trưởng sinh học của con người cũng rất quan trọng vìđôi khi nó vô hiệu một phần hoặc trọn vẹn năng lượng nhận thức ( do những bệnh gâyrối loạn hoạt động giải trí của bộ não ). Vì vậy, BLHS đã pháp luật những trường hợp mất khảnăng nhận thức và năng lực điều khiển và tinh chỉnh hành vi. BLHS không pháp luật một ngườinhư thế nào là thoả mãn điều kiện kèm theo về năng lực nhận thức và năng lực điều khiểnhành vi mà chỉ đề cập18
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập














![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


