Lý luận văn học về đất nước – Đại Học Đông Đô Hà Nội

Đề bài : Lý luận văn học về đất nước Trả lời : 1. “ Chương V – chương Đất nước là một chương lớn. Tôi viết chương này trong những ngày mưa triền miên sau Tết. Đó là thời kỳ máy bay Mỹ đánh phá kinh hoàng. B52 dội bom liên tục, làm cho mọi thứ tối tăm mù mịt. Chúng tôi ngồi trong hầm và viết, cảm hứng được cộng hưởng bởi tiếng bom nổ, bởi khói bom và mưa rừng. Có khi viết xong, một trận bom làm cho bản thảo bay lung tung, lượm lại trang còn trang mất, lại ngồi viết tiếp. Tôi viết rất nhanh, như cảm hứng đã dồn tụ một cách mãnh liệt, giờ chỉ việc tuôn chảy ra thôi. Tôi viết về những điều đơn giản và giản dị của chính tôi, về tuổi trẻ và những bè bạn đang tranh đấu ở trong thành phố, nên nhân vật của tôi là anh và em. Đó là lời đằm thắm của một người con trai với một người con gái .

Bạn đang xem: Lý luận văn học về đất nước

Chúng tôi, mỗi người có một số phận khác nhau, nhưng đều kết nối trong một số phận chung là số phận Đất nước. Đất nước với những nhà thơ khác là của những lịch sử một thời, của những anh hùng, nhưng với tôi là của những con người vô danh, của nhân dân. Đất nước là một giá trị lâu bền, vĩnh hằng ; đất nước được tạo dựng, được bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từ đời này sang đời khác. Cho nên “ khi ta lớn lên đất nước đã có rồi ! ”. Đất nước vừa là một ý niệm thiêng liêng vừa là một hiện hữu, đơn cử, rõ ràng, quen thuộc. Tôi cố gắng nỗ lực biểu lộ một hình ảnh Đất nước giản dị và đơn giản thân thiện nhất. Đó là cách để đi vào lòng người, mà không lặp lại người khác, vì trước tôi cũng như bấy giờ, có rất nhiều người đã viết rất hay về Đất nước. Tôi nghĩ mỗi cá nhân sinh ra, ý niệm về Đất nước đã được thấm đẫm qua thiên nhiên và môi trường mái ấm gia đình, qua quốc tế ý thức và cả vật chất mà người đó sống ” ( Nguyễn Khoa Điềm trong cuốn – Nhà văn và Tác phẩm ) 2. Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự đồng hiện những gì thân mật nhất, thân thương nhất của mỗi con người Nước Ta trong quá khứ, hiện tại và tương lai ; trong thời hạn và khoảng trống, trong lịch sử dân tộc và truyền thống lịch sử văn hoá … Ở Nguyễn Khoa Điềm lòng yêu nước là yêu nhân dân, yêu những con người đã viết nên lịch sử dân tộc, đã sản sinh ra văn hóa truyền thống, đã phát kiến địa lý mà lan rộng ra biên cương bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Từ đó nhà thơ đã đi đến đúc rút thành một chân lý vững vàng : “ Đất nước của nhân dân ”, tư tưởng này đã chi phối hầu hết những sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. Vì vậy tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm không riêng gì nói lên những tâm lý cảm nhận của tuổi trẻ trong cuộc chiến tranh, mà còn là lời lôi kéo thiết tha : hãy yêu đất nước – vì “ Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình ”. ( Vũ Quần Phương ) 3. “ Nguyễn Khoa Điềm viết nên những câu thơ này bằng toàn bộ sự thưởng thức của một người lăn lộn trong trào lưu tranh đấu của người trẻ tuổi đô thị miền Nam. Nhà thơ đã đại diện thay mặt thế hệ mình để phát biểu tâm tư nguyện vọng với niềm tin công dân, với nhiệt tình tuổi trẻ. Đó cũng là lời đáp cho câu hỏi mang tính chính luận về sự vĩnh cửu của Đất Nước. Đất Nước bất tử chính nhờ ở niềm tin của những con người chuẩn bị sẵn sàng dâng bầu máu của tuổi thanh xuân, biết sống có nghĩa vụ và trách nhiệm với thời đại và đầy khát vọng về tương lai vĩnh cửu của Đất Nước. ” ( Lê Văn Huân ) 4. “ Nếu như trong thơ Nguyễn Đình Thi, hình ảnh đất nước hào hoa, tự tôn, lãng mạn và tràn trề sức sống thì trong thơ Nguyễn Khoa Điềm hình ảnh đất nước lại phong phú về văn hóa truyền thống, là sức mạnh của chân lý. ” ( Huy Văn ) 5. “ Nguyễn Khoa Điềm đặc biệt quan trọng thành công xuất sắc trong việc sử dụng vật liệu văn hóa truyền thống, văn học dân gian. Chỉ chín câu thơ, nhưng rậm rạp những hình ảnh, hình tượng thơ được khơi dậy, được vun đắp bằng văn hóa truyền thống dân gian. Cảm hứng thơ bắt sâu vào cội rễ văn hóa truyền thống dân tộc bản địa, để đất nước trở nên quen thuộc, thân thiện với mỗi người và để câu thơ giàu sức gợi, giàu sức liên tưởng. ” ( Báo Giáo dục đào tạo thời đại )

Ngoài ra, các em cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu thêm về bài thơ Đất nước!

1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Đất nước

Bài thơ “ Đất nước ” nằm phần đầu của chương năm trường ca “ Mặt đường khát vọng ”. “ Mặt đường khát vọng ” được tác giả triển khai xong ở chiến khu Trị Thiên năm 1971 và in lần đầu năm 1974. Đó là những năm tháng nhân dân miền Nam kiên cường chống đế quốc Mĩ và tay sai. “ Mặt đường khát vọng ” là một trong những bản trường ca lớn của thơ ca chống Mĩ viết về đất nước, nhân dân. Tác phẩm viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ vùng tạm chiến miền Nam, nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về đất nước, hướng về nhân dân, ý thức được với xứ mệnh của thế hệ mình đứng dậy xuống đường đấu tranh hòa nhập với cuộc chiến đấu của dân tộc bản địa. Trường ca “ Mặt đường khát vọng ” gồm nhiều chương, mỗi chương có một chủ đề riêng : “ Lời chào ”, “ Báo động ”, “ Giặc Mĩ ”, “ Tuổi trẻ không yêu ”, “ Đất nước ”, “ Xuống đường ”. Đoạn trích “ Đất nước ” nằm phần đầu của chương V, là một trong những đoạn thơ hay nhà thơ viết về tư tưởng : Đất nước của nhân dân, của ca dao truyền thuyết thần thoại.

2. Phân tích bài thơ Đất nước

[CHUẨN NHẤT] Lý luận văn học về đất nước Đất nước – hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên tự sâu thẳm tâm hồn ta ; vừa cao quý, sang trọng và quý phái ; vừa xiết bao thân thiện. Hình tượng Đất Nước đã khơi nguồn cho bao hồn thơ cất cánh. “ Mặt đường khát vọng ” của Nguyễn Khoa Điềm cũng nằm trong dòng chảy dào dạt ấy và có phần vừa đủ hơn cả khi thống nhất được cội nguồn đất nước và tư tưởng đất nước của nhân dân. Giản dị như một lẽ tự nhiên, bài thơ khởi đầu với khát khao tìm hiểu và khám phá đất nước có tự khi nào : “ Khi ta lớn lên Đất Nước có rồi Đất Nước có trong những cái “ ngày xửa rất lâu rồi … ” mẹ thường hay kể. Đất Nước mở màn với miếng trầu giờ đây bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó … ” Khi xưa, đất nước gắn với những lịch sử một thời, thần thoại cổ xưa, với những vương triều hùng mạnh. Ngày nay, Nguyễn Khoa Điềm về lại hành trình dài trong sự quen thuộc, thân mật. Có cái xa xăm của lịch sử vẻ vang nhưng thân mật với kí ức ấu thơ. Đó là cái “ ngày xửa thời xưa … ” mẹ kể con nghe ; cái ấm cúng của những hình ảnh dưới mái nhà Việt, với “ miếng trầu ” thắm đỏ bà ăn, cây tre ngàn đời đánh giặc và nghĩa tình mẹ cha đằm thắm. “ Cội nguồn ” không gì khác là mái ấm gia đình quen thuộc, ấm cúng. Những câu thơ nhẹ nhàng, ấm cúng, bay bổng trong đời và hòa trộn trong ca dao, cổ tích để tạo ra sự điệu hồn êm ái. Đó là sự tích trầu cau “ Miếng trầu nên dâu nhà người ”, là sự tích cậu bé làng Gióng lên ba tuổi nhổ tre mà phá giặc, là lời ca dao “ Muối gừng ” ân tình thủy chung. Đất nước hiện lên nên thơ, bay bổng và mĩ lệ dưới con mắt tinh xảo của Nguyễn Khoa Điềm. Đất Nước còn là chiều rộng khoảng trống địa lí – cách nhìn có lẽ rằng không phải là mới mẻ và lạ mắt. Ngày xưa, Nguyễn Đình Thi viết : “ Nước Ta đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn. ” Đó là không gia rất dài, rất rộng, rất cao mang tầm vóc sử thi trang trọng. Với Nguyễn Khoa Điềm : “ Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm mát Đất Nước là nơi ta hẹn hò Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi “ con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc ” Nước là nơi “ con cá ngư ông móng nước biển khơi ” Thời gian đằng đẵng Không gian bát ngát Đất Nước là nơi dân mình sum vầy Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở ” Đất nước là “ nơi anh đến trường ” – đời sống học tập, “ nơi em tắm mát ” – đời sống hoạt động và sinh hoạt và góc đời thiếu nữ, là “ nơi ta hẹn hò ” – thắp lửa tình yêu, “ nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm ” – ghi dấu kỉ niệm con người. Đó cũng là một khoảng trống phong phú, phong phú, bát ngát, đẹp và rộng : “ Con chim phượng hoàng bay ngang hòn núi bạc – Con cá ngư ông móng quốc tế khơi ”. Nó gần với con người lắm, chiếc khăn ấy là lời hát tha thiết trong đêm tương tư “ Khăn thương nhớ ai – Khăn rơi xuống đất ”, gắn với lời hát điệu hò của câu huê tình xứ Bình Trị Thiên tự buổi nào. Đất nước đồng thời là chiều dài thời hạn lịch sử dân tộc : “ Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng ” Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện tương lai Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ. ” 4000 năm lịch sử dân tộc đã trở thành thiêng liêng với những trang sử chói lọi của cha ông : “ Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập. ” ( Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi ) Đến : “ Đất nước bốn nghìn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước. ” ( Mùa xuân nho nhỏ-Thanh Hải ) Sau này Chế lan Viên viết : “ Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm ! Tổ quốc khi nào đẹp thế này chăng ? – Chưa đâu ! Cả trong những ngày đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn, Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc. Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng … ” Đến Nguyễn Khoa Điềm, đó là thời hạn đằng đẵng, khoảng trống bát ngát. Đó là truyền thuyết thần thoại về bọc trăm trứng, với nơi chim về, rồng ở, và ngày giỗ Tổ thiêng liêng. Đó là tác dụng trước tưởng tượng bay bổng của tâm hồn đầy khát vọng, đẹp một cách thân thiện và mơ mộng, bay bổng và mĩ lệ, … mà có vẻ như trước và sau Nguyễn Khoa Điềm chưa ai nói được như vậy. Đất nước cũng đi vào chiều sâu trong sự riêng tư đời người : “ Trong anh và em thời điểm ngày hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong tất cả chúng ta hài hòa nồng nàn Khi tất cả chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm lên Đất Nước muôn đời … ” Khi hai đứa “ cầm tay ” thì đất nước “ hài hòa nồng nàn ”, ta “ cầm tay mọi người ” thì “ vẹn tròn, to lớn ”. Đất nước mang tình yêu lứa đôi, tình đồng đội quê nhà và còn là “ cốt nhục tình thâm ”, Đất Nước là “ máu xương ” của ta. Đất nước được nhìn từ cái chung đến cái riêng, cá thể đến hội đồng, từ xa đến gần, từ bề rộng về bề sâu, từ cái hữu hình đến cái vô hình dung. Một cách sắp xếp tự nhiên, ngặt nghèo và đượm lí, đượm tình. Tiếp sau đó là tư tưởng đất nước của nhân dân. Một loạt những câu thơ tự do với biên giới thơ lan rộng ra. Nhịp thơ chậm lại, mang không khí tâm tình trò chuyện. Nghệ thuật liệt kê và cách điệp lại cấu trúc nhấn mạnh vấn đề ý thơ và liền lạc. Lời thơ, giọng thơ sôi sục, thiết tha và tràn trề nhiệt huyết, chứng minh và khẳng định những góp phần của nhân dân trong việc làm ra đất nước. Đó là núi Vọng Phu – những năm tháng chờ đón chung thủy sừng sững giữa trời. Đó là núi bút non nghiêng xây đắp bởi lòng hiếu học của những tháng năm miệt mài đèn sách và hàng loạt những địa điểm “ Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm ”, với niềm tự hào vời vợi trong lời ca tụng nước nhà gấm vóc, “ non kỳ thủy tú ”. Con người cùng bảo vật vô tri khác đã “ hóa thân cho dáng hình xứ sở ” và với tác giả đó là niềm yêu kính trước công lao to lớn của nhân dân, xây đắp “ hình sông thế núi ”. Khẳng định đất nước là của nhân dân đồng thời là lời nhu yếu tình yêu đất nước, thức tỉnh lòng tự hào và ý thức dân tộc bản địa trong mỗi người. “ Em ơi em ” là lời gọi ngọt ngào, tha thiết, trìu mến, đầy thủ thỉ tâm tình. Vậy là nói về những điều lớn lao mà không hề sáo rỗng. Nhân dân là ai ? Là những người “ con gái, con trai ” bằng tuổi tất cả chúng ta, và người ra trận, kẻ ở lại, có những anh hùng “ cả anh và em đều nhớ ” nhưng cũng có những anh hùng vô danh “ Không ai nhớ mặt đặt tên – Nhưng họ đã làm ra đất nước ”. “ Họ đã sống và chết – Giản dị và bình tâm ”, lời thơ giống như một nén hương tận tâm còn vương khói thắp lên cho nhân dân, dân tộc bản địa. Trong suốt bốn nghìn năm đất nước, nhân dân ta truyền giữ hạt lúa, truyền từng ngọn lửa, truyền giọng nói, với những tên xã, tên làng, đắp đập be bờ chống giặc ngoại xâm. Các giá trị vật chất luôn đi kèm văn hóa truyền thống ý thức, cả kiến quốc và vệ quốc. Những câu thơ gợi nhắc tới : tiểu đội xe không kính, những cô gái mở đường, anh giải phóng quân : “ Em là cô gái hay nàng tiên ? Em có tuổi hay không có tuổi ? ” Hoặc : “ Hoan hô anh giải phóng quân Kính chào Anh, con người đẹp nhất ! ”

Tác giả đã chọn tư liệu văn hóa dân tộc trong ca dao, thể hiện cảm xúc, ý nghĩ. Hiện lên rõ mồn một là chân dung tinh thần của nhân dân. Tâm hồn dân tộc gửi vào trong dân gian gian nay trở thành chiều sâu văn hóa. Nhìn ở cả chiều dài, chiều rộng và chiều sâu đều thấy được vai trò của nhân dân vừa làm ra vừa bảo vệ. Cho nên “Đất Nước này là đất nước của nhân dân”.

“ Đất Nước ” của Nguyễn Khoa Điềm là bản nhạc mang âm hưởng dân gian hóa trong điệu hồn kháng chiến, là lời thúc giục tình yêu nước cho mỗi thế hệ Nước Ta thời điểm ngày hôm nay và tương lai. Đăng bởi : Đại Học Đông Đô Chuyên mục : Lớp 12, Ngữ Văn 12

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập