Khái niệm, đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân?

Pháp luật Việt Nam hiện nay quan niệm: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Định nghĩa này cho thây, doanh nghiệp tư nhân không phải là một thực thể độc lập. Tuy …

1. Khái niệm và bản chất của doanh nghiệp tư nhân

Pháp luật Việt Nam hiện nay quan niệm: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Định nghĩa này cho thây, doanh nghiệp tư nhân không phải là một thực thể độc lập. Tuy nhiên chủ nhân của nó phải đầu tư vổh để tạo lập nó, và có toàn quyền trong việc bán, cho thuê nó. Luật Doanh nghiệp 2020 buộc chủ doanh nghiệp tư nhân khi đăng ký kinh doanh phải khai rõ vốn đầu tư ban đầu để thành lập doanh nghiệp tư nhân. Vón đầu tư ban đầu tạo lập nên một tổ hợp tài sản không tách bạch hoàn toàn vói tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân. Hiện có quan niệm gọi tổ hợp tài sản này là “sản nghiệp thương mại” .

Khái niệm, đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân?

Cần lưu ý rằng: Sản nghiệp được hiểu là mối quan hệ tài sản thuộc một người nào đó, bao gồm tài sản có (tích sản) và tài sản nợ (tiêu sản); còn sản nghiệp thương mại là một tập hợp tài sản bao gổm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình dùng đê’ khai thác một doanh thương. Yêù tô’ khách hàng hay hệ thôhg cung cap hàng hóa, dịch vụ là không thể thiếu trong sản nghiệp thương mại. Như vậy sản nghiệp thương mại là tài sản có (tích sản) thuộc sản nghiệp của thương nhân. Luật Thương mại 97 có định nghĩa sản nghiệp thương mại như sau: “Sản nghiệp thương mại là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyêh sử dụng hợp pháp của thương nhân, phục vụ cho hoạt động thương mại như trụ sở, cửa hàng, kho tàng, trang thiết bị, hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, mạng lưới tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ”. Định nghĩa này không cho thâỳ các nghĩa vụ tài sản hay phần tiêu sản của sản nghiệp. Đáng tiếc rằng Luật Thương mại 2020 không còn giữ lại định nghĩa này, trong khi pháp luật vẫn đề cập tới việc bán các cơ sở kinh doanh, cửa hàng thương mại hay sản nghiệp thương mại.

Chủ nhân của một sản nghiệp phải là chủ thể của pháp luật hay một thực thể độc lập có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ. Có như vậy chủ nhân của sản nghiệp mới có thể tạo nên tài sản có (các quyển) và tài sản nợ (các nghĩa vụ) của sản nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân là một tổ hợp tài sản mở rộng của cá nhân sở hữu nó dù rằng doanh nghiệp tư nhân có tên thương mại riêng và có con dâu riêng. Pháp luật Anh quốc củng đã quan niệm, doanh nghiệp thương nhân đơn lẻ (sole trader enterprise) không tách biệt với cá nhân tạo lập nên nó và lao động trong đó; và thông thường tên thương mại của nó là tên của cá nhân tạo lập nên nó hoặc cũng có thể là tên khác được đặt theo qui định của pháp luật . Ờ Hoa Kỳ người ta cũng nói vân đề liên quan tới tên riêng của doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship) như sau: “Người khai thác doanh nghiệp không cần thiết phải dùng tên riêng của mình như là tên thưong mại; nó có thể được khai thác dưới tên thưong mại hay tên được thừa nhận, chẳng hạn như Data Experts Company. Tuy nhiên một cái tên thương mại như vậy phải được đăng ký tại nhà chức trách tiểu bang hay địa phương thích hợp” . Như vậy tên riêng của doanh nghiệp tư nhân không phải là vân đê’ gì quá quan trọng về mặt pháp lý khiến người ta phải băn khoăn quá nhiều để mà xuâ’t phát từ đó tưởng tượng ra sự tách bạch giữa sản nghiệp của doanh nghiệp tư nhân và sản nghiệp của chủ nhân của nó .

Thuật ngữ “doanh nghiệp tư nhân” cần phải có một sự giải thích riêng biệt. Lý do thực sự của việc dùng thuật ngữ này để mô tả cá nhân kinh doanh cho tới nay chưa được làm rõ, có lẽ bởi sự lưu giữ tài liệu xây dựng pháp luật còn yếu, cũng có thể do nó chưa được sự chú ý của những người nghiên cứu hay xây dựng pháp luật. Khi nghiên cứu vê’ hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, có thể thâỳ sự phân biệt giữa hộ kinh doanh với doanh nghiệp tư nhân bởi qui mô kinh doanh. Do đó có lẽ từ “doanh nghiệp” ở đây dùng để chỉ qui mô kinh doanh lớn hơn hộ kinh doanh. Còn từ “tư nhân” được gắn cùng với từ “doanh nghiệp” ngay từ ban đầu có lẽ có hàm ý phân biệt với công ty (một nhóm người liên kết cùng nhau kinh doanh). Vì vậy từ “tư nhân” ở đây phải được hiểu là một cá nhân hay một thể nhân hay một cá thể. Nếu với nghĩa đó thì thuật ngữ “doanh nghiệp tư nhân” cần có sự thay đổi cho sát nghĩa hơn. Hiện nay báo chí, cũng như người dân có khuynh hướng sử dụng thuật ngữ “doanh nghiệp tư nhân” đê’ chỉ tâ’t cả các doanh nghiệp khác với các doanh nghiệp công (doanh nghiệp nhà nước) . Như vậy khi nói tới doanh nghiệp tư nhân có nghĩa là nói tới cả thưong nhân thê’ nhân và các thưong nhân pháp nhân (như công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…) mà không bị pháp luật coi là doanh nghiệp nhà nước. Bởi vậy “doanh nghiệp tư nhân” theo nghĩa của Luật Doanh nghiệp 2020 nên đổi tên thành “doanh nghiệp cá thể” hay “thương nhân thể nhân” hay “thương nhân đơn lẻ”.

2. Các đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân có các đặc điểm pháp lý sau:

2.1 Doanh nghiệp tư nhãn không có tư cách pháp nhân

Bản chất pháp lý thực sự của doanh nghiệp tư nhân như trên đã lý giải là thương nhân thể nhân. Nó được xác định một cách dễ dàng hơn so với bản chất pháp lý của hộ kinh doanh, mặc dù Luật Doanh nghiệp 2020 có đưa ra một định nghĩa gây tranh cãi rằng; “Doanh nghiệp là tô’ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Định nghĩa này một mặt không làm rõ được các đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp hay công ty; mặt khác có thể làm người ta hiểu lầm doanh nghiệp tư nhân là một thực thê’ tách biệt với chủ nhân của nó. Hiện nay có luật gia râ’t phân vân về bản châ’t pháp lý của doanh nghiệp tư nhân. Anh ta không dám mạnh dạn xem doanh nghiệp, tư nhân là cá nhân kinh doanh hayrthương nhân thê’ nhân bởi định nghĩa trên, và bởi các qui định tại Luật Doanh nghiệp 2020, cũng như bởi doanh nghiệp tư nhân có tên riêng, có mã số thuế riêng, có con dâu riêng và có uy tín kinh doanh dựa trên sản nghiệp dường như tách bạch khỏi sản nghiệp của chủ nhân của nó . Có thê’ vì lý do hạch toán trong kinh doanh, pháp luật thường hỗ trợ cho các cá nhân kinh doanh đưa một phần tài sản của mình vào kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hay thương nhân đơn lẻ hoặc doanh nghiệp cá thể. Phần tài sản đưa vào kinh doanh này tạo thành một tổ hợp tài sản mà chi là phần mở rộng hoặc nối dài của sản nghiệp riêng của cá nhân chủ doanh nghiệp tư nhân. Từ đó có thể ví von doanh nghiệp tư nhân là cánh tay nôì dài của cá nhân chủ sở hữu của nó. Trường họp này gần với trường hợp một công ty tự tạo lập ra công xướng, trung tâm hay xí nghiệp trực thuộc hạch toán nội bộ.

Không ít người xuất phát từ việc doanh nghiệp tư nhân có con dâu riêng, nên băn khoăn về việc doanh nghiệp tư nhân có phải là một thực thê’ riêng biệt hay không. Có lẽ con dâu không nói lên giá trị pháp lý của văn bản giao dịch bởi người ta có thể giao kết hợp đồng bằng lời nói, bằng cử chỉ hoặc thông qua các phương tiện điện tử. Con dâu cũng không nói lên tổ chức có nó là một pháp nhân, mặc dù góp phần vào việc xác định tính cá biệt của tô’ chức đó và góp phần vào việc xác nhận lại một cách chắc chắn hơn hành vi của tô’ chức đó.

2.2 Tài sản của doanh nghiệp tư nhân là tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân

Đối với các công ty, khi thành lập, thành viên công ty phải góp vôh bằng cách chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho công ty. Như vậy thành viên hay chủ sở hữu của công ty không còn là chủ sở hữu của tài sản góp vào công ty nữa. Công ty trở thành chủ sở hữu của tài sản đó. Nhưng đôì với doanh nghiệp tư nhân, câu chuyện có sự khác biệt. Bới chi là cánh tay nối dài của cá nhân tạo lập nó, nên doanh nghiệp tư nhân không có quyền sở hữu tài sản mà chủ nhân của nó đẩu tư vào kinh doanh. Quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp tư nhẵn thuộc về cá nhân tạo lập nó. Vì vậy Luật Doanh nghiệp 2020 qui định chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Qui định này cho thâỳ chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền định đoạt tài sản của doanh nghiệp hoàn toàn theo ý chí của mình, chứ không chỉ định đoạt bản thân doanh nghiệp tư nhân như bán hoặc cho thuê doanh nghiệp.

2.3 Chủ doanh nghiệp tư nhãn chịu trách nhiệm vô hạn đối với cấc khoản nợ phắt sinh trong hoạt động

của doanh nghiệp tư nhân

Kính doanh dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân trở thành thương nhân. Khác thê’ chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không phải là thương nhân mặc dù chỉ một mình người này đầu tư thành lập nên công ty đó, trừ khi người này là một thương nhân pháp nhân. Hành vi đầu tư như vậy tạo lập nên một pháp nhân (chính là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) có sản nghiệp riêng biệt với sán nghiệp của người thành lập nó. Nên chính nó là một thương nhân. Vì vậy đều là người tạo lập nên doanh nghiệp một chủ, nhưng chủ doanh nghiệp tư nhân có chế độ trách nhiệm khác với chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Như trên đã nói thương nhân phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với các hành vi thương mại của mình. Theo nguyên lý thông thường, tài sản hiện có hoặc sẽ có trong tương lai của con nợ đều là tài sản bảo đảm chung cho các chủ nợ. Vì vậy thương nhân phải bỏ toàn bộ tài sản của mình ra để trả nợ. Doanh nghiệp tư nhân không phải là thực thê’ riêng biệt mà chi là cánh tay nôì dài hay phương tiện của chủ nhân của nó. Nên chủ doanh nghiệp tư nhân (thương nhân thể nhân) phải chịu trách nhiệm vô hạn đôì với các khoản nợ trong quá tjinh kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân. Nhung nêù ạnh ta chuyến đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn, thì anh ta lại được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn và không còn tư cách thương nhân nữa. Tuy nhiên việc chuyển đổi như vậy phải tuân thủ các qui định của pháp luật liên quan tới các khoản nợ phát sinh trước khi chuyển đổi.

Khi doanh nghiệp tư nhân lâm vào tình trạng phá sản, thì sản nghiệp phá sản là toàn bộ sản nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân, không chỉ là sản nghiệp thuộc nghiệp vụ kinh doanh của anh ta.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp – Công ty luật Minh Khuê