Tiểu kết chương 1 – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản khá đầy đủ của tài liệu tại đây ( 2.08 MB, 242 trang )

phận theo hàng ngang và liên kết các cấp theo chiều dọc phải đảm bảo cho hệ

thống thực hiện đầy đủ 4 chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo

và kiểm tra, đồng thời quản lý tốt tất cả các khâu trong quá trình KTĐG. Một

điều cần chú ý là việc phân cấp phải thật rõ ràng, tránh sự chồng chéo về chức

năng, nhiệm vụ.

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã trình bày những nội dung rất cơ bản về KTĐG kết quả

học tập và quản lý KTĐG kết quả học tập.

KTĐG kết quả học tập là hoạt động rất quen thuộc đối với GD nhưng

có nhiều cách hiểu khác nhau. Luận án đã thống nhất đưa ra một khái niệm về

KTĐG kết quả học tập, trong đó khẳng định 2 mục đích rất quan trọng của

KTĐG, đó là xác nhận kết quả học tập của người học và giúp cải thiện quá

trình dạy – học. Về KTĐG kết quả học tập, luận án còn đề cập đến một số nội

dung chính liên quan, bao gồm phân loại KTĐG; vị trí, vai trò của KTĐG;

các phương pháp KTĐG. Ngoài ra, luận án còn khẳng định KTĐG kết quả

học tập đã và đang phát triển không ngừng vì sự tiến bộ của người học và

tổng kết 5 xu hướng phát triển của KTĐG.

Cũng như các hoạt động khác, KTĐG kết quả học tập của người học

phải được quản lý để đảm bảo đạt được tốt nhất những mục tiêu do KTĐG đề

ra đồng thời đáp ứng yêu cầu của XH, của GDĐH. Nội dung về quản lý

KTĐG kết quả học tập, bao gồm khái niệm, các cách tiếp cận được trình bày

trong chương 1 là sự kết hợp lý thuyết về khoa học quản lý với lý luận về

KTĐG kết quả học tập. Tiếp cận quản lý KTĐG theo quá trình và theo chức

năng đòi hỏi các cấp quản lý phải quản lý tốt tất cả các khâu trong quy trình

KTĐG bằng cách thực hiện tốt 4 chức năng quản lý, đó là lập kế hoạch, tổ

chức, lãnh đạo và kiểm tra. Quản lý KTĐG kết quả học tập có sự tham gia của

75

nhiều đối tượng (CBQL, GV) và đối tượng của KTĐG, của quản lý KTĐG là

một lực lượng đông đảo người học, hơn nữa kết quả KTĐG là mối quan tâm

không những của người học mà của toàn XH cho nên nhà quản lý cần phải

quan tâm toàn diện đến 3 nội dung được trình bày trong khung lý thuyết

nghiên cứu quản lý KTĐG kết quả học tập, bao gồm: quá trình KTĐG, các

chức năng quản lý KTĐG và các yếu tố liên quan, trong đó đặc biệt quan tâm

đến yếu tố con người. Luận án còn trình bày chi tiết bốn cấp quản lý KTĐG

kết quả học tập trong GDĐH.

Chương 1 cũng giới thiệu một số kinh nghiệm quản lý KTĐG kết quả

học tập ở trong và ngoài nước qua phần tổng quan vấn đề nghiên cứu. Các

giải pháp, các tiêu chí KTĐG hay các phương thức quản lý của các nước, các

trường ĐH khác nhau tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước cũng như

đặc thù của mỗi trường ĐH. Mặc dù, khác nhau trong cách thức quản lý

nhưng các mô hình quản lý này vẫn đảm bảo đánh giá phải chính xác, khách

quan, công bằng và tạo động cơ học tập cho người học.

Với những nội dung nêu trên, chương 1 sẽ tạo tiền đề cho việc xác định

thực trạng quản lý KTĐG kết quả học tập của SV ở chương sau và là căn cứ

khoa học vững chắc để tác giả đề xuất các giải pháp quản lý KTĐG trong

GDĐH ở Việt Nam góp phần nâng cao chất lượng ĐT trong GDĐH.

76

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

KẾT QUẢ HỌC TẬP TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM

2.1. Bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam

2.1.1. Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

Căn cứ Luật GD và Điều 17 Nghị định 75/2006/NĐ-CP ngày

22/7/2007, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 121/2007/QĐTTg phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường ĐH và CĐ giai đoạn 20062020. Mục tiêu quy hoạch là phân bố hợp lý các trường ĐH, CĐ trên các địa

bàn, tạo sự gắn kết giữa ĐT, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ với

nâng cao chất lượng ĐT nguồn nhân lực trình độ cao, tạo thêm năng lực hội

nhập kinh tế thế giới, tăng khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và

yêu cầu phát triển kinh tế – XH, bảo đảm an ninh quốc phòng. Trong báo cáo

về “Sự phát triển của hệ thống GDĐH, các giải pháp đảm bảo và nâng cao

chất lượng ĐT”, Bộ GD và ĐT đã nhận định: “Hệ thống các cơ sở giáo dục

đại học được phát triển đúng theo định hướng quy hoạch, phân bố trên phạm

vi cả nước”[4, tr. 2], “đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo”[4,

tr. 1], quy mô ĐT ĐH không ngừng tăng. Song song với hệ thống GD chính

quy là loại hình GD thường xuyên để lấy văn bằng ĐH theo hình thức vừa

làm vừa học, liên thông, học từ xa, liên kết ĐT với nước ngoài. Về loại hình

trường, có hai loại hình là trường công lập và trường tư thục. Sự xuất hiện và

phát triển của các trường ngoài công lập đã giảm sức ép cho GD công lập, các

hình thức ĐT không chính quy có tác dụng phối hợp và bổ sung cho hệ chính

quy góp phần đáp ứng nhu cầu học tập của XH. Đến nay, các trường ĐH, CĐ

không chỉ có ở các trung tâm dân cư lớn của cả nước, mà còn phân bố ở các

77

vùng cao, miền núi và các địa phương có điều kiện kinh tế – XH khó khăn [4].

Tính đến tháng 9/2009, cả nước có 226 trường CĐ (189 trường công lập và 37

trường ngoài công lập), tăng 23% so với năm học 2006 – 2007 chỉ có 183

trường và 150 trường ĐH (106 trường công lập, trong đó có 2 ĐH Quốc gia:

ĐH Quốc gia Hà Nội và ĐH Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh và 3 ĐH hai cấp: ĐH

Thái Nguyên, ĐH Huế, ĐH Đà Nẵng và 44 trường ngoài công lập), tăng 7,9%

so với năm học 2006 – 2007 chỉ có 139 trường (bảng 2.1).

Quy mô GDĐH tăng nhanh (bảng 2.1). Trong năm học 2001 – 2002, số

SV CĐ, ĐH tất cả các loại hình là 974.119 gấp 2,36 lần so với năm học 1995

– 1996. Quy mô ĐT này vẫn không ngừng được tăng lên. Đến năm học 2006 2007, số SV ĐH, CĐ đã là 1.540.201 và đến năm 2008 – 2009 số SV ĐH, CĐ

là 1.719.499. Số SV tốt nghiệp ĐH, CĐ từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực

qua ĐT phát triển kinh tế – XH của đất nước. GDĐH đã ĐT được một đội ngũ

đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật từ cử nhân đến tiến sĩ và đội ngũ này đã có

những cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, XH. Năm

2006 – 2007, số lượng GV tại các trường ĐH, CĐ là 53.518, tăng 4.939 so với

năm học 2005 – 2006 và đến năm học 2008 – 2009 số GV đã là 61.190, tỷ lệ

GV/cán bộ viên chức của các trường đạt khoảng từ 50 – 55%.

Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy, NCKH đã

được cải thiện khá nhiều, đặc biệt ở 2 ĐH Quốc gia, các trường ĐH trọng

điểm và khối các trường sư phạm. Trong hệ thống các trường ĐH, CĐ có

khoảng 60 phòng thí nghiệm, trong đó có một số phòng thí nghiệm đạt tiêu

chuẩn khu vực và quốc tế. Cùng với sự đầu tư cho các phòng thí nghiệm, các

trường đã chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống thư viện, kể cả thư viện điện tử.

Theo số liệu thống kê hiện nay, 100% các trường ĐH, CĐ đã nối mạng

Internet phục vụ cho ĐT và nghiên cứu khoa học. Các phòng thí nghiệm, hệ

thống thư viện của các trường đã bước đầu phát huy tác dụng tốt trong công

78

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập